1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam

56 863 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Của Nhà Đầu Tư Cá Nhân Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Tác giả Nguyễn Hoàng Bình
Người hướng dẫn TS. Trương Quang Dũng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chứng Khoán
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 859 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế của đất nước, nước ta đã đạt được những thành tựu thành quả to lớn: các ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao như công nghệ thông tin, chế tạo máy; ngành nông nghiệp từng bước máy móc hoá đã làm cho năng suất lao động cải thiện rõ rệt đưa nước ta xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới, hàng hoá trên thị trường ngày càng phong phú và đa dạng, nhiều doanh nghiệp mới thành lập và nhiều tập đoàn đầu tư lớn đã xuất hiện tại Việt Nam, đời sống dân ta ngày càng nâng cao Sự tăng trưởng kinh tế đòi hỏi ngày càng nhiều vốn đầu tư Một trong những kênh huy động vốn đầu tư thông dụng trên thế giới là thị trường chứng khoán Nhận thức được tầm quan trọng của thị trường chứng khoán, với nhiều nổ lực, ngày 20/07/2000 thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời

Từ ngày thành lập đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có 11 năm hoạt động và phát triển Tuy nhiên đó không phải là thời gian dài đủ để cho các yếu

tố thị trường và nhà đầu tư hoàn thiện Xét riêng về nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều vấn đề cần khắc phục để nâng cao năng lực đầu tư, giảm thiểu rủi ro không đáng có trong quá trình đầu tư chứng khoán

Vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, đề tài này đặt ra 3 mục tiêu nghiên cứu:

Một, nghiên cứu một cách có hệ thống thị trường chứng khoán và nhà đầu tư

chứng khoán cá nhân tại Việt Nam,

Hai, đánh giá hiện trạng nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam và đối tượng trọng

điểm quan tâm là nhà đầu tư cá nhân,

Ba, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị

trường chứng khoán Việt Nam,

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng được nghiên cứu trong đề tài này là năng lực của nhà đầu tư cá nhân trong phạm vi thị trường chứng khoán Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu: dùng phương pháp khảo sát, phương pháp hệ

thống, phương pháp lịch sử, phương pháp biện chứng

Trang 2

4 Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, đề

tài được xây dựng theo kết cấu truyền thống 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về nhà đầu tư chứng khoán cá nhân tại Việt Nam

Chương 2 Những thăng trầm của nhà đầu tư chứng khoán cá nhân tại Việt Nam Chương 3 Các đề xuất nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường

chứng khoán Việt Nam,

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Trang 3

1.1 Lịch sử hình thành TTCK của các nước trên thế giới

Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diễn biến trên thị trường chứng khoán Là một bộ phận cấu thành của thị trưòng tài chính, thị trường chứng khoán đươc hiểu một cách chung nhất, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các chứng khoán – các hàng hoá và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia Việc mua bán trao đổi này được thực hiện theo những quy tắc nhất định

Vào cuối thế kỷ XV, tại những thành phố trung tâm mua bán ở phương Tây, các thương gia đã thống nhất gọi nơi trao đổi, thương lượng mua bán là “thị trường”, để thuận tiện hơn cho việc làm ăn, và đặt ra quy ước trong việc trao đổi hàng hoá

Phiên chợ đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber ở Bruges (nước Bỉ), tại đó có một bảng hiệu hình 3 túi da với một từ

“Brourse” (tiếng Pháp) nghĩa là “Mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch” Năm 1547, thành phố ở Bruges (Bỉ) mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị lấp cát nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyễn qua thị trấn Auvers (Bỉ),

ở đây thị trường phát triển rất nhanh Vào giữa thế kỷ XVI, đại thần Anh quốc đã đến quan sát và sau đó về thiết lập một thị trường mậu dịch tại London (nước Anh), sau này được gọi là Sở giao dịch Tại Pháp, Đức và các nước Bắc Âu, thị trường cũng được thành lập tương tự

Sự phát triển của thị trường ngày càng mạnh cả về lượng lẫn về chất, cùng với

số thành viên tham gia đông đảo, vì vậy theo tính chất tự nhiên nó lại được phân ra nhiều thị trường khác nhau như: thị trường giao dịch hàng hoá, thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán…với đặc tính riêng của từng thị trường thuận lợi cho giao dịch của người tham gia trong đó

Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành như vậy một cách tự phát tương tự như ở Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng tay

và có thư ký nhận lệnh của khách hàng Đến năm 1921, ở Mỹ, “thị trường” giao dịch

“ở trong nhà”, Sở Giao dịch Chứng khoán được chính thức thành lập

Trang 4

Hiện nay trước xu thế kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), của Liên minh Châu Âu, của các khối thị trường chung, đòi hỏi các quốc gia thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán trong phát triển kinh tế

1.2 Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế

Thứ nhất, là nơi huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, dòng tiền nhàn rỗi của

các nhà đầu tư mua chứng khoán sẽ được đưa vào vào hoạt động sản xuất kinh doanh

và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Thị trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân, và giúp chính phủ và chính quyền địa phương huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu

tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội

Thứ hai, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, đây là một môi trường

đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có sự lựa chọn thích hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình

Thứ ba, thị trường tạo tính thanh khoản cho chứng khoán, có thị trường

chứng khoán thì các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán sỡ hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác, khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với nhà đầu tư Thị trường chứng khoán càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường

Thứ tư, thị trường là nơi đánh giá hoạt động của doanh nghiệp một cách tổng hợp và chính xác, thị trường chứng khoán giúp cho việc đánh giá và so sánh

hoạt động của các doanh nghiệp nhanh chóng và thuận tiện, từ đó tạo ra một môi trường lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, sử dụng khoa học kỹ thuật mới lam tăng năng suất lao động, tạo thêm việc làm cho xã hội

Thứ năm, thị trường tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô, các chỉ báo của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền

kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư

Trang 5

chứng khoán đang tăng lên, nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại thì giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế

Vì thế thị trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế, và là

công cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô, chính phủ

có thể mua bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế

Ngoài những tác động tích cực trên, thị trường chứng khoán cũng có những tiêu cực nhất định Như ở các thị trường chứng khoán mới nổi, thông tin được chuyển tải đến các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau, hiện tượng đầu cơ, hiện tượng xung đột quyền lực làm thiệt hại cho các cổ đông thiểu số, việc mua bán nội gián, thao túng thị trường làm nản lòng nhà đầu tư và như vậy giá chứng khoán không phản ánh giá trị thực và sẽ làm méo mó định hướng phát triển của nền kinh tế Như vậy, nhiệm vụ của các nhà quản lý thị trường là giảm thiểu các tiêu cực nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo tính hiệu quả của thị trường

Như vậy, vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau Song sự tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng khoán có thực sự được phát huy hay hạn chế sẽ phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia vào thị trường

và sự quản lý của Nhà nước

1.3 Sơ lược về Thị trường chứng khoán Việt Nam

1.3.1 Ủy ban chứng khoán Nhà nước

Uỷ ban chứng khoán Nhà nước Việt Nam, được thành lập theo Nghị định 75/1996/NĐ-CP, là cơ quan thuộc chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, thông qua các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Soạn thảo văn bản pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định và tổ chức hướng dẫn thực hiện các văn bản đó

- Chủ trì và phối hợp các Bộ, ngành có liên quan tổ chức xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam

Trang 6

- Cấp, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép hoạt động đối với công ty kinh doanh chứng khoán và các đối tượng khác trên thị trường chứng khoán.

- Trình Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể Sở giao dịch chứng khoán

- Kiểm tra, giám sát hoạt động của Sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức có liên quan đến việc phát hành, kinh doanh dịch vụ chứng khoán

- Ban hành các quy định về niêm yết, thông báo phát hành thông tin về giao dịch, mua bán chứng khoán, thoả thuận với Bộ tài chính để quy định phí, lệ phí lien quan đế việc phát hành và kinh doanh chứng khoán…

1.3.2 Sở Giao dịch Chứng khoán

Hiện nay, Ủy ban chứng khoán nhà nước Việt Nam chỉ mới thành lập 2 Sở giao dịch chứng khoán đó là:

1.3.2.1 Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Hose)

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (TTGDCK TP.HCM) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000, đến năm 2010, đổi thành Sở giao dịch TP HCM, đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Sự ra đời của TTGDCK TP.HCM có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra một kênh huy động và luân chuyển vốn mới phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là sản phẩm của nền chuyển đổi

cơ cấu nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhà nước ta Là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp, Trung tâm được Chính phủ giao một số chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán tập trung tại Việt Nam Đó là: tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán; quản lý điều hành hệ thống giao dịch; thực hiện hoạt động quản lý niêm yết, công bố thông tin, giám sát giao dịch, hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán và một số hoạt động khác Để thực hiện tốt các chức năng Trung tâm có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, bao gồm: một Giám đốc và hai Phó giám đốc, trong đó có một Phó giám đốc thường trực và 9 phòng ban

Trang 7

Có thể nói, tại thời điểm ra đời, TTGDCK TP.HCM gặp rất nhiều khó khăn như: hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung chưa được hoàn thiện, các văn bản điều chỉnh hoạt động trên thị trường chứng khoán còn nhiều bất cập, chồng chéo, chưa thống nhất , đội ngũ cán bộ quản lý điều hành chưa có kinh nghiệm thực tiễn, sự hiểu biết của công chúng về đầu tư chứng khoán và TTCK còn nhiều hạn chế Thêm vào đó, TTGDCK khai trương và chính thức đi vào hoạt động trong bối cảnh đất nước chưa thoát khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực, mức đầu

tư cho nền kinh tế giảm sút, nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp chưa cao, thu nhập bình quân đầu người còn quá thấp Tuy vậy, sự quan tâm rất lớn của Chính phủ, các Bộ ngành, đặc biệt là sự chỉ đạo kịp thời, hiệu quả của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), qua hơn 4 năm hoạt động TTGDCK TP.Hồ Chí Minh đã phát triển thành Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (SGDCK TP HCM), về nhiều mặt, thực hiện tốt vai trò tổ chức và vận hành các hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung thông suốt, an toàn và hiệu quả

Địa chỉ website của SGDCK Tp.HCM: Http://www.vse.org.vn

1.3.2.2 Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (Hnx)

Ngày 11 tháng 07 năm 1998, Chính phủ ra Quyết định số 127/1998/QÐ-TTg thành lập hai Trung tâm giao dịch chứng khoán trực thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước Theo đó, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, là đơn vị sự nghiệp có thu,

có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp Biên chế của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thuộc biên chế của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

TTGDCK Hà Nội có các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Tổ chức, quản lý, điều hành việc mua bán chứng khoán;

- Quản lý, điều hành hệ thống giao dịch chứng khoán;

- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc mua bán chứng khoán, dịch vụ lưu ký chứng khoán;

- Thực hiện đăng ký chứng khoán

Ngày 8.3.2005 TTGDCK Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánh dấu một bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam, hiện nay đã trở thành

Sở Giao Dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội)

Trang 8

Website của SGDCK Hà Nội Http://www.hnx.vn

1.3.3 Các công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp

vụ trên thị trường chứng khoán Tính đến thời điểm hiện tại, toàn thị trường đang có

105 công ty chứng khoán đang hoạt động như Công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI), Bảo Việt (BVSC), Thăng Long (TLSC), VNdirect (VND), Kim Long (KLS), CK Việt Tin (CTS), Rồng Việt (VDSC)… Trong đó, quy mô hoạt động của các công ty mạnh về các lĩnh vực như tư vấn, đầu tư, tự doanh, margin… Cùng với đó là đội ngũ làm việc chuyên nghiệp, am hiểu thị trường ngày càng tăng về lượng cũng như về chất

Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại

hình nghiệp vụ chứng khoán mà công ty thực hiện cũng như qui mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của nó:

- Phòng môi giới,

- Phòng tự doanh,

- Phòng bảo lãnh phát hành,

- Phòng quản lý danh mục đầu tư,

- Phòng tư vấn tài chính đầu tư,

- Phòng ký quỹ,

1.3.4 Các chủ thể tham gia thị trường Chứng khoán

Chủ thể phát hành: bao gồm Chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức khác

theo quy định của pháp luật Từ lúc bắt đầu thành lập thị trường giao dịch, chỉ có 2 cổ phiếu được niêm yết và giao dịch là REE và SAM với tổng giá trị 270 tỷ đồng

Chủ thể đầu tư: gồm có nhà đầu tư cá nhân (cá nhân và hộ gia đình) và các tổ

chức đầu tư

Các chủ thể trung gian: là các tổ chức liên quan đến hoạt động của thị trường

như Sở Giao dịch chứng khoán, thanh lý bù trừ và lưu ký chứng khoán, hiệp hội các nhà đầu tư… Có vai trò quan trọng trong việc đưa các nguồn cung và nguồn cầu chứng khoán khác nhau thông qua các hoạt động kinh doanh, môi giới, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư, quản lý quỹ, giao dịch mua bán chịu chứng

Trang 9

khoán…Các trung gian này có thể hoạt động với tư cách thể nhân hoặc một pháp nhân.

Người quản lý, giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán là Ủy Ban

chứng khoán, thường được tổ chức theo hình thức là một cơ quan chuyên trách, có vị trí pháp lý độc lập, thành viên là những quan chức của Bộ Tài chính, Ngân hàng trung ương, Bộ thương mại, Bộ Tư pháp, đại diện Sở giao dịch chứng khoán…

1.4 Nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chủ thể đầu tư bao gồm có nhà đầu tư (cá nhân và hộ gia đình) và các tổ chức đầu tư

Các nhà đầu tư cá nhân được định nghĩa là những người có dòng tiền nhàn rỗi

mà không được sử dụng mang lại hiệu quả như mong muốn, họ luôn tìm kiếm những kênh đầu tư mang lại lợi nhuận cao nhất Họ có thể là nhân viên, nội trợ, doanh nhân, nông dân, mà cũng có thể là sinh viên,… Điều quan trọng là họ quan tâm và muốn đầu tư vào thị trường chứng khoán

Các tổ chức đầu tư chính là tổ chức tài chính phi ngân hàng nhận tiền từ một lượng lớn nhà đầu tư cá nhân để tiến hành đầu tư vào các tài sản tài chính

Tuy nhiên, xét khía cạnh nhà đầu tư cá nhân, muốn đầu tư vào thị trường chứng khoán thì cần phải thỏa mãn được các yêu cầu tối thiểu như sau:

1.4.1 Kiến thức thị trường chứng khoán

Đó là kiến thức về Chỉ số VN – index, cách thức giao dịch, mô hình hoạt động, đăng ký, lưu ký, các bản cáo bạch, báo cáo tài chính, chỉ số đánh giá… của thị

trường chứng khoán

1.4.1.1 Chỉ số chứng khoán Việt Nam VN – index:

Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam là chỉ số phản ánh mức giá trên thị trường trong một ngày cụ thể so với mức giá tại thời điểm gốc Chỉ số được cấu thành bởi hai yếu tố là loại chứng khoán trọng số và giá của từng chứng khoán cấu thành Chỉ số VN-index, HNx-index là chỉ số cho đại diện các cổ phiếu được niêm yết trên Hose và Hnx, các nhà đầu tư không cần phải biết cách tính các chỉ số mà chỉ cần hiểu được ý nghĩa của các chỉ số đó để sử dụng trong các quyết định đầu tư của mình, chẳng hạn như khi chỉ số VN – index tăng liên tục qua một số phiên giao dịch có thể

Trang 10

gợi ý cho các nhà đầu tư nên mua vào; khi VN – index có xu hướng giảm thì nhà đầu

tư nên chốt lời hoặc cắt lỗ,…

1.4.1.2 Giao dịch trên thị trường CK:

Việc hiểu được giao dịch trên thị trường như các loại lệnh giao dịch, đơn vị giao dịch, đơn vị yết giá, biên độ giao dịch sẽ giúp cho các nhà đầu tư không những tránh phải viết sai nội dung trong lệnh, đỡ mất thời gian viết lại các lệnh giao dịch sai

mà còn giúp nhà đầu tư đặt lệnh kịp lúc kịp thời trong một thời điểm…

1.4.1.2.1 Các loại lệnh giao dịch:

Giao dịch thực tế trên thị trường Chứng khoán Việt Nam phần lớn các lệnh giao dịch được nhà đầu tư sử dụng là lệnh giới hạn và lệnh thị trường

Lệnh ưu tiên (ATO, ATC) là loại lệnh được sử dụng rất phổ biến trong các giao

dịch chứng khoán tương ứng phiên 1 và 3 của Hose Khi sử dụng lệnh này, nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận mua hoặc bán theo mức giá của thị trường hiện tại và lệnh của nhà đầu tư luôn được thực hiện

Lệnh giới hạn (Limit order) là loại lệnh giao dịch trong đó người đặt lệnh đưa ra

mức giá mua hay bán có thể chấp nhận đựoc

Lệnh dừng (Stop order) là loại lệnh đặc biệt để đảm bảo cho các nhà đầu tư có

thể thu lợi nhuận tại một mức độ nhất định (bảo vệ lợi nhuận) và phòng chống rủi ro trong trường hợp giá chứng khoán chuyển động theo chiều hướng ngược lại

Lệnh sửa đổi là lệnh do nhà đầu tư đưa vào hệ thống để sửa đổi một số nội dung vào lệnh gốc đã đặt trước đó (giá, khối lượng, mua hay bán) Lệnh sửa đổi chỉ được chấp nhận khi lệnh gốc chưa được thực hiện,

Lệnh huỷ bỏ (Cancel order) là lệnh do nhà đầu tư đưa vào hệ thống để huỷ bỏ lệnh đặt trước đó Lệnh huỷ bỏ chỉ được chấp nhận khi lệnh gốc chưa được thực hiện

1.4.1.2.3 Đơn vị yết giá:

Trang 11

Đơn vị yết giá (quotation unit) là bước giá tối thiểu (tick side) trong giao dịch chứng khoán Đơn vị yết giá là yếu tố có tác đông đến tính thanh khoản của chứng khoán cũng như hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư

1.4.1.2.4 Biên độ giao dịch:

Hầu hết các sở giao dịch trên thế giới đều có những công cụ nhằm ngăn chặn những biến động bất thường của giá chứng khoán trong ngày giao dịch Theo đó, lệnh giao dịch của nhà đầu tư khi đặt phải nằm trong khoảng biên độ cho phép: giới hạn trên (giá trần – ceiling) và giới hạn dưới (giá sàn – floor) Nó có thể đảm bảo tính

ổn định của thị trường, góp phần củng cố lòng tin của công chứng đầu tư vào thị trường chứng khoán Hose là 5%, Hnx là 7%

1.4.1.3 Hệ thống hoạt động công bố thông tin thị trường:

Hoạt động công bố thông tin thị trưòng chiếm vị trí khá quan trọng trong việc xây dựng một thị trường chứng khoán hoạt động công khai, minh bạch nhằm tạo ra một môi trường đầu tư công bằng, cung cấp kịp thời các thông tin, dữ liệu cần thiết cho các nhà đầu tư Thông qua mạng Internet gửi đến các địa chỉ E-mail đăng ký, Fax

và các ấn phẩm thường niên của Sở Những thông tin cần thiết phải quan tâm như Báo cáo tài chính, Bản cáo bạch niêm yết, tin nội bộ doanh nghiệp như các giao dịch, làm ăn của công ty niêm yết với đối tác, chia cổ tức cổ phiếu, mua lại cổ phiếu quỹ….; các chỉ số cơ bản như P/E, EPS….Toàn bộ hệ thống thông tin rất quan trọng

vì nó giúp nhà đầu tư biết tin tức thị trường và đưa ra các quyết định giao dịch…

1.4.1.4 Đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán:

Hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ của SGDCK không ngừng được cải thiện, nâng cao và luôn đảm bảo quy trình thanh toán các giao dịch được diễn ra thông suốt an toàn Trong đó:

- Đăng ký các thông tin về chứng khoán và quyền sỡ hữu chứng khoán của người nắm giữ chứng khoán

- Lưu ký chứng khoán là hoạt động lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hang và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán lưu ký

- Thanh toán bù trừ chứng khoán là hoạt động hoàn tất các giao dịch, trong đó bên bán chứng khoán thực hiện việc giao chứng khoán, bên mua thực hiện việc

Trang 12

chuyển tiền mua chứng khoán; hoạt động bù trừ sẽ chỉ ra bên nào phải trả tiền, bên nào phải giao chứng khoán.

Việc hiểu biết về các hoạt động này giúp nhà đầu tư an tâm về an toàn tài khoản chứng khoán của mình, nhà đầu tư luôn nắm chắc được những giao dịch trong tài khoản, có những loại cổ phiếu nào, những khoản thanh toán phải trả…

1.4.1.5 Bản cáo bạch, báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đánh giá:

Bản cáo bạch là một tài liệu rất quan trọng Với tư cách là một nhà đầu tư, Bản cáo bạch là phương tiện giúp bạn đánh giá mức độ sinh lời và triển vọng của công ty trước khi bạn quyết định có đầu tư vào công ty hay không Những thông tin cần xem như:

- Tóm tắt về vốn cổ phần, thống kê sô liệu phát hành / chào bán, số nợ và phương án sử dụng tiền thu được từ đợt phát hành;

- Chứng khoán phát hành;

- Thông tin về ngành kinh doanh;

- Thông tin tài chính;

- Thông tin về cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc;

- Các đối tác liên quan tới đợt phát hành;

- Các nhân tố rủi ro;

Báo cáo tài chính là tài liệu cung cấp những khoản chi tiêu vào sản xuất kinh doanh, doanh thu, khoản lợi nhuận trước thuế - sau thuế… theo khoảng thời gian định

kỳ như theo tháng – quý – năm, cùng với đó là so sánh xem có đạt kế hoạch đã đặt ra

ở kỳ trước hay ko?

Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm:

• ROA- tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản

ROA = (Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản); ROA > 20% được coi là tốt

• ROE - tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

ROE = (Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sỡ hữu); ROE > 20% là tốt

• P/E – (Hệ số giá trên thu nhập)

P/E = (Thị giá mỗi cổ phiếu Price / EPS)

• EPS - Tỷ suất lợi nhuận trên cổ phiếu (Earning per Share)

EPS = Tổng lợi nhuận sau thuế / Tổng số cổ phiếu phát hành

Trang 13

Các báo cáo tài chính, bản cáo bạch và các chỉ số đánh giá là một phần không thể thiếu của các nhà đầu tư khi tham gia thị trường chứng khoán, vì thế các tài liệu

đó cần phải được nghiên cứu tỉ mĩ, chi tiết nhằm có những quyết định đầu tư sáng suốt

1.4.1.6 Chính sách thuế đối với nhà đầu tư:

Các loại hình đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán như ngân hàng, bảo

hiểm vẫn phải thực hiện theo các quy định của Luật Thuế doanh nghiệp, tức là chưa được hưởng một chế độ ưu đãi nào Đơn cử như:

Theo Thông tư 84/2009/TT-BTC, trong mọi trường hợp chuyển nhượng chứng khoán, không phân biệt nộp thuế theo thuế suất ấn định 0,1% hay biểu thuế toàn phần với thuế suất 20%, công ty chứng khoán hoặc đơn vị phát hành chứng khoán đều phải khấu trừ thuế ấn định trước khi thanh toán cho người chuyển nhượng Có nghĩa là, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán, dù đã đăng ký nộp thuế theo biểu thuế toàn phần với thuế suất 20%, thì vẫn phải tạm bị khấu trừ 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần

Theo quy định tại Thông tư 62/2009/TT-BTC, cổ phiếu thưởng, cổ tức bằng tiền sẽ bị đánh thuế khi có giao dịch chuyển nhượng,…

Vì vậy, nhà đầu tư phải nắm chắc khoản thuế thu nhập để tránh thắc mắc vì những khoản bị thu không biết ở đâu ra…

1.4.1.7 Luật chứng khoán:

Ngày 25 tháng 12 năm 2001, theo Nghị quyết 51/2001/QH10 Luật chứng khoán

ra đời bao gồm các quy định về:

- Phạm vi điều chỉnh như chào bán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh đầu tư chứng khoán, dịch vụ chứng khoán …

- Đối tượng áp dụng là Cá nhân, Tổ chức trong và ngoài nước đầu tư và có liên quan đến chứng khoán tại Việt Nam

- Chính sách phát triền thị trường chứng khoán, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp tham gia nhằm huy động các nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, Nhà nước giám sát bảo đảm thị trường chứng khoán hoạt động công bằng – công khai – minh bạch – an toàn - hiệu quả

Trang 14

- Các quy định về công ty đại chúng khi niêm yết như báo cáo tài chính, bản cáo bạch, thông tin minh bạch cũng như phải đạt lợi nhuận trong 3 năm liên tục mới được chào sàn… Các quyền và nghĩa vụ công ty đại chúng….

Nhà đầu tư cần phải biết các quyền lợi và nghĩa vụ của mình nhằm bảo vệ tài sản khi đầu tư chứng khoán, tránh những thiệt hại do thiếu hiểu biết về luật chứng khoán

1.4.1.8 Các rủi ro khi tham gia thị trường chứng khoán:

Nhà đầu tư cần phải biết các rủi ro khi tham gia thị trường chứng khoán vì từ đó

sẽ đề ra các hoạch định và chiến lược đầu tư Các rủi ro đó có thể là:

- Rủi ro lạm phát là khả năng kiếm lời không đuổi theo kịp sự mất giá, trượt giá của đồng tiền

- Rủi ro bị cụt vốn là có thể bị mất một phần hay toàn bộ vốn đã bỏ vào đầu tư chứng khoán do tiên đoán sai hoặc bị hoàn cảnh bất lợi từ thị trường

- Rủi ro do chọn nhầm đối tượng là mua cổ phiếu không sinh lời hoặc bị lỗ

- Rủi ro do không gặp thời hoặc chậm trễ

- Rủi ro về lãi suất là khi lãi suất tăng thì giá cổ phiếu giảm

- Rủi ro do biến động thị trường là do áp lực tâm lý thị trường

- Rủi ro về tài chính, khả năng thanh khoản…

1.4.2 Kỹ năng quản lý cảm xúc, hay còn gọi là EQ

Đây là tiêu chuẩn mà bản thân tự rèn luyện mà có, “Lòng tham và nỗi sợ hãi”

Lòng tham ở đây được nhắc đến khi nhà đầu tư bỏ qua các quy tắc để mong chờ giá lên đến đỉnh rồi mới bán ra nhưng lại rơi vào tình trạng chỉ bán được sau khi giá đã giảm một số phiên và mức lãi vơi đi ít nhiều, thậm chí là thua lỗ Còn nỗi sợ hãi xuất hiện khi giá giảm và nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu một cách ồ ạt khiến giá giảm quá mức cần thiết Tâm lý này đặc biệt được thể hiện rõ nét khi cổ phiếu hay thị trường

có xu hướng tăng, nhà đầu tư lao vào thị trường và giành nhau mua; còn khi cổ phiếu hay thị trường có xu hướng giảm thì lại cố hết sức để bán ra

Lòng tham và nỗi sợ hãi luôn hiện hữu trong mỗi nhà đầu tư và là hiện tượng tâm lý bình thường, phổ biến của con người Nó không đáng bị chê trách trừ khi nó thúc đẩy nhà đầu tư có những hành động vượt quá mức bình thường, thậm chí là phi

Trang 15

lý, cho nên nhà đầu tư nên cần phải có kỹ năng quản lý cảm xúc để đưa ra những quyết định thận trọng, hợp lý nhất.

1.4.3 Tâm lý nhà đầu tư (tâm lý thị trường)

Theo thuyết lòng tin về giá cổ phiếu, yếu tố căn bản trong biến động của giá cổ phiếu là sự tăng hay giảm lòng tin của nhà đầu tư đối với tương lai của giá cổ phiếu, của lợi nhuận Doanh nghiệp và của lợi tức cổ phần Vào bất cứ thời điểm nào, trên thị trường cũng xuất hiện 2 nhóm người: nhóm người lạc quan và nhóm người bi quan Khi số tiền do người lạc quan đầu tư chiếm nhiều hơn, thị trường sẽ tăng giá và khi số tiền bán ra của người bi quan nhiều hơn, thị trường sẽ hạ giá Tỷ lệ giữa 2 nhóm người này sẽ thay đổi tuỳ theo cách diễn giải của họ về thông tin, cả về chính trị lẫn kinh doanh, cũng như những đánh giá của họ về nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng Sự suy giảm lòng tin trong công chúng đầu tư bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau như hoạt động kém hiệu quả của công ty niêm yết, công tác quản lý, điều hành kém hiệu quả, công tác công khai thông tin Trong đó, nguyên nhân chủ quan chính là sự hiểu biết của công chúng về chứng khoán và thị trường chứng khoán bị hạn chế Phần lớn công chúng tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán hiện nay đều xây dựng niềm tin chủ yếu dựa trên yếu tố lợi nhuận đạt được từ chênh lệch giá cổ phiếu, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán chủ yếu muốn đầu cơ ăn chênh lệch giá, họ ít quan tâm đến triển vọng lâu dài của công ty niêm yết, còn bị tác động bởi trào lưu, theo số đông và ngắn hạn

Vì vậy, nhà đầu tư cần nghiên cứu tâm lý thị trường để biết một trong hai nhóm,

xu hướng nhóm người nào mạnh hơn, để đưa ra những giao dịch kịp thời

1.4.4 Kinh nghiệm cho đầu tư

Kinh nghiệm sẽ làm nhà đầu tư sáng suốt trong các quyết định giao dịch của bản thân, vì thế để đảm bảo điều đó thì nhà đầu tư cá nhân phải tự hỏi bản thân mình những câu hỏi sau:

- Mục tiêu đầu tư của bạn là gì? Mua để tham gia vào hội đồng quản trị công ty? Mua để đầu tư lâu dài? Mua để đầu cơ lướt sóng? Mua để được chia cổ tức?

- Đầu tư trong khoảng thời gian ngắn hay dài?

- Bạn sẽ phản ứng như thế nào nếu giá cổ phiếu mình đang đầu tư xuống đột ngột? Tăng đột ngột?

Trang 16

- Quan tâm nhiều tới các thông số cơ bản một của công ty như tốc độ tăng trưởng doanh số và lợi nhuận, từ đó rút ra những kết luận về giá trị thực tế của cổ phiếu cũng như của cả công ty Sau đó, bằng cách so sánh thị giá cổ phiếu với giá trị thực tế, ta quyết định có nên mua công ty hay không? …

CHƯƠNG 2 NHỮNG THĂNG TRẦM CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG

KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Trang 17

2.1 Toàn cảnh về thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.1 Những thành tựu TTCK đã đạt được trong thời gian qua

Ngày 11 - 07 – 2000, Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động, tại Sở giao dịch TP Hồ CHí Minh chỉ có 2 cổ phiếu được niêm yết giao dịch là REE và SAM với tổng giá trị 270 tỷ đồng, một tuần có 3 ngày giao dịch, mỗi ngày giao dịch theo hình thức khớp lệnh định kỳ, số nhà đầu tư tham gia giao dịch ít Kể từ khi cổ phần hóa các doanh nghiệp, giao dịch cổ phiếu ngày càng diễn ra sôi động trên

số lượng công ty chứng khoán bắt đầu là 6 thành viên

Trong giai đoạn 2000-2002, trái phiếu chính phủ (TPCP) là hàng hóa niêm yết chủ đạo trên SGDCK Tp.HCM Tuy nhiên, số lượng không nhiều (40 mã) Trong giai đoạn này, CPTP tương đối kém thanh khoản, giá trị giao dịch bình quân cũng rất thấp, với khoảng 2% giá trị CPTP niêm yết

Giai đoạn 2004 – 2007, giá trị trái phiếu niêm yết so với GDP tăng đáng kể, lên tới 11,3% GDP, đồng thời, nhiều quy định mới được áp dụng nhằm thúc đẩy giao dịch trái phiếu như: không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu của các tổ chức,

cá nhân nước ngoài; bỏ biên độ dao động giá; cơ chế giao dịch thỏa thuận; rút ngắn thời gian thanh toán T+1 Vì vậy, tính thanh khoản của thị trường cũng tăng dần.Đến năm 2005, thị trường chứng khoán có nhiều khởi sắc, quy mô thị trường

mở rộng, tăng khoảng 55% giá trị niêm yết, số lượng nhà đầu tư đã tăng 35%, bình quân có 667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên Lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường được nâng lên, do tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết có sự tăng trưởng cao cả về vốn, doanh thu, lợi nhuận, tính công khai và quản trị công ty theo điều lệ mẫu được tăng cường Bên cạnh đó, năm 2005 cũng xuất hiện một số dấu hiệu tích cực trên thị trường chứng khoán Nhiều doanh nghiệp đã phát hành thành công ra công chúng Trong năm qua, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

đã cấp giấy chứng nhận phát hành thêm cho 6 công ty niêm yết với tổng trị giá 700 tỷ đồng, cấp giấy chứng nhận phát hành lần đầu ra công chúng cho 4 công ty với tổng trị giá 102 tỷ đồng Ngoài ra Uỷ ban cũng cấp phép niêm yết cho 7 công ty với tổng vốn điều lệ 2.117 tỷ đồng, trong đó riêng Vinamilk có vốn điều lệ trên 1.500 tỷ đồng Nhà nước đã đẩy mạnh cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp lớn, tổ chức đấu giá công khai qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán nhiều doanh nghiệp lớn của ngành điện lực

Trang 18

như Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, Thủy điện Thác Bà, Nhiệt điện Phả Lại, Điện lực Khánh Hòa Đầu năm tới sẽ chuyển sang cổ phần hóa, đấu giá các doanh nghiệp của ngành xi măng và tiếp tục hướng tới các doanh nghiệp thuộc ngành ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, bưu chính viễn thông… Các doanh nghiệp này đã và

sẽ đưa ra niêm yết trên các Trung tâm Giao dịch chứng khoán, làm gia tăng đáng kể lượng hàng hóa cho thị trường chứng khoán Có nhiều thay đổi trong chính sách liên quan đến thị trường chứng khoán theo hướng ngày càng hoàn thiện, nhất là đối với nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể là đã nới lỏng tỷ lệ sở hữu từ 30% lên 49% đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cho phép các tập đoàn bảo hiểm như Prudential, Manulife và một số tổ chức liên doanh thành lập công ty quản lý quỹ ở Việt Nam, cấp phép lưu ký cho Tập đoàn CitiGroup, cho phép chuyển các xí nghiệp liên doanh thành công ty cổ phần và một số doanh nghiệp này đang hoàn tất hồ sơ niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán

Năm 2006, thị trường chứng khoán bắt đầu nổi bật trong các kênh đầu tư, các nhà đầu tư được “mùa chứng khoán”, tổng giá trị vốn hóa thị trường khoảng 40.000

tỷ đồng, khối lượng cổ phiếu niêm yết tăng thêm 30% so với năm 2005, đạt được 22,6%GDP, khối lượng giao dịch bình quân tăng lên 2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần so với năm 2005),

Năm 2007, thị trường chứng khoán bùng nổ với những giao dịch có giá trị

“khủng”, lượng tiền đổ vào thị trường chứng khoán như nước, đạt 40% GDP, con số giao dịch bình quân trong phiên tiếp tục tăng lên 9,79 triệu CP, số lượng nhà đầu tư

và tài khoản tăng vù vù theo từng ngày (khoảng 307 nghìn tài khoản), trên cả hai sàn hiện có 249 công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ (sàn TP.HCM 138, sàn Hà Nội 111) Mặc dù tăng khá so với thời điểm khi mới hoạt động cũng như một số thời điểm trước đây (cuối năm 2006 có 193, cuối năm 2005 có 41), nhưng nếu so với số lượng công ty cổ phần hiện hữu ở Việt Nam thì chiếm chưa được 2%, có 75 công ty chứng khoán, 24 công ty quản lý quỹ, …

Các "đại gia" đã niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường đạt trên 1.000 tỉ đồng (tức đạt trên 62,5 triệu USD) ở cả hai sàn mới đạt 70 (sàn TP.HCM 53, sàn Hà Nội 17), trong đó số đạt từ 10 nghìn tỉ đồng trở lên (tức trên 625 triệu USD) mới có 12 (sàn TP.HCM có 9, đứng đầu là VNM trên 29,4 nghìn tỉ đồng; tiếp đến là STB gần

Trang 19

28,7 nghìn tỉ đồng; DPM trên 27,5 nghìn tỉ; FPT trên 20,4 nghìn tỉ; SSI trên 19,8 nghìn tỉ; PPC trên 19 nghìn tỉ; PVD 16,3 nghìn tỉ; HPG trên 12,4 nghìn tỉ; VIC 12,4 nghìn tỉ; sàn Hà Nội có 3, đứng đầu - đồng thời cũng đứng đầu cả nước - là ACB gần 42,6 nghìn tỉ; tiếp đến là KBC 17,8 nghìn tỉ; PVS trên 11,9 nghìn tỉ)

Năm 2008, Theo nguồn của Sở Giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh, 18,07 triệu CP là con số bình quân giao dịch trong phiên, khối lượng cổ phiếu niêm yết lúc này là 5,6 tỷ cổ phiếu toàn thị trường có giá trị 70.000 tỷ đồng, trong đó có 5,2 tỳ cổ phiếu niêm yết trên thị trường có giá trị 52.000 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 92,8%, chứng chỉ chiếm tỷ trọng 4,49% có giá trị 2.520 tỷ đồng, còn lại có 152 triệu trái phiếu chiếm 2,7% có giá trị 15.300 tỷ đồng Nguồn cung cổ phiếu trên thị trường ngày càng nhiều Trong năm 2008, lại có thêm các đại gia tham gia IPO “khủng” như Vietcombank, Incombank, mobifone… Quy mô của thị trường còn tiếp tục được mở rộng do các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá đã niêm yết vào năm 2007 –

2008 trong đó có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với số vốn lên tới hàng ngàn tỉ đồng….khiến giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán khổng lồ, vì thế có những nhóm cổ phiếu được phân theo nhiều nhóm ngành với nhau để giúp nhà đầu tư so sánh với nhau dễ dàng hơn

Năm 2009, quy mô niêm yết theo nguồn của sở giao dịch chứng khoán Hose năm 2009 như sau:

Trang 20

Toàn thị trường Cổ phiếu Chứng chỉ Trái phiếu Khác

Hình 2.1: Quy mô niêm yết chứng khoán năm 2009

Hình 2.2: Biểu đồ tỷ trọng khối lượng và giá trị năm 2009

Quan sát các số liệu tại hình 2.1 và hình 2.2 ta thấy quy mô thị trường cổ phiếu

có bước tăng trưởng mạnh mẽ, thị trường chứng khoán đã đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Năm 2009 toàn thị trường có 12,2 tỷ chứng khoán với giá trị vốn hóa xấp xỉ 132.461 tỷ đồng, có 11,868 tỷ CK (96,92%) có giá trị niêm yết 118.682 tỷ đồng (89,6%) Tính đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả hai SGDCK và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, đạt 38%GDP => Thị trường

Trang 21

khối lượng so với các năm trước Năm 2009 có lúc giao dịch trong phiên đạt 38 triệu đơn vị

Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng từ 0.43 lần (năm 2006) lên 0.64 lần (năm 2007), 0.68 lần (năm 2008) và đạt 1.13 lần (năm 2009)

Năm 2010, theo nguồn của Hose ta có quy mô TTCK qua các số liệu

Toàn thị trường Cổ phiếu Chứng chỉ Trái phiếu Khác

Hình 2.3: Quy mô niêm yết chứng khoán năm 2010

Hình 2.4: Biểu đồ tỷ trọng cổ phiếu năm 2010

Tính đến tháng 9/2010 thì đã có hơn 611 mã cổ phiếu (kể cả những cổ phiếu sắp lên sàn niêm yết) có 13,1 tỷ CP với tổng giá trị vốn hóa là hơn 540.320 tỷ đồng bao gồm các loại cổ phiếu vốn hóa lớn như Vietcombank VCB có 48.650 tỷ đồng, Hoàng Anh Gia Lai HAG 22.653 tỷ đồng, Sacombank STB 15.340 tỷ đồng…Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt

Trang 22

với số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng Ước tính đến cuối năm 2010 đạt khoảng từ 40-50% GDP.

Số lượng doanh nghiệp (tính đến thời điểm này) đã niêm yết tăng 704% so với năm 2000 Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có sự gia tăng đáng kể Tính đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài đã

đổ vào khoảng 4 tỉ USD Trong năm nay, số lượng doanh nghiệp niêm yết sẽ tiếp tục được mở rộng, sàn Hose còn khoảng 18 doanh nghiệp đang “xếp hàng” chờ “lên sàn”, sàn Hnx dự kiến còn hơn 100 doanh nghiệp lên sàn

Trong thời gian gần đây, năm 2011, do biến động của lãi suất, việc phát hành TPCP không được như mong muốn, dẫn đến tỷ lệ giá trị niêm yết so với GDP giảm xuống và chỉ còn khoảng 10,81% vào cuối năm Tuy nhiên, nếu so sánh với tổng dư

nợ trái phiếu phát hành là 16,9% GDP thì vẫn còn một lượng khá lớn trái phiếu chưa được đưa vào niêm yết và giao dịch trên các SGDCK Số trái phiếu này phần lớn là trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong thời gian gần đây Hiện tại đã có 646 công ty niêm yết với gia trị vốn hóa lên đến 722 nghìn tỷ đồng, tương đương 30% GDP của năm 2010

2.1.2 Những biến động nổi bật của TTCK Việt Nam từ khi thành lập qua chỉ số VN –index

Trang 23

Hình 2.5 Đồ thị chỉ số VN – index năm 2006 - 2011

Chỉ số VN - Index cũng đã chứng minh sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường Nếu trong phiên giao dịch đầu tiên ngày 28 - 7 - 2000, VN-Index ở mức 100 điểm thì tháng 3 – 2007, chỉ số này đã đạt ở mức kỷ lục trên 1.170 điểm và sau một vài tháng giảm sút, VN-Index đang dao động xung quanh ngưỡng 1.000 điểm (đến giữa tháng 5-2007 đã lên 1.060 điểm), tăng hơn 10 lần so với năm 2000 Rồi thị trường lại suy giảm đến tháng 06 – 2008 do những chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng nhà nước nhằm giảm đà tăng của lạm phát của năm 2007 đã khiến cho chỉ

số VN – index chỉ còn hơn 400 điểm, đến tháng 09 – 2008, lúc này nguồn cung tiền được mở ra cho thị trường, chỉ số VN – index lại tăng lên 600 điểm Tuy nhiên lúc này toàn bộ nền kinh tế thế giới rung chuyển bởi “bong bóng Bất động sản của Mỹ” khủng hoảng tiền tệ đến cao trào như đại suy thoái thế giới của năm 1929, TTCK Việt Nam giảm tệ hại đến tháng 2 - 2009, chỉ còn 235 điểm, do các nghi ngại ảnh hưởng kinh tế toàn cầu, chính sách nới lỏng tiền tệ được áp dụng để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, VN - index trong năm 2009 tăng lên hơn 600 điểm, bình quân có 77 triệu

cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị đạt 2.270,57 tỷ đồng, đến nay năm

2010 thị trường “đi ngang giảm” còn 440 điểm Lý giải cho hiện tượng đi ngang này,

Trang 24

nước ta không nhất quán, thay đổi liên tục làm cho các nghi ngại dấy lên trong môi trường đầu tư.

2.1.3 Nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường chứng khoán

Số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo Từ khoảng gần

3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vào năm 2000, đến nay đã có trên 160.000 tài khoản giao dịch, trong đó số nhà đầu tư tổ chức trong nước

là 5000, số nhà đầu tư cá nhân trong nước là khoảng 130.000, số nhà đầu tư nước ngoài là hơn 25.000 nhà đầu tư Như vậy, nhà đầu tư cá nhân trong nước đã tăng hơn

43 lần so với số tài khoản giao dịch lúc ban đầu

Giai đoạn năm 2000 – 2006, chỉ có số ít khoảng 14.000 nhà đầu tư giao dịch trên sàn, trong khi đó công chúng còn xa lạ với kênh đầu tư này, nên có khi hỏi Thị trường chứng khoán là gì, có người còn không biết, vì thế ít người quan tâm đến chứng khoán => Trong giai đoạn này, thị trường không có những biến động đáng kể Giai đoạn đầu 2007 - đầu 2008, thị trường chứng khoán biến động dữ dội, số lượng tài khoản gia tăng mạnh mẽ lên hơn 100.000 tài khoản giao dịch, gần như tất

cả các nhà đầu tư tập họp về đây, có đủ mọi tầng lớp nhà đầu tư, giao dịch đột biến, thêm vào đó số lượng công ty chứng khoán tăng đáng kể khoảng 70 công ty, tuy nhiên với số lượng nhiều nhưng hoạt động tư vấn xãy ra bát nháo, công ty nào cũng đòi đưa ra nhận định của mình là chính xác, làm cho nhà đầu tư càng thêm mù mịt không còn biết phương hướng để đầu tư Giữa năm 2007 đầu 2008, thời kỳ huy hoàng chứng khoán, đi đến đâu cũng nghe người ta nói về chứng khoán, cứ như chứng khoán thành món ăn ruột, món ăn tinh thần Đầu tiên là việc nhà nhà đầu tư chứng khoán, kế đến là bà nội trợ cũng chơi chứng khoán cứ như là đi chợ vậy, chẳng quan tâm đến đấu giá, không biết nhiều đến thông tin của các công ty niêm yết, cũng không biết phân tích bản cáo bạch, không biết báo cáo tài chính là cái gì, phân tích thị trường cũng không, nhưng vẫn có nhiều thành công nhờ lời khuyên của người thân Cứ biết “mua là thắng” Tuy ngơ ngác khi nghe hỏi về các chỉ số tài chính cơ bản để xác định giá trị cổ phiếu nhưng lại mua bán khá chuyên nghiệp Để chớp cơ hội đi trước hàng loạt các lệnh mua bán khác, nhiều người chọn cách mua trần bán sàn Theo nhiều nội trợ thì đơn giản như suy nghĩ “Thị trường luôn ưu tiên lệnh mua trần bán sàn, mặc dù số lượng không nhiều Mua bán như vậy không có nghĩa là tôi

Trang 25

lỗ, mà khi xác định được một khoản lời chênh lệch vừa vặn, tôi bán ngay Đã chọn cách mua bán này, thì tôi không ham lời nhiều”, một chị tâm sự nói Chị thường

“nuôi” một loại cổ phiếu từ 2 – 3 tháng, với những cổ phiếu quá nóng thì chị bán ngay trong 1-2 tuần Vì vậy, mặc những người toan tính tìm những khoản lợi nhuận cao nhất, chị cứ thong dong chơi và có lãi “vừa đủ” Không rõ lãi được bao nhiêu khi hết năm, vì tiền chẳng bao giờ nhàn rỗi trong tài khoản, hết bán chứng khoán này tới mua chứng khoán kia “Mức lãi cao hàng chục lần so với lương tháng của nhân viên”, một chị hài lòng nói chị Thọ, một người nội trợ kiếm sống thêm bằng nghề môi giới và mua bán nhà đất nhảy sang sàn chứng khoán hai năm nay “Mua bán nhà đất cò con mà hết chờ rồi tìm không có ai mua, vốn đọng hết còn gì lời lãi”, chị nói

“Hơn nữa, mua bán nhà đất thì mất vài tuần đến mấy tháng mới bán được nhà, lấy được tiền Còn chứng khoán khi cần là có ngay tiền mặt”, chị Thọ nói Chỉ có vỏn vẹn vài chục triệu đồng, nhưng với kinh nghiệm mua bán bất động sản của mình, chị Thọ áp dụng khá nhuần nhuyễn vào thị trường chứng khoán Những ngày đầu, chị mua liều vài cổ phiếu có tiếng, cổ phiếu lên giá cao chị bán ngay, cổ phiếu xuống giá chị không ngần ngại mua vào “Cổ phiếu cũng như đất, không có đất nào là rẻ và bỏ hoang cả Cứ nắm trong tay, ở mức nào cũng kiếm lời được”, chị nói Chị thường vừa lau nhà vừa nghe tin tức chứng khoán qua tivi, đài, và giao dịch bằng điện thoại

Kế đến là việc nhân viên công sở trốn việc ra sàn chơi chứng khoán, dù công việc bận rộn đến mấy tuần nào cũng tranh thủ ra sàn giao dịch chứng khoán ít nhất 2 lần Một anh nhân viên tiết lộ rằng chỉ cần một sáng đẩy cổ phiếu thắng lợi là ăn đứt mấy tháng "cày sâu cuốc bẫm" nơi công sở "Mỗi buổi chỉ khoảng vài chục phút nhưng nhìn thấy được không khí hừng hực ở sàn "thú" lắm", anh nói Ngồi ở văn phòng đặt lệnh không thể theo dõi được diễn biến của những lệnh chỉ xuất hiện trong vòng vài phút Đó là những lúc nhà đầu tư muốn làm giá, đưa ra lệnh bán hoặc mua nhiều khiến giá cổ phiếu trên thị trường xoay chuyển "Nếu khi ấy không có mặt trực tiếp, thì "toi" như chơi", anh khẳng định Nhờ nhiều phen trực chiến tại sàn mà anh

đã tự cứu mình nhiều bàn thua trông thấy => Đầu tư thắng lợi, thời kỳ huy hoàng của chứng khoán Việt Nam, chứng khoán nổi trội hơn tất cả các kênh đầu tư khác, thu nhập hàng tháng “rủng rẻng” trong túi, đến nỗi nghề môi giới chứng khoán cũng

Trang 26

được gọi là “hot” nhất trong các nghề Số lượng nhà đầu tư tăng mạnh nhưng kiến thức hiểu biết về chứng khoán thì hầu như ít người quan tâm đến

Theo ước tính của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, hệ số giá/lợi nhuận (P/E) trung bình của 20 công ty lớn nhất của Việt Nam là khoảng 73,3%, vuợt quá xa so với các thị trường khác Chắc chắn sẽ phải giật mình nếu ta biết rằng, chỉ số P/E bình quân của thị trường đứng thứ 2 sau Việt Nam trong bảng thống kê của IMF là Ấn Độ chỉ có 20,4 và mức trung bình của thế giới là 16,2 Như vậy có thể thấy sức kỳ vọng của các nhà đầu tư đối với thị trường Việt Nam lớn đến mức nào và càng như một luồng động khí thổi phồng thêm “bong bóng” chứng khoán Việt Nam tưởng chừng như sẽ

nổ vào năm 2007

Hình 2.6: Năm 2007 nhân viên ra sàn chớp nhoáng, quyết định đặt lệnh rồi đi

Năm 2008, nhưng “Khi đứng ở thời điểm cuối năm 2007 đầu năm 2008,

người ta không ngờ được thị trường lại xuống quá sâu như hiện nay Có thể

thấy cuối năm 2007 chiều hướng đã không tốt, nhưng ít ai nghĩ nó xấu đến như vậy Sau Tết âm lịch cũng đã loáng thoáng thấy chiều hướng nó xấu rồi, nhận định có thể

rõ nét hơn Nhưng ngay cả ở thời điểm đó, người ta cũng không có ngờ” để rồi

“Năm 2008 phải trả nợ cho năm 2007” tình hình xấu đi kể từ sau Tết Âm lịch

Nền kinh tế rơi vào lạm phát và chống lạm phát Những biện pháp mạnh chống lạm phát nó làm ảnh hưởng tới thị trường Đó là những giải pháp về tiền tệ thắt chặt quá mạnh Sau khi thị trường chứng khoán giảm khá sâu, trước tiên là những tập đoàn, công ty nhà nước có tham gia thị trường bắt đầu rút vốn Thị trường bị hẫng một lượng tiền vốn rất lớn Điều đó ít ai dự liệu được trong năm 2007 để bước vào năm

2008 Kế tiếp là các tổ chức đầu tư, các doanh nghiệp không phải là những tập đoàn

Trang 27

trên, cũng bắt đầu tính toán, cấu trúc lại và rút bớt nguồn tiền ra khỏi thị trường, do giá chứng khoán đi xuống mạnh, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của họ Lực lượng rút tập trung đầu năm 2008 làm cho thị trường suy giảm mạnh, những lúc này các nhà đầu tư tham gia sau là người thua cuộc, cổ phiếu vừa về đến tài khoản là lập tức bán ra nhưng bán không được vì không ai dám mua lúc thị trường hoảng loạn, => Bất cứ ai tham gia vào mua đều nắm chắc phần lỗ, giảm khoảng 70% => Lỗ quá nặng! Hầu hết các nhà đầu tư đều “méo mặt” vì thua lỗ.

Tuy nhiên đến giữa tháng 6 năm 2008, các chính sách kinh tế của các nước trên toàn thế giới được tung ra như là bơm tiền vào lưu thông cứu trợ ngân hàng thâm hụt, giảm lãi suất, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp…Việt Nam ta cũng bơm vào một tỷ USD vào nền kinh tế mình Ảnh hưởng bởi niềm tin kinh tế sẽ được cứu, nhà đầu tư Việt Nam bình tâm trở lại và bắt đầu mua cổ phiếu trở lại, thị trường lại tăng lên ào ào, những cổ phiếu trước kia giảm bao nhiêu thì tăng lại bấy nhiêu, lớp nhà đầu tư tham gia cuối cùng của đợt hoảng loạn trên vô tình trúng đậm, nhanh tay bán ra chốt lời vào cuối năm => Năm 2008 đầy sóng gió, nhà đầu tư xãy ra hai thái cực hoàn toàn trái ngược nhau, một bài học nhãn tiền về “Lòng tham và nỗi sợ hãi”, một kinh nghiệm xương máu cho hầu hết các nhà đầu tư cá nhân

Năm 2009, một đợt rung lắc mạnh của thị trường tài chính quốc tế, lực lượng thất nghiệp ở các nước quốc tế gia tăng đột biến, thị trường chứng khoán chao đảo thêm một lần nữa, toàn bộ thị trường trên thế giới suy giảm Tuy nhiên, giữa tháng 3 năm 2009, lượng tiền bơm vào thị trường cuối năm 2008 đã phát huy tác dụng, cùng với sự hồi sinh của kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam, giá cổ phiếu trở nên quá rẻ, mua cổ phiếu để hưởng cổ tức còn cao hơn cả tiền lãi gửi tiết kiệm, chỉ số VN – index 235 point, thấp nhất trong 6 năm gần đây, các nhà đầu tư bắt đầu chuyển từ trạng thái sợ hãi dần dần tự tin trở lại, sự tăng điểm của thị trường chứng khoán đã làm cho lòng tham tiếp tục gia tăng và lại bắt đầu một chu kỳ đầu tư là thắng, tuy nhiên lần này thì sự tham gia của ngân hàng, các tổng công ty đã bị hạn chế, chỉ còn chủ yếu các quỹ, các công ty chứng khoán, và nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào thị trường là chủ yếu Năm 2009 là năm mà các nhà đầu tư học được bài học

về sử dụng đòn bẩy tài chính, thị trường tăng điểm đã khiến các nhà đầu tư mờ mắt, liên tục yêu cầu mức đòn bẩy cao hơn và đổ tiền vào thị trường Chỉ thị 03 là một

Trang 28

minh chứng, tiền vào thị trường bị thắt chặt nhưng không có một giải pháp nào để

thay thế cái đó, trong khi đó ở thế giới người ta có, như Margin Trading (giao dịch cho phép nhà đầu tư mượn tiền trước của nhà môi giới - PV) Đó là một trong những

công cụ rất tốt, nghiệp vụ tốt hỗ trợ cho thị trường và mang tính chuyên nghiệp cao Hay xa hơn là các công cụ phái sinh Options, Futures… trong chứng khoán => Nhà đầu tư trong nước đã học được những bài học cay đằng nhất trong đầu tư vào thị trường chứng khoán khi sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức cho phép

Năm 2010 cho đến nay thị trường lình xình gây chán nản cho nhiều nhà đầu tư,

không có những đợt sóng biến động mạnh, có lúc tất cả đồng loạt tăng tới 3 hoặc 4% toàn thị trường hoặc đồng loạt giảm sàn hầu hết các chứng khoán, giao dịch trên thị trường ngày càng kém thanh khoản, thị trường chưa có nhiều điểm sáng nên làm cho thị trường có xu hướng đi xuống Các thông tin vĩ mô trong nước tuy rằng tốt nhiều hơn xấu, nhưng cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới luồng tiền vào thị trường chứng khoán Trong khi đó, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp cũng chưa có nhiều hứa hẹn, do:

- Các yếu tố làm tăng đột biến về lợi nhuận không có nhiều như năm ngoái, khi

hỗ trợ lãi suất không còn,

- Lạm phát tăng cao hơn, làm cho chi phí đầu vào của doanh nghiệp tăng Các yếu tố vĩ mô khác như :

- Thị trường vàng, thị trường bất động sản, thị trường ngoại hối được đưa vào diện kiểm soát chặt chẽ để không xãy ra những cơn sốt đất, sốt vàng khiến người dân

lo lắng

- Nhà đầu tư nước ngoài vẫn liên tục mua ròng và sự quan tâm của các nhà đầu

tư nước ngoài tới thị trường Việt Nam ngày càng tăng, nhiều tổ chức đầu tư quốc tế vẫn đánh giá cao tiềm năng nền kinh tế của ta

- Cổ phiếu Thị trường chứng khoán đang nằm trong vùng có giá quá rẻ

- Nhiều doanh nghiệp lớn tăng vốn và niêm yết, đặc biệt là các ngân hàng theo

lộ cuối năm 2010 phải có vốn điều lệ tối thiểu 3000 tỷ Điều này cũng ảnh hưởng tới nguồn vốn chảy vào thị trường chứng khoán

Hiện nay trên TTCK đã hình thành những công ty trung gian và giới đầu tư quen gọi là “siêu đại lý” bởi nắm trong tay những cổ phiếu có tính thanh khoản tốt

Ngày đăng: 27/03/2013, 15:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Biểu đồ tỷ trọng khối lượng và giá trị năm 2009 - Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 2.2 Biểu đồ tỷ trọng khối lượng và giá trị năm 2009 (Trang 20)
Hình 2.3: Quy mô niêm yết chứng khoán năm 2010 - Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 2.3 Quy mô niêm yết chứng khoán năm 2010 (Trang 21)
Hình 2.6: Năm 2007 nhân viên ra sàn chớp nhoáng, quyết định đặt lệnh rồi đi - Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 2.6 Năm 2007 nhân viên ra sàn chớp nhoáng, quyết định đặt lệnh rồi đi (Trang 26)
Hình 3.1 Đồ thị kỹ thuật VN – index - Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 3.1 Đồ thị kỹ thuật VN – index (Trang 49)
Hình 3.2 Bảng so sánh các chỉ tiêu giữa năm 2009 và 2011 - Nâng cao năng lực của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình 3.2 Bảng so sánh các chỉ tiêu giữa năm 2009 và 2011 (Trang 53)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w