1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tiêu chí tài chính để chọn mã chứng khoán trên sàn giao dịch TP. HCM

56 595 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Tiêu Chí Tài Chính Để Chọn Mã Chứng Khoán Trên Sàn Giao Dịch Tp. HCM
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. HCM
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố tp. hcm
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 656 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tiêu chí tài chính để chọn mã chứng khoán trên sàn giao dịch TP. HCM

Trang 1

ả nhưng có lúc ồn ào thậm chí náo loạn Một hiện tượng như vậy làm nảy sinhmột tình cảm dè dặt, lo ngại trong chúng ta là điều dể hiểu Để giúp các nhàđầu tư có thể tự tin hơn trong quyết định đầu tư của mình thông qua việc cónhững quyết định đúng đắn khi tham gia thị trường chứng khoán, nhóm sinh

viên chúng tôi đã đi đến việc nghiên cứu đề tài “Các tiêu chí tài chính để chọn mã chứng khoán trên sàn giao dịch TP HCM”.

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài tập trung vào giải quyết hai vấn đề cơ bản:

2.1 Vấn đề thứ nhất về mặt lý luận:

Vận dụng lý luận và những mô hình phân tích báo cáo tài chính và các chỉ

số tài chính đặc biệt là việc phân tích tốc độ tăng trưởng và mô hình chiết khấu

cổ tức làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của các tiêu chí tài chính trong việc địnhgiá chứng khoán và lựa chọn các cổ phiếu trên sàn giao dịch

Trang 2

Phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng các chỉ số tài chính trong đầu tưchứng khoán trên sàn giao dịch Tp HCM.

Đề xuất các giải pháp để giúp nhà đầu tư sử dụng tốt hơn các chỉ số tàichính trong việc lựa chọn các cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Để thực hiện đề tài chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

3.1 Phương pháp phân tích, thống kê, mô tả

Chúng tôi đã dùng phương pháp phân tích thống kê kinh tế để mô tả, hệthống hóa các dữ liệu nhằm minh họa những nội dung chủ yếu của đề tài, phântích các số liệu thống kê từ nhiều nguồn để rút ra những nhận xét, đánh giámang tính khái quát cao làm nổi bật những nội dung chính của luận án

3.2 Phương pháp phân tích.

Có thể nói đây là phương pháp chủ đạo và có tính xuyên suốt của đề tài Đểlàm rõ một vấn đề dưới nhiều góc độ, chúng tôi kết hợp cả ba phương phápphân tích đó là: phân tích theo chiều dọc, phân tích theo chiều ngang và phântích chéo Bằng phương pháp này chúng tôi có thể đưa ra các kết luận tổng quát

và loại trừ những trường hợp cá biệt của tổng thể nghiên cứu

4 Tính mới của đề tài:

4.1 Về lý luận:

Đã hệ thống hóa lý luận về báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính để rút

ra mô hình phù hợp cho việc vận dụng các tiêu chí tài chính trong việc lựa chọn

cổ phiếu trên sàn giao dịch Tp HCM

Trang 3

Đã chỉ ra được chỉ số thường dùng nhất trong đầu tư chứng khoán và cáchdùng giá tham chiếu trong giao dịch.

Trên cơ sở thực trạng về tình hình dùng các tiêu chí tài chính trong đầu tưchứng khoán đã đề xuất với các cơ quan nhà nước, công ty dịch vụ phân tích tàichính và nhà đầu tư để việc vận dụng các tiêu chí tài chính trong đầu tư chứngkhoán được tốt hơn là cơ sở để cho thị trường chứng khoán phát triển một cáchbền vững

Trong tất cả các vấn đề thì việc nghiên cứu giữa lý thuyết và thực tiễn xảy

ra vẩn luôn có khoảng cách, song với sự cố gắng của nhóm hi vọng đề tài này

sẽ thực sự bổ ích cho các nhà đầu tư chứng khoán, đặc biệt là các nhà đầu tưmới gia nhập thị trường

Trong quá trình thực hiện đề tài nhóm đã nhận được sự hướng dẫn tận tìnhcủa PGS TS Phan Thị Cúc trưởng khoa Tài chính – Kế toán, TS NguyễnTrung Trực cùng với một số giảng viên khoa Tài Chính Kế Toán trường ĐạiHọc Công Nghiệp TP HCM,

Mặc dù nhóm đã có nhiều cố gắng song do điều kiện hạn chế về thời gian,phạm vi nghiên cứu, cũng như khả năng còn khiêm tốn nên đề tài không thểtránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô vàbạn đọc khác

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC TIÊU CHÍ TÀI CHÍNH TRONG

ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 1.1.Giới thiệu chung về phân tích các chỉ số tài chính trong đầu tư chứng khoán.

Phân tích tài chính là quá trình thu thập và xử lý các dữ liệu và sự kiện tàichính thông qua các kỹ thuật và công cụ thích hợp để tạo ra thông tin tài chính

có giá trị nhằm rút ra các kết luận hoặc ra các quyết định tài chính Nói ngắngọn, phân tích tài chính là một quá trình bao gồm bốn khâu căn bản: (1) Thuthập dữ liệu, (2) Phân tích và xử lý dữ liệu thu thập được, (3) Tạo ra thông tin tàichính, và (4) Kết luận hoặc ra quyết định tài chính Dưới đây chúng ta sẽ xem xétchi tiết hơn từng từng khâu này

1.1.1 Dữ liệu và thông tin tài chính

Dữ liệu (data) là những số liệu hay sự kiện chúng ta có thể thu thập để đưavào xử lý và phân tích nhằm tạo ra thông tin (information) tài chính Thông tintài chính là thông tin có ý nghĩa và có giá trị thu được từ dữ liệu sau khi đưavào phân tích Dữ liệu tài chính và thông tin tài chính khác nhau ở những điểm

cơ bản sau đây:

Dữ liệu là đầu vào (inputs), trong khi thông tin là đầu ra (outputs) của quátrình phân tích tài chính Bản thân dữ liệu chưa có hoặc ít có ý nghĩa, do đó,chưa có giá trị kết luận hoặc phụcvụ cho việc ra quyết định tài chính, trong khithông tin tài chính là thông tin có được sau khi đã qua xử lý và phân tích nên có

ý nghĩa và có giá trị để có thể rút ra kết luận hoặc ra quyết định tài chính

1.1.2 Phân tích xử lý dữ liệu và thông tin tài chính

Trong phân tích các thông tin tài chính sử dụng chủ yếu là phân tích chỉ số:Phân tích tỷ số tài chính là kỹ thuật phân tích căn bản và quan trọng nhất củaphân tích báo cáo tài chính Phân tích các tỷ số tài chính liên quan đến việc xácđịnh và sử dụng các tỷ số tài chính để đo lường và đánh giá tình hình và hoạtđộng tài chính của công ty Có nhiều loại tỷ số tài chính khác nhau Dựa vàocách thức sử dụng số liệu để xác định, tỷ số tài chính có thể chia thành ba loại: tỷ

Trang 5

số tài chính xác định từ bảng cân đối tài sản, tỷ số tài chính xác định từ báo cáothu nhập và tỷ số tài chính xác định từ cả hai báo cáo vừa nêu Dựa vào mụctiêu phân tích, các tỷ số tài chính có thể chia thành: các tỷ số thanh khoản, các

tỷ số nợ, tỷ số khả năng hoàn trả lãi vay, các tỷ số hiệu quả hoạt động, các tỷ sốkhả năng sinh lợi, và các tỷ số tăng trưởng

Ngoài ra còn các phương pháp phân tích khác như phân tích xu hướng, phântích kỹ thuật…

1.2 Cơ sở lý luận về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Như vậy, xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn racác hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua đóthay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán Thị trường chứng khoán có những chứcnăng cơ bản sau:

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô

Trang 6

Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chiathành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đếnchứng khoán.

Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trườngchứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoácủa thị trường chứng khoán Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà pháthành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương

Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty Các tổ chức tàichính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụhưởng phục vụ cho hoạt động của họ

Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trườngchứng khoán Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân vànhà đầu tư có tổ chức

Các nhà đầu tư cá nhân

Các nhà đầu tư có tổ chức

Công ty chứng khoán

Quỹ đầu tư chứng khoán

Các trung gian tài chính

Cơ quan quản lý Nhà nước

Sở giao dịch chứng khoán

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Trang 7

Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán

Các tổ chức tài trợ chứng khoán

Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm

Thị trường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc công khai

Nguyên tắc trung gian

Nguyên tắc đấu giá

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sảnphẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kỳ hạn trên

1 năm) Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản:

Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn

Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trườngthứ cấp

+) Thị trường sơ cấp

Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hànhthông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành

+) Thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hànhtrên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã pháthành

Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường

Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giaodịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC)

Trang 8

Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường

Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thịtrường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán pháisinh

+) Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và

mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi

+) Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch

và mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồmcác trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ

+) Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh

Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đibán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền,hợp đồng quyền chọn

Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phầnnhỏ bằng nhau gọi là cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông Cổ đôngđược cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công

ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thưchứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổđông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu

Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổphiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thôngthường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia cổ tứctheo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị vàkiểm soát công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tươngứng với phần vốn góp của mình

Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phầnnhư cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợitức cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử…

Trang 9

Tác dụng của việc phát hành Cổ phiếu:

Đối với Công ty phát hành:

Việc phát hành cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khithành lập hoặc để mở rộng kinh doanh Nguồn vốn huy động này không cấuthành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực

về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sửdụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổchức tín dụng thì hoàn toàn ngược lại Tuy nhiên, mỗi phương thức huy độngđều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựachọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinhdoanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp

Đối với nhà đầu tư cổ phiếu:

Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoàitham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán

Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là ngân hàng thương mại, công

ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chứckinh doanh chứng khoán

Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục

đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tưkhác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngàyđối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ

Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua Cổ phiếu được công ty pháthành Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư cógiá và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thịtrường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ Mặtkhác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lýcông ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt độngcũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, vàđương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việcthanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia

Trang 10

tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn.Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận vớigiá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường.

1.2.2 Chứng khoán

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người

sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán đượcthể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:

 Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

 Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán

Thực tế Khi nói đến hàng hóa trên thị trường chứng khoán, người ta thườngnghĩ ngay đến cổ Phiếu phổ thông Tại nhiều nước trên thế giới, thị trườngchứng khoán đã rất quen thuộc đối với mọi người dân Ví dụ, ở Mỹ, trung bình

cứ 4 người trên 25 tuổi thì có một người sở hữu cổ phiếu phổ thông, hoặc trựctiếp, hoặc gián tiếp thông qua các quỹ tương hỗ

1.3 Nội dung các tiêu chí tài chính

1.3.1 Các báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của một công

ty vào cuối mỗi kỳ (thường là một quý hay một năm) Báo cáo tài chính đượclập để báo cáo về hoạt động tài chính, hoạt động đầu tư trong thời kỳ đó và tómtắt các hoạt động kinh doanh cho kỳ kế tiếp với bốn hoạt động chủ yểu: lập kếhoạch, tài trợ, đầu tư và hoạt động sản xuất Báo cáo tài chính bao gồm bốn loạibảng là: bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bảng thuyết minh báo cáo tài chính, sau đây sẽgiới thiệu rõ hơn ba loại bảng trên trừ bảng thuyết minh báo cáo tài chính

1.3.1.1 Bảng cân đối kế toán

Cho biết tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp với

phương trình kế toán: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn, phương trình kế toán

thể hiện bảng cân đối kế toán tại một thời điểm Các khoản mục trong bảng cânđối kế toán được sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần Bảng cân đối kế toánkhông cập nhật giá thị trường của các tài sản dài hạn ít có tính thanh khoản như

Trang 11

tài sản của công ty Một vài tài sản có giá trị nhất lại là tài sản vô hình như bảnquyền, danh tiếng, kỹ năng quản lý và lực lượng lao động lành nghề thườngkhông được phản ánh trong bảng cân đối kế toán Các kế toán viên thường cânnhắc khi ghi các tài sản này vào bảng cân đối kế toán trừ khi chúng được xácđịnh và định giá Phần bên phải của bảng cân đối kế toán cho thấy nguồn tiềnnào dùng để mua tài sản Trước tiên đó là những khoản nợ gồm nợ phải trảtrong năm gọi là nợ ngắn hạn Chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạngọi là vốn luân chuyển ròng Tiếp theo là các khoản nợ dài hạn của công ty dophát hành trái phiếu hay vay trực tiếp ở ngân hàng Phần còn lại là vốn cổ phần.Vốn cổ phần của công ty đơn giản chỉ là tổng giá trị của vốn luân chuyển ròng

và tài sản cố định trừ cho nợ dài hạn Một phần của vốn cổ phần có được là dobán cổ phần cho các nhà đầu tư, phần còn lại là từ lợi nhuận giữ lại nhân danhcác cổ đông để tái đầu tư vào công ty

1.3.1.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Phản ánh thành quả tài chính của công ty trong khoảng thời gian của bảngcân đối kế toán Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp những chi tiết

về doanh số, chi phí lợi nhuận hay các khoản thua lỗ của công ty trong một thời

kỳ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được xác định dựa trên cơ sở kế toánphát sinh, được ghi nhận khi công ty mua, bán hàng hay dịch vụ mà khôngquan tâm đến việc khi nào sẽ nhận được tiền, khi nào phải trả tiền

Doanh thu (doanh thu ròng), chi phí bao gồm chi phí hoạt động; chi phílãi vay; thuế và thu nhập bao gồm thu nhập dành cho cổ đông nắm cổ phiếu ưuđãi và cổ đông nắm cổ phiếu thường Đặc biệt trong chi phí hoạt động thường

có hai khoản chi phí quan trọng đó là khấu hao tài sản hữu hình và khấu hao tàisản vô hình

Nếu lấy doanh thu ròng trừ đi chi phí hoạt động chưa kể khấu hao tài sảnhữu hình và tài sản vô hình chúng ta được lợi nhuận trước thuế, lãi và khấuhao (EBITDA) Các nhà phân tích chứng khoán và nhân viên tín dụng củangân hàng thường quan tâm đến chỉ tiêu này vì nó cho phép xác định khảnăng trả nợ của công ty

Phần cuối của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một số thông tin

Trang 12

quan trọng liên quan đến giá trị cổ phần như giá cổ phiếu, lợi nhuận trên cổphần (EPS), cổ tức trên cổ phần (DPS), giá trị sổ sách của cổ phần (BVPS) vàdòng tiền trên cổ phần (CFPS) Công thức tính các chỉ tiêu này lần lượt đượctrình bày dưới đây, lưu ý công ty hiện có 50 triệu cổ phần đang lưu hành.

1.3.1.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Phản ánh dòng tiền lưu chuyển vào và ra vì thu nhập thường không ngangbằng với dòng tiền thuần ngoại trừ trong trường hợp toàn bộ vòng đời của công

ty Vì kế toán phát sinh tạo ra các con số khác biệt so với kế toán dòng lưuchuyển tiền tệ mà dòng tiền rất quan trọng trong kinh doanh Báo cáo lưu chuyểntiền tệ là báo cáo trình bày tình hình số dư tiền đầu kỳ, tình hình các dòng tiềnthu vào, chi ra và tình hình số sư tiền cuối kỳ của công ty Lưu ý khái niệm tiền

ở đây bao gồm tiền mặt và tiền gửi ở ngân hàng Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giúpphản ánh bổ sung tình hình tài chính công ty mà bảng cân đối tài sản và báo cáothu nhập chưa phản ánh hết được Chẳng hạn, ngay cả khi công ty báo cáo trênbáo cáo thu nhập rằng công ty kiếm được lợi nhuận lớn trong năm nhưng trênbảng cân đối tài sản có thể tiền không tăng lên hoặc thậm chí giảm đi Điều này

dễ đưa đến nghịch lý là công ty làm ăn có lãi nhiều nhưng lại thiếu tiền chi tiêu.Tại sao vậy?

Lý do là công ty có thể sử dụng lợi nhuận ròng vào nhiều mục đích khác nhauchứ không phải chỉ có để trên tài khoản tiền Chẳng hạn công ty có thể đã sử dụnglợi nhuận ròng để tài trợ cho khoản phải thu, tồn kho, đầu tư tài sản cố định, trả

nợ vay, chia cổ tức và ngay cả đầu tư vào chứng Báo cáo lưu chuyển tiền tệthường bao gồm báo cáo các dòng tiền thu và chi từ ba loại hoạt động chính:hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, và báocáo tóm tắt tình hình tiền đầu kỳ, thay đổi trong kỳ và tiền cuối kỳ

Một bộ báo cáo tài chính của công ty nói chung bao gồm bảng cân đối kếtoán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và báo cáo lợinhuận giữ lại Mục đích chính của báo cáo tài chính là nhằm ghi nhận và phảnánh các giao dịch đã diễn ra và tình hình tài chính của công ty Tuy nhiên, do báocáo tài chính thường được soạn thảo theo nội dung và kết cấu chuẩn nên đôi khi

Trang 13

chỉnh số liệu để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu riêng Hơn nữa, bản thân báocáo tài chính chỉ cung cấp dữ liệu kế toán chứ chưa cung cấp được nhiều thôngtin về tài chính công ty Muốn có thông tin thêm về tình hình tài chính công ty,báo cáo tài chính phải được đưa vào phân tích.

1.3.2 Các tỷ số tài chính

1.3.2.1 Nhóm tỉ số phản ánh tính thanh khoản (Liquidity Ratios)

Các tỉ số thuộc nhóm này được dùng để đo lường khả năng thanh toán các khỏan nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Các tỉ số thuộc nhóm này bao gồm:

Tỉ số thanh toán hiện hành (Current Ratio)

Đây là một trong những nhóm tài chính thường được sử dụng nhất để đolường khả năng thanh toán các khoảng nợ ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn

Tỉ số thanh toán hiện hành =

Nợ ngắn hạn

Trong đó: Tài sản ngắn hạn = Tiền và các khoản tương đương tiền + Các

khoản đầu tư tài chính ngắn hạn + Các khoản phải thu ngắn hạn + Hàng tồn

kho + Tài sản ngắn hạn khác Phần này và Nợ ngắn hạn đều được lấy trong

bảng cân đối kế toán

Tỉ số thanh tóan hiện hành cho chúng ta thấy 1$ nợ ngắn hạn được bảođảm bằng bao nhiêu $ tài sản ngắn hạn

Giá trị của tỉ số này có thể chấp nhận được hay không phụ thuộc vào cácnhân tố :

Ngành nghề doanh nghiệp đang hoạt động, ví dụ đối với công ty hoạt độngtrong ngành phục vụ công cộng, tỉ số thanh toán hiện hành bằng 1 có thể là phùhợp nhưng đối với doanh nghiệp sản xuất, giá trị này báo hiệu những khó khăntrong thanh toán nợ của các doanh nghiệp

Khả năng dự đóan dòng tiền: nếu doanh nghiệp càng có khả năng dự đoánchính xác, tỉ số này càng dễ được chấp nhận ở mức thấp

Tỉ số thanh toán nhanh (Quick ratio)

Thông thường, trong tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho là là lọai tài sảnchuyển đổi thành tiền chậm nhất Vì vậy, công việc đo lường khả năng thanh

Trang 14

toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp mà không cần bán hàng tồn kho là điều cầnthiết.

Khả năng này được thể hiện qua tỉ số thanh tóan nhanh

Khi các tỉ số trong nhóm tỉ số phản ánh tính thanh khoản có giá trị càngcao, công ty càng có khả năng trong việc thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên,

nó cũng phản ánh việc sử dụng ngân quĩ kém hiệu quả vì những lý do:

Tài sản ngắn hạn ngắn hạn thường sinh lợi thấp hơn tài sản cố định nếuđược sử dụng hợp lý Nợ dài hạn thường có chi phí sử dụng cao hơn nợ ngắnhạn

1.3.2.2 Nhóm tỉ số hoạt động ( Activity Ratios)

Nhóm tỉ số hoạt động thường được dùng để đo lường hiệu quả quản lý và

sử dụng tài sản của doanh nghiệp Các tỉ số này giúp doanh nghiệp xem xét vấn đề : “Từng loại tài sản hiện nay có phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp hay không ” Bởi vì nếu tài sản của doanh nghiệp thừa, sử dụng kém hiệu quả chi phí sử dụng vốn sẽ cao và làm lợi tức giảm Ngược lại, nếu tài sản không đủ cho hoạt động sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị sụt giảm và cũng gây tác động xấu đến thu nhập trong tương lai.

Tỉ số vòng quay hàng tồn kho (Iventory Turnover)

Tỉ số này được dùng để đo lường tính thanh khỏan của hàng tồn kho vàđược tính như sau:

Trang 15

Giávốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho =

Trong đó: Giá vốn hàng bán, doanh thu thuần được lấy trên bảng báo cáo

kết quả hoạt động kinh doanh Còn hàng tồn kho bq được lấy trong bảng cânđối kế toán Hàng tồn kho bình quân được tính bằng phương pháp bình quân sốhọc của hàng tồn kho đầu kỳ và hàng tồn kho cuối kỳ

Khi chúng ta so sánh tỉ số vòng quay hàng tồn kho của một doanh nghiệpvới các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc với chính doanh nghiệp ấy nhữngnăm trước, tỉ số này trở nên rất hữu ích Vòng quay cuả hàng tồn kho “cao haythấp thì phù hợp ” tùy thuộc vào ngành kinh doanh Ví dụ, nếu một công tykinh doanh trong ngành bán rau quả, thực phẩm thì vòng quay của hàng tồnkho phải thấp Nhưng giá trị này phải lớn nếu công ty đó kinh doanh trongngành sản xuất rượu nho vì ngành này cần thời gian dài để rượu có thể lên men.Cũng rất có ích khi tính tỉ số này cho mỗi thành phần chủ yếu trong hàngtồn kho nó giúp doanh nghiệp điều chỉnh kịp thời sự mất cân bằng (quá thừahay thiếu ) của các thành phần đó

Từ tỉ số vòng quay của hàng tồn kho, chúng ta dễ dàng tính được thời gian tồn kho bình quân (average age of inventory) bằng cách lấy số ngày trong năm (360 ngày) chia cho vòng quay hàng tồn kho.

Kỳ thu tiền bình quân (Average collection period)

Kỳ thu tiền bình quân là một tỉ số rất hữu ích trong việc đánh giá chính

sách tín dụng thương mại cũng như chính sách thu nợ của một doanh nghiệp vàđược tính như sau:

Trang 16

Khoản phải thu x 360

Kỳ thu tiền bình quân =

Doanh thu thuần

Trong đó: Các khoản phải thu và doanh thu thuần được lấy từ bảng cân

đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh

Tỉ số này được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp trong ngành hoặccác điều khoản trong chính sách tín dụng của doanh nghiệp đó Ví dụ, chínhsách tín dụng của một công ty cho khách hàng nợ 30 ngày kể từ ngày muahàng Nhưng trên thực tế, kỳ thu nợ bình quân là 50 ngày Nó cho thấy một sốlớn khách hàng không thanh toán đúng hạn, gây ra những thiệt hại trong thunhập của công ty ( công ty có thể đầu tư nơi khác để kiếm lãi ) Ngòai ra, 1 sựchậm trể trong thanh toán có thể là dấu hiệu khách hàng đang gặp khó khăn vềtài chính Vì vậy, nếu kỳ thu tiền bình quân có khuynh hướng gia tăng trongkhi chính sách của doanh nghiệp không thay đổi, doanh nghiệp cần thực hiệnngay những hành động nhằm thu hồi công nợ

Kỳ thanh tóan bình quân ( Averrage Payable Period)

Đứng ở giác độ nhà đầu tư, bao giờ chúng ta cũng muốn biết thông số “ kỳ

thanh tóan bình quân” của khách hàng, nhất là đối với những khách hàng mới,

tỉ số này được tính như sau :

Trang 17

Khi các thông tin về giá trị hàng mua trong không có sẵn, người ta thườngdùng “giá vốn hàng bán” cho mẫu số của tỉ số này hoặc ước tính giá trị hàngmua trong năm theo một tỉ lệ với giá vốn hàng bán (tùy trường hợp mà chọn tỉ

lệ cho thích hợp, ví dụ : 1 doanh nghiệp sản xuất có chi phí khấu hao tài sản cốđịnh chiếm một tỉ trọng lớn trong giá vốn hàng bán thì tỉ lệ được chọn để tínhtoán phải thấp)

Số liệu này rất có giá trị khi dùng để đánh giá khả năng khách hàng cóthanh tóan đúng hạn không ? Ví dụ, một công ty có chính sách tín dụng chokhách hàng nợ 30 ngày từ ngày giao hàng Công ty này khó có thể chấp nhậnbán hàng trả chậm cho một công ty có kỳ thanh toán bình quân khoảng 70ngày

Vòng quay của tài sản cố định ( Fixed Asset Turnover)

Vòng quay là tài sản cố định là tỉ số dùng để đo lường hiệu suất sử dụng tàisản cố định của 1 doanh nghiệp Tỉ số này được tính như sau :

Doanh thu thuần

Vòng quay TSCĐ =

Giá trị thuần của TSCĐ

Trong đó: Doanh thu thuần chúng ta lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh

doanh, còn giá trị thuần của tài sản cố định = tổng tài sản cố định – khấu haolũy kế của TSCĐ, các giá trị này chúng ta lấy từ bảng cân đối kế toán

Một vấn đề cần quan tâm khi phân tích vòng quay tài sản cố định là tài sản

cố định được ghi chép theo giá quá khứ và lạm phát làm cho giá trị nhiều tàisản cố định được phán ánh trong sổ sách kế toán dưới giá trị thực Vì vậy, nếuchúng ta so sánh tỉ số này giữa hai doanh nghiệp, 1 doanh nghiệp có lượng tàisản được mua sắm cách đây nhiều năm và một doanh nghiệp có có lượng tàisản cố đinh vừa mới được mua sắm nó sẽ có khuynh hướng cao hơn nhiều ởdoanh nghiệp “có lượng tài sản cố định cũ” so với doanh nghiệp còn lại

Vì vậy đây là điểm chúng ta cần phải cẩn trọng khi thực hiện phân tíchchéo Ngoài ra tỉ số này quá thấp hoặc quá cao so với số liệu bình quân ngành

Trang 18

cũng đòi hỏi 1 sự tìm hiểu kỹ, bởi vì nhiều khi doanh nghiệp dầu tư thừa về tàisản cố định, chi phí sử dụng vốn sẽ rất lớn làm doanh nghiệp giảm sức cạnhtranh Ngược lại, nếu đầu tư vốn không đủ sự thiệt hại trong tương lai (mấtkhách hàng tiềm năng, chi phí phát sinh do đình trệ sản xuất) sẽ không tránhkhỏi.

Vòng quay tổng tài sản ( Total Asset Turnover)

Vòng quay của tổng tài sản được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng tổngtài sản thuần của doanh nghiệp Nó đựoc tính như sau:

Doanh thu thuần Vòng quay tổng TS =

Tổng TS thuần Trong đó: Tổng tài sản thuần bằng tổng tài sản trừ đi khấu hao lũy kế của

tài sản cố định, giá trị này được lấy từ bảng cân đối kế toán, còn doanh thuthuần được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Vòng quay này cũng nên được so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùngmột ngành bởi vì nó biến động rất nhiều giữa các ngành Ví dụ, vòng quay tổngtài sản của những ngành công nghiệp nặng đòi hỏi vốn lớn như luyện kim, sảnxuất ô tô có thể chỉ bằng 1, nhưng lại có thể tới chục lần trong ngành bán lẽ.Đồng thời nó còn bị tác động bởi phương thức thuê tài sản Đối với nhữngdoanh nghiệp thuê tài sản theo phương thức thuê hoạt động, tỉ số này cókhuynh hướng cao hơn so với những doanh nghiệp thuê tài sản theo phươngthức thuê tài chính

Hơn nữa, cũng giống như lúc phân tích vòng quay tài sản cố định, cần chú

ý nếu giá trị của tỉ số này nếu nó quá chênh lệch so với số liệu bình quân củangành

Vòng quay vốn chủ sở hữu (Equity Turnover)

Một trong những tỉ số hữu dụng được được dùng trong việc đánh giá hiệuquả hoạt động của các doanh nghiệp là vòng quay vốn chủ sở hữu Nó đượctính như sau :

Trang 19

Doanh thu thuần Vòng quay VCSH =

Vốn chủ sở hữu Trong đó: Vốn chủ sở hữu bao gồm cổ phần ưu đãi, cổ phần thường, thặng

dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại

So với vòng quay tổng tài sản, tỉ số này khác ở chỗ nợ ngắn và dài hạn đãđược loại ra khỏi mẫu số Bởi vậy khi phân tích mẫu số này, ta cần lưu ý đếncấu trúc vốn của doanh nghiệp, bởi vì nó có thể tăng lên đơn giản bằng cáchtăng tỉ lệ nguồn tài trợ nợ

1.3.2.3 Nhóm tỉ số tài chính ( Financial Leverage Ratios)

Mức độ một doanh nghiệp sử dụng vốn vay ( còn gọi là đòn bẩy tài chính )

có các ý nghĩa sau sau :

Bằng cách đáp ứng nhu cầu về ngân quỹ thông qua vốn vay, các cổ đôngvẫn duy trì được quyền kiểm soát công ty mà không cần đầu tư thêm

Các chủ nợ xem vốn cổ phần như một khoản biên an tòan Nếu vồn cổ phầnchỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng nguồn tài trợ, rủi ro của doanh nghiệpchủ yếu do các chủ nợ gánh chịu

Nếu tỉ suất sinh lợi trên tài sản của doanh nghiệp lớn hơn tỉ suất đi vay, tỉsuất sinh lợi trên vốn cổ phần sẽ được tăng lên

Đòn bẩy tài chính đem đến cho các doanh nghiệp sử dụng nợ với tỉ trọngcao trong tổng nguồn vốn cơ hội để khuyếch đại ROE khi điều kiện thuận lợixảy ra nhưng nó cũng mang lại cho doanh nghiệp này nhiều rủi ro trong điềukiện xấu Vì vậy, việc chọn lựa chọn một tỉ lệ nợ cho phù hợp với doanhnghiệp trong từng điều kiện cụ thể là điều rất quan trọng

Tỉ số nợ trên tài sản( Debt to asset ratio)

Tỉ số này được dùng để đo lường tỉ lệ của tài sản được tài trợ bằng nợ vay

Tỉ số này được tính như sau:

Tổng nợ

Tỉ số nợ =

Tổng tài sản

Trang 20

Trong đó: Tổng nợ bao gồm = Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn , tổng tài sản =

Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn, các giá trị này được lấy từ bảng cân đối kếtoán

Nếu chúng ta so sánh tỉ số nợ giữa những doanh nghiệp cùng một ngành, ta

sẽ thu được nhiều thông tin hữu ích Ví dụ, đòn bẫy tài chính có phù hợp vớirủi ro kinh doanh của ngành hay không, mức độ nợ của doanh nghiêp có thểvay thêm hay giảm bớt

Tài sản dài hạn trên vốn cổ phần(Long termdebt to Equity)

Tỉ số này cho ta thấy mối quan hệ giữa nợ dài hạn và vốn cổ phần Tỉ số vàthường được dùng để đo lường mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của mộtdoanh nghiệp

Nợ dài hạn

Tỉ số nợ dài hạn trên VCSH =

Vốn CSH

Trong đó: Các già trị này ta đều lấy ra từ bảng cân đối kế toán.

Thông thường, các doanh nghiệp sở hữu nhiều tài sản cố định, hoặc tạo rađược những dòng tiền ổn định thường sử dụng đòn bẩy tài chính với mức độcao, trong khi các doanh nghiệp ít đầu tư vào tài sản cố định, hoặc tạo ra nhữngdòng tiền không ổn định sẽ có khuynh hướng sử dụng đòn bẩy tài chính ở mứcthấp

Có hai điểm chúng ta cần quan tâm khi phân tích các tỉ số nợ:

Nếu doanh nghiệp thường sử dụng vốn vay ngắn hạn để tài trợ các dự ándài hạn, tử số của những tỉ số nợ trên là tổng nợ hoặc tổng nợ phải trả lãi ( baogồm vay ngắn và dài hạn) để phản ánh đúng mức độ đòn bẩy tài chính doanhnghiệp đang sử dụng

Đôi khi sẽ rất hữu ích nếu sử dụng giá trị thị trường để tính các tỉ số nợthay vì giá trị sổ sách

Giá thị trường của tổng nợ

Tỉ số tổng nợ trên tổng vốn cổ phần =

Trang 21

Khả năng thanh tóan lãi vay (Times interest - earned)

Tỉ số này được xác định bằng cách lấy thu nhập trước lãi và thuế (EBIT)chia cho lãi vay

EBIT

Khả năng thanh toán lãi vay =

Lãi vay

Trong đó: EBIT và Lãi vay được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh.

Khả năng thanh toán lãi vay được dùng để đo lường mức độ thu nhậptrước lãi và thuế của doanh nghiệp có thể suy giảm trước khi doanh nghiệpkhông đủ khả năng trả các khoản lãi vay Vì vậy, tỉ số này càng cao, khả năngthanh toán lãi vay càng lớn Tuy nhiên, EBIT của doanh nghiệp rất dễ biếnđộng và suy giảm mạnh nếu gặp lúc suy thoái kinh tế kết quả là 2 doanhnghiệp có thể có tỉ số này tương đương nhau, lại được các nhà phân tích đánhgiá về mức độ rủi ra khác nhau

Khả năng thanh toán các chi phí cố định (Total Fixed charge coverages)

Tỉ số này được dùng để đo lường khả năng thanh toán các chi phí cố địnhnhư lãi vay, chi phí thuê tài sản, cổ tức của cổ phần ưu đãi

Khả năng thanh EBIT + chi phí thuê tài sản

toán các khoản định phí =

Lãi vay +CP thuê tài sản +[cổ tức cổ phần ưu đãi / (1-t)]

Trong đó: t : là thuế suất thuế thu nhập của doanh nghiệp.

Phép toán : [(cổ tức cổ phần ưu đãi )/(1-t)] được thực hiện nhằm mục đích

điều chỉnh số cổ tức này về trước thuế để phù hợp với các khỏan mục còn lạitrong công thức

Tỉ số này đo lường rủi ro cho cả những người chủ nợ lẫn cổ đông, vì nếudoanh nghiệp không đủ khả năng chi trả cho các khoản định phí, nó có thể lâmvào tình trạng phá sản Tỉ số này càng cao, rủi ro càng thấp và ngược lại

1.3.2.4 Tỉ số phản ánh khả năng sinh lợi (Profitability Ratios)

Trang 22

Nhóm tỉ số phản ánh khả năng sinh lợi bao gồm những tỉ số đo lường thu nhập của doanh nghiệp trong mối tương quan với doanh thu, tài sản , vốn cổ phần.

Đối với những tỉ số đo lường khả năng sinh lợi tương quan với doanh thu, một công cụ phổ biến và hữu hiệu thường được sử dụng là bảng báo cáo thu nhập được chuẩn hóa theo số phần trăm (common – size income statement) Trên báo cáo này, mỗi chi tiết được tính bằng 1 con số phần trăm (%) trên doanh thu Vì vậy các nhà quản trị dễ dàng và nhanh chóng hơn khi nghiên cứu khuynh hướng biến động của chi phí, thu nhập và so sánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp qua những năm khác nhau.

Tỉ số lãi gộp trên doanh thu (Gross profit margin)

Tỉ số này dùng để đo lường % lãi gộp trên 1$ doanh thu ( Lãi gộp = doanhthu thuần – giá vốn hàng bán) nó được tính như sau:

Lãi gộp Lãi gộp trên doanh thu =

Doanh thu thuần

Khi so sánh tỉ số này giữa các doanh nghiệp cùng ngành tại cùng một thờiđiểm hay với chính doanh nghiệp đó qua từng thời kỳ khác nhau ta sẽ thu đượcrất nhiều thông tin hữu ích Cần chú ý đi sâu và phân tích nếu giá trị tỉ số quáthấp so với số bình quân của ngành

Tỉ số lãi hoạt động trên doanh thu (Operating Profit margin)

Tỉ số lãi hoạt động được dùng để đo lường phần trăm lãi trên doanh thuthuần sau khi đã trừ mọi chi phí hoạt động (chưa kể đến lãi vay và thuế thunhập )

EBIT Lãi hoạt động trên doanh thu =

Doanh thu thuần

Tỉ số này khi được so sánh với tỉ số bình quân của ngành hoặc với chínhdoanh nghiệp qua từng thời kỳ cũng cung cấp cho nhà phân tích tài chính nhiềuthông tin có giá trị Từ đó, họ sẽ đưa ra được những quyết định đúng đắn Đôikhi các nhà phân tích tài chính thích cộng thêm khấu hao vào EBIT để tính thunhập trước lãi, thuế và chi phí khấu hao của doanh nghiệp (EBITDA) điều nàythích hợp khi phân tích hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất với chi phíkhấu hao lớn

Trang 23

Tỉ số lãi thuần trên doanh thu ( Net Profit Margin)

Tỉ số này cho ta thấy phần trăm lãi thuần trên doanh thu sau khi đã trừ hếtcác chi phí (bao gồm lãi vay và thuế)

Lãi thuần sau thuế Lãi thuần trên doanh thu =

Doanh thu thuần

Các tỉ số khả năng sinh lợi nên được tính toán dựa trên doanh thu và thunhập của những khu vực còn tiếp tục hoạt động trong doanh nghiệp bởi vì cácnhà phân tích luôn tìm kiếm những thông tin hữu ích để giúp họ đưa ra nhữngthông tin dự báo về doanh nghiệp Số liệu của những khu vực đã ngưng hoạtđộng sẽ không thích hợp cho qúa trình phân tích

Tỉ số lãi trên tổng số tài sản (Return on Assets - ROA)

Tỉ số lãi trên tổng tài sản được dùng để đo lường một cách tổng quát hiệuquả sử dụng tài sản trong qúa trình tạo ra thu nhập của doanh nghiệp

Lãi thuần sau thuế Lãi trên tổng tài sản =

o Điều chỉnh tài sản không hoạt động

o Điều chỉnh tài sản vô hình

o Điều chỉnh khấu hao tích lũy

Chúng ta cần so sánh tỉ số của doanh nghiệp với tỉ số bình quân của ngành để

có nhận xét hợp lý Nếu nó quá thấp, cần phân tích kỹ những nhân tố tác động

để tìm ra giải pháp khắc phục

Lãi trên vốn cổ phần ( Return equity – ROE)

Tỉ số lãi trên vốn cổ phần được dùng để đo lường lãi suất thu được khi các

cổ đông (bao gồm cả cổ đông giữ cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi) đầu tưvào doanh nghiệp Đây là một trong những quan tâm lớn nhất đối với các cổđông của công ty

Lãi sau thuế Lãi trên vốn cổ phần =

Trang 24

Trong trường hợp nếu bạn chỉ muốn tính lãi trên vốn cổ phần đối với cổ đôngthường công thức tính như sau:

(lãi sau thuế - cổ tức cổ phiếu ưu đãi ) Lãi trên cổ phần thường =

vốn cổ phần thường

Lãi trên tổng vốn( Return on total capital – ROTC)

Tỉ số này cho thấy cứ 1$ vốn đầu tư vào doanh nghiệp sẽ sinh ra bao nhiêu

$ lãi Nó được tính như sau:

Lãi thuần sau thuế + Lãi vay Lãi trên tổng vốn =

Tổng nguồn vốn

Chúng ta cũng nên phân tích sâu hơn nếu tỉ số của doanh nghiệp quá thấp

so với ngành Đồng thời, nếu doanh nghiệp phần lớn sử dụng các tài sản cốđịnh dưới hình thức thuê hoạt động, giá trị hiện tại (PV) của những tài sản nàynên được bổ sung vào bảng cân đối kế toán ( Bên nợ: tài sản cố định, bên có:

nợ dài hạn) để kết quả phân tích được chính xác hơn

1.2.2. 5 Chỉ số chứng khoán:

Các nhà đầu tư cổ phần đặc biệt quan tâm đến các giá trị có ảnh hưởngmạnh đến giá thị trường của cổ phần như:

Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS)

Số liệu về thu nhập trên vốn cổ phần EPS được sử dụng rộng rãi trong khiđánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lợi của một công ty.Thu nhập mỗi cổ phần là một yếu tố quan trọng nhất, quyết định giá trị của cổphần bởi vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay nóicách khác nó là thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần Công thứcchung:

Lãi cơ bản trên cổ phiếu =( Lợi nhuận (lỗ) phân bổ cho cổ đông sở hữu

cổ phiếu phổ thông)/( Số bình quân gia quyền của cổ phiếu đang lưu hành trong kỳ).

Doanh nghiệp cần lưu ý phân biệt giữa số lượng cổ phiếu đang lưu hành,

số cổ phiếu được phát hành và cổ phiếu được phép niêm yết Số lượng cổ phiếu

Trang 25

là số cổ phiếu thực tế đang nắm giữ bởi các cổ đông (kể cả các cổ đông bị hạnchế giao dịch như cổ đông nhà nước, cổ đông sáng lập, thành viên HĐQT, )

và không bao gồm số cổ phiếu do chính doanh nghiệp nắm giữ (cổ phiếu quỹ)hoặc được phép phát hành nhưng chưa phát hành

Trong thực tế có nhiều trường hợp có thể gây biến động tới số lượng cổphiếu đang lưu hành và do vậy P/E sẽ thay đổi, và do đó chúng ta phải điềuchỉnh lại số cổ phiếu thường đang lưu hành

- Trường hợp công ty thực hiện mua lại cổ phiếu trên thị trường làm

cổ phiếu quỹ/ bán cổ phiếu quỹ: ngày ghi nhận số cổ phiếu lưu hành giảm/

tăng thêm là ngày kết thúc đợt mua/ bán đó

Số lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm được tính như sau:

Số lượng cổ phiếu bình quân lưu hành trong kỳ =[(Số cổ phiếu đầu

kỳ)x(Số ngày từ đầu kỳ đến khi kết thúc đợt mua/ bán CPQ) +( Số cổ phiếu lưuhành sau khi thực hiện mua/ bán CPQ)x(Số ngày từ khi kết thúc đợt mua/ bánCPQ cho đến cuối kỳ)]/ Tổng số ngày trong kỳ

- Trường hợp công ty thực hiện phát hành riêng lẻ cho đối tác chiến lược/ cán bộ công nhân viên: ngày ghi nhận số cổ phiếu lưu hành tăng thêm là

ngày lượng cổ phiếu này chính thức được giao dịch trên TTGDCK

Số lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong năm được tính như sau:

Số lượng cổ phiếu bình quânlưu hành trong kỳ =[(Số cổ phiếu đầu kỳ) x

(Số ngày từ đầu kỳ đến khi cổ phiếu phát hành riêng lẻ được chính thức giaodịch) + (Số cổ phiếu lưu hành sau khi thực hiện phát hành riêng lẻ) x (Số ngày

từ khi cổ phiếu phát hành riêng lẻ được giao dịch cho đến cuối kỳ)]/ Tổng sốngày trong kỳ

Trường hợp trả cổ tức bằng cổ phiếu/ cổ phiếu thưởng: số cổ phiếu lưu

hành trong kỳ được điều chỉnh qua 2 giai đoạn:

+ Điều chỉnh hồi tố: tất cả các sự kiện xảy ra trước ngày giao dịch không

hưởng quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu/ cổ phiếu thưởng (XR) phải được điềuchỉnh theo hệ số tương ứng với tỷ lệ trả cổ tức hoặc thưởng cổ phiếu

Trang 26

Hệ số điều chỉnh = (Tổng số lượng cổ phiếu sau khi trả cổ tức/ thưởng cổ

phiếu)/( Tổng số lượng cổ phiếu trước khi trả cổ tức/ thưởng cổ phiếu)

+ Điều chỉnh tăng số lượng cổ phiếu: số lượng cổ phiếu tăng thêm do trả

cổ tức/ cổ phiếu thưởng được cộng vào số cổ phiếu lưu hành kể từ ngày lượng

cổ phiếu này chính thức được giao dịch

- Trường hợp phát hành quyền mua cổ phiếu với giá ưu đãi cho cổ đông hiện hữu: số cổ phiếu lưu hành trong kỳ được điều chỉnh qua 2 giai

Hệ số giá = (Giá đóng cửa của ngày giao dịch trước ngày XR – cổ tức tiềnmặt (nếu có))/( Giá tham chiếu của ngày XR)

Giá tham chiếu ngày XR = (Giá đóng cửa trước ngày XR x KL cổ phiếuđược nhận quyền mua + Giá phát hành x KL cổ phiếu phát hành thêm)/( Tổngkhối lượng cổ phiếu sau khi phát hành)

+ Điều chỉnh tăng số lượng cổ phiếu: số lượng cổ phiếu tăng thêm do cổ

đông hiện hữu thực hiện quyền mua được cộng vào số cổ phiếu lưu hành kể từngày lượng cổ phiếu này chính thức được giao dịch

Trường hợp việc phát hành quyền được thực hiện kéo dài trong 2 năm (chốtngày hưởng quyền trong năm trước và lượng cổ phiếu phát hành thêm chínhthức giao dịch vào năm sau): số lượng cổ phiếu lưu hành đầu kỳ của năm saucũng phải được điều chỉnh cho hệ số giá như trên

Trường hợp tách/ gộp cổ phiếu: ngày ghi nhận cổ phiếu lưu hành tăng/

giảm là ngày cổ phiếu được giao dịch trở lại sau khi tách/ gộp Tất cả các sự

Trang 27

Tỷ lệ tách/ gộp cổ phiếu =( Số lượng cổ phiếu sau khi tách/ gộp) x (Số

lượng cổ phiếu trước khi tách/ gộp)

Cổ tức một cổ phiếu thường DPS

Thuật ngữ cổ tức dùng để chỉ việc phân phối lợi nhuận kiếm được từ hoạtđộng của công ty Còn việc phân phối các nguồn lợi khác không phải lợi nhuậnhoạt động thường được gọi là phân phối lợi nhuận thay vì gọi là cổ tức

Trên thực tế không có những quy định pháp lý nào bắt buộc các công ty cổphần phải trả cố tức cho cổ đông của mình Việc chi trả cổ tức, mức cổ tức cụthể, thời hạn chi trả cổ tức và hình thức chi trả cổ tức đều do Đại hội đồng cổđông quyết định dựa trên cơ sỏ lợi nhuận sau thuế, thu được từ hoạt động kinhdoanh trong năm tài chính sau khi đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và tài chínhkhác theo quy định của pháp luật hiện hành

Công ty thường trả trả cổ tức bằng tiền mặt, cổ phiếu, nhưng thỉnh thoảng

có thể trả bằng tài sản khác Thông thường khi công ty cổ phần có sở hữuchứng khoán trong các công ty khác thì công ty đó có thể phân phối số chứngkhoán này cho cổ đông của mình như một hình thức trả cổ tức bằng tài sản tàichính hoặc cũng có thể phân phối cổ tức bằng các sản phầm tài chính của chínhcông ty Việc trả cố tức như vậy phụ thuộc vào chính sách tài chính của công

ty, thể hiện là chính sách tài trợ nhằm đem lại nhiều cơ hội cho nhà đầu tư.Nhưng khi trả cổ tức hoàn toàn bằng tiền mặt thấy rằng đồng tiền mặt được sửdụng chưa hiệu quả

Ví dụ về việc chi trả cổ tức của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

Năm

Cổ tứcBằng tiền mặt (% trên mệnh giá) Bằng cổ phiếu (%

trên số lượng)

Cổ tức một cổ phiếu thường được tính theo công thức sau:

Cổ tức một cổ phiếu thường =( LNST – Cổ tức CPƯĐ –LNGL)/ SốCPTĐLH

Tỷ lệ chia cổ tức = cổ tức một cổ phiếu thường/lợi nhuận một cổ phiếuthường

Trang 28

Tỷ lệ chi trả cổ tức nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổ đônghay giữa lại để tái đầu tư Đây là nhân tố quyết định đến giá thị trường củacông ty, và thể hiện bản chất của chính sách cổ tức, và nó tác động đến bảnthân công ty trên nhiều khí cạnh – tài sản, hoạt động đầu tư và các yếu tố khác.

Tỷ lệ tăng trưởng cổ tức = ROE * (1- tỷ lệ chi trả cổ tức)

Tỷ lệ tăng trưởng cổ tức này thể hiện rằng việc chia trả ành hưởng như thếnào đến tỷ lệ tăng trường năm tới, nếu đem so sành với thời gian tăng trưởngcủa cổ tức thì sẽ giúp nhà đầu tư có cái nhiền sâu sắc về chính sách cổ tức củacông ty

Khi công ty không chi trả cổ tức, hoặc chia ít và giữ lại phần lớn lợi nhuậnròng thì điều đó không nhất thiết có nghĩa công ty đang “không làm lợi gì cho

cổ đông”, và ngược lại, khi công ty tăng tỷ lệ chi trả cổ tức thì điều đó cũng cónghĩa là công ty đang làm lợi cho cổ đông Số thu nhập giữ lại không bao giờlàm lợi cho cổ đông, xét về phương diện làm tăng giá trị cổ phần Nó phụ thuộcthu nhập giữ lại đó được sử dụng vào việc gì, và hiệu suất ấy cao đến mức nào.Đối với các công ty niêm yết đang đứng trước 2 sự lựa chọn sau:

 Giữ lại lợi nhuận và chỉ chi cổ tức khi nhu cầu vốn đầu tư được đáp ứng

 Chi cổ cổ tức cao và phát hành cổ phiếu đề tài trợ cho các dự án mới

Cả hai cổ tức giá cổ phiếu biến động và ành hưởng tới giá cổ phiếu, còncách hai thì chi phí phát hành cao làm giảm giá trị của công ty Nếu xét trongngắn hạn thì chia cổ tức cao có nhiều lợi điểm Chính sách cổ tức phù hợp vớicác công ty niêm yết là “cổ tức tiền mặt ổn định ở mức vừa phải trong ngắnhạn, và trong dài hạn cổ tức là phần còn lại sau khi tài trợ cho các dự án có tỷsuất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lời của lợi nhuận giữ lại” Là nhà đầu tư thìphụ thuộc vào thời gian năm giữ cổ phiếu, chiến lược đầu tư để đánh giá cổphiếu có chi trả hợp lý với chiến lược của mình để đảm bảo thu nhập hiện tại và

xu hướng trong tương lai của cổ phiếu Ví dụ tỷ lệ chia trả cổ tức Ngân hàngthưong mại cổ phấn Á Châu

Ngày đăng: 27/03/2013, 15:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1Qquy mô niêm y t sàn Hà N i ết sàn Hà Nội ội - Các tiêu chí tài chính để chọn mã chứng khoán trên sàn giao dịch TP. HCM
Bảng 2.1 Qquy mô niêm y t sàn Hà N i ết sàn Hà Nội ội (Trang 31)
Bảng chỉ số tài chính cơ bản trên thi tỷ lệ an toán vốn của Sacombank dang - Các tiêu chí tài chính để chọn mã chứng khoán trên sàn giao dịch TP. HCM
Bảng ch ỉ số tài chính cơ bản trên thi tỷ lệ an toán vốn của Sacombank dang (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w