LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và triển khai đề tài "Quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ”, tôi đã nhận được sự đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM HẰNG NGA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM HẰNG NGA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VIẾT VƯỢNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Hằng Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và triển khai đề tài "Quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ”, tôi đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ
của các thầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo tham gia giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư - Tiến sĩ Phạm Viết Vượng, người đã tận tâm chỉ dẫn cho tôi về kiến thức và phương pháp luận trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban lãnh đạo, các phòng ban, các thầy cô giáo, các em sinh viên ở Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên và các bạn đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, số liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót, kính mong nhận được các ý kiến chỉ dẫn của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Hằng Nga
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Về đào tạo theo học chế tín chỉ 5
1.1.2 Về vấn đề quản lý học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ 7
1.2 Khái niệm công cụ 8
1.2.1 Tín chỉ - Credit 8
1.2.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ 10
1.3 Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ 11
1.3.1 Quản lý 11
1.3.2 Quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ 14
1.4 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ 16
1.4.1 Học tập theo học chế tín chỉ 16
1.4.2 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ 18
Trang 61.4.3 Nội dung quản lý hoạt động học tập của SV theo học chế tín chỉ 19
Kết luận chương 1 24
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN 25
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Điện Biên 25
2.2 Tầm nhìn, sứ mạng, chính sách chất lượng của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 29
2.3 Thực trạng hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 30
2.3.1 Nhận thức của sinh viên về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động học tập 30
2.3.2 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch học tập của sinh viên 32
2.3.3 Thực trạng về điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tập của SV 33
2.3.4 Đánh giá về hoạt động học tập của học sinh 35
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 38
2.4.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động học tập của sinh viên 39
2.4.2 Nhận thức về mục đích quản lý hoạt động học tập của sinh viên 39
2.4.3 Thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên 41
Kết luận chương 2 55
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 56
3.1 Nguyên tắc lựa chọn biện pháp 56
3.1.1 Nguyên tắc tính hệ thống 56
3.1.2 Nguyên tắc tính thực tiễn 57
Trang 73.1.3 Nguyên tắc tính hiệu quả 57
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động học tập của SV theo học chế tín chỉ 58
3.2.1 Biện pháp 1 Giáo dục ý thức, động cơ, thái độ học tập cho SV 58
3.2.2 Biện pháp 2 Hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch học tập theo học chế tín chỉ 61
3.2.3 Biện pháp 3 Hướng dẫn phương pháp học cho sinh viên theo học chế tín chỉ 64
3.2.4 Biện pháp 4 Tạo điều kiện vật chất và môi trường học tập cho sinh viên theo học chế tín chỉ 68
3.2.5 Biện pháp 5 Phối hợp các khoa với các phòng ban chức năng và giảng viên quản lý sinh viên học tập theo học chế tín chỉ 71
3.2.6 Biện pháp 6 Kiểm tra, đánh giá, thúc đẩy ý thức học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ 74
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 78
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp 78
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 78
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 78
3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 79
Kết luận chương 3 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 8TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
THCN : Trung học chuyên nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Mức điểm đối với môn học 15
Bảng 2.1: Nhận thức của SV về vai trò, tầm quan trọng của HĐHT 30
Bảng 2.2: Kết quả đánh giá việc xây dựng kế hoạch học tập của sinh viên 32
Bảng 2.3: Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tập của sinh viên 34
Bảng 2.4: Đánh giá về hoạt động học tập của sinh viên 35
Bảng 2.5: Kết quả học tập của sinh viên năm học 2012 -2013 37
Bảng 2.6: Tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động học tập của SV 39
Bảng 2.7: Nhận thức về mục đích quản lý hoạt động học tập của sinh viên 40
Bảng 2.8: Đánh giá của CBQL, GV về mức độ thực hiện các các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên 41
Bảng 2.9: Kết quả đánh giá về các biện pháp giáo dục tinh thần, động cơ thái độ học tập cho sinh viên 42
Bảng 2.10: Thực trạng việc xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động học tập của sinh viên 43
Bảng 2.11: Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của sinh viên 48
Bảng 2.12: Kết quả đánh giá về công tác quản lý và sử dụng CSVC kỹ thuật phục vụ cho hoạt động học tập của sinh viên 51
Bảng 3.l Tổng hợp tính cần thiết của các biện pháp quản lý 79
Bảng 3.2 Tổng hợp tính khả thi của các biện pháp quản lý 80
Trang 10Chất lượng giáo dục và đào tạo phụ thuộc vào hoạt động giảng dạy của thầy, hoạt động học tập của học trò, trong đó hoạt động học tập của trò giữ vai trò là trung tâm, chỉ khi nào trò chủ động, tích cực và sáng tạo thì hoạt động dạy học mới đảm bảo được mục đích của mình
Dạy học là con đường cơ bản nhất để thực hiện mục đích của giáo dục tổng thể, trong đó tự học là phương thức cơ bản để người học có được hệ thống tri thức phong phú và thiết thực
Điều 5 của Luật Giáo dục (2005) quy định “phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập
và ý chí vươn lên”; “đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển phong trào tự học tự đào tạo…”, “tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh”
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi
để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”
Như vậy, vấn đề đổi mới phương thức đào tạo và quản lý đào tạo theo hướng hiện đại hoá đã và đang trở thành một yêu cầu cấp bách Đào tạo theo học chế tín chỉ đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn về phương pháp dạy - học của người dạy lẫn người học
Trang 11Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên đang trong quá trình chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, hoạt động học tập, tự nghiên cứu của sinh viên luôn cần được coi trọng Việc quản lý hoạt động học tập của sinh viên cần đổi mới cho phù hợp với phương thức đào tạo mới Tuy nhiên, trong thực tế chất lượng đào tạo của nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, điều này có một nguyên nhân thuộc về quản lý đào tạo của nhà trường
Xuất phát từ những nhận thức trên, là một cán bộ của trường, chúng tôi
chọn đề tài: "Quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn học tập của sinh viên, đề tài
có mục đích đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động học tập của sinh viên trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ còn hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan, nếu nhà trường sử dụng đồng bộ các biện pháp quản lý trong điều kiện đào tạo mới thì kết quả học tập của sinh viên sẽ đạt được kết quả mong muốn
Trang 125 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động học tập của sinh viên cao đẳng theo học chế tín chỉ
- Khảo sát đánh giá thực trạng học tập và công tác quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
- Đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ
6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu: các văn bản, sách báo, tài liệu giáo dục học, tâm lý học, quản lý giáo dục để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát hoạt động học tập của sinh viên
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về hoạt động học tập
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý hoạt động học tập của SV
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm học tập của sinh viên
- Phương pháp khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ
Sử dụng toán thống kê và phần mềm tin học để xử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Trang 13Chương l: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của sinh viên cao
đẳng theo học chế tín chỉ
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên theo học chế tín chỉ
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
, Row, Piper và West (1969) cho rằng
bằng cử nhân là 120 - 140
Trang 15Ở Pháp, sử dụng đơn vị tín chỉ để đo khả năng hoàn thành việc học tập
Ở Anh áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ, đồng thời với việc môđun hóa chương trình đào tạo đại học
hướng tới một
“xã hội tri thức”, khuyến khích sự linh hoạt trong mối quan hệ đào tạo giữa các trường đại học
, năm 1992 “Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu” (European Credit Transfer System -
đã
thu hút sự tham gia của nhiều trường đại học, nhiều ngành khoa học
Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipine, Trung Quốc, Việt Nam
, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động học tập nhu cầu của thị trường lao động
Ở nước ta, trước năm 1975 một số trường đại học ở miền Nam đã áp dụng học chế tín chỉ như Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức
Từ năm học 1993 -1994 một số trường đại học như: Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học
Thăng Long; Đại học Xây dựng Hà Nội,… đã đào tạo theo học chế tín chỉ, bước đầu đã thu được những quả nhất định
chế tín chỉ ở các cuộc hội mà thôi
Trang 161.1.2 Về vấn đề quản lý học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ
Vấn đề học tập của học sinh, sinh viên, vấn đề quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên nói chung từ lâu đã được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau Các công trình nghiên cứu đã làm rõ bản chất của quá trình học tập, mục tiêu quản lý hoạt động học tập, đã đề xuất được những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, các nhà trường, các địa phương áp dụng vào thực tế đã đem lại những hiệu quả nhất định
Trong các trường đại học sư phạm trong khoảng 10 năm gần đây đã có nhiều luận văn thạc sĩ bàn về biện pháp quản lý học tập của học sinh, sinh viên, điển hình như:
- “Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT chuyên”
do Bùi Thị Tuyết Hồng thực hiện năm 2003
- “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên ” của tác giả Phạm Chí Cường, thực hiện năm 2004
- “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng
Sư phạm Trà Vinh ” của tác giả Võ Hoàng Khải thực hiện năm 2006
- “Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh tại trường trung học Kinh tế - Kỹ thuật Quảng Nam ” của tác giả Phạm Thị Lan thực hiện năm 2006
Từ nhiều góc độ khác nhau, các tác giả đã phân tích bản chất, đặc trưng của hoạt động học tập, bàn luận về các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh, sinh viên trong các nhà trường
Hiện nay ở các trường đại học, cao đẳng đang tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, sự kiện này đánh dấu một bước phát triển của giáo dục đại học Việt Nam Đào tạo theo học chế tín chỉ tạo ra sự thay đổi lớn về thói quen và phương pháp dạy - học của người dạy lẫn người học Theo hình thức đào tạo
Trang 17này, số lượng giờ nghe giảng trên lớp giảm đi, mà ngược lại tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình đào tạo
Tuy nhiên, ở nước ta việc nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ vẫn còn là vấn đề mới mẻ, cho đến nay chưa có m
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên cũng đang chuyển đổi từ hình thức đào tạo theo niên chế học phần sang hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ, cần có một đề tài nghiên cứu cơ bản, đề xuất được các biện pháp quản
lý hoạt động học tập của sinh viên, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với đặc điểm của nhà trường
1.2 Khái niệm công cụ
1.2.1 Tín chỉ - Credit
Tín chỉ là khái niệm mới được sử dụng trong đào tạo ở nước ta, vì vậy cho đến nay ở các trường đại học có nhiều định nghĩa khác nhau:
khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: học tập trên lớp, học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); và tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v.”
- Theo trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh: “Tín chỉ là một đơn vị dùng để lượng hoá khối lượng làm việc bắt buộc đối với một sinh viên để đạt được các yêu cầu của các hoạt động giảng dạy và học tập Một tín chỉ được quy định bằng một giờ lý thuyết trong một tuần trong suốt học kỳ, hoặc 2 đến 3 giờ bài tập, thực hành và thời gian tự học cần thiết theo ước lượng chung của trường‟‟
Trang 18- Học viện Tài chính định nghĩa: “Tín chỉ là đại lượng xác định khối lượng kiến thức, kĩ năng (trung bình) mà sinh viên tích lũy được từ học phần trong 15 giờ tín chỉ (cùng loại hoặc khác loại), được thực hiện mỗi tuần
01 giờ tín chỉ và kéo dài trong một học kì gồm 15 tuần”
- Theo Quy chế đào tạo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội thì: “Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được qui định bằng 15 tiết chuẩn, cụ thể như sau: Một tiết chuẩn tương đương với 01 tiết
lí thuyết hoặc 02 tiết bài tập, thực hành hoặc 03 tiết thảo luận Tỉ lệ số tiết lí thuyết, bài tập, thực hành và thảo luận Đối với các học phần có cả lý thuyết, thảo luận và thực hành: tổng số tiết lên lớp sau khi quy đổi là 20 tiết Để tiếp thu 01 tín chỉ sinh viên cần 30 giờ tự học, tự nghiên cứu”
- Theo James Quann Đại học Washington: “
chuẩn bị bài Đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là mộ
, thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần” (Bản dịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
- Theo Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy của Bộ Giáo
dục và Đào tạo thì: “Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, 45-90 giờ thực tập tại cơ sở, 45-60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được 1 tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” [3]
Trang 19Như vậy, tín chỉ là một đơn vị chuẩn dùng để lượng hoá thời gian làm việc của sinh viên trong quá trình đào tạo, bao gồm 3 yếu tố: thời gian
thu , thời gian , thời gian tự học của mỗi sinh viên cho một môn học và nó được thực hiện trong cả khóa đào tạo
1.2.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo, thái độ,… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và có hiệu quả.” [10, tr 11]
chương trình huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ, nhằm giúp cho người học nắ
đáp ứng các yêu cầu hoạt động chuyên môn sau khoá học” [31, tr.18]
được mục tiêu hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học
1.2.2.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ
Triết lý cơ bản của đào tạo theo hệ thống tín chỉ là "Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo"
Đào tạo theo học chế tín chỉ thức cho phép sinh viên chủ động học tập theo điều kiện và năng lực riêng của mình, những sinh viên giỏi
Trang 20có thể học vượt kế hoạch của toàn khóa để tốt nghiệp sớm hơn, những sinh viên bình thường hay yếu có thể dãn thời gian học tập và tốt nghiệp muộn hơn Vì thế, sinh viên phải tự lập kế hoạch học tập cho phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của mình
Toàn bộ hệ thống quản lý đào tạo, quản lý sinh viên vì thế phải vận hành theo các yêu cầu mới Chương trình đào tạo của nhà trường phải cấu trúc lại theo hướng mô đun hóa, lịch giảng dạy phải chính xác, mỗi giảng viên, mỗi sinh viên đều có thời khóa biểu riêng
Đào tạo theo tín chỉ đòi hòi cả người dạy và người học phải thay đổi cách
tư duy, đổi mới phương pháp dạy và học, sinh viên từ vị trí bị động, chuyển sang thế chủ động học tập một cách nghiêm túc
Như vậy, đào tạo theo học chế theo tín chỉ là phương thức đào tạo lấy sinh viên làm trung tâm, sinh viên được lựa chọn cách học tập cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện riêng của mình, nhà trường tổ chức và quản lý quá trình học tập của sinh viên một cách nghiêm túc để từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
1.3 Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
1.3.1 Quản lý
Khái niệm “quản lý” đã được các nhà triết học, các nhà khoa học kinh
tế, xã hội định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào phương pháp tiếp cận
- C Mác cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ”
Trang 21- Theo F.W Taylor (1856 - 1915), người được coi là "cha đẻ của thuyết quản lý khoa học": “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
- H Koontz thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm hay của một tổ chức” [13, tr.33]
Từ các định nghĩa trên, tác giả luận văn quan niệm: Quản lý là quá trình khai thác, lựa chọn, tổ chức các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động
Quan niệm này nhấn mạnh những khía cạnh sau đây:
- Quản lý là hoạt động do chủ thể thực hiện thông qua các chức năng quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
- Quản lý thể hiện trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lý, thực hiện mục tiêu đã xác định trên cơ sở các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của mình
- Quản lý được thực hiện bằng những tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong việc khai thác, tổ chức, thực hiện các nguồn lực
- Chức năng quản lý: Quản lý là một hoạt động phức hợp có tính hệ thống rất sinh động, để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau Những loại công việc quản lý này được gọi là các chức năng quản lý, đó là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Trang 22+ Chức năng tổ chức:
Tổ chức là sự kết hợp hoạt động của những bộ phận sao cho chúng liên kết với nhau trong một cơ cấu chặt chẽ, hợp lý tạo thành một hệ thống thống nhất như một cơ thể sống Đó là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong hệ thống, thông qua đó để thực hiện các mục tiêu chung của hệ thống trên cơ sở các nguyên tắc quản lý Bằng cách thiết lập một tổ chức hoạt động hữu hiệu, các nhà quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực Tiến trình tổ chức bao gồm việc thiết lập các bộ phận, phòng ban và xây dựng các bản mô tả công việc Vấn đề nhân sự cũng xuất phát trực tiếp từ các chức năng lập kế hoạch và tổ chức
+ Chức năng chỉ đạo:
Chỉ đạo là quá trình chủ thể quản lý sử dụng quyền lực quản lý của mình
để điều hành, tác động đến hành vi của các cá nhân, bộ phận trong hệ thống một cách có chủ đích để họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu đạt được các mục tiêu chung của tổ chức Nội dung cơ bản của chức năng này là chủ thể quản lý phải thực hiện nhiệm vụ ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó Quá trình này bao gồm các hoạt động phân công, hướng dẫn, đôn đốc, động viên, thúc đẩy họ hoàn thành nhiệm vụ
+ Chức năng kiểm tra:
Kiểm tra là xem xét, đo lường và đánh giá việc thực hiện mục tiêu nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục, đồng thời tìm kiếm các cơ hội, các nguồn lực có thể khai thác để thúc đẩy hoạt động của tổ chức Trong hoạt động quản lý, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng, thông qua chức năng kiểm tra một cá nhân, một nhóm hoặc một
tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động, nếu kết quả hoạt động không đạt được đúng với mục tiêu, người quản lý sẽ tiến hành những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Vì vậy, để đánh giá được hiệu quả quản lý, người lãnh đạo cần phải thực hiện chức năng kiểm tra
Trang 23Kiểm tra là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Có 3 yếu tố cơ bản của kiểm tra: Xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra, tổ chức kiểm tra theo chuẩn, điều chỉnh hoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn
Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý, trọng đó là thông tin giữ vai trò huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của một quá trình quản
lý tiếp theo
Hình 1.1 Sơ đồ chức năng của quản lý
Ngày nay, mọi người đều thừa nhận tính tất yếu của quản lý Đây là một trong những hoạt động khó khăn, phức tạp, nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của một tổ chức
1.3.2 Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ
Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ là quá trình nhà trường xây dựng mục tiêu, chương trình, nội dung kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá các kết quả đào tạo, tạo ra mức độ mềm dẻo, cho phép người học lựa chọn tiến độ hoàn tất chương trình theo khả năng và nguyện vọng của bản thân
Trong quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ, nhà trường cần phải:
- Thành lập hệ thống cố vấn học tập
Mỗi sinh viên đại học cần nhận được sự giúp đỡ của một cố vấn trong suốt thời gian học tại trường Hệ thống cố vấn học tập được thành lập tại các khoa đào tạo để giúp đỡ sinh viên chọn lựa các môn học phù hợp với năng lực
và hoàn cảnh cá nhân, theo một hướng chuyên môn nào đó
Kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 24- Tổ chức cho sinh viên đăng ký môn học
Đầu mỗi học kỳ, nhà trường tổ chức cho sinh viên tự đăng ký các môn học phù hợp với bản thân và các quy định chung của một chuyên ngành mà sinh viên đã lựa chọn Việc đăng ký môn học của sinh viên phải được cố vấn học tập xác nhận
- Mã hóa các học phần
Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích lũy trong quá trình học tập Học phần có khối lượng từ 2 - 4 tín chỉ, được bố trí giảng dạy và phân bố đều trong 1 học kì Từng học phần được mã
số theo ký hiệu riêng do trường quy định
Mã học phần học gồm 7 kí tự, trong đó 4 kí tự đầu là kí tự chữ là tên viết tắt (bằng tiếng Anh) của khoa phụ trách chương trình, kí tự thứ 5 là kí tự số thể hiện năm đào tạo, 2 kí tự còn lại thể hiện số thứ tự của học phần trong năm học
đó (thứ tự 1 đến10 là môn chung do trường quản lý, từ 11-99 là môn chuyên ngành do khoa quản lý)
- Tính điểm học phần
Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm bộ phận của học phần (gồm điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần) nhân với trọng số tương ứng, sau đó được chuyển thành điểm chữ như bảng sau:
Bảng 1.1: Mức điểm đối với môn học
Trang 25+ Tính điểm trung bình chung học tập là điểm trung bình có trọng số của
các học phần mà sinh viên đăng kí học trong học kì, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần
+ Tính điểm trung bình chung tích luỹ là điểm trung bình của tất cả các
học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D (không tính điểm F)
mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét và khi kết thúc mỗi học kì
Điểm trung bình chung tích luỹ được tính theo thang điểm 4 và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân Đối với các môn học được sinh viên đăng
ký học lại thì kết quả cao nhất trong các lần thi được chọn để tính điểm trung bình tích luỹ
+ Thống kê số tín chỉ tích luỹ là tổng số tín chỉ của các môn học có điểm
đạt (từ điểm D theo thang điểm chữ) trở lên tính từ đầu khóa học
- Tổ chức xét và công nhận tốt nghiệp: Để được cấp bằng tốt nghiệp sinh
viên phải tích luỹ được một số tín chỉ quy định không dưới 180 tín chỉ đối với khóa đại học 6 năm, 150 tín chỉ đối với khóa đại học 5 năm, 120 tín chỉ đối với khóa đại học 4 năm, 90 tín chỉ đối với khóa cao đẳng 3 năm, 60 tín chỉ đối với khóa cao đẳng 2 năm
1.4 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ
1.4.1 Học tập theo học chế tín chỉ
Học tập theo học chế tín chỉ là quá trình sinh viên tích lũy kiến thức các học phần trong suốt khoá học bằng sự nỗ lực, chủ động của mỗi cá nhân để nhận bằng tốt nghiệp
Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ:
- Chương trình học tập được xây dựng thành các mô-đun (học phần)
- Sinh viên tự đăng ký các học phần vào đầu mỗi học kỳ
- Lớp học được tổ chức theo từng học phần
- Một năm học có thể gồm 2 học kỳ chính (15 tuần học và 3 tuần thi) và
có một học kỳ hè (5 tuần học và 1 tuần thi), hay gồm 3 học kỳ (12 tuần học và
3 tuần thi) hoặc chia làm 4 học kỳ (10 tuần học và 2 tuần thi)
Trang 26- Đánh giá kết quả học tập được tiến hành một cách thường xuyên, theo thang điểm 5 bậc (A,B,C,D,F hay 4,3,2,l,0)
- Có hệ thống cố vấn học tập để giúp sinh viên thiết kế chương trình học tập của mình
- Chương trình đào tạo mềm dẻo với các học phần bắt buộc và các học phần tự chọn, cho phép sinh viên dễ dàng điều chuyển ngành nghề đào tạo trong quá trình học tập
- Ổn định và công khai hoá chương trình đào tạo cho mỗi khoá học
- Sinh viên phải lập kế hoạch học tập Trong học chế tín chỉ, sinh viên được chủ động trong việc xây dựng kế hoạch học tập Kế hoạch học tập của sinh viên một mặt tạo điều kiện cho sinh viên xác định lộ trình học tập phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mình đồng thời cũng tạo ra hiệu ứng của sự tác động
xã hội, kích thích tâm lý nâng cao ý chí phấn đấu của mỗi cá nhân
- Sinh viên lựa chọn chương trình, xây dựng kế hoạch, lộ trình học tập là yếu tố tác động trực tiếp đến thời hạn học tập của sinh viên Học chế tín chỉ cho phép sinh viên học trước, học vượt Tiết kiệm được thời gian đồng nghĩa với tiết kiệm được của cải vật chất Tích cực, chủ động trong học tập, rút ngắn được thời gian học tập trong Nhà trường là sinh viên đã tiết kiệm được của cải vật chất đầu tư cho hoạt động học, vấn đề này không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân mỗi sinh viên mà còn có ý nghĩa với toàn xã hội
- Phương pháp học tập của sinh viên là cách thức mà sinh viên sử dụng
để đạt được mục tiêu học tập của mình, đó là cách thức tiếp nhận, thu thập, xử
lý, vận dụng kiến thức theo cách riêng của mỗi người học nhằm đạt được hiệu quả học tập cao nhất
- Dạy học tập theo học chế tín chỉ, sinh viên tự đặt mình vào vị trí chủ động, tự chịu trách nhiệm về kết quả lao động của mình Đây vừa là yêu cầu vừa là động lực thúc đẩy sinh viên nâng cao ý chí tự học
- Trong học chế tín chỉ, sinh viên chỉ có khoảng 1/3 thời gian trên lớp là được giảng viên hướng dẫn, thời gian còn lại, sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu, để tiếp cận các nội dung hướng dẫn của giảng viên
Trang 27- Sinh viên có thể học tập theo nhóm, tham gia thảo luận với thành viên, với giảng viên, phải tích cực chủ động tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề, về yêu cầu được giao
- Điều kiện phương tiện và môi trường học tập cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động học tập của học sinh, sinh viên Đó là toàn bộ các thành tố vật chất giúp học sinh tiến hành thao tác học tập như: hệ thống giảng đường, trang thiết bị kỹ thuật: màn chiếu, máy vi tính, âm thanh, ánh sáng trong phòng học, giáo trình, tài liệu tham khảo, hệ thống phòng thực hành, thí nghiệm Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động học tập bao gồm cả việc mua sắm, bảo trì, sửa chữa nhằm đảm bảo tốt nhất cho sinh viên học tập, rèn luyện Đối với hoạt động học tập, cùng với ý chí, nỗ lực học tập của sinh viên, học liệu là vấn đề có tính chất quyết định đến chất lượng học tập Số lượng, chất lượng nguồn học liệu càng đảm bảo thì chất lượng hoạt động học tập càng có điều kiện để nâng lên Nhà trường cần tổ chức biên soạn nhiều giáo trình, bài giảng và tài liệu tham khảo phục vụ hoạt động giảng dạy và học tập hàng năm
- Trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, sinh viên được giảng viên cung cấp đề cương môn học, danh mục học liệu mà môn học yêu cầu, bao gồm tài liệu bắt buộc, tài liệu tham khảo, giảng viên chỉ rõ nội dung sinh viên cần đọc ứng với số trang, chương và từng mục cụ thể của từng cuốn giáo trình Điều này sẽ tạo điều kiện cho sinh viên không mất nhiều thời gian tìm kiếm, để tăng thời gian cho hoạt động học tập Thư viện phải có đủ các lại sách báo, tài liệu đáp ứng nhu cầu về nghiên cứu và học tập của sinh viên
1.4.2 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý hoạt động học tập là quản lý việc học sinh, sinh viên thực hiện các nhiệm vụ học tập, bằng hệ thống những biện pháp sư phạm có mục đích, có kế hoạch giúp các em học tập, rèn luyện tu dưỡng tốt nhất [31, tr.206]
Trang 28Mục đích của việc quản lý hoạt động học tập theo tín chỉ ở bậc đại học là làm cho sinh viên đạt được kết quả mong muốn Trước hết, chủ thể quản lý phải theo dõi để nắm bắt được những biểu hiện trong nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của việc học tập, về thái độ, động cơ, ý thức học tập… để có biện pháp thúc đẩy, khuyến khích sinh viên phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế các yếu tố tiêu cực phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập và rèn luyện ngày càng cao
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là một trong những nội dung hoạt động chủ yếu của quản lý nhà trường Thực chất quản lý học tập của sinh viên là hệ thống những tác động của nhà trường đến quá trình học tập của sinh viên, bao hàm quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần, thái
độ và phương pháp học tập của sinh viên
Để có được những năng lực sinh viên phải có cách học chủ động, tự lực tìm kiếm và xử lí thông tin, năng lực tự học và khao khát sáng tạo
1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ
- Quản lý kế hoạch học tập của sinh viên
Đối với phương thức đào tạo theo niên chế học phần, chương trình học tập của sinh viên sẽ căn cứ vào thời khóa biểu của từng học kỳ, năm học và do nhà trường xây dựng và tổ chức thực hiện,sinh viên phải tuân theo mà không có
sự lựa chọn nào khác Tuy nhiên, khi chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học lựa chọn
Quản lý kế hoạch học tập theo học chế tín chỉ có nhiều điểm khác so với phương thức đào tạo cũ Nhà trường phải triển khai cho sinh viên đăng ký môn học theo từng học kỳ Cố vấn học tập hướng dẫn và tổ chức cho sinh viên xây dựng kế hoạch học tập khoa học, phù hợp, hiệu quả trong từng học kỳ, năm học
Nhà trường theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và chương trình học tập đã đăng ký và các quy định về nhiệm vụ học tập của sinh viên Như vậy, quản lý việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên
Trang 29- Quản lý thời gian học tập
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên không chỉ giới hạn trong phạm
vi đào tạo, giáo dục học sinh, sinh viên ở trên lớp, trong trường, mà còn gồm cả việc sinh viên tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp, học tập nhóm, tham
gia câu lạc bộ, tự học, thực hành thực tập, tham quan, giao lưu,
Theo yêu cầu của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, thì hình thức
tổ chức các giờ học (giờ tín chỉ) là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của giảng viên và sinh viên ứng với cách tổ chức chương trình môn học, trong
đó coi trọng khâu tự học, năng lực nghiên cứu, thực hành, thực tập
Quản lý thời gian học tập của sinh viên thông qua tổ chức các giờ học tín chỉ như:
- Dạy học trên lớp bao gồm nghe thuyết trình, ghi chép bài giảng, làm và
chữa bài tập, thảo luận, do giảng viên yêu cầu
- Dạy, học trong phòng thực hành: Dạy, học thực hành, thực tập
- Dạy, học ở ngoài lớp, ngoài phòng thực hành: Tự học, tự nghiên cứu, các hoạt động theo nhóm,…
Gắn với hình thức tổ chức giờ tín chỉ là cách thức tổ chức hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên, nhằm giúp sử dụng hợp lý quỹ thời gian để thực hiện tốt các mục tiêu và nhiệm vụ dạy học đã xác định
Đó chính là phương pháp dạy và phương pháp học Hai phương pháp này không độc lập, tách rời nhau mà liên quan và phụ thuộc lẫn nhau, vừa là mục đích vừa là nguyên nhân của nhau
Trong giờ lý thuyết, giảng viên ngoài việc hướng dẫn sinh viên nắm rõ được các vấn đề đã nêu trong đề cương môn học còn xây dựng kịch bản cho một giờ lên lớp, gồm: Xác định thời gian, chủ đề, nội dung, yêu cầu cho giờ lên lớp lý thuyết; giới thiệu mục tiêu bài học, các yêu cầu cần thực hiện; lựa chọn
và chuyển tải nội dung cốt lõi cần trình bày trên lớp; làm rõ nội dung, vấn đề sinh viên sẽ thảo luận, làm bài tập trên lớp hoặc tự học ở nhà
Trang 30- Trong giờ thảo luận, giảng viên phải lựa chọn nội dung và giao cho các
cá nhân, hoặc từng nhóm nội dung, các yêu cầu tài liệu để từng sinh viên chuẩn
bị và trình bày tại từng buổi thảo luận; soạn kịch bản về các nội dung thảo luận; tham dự, hướng dẫn, nhận xét và tổng kết thảo luận (giảng viên phải làm đạo diễn nội dung và chủ đề thảo luận); đánh giá phần chuẩn bị trình bày, thảo luận của từng sinh viên (nhóm sinh viên)
- Giờ bài tập là thời gian dành cho sinh viên làm bài tập hoặc chữa bài tập đã chuẩn bị Có loại bài tập cá nhân, bài tập nhóm, bài tập tuần và bài tập tháng Đối với giờ bài tập, giảng viên xác định rõ mục tiêu, nêu rõ tiêu chí đánh giá kết quả, chữa bài tập, đánh giá, cho điểm
- Giờ tự học là bộ phận cấu thành tổng số giờ tín chỉ của môn học Nội dung của giờ tự học xác định là một phần nội dung của môn học mà sinh viên phải tích luỹ bằng phương thức tự học Các hướng dẫn này nhất thiết phải được
giảng viên quy định rõ trong hướng dẫn sinh viên tự học môn học Phải xác
định nội dung cụ thể và giao nhiệm vụ tự học cho sinh viên; cung cấp tài liệu
và giới thiệu địa chỉ tìm tài liệu, hướng dẫn cách xử lý tài liệu, xây dựng tiêu chí đánh giá, xác định thời hạn nộp báo cáo kết quả tự học, tự nghiên cứu; đánh giá, nhận xét kết quả tự học, tự nghiên cứu
- Quản lý phương pháp học tập
Phương pháp học tập có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của quá trình dạy học, bị chi phối bởi các yếu tố đó, đặc biệt là phương pháp dạy của người giảng viên Với chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức cho người học, phương pháp dạy có tác dụng định hướng phương pháp học tập cho người học Vì vậy, quản lý phương pháp học tập là phải hướng dẫn phương pháp học cho người học, bồi dưỡng phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu, phương pháp tự học cho sinh viên
Việc hướng dẫn phương pháp học tập cho sinh viên bao gồm:
- Hướng dẫn phương pháp học tập: Hướng dẫn người học nắm vững các phương pháp học tập ở bậc đại học, cao đẳng và vận dụng sáng tạo từng phương pháp vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và phù hợp với từng sinh viên
Trang 31- Hướng dẫn các thao tác học tập như: nghe giảng bài; đọc giáo trình, tài liệu; ghi chép bài giảng; trao đổi; làm việc theo nhóm…
Việc hướng dẫn phương pháp học tập cho sinh viên được thực hiện bằng cách tổ chức các lớp học, các buổi hội thảo chuyên đề về hướng dẫn phương pháp học tập cho sinh viên ngay từ khi mới vào trường, hướng dẫn sinh viên phương pháp tự học, phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp nghe
giảng bài, phương pháp ghi chép bài giảng của giảng viên…
Phương pháp học tập phải phù hợp với nội dung học tập Các phương pháp học tập có những đặc điểm chung mà người học cần tập trung nghiên cứu, thực hiện Đó là các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá, quy nạp, diễn dịch, sơ đồ, bản vẽ, ký hiệu,…Tuy nhiên, bên cạnh các phương pháp học chung còn có các phương pháp học đặc thù tuỳ theo từng môn học Chẳng hạn phương pháp học dựa theo quan điểm giao tiếp tích cực khi học ngoại ngữ, phương pháp rèn luyện kỹ năng trong thực hành,…
Người học cần lựa chọn và xác định cho mình phương pháp học tập phù hợp Người học phải tự vượt khó, phải quyết tâm thực hiện đúng kế hoạch học tập từng ngày, từng tháng; phải tranh thủ sự giúp đỡ của giáo viên, bạn bè cùng các phương tiện hỗ trợ học tập để học tập đạt kết quả tốt
Quản lý phương pháp học tập nhằm hướng dẫn cho học sinh phương pháp học tập hài hoà, phù hợp với nội dung học tập, với điều kiện và năng lực học tập của mỗi sinh viên
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một khâu quan trọng của quản lý để đo lường kết quả thực hiện kế hoạch và điều chỉnh sai lệch nếu có để đạt được kết quả mong muốn Tuy nhiên, công việc này là khó khăn đòi hỏi người quản lý phải kết hợp nhiều yếu tố, có hình thức linh hoạt thì mới đánh giá đúng kết quả học tập của người học
Khác với đào tạo theo niên chế học phần, học chế tín chỉ coi trọng phần tự đào tạo, tự học của người học trong quá trình đào tạo Do đó, đặt ra những yêu
Trang 32cầu cao, chặt chẽ, liên tục về kiểm tra và đánh giá Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ không chỉ bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối môn học mà còn bằng nhiều cách đánh giá khác:
a) Hoạt động trên lớp (số buổi có mặt, thái độ theo dõi bài giảng, thảo luận) b) Việc tự học ở nhà (qua nội dung phát biểu thảo luận trên lớp, thời gian
và chất lượng hoàn thành bài tập ở nhà do giảng viên giao)
c) Làm việc trong phòng thí nghiệm, đi thực tế
d) Bài thi kết thúc môn học
Khi tổ chức hoạt động giảng dạy, giảng viên có trách nhiệm cung cấp cho sinh viên bản đề cương môn học (syllabus), trong đó thể hiện rõ về cách thức, trọng số đánh giá kết quả học tập cũng như các yêu cầu, nội dung khác của môn học trong ngay từ khi bắt đầu học Việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong quá trình dạy và học buộc sinh viên phải học chăm chỉ, không học đối phó trong các kỳ thi cuối kỳ như trước kia, làm tăng vị thế của giảng viên trong việc đánh giá sản phẩm đào tạo của mình qua kết quả học tập của sinh viên Chính vì vậy, vai trò của người thầy là rất quan trọng trong việc phát huy tính chủ động học tập của sinh viên Làm tốt điều này sẽ tạo cho sinh viên nâng cao được khả năng tự học theo kiểu nghiên cứu
Để đánh giá đúng năng lực và trình độ của sinh viên trong và sau khi kết thúc môn học, giảng viên ngoài việc đánh giá trình độ nhận thức của sinh viên theo các tiêu chí đánh giá của môn học như đã nêu trong đề cương, còn phải đánh giá sinh viên về tinh thần, thái độ học tập, ý thức chấp hành các nội quy, quy chế của khoa và nhà trường, có tinh thần cầu thị trong học tập, đi học đầy
đủ, đúng giờ, Về một phương diện nào đó có thể thấy, việc kiểm tra - đánh
giá kết quả học tập trong học chế tín chỉ sẽ toàn diện công bằng và đầy đủ hơn
so với hình thức đào tạo theo niên chế học phần
Trang 33Kết luận chương 1
1 Theo UNESCO sản phẩm đào tạo ở đại học trong thời đại ngày nay là một thế hệ công dân có năng lực hoạt động sáng tạo và thích ứng với thực tế cuộc sống để có thể tự thân lập nghiệp, có năng lực tự học, tự nghiên cứu để
học suốt đời, có năng lực quốc tế (ngoại ngữ, tin học, văn hoá toàn cầu, ) để
hội nhập
2 Hoạt động học tập có vai trò quan trọng, tác động mạnh mẽ đến kết
quả học tập của người học Hoạt động học tập đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, tựu chung lại học tập là công việc của người học, họ phải tự giác sử dụng năng lực trí tuệ và phẩm chất để chiếm lĩnh tri thức khoa học và nghề nghiệp
3 Tín chỉ là một đơn vị tiêu chuẩn dùng để lượng hoá thời gian làm việc bắt buộc của sinh viên trong quá trình đào tạo, bao gồm 3 yếu tố: thời gian
u , thời gian , thời gian tự học của mỗi sinh viên cho một môn học và nó được thực hiện trong cả khóa đào tạo
4 Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là hệ thống những biện pháp
sư phạm có mục đích, có kế hoạch của các nhà quản lý đến tất cả các khâu của quá trình học tập để giúp sinh viên hoàn thành nhiệm vụ học tập
5 Quản lý sinh viên học tập cần chú trọng quản lý nội dung chương trình, thời gian, phương pháp học tập, tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tài liệu tham khảo, tạo điều kiện cho sinh viên học tập tốt nhất
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển trường cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Điện Biên
Ngày 10/11/1963, Trường Nghiệp vụ Tài chính và Trường Nghiệp vụ Kỹ thuật Nông nghiệp được thành lập với nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật nông - lâm nghiệp cho tỉnh
Năm 1978, UBND tỉnh Lai Châu ra quyết định nâng cấp Trường Nghiệp vụ Tài chính thành Trường Trung cấp Kinh tế trực thuộc Ty Tài chính, Trường Nghiệp vụ Kỹ thuật Nông nghiệp thành Trường Trung cấp Nông nghiệp trực thuộc Ty Nông nghiệp tỉnh, với nhiệm vụ: đào tạo bậc trung cấp tài chính kế toán, vật giá, kế hoạch kinh tế quốc dân, cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, lâm nghiệp, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn về chuyên môn, nghiệp vụ các lĩnh vực trung cấp đã đào tạo, liên kết với trường đại học mở các lớp đại học vừa làm vừa học
Ngày 22/7/1996, UBND tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) ra quyết định số 464/QĐ-UB-TC về việc thành lập Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Tổng hợp Điện Biên trên cơ sở sáp nhập hai Trường Trung học Kinh tế và Trung học Nông nghiệp trực thuộc Sở Giáo dục & Đào tạo Ngày 01/01/2001, UBND tỉnh Điện Biên ra Quyết định số 01/QĐ-UB về việc chuyển Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Tổng hợp Điện Biên trực thuộc Sở GD&ĐT sang trực thuộc UBND tỉnh quản lý Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Tổng hợp Điện Biên là trường THCN hạng I, có nhiệm vụ đào tạo bậc TCCN và thấp hơn cho tất cả các ngành, nghề theo nhu cầu của địa phương trừ các ngành trong lĩnh vực giáo dục và y tế, tiếp tục liên kết với các trường đại học mở các lớp đại học hệ vừa làm vừa học
Trang 35Ngày 09 tháng 04 năm 2008 Bộ GD&ĐT ra Quyết định số BGDĐT thành lập Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Tổng hợp Điện Biên
1973/QĐ-Ngay sau Lễ Công bố quyết định thành lập trường Cao đẳng, Nhà trường bắt tay xây dựng và triển khai đề án “Quy hoạch phát triển Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên giai đoạn 2010 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020” Định hướng xây dựng trường trở thành một cơ sở đào tạo “Đa cấp - Đa ngành” với phương châm “Uy tín - Chất lượng - Trách nhiệm xã hội”
Đến nay, trải qua 50 năm trưởng thành và phát triển, nhà trường đã đạt được nhiều thành công: quy mô trường, lớp, học sinh, sinh viên ngày càng tăng; chất lượng dạy và học được nâng cao; đội ngũ giáo viên, giảng viên, nhân viên, cán bộ quản lý được nâng lên về số và chất lượng; cơ sở vật chất khang trang; trang thiết bị dạy và học về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của giáo viên, giảng viên và học sinh, sinh viên, cụ thể:
- Về công tác đào tạo
+ Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm tăng trên 15%, quy mô đào tạo bình quân
cả giai đoạn 3.000 - 3.500 học sinh - sinh viên
+ Chất lượng đào tạo: tỷ lệ học sinh, sinh viên khá giỏi đạt từ 13% - 15%; kết quả rèn luyện đạt từ khá, tốt trở lên chiếm trên 80%; tỷ lệ tốt nghiệp hàng năm đạt trên 95%
+ Ngành nghề đào tạo: Hiện tại trường đang đào tạo 04 ngành trình độ Cao đẳng; 12 ngành trình độ TCCN Bên cạnh đó, trường còn liên kết với 10 trường đại học, học viện đào tạo liên thông từ TCCN, CĐ lên đại học, đại học văn bằng 2, đại học hình thức vừa làm vừa học Năm học 2011 - 2012, được phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sự đồng ý của UBND tỉnh Điện Biên, Trường đã liên kết tổ chức đào tạo 2 lớp trình độ Thạc sĩ tại trường cho đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh
Trang 36- Về tổ chức, kiện toàn bộ máy và xây dựng đội ngũ
+ Về tổ chức và kiện toàn bộ máy: ngay sau khi có quyết định thành lập trường Cao đẳng, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đã rất chú trọng đến công tác tổ chức và kiện toàn bộ máy Cơ cấu tổ chức bộ máy của trường gồm:
Ban Giám hiệu: 01 Hiệu trưởng và 02 Phó Hiệu trưởng
Phòng chức năng gồm 07 phòng:
Phòng Tổ chức - Cán bộ
Phòng Hành chính - Tổng hợp Phòng Kế hoạch - Tài chính Phòng Đào tạo - Hướng nghiệp,Tư vấn việc làm Phòng Quản lý Học sinh - Sinh viên
Phòng Thanh tra và Đảm bảo chất lượng giáo dục Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế Khoa chuyên môn gồm 06 khoa:
Khoa Cơ bản Khoa Cơ sở Khoa Kinh tế - Tài chính Khoa Luật - Hành chính Khoa Khoa học - Kỹ thuật Khoa Lý luận chính trị + Để đảm bảo chất lượng đào tạo, song song với việc mở rộng các ngành nghề và quy mô đào tạo, nhà trường đã quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ Đến nay, tổng số cán bộ, viên chức nhà trường là 156 người Trong đó cán bộ giảng dạy 105 người (chiếm 67,3%); trình độ Tiến sĩ: 01/156 người, chiếm tỷ lệ 0,6%, Thạc sĩ: 38/156 người, chiếm tỷ lệ 24,3 % (trong đó
có 6 người đang nghiên cứu sinh), Đại học: 94/156 người, chiếm tỷ lệ 60,3% (trong đó có 28 người đang học thạc sĩ), Cao đẳng: 02/156 người, chiếm tỷ lệ 1,3% (trong đó có 02 người đang học đại học), Trung cấp: 14/156 người, chiếm
tỷ lệ 9,0%, chưa qua đào tạo: 07/156 người, chiếm tỷ lệ 4,5%
Trang 37- Về xây dựng cơ sở vật chất
+ Cơ sở 1 tại Phường Him Lam - TP Điện Biên Phủ được đầu tư xây dựng khang trang, hiện đại: Nhà làm việc của Ban Giám hiệu và các phòng khoa, trung tâm đảm bảo đầy đủ các điều kiện; Hội trường 500 chỗ ngồi; Khu giảng đường với 25 phòng học phục vụ giảng dạy và học tập; Khu ký túc xá 3 tầng khép kín đảm bảo chỗ ở cho gần 400 học sinh - sinh viên nội trú
+ Cơ sở 2: Trại Thí nghiệm - Thực hành tại Phường Thanh Trường - TP Điện Biên Phủ với diện tích 4,61 ha vừa là cơ sở thí nghiệm thực hành, thực tập nghề nghiệp cho học sinh - sinh viên, vừa là trung tâm nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực Nông - Lâm nghiệp, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật Trại Thí nghiệm - Thực hành có đầy đủ các mô hình cây trồng, vật nuôi đã và đang phát huy tốt nhiệm vụ phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học
+ Thực hiện Đề án quy hoạch phát triển trường giai đoạn 2010 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020 Nhà trường đã được UBND tỉnh Điện Biên quyết định giao 21,7 ha đất tại khu vực liền kề cơ sở 1 và quy hoạch chi tiết với tổng mức đầu tư đến năm 2020 là 310 tỷ đồng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhà trường trong giai đoạn mới
- Về công tác nghiên cứu khoa học
+ Xác định công tác nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên và học tập của học sinh, sinh viên Nhà trường khuyến khích cán bộ, giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học Hàng năm nhà trường có từ 15 - 20 đề tài khoa học, sáng kiến kinh nghiệm
+ Nhà trường đã và đang chủ trì 2 đề tài, dự án khoa học công nghệ cấp tỉnh: Dự án: Hỗ trợ xây dựng vườn thực nghiệm Trường Trung học Kinh tế -
Kỹ thuật Tổng hợp tỉnh Điện Biên; Năm 2013 triển khai thực hiện Dự án: Ứng dụng công nghệ tiên tiến để xây dựng chuồng và chăn nuôi lợn khép kín tại Trại Thí nghiệm - Thực hành Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
Trang 38- Thành tích nổi bật
Tập thể nhà trường được Nhà nước, Chính phủ và các cấp, ngành tặng thưởng:
Huân chương lao động hạng nhất năm 2013
Huân chương lao động hạng nhì năm 2008
Huân chương lao động hạng ba năm 2003
Cờ thi đua của Chính phủ năm 2005, năm 2007 và nhiều Bằng khen của
Bộ, Ngành Trung ương, UBND tỉnh Điện Biên
Nhiều cá nhân có thành tích xuất sắc được tặng Bằng khen của Chính phủ, UBND tỉnh Điện Biên, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các bộ, ngành khác
2.2 Tầm nhìn, sứ mạng, chính sách chất lượng của trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Điện Biên
- Tầm nhìn tới năm 2030:
Trở thành cơ sở đào tạo đa ngành tiên tiến, hiện đại, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Phấn đấu trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học và kỹ thuật công nghệ phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước
- Sứ mạng tới năm 2020:
Xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, hiện đại trong nền kinh tế tri thức, tạo cơ hội để người học tự học suốt đời Ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ trong dạy và học Cung ứng các dịch vụ giáo dục tiên tiến trong các lĩnh vực kinh
tế, kỹ thuật, văn hóa xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững của nhà trường và xã hội, thực hiện mục tiêu “Uy tín - Chất lượng - Trách nhiệm xã hội”
- Chính sách chất lượng tới năm 2015:
Đào tạo nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức vì lợi ích của cộng đồng và xã hội
Trang 39Tiếp cận các dịch vụ giáo dục tiên tiến của khu vực và thế giới để đào tạo theo hệ thống tín chỉ, cải tiến liên tục chương trình, phương pháp dạy - học và cách thức quản lý của nhà trường
Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý và dạy - học, hướng tới người học, người sử dụng lao động và xã hội
Phát huy mọi tiềm năng và sự cống hiến của tất cả các thành viên Xây dựng nhà trường đoàn kết thống nhất và phát triển
Duy trì hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008, áp dụng tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội ISO 26000, hướng đến hệ thống quản lý chất lượng toàn diện TQM để quản lý giáo dục - đào tạo
2.3 Thực trạng hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Điện Biên
Để đánh giá thực trạng hoạt động học tập của sinh viên trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên chúng tôi thiết kế công cụ nghiên cứu gồm 3 loại phiếu trưng cầu ý kiến:
Phiếu số 1: Dành cho cán bộ quản lý (20 phiếu)
Phiếu số 2: Dành cho giảng viên (30 phiếu)
Phiếu số 3: Dành cho sinh viên (200 phiếu)
Sau khi xử lý kết quả thu được như sau:
2.3.1 Nhận thức của sinh viên về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động học tập
Để tìm hiểu nhận thức của sinh viên về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động học tập chúng tôi tiến hành điều tra theo mẫu phiếu số 3 (câu1), kết quả thu được biểu hiện trên bảng 2.1
Bảng 2.1: Nhận thức của SV về vai trò, tầm quan trọng của HĐHT
Trang 40* Nhận xét:
Đa số sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên có nhận thức tốt về tầm quan trọng của hoạt động học tập, 180/200 sinh viên cho rằng học tập có vai trò quan trọng và rất quan trọng đối với việc nâng cao trình độ của bản thân (chiếm 90%)
Khi được hỏi về tầm quan trọng của hoạt động học tập sinh viên Lò Thị
Nhung lớp K5CĐA2 ngành Kế toán cho rằng: “ Học tập có vai trò rất quan trọng, giúp chúng em củng cố những kiến thức đã học, biến những kiến thức thầy cô giảng trên lớp thành kiến thức của mình Học tập giúp chúng em mở rộng tri thức mới, giúp chúng em phát hiện giải quyết vấn đề và hình thành kỹ năng giải quyết công việc trong cuộc sống ”
Sinh viên Dương Văn Khải lớp K5CĐB1 ngành khoa học cây trồng cho
biết: “Các thầy cô trong quá trình lên lớp chỉ trình bày phần kiến thức cơ bản nhất của bài vì vậy muốn hiểu sâu và mở rộng kiến thức cho bản thân thì chúng
em phải tích cực học tập và tự nghiên cứu ở nhà”
Như vậy đa số sinh viên đều khẳng định: Học tập có vai trò rất quan trọng giúp sinh viên củng cố, mở rộng và hiểu sâu những tri thức đã học, hình thành và phát triển kỹ năng Việc xác định đúng đắn vai trò và tầm quan trọng của hoạt động học tập sẽ giúp sinh viên xác định được động cơ, thái độ học tập trên cơ sở đó định hướng cho sinh viên có ý thức rèn luyện, phấn đấu trong quá trình học tập tại trường
Bên cạnh số sinh viên có nhận thức tốt về vai trò của hoạt động học tập vẫn còn một bộ phận sinh viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò của hoạt động học tập Kết quả điều tra cho thấy 20/200 sinh viên (chiếm 10%) cho rằng: Học tập
có vai trò bình thường trong việc nâng cao trình độ nhận thức Số sinh viên này cho rằng chỉ cần ghi chép bài đầy đủ, kết thúc môn học, mô đun tập trung vào học ôn là được Từ nhận thức đó một số sinh viên lười học ngay từ khi mới nhập trường Họ thường thể hiện tư tưởng tự do trung bình chủ nghĩa, ý thức tổ