Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cá thể của các loài cây cỏ, nhưng đối tượng nghiên cứu của thảm thực vật lại là những quần thể thực vật đ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ NGẦN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT
CÓ MẠCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU,
HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ NGẦN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT
CÓ MẠCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ HẨU,
HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS MA THỊ NGỌC MAI
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã đƣợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Thị Ngần
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các nhà khoa học cùng các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Trước hết lời cảm ơn sâu sắc nhất xin được gửi tới TS Ma Thị Ngọc Mai, một nhà khoa học, một người thầy lớn đã hết sức tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tôi không chỉ trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới:
Lãnh đạo chi cục kiểm lâm Tỉnh Yên Bái, Lãnh đạo hạt kiểm lâm huyện Văn Yên - Yên Bái, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian tiến hành điều tra, nghiên cứu ngoài thực địa và cung cấp cho tôi những số liệu quan trọng
Lãnh đạo trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Sinh - KTNN và các thầy cô giáo trong khoa đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái; Trường THPT Nguyễn Lương Bằng
- Yên Bái đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và công tác
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 04 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Ngần
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4 Đóng góp mới của luận văn 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Thảm thực vật và rừng 3
1.1.2 Đa dạng sinh học 4
1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 4
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam 5
1.3 Những nghiên cứu về hệ thực vật 8
1.3.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 8
1.3.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam 9
1.4 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và yếu tố địa lí cấu thành hệ thực vật 10
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 10
1.4.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 13
1.4.3 Những nghiên cứu về yếu tố địa lí cấu thành hệ thực vật 16
1.5 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng 18
1.5.1 Tổng quan về sách đỏ thế giới và sách đỏ Việt Nam 18
Trang 61.5.2 Một số công trình nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy
cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam 19
1.6 Những nghiên cứu về thảm thực vật và đa dạng thực vật tại Yên Bái và khu vực nghiên cứu 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 21
2.3 Thời gian nghiên cứu 21
2.4 Nội dung nghiên cứu 21
2.4.1 Đa dạng về các trạng thái thảm thực vật 21
2.4.2 Đa dạng về thành phần thực vật 21
2.4.3 Đa dạng về yếu tố địa lí 21
2.4.4 Đa dạng về dạng sống 21
2.4.5 Tính đa dạng về giá trị tài nguyên 21
2.4.6 Đề xuất các giải pháp bảo tồn 21
2.5 Phương pháp nghiên cứu 21
2.5.1 Phương pháp điều tra theo tuyến (TĐT) và phương pháp đặt ô tiêu chuẩn (OTC) 21
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.5.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật 22
2.5.4 Phương pháp điều tra trong dân và các đơn vị cơ quan quản lý rừng nơi nghiên cứu 23
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 24
3.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích 24
3.1.2 Địa chất, địa hình 26
3.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn 28
3.1.4 Hiện trạng đất rừng và sử dụng tài nguyên đất ở KVNC 30
Trang 73.1.5 Tài nguyên động vật - Thực vật 31
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 32
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1 Đa dạng các trạng thái thảm thực vật tại KVNC 33
4.1.1 Thảm thực vật tự nhiên, có 2 kiểu rừng 34
4.1.2 Rừng trồng 38
4.2 Đa dạng về thành phần thực vật 38
4.2.1 Đa dạng ở mức độ ngành 38
4.2.2 Đa dạng ở mức độ họ 41
4.2.3 Đa dạng ở mức độ chi 43
4.3 Đa dạng về yếu tố địa lí ở mức độ loài 44
4.4 Đa dạng về dạng sống 46
4.5.Tính đa dạng về giá trị tài nguyên 48
4.5.1 Đa dạng về giá trị sử dụng 48
4.5.2 Đa dạng về các loài quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng 49
4.6 Đề xuất các giải pháp bảo tồn 51
4.6.1 Vùng lõi 51
4.6.2 Vùng đệm 51
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
WWF Quỹ bảo vệ thiên nhiên Quốc tế
KVNC Khu vực nghiên cứu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên thế giới 9
Bảng 3.1 Diện tích khu bảo tồn các các xã lân cận 24
Bảng 3.2 Số liệu khí hậu thủy văn cơ bản của KVNC 29
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất đai các xã vùng dự án 30
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát động vật rừng 31
Bảng 4.1 Các trạng thái thảm thực vật tự nhiên ở KVNC 33
Bảng 4.2 Phân bố các bậc taxon (họ, chi, loài) trong các ngành ở KVNC 39
Bảng 4.3 Bảng so sánh tỷ lệ % số loài của HTV Nà Hẩu với HTV - VQG Ba Bể, VQG Cúc Phương và KBT Nam Xuân Lạc 40
Bảng 4.4 Bảng thống kê các họ thực vật có nhiều loài xuất hiện ở KBTTN Nà Hẩu 42
Bảng 4.5 Thống kê các chi đa dạng nhất trong HTV Nà Hẩu 44
Bảng 4.6 Đa dạng về yếu tố địa lý ở mức độ loài của HTV Nà Hẩu 45
Bảng 4.7 Kết quả phân tích phổ dạng sống ở KVNC 47
Bảng 4.8 Phân loại thực vật theo giá trị sử dụng của HTV Nà Hẩu 48
Bảng 4.9 Các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở VNC 50
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ phân bố các bậc taxon trong các ngành ở KVNC 39
Hình 4.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ % số loài của HTV Nà Hẩu với HTV - VQG Ba Bể, VQG Cúc Phương và Nam Xuân Lạc 40
Hình 4.3 Biểu đồ phổ các yếu tố địa lý của các loài trong khu HTV Nà Hẩu 45
Hình 4.4 Biểu đồ dạng sống cơ bản của HTV Nà Hẩu 47
Hình 4.5 Biểu đồ phân loại thực vật theo giá trị sử dụng 49
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Vốn được xem là “lá phổi xanh của trái đất” Rừng có vai trò hết sức quan trọng đối với con người Rừng không chỉ điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai, bão lũ, mà rừng còn là khâu quan trong chu trình tuần hoàn vật chất của thiên nhiên, là nơi cư trú của nhiều loài động vật, cung cấp thức ăn cho động vật nói chung Đặc biệt thảm thực vật rừng còn có vai trò rất quan trọng cung cấp nguồn nguyên liệu cho các hoạt động của con người như lấy gỗ, giấy, xây dựng nhà cửa và các trang thiết bị nội thất, cho dầu béo, làm thuốc, làm cảnh, và nhiều giá trị sử dụng khác
Việt Nam với khí hậu và địa hình đa dạng, là nơi gặp gỡ của hai trung tâm giàu loài lớn nhất thế giới là Trung Quốc và Indonexia Hệ thức vật nước ta có thành phần loài mang cả yếu tố thực vật nhiệt đới ẩm Inddonexxia - Malayxia (yếu tố thực vật nhiệt đới gió mùa) và thực vật vùng nam Trung hoa và các yếu
tố thực vật Ấn Độ - Trung và nam Tiểu Á Theo thống kê hiện nay nước ta có tới 10.386 loài, 2257 chi, 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi, và 57% tổng số họ trên tổng thế giới [40]
Tuy nhiên cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu đa dạng sinh học Đặc biệt là các khu rừng nhiệt đới, nơi tập trung nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm và đặc hữu Theo thống kê hiện nước ta có khoảng 2,2 triệu hecta rừng, trong đó 2/3 diện tích rừng tự nhiên được coi là rừng nghèo và tái sinh, diện tích các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng liên tục bị thu hẹp, số lượng cá thể của các loài hoang dã đang bị suy giảm mạnh, nguồn gen hoang dã và nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Mất rừng là nguyên nhân gây ra thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh và đói nghèo
Đứng trước những hiểm họa do mất rừng gây ra, trong nhưng năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã điều chỉnh, bổ sung nhiều chính sách nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này Việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì
Trang 12tính toàn vẹn của hệ sinh thái chính là giúp con người giảm nhẹ được những tác động của thiên tai, và khả năng thích ứng với những biến đổi khí hậu
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu được UBND tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 với tổng diện tích đất tự nhiên là 16.950 ha nằm trên địa phận 4 xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mở Vàng và Phong Dụ Thượng thuộc huyện Văn Yên, Tỉnh Yên Bái Đây là khu vực có các hệ sinh thái rừng tự nhiên mang tính điển hình của vùng núi phía bắc nước ta
Trong những năm qua, mặc dù đã được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng những hoạt động khai thác gỗ củi và lâm sảm trái phép vẫn diễn ra Điều đó đã ảnh hưởng xấu đến tính đa dạng sinh học, nhất là đối với các loài quý hiếm và các loài có vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái trong khu bảo tồn
Với những lí do trên tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng của thực vật
có mạch tại khu bảo thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái và đề xuất giải pháp bảo tồn”
- Xác định được tính đa dạng của thực vật có mạch tại khu vực nghiên cứu
4 Đóng góp mới của luận văn
- Bước đầu đã xác định được tính đa dạng của thực vật có mach tại khu vực nghiên cứu (KVNC)
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thành phần chủ yếu của thảm thực vật là cá thể của các loài cây cỏ, nhưng đối tượng nghiên cứu của thảm thực vật lại là những quần thể thực vật được hình thành do một số lượng lớn hay nhỏ những cá thể của các loài tập hợp [38]
- Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây
gỗ, tre, nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng >0,1 Rừng gồm có rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (quy định trước đây được ghi trong văn bản tiêu chuẩn kĩ thuật lâm sinh rừng phải có độ tàn che của cây gỗ
từ K=0.3 trở lên) [43]
Trang 141.1.2 Đa dạng sinh học
Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa:
“ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST
vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST Trong đó, đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau [31] Theo Công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận ĐDSH bao gồm sự
đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái (đa dạng HST) Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp [3] Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), đã định nghĩa “ĐDSH là toàn bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất, gồm các sinh vật phân cắt đến động - thực vật trên cạn cũng như dưới nước Khoa học nghiên cứu về tính đa dạng gọi là “ĐDSH”, theo đó ĐDSH được hiểu theo 3 khía cạnh: Đa dạng ở mức độ di truyền, đa dạng ở mức độ loài, đa dạng ở mức độ sinh thái [50]
1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
H.G Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện
đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới,
ôn đới và núi cao [61]
Trang 15J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần
hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần
hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (Dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy) [47]
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng Trung gian Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [64]
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu về thảm thực vật Việt Nam đến nay còn ít Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này rừng ở Miền bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [60]
Năm 1953 ở Miền nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng miền Nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960)[2] Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Trang 16Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý
Thomasius (1965) đưa ra bảng phân loại các kiểu lập quần vùng Quảng Ninh dựa trên các điều kiện địa hình, đất đai, đá mẹ, khí hậu và các loài cây
ưu thế
Phan Nguyên Hồng (1970) [26], phân chia kiểu thảm thực vật ven bờ biển miền Bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gỗ ven biển và thực vật bãi cát trống
Trần Ngũ Phương (1970) [42] đưa ra bảng phân loại rừng ở miền Bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Thái Văn Trừng (1978) [55] đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân
gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật Năm 1975, trên cơ sở các điều kiện lập địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tại hội nghị thực vật học quốc tế lần thứ XII (Leningrat), ông đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam theo quan điểm sinh thái, đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng ở Việt Nam phù hợp nhất theo quan điểm sinh thái cho đến nay [56]
Phan Kế Lộc (1985) [36] dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau Nguyễn Nghĩa Thìn (1994-1996) cũng đã áp dụng cách phân loại này trong những nghiên cứu của ông
Nguyễn Hải Tuất (1991) Nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: Rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới, rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao, rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần [58]
Trang 17Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [32] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Thái Văn Trừng (1998) [57] khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Lê Ngọc Công (2004) [17] cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ
Ngô Tiến Dũng (2004), [22] dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO(1973) đã phân chia thảm thực vật Vườn Quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau
Ma Thị Ngọc Mai(2007) [39], theo khung phân loại UNESCO (1973), thảm thực vật tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc và vùng phụ cận
có 4 lớp quần hệ: lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây
Trang 18bụi và lớp quần hệ cỏ Thảm thực vật tại đây đang trong quá trình diễn thế đi lên, quá trình diễn thế qua 4 giai đoạn: Thảm cỏ -> Thảm cây bụi -> Rừng thứ sinh -> Rừng thành thục
1.3 Những nghiên cứu về hệ thực vật
1.3.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới
Năm 1962, G N Slucop đã đƣa ra số lƣợng các loài thực vật hạt kín phân
bố ở các châu lục nhƣ sau:
Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1.000 loài
Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.000 loài
Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.500 loài; Madagasca: 7.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng phụ cận khác: 4.500 loài; Abitxini: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài
Châu Á có khoảng 125.000 loài trong đó Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Tiểu Á: 8.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài
Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4.500 loài [21] Năm 1965, Al A Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000 - 20.000 loài địa y; 85.000 - 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác
Trang 19Lecointre và Guyader (2001) (Dẫn theo giáo trình Đa dạng sinh học của Đại học Huế, 2007 [23]) đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được
mô tả trên toàn thế giới như sau:
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên thế giới Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả % số loài được mô tả
1.3.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Ở nước ta, trong thực vật chí đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [63] Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số
đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài
Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta [6]
Gần đây, Phan Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới
Trang 20Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới
ẩm Indonesia - Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á [40]
* Nhận xét chung
Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình
Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: Hầu hết các tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục, một quốc gia, hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên cứu và điều tra đầy đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao động và cao hơn nhiều
1.4 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống và yếu tố địa lí cấu thành hệ thực vật
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)… Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc, 2000 [41])
Ramakrishman (1981 - 1992), nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá
Trang 21Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì
có 60 họ, 134 chi và 167 loài (dẫn theo Lê Thị Xuân Thu, 2007[48])
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc(1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ [34]
Nguyễn Đăng Khôi (1971) đã bổ sung thêm 26 loài không được F Gagnepain ghi nhận ở Miền bắc Việt Nam trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương” [63] Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [55]
Phan Kế Lộc (1978), điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ Trinh
nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin [35]
Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam, Dương Hữu Thời (1981) đã công bố thành phần loài thuộc 5 vùng Bắc Việt Nam gồm 213 loài (Dẫn theo Vũ Thị Liên, 2000 [33])
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự(1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương [6] Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [25]
Lê Mộng Chân (1994) điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn Quốc gia Ba
Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên [10]
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [37]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của sa van bụi ở đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau [16]
Trang 22Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê thành phần loài của Vườn Quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc
478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ
Thầu Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số
425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng [51]
Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định [20]
Lê Đồng Tấn (2000) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi 10
có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài [46]
Trần Đình Đại (2001) căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây bắc bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1050 chi và 3074 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch [24]
Theo danh mục các loài thực vật Việt Nam (2003) [7] đã thống kê được
368 loài Vi khuẩn lam (Tiền nhân-Procaryota); 2176 loài Tảo (Algae); 481 loài Rêu (Bryophyta); 1 loài Quyết lá thông (Psilotophyta); 53 loài Thông đất (Lycopodiophyta); 2 loài Cỏ tháp bút (Equisetophyta); 691 loài Dương xỉ (Polypodiophyta); 69 loài Hạt trần (Gymnospermae); và 13.000 loài thực vật Hạt kín (Anigiospermal), đưa tổng số loài thực vật Việt Nam lên đến hơn 20.000 loài Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và
10373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi, 378 họ [52]
Trang 23Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến [17]…
1.4.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm G
N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm (Dẫn theo Nguyễn Thị Ngọc, 2000 [41])
Raunkiaer (1934) [65] đã sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau
về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB): SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Trang 24Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản,…
Braun - Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn (Dẫn theo Giáp Thị Hồng Anh, 2007[1])
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như:
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [55]
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a: ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ [9]
Áp dụng theo nguyên tắc của Raunkiaer, Nguyễn Bá Thụ, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) đã xây dựng phổ dạng sống của hệ thực vật Vườn Quốc gia Cúc Phương [6] là: SB = 57,8Ph + 10,5Ch + 12,4He + 8,3Cr + 11,0Th
Phạm Hồng Ban(1999)[5] nghiên cứu tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái tái sinh sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống, phổ dạng sống là:
SB = 67,40Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th Đặng Kim Vui (2002)[59] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống
Trang 25thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi)
Nguyễn Thế Hưng(2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có
35 loài chiếm 10,80% [29]
Phạm Ngọc Thường (2003)[53] khi nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy
ở Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho kết quả phổ dạng sống của hệ thực vật là:
SB = 56,37Ph + 12,73Ch + 14,23He +8,80Cr + 7,87Th
Lê Ngọc Công (2004)[17] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật thành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo
Ngô Tiến Dũng (2004)[22] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống của thực vật Yok Don là:
SB = 71,73Ph + 1,41Ch + 7,77He + 4,59Cr + 6Th Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật
có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [13]
Nhìn chung, phân tích phổ dạng sống là một trong những nội dung quan trọng của các nhiệm vụ nghiên cứu của bất kì hệ thực vật nào Cho đến nay đã
có rất nhiều cách phân loại dạng sống khác nhau, nhưng để xây dựng phổ dạng sống của mọi hệ thực vật người ta thường sử dụng các phân loại của Raunkiaer(1934)
Trang 261.4.3 Những nghiên cứu về yếu tố địa lí cấu thành hệ thực vật
Phân tích, đánh giá các yếu tố địa lí cấu thành hệ thực vật, trước hết phải
kể đến các công trình nghiên cứu của Gagnepain: “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” bao gồm các yếu tố:
Yếu tố Trung Quốc 33,8%
Yếu tố Xích Kim - Himalaya 18,5%
Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15,0%
Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9%
Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8%
Theo Pócs Tamás(1965) khi nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam đã phân tích về phương diện địa lí thực vật của niền Bắc Việt Nam, đã phân biệt các yếu tố như sau:
- Nhân tố đặc 39,90%
+ Đặc hữu Việt Nam 32,55%
+ Đặc hữu Đông Dương 7,35%
- Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới 55,27%
Trang 27đặc hữu Nhưng khi thảo luận, tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một căn cứ vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỉ lệ đặc hữu các loài bản địa lên 50% (tương tự 45,7% theo Gagnepain và 52,79% theo Pócs Tamás), còn yếu tố di cư chỉ chiếm tỉ lệ 39,0% trong đó:
1 Yếu tố toàn cầu
2 Yếu tố Liên nhiệt đới
4 Yếu tố nhiệt đới châu Á
4.1 Yếu tố Đông Dương - Malêzi
4.2 Yếu tố Đông Dương - Ấn Độ
4.3 Yếu tố Đông Dương - Himalaya
4.4 Yếu tố Đông Dương - Nam Đông Dương
Trang 284.5 Yếu tố Đông Dương
5 Yếu tố ôn đới
5.1 Yếu tố Đông Á - Nam Mỹ
5.2 Yếu tố ôn đới Cổ thế giới
5.3 Yếu tố ôn đới Địa Trung Hải
5.4 Yếu tố Đông Nam Á
6 Yếu tố đặc hữu Việt Nam
1.5 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
1.5.1 Tổng quan về sách đỏ thế giới và sách đỏ Việt Nam
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng, các nguồn tài nguyên sinh học không ngừng bị suy giảm Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cứ liệu quan cho công tác bảo tồn
- Trên Thế giới:
Năm 1964, Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới(IUCN) đã cho xuất bản những bộ sách đỏ, trong đó chỉ ra các loài động - thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới
Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe doạ trên thế giới [62] Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)…
Trang 29- Ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” [44] của tập
thể tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007
1.5.2 Một số công trình nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ
bị tuyệt chủng ở Việt Nam
Ở nước ta, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng còn rất ít
Năm 1992, 1996 tập thể tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia - nay thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã xuất bản tuyển tập “sách đỏ Việt Nam”(phần thực vật)
Năm 2007 cuốn sách này đã được sửa đổi, bổ sung Trong sách này công
bố, ở nước ta có 847 loài (thuộc 201 họ) quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ [44]
Theo nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành
2 nhóm:
- Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I được phân thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là: ngành Thông với 7 loài và ngành Mộc lan với 8 loài, nhóm IB gồm các loài động vật rừng
- Nhóm II: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng Thực vật rừng, động vật rừng nhóm II cũng được chia thành: nhóm IIA
Trang 30gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành: ngành Thông với 10 loài và ngành Mộc lan với 27 loài, nhóm IIB gồm các loài động vật rừng [11]
Ngoài tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” thống kê số loài thực vật có
nguy cơ tuyệt chủng của cả nước, thì các công trình nghiên cứu về các loài có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít Một số công trình đáng chú ý là:
Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà số lượng loài thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng Tuỳ từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn
để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và phải đánh giá thường xuyên nhằm có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
1.6 Những nghiên cứu về thảm thực vật và đa dạng thực vật tại Yên Bái
và khu vực nghiên cứu
Lâm Phúc Cố (1996) [15], nghiên cứu một số biện pháp xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà tại Lâm trường Púng Luông - Mù Cang Chải - Yên Bái đã nhận xét: trồng hỗn giao các loài cây bản địa với Thông đuôi ngựa
là biện pháp tạo rừng phòng hộ đầu nguồn hiệu quả cao và nhanh nhất, ở những vùng rất xung yếu có điều kiện lập địa phù hợp với yêu cầu sinh thái nhiều loài cây thì tiến hành trồng hỗn giao theo băng tỷ lệ 1:2 (50% cây bản địa, 50% cây mục đích)
Lâm Phúc Cố (1996) [15], nghiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông, Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái đã phân chia thành 5 giai đoạn và kết luận diễn thế thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông theo hướng đi lên tiến tới rừng cao đỉnh Tổ thành loài tăng dần theo các giai đoạn phát triển, từ 4 loài
ở giai đoạn I (< 5 năm), tăng lên 5 loài ở giai đoạn V (> 25 năm) Rừng
phục hồi có 1 tầng cây gỗ giao tán ở giai đoạn 10 tuổi và đạt độ tàn che 0,4
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tính đa dạng sinh học của thực vật có mạch tại khu bảo tồn thiên nhiên
Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tính đa dạng của thực vật có mạch trong hệ sinh thái rừng tự nhiên tại
khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
2.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.5.2 Loài có nguy cơ bị tuyệt chủng
2.4.6 Đề xuất các giải pháp bảo tồn
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp điều tra theo tuyến (TĐT) và phương pháp đặt ô tiêu chuẩn (OTC)
- Tuyến điều tra:
Trước hết là xác định địa điểm nghiên cứu, căn cứ vào bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ quy hoạch các phân khu chức năng, các thông tin từ ban quản lý,
Trang 32cán bộ chuyên môn của khu bảo tồn lập, căn cứ ddieuf kiện địa hình cụ thể để các định các tuyến điều tra (TĐT)
Tuyến điều tra đầu tiên có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu Chiều rộng của tuyến điều tra là 2m Khoảng cách giữa các tuyến là 100m Dọc theo Tuyền tra bố trí các ô tiêu chuẩn (OTC) và các ô dạng bản (ODB) để thu thập số liệu
- Ô tiêu chuẩn (OTC):
Để thu thập số liệu thảm thực vật, chúng tôi áp dụng OTC là 400m2 (20x20m) Trong OTC bố trí các ODB có diện tích 25m2 (5m x 5m), ODB bố trí dọc theo hai đường chéo
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Trên TĐT, quan sát và ghi chép vào phiếu điều tra tất cả các loài đã gặp (ghi tên la tinh hoặc tên địa phương) Những loài chưa biết lấy mẫu về định dạng phân loại tại phòng thí nghiệm khoa Sinh Trường ĐHSP
- Trong OTC và ô dạng bản thống kê thành phần loài cây, dạng sống Đối với các loài cây bụi, cây gỗ đếm số lượng cá thể từng loài, đo chiều cao (Hm) và đo đường kính (D1,3m) Đối với các loài thân thảo (cỏ, dương xỉ) thì xác định thành phần loài, độ nhiều của chúng theo thang của Drude và Hoàng Chung (2008)
2.5.3 Phương pháp phân tích mẫu thực vật
- Xác định tên các loài cây theo Phạm Hoàng Hộ (1991, 1992, 1993) và
Danh lục thực vật Việt nam, để chỉnh lí và lập danh lục các loài thực vật tại vùng nghiên cứu
- Xác định các trạng thái thảm thực vật dựa theo khung phân loại của
UNESCO (1973)
- Phân tích phổ dạng sống theo Raunkiaer (1934); theo cách phân loại
này, dạng soosngs có các kiểu chính như sau:
1 Cây chối trên mặt đất (Ph), chồi tạo thành ở những cây này phải ở độ cao trên mặt đất từ 25cm trở lên, thuộc nhóm này có các cây gỗ, cây bụi
Trang 332 Cây chồi sát mặt đất (Ch), chối hình thành ở độ cao dưới 25cm so với mặt đất Thuộc nhóm này có cây bụi nhỏ, cây nửa bụi
3 Cây chồi nửa ẩn (He), chồi được tạo thành nằm sát mặt đất, thuộc nhóm này gồm nhiều cây thảo sống lâu năm
4 Cây chồi ẩn (Cr), chồi được hình thành nằm dưới đất, thuộc nhóm thực vật địa sinh (cây thân hành, thân củ, thân rễ) hoặc cây mọc từ đáy hồ, ao
5 Cây 1 năm (Th), trong mùa bất lợi tồn tại dạng hạt, khi điều kiện thuận lợi mọc thành cây và có đời sống 1 năm
- Xác định các loài thực vật quý hiếm tại vùng nghiên cứu theo “Sách đỏ
Việt Nam (phần thực vật)” của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2007
2.5.4 Phương pháp điều tra trong dân và các đơn vị cơ quan quản lý rừng nơi nghiên cứu
Trực tiếp phỏng vấn người chủ rừng hoặc các cơ quan chuyên môn (chi cục kiểm lâm, UBND xã…) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở KVNC, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật…
Trang 34Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu được UBND tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006, nằm trên địa phận 4 xã phía Nam của huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái bao gồm Xã Nà Hẩu, xã Đại Sơn, xã Mỏ Vàng, xã Phong Dụ Thượng Cách trung tâm huyện 30km Khu vực có tọa độ
Bảng 3.1 Diện tích khu bảo tồn các các xã lân cận
(ha)
Diện tích thuộc khu bảo tồn(ha)
Tỷ lệ (%)
3.1.1.2 Ranh giới của khu bảo tồn
Phía Nam lấy theo đỉnh đông núi chạy theo ranh giới hành chính giữa hai huyện Văn Yên và Văn Chấn
Phía Bắc khu bảo tồn là ranh giới hành chính của xã Phong Dụ Thượng với xã Xuân Tầm, của xã Đại Sơn với xã Xuân Tầm, Tân Hợp, bắt đầu từ đỉnh 1060m, hướng xuống đỉnh 1412m là điểm tiếp giáp 3 xã Phong Dụ Thượng, Đại Sơn và Xuân Tầm, tiếp theo đến đỉnh 700 thuộc tiểu khu 744 xã Đại Sơn
Trang 35Phía Đông bắt đầu từ đỉnh 700m, chia đôi xã Đại Sơn theo đường giữa khoảng 2 và 3 tiểu khu 744, đến đỉnh 705m, theo đường nối giữa các đỉnh có
độ cao khoảng 500m xuống phía Nam đến đỉnh Chà Khui, theo ranh giới xã Nà Hẩu và Mỏ Vàng, giữa khoảnh 2 và 3 của tiểu khu 773, đến đỉnh 736m cắt sang đỉnh 760m, theo giữa khoảnh 3 và 5 của tiểu khu 773 sang tiểu khu 774, theo ranh giới khoảnh 2,4 với khoảnh 3,5 kết thúc gặp đường ranh giới hành chính huyện Văn Yên và Văn Chấn
Phía Tây nằm trên địa phận xã Phong Dụ Thượng, Bắt đầu từ điểm cao xuất phát ranh giới phía Bắc, cắt qua tiểu khu 755A, theo các đường dông giữa các khoảnh 3 với khoảnh 1,4, khoảnh 8 khoảnh 10, đi theo ranh giới hành chính hai huyện Văn Yên và Văn Chấn
Bản đồ hiện trạng Rừng khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu,
huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Trang 363.1.2 Địa chất, địa hình
3.1.2.1 Địa chất
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho biết Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có quá trình hình thành và phát triển địa chất rất phức tạp Toàn vùng có cấu trúc dạng nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xem kẽ
Được hình thành trong điều kiện địa chất phức tạp nhiều kiểu dạng địa hình và đá mẹ khác nhau, nên có nhiều loại đất được hình thành trong khu vực Chủ yếu gồm các loại đất Feralit với tầng đất được phong hóa từ đá trầm tích,
đá mắc ma và đá vôi Do khí hậu nóng ẩm tạo nên tầng đất dày với các khoáng vật khó phong hóa như: Thạch anh, Silic.Thành phần cơ giới chủ yếu từ trung bình đến nặng
Những nhóm loại đất chính trong khu vực:
Đất alit có mùn trên núi cao, được hình thành trong điều kiện mát ẩm, có
độ dốc lớn, không đọng nước, tầng mùn nhiều, phân bố trên các đỉnh núi cao trên 1400m, chủ yếu tập chung ở phía Nam của khu bảo tồn
Đất Feralit có mùn trên núi cao và núi trung bình, được hình thành trong điều kiện mát ẩm, không có kết von và nhiều mùn Nhóm loại đất này phân bố tập trung ở các đai độ cao từ 700m đến 1400m
Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi và núi thấp, được hình thành với quá trình Feralitic rất mạnh và điển hình, mầu sắc phụ thuộc và đa mẹ và độ
ẩm Nhóm loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 700m Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tầng đất dày, ít đá lẫn, đất đai khá màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng
Đất dốc tụ chân đồi và ven suối, là loại đất tốt, thích hợp với việc canh tác nông nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 400m hoặc vùng thung lũng và bồn địa Đất có tầng dày, màu mỡ
Đất biến đổi do trồng lúa, là loại đất bị biến đổi do canh tác lúa nước, đất chua, quá trình glay hóa mạnh
Trang 373.1.2.2 Địa hình
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Nẩu nằm trong vùng địa hình đồi núi trung bình và cao thuộc lưu vực sông Hồng của dãy Hoàng Liên Sơn Nhìn toàn cảnh các dãy núi cao phổ biến từ 1000m đến 1400m, thoải dần về phía Đông - Bắc chạy theo hướng từ Tây - Bắc đến Đông - Nam Cao nhất trong khu vực là đỉnh núi ở phía Nam, là điểm tiếp giáp ranh giới giữa Nà Hẩu - Phong Dụ Thượng
và Văn Chấn cao khoảng 1783m Tiếp đến là đỉnh phía Bắc thuộc núi Khe Vàng cao 1412m, là điểm tiếp giáp ranh giới của ba xã Xuân Tầm, Đại Sơn và Phong Dụ Thượng
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu là đầu nguồn của hai lưu vực suối lớn chảy theo hướng Bắc đổ ra sông Hồng, đó là lưu vực Ngòi Thia trên địa phận
ba xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, lưu vực thứ hai trên địa phận xã Phong Dụ Thượng thuộc Ngòi Hút Phân chia giữa hai khu vực này chính là dãy núi cao 1000m nối hai đỉnh cao nhất, là ranh giới giữa Phong Dụ Thượng với Nà Hẩu
và Đại Sơn
Các thung lũng và khe suối uốn lượn khá phức tạp, sự chia cắt theo chiều sâu cũng khá mạnh, các sườn núi dốc, bình quân từ 250
đến 300 Khu vực có các kiểu địa hình chính sau
Kiểu địa hình Núi cao (N1): Được hình thành trên đá biến chất, có độ
cao từ 1200m đến 1783m Kiểu này phân bố ở trung tâm và ranh giới phía Nam của khu bảo tồn Mức độ chia cắt mạnh, các sườn núi rất dốc, độ dốc trung bình phổ biến từ 30-350 Tỷ lệ diện tích chiến khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn
Kiểu địa hình Núi trung bình (N2): Được hình thành trên đá biến chất,
có độ cao từ 900m đến 1200m Kiểu này phân bố ở ranh giới giữa các xã của
Trang 38khu bảo tồn Mức độ chia cắt mạnh, các sườn núi rất dốc, độ dốc trung bình từ 25-300, chiếm 20% tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn
Kiểu địa hình Núi thấp (N3): Thuộc kiểu địa hình này là các núi có độ
cao từ 500m đến 900m phân bố chủ yếu ở các khu vực phía Đông Bắc và phía Tây của khu bảo tồn Được hình thành trên các đá trầm tích lục nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, có hình dạng tương đối mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình từ 20-250, chiếm 25% tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn
Kiểu địa hình Đồi (Đ): Thuộc kiểu địa hình này là cùng đồi có độ cao từ
300m đến 500m, phân bố chủ yếu ở các khu vực phía Đông (xã Mỏ Vàng), phía Tây (xã Phong Dụ Thượng), phía Đông Bắc (xã Đại Sơn) và vùng trung tâm xã Nà Hẩu của khu bảo tồn Được hình thành trên các đá trầm tích và biến chất có kết cấu hạt mịn, hiện nay đang được trồng cây quế, cây lâu năm hoặc canh tác nương rẫy Độ dốc không cao, trung bình khoảng 200
Kiểu địa hình thung lũng và địa (T): Đây là những vùng trũng được kiến tạo bởi giữa các dãy đồi núi, các thung lũng suối mở rộng, có địa hình tương đối bằng phẳng Trong phạm vi ranh giới được xác định thành khu bảo tồn, Kiểu địa hình này phân bố trập trung ở trung tâm xã Nà Hẩu (khoảng 350ha) và khu vực làng bản của xã Đại Sơn (khoảng 70ha)
3.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Trang 39Bảng 3.2 Số liệu khí hậu thủy văn cơ bản của KVNC
Các chỉ tiêu cơ bản Tính trung bình trong 3 năm 2011-2013
Trang 403.1.4 Hiện trạng đất rừng và sử dụng tài nguyên đất ở KVNC
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất đai các xã vùng dự án
(Đvt: ha)
Xã Các loại đất đai
Nà Hẩu
Đại Sơn
Mỏ Vàng