1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn miền Bắc nước ta

89 587 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn miền Bắc nước ta
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn miền Bắc nước ta

Trang 1

HOC VIEN CHINH TRI QUOC GIA HO CHÍ MINH

TONG QUAN KHOA HOC

Đề tài cấp Bộ năm 2003-2004

NHU CẦU HỢP TÁC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

Ở NÔNG THÔN MIỀN BẮC NƯỚC TA

CƠ QUAN CHỦ TRÌ: TRUNG TÂM XÃ HỘI HỌC

THƯKÝ ĐỀ TÀI: THS VÕ THỊ HỒNG LOAN

Trang 2

THÀNH VIÊN THAM GIA

\ PGS,TS NGUYEN ĐÌNH TAN PGS,TS NGUYEN CHi DUNG

10 THS NGUYEN CANH YEN

11 CN NGUYEN NGOC HUY

Trang 3

Chương I Vị trí và vai trò của nhu cầu hợp tác trong

phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta

1.1.Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan

điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhu cầu hợp tác

1.2.Một số lý thuyết về nhu cầu hợp tác

Chương II Thực trạng nhu câu hợp tác qua phân tích số

liệu điều tra ở tỉnh Yên bái, Bắc Giang và Hải Dương

2.1 Một số đặc điểm chung về cuộc điều tra

2.2 Mức sống, nghề nghiệp và nhu cầu hợp tác

2.3 Nhu cầu hợp tác trong sản xuất nông nghiệp, công

nghiệp, dịch vụ, thương mại

2.4 Nhu cầu hợp tác trong một số lĩnh vực hoạt động khác ở

địa phương

2.5 Nhu cầu hợp tác và hiện thực của sự hợp tác

2.6 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với nhu cầu

hợp tác

Chương TII Dự báo xu hướng biến đổi và đề xuất phương

hướng đáp ứng nhu cầu hợp tác

3.1 Dự báo xu hướng phát triển nhu cầu hợp tác

3.2 Một số giải pháp đáp ứng nhu cầu hợp tác nhằm phát

triển kinh tế-xã hội ở nông thôn

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu này tập trung vào chủ để: “Nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế“xã hội Ở nông thôn miên Bắc nước ta hiện nay" trong tình hình đất nước

ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế tập thể và hợp tác xã với tư cách là các tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Các nghiên cứu này chủ yếu xem xét hợp tác xã với tư cách là các thực thể kinh tế đang tồn tại và vận hành trên thực tế chứ chưa xem xét nó dưới hình thức của sự phôi thai, dưới hình thức của sự tiềm tàng, của sự lựa chọn các hình thức thể hiện của nhu cầu phải liên kết với nhau để sản xuất kinh doanh của người lao động Hầu như không có một đề tài nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ xã hội học liên ngành về nhu cầu hợp tác trong giai đoạn đổi mới hợp tác xã và phát triển kinh tế tập thể hiện nay

Đã có nhiều nghiên cứu xã hội học và tâm lý học về nhu cầu của con người nhưng rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhu cầu hợp tác của các cá

nhân, các hộ gia đình, các nhóm xã hội, các chủ thể kinh tế Nhu cầu hợp tác của

người nông dân, của các hộ gia đình ở nông thôn được thể hiện phần nào.qua việc tham gia vào hợp tác xã ở nông thôn Tuy nhiên, đó mới chỉ là một hình thức đáp

ứng nhu cầu hợp tác, ngoài ra còn các hình thức liên kết, tương trợ nhau khác nữa

cần được nghiên cứu Đặc biệt cần tìm hiểu các đặc điểm, tính chất, mức độ biểu hiện và các yếu tô tác động tới nhu cầu hợp tác Mối quan hệ giữa nhu cầu hợp tác và kinh tế tập thể, giữa nhu cầu hợp tác với hợp tác xã chưa được nghiên cứu

kỹ lưỡng Trong khi đó, việc phát triển kinh tế hàng hoá đang đặt ra những yêu

Trang 5

cầu và nhiệm vụ “thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quả của kinh tế hợp tác

và hợp tác xã ””,

Nhu cầu hợp tác của người đân ở nông thôn có mối liên hệ như thế nào với thực tế đổi mới và phát triển hợp tác xã? Thực tế trong những năm vừa qua, từ sau khi Luật Hợp tác xã có hiệu lực (1/1/1997) kinh tế tập thể mà nồng cốt là hợp tác

xã kiểu mới đã ra đời và phát triển, nhiều hợp tác xã cũ được chuyển đổi thành

hợp tác xã mới và nhiều hợp tác xã mới được thành lập và hoạt động theo theo Luật hợp tác xã Kinh tế tập thể trong nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có

bước phát triển đáng ghi nhận, với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, phong phú trong các ngành, các lĩnh vực SXKD, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn Tính đến giữa năm 2002 cả nước có gần 14.000 hợp tác xã trong đó 92% số HTX đã chuyển đồi, thành lập mới, đăng ký hoạt động sản xuất kinh doanh theo Luật HT%X Nhiều hình thức hợp tác mới xuất hiện trong những ngành dịch vụ như cung cấp điện, vệ sinh môi trường, nước tưới, nước sạch sinh hoạt, dạy nghề, chăn nuôi bò sữa, du lịch Trong số các hợp tác xã có tới 85% HTX làm ăn có lãi” Mức tăng trưởng của khu vực kinh tế tập thể trong năm 2001 đạt 115%, có đóng góp chiếm 9% GDP Tất cả những sự kiện kinh tế này có mối tương tác như thế nào tới nhu cầu hợp tác? Hợp tác xã có phải là hình thức tốt nhất của việc đáp ứng nhu cầu hợp tác của các hộ gia đình và các cá nhân không? Ngoài hình thức hợp tác xã ra còn có hình thức nào khác phù hợp với nhu cầu hợp tác?

Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể đang từng bước củng cố và phát triển nhằm trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Nhờ vậy, đời

sống người dân đã được cải thiện một bước quan trọng Ví dụ, tỉ lệ đói nghèo ở

nông thôn giảm từ 32-35 % vào đầu những năm 1990 xuống 15-17% vào năm

2000 (UNDP-Tổng cục thống kê, 2002) Tuy nhiên, những bước cải thiện về mặt

' Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương V, Khoá IX

? Phóng viên “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể" Báo Nhân Dán Ngày

14/4/2002 Tr 1, 7

Nội 2002 Tr 15

Trang 6

kinh tế này có liên quan như thế nào tới nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế-

xã hội ở nông thôn là câu hỏi cần trả lời?

Nhu cầu hợp tác ở nông thôn có liên quan như thế nào tới kinh tế tập thể? Mặt tích cực và hạn chế của kinh tế tập thể? Theo đánh giá của Hội nghị lần thứ

V BCHTƯ Đảng khoá IX, kinh tế tập thể còn nhiều mặt yếu kém, năng lực nội tại còn hạn chế, nhận thức về vị trí, vai trò, tính tất yếu khách quan của việc phát triển kinh tế tập thể chưa thống nhất Việc tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể và mô hình hợp tác xã kiểu mới chưa được quan tâm đúng mức; chưa làm tốt việc tổ chức thi hành Luật hợp tác xã; tâm lý hoài nghi, mặc cảm với mô hình hợp tác xã kiểu cũ trong xã hội còn phổ biến Việc nghiên cứu về nhu cầu hợp tác sẽ giúp gợi mở suy nghĩ về chính sách,

cơ chế và cách thức đổi mới hợp tác xã theo hướng đáp ứng ngày càng đây đủ nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế-xã hội Việc phân tích và đánh giá nhu cầu hợp tác là rất quan trọng và cần thiết để gợi mở ra những suy nghĩ về những bước đi và những hình thức cần thiết trong việc thoả mãn nhu cầu hợp tác ở nông thôn” Qua đó chúng ta nghiên cứu xem có các biện pháp nào thúc đẩy sự phát triển các hình thức hợp tác khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác sản xuất

Để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhu cầu hợp

tác và sự hợp tác ở nông thôn, Trung tâm Xã hội học thuộc Học Viện CTQG Hồ

Chí Minh để nghị Ban giám đốc Học viện, Vụ Quản lý Khoa học cho phép triển khai đề tài: Nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn miền

Trang 7

quan tâm nghiên cứu Các nhà kinh tế học chủ yếu tập trung vào nghiên cứu hợp tác xã với tư cách là những thực thể kinh tế đã tồn tại, phát triển ở nước ta từ lâu

mà ít chú ý tìm hiểu và đánh giá nhu cầu hợp tác Điều đó có nghĩa là các nghiên cứu hiện có về hợp tác xã chủ yếu xem xét hợp tác xã là một loại tổ chức kinh tế tồn tại một cách khách quan mà chưa nhìn thấy ở đó mặt chủ quan của hoạt động của các xã viên, chưa thấy hợp tác xã chỉ như là một hình thức tổ chức hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác của các cá nhân, hộ gia đình hay nhóm xã hội Các nghiên cứu về hợp tác xã không nhìn thấy điểm xuất phát và nguồn động lực lớn lao của nhu cầu hợp tác đối với sự thành lập, hoạt động và tổ chức, quản lý của hợp tác xã Nói một cách khái quát thì không có nhu cầu hợp tác thì không có hợp tác xã mà nếu có cố thành lập được hợp tác xã thì đó chỉ là một tổ chức cứng nhắc, cưỡng chế và áp đặt đối với hành vi hoạt động của các xã viên

Một tổ chức hợp tác như vậy nếu không khơi gợi và phát triển được nhu cầu hợp

tác của các xã viên thì sớm muộn nó cũng biến dạng thành kiểu một kiểu tổ chức

“phi hợp tác” không có hiệu quả và không có lợi cho sự phát triển bền vững của cộng đồng xã hội

Nhiều công trình nghiên cứu về hợp tác xã chủ yếu phân tích các mặt kinh tế-lao động với các số liệu thống kê khách quan bên ngoài về các loại hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp hay hợp tác xã dịch vụ; về số lượng lao động, về số lượng thành viên, về số lượng tài chính, về sản lượng, về các loại sản phẩm của hợp tác xã Các nghiên cứu kinh tế học thường không thu thập và không phân tích các thông tin về nhu cầu hợp tác của các xã viên Có thể nói các nghiên cứu như vậy đã bỏ qua một sự kiện vô cìng quan trọng là hoạt động hợp tác với tính cách là hoạt động cảm tính của con người Vấn đề đặt ra là: cái gì thúc đẩy các cá nhân thành lập hợp tác xã? động cơ nào thúc đẩy các hoạt động hợp tác của các thành viên hợp tác xã? Do đó, các nghiên cứu thuần tuý kinh tế học khó có thể giải thích được động cơ, động lực vận hành của tổ chức kinh tế tập thể có tên gọi là hợp tác xã.

Trang 8

Mặt cảm tính của hợp tác xã thể hiện ở nhu cầu của các thành viên hợp tác

xã Chính nhu cầu hợp tác đã tạo ra động cơ, động lực thúc đẩy các các nhân và nhóm người gặp gỡ, trao đổi và thành lập hợp tác xã Không có nhu cầu thì mọi hành vi của con người chỉ là những hành vị máy móc, không hồn và không có sinh khí tức là không phát triển

Cần thấy rằng hợp tác xã với tư cách là một hình thức của sự hợp tác chỉ là một trong đối tượng có khả năng thoả mãn nhu cầu hợp tác Nếu hợp tác xã không đáp ứng được nhu cầu hợp tác nhất định thì các chủ thể của nhu cầu hợp tác sẽ tìm các đối tượng khác và các hình thức khác để thoả mãn nhu cầu hợp tác Nếu chỉ xem xét hợp tác xã từ góc độ kinh tế học thì đó là cách nhìn phiến diện Hợp tác xã cần được giải thích trên cơ sở phân tích mặt khách quan và mặt chủ quan của hoạt động hợp tác của các xã viên Mà hoạt động hợp tác của xã viên thực sự bị thúc đẩy bởi cái gì nếu không phải là nhu cầu hợp tác của chính

họ Mà nhu cầu hợp tác đó lại chính là sự phản ánh các yêu cầu và các đòi hỏi khách quan của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Điều đó có nghĩa là khi nghiên cứu nhu cầu hợp tác ta có thể nắm bắt được cả các nhu cầu khách quan của sự phát triển sản xuất kinh doanh và cả những mong muốn, nguyện vọng và động cơ của người sản xuất kinh doanh

Nhu cầu hợp tác của các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức của xã hội đã được thừa nhận về mặt pháp lý trong Luật Hợp tác xã Bản thân việc thành lập hợp tác xã, chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu hợp tác của các cá nhân, các gia đình

và các nhóm xã hội Điều 1 của Luật Hợp tác xã (2003) đã ghi nhận hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân có “nhu

cầu” thành lập theo luật

Mặt cảm tính của hợp tác xã gắn liền với nhu cầu hợp tác, với hành vi hợp tác của con người Mặt khách quan của hợp tấc xã là bộ máy tổ chức, là trụ sở

' Nguyễn Văn Bích - Chu Tiến Quang (đồng chủ biên) Phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam NXB Nông nghiệp Hà Nội 1999; Nguyễn Sinh Cúc Nông nghiệp Việt

Nam 1945-1995 NXB Thống kê Hà Nội, 1995.

Trang 9

hợp tác xã là điều lệ hợp tác xã, là các quy định ở bên ngoài các cá nhân Khó có thể hiểu được bản chất hợp tác xã nếu không nghiên cứu nhu cầu hợp tác, đấy là chưa kể đến việc nhu cầu hợp tác có thể được đáp ứng thông qua nhiều hình thức khác nhau trong đó hợp tác xã chỉ là một cách thức, một phương thức mà thôi Ngoài hợp tác xã ra thì “tổ đổi công”, tổ chức kinh tế hiệp hội và “công ty cổ

phần” cũng là một tổ chức kinh tế có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu hợp tác của

người lao động Nếu “?ổ đổi công” là một hình thức tổ chức phát triển mạnh vào thời kỳ người nông đân mới được làm chủ mảnh đất của mình theo phương châm

“người cày có ruộng” thì “công íy cổ phần” là một hình thức tổ chức phát triển mạnh vào thời kỳ người lao động đã được giải phóng khỏi đồng ruộng để tham

gia vào kinh tế thị trường và có vốn để mua cổ phần

Nhu cầu hợp tác không những thúc đẩy các các nhân thành lập hợp tác xã

mà toàn bộ sự tồn tại của hợp tác xã phụ thuộc vào việc nó đáp ứng tới mức độ nào nhu cầu của các xã viên Những điều này có vẻ sách vở, lý thuyết nhưng nếu thử hình dung trường hợp một người không có nhu cầu ăn mà phải ăn những món

ăn dù là bổ dưỡng nhất cũng khó có thể nuốt trôi đều đều mà không cảm thấy khó chịu hay muốn tìm cách lẩn tránh Về vai trò của nhu cầu đối với hành vi có thể viện đến hình ảnh đã thành kinh điển: “Bạn có thể bắt con ngựa xuống sông nhưng không thể bất nó uống nước” Qua đó thấy rằng việc nghiên cứu nhu cầu

- là cần thiết và quan trọng để có thể giải thích sự biến đổi và phát triển hợp tác xã một cách sâu sắc

Trong những năm qua cùng với đổi mới kinh tế-xã hội, hợp tác xã cũng được đổi mới Luật HT%X đã đuợc Quốc hội nước CHXHCH Việt Nam Ban hành

năm 1996 và bất đầu có hiệu lực Tháng ! năm 1997 Kèm theo, một loạt các văn

bản nghị định và thông tư đã được ban hành để hướng dẫn thực thị Luật HTX trong thực tế Trong năm 1997, nhiều cuộc tập huấn về Luật HTX xã đã được triển khai ở các cấp bộ ngành, địa phương nhằm quán triệt các nội dung của Luật Các địa phương đã triển khai thực hiện luật theo hướng ban hành các văn bản như

Trang 10

Nghị quyết, quyết định chỉ thị về triển khai chuyển đổi HTX, thành lập ban chỉ đạo, xây đựng phương án thực hiện chuyển đổi, v.v Nhờ đó, Luật HTX và các văn bản dưới luật đã từng bứơc đi vào cuộc sống

Tuy nhiên, rất ít những nghiên cứu về các nhu cầu hợp tác khác trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn Tình hình nghiên cứu này đặt ra sự cần thiết phải có những đề tài chuyên sâu từ góc độ xã hội học kinh tế về nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn nước ta

Các nghiên cứu hiện có về hợp tác xã chủ yếu là từ góc độ kinh tế học và góc độ chính sách kinh tế chứ không phải từ góc độ xã hội học, tâm lý học Năm

1999 và năm 2001,Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW đã tiến hành đánh giá

hai năm và bốn năm thực hiện Luật HTX và chuyển đổi hợp tác cũ sang HTX

mới hoạt động theo Luật Kết quả nghiên cứu đánh giá cho thấy, việc thực hiện luật HTX đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, đánh giá hai năm và bốn năm thực hiện Luật HTX cũng cho thấy quá trình triển khai còn chậm, chưa đạt tiến độ đã đề ra (hạn chuyển đổi đã giãn), ở một số địa phương thiếu sự chỉ đạo sát sao dẫn đến trì trệ; một số HTX chuyển đổi một cách hình thức, một số đã chuyển đổi hoặc thành lập mới chưa tuân thủ các quy định của Luật và các nghị định; số khác hoạt động kém hiệu quả; một số quy định của luật đối với các HTX không được thực hiện trong thực tế; cách hiểu về một số nội dung của Luật chưa thống nhất, một số điều luật chưa vào được thực tiễn, v.v Những vấn đề trên đã ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi HTX, phát triển kinh

tế tập thể mà cụ thể là HTX Nhưng, ngay cả nghiên cứu có tính chất tổng kết thực tiễn này cũng chưa đề cập nhiều vấn đề nhu cầu hợp tác

Hầu như chưa có nghiên cứu xã hội học nào tập trung vào đánh giá nhu cầu hợp tác của các xã viên nói riêng và của các cá nhân và các hộ gia đình nói chung Các nghiên cứu hiện có về vấn để này chủ yếu được thực hiện theo quan niệm tiếp cận kinh tế học và phân tích chính sách quản lý hợp tác xã

* Nguyễn Văn Bích — Chu Tiến Quang (đồng chủ biên) Phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam NXB Nông nghiệp Hà Nội 1999

Trang 11

Để có thể đổi mới và có những bước đi phù hợp trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn cần phải tổ chức nghiên cứu và đánh giá thực trạng nhu cầu hợp tác Từ đó mới có thể dự báo và gợi mở những suy nghĩ về biện pháp và hình thức đáp ứng nhu cầu hợp tác trong đó có vấn đề đổi mới hợp tác xã để thực sự đáp ứng nhu cầu hợp tác trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế ở nông thôn

Cần tiến hành nghiên cứu, khảo sát về các hình thức biểu hiện và các đặc điểm, tính chất của nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn Qua đó xác định những yếu tố trở ngại cần khắc phục trong việc đáp ứng nhu cầu hợp tác và vạch ra những khả năng và hình thức thoả mãn nhu cầu hợp tác

để phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của để tài là:

Phân tích nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn miền Bắc

Gợi mở suy nghĩ về bước đi và hình thức đáp ứng nhu cầu hợp tác trong quá trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Đối tượng thu thập thông tin: người lao động, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế-xã hội và cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nông thôn

Phạm vì địa bàn nghiên cứu: Đề tài lựa chọn địa bàn miễn núi, trung du

và đồng bằng Bác Bộ để có thể thu được những thông tin đại diện vẻ nhu cầu hợp tác ở nông thôn miền Bắc Đó là ba tỉnh: Yên Bái, Bắc Giang va Hai Duong

4 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, kết cấu nội dung cơ bản của đề

tài nghiên cứu gồm ba chương, cụ thể như sau:

Trang 12

ChuongI Nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta Chương II Tìm hiểu nhu cẩu hợp tác trong phát triển kinh tế-xã hội ở

nông thôn miễn Bắc nước ta Chương II Dự báo xu hướng phát triển nhu cầu hợp tác và để xuất

phương hướng đáp ứng nhu cầu hợp tác

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh, phương pháp tiếp cận liên ngành Xã hội học kinh tế và phương pháp điều tra xã hội học Một số phương pháp cụ thể là:

Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ lãnh đạo quản lý ở địa phương

Phương pháp phỏng vấn nhóm: tiến hành một số cuộc phỏng vấn nhóm Ba loại nhóm cần phỏng vấn là: nhóm người lao động (5-7

người), nhóm cán bộ lãnh đạo quản lý (5-7 người) và nhóm tổ chức

Hội nông dân (6-7 người)

Phương pháp quan sát: trực tiếp quan sát hành vi hợp tác và quan hệ hợp tác của các cá nhân, nhóm, tổ chức tại địa bàn nghiên cứu

Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng phiếu thăm dò ý kiến để điều tra các cá nhân đại điện cho các hộ gia đình, các tổ chức kinh tế-xã hội

Phương pháp toạ đàm chuyên gia: trao đổi với một số chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài

Phương pháp thống kê: sử dụng các chương trình phần mềm máy vi tính để xử lý và phân tích các kết quả điều tra xã hội học

Phương pháp tổng hợp, phân tích, dự báo, lô gích

Trang 13

6 Lực lượng nghiên cứu

Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Ngọc Hùng (Trung tâm Xã hội học)

Thư ký đẻ tài: ThS Võ Hồng Loan (Trung tâm Xã hội học)

Các cán bộ thành viên của Trung tâm Xã hội học:

PGS TS Nguyễn Đình Tấn

PGS TS Nguyễn Chí Dũng

Th.S Phạm Minh Anh

Một số chuyên gia ngoài Trung tâm Xã hội học:

TS Vương Cường Vụ Quản lý khoa học Học viện CTQG Hồ Chí

Một số chuyên gia khác về kinh tế học, xã hội học, tâm lý học

San phẩm nghiên cứu

1 Tổng quan khoa học

2 Kỷ yếu khoa học để tài

3 Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu

Trang 14

_ B PHAN NOI DUNG

Chuong I

VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA NHU CẦU HỢP TÁC TRONG PHAT TRIEN

KINH TẾ-XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hỏ Chí Minh và quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về nhu cầu hợp tác

1.1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin về nhu cầu hợp tác

Quan niệm về nhụ cầu Theo quan điểm của Mác, nhu cầu của con người biểu hiện ra là sự thiếu thốn, là dục vọng hoạt động hướng vào chiếm lĩnh những đối tượng cần thiết đảm bảo đời sống của con người”

Nhu cầu tự nhiên của con người có đối tượng ở trong giới tự nhiên bên ngoài con người để thoả mãn Nhu cầu xã hội của con người có đối tượng ở trong

xã hội bên ngoài con người để thoả mãn

Trong các loại nhu cầu của con người nổi bật lên nhu cầu hợp tác với biểu hiện trực tiếp nhất, cụ thể nhất của nó sự cần thiết phải tiếp xúc, trao đối, giao tiếp và cao hơn nữa là sự cần thiết phải phối hợp để cùng nhau lao động sản xuất Chỉ có trong sự hợp tác thì con người mới có thể thoả mãn được các nhu cầu của mình và phát triển các nhu cầu của mình, Mác viết:

“Trong giai đoạn phát triển hiện nay con người có thể thoả mãn các nhu cầu của mình B8 ạn p C y Ss

chỉ ở bên trong xã hội; nói chung thi ngay từ đầu, từ khi con người tồn tai, con người đã

7 Các Mac “Bat the kinh tế-triết học năm 1844", trong C Mác va Ph Ang ghen Toàn tập Tập 42 NXB Chính

trị Quốc gia-Sự thật Hà Nội 2000 Tr 233

Trang 15

cần đến nhau và chỉ nhờ vậy mà con người mới có thể phát triển các nhu cầu và những năng lực v.v của mình ”Š

Điều đó có nghĩa là nhu cầu hợp tác của người lao động chỉ có thể được

đáp ứng khi có những người khác cũng có nhu cầu hợp tác, tức là có những người

cảm thấy sự cần thiết phải cộng tác, trao đổi để đạt được những mục tiêu nhất định Điều đó có nghĩa là bản thân nhu cầu nói chung và nhu cầu hợp tác nói riêng cũng sinh thành và phát triển trong hoạt động sản xuất xã hội Nhờ sự phát triển nhu cầu mà mà hoạt động của con người phong phú đa dạng, sản phẩm của hoạt động phong phú, đa dạng và không những xã hội phát triển mà chính con người phát triển cùng với sự phát triển nhu cầu của con người Mác viết: “Con người phong phú đồng thời cũng là con người có nhu cầu về toàn bộ sự toàn vẹn của những biểu hiện sinh hoạt của con người”

Qua niệm về nhu câu hiện thực Quan niệm duy vật lịch sử chỉ rõ nguồn gốc và đặc điểm, tính chất của nhu cầu hiện thực và hiện thực của nhu cầu của con người Theo Mác, nhu cầu có thể tồn tại trong trí tưởng tượng và không hiện thực, không có đối tượng và vì vậy cũng không có tác dụng gì đối với một người

và với những người khác Đó là do nhu cầu như vậy không có phương tiện hay tư liệu để biến nó thành hiện thực Cơ chế của việc biến cái nhu cầu ở dạng cảm giác, tưởng tượng thành nhu cầu hiện thực và hiện thực của nhu cầu là việc tìm ra được phương tiện và đối tượng thoả mãn nhu cầu Đối với hoạt động thực tiễn của con người thì chỉ có nhu cầu hiện thực mới có khả năng thúc đẩy con người hoạt động một cách thực tế Mác đưa ra khái niệm “nhu cầu hiện thực”, nhu cầu hữu hiệu để nói về tầm quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với hành vi, hoạt động của con người Theo quan niệm của Mác, nhu cầu chỉ thực sự tồn tại khi có cơ sở vật chất cho sự tồn tại của nó, khi có những phương tiện nhất định có thể đáp ứng

* C.Mác và Ph Ảng-ghen Toàn táp Tập 42 NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Tr 496

° Các Mác “Bản thảo kính tế“triết học nấm 1844”, trong C Mac va Ph, Ang ghen Toàn tập Tập 42 NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật Hà Nội 2000 Tr 180

Trang 16

được nhu cầu Về khái niệm nhu cầu hiện thực, nhu cầu hữu hiệu Mác nêu rõ qua những ví dụ cụ thể sau đây:

“Nếu tôi không có tiền để đi du lịch thì tôi cũng không có nhu cẩu, nghĩa là nhu cầu hiện thực và được chuyển thành hiện thực về du lịch Nếu tôi có khiếu nghiên cứu khoa

học, nhưng không có tiền để làm việc đó thì tôi cũng không có năng khiếu, nghĩa là

không có khiếu hứa hiệu, thật sự để làm việc đó Trái lại, nếu thực ra tôi hoàn toàn

không có khiếu nghiên cứu khoa học, nhưng tôi có ý muốn và tiền, thì tôi có khiếu hữu

hiệu để làm việc đó””!8,

Dựa vào phân tích của Mác, có thể nói rằng người lao động có nhu cầu hợp tác hữu hiệu, thực sự khi họ có các phương tiện cần thiết để thực hiện sự hợp tác

đó trên thực tế Nếu sự hợp tác đòi hỏi phải góp vốn thì người lao động chỉ thực

sự có nhu cầu hợp tác khi họ có tiền hay một vật gì đó có thể làm vốn để góp với những người khác

Quan điểm của Mác về nhu cầu gợi ra một ý tưởng quan trọng là nghiên cứu về nhu cầu hợp tác cần tìm hiểu cả ý muốn hợp tác và khả năng thực tế của

sự hợp tác của người lao động Hợp tác xã chỉ là một biểu hiện của việc biến nhu cầu hợp tác thành hiện thực về sự hợp tác của người lao động

Nguồn gốc của sự hình thành và biến đổi nhu cầu Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong lịch sử phát triển xã hội loài người, nhu cầu hợp tác

là một tất yếu xã hội bởi vì không ai có thể một mình sản xuất được bất kỳ một vật phẩm nào Nguồn gốc của nhu cầu hợp tác là ở sự phát triển của sản xuất xã hội, ở tringh độ phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội Với nghĩa đó, nhu cầu hợp tác xuất hiện một cách tất yếu do yêu cầu của sự phát triển sản xuất Mác

viết:

“Quyền xã hội và tính tất yếu xã hội quyết định phương thức kiếm tư liệu sinh tồn Do

tính tất yếu xã hội mà công xưởng xuất hiện ở nơi nào mà sự hợp tác trở thành một điều

'° Các Mác “Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844”, trong C Mac va Ph Ang ghen Toàn tập Táp 42 NXB

Trang 17

bắt buộc Viẹc không ai có thể một mình sản xuất được một vật phẩm nào, đã làm cho

sự hợp tác trở thành một tất yếu xã hội”,

Mác và Ăng ghen cho rằng sự hợp tác và sở hữu công cộng đối với ruộng

đất và những tư liệu chủ yếu của lao động đóng vai trò quan trọng trong quá trình biến đổi xã hội'? Chính nhu cầu mở rộng sản xuất quyết định sự mở rộng quy

mô sản xuất và nâng cao năng lực sản xuất Tương tự như vậy, nhu cầu hợp tác quyết định quy mô và phương thức hợp tác trong sản xuất kinh doanh

Quan niệm của Lênin Chủ nghĩa Mác được Lênin vận dụng và phát triển sáng tạo trong công cuộc xây dựng xã hội mới ở nước Nga ngay sau Cách mạng

tháng Mười Nhu cầu hợp tác xuất phát từ yêu cầu khách quan của bước quá độ của một nền kinh tế tiểu nông sang một nền kinh tế mới -xã hội chủ nghĩa Lênin chỉ rõ vai trò quan trọng của chế độ hợp tác xã với tính cách là một “con đường giản đơn nhất, dé dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân”! và những người sản xuất nhỏ trong thời kỳ quá độ sang một chế độ mới Tuy nhiên, không phải tự nhiên mà mỗi người nông dân hay một người tiểu nông có thể nhận thức được sự cần thiết khách quan này Do vậy, nhu cầu hợp tác nảy sinh một cách khách quan trong quá trình biến đổi xã hội, trong quá trình xây dựng một chế độ mới Nhưng nhu cầu hợp tác đó không tự nhiên xuất hiện mà cần được khơi gợi, giáo dục, tuyên truyền, vận động để trở thành nhu cầu hợp tác hiện thực, hữu hiệu ở người

lao động

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác

Do nước ta là một nước nông nghiệp nên khi nói về hợp tác Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của nhu cầu hợp tác trong sản xuất nông

nghiệp, mà cụ thể là sự hợp tác nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp Bác Hồ

chỉ ra logic của mối quan hệ nông dân-hợp tác-nông nghiệp-phát triển đất nước

Đó là: nông dân muốn giàu có thì phải hợp tấc với nhau tức là hợp sức với nhau

\| © Mac va Ph.Ang ghen Fodn tập Tập 16 Tr 766

'2 ©.Mac va Ph.Ang ghen Todn tập Tập 23 Tr 1059 1060

!* VI Lênin Toàn tập Tập 45 “Ban vé ché dé hop tdc xa” NXB Tién bo-Matxcova 1978 Tr 422

Trang 18

để giảm chỉ phí nâng cao lợi ích, có như vậy thì nông nghiệp mới phát triển và

đất nước mới giàu mạnh

Bác Hồ chỉ rõ nhu cầu hợp tác của người nông dân là nhằm vào hiệu quả của việc phát triển kinh tế-xã hội, tức là nông dân hợp tác với nhau, cùng chung sức với nhau là để giảm chi phí và tăng lợi ích Sự hợp tác trong sản xuất nông nghiệp không những có lợi cho mỗi người mà còn đem lại lợi ích chung cho mọi

người và cho sự phát triển của xã hội, “ích nước lợi dân” Bác kêu gọi nông dân:

“Muốn làm hòn núi cao, phải vào tổ đổi công và hợp tác xã”!' vì nhiều người cùng hợp sức thì mới làm được nhiều nhiều nhanh tốt rẻ, “nông dân ta mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất Do đó mà đưa nông thôn đến chỗ ấm no, sung sướng” Bác Hồ viết rất rõ như sau:

“Nong dan ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh, thì cần phải có hợp tác xã

Hợp tác xã là gì?

Nói tóm lại, hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau Vốn nhiều, sức mạnh, thì khó

nhọc ít mà lợi ích nhiều Vì vậy:

Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức có lợi cho nhà nông Nó là một cách tranh đấu

kinh tế có hiệu quả nhất, để giúp vào việc xây dựng nước nhà

Hợp tác xã nông nghiệp giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân

Hỡi đồng bào điển chủ nông gia!

Anh em ta ai chẳng mong được đầy đủ, giàu có, ai chẳng mong cho nước thịnh, dân

cường Vậy chúng ta hãy mau mau chung vốn góp sức, lập nên hợp tác xã nông nghiệp

ở khắp nơi; từ làng mạc cho đến tỉnh thành đâu đâu cũng phải có hợp tác xã.”!6

Bác Hồ chỉ rõ rằng nhu cầu hợp tác của người lao động cần được khơi gợi, khuyến khích và tạo điều kiện đáp ứng một cách có tổ chức, có kế hoạch và có

'* Hồ Chí Minh Toàn ráp Tập 9 NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Tr 133

'* Hồ Chí Minh Toàn tập Tập 9 NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Tr 487

'* Hồ Chí hinh Toản rập, T4, NXB CTQG H 1995 Tr 215

Trang 19

hiệu quả Hợp tác xã có đáp ứng được nhu cầu hợp tác hay không là tuỳ thuộc vào cách tổ chức, xây dựng hợp tác xã

Bác vạch rõ nguyên nhân của sự yếu kém của hợp tác xã Trong số đó nổi bật lên các nguyên nhân liên quan tới trình độ dân trí còn thấp và cách hoạt động kém hiệu quả của một số hợp tác xã Bác đã phân tích rõ tình hình này như sau:

“Phong trào vận động hợp tác xã đã được Chính phủ cổ động và khuyến khích, lại được

các báo nhiệt liệt hô hào Song đến nay, ngó về thôn quê, chúng ta vẫn thấy vắng hình

bóng hợp tác xã Có một vài nơi đã mở hợp tác xã tiêu dùng; nhưng, trong lúc này vì giá hàng lên xuống không chừng nên buôn bán thua lỗ rồi sinh chán, không chịu tiến

hành công việc đến nơi đến chốn

So di dan quê ta không chú ý đến việc mở hợp tác xã là vì những nguyên nhân sau: 1) Những trì thức phổ thông chưa được phổ cập ở thôn quê - Ở các nước, hợp tác xã là

hình thức tổ chức kinh tế rất thông thường trong dân chúng Trong mỗi làng, mỗi phố, mỗi hầm mỏ, mỗi nhà máy, mỗi công sở, người ta đều tổ chức hợp tác xã tiêu dùng Số tiên của mỗi cổ phân định rất nhẹ để cho người ít tiền cũng có thể góp được Người

nhiều tiền sẽ góp nhiều cổ phân hơn Như vậy, hợp tác xã sẽ có đủ vốn để kinh doanh

Sự tiêu dùng của mọi người đều do hợp tác xã nơi mình làm việc cung cấp Nhờ những

hợp tác xã đó, đời sống của dân chúng nước người được đây đủ, dễ dàng.”

Bác chỉ ra những điều kiện phát triển hợp tác xã đáp ứng nhu cầu hợp tác của người lao động Trong số đó, đối với cán bộ lãnh đạo quản lý, cần phải thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc tuyên truyền-vận động, nguyên tắc cùng có lợi, nguyên tắc tự nguyện và nguyên tắc dân chủ Bác viết rõ như sau:

“Những điều kiện cần thiết để phổ cập hợp tác xã thôn quê

1) Về việc cổ động tuyên truyền — Ngoài việc xuát bán sách báo nói về hợp tác xã phát

cho dân quê, Chính phủ nên phái người đi các làng mở những cuộc diễn giảng làm cho

dân chúng hiểu rõ lợi ích hợp tác xã và cách thức naở hợp tác xã

2) Mở lớp huấn luyện cán bộ — Bất cứ công việc gì thiếu cán bộ, khó thực hiện được Chính phủ nên mở ở các tỉnh những lớp huấn luyện cán bộ chuyên về hợp tác xã Mỗi

làng sẽ cử một hay hai người theo học lớp đó Chương trình học, ngoài những thường

” Hồ Chí Minh Toản tập T 4 NXB CTQG H 1995 Tr 259

Trang 20

thức về hợp tác xã, lại dạy cả những điều rất giản dị trong khoa kế toán và cách thức

làm số sách Kỳ hạn học nhiều nhất là một tháng Học xong những người cán bộ đó về làng sẽ là những loa truyền bá lý tưởng hợp tác xã Đỏng thời, họ là những ngời giúp

việc đắc lực cho dãn chúng trong công cuộc vận động mở hợp tác xã

3) Tại một vài công sở, hầm mỏ, xưởng máy, hay đồn điền, mở các hợp tác xã làm kiểu mẫu Bất đầu mở ngay hợp tác xã tiêu dùng và chỉ mở trong phạm vi nhỏ hẹp với một

số vốn vừa đủ kinh doanh về sau sẽ dần dần mở rộng them Chỉ khi nào dân chúng thấy lợi ích của hợp tác xã đã hiển nhiên thì khi đó phong trào hợp tác xã mới có thể sôi nổi, bồng bột được.”!#

“Muốn quản lý tốt hợp tác xã, cán bộ quản trị phải dân chủ, tránh quan liêu mệnh lệnh,

làm việc gì cũng cần bàn bạc kỹ với xã viên Làm việc theo lối mệnh lệnh, quan liêu,

không dân chủ thì chắc chắn thất bai"”

*Mỗi hợp tác xã cần có một phương hướng sản xuất đúng đắn phù hợp với tình hình kinh tế trong hợp tác xã và phù hợp với tình hình và yêu cầu chung của nền kinh tế

„ảo

quốc dân

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã là hệ thống các quan điểm về

vị trí, vai trò và các nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã Phát triển hợp tác xã, đáp ứng nhu cầu hợp tác sản xuất là nhằm vào mục đích cải thiện đời sống nông

dân làm cho nông dân được no ấm, mạnh khoẻ, được học tập, làm cho đân giàu

nước mạnh Việc nhấn mạnh vào hợp tác xã ở nông thôn và sự hợp tác của nông dân là một tất yếu xã hội Bởi vì vào giữa thế ký XX tuyệt đại bộ phận dan số Việt Nam sống ở nông thôn Đến cuối thế kỷ XX vẫn còn tới khoảng ba phần tư dân số sống ở nông thôn và tỉ lệ lao động nông nghiệp vẫn còn rất lớn, hơn 60%

Do đó, nói đến nhu cầu hợp tác là nói đến nhu cầu cải thiện đời sống của đại đa

số người dân Việt Nam ở nông thôn

'* Hồ Chí Minh Toản tập T 4 NXB CTQG H 1995 Tr 260

'? Hồ Chí Minh Toàn tập T 9 NXB CTQG H 1996 Tr 538

?* Hồ Chí Minh Toàn tập T 11 NXB CTQG H 1996 Tr 196

Trang 21

1.1.3 Quan điểm và đường lối của Đảng và Nhà nước về kinh tế tập thể và vai trò của nhu cầu hợp tác

Sự biến đổi hợp tác xã và nhận thức về hợp tác xã Sự phát triển hợp tác xã nông nghiệp là biểu hiện sinh động, cụ thể của hiện thực của nhu cầu hợp tác trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Năm 1955 ở Miễn Bắc Việt Nam mới có 8 hợp tác xã và 12.046 tổ đổi công Đến năm 1958 số hợp tác xã tăng lên 4823 và tổ đổi công là 244.400, tỉ lệ nông dân tham gia tổ đối công tăng từ 41% lên 65% trong cùng thời kỳ này?! Trong vòng hai năm (1958- 1960), số hợp tác xã nông nghiệp tăng gần 9 lần, lên 40.422 năm 1960 và tỉ lệ hộ nông đân tham gia hợp tác xã tăng từ 4.7% năm 1958 lén 85.4% nam 1960” Vé mặt số lượng, phong trào hợp tác hoá đã đạt được thành tựu cao nhất vào năm

1985 khi đó tổng số hợp tác xã trong cả nước là 55.714 Nhưng mười năm sau đó

số lượng hợp tác xã giảm mạnh còn gần một nửa, chỉ còn khoảng 22.900 hợp tác

xã vào năm 1994,

Sự biến đổi về số lượng hợp tác xã trong những thời kỳ này phản ánh sự biến đổi của nhu cầu hợp tác hiện thực Việc thành lập hợp tác xã trên thực tế xuất phát từ đặc điểm, tính chất và yêu cầu kinh tế-xã hội và cả trình độ nhận thức về nhu cầu của sản xuất trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể Có thời kỳ do nhận thức còn hạn chế, do chủ quan duy ý chí mà số lượng hợp tác xã tăng nhanh theo kế hoạch đề ra Có thời kỳ do yêu cầu “tất cả vì tiền tuyến” nên hợp tác xã là một phương thức quản lý và tập trung sức người, sức của để đánh thắng quân xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Có thời kỳ do hoạt động kém hiệu quả không đủ phương tiện hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu hợp tác nên số lượng hợp tác

xã nông nghiệp giảm sút mạnh

Nhận thức về hợp tác xã là một quá trình Mô hình hợp tác hoá với mặt tiêu cực của nó là chủ quan duy ý chỉ của thời kỳ trước đổi mới năm 1986 đã bị

?! Naoto Imagawa-Chu Thị Hảo Lý luận về hợp tác xã: quá trình phát triển của hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam NXB Nông nghiệp Hà Nội 2003 Tr 178

2 Naoto Imagawa-Chu Thị Hảo 1ý luận về hợp tác xã: quá trình phát triển của hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam NXB Nông nghiệp Hà Nội 2003 Tr 1960

Trang 22

phê phán mạnh mẽ và được khắc phục từng bước Quan điểm của Đảng và Nhà

nước ta về hợp tác xã được đổi mới Bắt đầu trong lĩnh vực nông nghiệp bằng

“khoán 100” (Chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong

HTX SX NN” ngày 13/1/1981) Khoán 100 đã mở ra một hướng mới cho sự phát

triển nhu cầu hợp tác của người lao động: người nông dân được tự chủ trong hợp tác sản xuất kinh doanh Trước đó trong năm năm liền từ 1975 đến 1980 sản lượng thóc bình quân đầu người không tăng và giữ ở mức 2l6kg/người Sau khoán 100 sản lượng thóc bình quân đầu người đạt mức 262kg/người năm 1986

Đối mới quan điểm và chính sách đối với hợp tác xã và nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tạo sự chuyển biến to lớn trong kinh tế theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Các chủ trương phát huy quyền tự chủ sản xuất kinh doanh đã khơi dậy nhu cầu tự chủ của người nông dân Kết quả

rõ nét là sản lượng thóc bình quân đầu người đạt 365kg/người vào năm 1995”,

Về vị trí và vai trò của hợp tác xã, Đảng ta đã xác định rõ “Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt."”', Với tư cách là một tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã chỉ là một trong những hình thức đa dạng để đáp ứng nhu cầu hợp tác phong phú của người lao động trong thời kỳ đổi mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Ngoài hình thức hợp tác xã ra còn có nhiều hình thức tổ chức kinh tế khác có khả năng đáp ứng nhu cầu hợp tác của người lao động trong số đó cần kể tới các hình thức

tổ chức hiệp hội, hợp tác cổ phần, doanh nghiệp cổ phần bắt đầu phát triển ở

nông thôn

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ V khoá IX của Đảng vạch ra phương hướng tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể nhằm đáp ứng nhu cầu của người lao động, hộ sản xuất kinh doanh về phát triển

?* Nguyễn Sinh Cúc Nông nghiệp Việt Nam 1945-1995 NXE Thống kê Hà Nội 1995 Tr 151

* Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 23

kinh tế-xã hội Trong Nghị quyết BCHTW lần V khoá IX có những nhận định rất

quan trọng sau đây:

“Năm năm qua kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã kiểu mới dưới nhiều hình

thức trình độ khác nhau trong các ngành, lĩnh vực, nhất là trong nông nghiệp, nông

thôn đã đáp ứng một phần nhu cầu của những người lao động, hộ sản xuất kinh doanh,

đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.”

"Mục tiêu từ nay đến năm 2010 là : đưa kinh tế tập thể thoát ra khỏi những yếu kém hiện nay, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP của nền kinh tế."

"Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Liên minh Hợp tác xã Việt

Nam Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân đân đối với phát triển kinh tế tập thể."

Quan niệm pháp lý về hợp tác Xuất phát từ nhu cầu hợp tác mà cá nhân,

hộ gia đình và pháp nhân có thể thành lập hợp tác xã để cùng giúp nhau thực hiện

có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của họ và góp phần phát triển kinh tế-xã hội Điều này được ghi rõ trong điều l của Luật Hợp tác xã (2003) như sau:

“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây

gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo

quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác

xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng

cao đời sống vật chất, tỉnh thần, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ”?,

Theo luật pháp Việt Nam cụ thể là Luật Hợp tác xã (2003), nhu cầu hợp tác của các cá nhân, hộ gia đình và các pháp nhân có thể được đáp ứng thông qua một tổ chức kinh tế tập thể là hợp tác xã mà nguyên tắc tổ chức và hoạt động của

nó được quy định rõ Trong số đó có các nguyên tắc cơ bản như: tự nguyện, dân chủ-bình đẳng-công khai, tự chủ-tự chịu trách nhiệm, cùng có lợi, hợp tác và phát triển cộng đồng

** Luật Hợp tác xã Được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XI thông qua ngày 26/1 1//2003, có hiệu lực thí hành từ 1/7/2004 Tr 5

Trang 24

Chính sách của Nhà nước đối với hợp tác xã liên tục được đổi mới theo

hướng cởi mở, hỗ trợ, khuyến khích, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của hợp tác xã nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác của công dân Việt Nam Điều 17 của Luật Hợp tác xã (2003) quy định rõ điều kiện trở thành xã viên, trong đó nhấn mạnh đến điều kiện tuổi, năng lực và tỉnh thần tự nguyện Cụ thể là:

“Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dan su day đủ, có

góp vốn, góp sức, tán thành Điều lệ hợp tác xã, tự nguyện xin gia nhập hợp tác xã có

thể trở thành xã viên” 2,

Tóm lại, hợp tác xã nông nghiệp là một trong các loại hình hợp tác xã ở

nông thôn Việt Nam Hợp tác xã cũng chỉ là một trong các hình thức tổ chức

kinh tế tập thể có khả năng đáp ứng nhu cầu hợp tác sản xuất Sự biến đổi hợp tác

xã phản ánh sự biến đổi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nông thôn Đổi mới nhận thức và tư duy về vị trí, vai trò của hợp tác xã trong những thập niên vừa qua đã đem lại những bước chuyển biến cơ bản trong hiện thực của nhu cầu hợp tác ở nông thôn Hiện nay có khoảng 75% dân số Việt Nam sống ở nông thôn, nhưng hợp tác xã nông nghiệp không còn là loại hình hợp tác thống trị trong đời sống người dân nông thôn như trong thời kỳ trước đổi mới nữa Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta khởi xướng công cuộc đổi mới tư duy, đổi mới kinh tế-

xã hội đến nay ở nông thôn Việt Nam đã xuất hiện nhiều loại hình hợp tác xã hoạt động trong các lính vực sản xuất kinh doanh Sự phong phú của các loại hình hợp tác xã là kết quả của sự phát triển phong phú của các nhu cầu hợp tác của người lao động

1.2 Một số lý thuyết về nhu cầu hợp tác

1.2.1 Khái niệm nhu cầu hợp tác

Khái niệm nhu cầu và các đặc điểm của nhu cầu

Theo quan niệm duy vật lịch sử, nhu cầu khách quan nảy sinh trong quá trình lao động được phản ánh vào đầu óc con người và trở thành nhu cầu có khả năng trở thành hiện thực Khi đó nhu cầu của con người có chức năng kích thích,

* Luật Hợp tác xã T¡ 21

Trang 25

thúc đẩy con người hoạt động hướng vào những đối tượng nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ ra rằng nhu cầu của con người được sinh thành, phát triển trong quá trình lao động sản xuất và đối tượng thoả mãn nhu cầu của con người cũng xuất hiện và phát triển trong quá trình lao động sản xuất của con người Với nghĩa đó, nhu cầu được sản xuất ra và có chức năng tác động trở lại đối với quá trình sản xuất

Đối với mỗi cá nhân, nh“ cẩu là một trạng thái tâm lý phản ánh sự thiểu thốn về một cải gì đó cần để duy trì và thực hiện những chức năng, hoạt động nhất định của con người

Nhu cầu của con người có các đặc trưng cơ bản sau đây:

Tính đối tượng: nhu cầu luôn có đối tượng với nghĩa là nhu cầu luôn là một © trạng thái tâm lý nhằm vào một đối tượng nhất định nào đó Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó, nếu nhu cầu biểu hiện ra là một sự thiếu thốn thì bao giờ nó cũng cho biết là thiếu thốn cái gì; nếu nhu cầu biểu hiện ra là một

sự cần thiết thì bao giờ nó cũng cho biết sự cần thiết đó là về cái gì, cần cái gì; mong muốn điều gì Trạng thái không xác định đối tượng của nhu cầu không phải phổ biến và không đặc trưng cho nhu cầu của con người Theo quan niệm duy vật lịch sử, khi con người không xác định được đối tượng của nhu cầu thì có nghĩa là nhu cầu đó cũng không tồn tại, có nghĩa là không có nhu cầu hiện thực

Tinh hitu hiệu, khả thí: nhụ cầu nào cũng có những khả năng đáp ứng theo một cách nhất định, theo những phương thức nhất định Nhu cầu không xác định

về phương thức đáp ứng hay không có khả năng đáp ứng thì không phải là nhu cầu “hữu hiệu” — theo cách nói của Các Mác, mà chỉ là nhu cầu giả tưởng, không

có thật Con người chỉ có nhu cầu thực sự về một cái gì đó khi ý thức được nhu cầu đó với nghĩa là biết được đối tượng và phương thức thoả mãn nhu cầu Việc ý thức được các điều kiện có thực để thoả mãn nhu cầu làm cho nhu cầu trở nên thực tế, hữu hiệu

Trang 26

Tính phát triển của nhu cầu Nội dụng và tính chất của nhu cầu phụ thuộc vào điều kiện và phương thức thoả mãn như cầu mà các điều kiện và các phương thức đó liên tục biến đối, phát triển Do đó nhu cầu cũng biến đổi và phát triển Đây là một đặc trưng cơ bản của nhu cầu của con người Nhu cầu của con người được sản sinh và phát triển không ngừng cùng với sự phát triển vô cùng và vô tận của các điều kiện và phương thức thoả mãn nhu cầu

Tính xã hội của nhu cầu Bản chất xã hội của nhu cầu là do đời sống xã hội của con người quyết định Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng, ngay

cả nhu cầu ăn của con người cũng khác con vật bởi vì đối tượng thoả mãn cái đói của con người là do con người sản xuất ra và cách thức con người ăn cũng là cách

thức mà con người học được từ người khác, từ xã hội Do đó, cũng là nhu cầu ăn

uống nhưng rõ ràng nhu cầu ăn uống của con người khác về chất so với con vật Trình độ sản xuất phát triển thì nhu cầu của con người cũng phát triển và sự phát triển của nhu cầu thúc đẩy sự biến đổi xã hội Trên thực tế, nhu cầu tự nhiên của con người cũng trở thành nhu cầu xã hội

tự nguyện đóng góp các nguồn lực để đạt được mục tiêu chung

Hợp tác là một khái nệm được dùng ít nhất theo hai nghĩa sau đây:

Một là sự cộng tác, sự tác hợp của các hành động của hai hay nhiều hơn

hai người có nhu cầu cùng hoạt động với nhau Cách hiểu này cũng bao hàm một

kiểu phân công lao động trong đó các cá nhân cùng nhau làm việc để đạt mục

đích chung, lợi ích chung

Trang 27

Theo cách hiểu thứ hai, hợp tác là một tính từ gắn với một kiểu tổ chức kinh tế, một phương thức sản xuất kinh doanh dựa trên sự đóng góp các nguồn lực và chia sẻ các lợi ích chung cũng như những rủi ro có thể có khi cùng nhau

cộng tác với nhau Cách hiểu này bộc lộ rất rõ trong định nghĩa về hợp tác xã, đó

là một tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân có nhu cầu, có lợi ích chung và tự nguyện thành lập theo luật định

Điều quan trọng ở đây là hợp tác đồng thời được hiểu theo cả hai nghĩa: vừa với tư cách là một kiểu hành vi hoạt động và vừa với tức cách là một kiểu tổ chức được sinh ra từ nhu cầu hợp tác và nhằm thoả mãn nhu cầu hợp tác của con người

Khái niệm nhu cầu hợp tác

Nhu cầu hợp tác là sự đòi hỏi khách quan được con người ý thức về việc phải hợp tác với người khác để đạt được mục tiêu và lợi ích nhất định

Cách định nghĩa này cho thấy nhu cầu hợp tác có hai hình thức tồn tại, hai nơi trú ngụ như sau:

Một là nhu cầu hợp tác có thể tồn tại một cách khách quan ở bên ngoài con người trong quá trình sản xuất Biểu hiện khách quan dưới dạng vật thể hoá của nhu cầu hợp tác là sự thiếu thốn cần phải bù đắp của sức lao động hay nguyên vật liệu hoặc phương tiện lao động trong quá trình sản xuất

Hai là nhu cầu hợp tác tồn tại dưới hình thức các trải nghiệm bên trong cá nhân Biểu hiện chủ quan cụ thể của nó là sự mong muốn, là nguyện vọng, là sự nhận thức, là sự ý thức về một cái gì đó không ổn, về một cái gì đó cần phải có,

về một người nào đó cần phải hợp sức hay cộng tác để thực hiện những rnục đích

nhất định

Hình thức nhu cầu hợp tác nào xuất hiện trước? Hình thái nhu cầu hợp tác bên ngoài hay hình thái nhu cầu hợp tác bên trong? Xét cho cùng thì nhu cầu hợp tác dưới hình thức các trạng thái tâm lý là cái phát sinh, là cái phản ánh nhu cầu

Trang 28

hợp tác bên ngoài, phản ánh nhu cầu hợp tác tồn tại một cách khách quan trong quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, trên thực tế của từng giai đoạn phát triển xã hội, không phải lúc nào cái nhu cầu khách quan cũng được phản ánh đầy

đủ, kịp thời và chính xác trong đầu óc của mỗi người Do đó, đối với những người

cụ thể, nhiều khi cần phải khơi gợi, kích thích, tuyên truyền-vận động để hình thành nhu cầu hợp tác sản xuất kinh doanh Điều này cho thấy vai trò quan trọng của lãnh đạo quản lý đối với sự hình thành và phát triển nhu cầu hợp tác ở những nhóm người, những cộng đồng xã hội nhất định

Việc phân biệt nhu cầu bên ngoài và nhu cầu bên trong, nhu cầu khách quan và nhu cầu chủ quan nêu trên chỉ mang ý nghĩa tương đối nhưng rất cần thiết và quan trọng Nhu cầu có thể xuất hiện và được con người ý thức khi phải trải qua quá trình lao động cùng nhau, hoạt động cùng nhau Sự hợp tác hiện thực

có thể làm nảy sinh nhu cầu hợp tác Nhưng rất có thể xảy ra trường hợp là các cá nhân có nhu cầu hợp tác nhưng rất khó tìm được nhau, tức là các đối tác để thực

hiện các hành vi, hoạt động hợp tác

1.3 Sự biến đổi vị trí, vai trò của nhu cầu hợp tác trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội

Nguồn gốc của sự biến đổi như cầu hợp tác

Nhu cầu hợp tác của con người nảy sinh một cách tất yếu trong quá trình đấu tranh và sản xuất ra đời sống xã hội của con người Các Mác đã chỉ rõ nguồn gốc khách quan của sự sinh thành nhu cầu hợp tác hay hiệp tác của các cá nhân trong lao động sản xuất Đó là quá trình hoạt động cùng nhau, đó là sự tất yếu phải lao động cùng nhau Mác viết:

“Cai hình thức lao động trong đó nhiều người làm việc theo kế hoạch bên cạnh nhau và cùng với nhau, trong cùng một quá trình sản xuất hay trong những quá trình khác nhau

nhưng gắn liền với nhau, thì gọi là hiệp tác

Giống như sức tấn công của một đội ky binh, hay sức chống cự của một trung đoàn bộ binh khác về cơ bản với tổng số những sức tấn công hay sức chống cự của của từng ky

2

Trang 29

binh hay của từng chiến sỹ bộ binh riêng rẽ, tổng các sức cơ giới của từng công nhân riêng rẽ cũng khác về cơ bản với sức tập thể mà họ phát triển, khi có nhiều cánh tay

tham gia một lúc vào cùng một công việc không thể phân chia được, ví dụ khi cần nâng

vật nặng, quay ma-ni-ven hoặc đẩy một vật chướng ngại ra khỏi con đường Trong tất

cả những trường hợp ấy, lao động của từng người riêng rẽ không thể nào đạt tới kết quả

của lao động chung, hoặc chỉ đạt tới sau một thời gian rất lâu, hoặc với một quy mô rất

nhỏ Ở đây vấn để không phải chỉ là nâng cao sức sản xuất cá nhân bằng sự hiệp tác,

mà còn tạo ra một sức sản xuất tự nó đã là một sức tập thé r6i.”””

Các giai đoạn biến đổi như câu hợp tác trong lịch sử phát triển sản xuất Mác chỉ rõ ba giai đoạn phát triển của sự hiệp tác tương ứng với ba trình

độ phát triển của nhu cầu hợp tác: hiệp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí Sự cạnh tranh tạo ra những áp lực làm tăng tính tất yếu của

sự hợp tác Sự hợp tác đem lại lợi ích to lớn do tích tụ được các tư liệu sản xuất, phân công và phối hợp lao động có hiệu quả hơn

Sự lao động cùng nhau đã làm nảy sinh và phát triển nhu cầu hợp tác và sự đáp ứng nhu cầu hợp tác tuỳ thuộc vào những điều kiện lao động và sinh hoạt cụ thể Trong điều kiện kinh tế nghèo nàn thì nhu cầu hợp tác xuất hiện nhằm vào chiếm lĩnh những vật phẩm cần thiết cho cuộc sống sinh hoạt thường ngày như lương thực, thực phẩm, “cơm ăn, áo mặc” Trong điều kiện kinh tế giàu có thì xuất hiện nhu cầu hợp tác nhằm vào sự phát triển như sức khoẻ, giáo dục, tiến bộ, bình đẳng, dân chủ và văn minh

Nhu câu hợp tác trong hệ thống thang bậc các nhu câu của con người Các cá nhân, các hộ gia đình hay các nhóm xã hội có thể có nhu cầu hợp tác khác nhzu Điều quan trọng là nhu cầu hợp tác biến đổi và phát triển từ thấp đến cao The› lý thuyết “tháp nhu cầu” của Abraham Maslow thì nhu cần của con người thuộc các tầng bậc cao thấp khác nhau” Nhu cầu bậc thấp là những nhu cầu về những gì đảm bảo sự sinh tổn của con người Nhu cầu bậc cao là

?' C Mác và Ph Ang-ghen Todn tập Tập 23 NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật Hà Nội 1996 Tr 473,

** Lê Ngọc Hùng Xã hội học kinh rể NXB Lý luận chính trị Hà Nội 2004 Tr 243-244

Trang 30

những nhu cầu về những gì đảm bảo sự phát triển của con người Dựa vào đó có thể phân biệt các nhu cầu hợp tác từ thấp đến cao như sau:

e Một là sự hợp tác nảy sinh từ những nhu cầu tối thiểu cần thiết cho sự

tồn tại của con người, ví dụ, các cá nhân có nhu cầu hợp tác với nhau để

cùng săn bắt hay chăn nuôi, trồng trọt tạo ra lương thực, thực phẩm e©_ Hai là nhu cầu hợp tác với nhau để tạo ra sự an sinh như cùng hiệp lực

để chống lai su de doa ca thiên tai, dịch bệnh

« Ba là nhu cầu hợp tác với nhau để chia sẻ thông tin và giao tiếp

e Bốn là nhu cầu hợp tác với nhau để tạo ra sự tin cậy và tôn trọng lẫn

Nhu cầu hợp tác và các loại hành động xã hội

Nhu cầu gắn liền với hành động của con người Do vậy có thể dựa vào lý thuyết hành động xã hội của con người để phân biệt các loại nhu cầu hợp tác

Trang 31

Theo lý thuyết của Max Weber về bốn loại hành động xã hội” có thể phân biệt bốn loại nhu cầu hợp tác sau đây:

© Nhu cầu hợp tác do sự đồng cảm: ví dụ các cá nhân có thể hợp tác với nhau vì cảm thấy quý mến, yêu thương nhau

® Nhu cầu hợp tác theo thói quen: ví dụ do cùng sinh sống với nhau, cùng chung một cách thức sản xuất kinh doanh mà các cá nhân có nhu cầu hợp tác với nhau để sản xuất kinh doanh

e Nhu cầu hợp tác vì những giá trị văn hoá: các cá nhân có thể hợp tác

với nhau vì cùng chia sẻ hệ giá trị, chuẩn mực văn hoá như sự “đồng

cam cộng khổ”, “lá lành đùm lá rách” Các cá nhân hợp tác với nhau do

họ đặt niềm tin vào hợp tác, coi hợp tác là “gia đình”, là “nhà” có ý nghĩa thiêng liêng, coi sự tham gia hợp tác là một niềm vinh dự lớn lao

e Nhu cầu hợp tác vì hiệu quả hoạt động: các cá nhân có thể hợp tác với nhau để cùng lựa chọn phương tiện, công cụ lao động nhằm đem lại lợi ích cao nhất tức là hợp tác để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong điều kiện kinh tế thị trường dưới áp lực của sự cạnh tranh mạnh rnẽ thì kiểu nhu cầu hợp tác “duy lý công cụ-mục đích” này sinh thành và phát triển một cách phổ biến

Trên thực tế hiện nay, Luật Hợp tác xã (2003) đã thừa nhận rằng hợp tác

xã là một tổ chức kinh tế tập thể được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các các nhân thành viên Như vậy là nếu hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả kinh tế thì khó có thể thoả mãn được nhu cầu hợp tác của các xã viên Trong trường hợp đó, rất có thể là những người có nhu cầu hợp tác vì hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ tìm cách thức khác hay sẽ tham gia vào một tổ chức kinh tế tập thể khác để đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn

? Lê Ngọc Hùng Lịch sử & Lý thuyết xã hội học NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 202 Tr 177-180

Trang 32

Cách phân loại nhu cầu hợp tác nêu trên cho thấy mối quan hệ biện chứng của nhu cầu và hành động của con người Nhu cầu hợp tác hiện thực trở thành hiện thực hành động hợp tác nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển củacon người

Nhu cầu hợp tác của con người có nhiều loại Nhưng trong xã hội hiện đại, càng

ngày nhu cầu hợp tác vì hiệu quả hành động càng trở nên phổ biến Các cá nhân ngày càng chủ động và tích cực lựa chọn các hình thức tổ chức hợp tác thích hợp

để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của họ Rõ ràng là nếu cá nhân có thể

tự mình hoạt động một cách có hiệu quả thì sẽ khó có thể xuất hiện nhu cầu hợp

tác Trên thực tế, sự hợp tác đã trở thành một tất yếu xã hội trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của mỗi người Tính tất yếu khách quan đó được các cá nhân nhận thức và ý thức ngày một đầy đủ và trở thành một nhu cầu cơ bản của người lao động trong xã hội hiện đại Xét từ góc

độ chủ quan của cá nhân, tức là xét nhu cầu hợp tác với tính cách là sự phản ánh chủ quan về tính tất yếu khách quan của nhu cầu hợp tác thì nhu cầu hợp tác cũng biến đổi đổi và phát triển

Sự tiến hoá của nhụ cầu hợp tác và hợp tác xã

Theo thuyết “tiến hoá cộng tác” của Bogardus (1882-1973), một nhà nghiên cứu chuyên về các hình thức cộng tác và hợp tác xã, nhu cầu hợp tác phát triển qua năm giai đoạn từ thấp đến cao như sau??:

®_ Giai đoạn thấp nhất là nhu cầu hợp tác mang tính chất phản xa

e© Giai đoạn phát triển cao hơn của nhu cầu hợp tác là nhu cầu hợp tác theo bản năng Hai loại nhu cầu cầu này phổ biến ở giới động vat

©_ Trong xã hội loài người, xuất hiện loại nhu cầu hợp tác cao hơn hẳn về chất đó là nhu cầu hợp tác vì mục đích sinh tồn Loại nhu cầu này phổ biến trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, xã hội chiếm hữu nô lệ và xã

* Naoto Imagawa — Chu Thị Hảo Lý luận về hợp tác xã: quá trình phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt

Nam NXB Nông nghiệp Hà Nội 2003 Tr 28-29

Trang 33

hội phong kiến nơi kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp gắn liền với các điều kiện tự nhiên

e_ Loại nhu cầu hợp tác thứ tư xuất hiện trong xã hội công nghiệp: đó là

nhu cầu hợp tác để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh trên thị trường Nhu cầu hợp tác để cạnh tranh trong kinh tế thị trường là một tất yếu nảy sinh do áp lực của sự cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh Các cá

nhân, hộ gia đình phải hợp tác với nhau để huy động các nguồn lực vật

chất và trí tuệ để giành lấy thị phần cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Các hình thức hợp tác xuất hiện để đáp ứng các nhu cầu hợp tác rất phong phú và đa dạng của các cá nhân trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt về khách hàng, về hàng hoá và dịch vụ

e Giai đoạn phát triển cao nhất của nhu cầu hợp tác, theo Bogardus, là nhu cầu hợp tác vì sự tiến bộ cho toàn xã hội

Tóm lại, nhu cầu hợp tác là sự phản ánh chủ quan về tính tất yếu khách quan của sự phân công và hợp tác trong lao động sản xuất kinh doanh Thực tế là các cá nhân tất yếu phải cộng tác với nhau, hiệp tác với nhau để lao động đảm bảo sự tồn tại và phát triển

Nhu cầu hợp tác hình thành, biến đối và phát triển tuỳ thuộc vào yêu cầu

và điều kiện phát triển kinh tế-xã hội cụ thể Nhu cầu hợp tác chịu sự tác động mạnh mẽ của các đặc điểm cá nhân, lối sống, sinh hoạt và nhất là mức độ tham gia vào sự phân công lao động trong xã hội Nhu cầu hợp tác ở trình độ thấp được đáp ứng thì tất yếu sẽ hình thành nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn Điều này

phụ thuộc šäo tình độ phát triển của lực lượng sản xuất và các điều kinh tế-xã

hội cụ thể

Su hợp tác nói chung và hợp tác xã nói riêng là phương thức đáp ứng nhu cầu hợp tác Nhu cầu hợp tác, giống như các loại nhu cầu khác của con người, có nhiều đối tượng để thoả mãn Do đó, con người có thể lựa chọn các đối tượng và các phương tiện khác nhau để thoả mãn cùng một nhu cầu hợp tác Với tính cách

Trang 34

là một tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã được hình thành một cách tự nguyện nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích chung của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm

xã hội Như vậy, nhu cầu hợp tác chiếm một vị trí xuất phát điểm và đóng vai trò

thúc đẩy và định hướng cho hành vi, hoạt động hợp tác của các cá nhân trong xã

hội

Các hình thức tổ chức hợp tác ngày nay đang hình thành và phát triển ở nông thôn là một tất yếu kinh tế-xã hội gắn liền với nhu cầu hợp tác của các cá

nhân, các hộ gia đình và các nhóm xã hội ở nông thôn Trong thời kỳ quá độ sang

kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhu cầu hợp tác của người lao động trở nên hữu hiệu để tạo ra sức mạnh sản xuất kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh và hạn chế rủi ro của thị trường Việc nghiên cứu nhu cầu hợp tác với các biểu hiện và các hình thức đáp ứng nhu cầu hợp tác là một chủ đề quan trọng và cần thiết để có thể gợi ra những suy nghĩ và giải pháp phát triển sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động của các cá nhân, góp phần vào cải thiện đời sống người dân và phát triển xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 35

Sơ đỏ Khung nghiên cứu nhu cầu hợp tác trong phát triển kinh tế xã hội ở

Trang 36

Chương II

THỰC TRANG NHU CẦU HỢP TÁC

QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA Ở TỈNH YÊN BÁI, BẮC GIANG

VÀ THÁI BÌNH

2.1 Một số đặc điểm chung về cuộc điều tra

2.1.1 Phương pháp và mẫu điều (ra

Để thu thập số liệu về thực trạng nhu cầu hợp tác ở nông thôn miền Bắc, để tài sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu Cuộc điều tra chọn mẫu đã được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng I1 năm 2003 đến tháng 4 năm 2004

Ba tỉnh được chọn một cách có chủ định là tỉnh Yên Bái đại diện cho các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Giang đại diện cho các tỉnh ở vùng trung du và Thái Bình đại điện cho vùng đồng bằng Bắc Bộ

Trong mỗi tỉnh chọn một số xã và trong mỗi xã chọn một số hộ gia đình để điều tra bằng phiếu câu hỏi và một số cá nhân để phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm Cách chọn mẫu này không hoàn toàn tuân theo phương pháp ngẫu nhiên thuần tuý vì điều kiện nghiên cứu không cho phép Cách chọn mẫu chủ yếu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu phân cụm, phân tầng bắt đầu từ chọn tỉnh

đến chọn xã đến chọn thôn và chọn hộ gia đình và chọn cá nhân Phương pháp

chọn mẫu và phương pháp thu thập thông tin được trình bày kỹ trong phần phân tích định tính về nhu cầu hợp tác

Nhìn chung, cuộc điều tra đã được tổ chức một cách nghiêm túc, khoa học,

đảm bảo thu được những thông tin chính xác và cần thiết để làm rõ thực trạng nhu cầu hợp tác ở một số vùng nông thôn miền Bắc Tuy nhiên, đây chưa phải là cuộc điều tra chọn mẫu đại diện Các số liệu thu được từ cuộc điều tra này chủ

Trang 37

yếu là để giúp kiểm chứng các giả thuyết đã nêu trong đề tài và gợi ra những suy nghĩ và những tìm tòi, nghiên cứu tiếp theo

Công cụ điều tra gồm có một bộ “Phiếu trưng cầu ý kiến” và các bản hướng dẫn phỏng vấn sâu, bản hướng dẫn phỏng vấn nhóm Các bản hướng dẫn phỏng vấn gồm có một số câu hỏi mang tính định hướng để dựa vào đó người phỏng vấn nêu ra những câu hỏi cụ thể, phù hợp với từng đối tượng và từng tình huống phỏng vấn cụ thể Phiếu điều tra gồm có 17 câu hỏi xoay quanh nhu cầu hợp tác của người lao động và một số câu hỏi về bản thân người trả lời Hơn 500 phiếu đã được phát ra, trong đó số phiếu hợp lệ thu được và đưa vào xử lý trên máy vi tính là 497 phiếu Tỉ lệ phiếu hợp lệ rất cao là do người phỏng vấn trực tiếp tổ chức tiến hành phát phiếu tới từng cá nhân được chọn

Để thực hiện mục tiêu phân tích thực trạng nhu cầu hợp tác, số phiếu điều tra gồm 497 được chia thành hai nhóm:

se _ Một nhóm gồm 296 người “Có hợp tác” với người khác hoặc hợp tác với tổ chức nào đó trong sản xuất kinh doanh Nhóm này gọi chung

là “Nhóm hợp tác”, viết tắt là “Có HT”›

4¬»

e Một nhóm gồm 201 người “Không hợp tác” với ai hoặc không hợp tác với bất kỳ tổ chức nào để sản xuất kinh doanh Nhóm này gọi chung là “Nhóm không hợp tác”, viết tắt là “Không HT”

Trong phần phân tích về nhu cầu hợp tác dưới đây, mỗi bảng thường trình bày các số liệu chung của cả mẫu điều tra (497 người) và nhóm 296 người “Có HT” và nhóm 201 người “Khôrg HT”

2.1.2 Đặc điểm giới tính của mẫu điều tra

Trong tổng số 497 người trả lời phiếu điều tra về nhu cầu hợp tác có 305 nam (chiếm 61.4%) và 192 nữ (chiếm 38.6%) Trong số những người trả lời “có hợp tác” thì tỉ lệ nam là 66.9% và tỉ lệ nữ là 33.1% (Bảng 2.L)

Trang 38

Bảng 2.1 Cơ cấu giới tính của mẫu điều tra và tỉ lệ nam-nữ tham gia hợp tác

2.1.3 Cơ cấu tuổi

Phần đông (71%) những người trả lời phiếu điều tra đang trong độ tuổi sung sức nhất của tuổi lao động, tức là trong khoảng từ 30 đến 50 tuổi (Bảng 2.2) Điều này ngụ ý rằng nhu cầu hợp tác có thể tăng tỷ lệ thuận với thâm niên lao động, tức là càng tham gia sản xuất nhiều năm bao nhiêu thì sự hợp tác và sự hỗ trợ trong lao động càng trở thành một đòi hỏi mang tính tất yếu bấy nhiêu TĨ lệ gần 44% số người trả lời “có hợp tác” đang ở độ tuổi 30-40 và 30.4% số người ở tuổi 41-50 cho thấy rõ nhu cầu hợp tác phụ thuộc vào lứa tuổi Trong khi đó tỷ lẹ người lao động trên 50 có nhu cầu hợp tác chỉ chiếm chưa đến 10% cho thấy khi tuổi tăng lên thì nhu cầu hợp tác có thể giảm đi Nhưng số liệu này cho phép suy luận rằng tuổi tác và khả năng lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới mức độ tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu hợp tác của người lao động

Nhu cầu hợp tác phụ thuộc vào lứa tuổi theo hình parabol: tăng dần đến một độ tuổi khoảng gần 50 tuổi rồi giảm dần theo tuổi Mối tương quan phi tuyến tính này chịu sự tác động của yếu tố lao động Nhu cầu phụ thuộc vào tuổi thông qua sự tham gia lao động sản xuất của con người Lúc đầu tuổi tăng thì mức độ tham gia lao động tăng nhưng sau đó tuổi tăng thì lao động giảm Từ 60 tuổi trở

thì người lao động giảm bớt rõ rệt thậm chí từ giã vị trí và vai trò chính thức trong

hệ thống lao động xã hội Do vậy, nhu cầu hợp tác trong sản xuất kinh doanh

cũng giảm hẳn đi

Trang 39

Đại đa số những người trả lời đều đang có vợ hoặc đang có chồng (90.5%)

và chỉ có 9.5% là chưa có gia đình riêng (Bảng 2.3) Những người chưa có gia đình riêng có thể đang cùng sống với cha mẹ Điều này phản ánh đúng một thực

tế là hơn 80% số người trả lời có tuổi từ 30 trở lên và chỉ có gần 19% là đưới 30 tuổi Tuổi kết hôn trung bình ở nông thôn thường thấp cũng là một lý do để giải thích tại sao tỉ lệ người đang có vợ hoặc chồng rất cao như vậy

Bảng 2.3 Tình trang hôn nhân

Trang 40

2.1.5 Số con trong gia đình

Đối với các gia đình ở nông thôn thì việc có con là một chỉ báo quan trọng

về hạnh phúc và an sinh xã hội của gia đình Hầu như các cặp vợ chồng đều nhanh chóng sinh con ngay sau khi kết hôn khoảng một hoặc hai năm Do đó, tỉ

lệ các gia đình chưa có con chỉ chiếm khoảng 13% trong tổng số 497 người trả lời Hơn ba phần tư số người có l hoặc 2 con và chỉ khoảng một phần tư số người trả lời là họ có 3 con hoặc hơn 3 con Tỉ lệ lớn các gia đình có ít con là kết quả của công tác kế hoạch hoá gia đình được tiến hành rất thành công ở các địa bàn khảo sát Rõ ràng là chuẩn mực gia đình ít con đã trở nên phổ biến ở nông thôn miền Bắc Điều này ngụ ý rằng do ít con tức là ít sức lao động các gia đình có xu hướng phải hợp tác với người ngoài gia đình để thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh Thông tin về quy mô hộ gia đình sẽ giúp làm rõ xu hướng hợp tác này (Bảng 2.4)

Tuy nhiên, kết quả phân tích sâu hơn các số liệu điều tra trong bảng dưới đây cho thấy, 56,3% những người chưa có con có nhu cầu hợp tác, trong khi đồ 71,2% số người đại diện cho các gia đình có 1-2 con và 63,3% số người đại điện

hộ gia đình có 3 hoặc trên 3 con có nhu cầu hợp tác

Bảng 2.4 Cơ cấu các gia đình phân theo số con

Số con, SL %/SL SL %/SL Chưa có con 64 12.9 36 12.2 28 13.9 1-2 con 313 63.0 223 75.3 175 87.1

3 hoặc hơn 3 con 120 24.1 76 25.7 44 21.9

Do đó, có thể thấy rằng các hộ gia đình có ít con, do thiếu lao động mà nhu cầu hợp tấc của họ cao hơn so với những gia đình có đông con Trong khi những gia đình chưa có con thì các lao động chính có thể đi làm được và vì thế nhu cầu hợp tác của họ thấp hơn

Ngày đăng: 27/03/2013, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w