Ít nhất có 4 điều kiện: - Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán - Hoạt động kinh do
Trang 2ĐÀO MẠNH TUẤN
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO CÔNG TY XÂY DỰNG GIAO THÔNG MINH QUANG,
TỈNH VĨNH PHÚC Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HỒ VĂN VĨNH
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu trong luận văn này là trung thực Kết quả phân tích, lý luận gắn với thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng công trình giao thông của Công ty xây dựng giao thông Minh quang - phường Liên bảo, thành phố Vĩnh yên, tỉnh Vĩnh phúc Luận văn này
là kết quả lao động, công trình nghiên cứu khoa học của tôi
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Đào Mạnh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Giải pháp huy động vốn cho công ty
xây dựng giao thông Minh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc” tối đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo Khoa Đào tạo sau đại học, Trường Đại học kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn GS.TS Hồ Văn Vĩnh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên trong các phòng Ban - Công ty xây dựng giao thông Minh quang đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Đào Mạnh Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Bố cục của đề tài 3
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG GIAO THÔNG 5
1.1 Những vấn đề chung về vốn trong doanh nghiệp xây dựng giao thông 5
1.1.1 Khái niệm chung về vốn 5
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của vốn 5
1.1.3 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp 6
1.1.4 Phân loại vốn 7
1.2 Một số vấn đề cơ bản về huy động vốn trong doanh nghiệp xây dựng 17
1.2.1 Khái niệm huy động vốn 17
1.2.2 Các nguyên tắc huy động vốn 18
1.2.3 Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp trong nền kinh kinh tế thị trường và khả năng vận dụng của doanh nghiệp xây dựng giao thông 19
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động vốn của doanh nghiệp 25
1.3.1 Các nhân tố khách quan 26
1.3.2 Các nhân tố chủ quan của doanh nghiệp 27
Trang 61.4 Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 28
1.4.1 Khái niệm hiệu qủa sử dụng vốn 28
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 29
1.4.3 Quan điểm về sử dụng vốn có hiệu quả trong các doanh nghiệp hiện nay 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 34
2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 34
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 35
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 36
2.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của Công ty xây dựng 36
2.3.3 Hiệu quả và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 37
2.3.4 Một số chỉ tiêu khác phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp 40
2.3.5 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
Chương 3: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG GIAO THÔNG MINH QUANG 44
3.1 Thực trạng về vốn tại công ty xây dựng giao thông Minh Quang từ năm 2010 đến 2013 44
3.1.1 Giới thiệu về công ty xây dựng giao thông Minh Quang 44
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty 44
3.2 Hoạt động huy động và sử dụng vốn của công ty 46
Trang 73.2.1 Kết quả hoạt động của công ty trong giai đoạn 2010 - 2013 46
3.2.2 Tình hình huy động vốn của Công ty 48
3.3 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của công ty 51
3.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá chung 51
3.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định 52
3.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả vốn lưu động 54
3.4 Đánh giá hiệu quả huy động và sử dụng vốn của công ty xây dựng giao thông Minh Quang 57
3.4.1 Công tác huy động vốn 57
3.4.2 Về việc sử dụng vốn 59
3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 63
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN Ở CÔNG TY XÂY DỰNG GIAO THÔNG MINH QUANG THỜI GIAN TỚI 64
4.1 Phương hướng phát triển của công ty trong những năm tới 64
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn của công ty 65
4.2.1 Giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn 65
4.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 68
4.2.3 Giải pháp về nâng cao năng lực quản lý sản xuất kinh doanh 73
4.2.4 Giải pháp về nhân tố con người 74
4.3 Các kiến nghị 75
4.3.1 Đối với Chi cục thuế 75
4.3.2 Đối với Nhà nước 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTC : Bộ tài chính
DN : Doanh nghiệp DNNN : Doanh nghiệp nhà nước DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ GTGT : Giá trị gia tăng
TSCĐ : Tài sản cố định VLĐ : Vốn lưu động XDGT : Xây dựng giao thông
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả kinh doanh của công ty giai đoạn 2010 - 2013 47
Bảng 3.2: Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động SXKD 48
Bảng 3.3: Cơ cấu nguồn vốn của công ty giai đoạn 2010 - 2013 49
Bảng 3.4: Cơ cấu vốn vay ngân hàng thương mại 50
Bảng 3.5: Cơ cấu nguồn vốn chiếm dụng của công ty 51
Bảng 3.6: Chỉ tiêu hiệu quả của công ty 52
Bảng 3.7: Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty 53
Bảng 3.8: Bảng chỉ tiêu khả năng thanh toán của công ty 55
Bảng 3.9: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 56
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức của công ty 45
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là một nhân tố sản xuất quan trọng sống còn, quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp (DN) Bất kỳ DN nào muốn tồn tại, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh thì đều cần có vốn Vốn càng lớn thì tiềm lực của DN càng lớn, nó tạo điều kiện cho DN dễ dàng hơn trong các quyết định tới các bước tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh, quyết định đến mức
độ tăng trưởng hoặc suy thoái của DN nói chung và các DN xây dựng giao thông nói riêng
Trong công cuộc xây dựng phát triển kinh tế của đất nước, các DN xây dựng giao thông có vai trò hết sức quan trọng vì nó tham gia vào quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Mặt khác DN xây dựng giao thông là sản phẩm đơn lẻ, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công kéo dài, yêu cầu cao về máy móc và công nghệ thi công hiện đại nên cần huy động một lượng vốn rất lớn Đó là vấn đề đặt ra cho các DN xây dựng giao thông hiện nay
Công ty xây dựng giao thông (XDGT) Minh Quang là một công ty mạnh trong địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, đã đi vào hoạt động năm 2000 với rất nhiều ngành nghề kinh doanh, trong đó xây dựng các công trình giao thông là lĩnh vực chủ chốt Trong quá trình hoạt động, Công ty đã xây dựng nhiều các công trình giao thông có chất lượng Tuy nhiên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty cũng gặp không ít khó khăn, mà khó khăn lớn nhất
là tiền lực kinh tế còn hạn chế Đó chính là rào cản lớn nhất cho việc mở rộng hoạt động và phát triển của công ty
Trong bối cảnh kinh tế khó khăn của đất nước hiện nay thì các công ty xây dựng công trình nói chung và công ty XDGT Minh Quang nói riêng càng phải đối mặt với nhiều thách thức như các dự án bị đình trệ, việc tiếp cận các vốn vay gặp nhiều khó khăn từ đó ảnh hưởng lớn tới việc sản xuất kinh doanh
Trang 11Xuất phát từ tính thiết yếu của nguồn vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung và công ty xây dựng giao thông Quang Minh nói riêng, tôi
chọn đề tài: “Giải pháp huy động vốn cho công ty xây dựng giao thông
Minh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc ” làm luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả huy động vốn tại các công ty xây dựng giao thông nói chung và công ty xây dựng giao thông Minh Quang nói riêng
Trang 123.2.3 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề thực tiễn, cụ thể trong hoạt động huy động vốn của công ty xây dựng giao thông Minh Quang, đặc biệt là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn, từ đó tìm ra các giải pháp tương ứng nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại công ty trong thời gian tới
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn tổng quan những vấn đề cơ sở lý luận về huy động vốn, vai trò của nó đối với hoạt động ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn trong các công ty xây dựng giao thông, tổng kết những bài học kinh nghiệm trong công tác huy động vốn
Xuất phát từ thực trạng về những mặt đạt được và những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong công tác huy động vốn của công ty, luận văn đi sâu
phân tích các nhân tố ảnh hưởng làm căn cứ đưa ra những giải pháp tương
ứng nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại công ty xây dựng giao thông Minh Quang tỉnh Vĩnh Phúc với mục đích phát triển bền vững nền vốn cho công ty trong thời gian tới
Luận văn có giá trị tham khảo cho cán bộ quản lý của công ty xây dựng giao thông Minh Quang nói riêng và các công ty xây dựng giao thông nói chung trong việc hoạch định phương án kinh doanh và hy vọng có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn đề này
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về vốn, huy động vốn trong doanh
nghiệp xây dựng giao thông
Trang 13Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về vốn, huy động vốn của công ty xây dựng giao
thông Minh Quang
Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả huy động vốn ở công ty xây dựng giao thông Minh Quang trong thời gian tới
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG GIAO THÔNG
1.1 Những vấn đề chung về vốn trong doanh nghiệp xây dựng giao thông
1.1.1 Khái niệm chung về vốn
Theo quan niệm chung nhất, vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ lại Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính Vốn tài chính là tiền được sử dụng bởi các doanh nhân và doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh như mua những gì họ cần để làm ra sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) để cung cấp nền kinh tế
Theo quan niệm hẹp hơn, vốn ở đây được hiểu là vốn tài chính, là toàn
bộ những giá trị ứng ra ban đầu vào các quá trình tiếp theo của DN Vốn là một lượng tiền nào đó được đưa vào sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tái sản xuất xã hội với tư cách là phương tiện tạo ra giá trị tăng thêm cho cá nhân và xã hội
Khái niệm này không những chỉ ra vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với các DN sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn trong DN, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh liên tục trong suốt thời gian tồn tại của DN
Như vậy, vốn là một yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Có vốn các DN có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm các trang thiết bị hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai Vậy yêu cầu đặt ra đối với các DN là trước hết họ phải có vốn, tiếp theo họ cần phải có sự quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn nhằm bảo toàn và phát triển vốn, đảm bảo cho các DN ngày càng phát triển và vững mạnh
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của vốn
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định Có nghĩa là vốn phải được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp
Trang 15- Vốn phải vận động và sinh lời, đạt được mục tiêu trong kinh doanh
- Vốn phải được tích tụ và tập trung một lượng nhất định thì mới có khả năng phát huy tác dụng khi đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh
- Vốn có giá trị về mặt thời gian Điều này có thể có vai trò quan trọng
khi bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả khi sử dụng đồng vốn
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, vốn sẽ không được đưa ra
để đầu tư khi mà người chủ của nó nghĩ về một sự đầu tư không có lợi nhuận
- Vốn được quan niệm như một thứ hàng hoá và có thể được coi là thứ hàng hoá đặc biệt vì nó có khả năng được mua bán quyền sở hữu trên thị trường vốn, trên thị trường tài chính
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền hay các giá trị hiện vật (tài sản cố định của doanh nghiệp: máy móc, trang thiết bị vật tư dùng cho hoạt động quản lý .) của các tài sản vô hình (các bí quyết trong kinh doanh, các phát minh sáng chế, )
1.1.3 Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
Vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong mỗi DN Nó là cơ sở, là tiền
đề cho một DN bắt đầu khởi sự kinh doanh Muốn đăng kí kinh doanh, theo quy định của Nhà nước, bất cứ DN nào cũng phải có đủ vốn pháp định theo từng ngành nghề kinh doanh của mình (vốn ở đây không chỉ bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, mà nó còn là các tài sản thuộc sở hữu của các chủ DN Rồi
để tiến hành sản xuất kinh doanh, DN phải thuê nhà xưởng, mua máy móc thiết
bị tất cả những điều kiện cần có để một DN có thể tiến hành và duy trì những hoạt động của mình nhằm đặt mục tiêu đã đề ra đều cần một lượng vốn nhất định Từ đó có thể rút ra một số vai trò quan trọng của vốn như sau:
1.1.3.1 Vốn là điều kiện tiền đề của quá trình sản xuất kinh doanh
Một quá trình sản xuất sẽ được diễn ra khi có ba yếu tố: vốn , lao động
và công nghệ Trong ba yếu tố đó thì vốn là điều kiện tiền đề có vai trò quyết định xem có nên sản xuất kinh doanh hay không
Trang 16Khi sản xuất, DN cần phải có một lượng vốn để mua nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, thuê nhân công, mua thông tin trên thị trường, mua các công nghệ sản xuất sản phẩm Bởi vậy có thể nói vốn là điều kiện đầu tiên đảm bảo cho yếu tố đầu vào về lao động và công nghệ được đáp ứng đầy đủ
1.1.3.2 Vốn quyết định sự ổn định và liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh
Khi yêu cầu về vốn, lao động và công nghệ được đảm bảo, để quá trình sản xuất diễn ra liên tục thì vốn phải được đáp ứng đầy đủ, kịp thời và liên tục Hiện nay có rất nhiều loại hình DN nên nhu cầu vốn cũng khác nhau Hơn nữa các quá trình sản xuất của các DN cũng khác nhau nên việc sử dụng vốn lưu động cũng khác nhau Trong quá trình sản xuất nhu cầu vốn phát sinh thường xuyên, đặc biệt là vốn lưu động như mua thêm nguyên nhiên liệu, mua thêm hàng hoá để bán, để trả nợ, để giao dịch Mà trong quá trình sản xuất không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có đầy đủ vốn Những lúc thiếu hụt như vậy nếu không bổ sung vốn kịp thời sẽ xảy ra hiện tượng đình trệ sản xuất gây ra chi phí lớn cho DN
1.1.3.3 Vốn đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Ngày nay nước ta chuyển dần sang nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhiều loại hình DN khác nhau, kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau Vì vậy, DN muốn tồn tại thì phải tự nâng cao đủ để cạnh tranh với các DN khác Trong khi các đối thủ cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt Hơn nữa ,do đòi hỏi của khách hàng ngày càng cao, nên DN phải đầu tư nhiều hơn cho khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, làm giảm giá thành, dẫn đến đòi hỏi tăng lượng vốn và nâng cao trình độ sử dụng vốn của mình Điều đó sẽ giúp DN có thể phát triển và đứng vững hơn trên thị trường
1.1.4 Phân loại vốn
Trong phạm vi DN, vốn được phân loại theo các nhóm sau đây:
Trang 171.1.4.1 Phân loại vốn theo nguồn hình thành
a Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết và thông qua đó DN không phải cam kết thanh toán Do vậy vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ
* Vốn pháp định:
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu mà DN phải có khi muốn thành lập
và số vốn này được Nhà nước quy định tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh của DN Đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN), số vốn này được ngân sách Nhà nước cấp
* Vốn tự bổ sung:
Thực chất loại vốn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi nhuận lưu trữ) và các khoản trích hàng năm của DN như các quỹ xí nghiệp (quỹ phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển )
* Vốn chủ sở hữu khác:
Đây là loại vốn mà số lượng của nó luôn có sự thay đổi bởi vì do đánh giá lại tài sản, do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinh phí,
do các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản
b Vốn huy động của doanh nghiệp:
Ngoài các hình thức vốn do Nhà nước cấp thì doanh nghiệp còn một loại vốn mà vai trò của nó khá quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đó là vốn huy động Để đạt được số vốn cần thiết cho một dự án, công trình hay một nhu cầu thiết yếu của DN mà đòi hỏi trong một thời gian ngắn nhất mà DN không đủ số vốn còn lại trong DN thì đòi hỏi DN phải có sự liên doanh liên kết, phát hành trái phiếu hay huy động các nguồn vốn khác dưới hình thức vay nợ hay các hình thức khác
Vốn huy động bao gồm các loại:
* Vốn vay: DN có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các cá nhân
hay các đơn vị kinh tế độc lập nhằm tạo lập và tăng thêm nguồn vốn
Trang 18Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng là rất quan trọng đối với
DN Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụng ngắn hạn hoặc dài hạn tuỳ theo nhu cầu của DN trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa
Ngân hàng và DN
* Vốn vay trên thị trường chứng khoán
Tại các nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển, vay vốn trên thị trường chứng khoán là một hình thức huy động vốn cho DN Thông qua hình thức này thì DN có thể phát hành trái phiếu, đây là một hình thức quan trọng để sử dụng vào mục đích vay dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của DN Việc phát hành trái phiếu giúp cho DN có thể huy động số vốn nhàn rỗi trong xã hội để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Tuy nhiên không phải DN nào cũng có thể phát hành trái phiếu mà phải có các điều kiện cần thiết Ít nhất có 4 điều kiện:
- Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải
có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được
từ đợt chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ
sở hữu công ty thông qua
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu
tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác.[ kinhdoanh.vnexpress.net/ /4-dieu-kien-de-doanh-nghiep-phat-hanh-trai- phieu-2697109.html 13 Tháng Ba 2009]
* Vốn liên doanh liên kết:
Doanh nghiệp có thể kinh doanh liên kết, hợp tác với các DN khác nhằm huy động và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là hình thức
Trang 19huy động vốn quan trọng vì hoạt động tham gia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao công nghệ thiết bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Điều này cũng có nghĩa là uy tín của DN sẽ được thị trường chấp nhận DN cũng có thể tiếp nhận máy móc và thiết bị nếu như trong hợp đồng liên doanh chấp nhận việc góp vốn bằng hình thức này
* Vốn tín dụng thương mại:
Tín dụng thương mại là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng mà DN tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn gắn với một lượng hàng hoá cụ thể, gắn với một hệ thống thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của hệ thống thanh toán, của chính sách tín dụng khách hàng mà DN được hưởng Đây là một phương thức tài trợ tiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh và nó còn tạo khả năng mở rộng cơ hội hợp tác làm ăn của
DN trong tương lai Tuy nhiên, khoản tín dụng thương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu DN biết quản lý một cách có hiệu quả thì nó sẽ góp phần rất lớn vào nhu cầu vốn lưu động của DN
* Vốn tín dụng thuê mua:
Trong hoạt động kinh doanh, tín dụng thuê mua là một phương thức giúp cho các DN thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Đây là phương thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê giữa người cho thuê và DN Người thuê sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê cho người cho thuê theo thời hạn mà hai bên đã thoả thuận, người cho thuê là người sở hữu tài sản
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính:
** Thuê vận hành:
Phương thức thuê vận hành (thuê hoạt động) là phương thức thuê ngắn hạn tài sản Hình thức này có các đặc trưng sau:
Trang 20- Thời hạn thuê ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong thời gian ngắn
Người thuê chỉ việc việc trả tiền theo thỏa thuận, người cho thuê phải đảm bảo mọi chi phí vận hành của tài sản như phí bảo trì, bảo hiểm thuế tài sản cùng với mọi rủi ro vô hình của tài sản
Hình thức này hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chất thời vụ và nó đem lại cho bên thuê lợi thế là không phải phản ánh loại tài sản này vào sổ sách kế toán
** Thuê tài chính:
Cho thuê tài chính là một dạng cho thuê tài sản, nhưng khác về căn bản
so với các loại cho thuê tài sản khác là có sự chuyển dịch về cơ bản các rủi ro
và các lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản thuê
Xét dưới hình thức cấp vốn, cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản (tài sản này có thể là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, động sản khác ) giữa bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính (tổ chức tín dụng phi ngân hàng) với khách hàng thuê (khách hàng có nhu cầu thuê thường là các doanh nghiệp, các bên đối tác trong liên kết kinh tế)
Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng Công ty cho thuê tài chính giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê, bên thuê
có nghĩa vụ nộp tiền thuê (tiền trích khấu hao tài sản cho thuê) cho công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục cho thuê tài sản đó theo các thỏa thuận trong hợp đồng thuê
Loại hình cho thuê tài chính có lợi thế là người thuê không cần bỏ toàn
bộ số tiền ra một lúc để có máy móc, thiết bị, đồng thời cũng không cần phải thế chấp tài sản như trong các giao dịch vay vốn khác; bên đi thuê tài chính không phải chịu những rủi ro do sự mất giá của tài sản, hao mòn tự nhiên
Trang 21Trên đây là cách phân loại vốn theo nguồn hình thành, nó là tiền đề để cho DN có thể lựa chọn và sử dụng hợp lý nguồn tài trợ tuỳ theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh doanh, quy mô của DN, trình độ quản lý, trình độ khoa học công nghệ cũng như chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của DN Bên cạnh đó, việc quản lý vốn ở các DN trọng tâm cần đề cập đến là hoạt động luân chuyển vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thức khác nhau của tài sản và hiệu quả quay vòng vốn Vốn cần được nhìn nhận và xem xét dưới trạng thái động với quan điểm hiệu quả
1.1.4.2 Phân loại vốn theo hình thức chu chuyển
Tài sản cố định phải là những vật phẩm thuộc quyền sở hữu của DN, trong một quan hệ sản xuất nhất định Bản thân tính sử dụng lâu dài và chi phí cao vẫn chưa có thể là căn cứ duy nhất để xác định tài sản cố định nếu nó không gắn liền với một quyền sở hữu thuộc về một doanh nghiệp, một cơ quan, hợp tác xã
Trang 22Theo thông tư 203/2009/TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lí, sử dụng
và trích khấu hao TSCĐ thì các tư liệu lao động được xếp vào tài sản cố định phải có đủ cả 4 tiêu chuẩn sau:
+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai do việc sử dụng tài sản
+ Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách tin cậy
+ Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên
+ Có giá trị từ 10.000.000đ trở lên
Để tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý tài sản cố định cũng như vốn cố định và nâng cao hiệu quả sử dụng chúng thì cần có các phương án tuyển chọn và phân loại chúng:
* Phân loại tài sản cố định là việc chia tổng số tài sản cố định ra từng nhóm, bộ phận khác nhau dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau:
+ Tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh: loại này bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình:
- Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu được biểu hiện bằng hình thái vất chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, vật kiến trúc Những tài sản cố định này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản có liên kết với nhau
để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhằm một mục tiêu quan trọng nhất là đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất nhưng xác định giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc là cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình ví dụ như: chi phí thành lập DN, chi phí về sử dụng đất, chi phí thu mua bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu thương mại
Trang 23+ Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng
+ Tài sản cố định mà DN bảo quản và cất giữ hộ Nhà nước
Cách phân loại này giúp cho DN thấy được vị trí quan trọng của tài sản
cố định dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua đó DN đưa ra những chính sách hợp lý nhằm đầu tư vào tài sản một cách hợp lý
Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định của DN mà chúng được chia ra thành:
- Tài sản cố định đang sử dụng
- Tài sản cố định chưa cần dùng
- Tài sản cố định không cần dùng chờ thanh lý
Cách phân loại này phần nào giúp cho DN có thể hiểu và kiểm soát dễ dàng các tài sản cuả mình
* Vốn cố định của doanh nghiệp:
Việc đầu tư thành lập một DN bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như; xây dựng nhà phân xưởng, nhà làm việc và nhà quản lý, lắp đặt hệ thống máy móc thiết bị chế tạo sản phẩm DN chỉ có thể đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh khi mà nó đã hoàn thành các công đoạn trên và luc đó vốn đầu tư
đã được chuyển sang vốn cố định của doanh nghiệp
Như vậy, vốn đầu tư của DN là một bộ phận vốn đầu tư ứng trước tài sản của DN; đặc điểm của nó được luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN và một vòng tuần hoàn của tài sản cố định chỉ kết thúc khi mà nó hết thời hạn sử dụng, đồng thời nó sẽ mang lại một phần lợi nhuận nhất định cho DN.Việc đầu tư để mang lại lợi nhuận cho DN phần nào phụ thuộc vào quyết định đầu tư của DN, đồng nó cũng mang lại một thế mạnh cho sản phẩm của DN trên thị trường
Trang 24b Vốn lưu động
* Tài sản lưu động:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn lưu động và cố định luôn song hành trong cả quá trình sản xuất kinh doanh của DN Tuy nhiên tài sản lưu động nằm rải rác trong các khâu thuộc quá trình sản xuất kinh doanh Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản lưu động thường chiếm một tỷ lệ khá cao, thường chiếm khoảng 50% - 60% tổng tài sản của DN
Tài sản lưu động khi tham gia quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thường là không giữ được giá trị hình thái vật chất ban đầu Là bộ phận chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua quá trình sản xuất tạo thành thực thể của sản phẩm, bộ phận khác cùng tham gia trong quá trình này bị biến đổi hay hao phí theo thực thể được hình thành Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một quá trình, chu kỳ sản xuất kinh doanh của DN do
đó toàn bộ giá trị của chúng được chuyển một lần vào sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở hành hàng hoá Tài sản lưu động chính là đối tượng lao động của DN
Tài sản lưu động trong các DN được chia thanh hai phần:
+ Bộ phận hàng dự trữ: Đây là loại hàng dự trữ đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn
+ Bộ phận vật tư đang trong quá trình chuyển đến cho quá trình chế biến; bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, vật tư, nguyên vật liệu khác chúng tạo thành các tài sản lưu động nằm trong các khâu sản xuất kinh doanh của DN
Bên cạnh tài sản cố định nằm trong khâu sản xuất kinh doanh của
DN thì còn có một số loại tài sản khác được sử dụng trong một số khâu khác trong cả quá trình sản xuất kinh doanh của DN trong khâu lưu thông như các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu Do vậy, trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh các DN bao giờ cũng để ra một khoản tiền nhất
Trang 25định dùng cho các trường hợp này, số tiền ứng trước cho tài sản người ta gọi là vốn lưu động của DN
*Các loại vốn lưu động của DN:
Có rất nhiều hình thái mà vốn lưu động có thể chuyển đổi theo hình thái như: T-H-T (tiêng - hàng - tiền) và H-T-H' (hàng - tiền - hàng hóa khác), tức là nó được chuyển hoá từ tiền sang hàng hoá sau đó nó trở về trạng thái ban đầu sau khi đã phát triển được một vòng tuần hoàn và qua đó nó sẽ mang lại cho DN số lãi hay không thì điều này còn phụ thuộc vào sự quyết đoán trong kinh doanh của chủ DN.Vậy thì, vốn của DN có thể hiểu là số tiền ứng trước về tài sản lưu động của DN nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn
Vậy vốn được quản lý và sử dụng tốt sẽ mang lại cho DN nhiều điều kiện trên thị trường Một DN được đánh giá là quản lý vốn lưu động tốt, có hiệu quả khi mà DN biết phân phối vốn một cách hợp lý cho các quyết định đầu tư của mình và qua đó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho DN Nhưng để quản lý vốn đạt hiệu quả thì DN phải có sự nhận biết các bộ phận cấu thành của vốn lưu động, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp với từng loại
Căn cứ vào vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động bao gồm:
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ, bán thành phẩm tự gia công chế biến
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế dự trữ và chuẩn bị dùng cho hoạt động sản xuất
- Vốn lưu động dùng cho quá trình lưu thông: là bộ phận dùng cho quá trình lưu thông như: thành phẩm, vốn tiền mặt
Trang 26Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lưu động bao gồm:
- Vốn vật tư hàng hoá: là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể như nguyên vật liệu, sản phảm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm
- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn
Có thể nhận thấy được vai trò quan trọng của vốn đối với các doanh nghiệp Nhờ có nó mà các doanh nghiệp có thể thay đổi được trang thiết bị,
mở rộng quy mô sản xuất trong thời gian ngắn Nó mang lại cho doanh nghiệp được nhiều lợi thế như; cải tiến được mẫu mã, giảm giá thành sản phẩm, giảm được sức lao động cho nhân công mà vẫn đáp ứng được chất lượng của sản phẩm và nhu cầu của thị trường điều mà các doanh nghiệp luôn mong muốn Nhờ đó mà các doanh nghiệp sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao uy tín của mình trên thương trường mà vẫn mang lại hiệu quả kinh tế cho các nhà đầu tư
1.2 Một số vấn đề cơ bản về huy động vốn trong doanh nghiệp xây dựng
1.2.1 Khái niệm huy động vốn
Có thể nói vốn đối với từng DN là rất quan trọng nó quyết định đến sự hoạt động suôn sẻ của DN Mặc dù để có thể để DN hoạt động một cách suôn
sẻ thì cần phải có nhiều yếu tố cùng tham gia vào, trong đó vốn là quan trọng,
nó được coi như là máu đối với mỗi doanh nghiệp, vì chỉ khi có vốn doanh nghiệp mới có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh được Vốn chủ sở hữu thường chiếm tye lệ nhỏ, muốn có vốn lớn phục vụ kinh doanh, DN phải
huy động vốn Huy động vốn là việc DN động viên các nguồn vốn trong xã hội để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình Huy động vốn không chỉ
mang ý nghĩa là một hoạt động chủ yếu và quan trọng của DN mà còn có ý nghĩa quan trọng không kém đối với bản thân người được huy động theo nguyên tắc cùng có lợi, làm cho đồng tiền nhàn rỗi được lưu thông trên thị
Trang 27trường và sinh lợi không chỉ cho DN mà còn cho đối tượng được huy động, cũng là có lơi cho toàn xã hội
1.2.2 Các nguyên tắc huy động vốn
- Nguyên tắc kịp thời: Việc huy động vốn phải đảm bảo kịp thời
Thông thường, khi có nhu cầu về vốn bổ sung,DN phải tìm nguồn vốn để giải quyết nhu cầu đó, tuy nhiên, nếu việc cung ứng vốn không đúng thời điểm, thời cơ đầu tư nguồn vốn đó sẽ mất ý nghĩa hoặc làm giảm khả năng thu lợi từ các hoạt động đầu tư kinh doanh Vì vậy, cải tiến các thủ tục hành chính phức tạp trong các quy trình giao dịch về vốn là mong muốn của các
DN Nhiều khi, một số DN phải chấp nhận một tỷ lệ lãi suất cao hơn rất nhiều trên thị trường tài chính phi chính thức để có được nguồn vốn kịp thời
vì nếu không vay kịp vốn thì nguồn vốn rẻ trở nên đắt, có thể làm cho các kết quả dự tính trong các phương án kinh doanh giảm đi và DN gặp khó khăn trong việc trả nợ
- Nguyên tắc hiệu quả: Cần lựa chọn bảo đảm hiệu quả huy động vốn
cao nhất trong những điều kiện nhất định Như đã trình bày ở trên, trong điều kiện thị trường tài chính càng phát triển thì DN càng có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn khác nhau để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, do đó cần lựa chọn nguồn vốn thích hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc huy động vốn Hiệu quả của việc sử dụng các hình thức huy động vốn không chỉ thể hiện ở hiệu quả đầu tư mà nguồn vốn mang lại, mà còn thể hiện ở khả năng dễ dàng tiếp cận và huy động nguồn vốn đó, như khả năng làm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp và lợi nhuận tích lũy
- Đảm bảo nguyên tắc số lượng và thời gian: Việc huy động vốn cần
đảm bảo nhu cầu về số lượng và thời gian Một số dự án đầu tư sẽ không thể thực hiện được nếu không đủ một lượng vốn nhất định theo nhu cầu được tính toán Do vậy, khi huy động vốn phải đảm bảo đủ về số lượng và thích hợp về thời gian Thực tế, hiện nay một số DN thường phải nâng mức nhu cầu ghi
Trang 28trong các yêu cầu huy động vốn để có thể có đủ số vốn cần thiết khi dự án được phê chuẩn, điều đó làm cho các dự án không còn được chặt chẽ Ngòai
ra, có rất nhiều ngân hàng thường quá cứng nhắc trong các thủ tục và cách tính toán khiến cho các DN khó có thể đảm bảo trả nợ đúng hạn
- Nguyên tắc giảm thiểu chi phí giao dịch: Huy động vốn cần đảm bảo
giảm thiểu chi phí giao dịch Một nguồn vốn với lãi suất thấp đôi khi có thể trở nên thành lãi suất cao do chi phí liên quan đến chi phí giao dịch về vốn quá cao Nguyên nhân chi phí giao dịch cao có thể là: thủ tục hành chính phức tạp, quy trình giải ngân rắc rối, chi phí tư vấn cao Vì vậy các DN cần tùy theo lượng vốn vay để chọn nguồn vốn phù hợp, vì những nguồn vốn phức tạp sẽ làm cho chi phí giao dịch trở nên một đồng vốn huy động cao hơn nếu lượng vốn huy động nhỏ Ngược lại, những dự án lớn có thể có lợi về chi phí giao dịch nếu tìm đến những nguồn vốn có thủ tục phức tạp hơn nhưng phải chịu lãi suất thấp hơn
1.2.3 Các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp trong nền kinh kinh
tế thị trường và khả năng vận dụng của doanh nghiệp xây dựng giao thông
Như đã biết vốn cho tăng trưởng và phát triển đã trở thành vấn đề thời
sự đối với DN Tuy nhiên, trong điều kiện DN đang đói vốn liên tục nếu tích cực, chủ động tìm nguồn vốn thì hoàn toàn vẫn có thể thu hút được một lượng vốn đáng kể cho sản xuất kinh doanh Sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại một lượng lớn tiền tệ , nó như là một tiền đề bắt buộc Một lượng tiền vốn như thế có được thông qua con đường ghép nhiều nguồn vốn mà thành Đó chính là quá trình huy động vốn, tập trung vốn trong sản xuất kinh doanh
1.2.3.1 Huy động vốn từ doanh nghiệp
a Góp vốn ban đầu
Khi DN được thành lập bao giờ cũng có một số vốn nhất định Tùy thuộc vào loại hình DN mà có những hình thức khai thác làm tăng nguồn vốn
Trang 29góp ban đầu Đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN), vốn góp ban đầu là vốn đầu tư của Nhà nước Đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ Tuy nhiên, có nhiều dạng công ty cổ phần nên cách thức huy động vốn cũng khác nhau Trong loại hình các DN khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài thì các nguồn vốn góp cũng bao gồm: vốn có thể do chủ đầu tư bỏ ra, vốn do các bên tham gia, các đối tác góp…Tỷ lệ và quy mô góp vốn của các bên tham gia công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như đặc điểm ngành nghề kinh doanh, cơ cấu liên doanh giữa các bên…
b Tăng nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu DN hoạt động có hiệu quả thì
sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng nguồn vốn hoạt động Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của DN
Tự tăng vốn bằng lợi nhuận không chia là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các DN, vì DN giảm được chi phí, giảm được sự phụ thuộc bên ngoài Để có nguồn vốn này thì các phải đặt ra mục tiêu có một khối lượng lợi nhuận đủ lớn để bù đắp chi phí đã bỏ ra, từ đó mới tự đáp ứng được nhu cầu vốn tự bổ sung của DN
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như DN đã, đang hoạt động có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư Với các DNNN, việc tái đầu tư phụ thuộc vào khả năng sinh lời của DN và chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước Đối với các công ty cổ phần thì việc
để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm Khi DN quyết định
để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, có nghĩa là DN không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền
Trang 30lãi cổ phần (cổ tức) nhưng thay vào đó, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ Điều này khuyến khích cổ đông giữ
cổ phiếu lâu dài, nhưng về trước mắt dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu
do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm
c Tăng vốn góp bằng phát hành cổ phiếu mới
Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh thì doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn của tổ chức phát hành Việc phát hành cổ phiếu được thực hiện ở các công ty cổ phần Phát hành cổ phiếu là hoạt động tài trợ dài hạn của DN, bao gồm có phát hành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai công cụ trên hoặc phối hợp cả hai để đem lại hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp
d Huy động các nguồn khác
Trong bảng cân đối kế toán của DN, nguồn vốn được thể hiện trong khoản mục phải nộp và phải trả công nhân viên chiếm tỷ trọng không lớn và cũng không đóng vai trò quan trọng lắm Tuy nhiên trong một thời điểm nào đó
nó cũng có thể giúp DN giải quyết những nhu cầu vốn mang tính chất tạm thời
Các khoản phải nộp và phải trả của DN bao gồm:
- Các khoản thuế phải nộp nhưng chưa nộp
- Các khoản phải trả cán bộ công nhân viên nhưng chưa đến kỳ trả
- Các khoản đặt cọc của khách hàng
- Các khoản phải trả cho các đơn vị nội bộ
1.2.3.2 Phương thức huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp
Ngoài việc tăng vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu, DN có thể sử dụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, phát hành trái phiếu, huy động vốn từ thị trường tài chính,…
Trang 31Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn Để huy động được vốn từ các thị trường này, DN cần thông qua các trung gian tài chính
Trung gian tài chính đảm nhiệm chức năng trung chuyển tư bản giữa các chủ thể tiết kiệm và những người sử dụng vốn Các trung gian tài chính không chỉ phục vụ như những người hỗ trợ giữa các chủ thể tiết kiệm và những người sử dụng vốn mà còn tập trung những khoản tiết kiệm của nhiều người, nhiều doanh nghiệp và nhiều tổ chức trong nền kinh tế, tạo thành những nguồn tài chính có quy mô lớn Đây là một trong những nguồn huy động vốn cơ bản của DN
Các trung gian tài chính có thể được phân chia thành một số loại như sau:
Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là loại định chế tài
chính lớn nhất trong các trung gian tài chính Các ngân hàng thương mại là nơi nhận tiền gửi thông qua việc mở các tài khoản tiết kiệm và tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, thực hiện các nghiệp vụ tài trợ, bảo lãnh, thanh toán phục
vụ các DN và cá nhân Ngân hàng sử dụng phần lớn lượng tiền huy động được để đầu tư vào các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao như công trái quốc gia, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công ty,…Duy trì một lượng tiền mặt ở mức đủ để bảo đảm thanh khoản, thực hiện các giao dịch cho các doanh nghiệp và cá nhân vay
Có một thực tế là để huy động vốn từ việc vay ngân hàng, DN cần phải có tài sản hoặc các loại giấy tờ có giá trị khác để thế chấp Điều này sẽ gây khó khăn cho DN, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ (DNVVN) Thêm vào đó, việc huy động vốn từ ngân hàng cũng không linh hoạt bằng một số định chế tài chính khác như các công ty đầu tư mạo hiểm, hoặc các công ty cho thuê tài chính
Hiệp hội tiết kiệm và cho vay: Là loại trung gian tài chính chuyên
thu hút tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân để cho vay dài hạn nhằm tài trợ
Trang 32mua nhà ở, bất động sản hoặc các loại hàng hóa tiêu dùng lâu bền Tuy nhiên, các hoạt động tài trợ của hiệp hội này thường được cho vay dưới hình thức cầm cố
Chính hình thức cho vay này sẽ gây ra một số khó khăn cho các DN đặc biệt là các DNVVN, vì các DN này thường không có nhiều tài sản để thế chấp
Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ: Là loại trung gian tài chính có rất
nhiều đặc điểm tương đồng với các hiệp hội tiết kiệm và cho vay Ngân hàng thu hút tiền gửi của công chúng và chủ yếu cho các DN, các cá nhân vay để mua nhà và các loại bất động sản
Hiệp hội tín dụng: Là một tổ chức hợp tác xã tín dụng, tổ chức liên
kết các thành viên là những người trong cùng tổ chức nghề nghiệp hay tín ngưỡng Nguồn ngân quỹ chủ yếu là tiền gửi của các thành viên, nguồn ngân quỹ này được sử dụng để cho vay trong nội bộ nhằm tài trợ mua xe, nhà ở và nhiều loại tài sản khác Do đặc điểm của hiệp hội là chỉ cho vay trong nội bộ nên các DN ngoài hiệp hội sẽ khó có cơ hội tiếp cận với nguồn vay này
Quỹ trợ cấp và hưu bổng: Được thành lập để tạo nguồn thu nhập cho
những người về hưu và không còn khả năng làm việc Các quỹ này nhận tiền đóng góp của công nhân, của chủ DN và sử dụng nguồn ngân quỹ này đầu tư vào các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc hay trái phiếu đô thị, đầu
tư vào cổ phần, trái phiếu của các DN Như vậy, DN có thể huy động vốn từ quỹ này bằng việc phát hành trái phiếu
Công ty tài chính: Công ty tài chính phát hành các loại trái phiếu, cổ
phiếu và vay tiền của các ngân hàng thương mại để tài trợ cho các DN và cá nhân vay Những khoản cho vay của các công ty tài chính thường chủ yếu dành cho những khách hàng có mức độ rủi ro tín dụng cao, mà các ngân hàng thương mại thường từ chối cho vay Để bù đắp cho mức độ rủi ro cao, lãi suất tài trợ của công ty tài chính thường cao hơn các định chế khác
Trang 33Quỹ hỗ tương: Là loại định chế tài chính chuyên tập hợp nguồn tài
chính của những người tiết kiệm nhỏ và đầu tư vào các loại chứng khoán tùy theo mục tiêu và chính sách do quỹ đặt ra
Một đặc điểm của các quỹ hỗ tương là các quỹ này thường nắm giữ một phần giá trị của danh mục đầu tư dưới dạng tiền mặt Có hai lý do cho sự tồn tại tiền mặt ở các quỹ này: Thứ nhất, quỹ luôn cần tiền mặt để bảo đảm khả năng thanh toán cho các chứng khoán do những người chủ quỹ bán lại cho quỹ Thứ hai, là tiền thu được từ hoạt động kinh doanh chứng khoán của quỹ
có thể chưa được đầu tư kịp thời Đây cũng là một trong những lợi thế của các quỹ này khi các DN quyết định vay vốn từ loại hình này
Công ty bảo hiểm: Có thể chia các công ty bảo hiểm thành hai loại:
Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm trách nhiệm và tài sản
- Các công ty bảo hiểm nhân thọ thu phí bảo hiểm hàng năm của những người được bảo hiểm và đầu tư vào những khoản tiền này vào các loại trái phiếu, cổ phiếu công ty, cho vay thế chấp tài sản hay tài trợ tín dụng tiêu dùng
và thực hiện nhiều nhiệm vụ tài chính khác
- Các công ty bảo hiểm trách nhiệm và tài sản thu phí bảo hiểm của những người được bảo hiểm và những chủ sở hữu các loại tài sản được bảo hiểm Một phần phí bảo hiểm được công ty đầu tư vào các loại chứng khoán công ty và trái phiếu do Chính phủ phát hành
Một khó khăn của doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn vốn này là cũng cần phải có tài sản hoặc các giấy tờ có giá trị để thế chấp
Công ty thuê mua:
Là loại định chế tài chính chuyên huy động các nguồn ngân quỹ trung - dài hạn từ công chúng đầu tư, từ các chủ thể tiết kiệm khác và từ các ngân hàng để tài trợ cho các hợp đồng thuê mua máy móc thiết bị của các DN
Nguyên nhân chính thúc đẩy DN tiếp cận với hoạt động cho thuê tài chính là do nó có tính chất an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả cho các bên giao
Trang 34dịch Thêm vào đó, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không đòi hỏi sự bảo đảm tài sản có trước, tạo điều kiện cho các DN tiếp cận hình thức cấp tín dụng mới, giải tỏa được áp lực về tài sản bảo đảm nếu phải vay ở ngân hàng, hoặc các DN đang gặp khó khăn về thủ tục thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng
Thủ tục nhanh chóng, chi phí tuy cao hơn so với huy động tín dụng ngân hàng hoặc các loại hình khác nhưng không mất thời gian và không mất tiền dịch vụ Đây là hình thức thuận tiện khi huy động các khoản vốn ngắn hạn
1.2.3.3 Phương thức huy động vốn đối với các DN xây dựng giao thông
Trên đây là toàn bộ các nguồn vốn mà các DN có thể huy động nhằm tăng vốn hoạt động kinh doanh của mình Tùy theo đặc điểm của từng loại
DN mà nguồn vốn huy động chủ yếu tập trung vào một số nguồn vốn nhất định, chẳng hạn các DN xây dựng giao thông chủ yếu huy động các nguồn vốn sau:
- Góp vốn từ lợi nhuận không chia
- Vay ngân hàng
- Vay các tổ chức tín dụng
- Huy động vốn từ khách hàng
Ngoài ra còn rất nhiều nguồn khác tùy thuộc vào thời điểm và tình hình
cụ thể của doanh nghiệp
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc huy động vốn của doanh nghiệp
Mở rộng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố khách quan như: trạng thái của nền kinh tế, chính sách thuế; chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước; năng lực kinh doanh của DN Tất cả các yếu tố đó ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn của các doanh nghiệp cả DNNN và DN ngoài nhà nước
Trang 351.3.1 Các nhân tố khách quan
Chu kỳ kinh tế cũng là yếu tố có ảnh hưởng tới việc mở rộng huy động vốn của doanh nghiệp Trong các thời kỳ suy thoái kinh tế, việc mở rộng huy động vốn tạm thời bị ảnh hưởng Lý do là trong giai đoạn này, việc sản xuất kinh doanh của DN bị ảnh hưởng từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông hàng hóa đều diễn biến phức tạp Trong giai đoạn này các DN chủ yếu là duy trì sản xuất chứ chưa thể mở rộng sản xuất Trong giai đoạn thình vượng, nền kinh tế khởi sắc, các DN mới được thành lập đồng loạt, các DN cũ không ngừng mở rộng quy mô, sản xuất gia tăng, hiệu quả kinh tế được nâng cao Trong thời gian này, nhu cầu về vốn cho mở rộng sản xuất kinh doanh đạt đỉnh điểm
Nền kinh tế phát triển càng cao thì khả năng tập trung huy động thu hút vốn càng mạnh và phương thức huy động vốn cũng phong phú, đa dạng hơn Tuy nhiên, do nền kinh tế Việt Nam vẫn ở trình độ thấp so với thế giới, thị trường tài chính, các tổ chức phi tài chính trung gian mới hình thành và phát triển nên việc mở rộng huy động vốn của DN cũng có những nét đặc thù riêng Các phương thức huy động vốn truyền thống như tín dụng ngân hàng
và góp vốn đầu tư từ phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khóan trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu hay thu hút đầu tư từ các quỹ đầu tư nước ngoài chưa được các DN xem xét sử dụng một cách phù hợp Do đó, việc huy động vốn dài hạn cho DN còn gặp nhiều hạn chế và khó khăn, quy mô vốn chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng phát triển của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của DN phụ thuộc đáng kể vào chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, trong đó đáng kể nhất là chính sách đầu tư
và chính sách thuế
Chính sách đầu tư Chính sách đầu tư tác động vào các chủ thể kinh
tế nhằm định hướng các nhà đầu tư hoạt động theo chiến lược kinh tế của Nhà nước, gồm hai bộ phận chủ yếu:-chính sách đảm bảo đầu tư và chính sách
Trang 36khuyến khích đầu tư Chính sách khuyến khích đầu tư quy định mức độ khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư như ngành nghề, địa bàn, lĩnh vực, mức độ
sử dụng lao động hoặc nguyên vật liệu trong nước, mức độ áp dụng khọa công nghệ, tỷ lê vafdoanh số xuất khẩu hàng hóa…DN căn cứ vào chinhsachs
đầu tư để định hướng kinh doanh có lợi về mặt vay vốn, về thuế…
*Chính sách thuế Chính sách thuế là một trong những công cụ điều tiết
vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế Mỗi chính sách thuế cơ bản bao gồm: đối tượng chịu thuế; đối tượng nộp thuế; miễn, giảm thuế và thuế suất
Sự thay đổi trong các thành phấn trên thể hiện chính sách khuyến khích, ưu đãi của Nhà nước với từng đối tượng trong tưùng thời kỳ
Nhìn chung, các DN nằm trong đối tượng miễn, giảm thuế sẽ có động lực lớn để tăng quy mô, huy động thêm vốn Các DN chịu thuế suất cao sẽ e
dè, ngại ngần hơn với việc mở rộng sản xuất bởi lợi nhuận sản xuất kinh doanh sẽ phải chịu một khỏan thuế lớn
Đối với các DN ngoài khu vực nhà nước, chính sách thuế có tác động rất lớn tời phương thức huy động vốn Bởi chính sách thuế có liên quan tới chi phí sử dụng vốn của DN Hiện nay có rất nhiều khỏan thuế như thuế lợi nhuận của DN, thuế thu nhập cá nhân của các thành viên trong công ty trong khi lãi vay không chịu thuế thu nhập DN, nên các DN có xu hướng huy động vốn tín dụng ngân hàng nhiều hơn
1.3.2 Các nhân tố chủ quan của doanh nghiệp
Bên cạnh các nhân tố khách quan, không thể không nói tới tác động của các nhân tố chủ quan tới việc huy động vốn cho DN Yếu tố chủ quan bao gồm tất cả các yếu tố xuất phát từ bản thân DN như: ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh; quy mô và cơ cấu tổ chức của DN; chiến lược phát triển
và mở rộng của DN; thái độ của chủ DN;
1.3.2.1 Ngành nghề kinh doanh
Mỗi ngành nghề có yêu cầu vốn khác nhau nên việc huy động vốn cũng khác nhau Các DN có cùng ngành nghề sản xuất kinh doanh thường có cơ
Trang 37cấu vốn và phương thức huy động vốn tương tự nhau do các DN này cũng chịu khung quản lý chung của Nhà nước và các cơ quan chủ quản cũng như hoạt động trong một môi trường kinh doanh có nhiều nét tương đồng Có những ngành nghề đồi hỏi bổ sung vốn nhiều và liên tục thì mới đẩy mạnh được hoạt động sản xuất như các ngành công nghiệp nặng, xây dựng, khai thác khóang sản Có những ngành nghề yêu cầu về vốn khi mở rộng họat động kinh doanh không cao như ngành dịch vụ tư vấn
1.3.2.2 Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
Trong cùng một ngành sản xuất kinh doanh, do sự biến đổi quy mô và
tổ chức mà các DN có tốc độ và phương thức mở rộng vốn cho phù hợp Các
DN nhỏ do quy mô vốn thấp nên có nhu cầu vay vốn cao, và nguồn vốn này thường được huy động chủ yếu từ vay nợ bởi nguồn vốn đầu tư của các chủ
sở hữu và lợi nhuận giữ lại không thể đáp ứng được nhu cầu về vốn Còn các
DN có quy mô vừa và lớn, nếu tốc độ phát triển ổn định ở mức trung bình có thể sử dụng lợi nhuận tái đầu tư và phát hành cổ phiếu để bổ sung vốn
1.3.2.3 Chiến lược, định hướng phát triển của doanh nghiệp
Huy động vốn phụ thuộc vào chiến lược phát triển của DN Nếu DN có định hướng mở rộng kinh doanh thì việc mở rộng nguồn vốn và huy động vốn cũng được quan tâm thúc đẩy Nếu doanh nghiệp đang muốn duy trì hoạt động ở mức bình ổn thì việc mở rộng vốn tạm thời không thật cần thiết
Nhân tố này cũng chịu tác động lớn của bản thân người chủ DN Có những chủ DN ưa thích dùng vốn vay, có người thích dùng vốn chủ sở hữu Ý thích của người chủ DN có thể tác động phần nào đến các phương thức huy động vốn trong DN
1.4 Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.4.1 Khái niệm hiệu qủa sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động vào giải quyết một nhu cầu nhất định trong phát triển sản xuất (đầu
tư phát triển) và hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 38Về mặt lượng, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được từ hoạt động bỏ vốn đó mang lại với lượng vốn bỏ ra Mối tương quan đó được thể hiện bằng công thức:
Dạng thuận
H = Kết quả
Vốn kinh doanh Chỉ tiêu này dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng vốn đến kết quả kinh tế
Dạng nghịch
H = Vốn kinh doanh
Kết quả Chỉ tiêu này là cơ sở xác định quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực
Về mặt định tính hiệu quả sử dụng vốn thể hiện trình độ khai thác, quản
lý và sử dụng vốn của DN
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu
về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Nó thể hiện mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh trong kỳ và số vốn bình quân Ta có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
ROA- Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm.Công thức tính như sau:
Trang 39qua ROA ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn
ROE: Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần, phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình) Công thức tính:
Lợi nhuận ròng
ROE =
Vốn cổ phần
Chỉ số này là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra
và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ
đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa
là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn
1.4.3 Quan điểm về sử dụng vốn có hiệu quả trong các doanh nghiệp hiện nay
Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại
và phát triển đòi hỏi DN phải kinh doanh có lãi Để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các DN cần phải đưa ra phương hướng mục tiêu đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện có sẵn về các nguồn lực, vật lực Muốn vậy, các DN cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phân tích và sử dụng hợp lý các nguồn sẵn có trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Như chúng ta đã biết mọi hoạt động kinh tế của DN đều nằm trong thế liên hoàn với nhau Bởi vậy, chỉ có tiến hành phân tích hoạt động sản xuất
Trang 40kinh doanh một cách tòan diện mới có thể giúp cho các DN đánh giá đầy đủ
và sâu sắc trong hoạt động kih tế trong trạng thái thực của chúng trên cơ sở
đó, nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu và được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật, tài chính của DN Đồng thời, phân tích sâu sắc các nguyên nhân hòan thành và không hòan thành các chỉ tiêu đó trong sự tác động lẫn nhau giữa chúng Từ đó, ta có thể đánh giá đầy
đủ mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý của DN Mặt khác, qua phân tích kinh doanh, giúp cho các DN tìm biện pháp sát thực để tăng cường hoạt động kinh tế và quản lý DN nhằm phát huy mọi khả năng tiềm tàng về vốn lao động, đát đai trong quá trình sản xuất kinh doanh Một trong những yếu
tố không thể thiếu được chính là công tác quản lý vốn một cách hiệu quả Tuy nhiên, các DN muốn hoạt động và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả thì phải đảm bảo một số các điều kiện sau:
- Phải khai thác các nguồn vốn một cách triệt để: có nghĩa là vốn phải được luân chuyển trong suốt quá trình hoạt động của DN
- Phải sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm
- Phải có phương pháp quản lý vốn một cách có hiệu quả không để nguồn vốn bị chiếm dụng hoặc sử dụng sai mục đích làm thất thoát vốn
Ngoài ra DN phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm của DN trong quản lý huy động và sử dụng vốn
Có hai phương pháp để phân tích tài chính cũng như hiệu quả sử dụng vốn của DN, đó là phương pháp phân tích so sánh và phân tích tỷ lệ:
* Phân tích só sánh: Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong hoạt
động phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy, để tiến hành so sánh và phân tích , giải quyết những vấn đề cơ bản như xác định gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh, mục tiêu so sánh
và cần thỏa mãn một số điều kiện như: thống nhất về thời gian, không gian,