Xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa đến năm 2015
Trang 1MỞ ĐẦU
1 lý do chọn đề tài
Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường ngày nay, môi trường kinh doanh rộng lớn, môi trường cạnh tranh cũng trở nên khốc liệt hơn, với nhiều cơ hội để phát triển doanh nghiệp
Những khó khăn mà nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt trong năm
2009 là không nhỏ Mức độ ấy có thể gây thiệt hại lớn hơn so với chúng ta nghĩ nếu các nhà quản lý, hoạch định không đi sâu phân tích những tác động, hậu quả để tìm ra giải pháp [15]
Tại Diễn đàn doanh nghiệp lớn và triển vọng kinh tế Việt Nam 2009, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan nhận định: “Tôi thấy trong kinh tế vĩ mô, chúng ta chưa đi sâu phân tích các vấn đề, chưa nhận thức đủ mức tác động tới nền kinh tế trong nước, do đó sẽ khó ứng phó với những biến động khi xảy
ra Đối với doanh nghiệp thì lại càng khó khăn hơn vì họ khó dự báo được tình hình ở tầm vĩ mô” [9] và trong giai đoạn hiện nay là giai đoạn nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi, Trong 6 tháng đầu năm vừa qua Việc thoát đáy (trong quý I) đã được khẳng định và nền kinh tế đang có những tín hiệu phục hồi tích cực được thể hiện trên nhiều mặt Một số chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá và nhanh, duy trì tháng sau cao so với tháng trước, quý sau cao hơn so với quý trước
Cụ thể: nếu quý I, GDP chỉ tăng 3,14 % thì quý II tăng 4,46%, quý III tăng 5,76% [9]
Điều này vừa tạo cơ hội phát triển kinh doanh đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ tiềm tàng đe dọa đến sự phát triển của doanh nghiệp
Với điều kiện thị trường có nhiều biến động như hiện nay không kể đến những yếu tố ngẫu nhiên thì vấn đề quyết định ảnh hưởng đến thành công của doanh nghiệp là lựa chọn hướng đi đúng, xác định, xây dựng một chiến lựơc phát triển doanh nghiệp một cách hợp lý và kịp thời
Trang 2Từ khi thành lập (2007) đến nay dưới sự quản lý, điều hành của ban giám đốc của công ty, Công ty TNHH thiết kế Thăng Hoa được biết đến qua các sản phẩm tranh thư pháp chữ việt và thiết kế, với sự thay đổi và phát triển nền kinh tế đến nay cũng có nhiều đơn vị tham gia vào lĩnh vực này, do đó đòi hỏi công ty phải nổ lực hơn nữa để đứng vững trên thị trường
Với môi trường kinh doanh ngày càng khó khăn và cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh phù hợp, với nhận thực về tầm quan trọng của việc xây dựng một chiến lược phát triển công ty
và mong muốn góp phần vào sự phát triển công ty tôi chọn đề tài “Xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa đến năm 2015”
nhằm đưa kiến thức lý luận vào thực tiễn kinh doanh, để làm bài báo cáo
2 Mục đích đề tài
Nhiệm vụ của đề tài là thực hiện một số mục đích cụ thể như sau
¾ Tìm hiểu về lịch sử phát triển tranh thư pháp của một số nước có nền thư pháp lâu đời
¾ Đánh giá rõ thực trạng của công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa
¾ Xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa trong lĩnh vực tranh thư pháp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa
Phạm vi nghiên cứu: địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh và Miền đông Nam bộ, tập trung phân tích thực trạng giai đoạn 2007 đến 2008 Đề xuất giải pháp và kiến nghị tập trung giai đoạn 2010-2015
4 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan
Tình hình nghiên cứu trong nước: Trong nước hiện có Viện Nghiên
Cứu Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, và các bộ ngành cũng thực hiện
Trang 3các công trình nghiên cứu chiến lược phát triển, các đề tài, dự án chiến lược phát triển
Tổng cục du lịch Việt Nam: “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến 2030” được tập trung vào các vấn đề: Xây dựng sản phẩm du lịch, tuyên truyền quảng bá, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, hợp tác và hội nhập quốc tế, phát triển tổ chức lãnh thổ về du lịch [10]
Từ nay đến cuối năm 2009, Tổng cục Du lịch đưa ra 7 nội dung và là mục tiêu hướng đến cần giải quyết Trong đó, chủ động sử dụng kinh phí đã được phân bổ, tăng cường xúc tiến tại thị trường lớn Trung Quốc, lập đề án thành lập kênh truyền hình cáp chuyên về Du lịch, thi sáng tác biểu tượng và khẩu hiệu cho ngành Du lịch giai đoạn 2011 - 2015, tăng cường bầu chọn cho vịnh Hạ Long trở thành 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới [10]
“Dự án xây dựng chiến lược phát triển tài ngành tài nguyên và môi trường”
Mục tiêu: nghiên cứu sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các quan điểm, mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm, các kịch bản phát triển cũng như các giải pháp đột phá của ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2011 - 2020 và xây dựng Chiến lược phát triển ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn
2011 – 2020 (trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt), đồng thời góp phần xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020 [10]
Nhiệm vụ: (1)Phân tích, đánh giá tổng quan việc thực hiện các chiến lược 10 năm (2001-2010), kế hoạch 5 năm (2006-2010) trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường; (2)Nghiên cứu, xây dựng các kịch bản phát triển của ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2011-2020; (3)Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển ngành tài nguyên và môi trường của một số nước trên thế giới; (4)Nhận dạng cơ hội, thách thức và đề xuất các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp phát triển ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2011-2020 và (5)Tổ chức xây dựng Chiến lược phát triển ngành tài
Trang 4nguyên và môi trường 2011-2020 và Kế hoạch phát triển ngành giai đoạn 2011- 2011 [10]
Quyết định Về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm
2020 của thủ tướng chính phủ ký ngày (6/5/2009) [13] gồm có:
Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch văn hoá 5 năm và hàng năm phù hợp với Chiến lược phát triển văn hoá và kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện và định
kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ; tổ chức sơ kết việc thực hiện Chiến lược này vào năm 2015 và tổng kết vào đầu năm 2021 [13]
Tổ chức các hình thức thích hợp để học sinh, sinh viên nâng cao kiến thức về lịch sử, văn hoá, nghệ thuật, di sản văn hoá dân tộc, tham quan bảo tàng, di tích lịch sử - văn hoá
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo các ngành và các địa phương đưa kế hoạch phát triển văn hoá vào kế hoạch định kỳ của ngành, địa phương; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch huy động các nguồn tài trợ trong và ngoài nước cho phát triển văn hoá
Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính và cơ chế quản lý tài chính trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật để sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính đầu tư cho văn hoá; xây dựng các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế - xã hội đầu tư cho văn hoá [13]
Xây dựng các chế độ, chính sách đối với cán bộ ngành văn hoá, trí thức, văn nghệ sĩ, đối với các tập thể, cá nhân tham gia xã hội hoá các hoạt động văn hoá
Cũng trong phê duyệt của thủ tướng chính phủ “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010” ký ngày (31/12/2003) chiến lược được phân công cho các ban ngành và bộ thực hiện bao gồm [13]:
Trang 5Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch khoa học và công nghệ 5 năm và hàng năm phù hợp với Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
và kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội
Xây dựng và tổ chức thực hiện cơ chế gắn kết giữa khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo, cơ chế phối hợp giữa các trường đại học với các viện nghiên cứu trong công tác giảng dạy chuyên môn và nghiên cứu khoa học
Huy động các nguồn tài trợ trong và ngoài nước cho phát triển khoa học và công nghệ, đảm bảo nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại, đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm
Xây dựng các chính sách, chế độ đối với cán bộ khoa học và công nghệ; xây dựng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với tổ chức khoa học
và công nghệ
Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính và chế độ quản lý tài chính trong lĩnh vực khoa học và công nghệ để sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính đầu tư cho khoa học và công nghệ [13]
Tình hình nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh: Tại Thành Phố Hồ Chí
Minh có rất nhiều trường cao đẳng, đại học và các trường đó có khá nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến xây dựng và phát triển chiến lược kinh doanh, bên cạnh những luận văn thạc sĩ còn có các đề tài tốt nghiệp liên quan đến vấn
đề xây dựng và phát triển, như đề tài “xây dựng chiến lược kinh doanh cho chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2015”[19]
Hay đề tài “Chiến lược kinh doanh của Xí nghiệp thương mại mặt đất Tân Sơn Nhất đến năm 2015”[5] đề tài đưa ra Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, Phân tích môi trường kinh doanh của Xí nghiệp
Trang 6thương mại mặt đất Tân Sơn Nhất, Chiến lược kinh doanh của Xí nghiệp thương mại mặt đất Tân Sơn Nhất đến năm 2015, cho đến thời điểm hiện tại ở Thành Phố Hồ Chí Minh chưa có một đề tài nào để xây dựng chiến lược phát triển cho công ty TNHH Thăng Hoa, hiện nay trong công ty cũng chưa có một
đề tài nào nghiên cứu có liên quan và đây cũng là một lý do hình thành đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu được lấy từ nhiều nguồn: công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa, sách tham khảo, mạng internet
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài này gồm:
Hệ thống hoá lý luận,tìm hiểu lịch sử phát triển thư pháp của các nước Trung quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của báo cáo
Phân tích đánh giá thực trạng phát triển của công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa
Phân tích môi trường bên trong, bên ngoài, xây dựng ma trận SWOT hình thành ma trận QSPM, tổng hợp các chiến lược và lựa chọn chiến lược thông qua ma trận QSPM
Các phương pháp cụ thể gồm: Phương pháp điều tra, Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Ý nghĩa khoa học đối với kết quả nghiên cứu của luận án này là:
¾ Đánh giá được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Thăng Hoa
¾ Đưa ra những kết luận từ nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động của công ty Thăng Hoa ở địa bàn TP Hồ Chí Minh
Trang 7¾ Xây dựng các quan điểm và kiến nghị một số giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường phát triển công ty TNHH Thăng Hoa tại
TP Hồ Chí Minh bền vững
7 Những đóng góp mới của báo cáo nghiên cứu
Báo cáo tìm hiểu lịch sử phát triển tranh thư pháp của các nước: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
Đánh giá thực trạng hoạt động của công ty trong thời gian vừa qua, và xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa đến năm
2015
8 Kết cấu của báo cáo:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo báo cáo có 63 trang, 2
sơ đồ, 13 bảng và được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Tổng quan về phát triển doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng và xu hướng xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa đến năm 2015
Chương 3 : Xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa đến 2015
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
1.1 Quan Điểm phát triển của doanh nghiệp
1.1.1 Quan điểm về phát triển
Thuật ngữ phát triển được gia nhập và sử dụng tại Việt Nam từ lâu Đến ngày nay thuật ngữ này đều hiểu theo nghĩa của phát triển bền vững Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm phát triển bền vững và quan điểm phát triển bền
vững được xác định: Phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng trưởng quốc phòng -an ninh [2, tr9]
Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về phát triển bền vững Do tác giả chưa thể thống kê đầy đủ nên trong báo cáo này chỉ đề cập đến “phát triển bền vững” theo quan điểm của Ủy ban Brundtland, do Đại hội đồng Liên hiệp quốc lập ra vào năm 1983 Theo đó, phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Như vậy phát triển bền vững là quá trình phát triển dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật
Tại Việt Nam thuật ngữ phát triển bền vững là một thuật ngữ mới Đã
có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, như “Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội [7] “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do Lưu Đức Hải và công sự tiến hành [3] “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam- giai đoạn I” (2003) do Viện môi trường và
Trang 9phát triển bền vững, Hội liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành [8] Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là nghiên cứu khái niệm phát triển bền vững trên bình diện của quốc gia và tham khảo thực tế tại Việt Nam Còn cấp độ nhỏ hơn như địa phương, vùng, miền, ngành hay doanh nghiệp cụ thể thì vẫn chưa làm rõ
Phát triển bền vững đòi hỏi phải phát triển văn hóa, vì đời sống của chúng ta không thể coi là "khá hơn" (theo bất cứ định nghĩa nào, miễn là nhất quán và trung thực) nếu thiếu một nền văn hóa tốt đẹp
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội (tiên khởi là nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu (1930-2002) cho rằng, muốn hiểu văn hóa như một nhân tố trong đời sống kinh tế, và nhất là muốn đánh giá vai trò của nó trong tiến trình phát triển, thì nên nhìn nó như một loại vốn - tương tự như ba loại vốn thường biết khác (Đó là: vốn vật thể, như máy móc, thiết bị; vốn con người, như kỹ năng, kiến thức; và vốn thiên nhiên, gồm những tài nguyên do thiên nhiên cống hiến và môi trường sinh thái) [14]
Thêm một bước, có thể phân biệt hai dạng vốn văn hóa: vật thể và phi vật thể Vốn văn hóa vật thể là gồm những công trình kiến trúc, đèn đài cung miếu, di tích lịch sử, những địa điểm có ý nghĩa văn hóa Loại vốn này cung cấp một luồng dịch vụ có thể hưởng thụ ngay (chẳng hạn như du lịch), hoặc là
"đầu vào" cho sản xuất những sản phẩm và dịch vụ (văn hóa cũng như ngoại văn hóa) trong tương lai Dạng kia, vốn văn hóa phi vật thể, là những tập quán, phong tục, tín ngưỡng, và các giá trị khác của xã hội Loại vốn văn hóa này (cùng những nghệ phẩm công cộng như văn chương và âm nhạc) là một loại dây, một thứ keo gắn kết cộng đồng Nó cũng cung cấp một luồng dịch
vụ có thể hưởng thụ ngay, hoặc dùng để sản xuất những sản phẩm văn hóa trong tương lai [14]
Những nhận xét trên cho thấy một số mối liên hệ giữa văn hóa, kinh tế
và phát triển
Trang 10Một là, giá trị kinh tế có thể tăng lên nhờ giá trị văn hóa Lấy ví dụ một ngôi nhà có tính di tích lịch sử Ngôi nhà ấy có giá trị kinh tế như một kiến trúc (ngụ cư hoặc thương mại), biệt lập với giá trị văn hóa Song nhiều người
sẽ sẵn sàng mua ngôi nhà đó một giá cao hơn giá trị vật thể thuần túy của nó Hầu như mọi loại vốn văn hóa vật thể đều có thể được nghĩ đến như ngôi nhà lịch sử trong ví dụ, tức là chúng bơm tiêm giá trị văn hóa vào giá trị kinh tế của vật thể, làm tăng thêm, có thể gấp nhiều lần, giá trị của vật thể ấy [14]
Hai là, vốn văn hóa giúp ta hiểu sâu hơn về ý niệm tính bền vững của phát triển Đóng góp của nó vào khả năng phát triển dài hạn không khác gì đóng góp của vốn thiên nhiên Vì môi trường sinh thái đóng vai trò thiết yếu cho hầu hết hoạt động sản xuất cũng như tiêu dùng, bỏ bê môi trường đó, khai thác quá đáng tài nguyên sẽ làm giảm năng suất và phúc lợi kinh tế Không bảo tồn vốn văn hóa (để di sản đồi trụy, làm mất bản sắc văn hóa dân tộc) cũng có những hậu quả tai hại như vậy
Hãy nhìn kỹ xem đường lối phát triển hiện tại của ta có hại gì đến văn hóa không? Sự hủy hoại này có thể dễ thấy như sự suy đồi các di tích lịch sử, những cảnh quan thu hút khách du lịch, nhưng nó cũng có thể khó thấy, như
sự suy thoái văn chương, nghệ thuật, ngôn ngữ bản xứ Sự tràn lan của tiếng Anh ngày nay là một thí dụ nổi bật: hiển nhiên sự phổ cập tiếng Anh sẽ có lợi cho thương mại và công nghiệp cần thiết để phát triển, nhưng nó cũng hút đi phần nào sinh lực phát triển của ngôn ngữ và văn chương bản xứ, làm suy giảm vốn văn hóa [14]
Cái nguy hiểm là, trong cuộc chạy đua phát triển, ta quên đi những giá trị văn hóa dân tộc, và đến một lúc nào đó, nhìn lại thì đã mất nó từ lâu Nên nói rõ rằng đây không phải chỉ là bảo tồn văn hóa vì cái hay, cái đẹp của nó, nhưng mà giữ gìn tính kế thừa của văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, bảo tồn vai trò của nó trong những giai đoạn phát triển về sau Không có ó thì
sự phát triển hôm nay chẳng những què quặt, nhưng còn là một phát triển không bền vững
Trang 11Lấy một ví dụ: lối phát triển (trên hầu hết thế giới) hiện nay là nhằm vào tiện nghi, nhưng theo đuổi tiện nghi thường làm mòn đi sự tinh tế thẩm
mỹ ("sao cũng được, miễn là tiện lợi" như nhà phê bình mỹ học Virginia Postrel đã nhận xét) Một khi cảm quan thẩm mỹ bị "tầm tầm hóa" thì tính sáng tạo cũng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực, và không ai có thể nghi ngờ rằng điều này sẽ làm tốc độ phát triển chậm lại Nói khác đi, lối phát triển chỉ nhằm tăng tiện nghi sinh hoạt, bất chấp mỹ quan văn hóa, là không bền vững [14].
Tóm lại Quan điểm của chúng tôi trong báo cáo này về phát triển là phát triển bền vững theo quan điểm của Ủy ban Brundtland
1.1.2 Quan điểm phát triển của doanh nghiệp
Theo tác giả, phát triển các doanh nghiệp là quá trình hoàn thiện về mọi mặt của doanh nghiệp bao gồm: vốn, lao động, công nghệ, thị trường, nguồn nguyên liệu, văn hóa, môi trường, xã hội… trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng lợi nhuận cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn
Để phát triển các doanh nghiệp theo hướng bền vững thi cần xác định đồng thời một số công việc sau:
Về phía các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp cần chú trọng phát triển trên một số mặt như gia tăng lợi nhuận, gia tăng vốn công nghệ, gia tăng vốn nhân lực, gia tăng thị trường, gia tăng chất lượng sản phẩm, gia tăng tính cạnh tranh trên thương trường, ít tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường
Về phía các cơ quan quản lý nhà nước: Các cơ quan quản lý nhà nước chú trọng tạo môi trường cho các doanh nghiệp phát triển như: Quy hoạch thống nhất chiến lược phát triển ngành, phát triển vùng, tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển thượng nguồn, phát triển hạ nguồn
Tóm lại, quan điểm về phát triển các doanh nghiệp trong báo cáo này là phát triển bền vững theo quan điểm của Ủy ban Brundtland
Trang 121.2 Những tác động của môi trường kinh doanh đối với doanh nghiệp
Nguồn: Luận văn tốt nghiệp [4]
Sơ đồ 1 : Môi trường kinh doanh
1.2.1 Tác động của môi trường vĩ mô
Phân tích môi trường vĩ mô giúp các doanh nghiệp trả lời câu hỏi: các
DN đang trực diện với những gì?
Khi xây dựng các giải pháp, các nhà quản trị thường chọn năm yếu tố sau đây của môi trường vĩ mô để nghiên cứu: Các yếu tố kinh tế, yếu tố chính phủ và chính trị, yếu tố xã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ- kỹ thuật [1] Mỗi yếu tố môi trường vĩ mô nói trên có thể ảnh hưởng đến các DN một cách độc lập hoặc trong mối quan hệ với các yếu tố khác
Trang 13Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến các DN là lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ, chính sách thuế quan, tình hình lạm phát, sự tài trợ …
Các yếu tố kinh tế kể trên có thể tạo ra nhiều cơ hội cho các DN phát triển, đồng thời cũng tạo ra nhiều mối đe dọa cho các DN trong tương lai Vừa qua lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam tăng lên rất cao có khi lên đến 21% Bên cạnh đó chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ vì lạm phát trong nước quá cao, đã tạo ra đe dọa rất lớn cho các DN trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình tại Việt Nam, Với chính sách tỉ giá hối đoái theo xu hướng tăng trong thời gian qua,
đã tạo cơ hội cho các DN xuất khẩu phát triển
1.2.1.2 Các yếu tố về chính phủ và chính trị
Các yếu tố chính trị và chính phủ có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các DN Các DN phải tuân thủ theo các qui định về thuê mướn, cho vay, an toàn, vật giá, quảng cáo, nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường …
Các yếu tố chính phủ và chính trị kể trên có thể tạo ra nhiều cơ hội cho các DN phát triển, đồng thời cũng tạo ra nhiều mối đe dọa cho các DN trong tương lai Chính sách ưu đãi thuế thu nhập khi các DN đầu tư vào một số vùng khó khăn về mặt kinh tế và không thuận lợi về mặt địa lý tạo cho doanh nghiệp cơ hội tăng trưởng cho các DN Việc Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 01/2007 đã tạo cơ hội lớn cho các DN phát triển thị trường, trong đó có công ty TNHH Thiết Kế Thăng Hoa
1.2.1.3 Các yếu tố xã hội
Các yếu tố xã hội có thể ảnh hưởng đến các DN như lối sống của cộng đồng dân cư, số lượng phụ nữ trong lực lượng lao động, tỉ lệ gia tăng dân số, mật độ dân cư, tính tôn giáo, tính văn hóa trong tiêu dùng,…
Trang 14Những yếu tố xã hội thường thay đổi hay tiến triển chậm chạp làm cho chúng ta có khi khó nhận ra Khi các yếu tố xã hội thay đổi cũng tạo ra nhiều
cơ hội đồng thời cũng xuất hiện nhiều mối đe dọa cho các DN Dân số Việt Nam đồng, hiện nay trên 85 triệu người, đứng thứ 13 trên thế giới, đã tạo cơ hội lớn cho các DN
1.2.1.4 Các yếu tố tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên có nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của các DN như các loại tài nguyên thiên nhiên, nguồn năng lượng, các loại khoáng sản, các loại vật nuôi, các loại cây trồng, khí hậu
Các yếu tố tự nhiên khi thay đổi cũng làm ảnh hưởng đến các DN trong
đó , tạo ra các cơ hội cũng như những mối đe doạ khi các yếu tố này thay đổi Khí hậu Việt Nam tạo điều kiện rất tốt cho việc chăn nuôi các gia súc để phát triển cho ngành chăn nuôi Điều đó tạo cơ hội tốt cho nhiều DN có nguồn nguyên liệu tốt và ổn định Vùng miền trung Việt Nam là vùng có điều kiện
tự nhiên khắc nghiệt, bão và lũ rất nhiều trong mỗi năm nên việc đầu tư và sản xuất kinh doanh của các DN ở miền Trung sẽ gặp phải nhiều đe doạ rất lớn
1.2.1.5 Các yếu tố kỹ thuật công nghệ
Ít có DN nào lại không phụ thuộc vào cơ sở công nghệ ngày càng hiện đại Sẽ còn có nhiều công nghệ tiên tiến tiếp tục ra đời, tạo ra các cơ hội cũng như những đe dọa đối với tất cả các DN nhất định
Các yếu tố kỹ thuật công nghệ như: mức độ bảo vệ bằng sáng chế, sự tự động hóa, mức độ chuyển giao kỹ thuật công nghệ mới, chỉ tiêu của nhà nước
về nghiên cứu và phát triển kỹ thuật công nghệ, chỉ tiêu của ngành công nghiệp về nghiên cứu và phát triển kỹ thuật công nghệ, mức độ cạnh tranh của các DN về mặt kỹ thuật công nghệ,…
Trang 15Sự phỏt triển cụng nghệ của khoa học mỏy tớnh đó tạo cơ hội lớn cho cỏc DN phỏt triển nhanh trờn thương trường và trong sản xuất Nhiều phầm mềm mỏy tớnh đó ra đời, làm giảm thời gian làm việc, tăng năng suất lao động
1.2.2 Tỏc động của mụi trường vi mụ
Mụi trường vi mụ bao gồm cỏc yếu tố thuộc trong lĩnh vực mà DN đang hoạt động và là cỏc yếu tố ngoại cảnh đối với cỏc DN, quyết định đến tớnh chất và mức độ cạnh tranh của cỏc DN Cú năm yếu tố cơ bản thuộc mụi trường vi mụ là: Đối thủ cạnh tranh, khỏch hàng, người cung cấp, cỏc đối thủ tiềm ẩn và cỏc sản phẩm thay thế [6] Sự hiểu biết cỏc yếu tố thuộc mụ trường
vi mụ giỳp cỏc DN nhận ra được cỏc điểm mạnh, điểm yếu của mỡnh liờn quan đến cỏc cơ hội và cỏc mối đe dọa mà ngành kinh doanh đú gặp phải
Sơ đồ 2 : Mụi trường vi mụ Nguồn : Luận văn tốt nghiệp [4]
Các đối thủ mới tiềm ẩn
năng
ép giá
Khả
năng
ép giá
Nguy cơ
dịch vụ
do sản phẩm thay thế
Trang 161.2.2.1 Các đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về các tổ chức này là rất quan trọng cho mỗi DN với nhiều
lý do khác nhau Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh các DN cần thiết phải chú
ý đến các yếu tố chính như: Mục tiêu tương lai của đối thủ cạnh tranh ở tất cả các cấp quản trị, nhận định của đối thủ cạnh tranh về ngành công nghiệp hiện tại, chiến lược cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh hiện nay và tiềm năng của đối thủ cạnh tranh ở cả mặt mạnh lẫn mặt yếu
1.2.2.2 Các khách hàng
Khách hàng là một phần của DN, khách hàng trung thành là một lợi thế lớn của DN Sự trung thành của khách hàng được tạo dựng bởi sự thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng và mong muốn làm tốt hơn
Thông thường các DN hay thành lập ngân hàng ‘lý lịch’ của khách hàng nhằm thu thập thông tin định hướng tiêu thụ
Một vấn đề khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ Người mua có ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của DN giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn
Người mua có thế mạnh nhiều hơn khi họ có các điều kiện sau đây :
- Lượng hàng người mua chiếm tỉ lệ lớn trong khối lượng hàng hóa bán
Trang 17thương lượng giá bằng cách thay đổi một hoặc nhiều điều kiện nói trên hoặc
là phải tìm khách hàng ít có ưu thế hơn
Các DN cũng cần lập bảng phân loại các khách hàng hiện tại và tương lai Các thông tin thu thập từ bảng phân loại này là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định kế hoạch, nhất là các kế hoạch liên quan trực tiếp đến marketing
1.2.2.3 Các nhà cung cấp
Các DN bao giờ cũng liên kết với nhiều DN cung cấp để được cung cấp những tài nguyên khác nhau như nguyên vật liệu, thiết bị, nguồn lao động, nguồn vốn…, các nhà cung cấp có thể gây một áp lực mạnh trong hoạt động của các DN Cho nên việc nghiên cứu để hiểu biết về những người cung cấp các nguồn lực cho DN là không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu môi trường Các đối tượng cung cấp sau đây cần phải lưu ý :
- Tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị :
Các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị có ưu thế có thể tăng lợi nhuận bằng cách tăng giá bán, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm mức độ dịch vụ
đi kèm Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng cũng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của các người mua sản phẩm Cụ thể là các yếu tố: Số lượng người cung cấp ít, không có mặt hàng thay thế khác hoặc không có các nhà cung cấp nào chào bán các sản phẩm tương tự nhưng có tính khác biệt Nếu người cung cấp có được điều kiện thuận lợi như vậy thì các DN mua hàng cần cải thiện vị thế của mình bằng cách tác động đến một hay nhiều yếu tố nói trên Các DN mua hàng có thể đe dọa hội nhập dọc bằng cách mua lại các cơ sở cung cấp hàng cho chính mình, hoặc có thể mua giấy phép độc quyền
Việc lựa chọn nhà cung cấp dựa trên số liệu phân tích về người cung cấp Cần phân tích mỗi tổ chức cung cấp theo các yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi DN Các hồ sơ về thành tích của nhà cung cấp trong quá
Trang 18khứ cũng rất có giá trị Trong các hồ sơ đó, ít nhất cũng tóm lược được những sai biệt giữa việc đặt hàng và nhận hàng liên quan đến nội dung, ngày tháng, điều kiện bán hàng và bất kỳ tình tiết giảm nhẹ nào có tác động đến người cung cấp hàng
- Tổ chức cung cấp tài chính:
Trong những thời điểm nhất định, phần lớn các DN, kể cả các DN làm
ăn có lãi, đều phải vay vốn tạm thời từ cộng đồng tài chính Nguồn vốn có thể nhận được bằng cách vay ngắn hạn, dài hạn hoặc phát hành cổ phiếu… khi
DN tiến hành phân tích về cộng đồng tài chính thì trước hết cần chú ý xác định vị thế của mình so với các thành viên khác trong cộng đồng
- Tổ chức cung cấp nguồn lao động :
Nguồn lao động cũng là một phần chính yếu trong môi trường cạnh tranh của DN Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có năng lực là tiền
đề đảm bảo thành công cho các DN Các yếu tố chính cần đánh giá bao gồm trình độ đào tạo và trình độ chuyên môn của người lao động, mức độ hấp dẫn tương đối của các DN với tư cách là người sử dụng lao động và mức tiền công phổ biến
1.2.2.4 Các đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn mới tham gia kinh doanh trong trong lĩnh vực mà DN đang hoạt động có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của các DN do họ đưa vào khai thác các năng lực sản suất mới, với mong muốn giành được thị phần
và các nguồn lực cần thiết Cần chú ý là việc mua lại các cơ sở khác trong cùng lĩnh vực với ý định xây dựng phần thị trường là biểu hiện của sự xuất hiện đối thủ tiềm ẩn mới xâm nhập
Mặc dù không phải bao giờ các DN cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn mới, song nguy cơ đối thủ mới hội nhập vào lĩnh vực của DN sẽ có ảnh hưởng nhất định đến chiến lược của các DN Các DN có thể bảo vệ vị trí cạnh tranh bằng việc duy trì hàng rào hợp pháp ngăn cản sự xâm nhập từ bên
Trang 19ngoài Như lợi thế kinh tế theo quy mô, đa dạng hóa sản phẩm, sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế trong việc thâm nhập, các kênh tiêu thụ vững vàng và ưu thế về giá thành mà đối thủ cạnh tranh không tạo ra được
1.2.2.5 Các sản phẩm thay thế
Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế Nếu không chú ý đến các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, các DN có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ bé Vì vậy các
DN cần phải không ngừng nghiên cứu kiểm tra các mặt hàng thay thế tiềm ẩn
Phần lớn sản phẩm thay thế mới là kết quả của sự bùng nổ của khoa học công nghệ Muốn đạt được thành công thì các DN cần chú ý và dành nguồn lực để phát triển hoặc vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình
1.3 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường
1.3.1 Ma trận đánh giá các yếu tố môi trường
Ma trận đánh giá yếu tố bên ngoài cho phép các nhà chiến lược tóm tắt
và đánh giá các thông tin kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân khẩu, địa lý, chính trị, chính phủ, luật pháp công nghệ và cạnh tranh Có năm bước trong việc phát triển ma trận đánh giá yếu tố bên ngoài [6]
Bước 1 : lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành công như đã nhận diện trong qúa trình kiểm tra các yếu tố từ bên ngoài, bao gồm cả những cơ hội và mối đe dọa ảnh hửơng đến công ty và ngành kinh doanh của công ty
Bước 2 :phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng) cho mổi yếu tố Sự phân loại này cho thấy tầm quan trọng
Trang 20tương ứng của yếu tố đó đối với sự thành công trong ngành kinh doanh của công ty Các cơ hội thừờng có mức phân loại cao hơn mối đe dọa, tuy vậy, mối đe dọa cũng có thể nhận được mức phân loại cao nếu nó đặc biệt quan trọng hay mang tình đe dọa Mức phân loại thích hợp có thể được xác định bằng cách so sánh những nhà cạnh tranh thành công và những nhà cạnh tranh không thành công hoặc bằng cách thảo luận về yếu tố này và đạt được sự nhất trí của nhóm Tổng số các mức phân loaị được ấn định cho các nhân tố này phải bằng 1,0
Bước 3 : phân loại từ 1- 4 cho mỗi yếu tốquyết định sự thành công để cho thấy cách thức mà chiến lược hiện tại của công ty phản ứng với yếu tố này, trong đó 4 là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bình và 1 là phản ứng ít Các mức này dựa trên hiệu của của chiến lược
ở công ty Như vậy, sự phân loại này dựa trên công ty
Bước 4 : nhân tầm quan trọng cho mỗi biến số với loại của nó để xác định số điểm về tầm quan trọng
Bước 5 : cộng số điểm quan trọng cho mỗi biến số để xác định tổng số điểm quan trọng cho tổ chức
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài
Ma trận đánh giá bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài Mức độ
quan trọng
Phân loại
Tổng Số điểm quan trọng
Tiềm năng thị trường
Cơ hội vay vốn
Môi trường kinh doanh
Tham gia hội chợ triển lãm
Nguồn nguyên vật liệu
…
Trang 21
1.4 Những tác động của môi trường nội bộ đối với doanh nghiệp
Tất cả các tổ chức đều có những điểm mạnh và yếu trong các lĩnh vực kinh doanh Những điểm mạnh và yếu bên trong cùng với những cơ hội và nguy cơ bên ngoài và nhiệm vụ rõ ràng là những điểm cơ bản cần quan tâm khi thiết lập các mục tiêu và chiến lược các mục tiêu và chiến lược được xây dựng nhằm lợi dụng những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu bên trong, những yếu tố mà nhà quản trị có thể kiểm soát được
Các kỹ năng : Các nhà quản trị các cấp cần có các kỹ năng cơ bản là kỹ năng kỹ thuật chuyên môn, kỹ năng nhân sự hay kỹ năng cùng làm việc với người khác và kỹ năng tư duy, tùy theo ngành nghề hoạt động mà tiêu chuẩn các kỹ năng được xác định cụ thề, đây là cơ sở để tuyển chọn các chức danh quản lý theo cấp bậc trong tổ chức và là cơ sở để đánh giá nhà quản trị các cấp theo thời gian
Đạo đức nghề nghiệp : Đạo đức nghề nghiệp thể hiện qua những nội dung cơ bản như : Động cơ làm việc đúng đắn, kỷ luật tự giác, trung thực
Trang 22và thẳng thắn trong giao tiếp, tận tâm, có trách nhiệm trong mọi công việc và những hành vi mà mình đã thực hiện
Người thừa hành
Khi phân tích người thừa hành thì chúng ta căn cứ vào các kỹ năng chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và kết quả đạt được trong các thời kỳ liên quan đến nghề nghiệp
Phân tích người thừa hành là do nhà quản trị trực tiếp phân tích nhằm đánh giá năng lực của người thừa hành như : tay nghề, trình độ chuyên môn
Các chỉ tiêu có thể dùng để phân tích như : tổng số vốn của doanh nghiệp, doanh thu, lơi nhuận và các chỉ tiêu tổng hợp
Hoạt động marketing
Marketing có thể được mô tả như một quá trình xác định, dự báo thiết lập và thỏa mãn các nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng đối với sản phẩm hay dịch vụ
Việc phân tích Marketing thường bao gồm các nội dung : phân tích khách hàng, nghiên cứu thị trường, mua và bán hàng hóa
Hoạt động quản trị
Hoạt động quản trị nguồn nhân lực hiện nay có tầm quan trọng rất lớn ở tất cả các doanh nghiệp Mục tiêu của hoạt động quản trị nguồn nhân lực là phát triển một kế hoạch nhân lực bao gồm :
Trang 23Dự toán về nguồn nhân lực mà doanh nghiệp có nhu cầu trong tương lai
Sắp xếp hợp lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
Đảm bảo cung – cầu về nguồn nhân lực cho các mặt hoạt động
Xác định các biện pháp cụ thể để quản lý nguồn nhân lực
1.4.1.3 Các nguồn lực vô hình
Những nguồn lực vô hình là kết quả lao động chung của các thành viên trong tổ chức hoặc một số cá nhân cụ thể ảnh hưởng đến các quá trình hoạt động [6]
Các nguồn lực vô hình chủ yếu là :
Tư tưởng chỉ đạo trong triết lý kinh doanh
Uy tín trong lãnh đạo của nhà quản trị các cấp
Uy tín doanh nghiệp trong quá trình phát triển
Uy tín và thị phần nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường
Sự tín nhiệm và trung thành của khách hàng
Trình độ tay nghề nghệ nhân
Ý tưởng sáng tạo của nhân viên
Văn hóa tổ chức bền vững
Phân tích các nguồn lực vô hình tiến hành qua các bước cơ bản sau :
¾ Nhận diện và phân loại các nguồn lực vô hình của doanh nghiệp
¾ So sánh và đánh giá các nguồn lực vô hình với các đối thủ cạnh tranh
¾ Xác định những nguồn lực vô hình cần xây dựng và phát triển
1.4.1.4 Phân tích ma trận nội bộ
Các bước hình thành ma trận nội bộ gồm 5 bước :
Bước 1 : Liệt kê các yếu tố nội bộ, sử dụng các yếu tố bên trong chủ yếu bao gồm cả những điểm yếu và điểm mạnh
Trang 24Bước 2 : Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan trọng), tới 1,0 (quan trọng nhất) cho mỗi yếu tố Tầm quan trọng được ấn định cho mỗi yếu tố nhất định cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó đối với thành công của công ty trong ngành Tổng cộng mức độ quan trọng này phải bằng 1,0
Bước 3 : Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện cho điểm yếu lớn nhất (phân loại bằng 1), điển yếu nhỏ nhất (phân loại bằng 2), điểm mạnh nhỏ nhất (phân loại bằng 3), hay điểm mạnh lớn nhất (phân loại bằng 4) Như vậy sự phân loại này dựa trên cơ sở công ty
Bước 4 : Nhân mỗi mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với loại của nó để xác định số điểm quan trọng cho mỗi biến số
Bước 5 : Cộng tất cả số điểm quan trọng cho mỗi biến số để xác định số điểm quan trọng tổng cộng của tổ chức
Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ
Các yếu tố bên trong Mức độ
quan trọng
Phân loại
Tổng điểm quan trọng
1.5 Phân tích SWOT trong việc hình thành chiến lược
Phân tích SWOT là một trong 5 bước hình thành chiến lược kinh doanh
của một doanh nghiệp bao gồm: xác lập tôn chỉ của doanh nghiệp, phân tích SWOT, xác định mục tiêu chiến lược, hình thành các mục tiêu và kế hoạch chiến lược, xác định cơ chế kiểm soát chiến lược Nó không chỉ có ý nghĩa
đối với doanh nghiệp trong việc hình thành chiến lược kinh doanh nội địa mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành chiến lược kinh doanh quốc tế
Trang 25nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Một khi doanh nghiệp muốn phát triển, từng bước tạo lập uy tín, thương hiệu cho mình một cách chắc chắn và bền vững thì phân tích SWOT là một khâu không thể thiếu trong quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp[11]
Như vậy, phân tích S.W.O.T là phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài mà doanh nghiệp phải đối mặt (các cơ hội và nguy cơ) cũng như các yếu tố thuộc môi trường nội bộ doanh nghiệp (các mặt mạnh và mặt yếu) Đây là một việc làm khó đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, chi phí, khả năng thu nhập, phân tích và xử lý thông tin sao cho hiệu quả nhất
Doanh nghiệp xác định các cơ hội và nguy cơ thông qua phân tích dữ liệu về thay đổi trong các môi trường: kinh tế, tài chính, chính trị, pháp lý, xã hội và cạnh tranh ở các thị trường nơi doanh nghiệp đang hoạt động hoặc dự định thâm nhập Các cơ hội có thể bao gồm tiềm năng phát triển thị trường, khoảng trống thị trường, gần nguồn nguyên liệu hay nguồn nhân công rẻ và
có tay nghề phù hợp Các nguy cơ đối với doanh nghiệp có thể là thị trường bị thu hẹp, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, những thay đổi về chính sách có thể xảy ra, bất ổn vê chính trị ở các thị trường chủ chốt hay sự phát triển công nghệ mới làm cho các phương tiện và dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp
có nguy cơ trở nên lạc hậu [11]
Với việc phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp, các mặt mạnh
về tổ chức doanh nghiệp có tthể là các kỹ năng, nguồn lực và những lợi thế
mà doanh nghiệp có được trước các đối thủ cạnh tranh (năng lực chủ chốt của doanh nghiệp) như có nhiều nhà quản trị tài năng, có công nghệ vượt trội, thương hiệu nổi tiếng, có sẵn tiền mặt, doanh nghiệp có hình ảnh tốt trong mắt công chúng hay chiếm thị phần lớn trong các thị thường chủ chốt Những mặt yếu của doanh nghiệp thể hiện ở những thiểu sót hoặc nhược điểm và kỹ năng, nguồn lực hay các yếu tố hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Đó có thể là mạng lưới phân phối kém hiệu quả, quan hệ lao động
Trang 26không tốt, thiếu các nhà quản trị có kinh nghiệm quốc tế hay sản phẩm lạc hậu so với các đối thủ cạnh tranh
Kết quả của quá trình phân tích SWOT phải đảm bảo được tính cụ thể, chính xác, thực tế và khả thi vì doanh nghiệp sẽ sử dụng kết quả đó để thực hiện những bước tiếp theo như: hình thành chiến lược, mục tiêu chiến lược chiến thuật và cơ chế kiểm soát chiến lược cụ thể Chiến lược hiệu quả là những chiến lược tận dụng được các cơ hội bên ngoài và sức mạnh bên trong cũng như vô hiệu hóa được những nguy cơ bên ngoài và hạn chế hoặc vượt qua được những yếu kém của bản thân doanh nghiệp Mục tiêu chiến lược (là những mục tiêu chính mà doanh nghiệp muốn theo đuổi thông qua việc thực hiện một loạt các hành động cụ thể) phải đo lường được, mang tính khả thi và
có thời hạn thực hiện Các chiến thuật thường được thiết lập theo hướng tập trung cụ thể hóa chi tiết việc thực hiện các kế hoạch chi tiết như thế nào Cơ chế kiểm soát chiến lược là cơ chế quản lý và tổ chức chiến lược mà doanh nghiệp sử dụng để kiểm soát bất cứ bước nào trong 5 bước hình thành chiến lược nhằm đảm bảo quá trình thực hiện đi theo đúng định hướng mục tiêu chiến lược [11]
Ma trận SWOT (mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và nguy cơ)
Ma trận SWOT Cơ hội (O) Nguy cơ (T)
Mặt mạnh (S)
Phối hợp S/O: Doanh nghiệp cần tận dụng thế mạnh của mình để khai thác cơ hội
Phối hợp S/T: Doanh nghiệp cần tận dụng thế mạnh của mình để chiến thắng nguy cơ Mặt yếu (W)
Phối hợp W/O: Doanh nghiệp cần hạn chế các mặt yếu để lợi dụng cơ hội
Phối hợp W/T: Doanh nghiệp cần tối thiểu hóa các điểm yếu và tránh khỏi các mối đe dọa
Nguồn: chiến lược kinh doanh [6, tr 160]
S (strengths): Các mặt mạnh
O (Opportunities): Các cơ hội
Trang 27T (Threats): Các nguy cơ
W (Weaknesses): Các mặt yếu
Để xây dựng ma trận Swot, trước tiên cần kể ra các mặt mạnh, mặt yếu,
cơ hội và nguy cơ được xác lập bằng ma trận phân loại theo thứ tự ưu tiên Tiếp đó tiến hành so sánh một cách có hệ thống từng cấp tương ứng giữa các yếu tố để tạo ra cấp phối hợp
Phối hợp S/O thu được từ sự kết hợp giữa các mặt mạnh chủ yếu với các cơ hội của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần sử dụng những mặt mạnh, cơ hội của mình để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác không ngừng mở rộng thị trường
Phối hợp W/O là sự kết hợp các mặt yếu của doanh nghiệp với các cơ hội, sự kết hợp này mở ra cho doanh nghiệp khả năng vượt qua mặt yếu bằng việc tranh thủ cơ hội
Phối hợp S/T là sự kết hợp các mặt mạnh với các nguy cơ, cần chú ý đến việc sử dụng các mặt mạnh để vượt qua các nguy cơ
Phối hợp S/T là sự kết hợp các mặt yếu và nguy cơ của doanh nghiệp
sự kết hợp này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần có biện pháp để giảm bớt mặt yếu tránh nguy cơ bằng cách đặt ra các chiến lược phòng thủ
1.6 Lựa chọn chiến lược Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM)
Ngoài việc phân loại các chiến lược để lập bảng danh sách ưu tiên, theo các tài liệu chỉ có một kỹ thuật phân tích được thiết lập để quyết định tính hấp dẫn tương đối của các chiến lược khả thi có thể thay thế Kỹ thuật này chính
là ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (Quantitative Strategic Planning Matrix – QSPM), kỹ thuật sẽ cho thấy một cách khách quan các
chiến lược thay thế nào tốt nhất Ma trận QSPM sử dụng các yếu tố đầu vào nhờ những phân tích ở giai đoạn 1 và kết quả kết hợp phân tích ở giai đoạn 2
để quyết định khách quan trong số các chiến lược có khả năng thay thế Tức
Trang 28là ma trận EFE, ma trận hình ảnh cạnh tranh, và ma trận IFE ở giai đoạn 1, củng với ma trận SWOT Cũng như các công cụ phân tích việc hình thành chiến lược khác, ma trận QSPM đòi hỏi sự phán đoán tốt bằng trực giác [6]
Mô hình cơ bản của ma trận QSPM, lưu ý rằng cột bên trái của ma trận QSPM bao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài (giai đoạn 1), và hàng trên cùng gồm các chiến lược khả thi có khả năng thay thế (giai đoạn 2) Đặc biệt, cột bên trái của ma trận QSPM gồm có những thông tin được lấy trực tiếp từ
ma trận EFE và ma trận IFE Bên cạnh cột thành công chủ yếu là cột phân loại tương ứng của mỗi yếu tố trong ma trận EFE và ma trận IFE
Các yếu tố bên trong:
1 = yếu nhất; 2 = ít yếu nhất
3 = ít mạnh nhất; 4 = mạnh nhất
Các yếu tố bên ngoài:
1 = hành động phản ứng của công ty còn nghèo nàn;
2 = hành động phản ứng của công ty là trung bình;
3 = phản ứng của công ty trên mức trung bình;
4 = phản ứng của công ty rất tốt;
Sáu bước cần thiết để phát triển ma trân QSPM.Bước 1: Liệt kê các cơ hội/mối đe dọa bên ngoài và các điểm yếu/mạnh quan trọng bên trong ở cột bên trái của ma trận QSPM Các thông tin được lấy trực tiếp từ ma trận EFE
và ma trậm IFE
Bước 2: Phân loại cho mỗi yếu tố thành công bên trong và bên ngoài Bước 3: Ghi lại các chiến lược có thể thay thế lên hàng đầu tiên của ma trận QSPM
Bước 4: Xác định số điểm hấp dẫn, đó là giá trị bằng số biểu thị tính hấp dẫn tương đối mỗi chiến lược trong nhóm chiến lược có thể thay thế nào
đó
Trang 29Bước 5: Tính tổng số điểm hấp dẫn Tổng số điểm hấp dẫn là kết quả của việc nhân số điểm phân loại (bước 2) với số điểm hấp dẫn (bước 4) trong mỗi hàng Tổng số điểm hấp dẫn càng cao thì chiến lược càng hấp dẫn
Bước 6: Tính cộng các số điểm hấp dẫn Đó là phép cộng của tổng số điểm hấp dẫn trong cột chiến lược của ma trận QSPM
Trang 301.7 Lịch sử phát triển tranh thư pháp của một số nước Đông Á
Thư pháp là một môn nghệ thuật có xuất xứ từ Trung Hoa, du nhập vào các nước Nhật, Hàn Quốc, Việt Nam rồi được các nước này phát triển theo những cách riêng Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người
ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt Với cây bút lông, mực và giấy, người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học và nghệ thuật cao Thư pháp cũng giống như hội họa của Trung Quốc, đều là bộ phận quan trọng nhất trong nghệ thuật trung hoa [17]
Thư pháp Trung Hoa: Nghệ thuật thư pháp Trung Hoa đã có một lịch
sử phát triển lâu đời hơn 2000 năm Về mặt thư thể, để dễ dàng thuận tiện cho việc sử dụng, chữ Hán đã chuyển dần từ phức tạp sang đơn giản, nhưng trên giác độ kỹ xảo thư pháp, thì sự biến hoá của nó lại ngày một nhiều, phong cách cũng ngày càng đa dạng phức tạp [20]
Người Trung Quốc cho rằng Lý Tư, thừa tướng của triều đình nhà Tần,
là người khởi đầu cho nghệ thuật thư pháp vì ông là người được giao việc thực hiện cải cách và thống nhất văn tự sau khi Tần Thủy Hoàng thôn tính các nước nhỏ khác đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia thống nhất Trải qua các triều đại sau đó, sử sách đều có ghi nhận về sự xuất hiện của những thư pháp gia (người viết chữ đẹp) nổi tiếng, như Vương Hy Chi (đời ĐôngTấn) hay Tề Bạch Thạch (đời nhà Thanh)
Tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm thư pháp thường bao gồm nhiều yếu tố rất khắt khe như điểm hoạch (đường nét), kết thể (bố cục), thần vận (cái hồn của tác phẩm)
Đây là dòng thư pháp được phát triển sớm nhất, mạnh nhất và có ảnh hưởng sâu sắc đến các dòng thư pháp của các ngôn ngữ khác trong vùng Đông Á Thư pháp chữ Hán không chỉ là một môn của nghệ thuật của riêng Trung Quốc, Đài Loan Nhiều nhà thư pháp tại các nước nằm trong vùng ảnh
Trang 31hưởng của văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam cũng sáng tác các tác phẩm thư pháp bằng chữ Hán [21]
Theo thời gian tranh thư pháp được phát triển và được bán trên thị trường qua những người buôn tranh thư pháp, thư pháp Trung Hoa là một nét văn hóa đặc trưng và là cái nôi của thư pháp Đông Á
Thư pháp Hàn quốc: Nghệ thuật Thư pháp ở Hàn Quốc đã hình thành
từ rất lâu đời, có thể tính bắt đầu từ sơ kỳ thời Tam Quốc ở Trung Hoa Theo những cứ liệu lịch sử, văn tự và văn học Hàn Quốc đã được giảng dạy trong thư viện, trong vương thất hay trong các học đường chính thống do quốc gia lập nên Lịch sử Thư pháp có thể coi như bắt đầu từ đó mà phát triển, và rất nhiều thế hệ các nhà Thư pháp qua các triều đại, các thời kỳ lịch sử đã không ngừng nỗ lực cống hiến cho sự hưng thịnh của Thư pháp Hàn Quốc [16]
Dưới ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, Thư pháp ở Hàn quốc có một quan hệ mật thiết gắn bó với hội họa, thậm chí có người cho rằng, từ góc độ mạnh mẽ mà uyển chuyển hài hòa trong bút pháp, chính hội họa Hàn Quốc lại chịu ảnh hưởng rất lớn của Thư pháp Cho nên người ta thường treo một bức Thư pháp trên tường hay trong phòng mà thưởng thức giống như thưởng thức một bức tranh
Một bức tranh chữ đẹp ngoài việc được tạo nên từ sự bố trí các nét, các chữ hài hòa một cách có quy luật; còn toát lên sự đan xen, giao hòa của bút lực, của chất liệu, của các kỹ thuật viết như hành trú, đình đề, đốn tỏa trên cơ
sở sự vi diệu của cảm giác từ đôi tay với tinh thần và tình cảm nghệ thuật của tác giả Tất cả tạo nên một bức Thư pháp với mỹ cảm trong sự hài hòa tinh tế[16]
Từ góc độ kỹ thuật, nghệ thuật Thư pháp được quyết định bởi kỹ xảo được vận dụng và thần vận qua đầu ngọn bút từ sự rung cảm của người viết Việc đưa ra những kết cấu trên cơ sở bố trí tổ hợp các nét với những thần thái khác nhau, hay sau khi khởi bút và đã đi bút thành nét không được tô thêm hay bổ sung, hoặc quan trọng nhất là sự chú trọng vào phân gian bố bạch hợp