Đói nghèo và sự phân hóa giàu nghèo tỉnh Trà Vinh
Trang 1Học viện chính trị - hành chính quốc gia hồ chí minh
báo cáo tổng kết
đề tài khoa học cấp bộ
nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo tỉnh trà vinh
Cơ quan chủ trì: học Viện Ct-Hc khu vực II
Chủ nhiệm đề tài: ThS mai chiếm hiếu
Th− ký đề tài: ths phạm thành long
7010
21/10/2008
tp.Hồ chí minh- 8/2008
Trang 2BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
CIRAD Chương trình hợp tác Pháp -Việt
CPRGS : Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
MDG : Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ
NXBCTQG : Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Oxfam : Uỷ ban cứu đói Oxford, Anh Quốc
PPA : Điều tra nghèo đói có sự tham gia của người dân
UNPA : Quỹ dân số Liên hợp quốc
VHLSS : Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam
Trang 3MỤC LỤC
trang
Phần mở đầu 1
Chương I: Lý luận về nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo 15
1.1 Quan điểm và nhận thức về vấn đề nghèo đói 15
1.1.1 Một số khái niệm về tình trạng nghèo đói 15
1.1.2 Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối 18
1.1.3 Ngưỡng nghèo 19
1.2 Tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo – những căn cứ lý luận 23
1.3 Hồ sơ về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo trên thế giới và của Việt Nam 28
1.3.1.Tổng quan về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo trên thế giới 28
1.3.1.1 Tình trạng nghèo đói trên thế giới 28
1.3.1.2 Tình trạng phân hoá giàu nghèo trên thế giới 30
1.3.2 Tổng quan về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam 34
1.3.2.1 Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam 34
1.3.2.2 Tình trạng phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam 40
1.4 Nguyên nhân của nghèo đói ở Việt Nam 44
Chương II:Thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh trà vinh 59
Trang 42.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 59
2.1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội tỉnh Trà Vinh 59
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 59
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh 61
2.1.2 Sơ lược về tình hình nghèo đói và kết quả XĐGN của tỉnh Trà Vinh thời gian qua 67
2.1.3 Tổ chức địa bàn điều tra, nghiên cứu 71
2.1.3.1 Chọn điểm khảo sát và nghiên cứu 71
2.1.3.2 Thực hiện điều tra hộ mẫu 72
2.2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh 73
2.2.1 Thực trạng và đặc điểm nghèo đói ở tỉnh Trà vinh 74
2.2.1.1 Nông thôn là “điểm nóng”, nông dân là đối tượng nghèo đói trầm trọng ở tỉnh Trà Vinh 75
2.2.1.2 Người nghèo ở Trà Vinh gắn liền với trình độ học vấn thấp kém 80
2.2.1.3 Mức sống của nữ giới thấp hơn nam giới 83
2.2.1.4 Khả năng hạn chế trong tiếp cận các nguồn lực của người nghèo ở tỉnh Trà Vinh 85
2.2.1.5 Những hộ gia đình nghèo ở tỉnh Trà Vinh phần lớn là sở hữu quy mô gia đình lớn, tỉ lệ phụ thuộc cao 90
2.2.1.6 Tình trạng nghèo đói của dân tộc Khơme ở tỉnh Trà Vinh là rất trầm trọng 91
2.2.2 Tình trạng phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh 95
2.2.2.1 Khoảng cách thu nhập theo khu vực ở tỉnh Trà Vinh 95
Trang 52.2.2.2 Khoảng cách thu nhập theo nhóm hộ ở tỉnh Trà Vinh 96
2.2.2.3 Phân hoá giàu nghèo - nhìn ở bình diện tổng thể tỉnh Trà vinh 98
2.2.3 Những nhân tố tác động đến tình trạng nghèo đói ở tỉnh Trà Vinh 103
2.2.3.1 Mô hình xác định nhân tố tác động đến nghèo đói tỉnh Trà Vinh 103
2.2.3.2 Kết quả ước lượng mô hình (mô hình logit) 104
2.2.3.3 Giải thích kết quả ước lượng của mô hình 107
Chương III: Giải pháp giảm thiểu nghèo đói và phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh 114
3.1 Quan điểm định hướng giải pháp chính sách XĐGN ở nước ta 114
3.2 Nhìn lại tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh 119
3.3 Một số giải pháp XĐGN và nâng cao mức sống dân cư ở tỉnh Trà Vinh 122
3.3.1 Xây dựng và từng bước thực hiện có hiệu quả mô hình “ly nông bất ly hương” 122
3.3.2 Giải pháp về đất sản xuất 124
3.3.3 Giải pháp về tín dụng cho người nghèo 125
3.3.4 Giải pháp nâng cao kỹ thuật – công nghệ sản xuất nông nghiệp 127
3.3.5 Giải pháp cho thị trường đầu ra nông sản 128
3.3.6 Giải pháp về phát triển giáo dục - đào tạo 130
3.3.7 Giải pháp về vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình 133
3.3.8 Giải pháp đối với đồng bào dân tộc Khơme 133
Phần kết luận 143
Tài liệu tham khảo 146
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói đã, đang và trong tương lai vẫn có thể tiếp tục hoành hành thế giới này Nghèo đói tự thân nó không có giới hạn, tồn tại khắp mọi nơi và đặc biệt nghiêm trọng hơn tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Hậu quả của nghèo đói, tất nhiên là rất nghiêm trọng, nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến số phận của những con người lâm vào tình trạng cùng khổ mà còn làm suy yếu sự thịnh vượng của cả một quốc gia Đó là lý do mà tất cả mọi quốc gia trên thế giới, từ giàu đến nghèo đều xem mục tiêu XĐGN là quốc sách nhằm hướng đến sự phát triển bền vững Mục tiêu này càng trở nên quan trọng hơn đối với các nước đang theo đuổi con đường định hướng XHCN như Việt Nam Chính vì thế, giải quyết vấn đề nghèo đói luôn được Đảng và Nhà Nước Việt Nam đặt song hành vơí quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, cùng với với những bước tiến bộ vượt bậc về mặt kinh tế; dẫu vậy, nghèo đói vẫn là một nguy cơ hiện hữu và sự phân hóa giàu nghèo là một thách thức màViệt Nam đang phải đối mặt
Thực tiễn qua hơn hai mươi năm đổi mới cho thấy Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất lớn trong phát triển kinh tế, đồng thời đã không ngừng cải thiện đời sống cho người dân, thực hiện có hiệu quả các chương trình XĐGN Theo đánh giá của Oxfam:"Việt Nam đã đạt được những tiến bộ không tưởng tượng nổi trong hai thập kỷ qua Đây là một đất nước kết hợp tăng trưởng kinh tế cao với giảm nghèo ở mức cực kỳ cao Vào giữa thập kỷ
80, số người nghèo chiếm gần tới ba phần tư dân chúng Việt Nam, mười lăm năm sau, con số đó rút xuống còn một nửa" Mặc dù vậy: “Những đổi mới đầu tiên mang lại sự tăng trưởng kết hợp với công bằng lại không được tiếp nối
Trang 7Trong những năm gần đây, một bức tranh đáng quan ngại đang hiện lên với các khoảng cách chênh lệch gia tăng dần giữa các vùng giàu và nghèo của đất nước, đặc biệt là giữa các trung tâm tăng trưởng chính và những khu vực còn nằm bên lề của sự phát triển”1
Tuy không thể phủ nhận những thành tựu giảm nghèo màViệt Nam đã đạt được trong thời gian qua là rất nổi bật, thế nhưng chúng ta cũng cần phải thận trọng khi xem xét Kết quả điều tra mức sống dân cư do Tổng cục Thống kê thức hiện cho thấy, theo chuẩn quốc tế tỉ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004 Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã về đích trước 10 năm so với mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ2 Tuy nhiên, nếu căn cứ vào ngưỡng nghèo mới của Việt Nam (mức thu nhập 200.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị), tương đương chuẩn quốc tế là 2USD/ngày (tính theo PPP), thì số hộ nghèo của Việt Nam có thể lên tới 4 triệu hộ, tăng gần 3 lần so với tiêu chí cũ, khoảng 22% (năm 2005) Dưới góc nhìn của WB cho thấy, tốc độ giảm nghèo của Việt Nam tăng nhanh trong giai đoạn 1993-1998, từ 58,1% xuống 37,4%, nhưng sau đó đã bị chững lại (tỉ lệ nghèo chung năm 2005 là 22,3%)3 Rõ ràng, ước tính tình trạng nghèo là rất nhạy cảm do tính đại diện trong điều tra, lựca chọn tiêu chí Nhưng dù ước tính theo tiêu chí nào chăng nữa thì rõ ràng, tình trạng nghèo đói hiện nay ở Việt Nam vẫn đang ở mức rất cao và đáng quan ngại Để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, đòi hỏi chúng ta trong thời gian tới phải tiếp tục công cuộc XĐGN một cách nhanh chóng và triệt để hơn nữa Do vậy, nghiên cứu
1 Oxfam(2000) Việt Nam: Những thách thức mới trong tăng trưởng, công bằng và giảm nghèo Tr.2,3
2 Đảng Cộng sản Việt Nam(2006) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X NXB CTQG, HN Tr 157
3 Phan Thị Hạnh Thu(2007) Tự do hóa thương mại và nghèo đói ở Việt Nam Tạp chí nghiên cứu kinh tế số
355 Tr 8-11
Trang 8nghèo đói sẽ luôn là một vấn đề được quan tâm nhất và nó càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
ĐBSCL có khoảng trên 16 triệu người sinh sống trên một vùng đất rộng lớn, màu mỡ bậc nhất của nước ta, diện tích tự nhiên có tới gần 4 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 71,82% và chiếm hơn 30% tổng diện tích đất canh tác nông nghiệp cả nước Với điều kiện địa lý, kinh tế hết sức thuận lợi, lại được Nhà nước quan tâm đầu tư thì lẽ ra đời sống nhân dân phải ở mức cao tương xứng Nghịch lý là, trong khi gạo hàng hoá ở ĐBSCL nhiều nhưng vẫn còn tình trạng nhiều hộ nông dân rơi vào tình trạng đói nghèo Ước tính theo chuẩn nghèo chi tiêu của WB cho thấy, tỉ lệ nghèo chung của khu vực ĐBSCL năm 2005 ở mức 18% Mặc dù, mức nghèo trên là khá khả quan so với các vùng còn lại trong cả nước, song là khu vực chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số người nghèo của Việt Nam; ngoài ra, tốc độ giảm nghèo ở khu vực này tỏ ra hết sức chậm chạp (tỉ lệ nghèo năm 2002: 23,2%)1 Quả thực là một thực tế đáng thất vọng với một khu vực giàu tiềm năng bậc nhất của Việt Nam
Đặc biệt, ở ĐBSCL nghèo đói trở thành một hiện tượng phổ biến đối với đồng bào dân tộc Khmer Tuy chưa có cuộc điều tra riêng cho từng dân tộc, nhưng theo Hà Quế Lâm (2002), qua tổng hợp các cuộc điều tra đã kết luận rằng, các nhóm dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Khmer ở ĐBSCL có mức độ nghèo đói gấp 2-3 lần so với mức nghèo chung theo vùng
Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng ĐBSCL chủ yếu là người Khmer, hiện có hơn 1 triệu người sinh sống tập trung phần lớn ở vòng cung từ các tỉnh giáp giới Campuchia là Kiên Giang (182.056 người, chiếm 12,2% dân số), An Giang (78.706 người, chiếm 3,8% dân số), đến các tỉnh giáp biển Đông là Cà Mau (20.082 người, chiếm 1,9% dân số), Bạc Liêu (56.132 người, chiếm 7,6%
1 Phan Thị Hạnh Thu(2007) Tự do hóa thương mại và nghèo đói ở Việt Nam Tạp chí nghiên cứu kinh tế số
355 Tr 8-11
Trang 9dân số), Sóc Trăng (336.269 người, chiếm 28,7% dân số), Trà Vinh (290.932 người, chiếm 31,1% dân số), Cần Thơ (32.788 người, chiếm 1,8% dân số) Số liệu điều tra mức sống dân cư năm 2002 từ Tổng cục Thống kê đã cho thấy tình trạng nghèo đói ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh – khu vực tập trung nhiều dân tộc Khmer sinh sống nhất là rất nghiêm trọng, lần lượt là 37,5% và 33,6% (hai tỉnh có tỉ lệ nghèo cao nhất vùng ĐBSCL)1
Bên cạnh đó, dường như mô hình chữ U ngược trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kéo theo sự gia tăng về bất bình đẳng của Kuznets đang hiện diện hầu hết các vùng của Việt Nam; trong đó, ĐBSCL cũng không là ngoại lệ Theo Tổng cục Thống kê, mức phân hoá giàu nghèo được đo lường theo hệ số GINI ở ĐBSCL năm 2002 là 0.30, một giá trị khá lý tưởng; song điều đáng quan ngại là khoảng cách mức sống giữa nhóm dân tộc Kinh và dân tộc Thiểu số nói chung đang doãng dần ra: 1,64 lần (1992 -1993) và 2,09 lần (2001 – 2002)2
Có thể nói rằng, vấn đề nghèo đói đã, đang ngày càng trở thành một vấn đề hết sức bức xúc và đáng quan tâm XĐGN và giảm thiểu phân hóa giàu nghèo, không những là nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà còn là vấn đề chính trị; đặc biệt đối với một khu vực nhạy cảm – tập trung nhiều đồng bào dân tộc Khmer và còn rất nhiều trong số họ đang nằm bền lề của sự phát triển như ở khu vực ĐBSCL Đó là lý do chúng tôi chọn Trà Vinh, tỉnh tập trung nhiều
đồng bào Khmer nhất của ĐBSCL để thực hiện đề tài: “NGHÈO ĐÓI VÀ SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO Ở TỈNH TRÀ VINH”
Tính cấp thiết của để tài còn là sự thể hiện quan điểm phát triển của Đảng ta:“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội” Trên cơ sở đó, một mặt Đảng ta chủ trương: “Tập trung xoá bỏ mọi vướng mắc, xoá bỏ mọi trở lực, cổ vũ các nhà
1 UNDP(2003) Đánh giá nghèo đói theo vùng: Vùng ĐBSCL Tr 37
2 Sđd Tr.36
Trang 10kinh doanh và mọi người dân ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước”; mặt khác là:"Thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo"1
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Như đã đề cập, nghèo đói đang trở thành một vấn nạn của toàn cầu, do đó nó là lĩnh vực đã được nghiên cứu và mổ xẻ rất nhiều, sâu và rộng trên khắp thế giới, trong đó tập trung rất nhiều cho các nước đang phát triển Các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phân tích các khía cạnh về tình cảnh nghèo đói ở trong lòng các quốc gia này; sự phân hoá giàu nghèo và phân tầng xã hội Có thể kể đến một số tác giả nổi bật vớiø các công trình tiêu biểu sau đây:
- O De Solages, 1996 Những thành công và thất bại về phát triển trong Thế giới thứ ba NXB CTQG, Hà Nội
- Lusadi M., and Browing M., 1996 Household saving: Micro theories and Micro facts Jounal of Economic Literature, vol XXXIV, pp: 1797 - 1855
- Todaro M P., 1997 Economic Development Fourth edition Longman Singapore Publishers
Đối với Việt Nam, đặc biệt kể từ sau đổi mới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đã được công bố Những công trình nghiên cứu này bao gồm những nhóm nội dung cơ bản sau:
Nghèo đói ở Việt Nam, nhìn từ góc độ lý luận đến thực tiễn, gồm có các công trình tiêu biểu:
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb
CTQG.Tr.106,162,166
Trang 11- Oxfam, 2000 Việt Nam - những thách thức mới trong tăng trưởng, công bằng và giảm nghèo Hà Nội
- Vũ Thị Ngọc Phùng, 1999 Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam NXB CTQG, Hà Nội
- Lương Hồng Quang, 2002 Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội
- Stefan Nachuk,2001 Thức dậy một tiềm năng NXB CTQG, Hà Nội
- UNDP, 1995 Poverty Elimination In Viet Nam Ha Noi, Viet Nam October
1995
Đánh giá thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở Việt Nam; đặc điểm và những nguyên nhân của nghèo đói ở Việt Nam; những giải pháp XĐGN ở Việt Nam Có thể dẫn chứng một số công trình nghiên cứu sâu như sau:
- Nguyễn Thị Cành, 2001 Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyễn đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Nxb Lao động - Xã hội,
- WB, 2000 Báo cáo phát triển Việt Nam: Tấn công nghèo đói
- WB, 2004 Báo cáo phát triển Việt Nam: Nghèo
- WB, 2007 Báo cáo phát triển Việt Nam Báo cáo phát triển Việt Nam 2007: Hướng đến tầm cao mới
Trang 12Một số công trình có đề cập về vấn đề nghèo đói ở ĐBSCL; thực trạng nghèo đói và mức sống của đồng bào dân tộc Thiểu số nói chung và đồng bào Khmer nói riêng, như:
- Hà Quế Lâm, 2002 Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp NXB CTQG, Hà Nội
- WB(2000) Việt Nam: Tiếng nói của người nghèo Báo cáo tổng hợp của Action Aid Việt Nam, Oxfam, Quỹ cứu trợ nhi đồng Anh và chương trình phát triển của Nông thôn và Miền núi của Việt Nam và Thụy Điển, Hà Nội
- UNDP, 2003 Đánh giá nghèo đói theo vùng- vùng ĐBSCL
Tuy nhiên, những công trình trên nghiên cứu ở bình diện rộng nhưng chưa thật cụ thể, chưa phản ánh tính đặc thù như nội dung mà đề tài sẽ nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ hướng vào một số mục tiêu cơ bản sau:
- Đánh giá thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
- Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số nhóm giải pháp đối với từng nhóm đối tượng nhằm đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo đối với khu vực nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thông qua các phương pháp nghiên cứu và phân tích sau đây:
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp quy nạp nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói tạo nền tảng và định hướng cho quá trình nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp chuyên gia để phân tích nội dung đề tài, tổ chức hội thảo để thẩm tra, lấy ý kiến bổ sung, hoàn thiện nội dung đề tài
- Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập số liệu theo các tiêu thức nghiên cứu Trên cơ sở đó, sử dụng các phương pháp thống kê mô tả,
Trang 13phương pháp tương quan nhằm làm rõ từng vấn đề trong phân tích, đánh giá
thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
4.1 Phương pháp đo lường nghèo đói
Vận dụng phương pháp đo lường mức độ và tính nghiêm trọng của tình
trạng nghèo thông qua các công thức đã đuợc Foster và ctv đề nghị năm
19841.Công thức được xác định như sau:
i M
i
) ( 1
1
(i) Trong đó:
Pα: các chỉ số xác định mức độ nghèo
Yi: đại lượng xác định phúc lợi (thu nhập tính trên đầu người) cho người
thứ i xếp theo thứ tự tăng dần
Z: ngưỡng nghèo
N: số người có trong mẫu dân cư
M: số người nghèo
α: đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những
người nghèo
α = 0,công thức (4.2) trở thành : P0 =
N
M (ia) Công thức (ia) thể hiện bằng số người nghèo chia cho tổng số người
trong mẫu Đây được gọi là tỉ số đếm đầu (Headcount ratio) hay chỉ số đếm
đầu (Headcount index)
α = 1,công thức (i) trở thành: P1= ∑
Y Z
N 1
) (
1 (ib) Công thức (ib) gọi là chỉ số khoảng cách nghèo (Poverty gap index)
Chỉ số này cho biết sự thiếu hụt trong thu nhập của các hộ nghèo so với
ngưỡng nghèo
1 WB(2000) Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000: Tấn công nghèo đói
Trang 144.2 Mô hình kinh tế lượng phân tích những nhân tố tác động đến khả năng nghèo của hộ gia đình
Nghèo đói xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Điều đó có nghĩa là khả năng nghèo sẽ là một hàm phụ thuộc vào nhiều nhân tố
Như vậy, xác suất một cá nhân chuyển dịch từ dưới ngưỡng nghèo lên trên ngưỡng nghèo (theo thu nhập) được xác định bởi một nhóm các biến số giải thích Hàm số xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo là biến số chất lượng phụ thuộc, nhận giá trị 1 cho hộ nghèo và 0 cho trường hợp ngược lại, và một nhóm biến số kinh tế - xã hội là những biến số giải thích (độc lập) Theo Goldberger (1965), do biến phụ thuộc là biến không liên tục và chỉ có hai giá trị (0,1), nên chúng tôi có thể vận dụng mô hình logit để xác định mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập khác nhau đến khả năng nghèo của một hộ gia đình1 Mô hình logit cho các pi được xác định như sau:
Pr(poor = 1/Xsβs)= Pi =
k k
k k
X X
X X
e
e
β β β
β β β
+ +
+ +
+ 1 2 2
2 2 1
Hay: Pi =
) (
1
) (
2 2 1
2 2 1
k k
k k X X
EXP
X X
EXP
β β
β
β β
β
+ +
+
+
Trong đó:
Pi: xác suất hộ gia đình thứ i rơi vào trường hợp nghèo
Pi: xác suất hộ gia đình thứ i rơi vào trường hợp nghèo
1 : Nếu hộ gia đình < ngưỡng nghèo
Pi =
0 : Nếu hộ gia đình >= ngưỡng nghèo
Xk: là các biến số độc lập, bao gồm những nhân tố tác động đến khả năng nghèo
Trở lại với mô hình logit tổng quát:
Pi = X X k X k k X k
e
e
β β β
β β β
+ +
+ +
+ 1 2 2
2 2 1
1 Nguyễn Quang Dong (2002)
Trang 15Bằng động tác tuyến tính hoá, mô hình (ii) trở thành:
Giả định rằng các yếu tố khác không thay đổi, khi tăng Xk lên 1 đơn vị,
tỉ lệ giữa xác suất nghèo và xác xuất không nghèo (O1) sẽ là:
e
* Oo
β
β
+ (iic) Công thức (iic) thể hiện ý nghĩa, với các yếu tố khác cố định, khi yếu tố
Xk tăng lên 1 đơn vị, xác suất nghèo của một hộ gia đình sẽ chuyển dịch từ P0
sang P1
4.3 Phương pháp đo lường mức độ phân hóa giàu nghèo
- Đo lường mức phân phối thu nhập theo nhóm 20% số hộ có thu nhập từ thấp đến cao
Theo cách đo lường này, người ta chia mẫu dân cư ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm 20% số hộ gia đình có thu nhập từ thấp nhất (nhóm I) đến cao nhất (nhóm V) Trên cơ sở đó, xem xét tỉ lệ phần trăm theo thu nhập và khoảng
Trang 16chênh lệch thu nhập giữa nhóm V so với nhóm I, cũng như đối với các nhóm còn lại Đây là một công cụ được sử dụng rất phổ biến trên thế giới nhằm đo lường mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
- Đo lường tỉ trọng theo phần trăm số hộ có các mức thu nhập đáy, giữa và đỉnh so với tổng thu nhập
Một công cụ đo lường mà WB thường sử dụng nhằm đánh giá mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập là đo lường tỉ trọng thu nhập của 40% số hộ thu nhập thấp, 40% số hộ thu nhập giữa, 10% số hộ thu nhập cao và 5% số hộ thu nhập cao nhất trong tổng thu nhập Căn cứ vào đó, các mức độ bất bình đẳng được WB xác định thông qua tỉ trọng của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất so với tổng thu nhập như sau:
+ Nếu tỉ trọng của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất so với tổng thu nhập nhỏ hơn 12%, bất bình đẳng ở mức cao
+ Nếu tỉ trọng của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất so với tổng thu nhập từ 12
- 17%, bất bình đẳng là ở mức vừa
+ Nếu tỉ trọng của 40% số hộ có thu nhập thấp nhất so với tổng thu nhập lớn hơn 17%, phân phối thu nhập tương đối bình đẳng1
- Đường cong phân phối thu nhập Lorenz và hệ số GINI (G)
Để đo lường mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi là biểu đạt mức độ bất bình đẳng thông qua biểu đồ Lorenz mang tên nhà kinh tế học Lorenz, và hệ số Gini mang tên nhà thống kê học đã đưa ra hệ số này
Mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập được minh họa qua biểu đồ Lorenz (hình i) Trong đó, hệ số GINI được biểu thị bằng phần diện tích giới hạn bởi đường chéo bình đẳng (đường chéo hình vuông) và đường cong
1 Vũ Thị Ngọc Phùng (1999)
Trang 17Lorenz (diện tích A) chia cho phần diện tích nằm dưới đường chéo bình đẳng ( (A + B)
Cụ thể, hệ số GINI: G =
B A
A +
Theo A Sen (1973), công thức tính hệ số GINI được cụ thể hoá như sau:
=
− + n
i i
i Y R M n
2 1
1 (4.3)
Trong đó:
n: là số hộ mẫu
Yi: mức thu nhập bình quân đầu người tương ứng hạng thứ i
M: mức thu nhập mẫu bình quân
Ri: thứ tự thứ i của hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người Yixếp theo thứ tự giảm dần
Hệ số GINI là thước đo xác định sự bất bình đẳng thu nhập, nhận giá trị trong khoảng từ 0 (tất cả mọi người có mức thu nhập như nhau) đến 1 (khi một người nắm giữ mọi thứ của xã hội và số còn lại không có thu nhập)
Hình i: Biểu đồ đường cong Lorenz
A Đường phân phối thu nhập đồng đẳng
B Đường cong LorenZ
0
% người nhận thu nhập 100%
Trang 185 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hộ gia đình
- Thời gian nghiên cứu: Năm 2007
- Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Trà Vinh
Trên cơ sở mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu đã xác định như trên; ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm
3 chương:
Chương I: Lý luận về nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo
1.1 Quan điểm và nhận thức về vấn đề nghèo đói
1.2 Tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo – những căn cứ lý luận
1.3 Hồ sơ về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo trên thế giới và của Việt Nam
1.4 Nguyên nhân của nghèo đói ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng nghèo đói và sự phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2.2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
2.2.1 Thực trạng và đặc điểm nghèo đói ở tỉnh Trà vinh
2.2.2 Tình trạng phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
2.2.3 Những nhân tố tác động đến tình trạng nghèo đói ở tỉnh Trà Vinh
Chương III: Giải pháp giảm thiểu nghèo đói và phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
3.1 Quan điểm định hướng giải pháp chính sách XĐGN ở nước ta
3.2 Nhìn lại tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo ở tỉnh Trà Vinh
Trang 193.3 Một số giải pháp về XĐGN và nâng cao mức sống dân cư ở tỉnh Trà Vinh
Sau thời gian nghiên cứu, nhóm đề tài đã hoàn tất công việc Sản phẩm của đề tài nghiên cứu bao gồm:
- Kỷ yếu khoa học
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học
- Báo cáo tóm tắt
- Đĩa mềm chứa toàn bộ nội dung đề tài
Tổng quan đề tài gồm 3 chương, phần mở đầu và kết luận, với tổng số
145 trang Do thời gian nghiên cứu và trình độ hạn chế, các sản phẩm của đề tài chắc chắn còn khiếm khuyết, rất mong được sự góp ý để chúng tôi tiếp thu
và hoàn thiện thêm Xin chân thành cảm ơn!
Trang 20CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ SỰ PHÂN HOÁ GIÀU NGHÈO
1.1 Quan điểm và nhận thức về vấn đề nghèo đói
1.1.1 Một số khái niệm về tình trạng nghèo đói
Người nghèo là ai? Không có một định nghĩa duy nhất về nghèo, và do đó cũng không có một phương pháp hoàn hảo để đo lường được nó
Nghèo là khái niệm đã được dùng rất lâu trên thế giới để chỉ mức sống thấp hơn của một người, nhóm dân cư, một cộng đồng, một quốc gia so với mức sống của một cộng đồng hay các quốc gia khác Tuy nhiên, nó lại không có một chuẩn mực chung về nghèo cho tất cả các quốc gia Chuẩn mực nghèo cũng luôn thay đổi theo thời gian Như vậy, các khái niệm về giàu và nghèo chỉ là các khái niệm tương đối, biểu hiện mối tương quan về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư trong từng thời gian và không gian cụ thể Hơn thế nữa, nghèo còn là sự bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau Các quan điểm khác nhau về nghèo của con người được trình bày dưới đây sẽ cho thấy một bức tranh rộng lớn hơn về tình trạng thiếu thốn, trong đó bao gồm nhiều yếu tố khác nhau
Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, nhà xã hội học William Wilson đã đưa ra thuật ngữ underclass (tầng lớp hay giai cấp dưới) để chỉ nhóm xã hội của những người nghèo Theo đó, họ được gọi là những người không có trình độ và kỹ năng, luôn chịu sự tách biệt xã hội, không có khả năng tiếp cận hoặc không có được các mối liên hệ với các cá nhân khác, với
Trang 21những thể chế có thể đem lại cho họ nguồn lợi về kinh tế và các vị thế về xã hội1
Tại hội nghị chống nghèo đói do ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất với nhau rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”
Theo một cách nhìn khác, O.de solages (1996) đã cho rằng, nghèo khổ cùng cực là một điều kiện sống bị hạn chế bởi suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường bị ô nhiễm, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao và tuổi thọ thấp, còn tệ hại hơn so với bất kỳ định nghĩa nào khả dĩ chấp nhận được về một cuộc sống bình dị nhất của một con người 2
WB (2004) đã đưa ra một khái niệm nghèo mang tính khái quát tương đối cao Theo đó, nghèo là tình trạng bị thiếu thốn nhiều phương diện Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo thu nhập trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị
1 Lương Hồng Quang(2002) Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Tr 34-35
2 Olivier de solages(1996) Những thành công và thất bại về phát triển trong thế giới thứ ba NXB CTQG, Hà Nội Tr.196-197
Trang 22sỉ nhục, không được người khác tôn trọng1 Như vậy, nghèo ở đây không chỉ là thu nhập thấp mà còn có điều kiện sống, sức khỏe, giáo dục, điều kiện vệ sinh
ở mức thấp, không có quyền lực và nghề nghiệp
Đối với Việt Nam, trong một báo cáo ‘một thoáng về cái nghèo ở Việt Nam’, Heather Grady đã đưa ra một quan điểm về người nghèo ở Việt Nam là những người không có khả năng tiếp cận hoặc kiểm soát các nguồn lực xã hội, kinh tế và chính trị và do đó, họ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu
cơ bản của con người một cách có phẩm giá2
Theo tiến trình phát triển của lý luận, mặc dù trong nhiều năm qua các nhà khoa học kinh tế và xã hội đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa ra một định nghĩa chính xác về nghèo, nhưng do tính tương đối về mặt không gian và thời gian, cũng như tính nhiều mặt của vấn đề nghèo mà những định nghĩa mới chỉ dừng lại ở mức tương đối
Tóm lại, nghèo là tình trạng của một bộ phân dân cư có các điều kiện
vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống gia đình họ ở dưới mức sống tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng Mức sống tối thiểu ở đây được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mạêc, sức khỏe và các nhu cầu khác như văn hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường Mức sống tối thiểu của mỗi nước sẽ khác nhau tùy thuộc vào khí hậu, những đặc điểm tự nhiên, và một phần lớn là tùy thuộc vào mức độ văn minh đã đạt được của từng thời đại và của mỗi quốc gia, như C.Mác đã kết luận: "Đối với một nước và một thời đại nhất định, mức độ cần thiết về những tư liệu sinh hoạt cũng nhất định"3 Về cơ bản, người nghèo là người phải sống dưới mức được định nghĩa như là chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một khoảng thời gian và không gian xác định Cốt lỏi của khái niệm này là thiếu
1 WB(2004) Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004: Nghèo Tr.7
2 Lương Hồng Quang, 2002 Văn hóa của nhóm nghèo ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Tr 46
3 C.Mac(1960) Tư bản, quyển 1, tập 1 NXB Tr 236
Trang 23một mức độ tối thiểu về nhân lực và vật lực để có thể đạt được một mức sống hợp lý
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, nghèo là một khái niệm động hơn là tĩnh Những người nghèo không phải là một tầng lớp xã hội tĩnh, hay không có sự dịch chuyển Trên thực tế, sau một thời gian, nhiều cá nhân hoặc nhiều gia đình đã vượt lên trên ngưỡng nghèo, trong khi một số khác lại bị trượt xuống dưới của sự nghèo đói Do đó các ước tính về nghèo luôn mang tính nhạy cảm Nghèo còn được thể hiện trên hai khía cạnh khác nhau là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
1.1.2 Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối một cách ngắn gọn như sau :
- Nghèo tuyệt đối là việc không thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để nhằm duy
trì cuộc sống của con người
- Nghèo tương đối là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại một thời
điểm, trong không gian xác định nào đó1
Như vậy, nghèo tuyệt đối là việc không thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để nhằm duy trì cuộc sống của một con người Thuật ngữ nghèo tuyệt đối là để chỉ một mức tồn tại tối thiểu mà bất kỳ một cá nhân hay hộ gia đình nào đang sống dưới mức này Đó là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống con người, mà những nhu cầu này đã được thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương
Trong khi, nghèo tương đối là tình trạng không đạt tới mức sống tối
thiểu tại một thời điểm, trong một không gian xác định nào đó Thuật ngữ
1 Nguyễn Thị Cành, 2001 Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyễn đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Nxb Lao động - Xã hội, TP Hồ Chí Minh Tr 15
Trang 24nghèo tương đối chỉ một mức độ của điều kiện sống mà ở đó những người của tầng lớp dưới được xem là kém phát triển hơn trong tương quan so sánh với những người thuộc tầng lớp khác
Cụ thể, sự phân biệt giữa nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối ở chỗ: nghèo tuyệt đối đề cập đến các tiêu chuẩn về các nhu cầu cần thiết tối thiểu của một con người, trong khi đó nghèo tương đối nói đến vị trí ở dưới mức sống phổ biến trong một cộng đồng
1.1.3 Ngưỡng nghèo
Trong khi các khái niệm nghèo về con người cho thấy một bức tranh rộng lớn về tình trạng thiếu thốn ở một quốc gia, nghèo về thu nhập hoặc nghèo về chi tiêu lại là một công cụ mang tính thực tiễn nhiều hơn và dễ lượng hoá hơn nhằm mô tả về tình trạng nghèo theo thời gian và không gian Nghèo về thu nhập hay chi tiêu được xác định thông qua một giới hạn gọi là ngưỡng nghèo
1.1.3.1 Ngưỡng nghèo tuyệt đối
Ngưỡng ngghèo tuyệt đối của thế giới do WB xác định là 1USD và 2 USD mỗi ngày mỗi người tính theo ngang giá sức mua (PPP) năm 1993 Ngưỡng 1 USD thường được sử dụng cho các nước kém phát triển, chủ yếu là châu Phi và Nam Á; ngưỡng 2 USD được dùng cho các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình như Đông Á và Mỹ Latinh1
1.1.3.1.1 Ngưỡng nghèo theo chi tiêu
Theo WB(2000), một người nào đó có mức sống dưới mức tối thiểu tại một thời điểm nào đó được coi là nghèo Giới hạn tối thiểu này dựa trên một rổ các loại hàng hóa, dịch vụ được dùng để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản tối thiểu bao gồm dinh dưỡng, nhà ở, quần áo, giáo dục và chăm sóc sức khỏe cá
1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007) Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu, thách thức và giải pháp Hà nội Tr.48-49
Trang 25nhân Giá trị (chi phí) của rổ hàng hóa này được gọi là ngưỡng nghèo1 Đó chính là ngưỡng nghèo theo chi tiêu Đây là cách tiếp cận tương đối phổ biến của các tổ chức như: UNDP, WB, Oxfam
- Ngưỡng nghèo chi tiêu lương thực, thực phẩm
Điểm xuất phát để xây dựng một ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm là thức ăn tiêu thụ phải đáp ứng đủ nhu cầu về dinh dưỡng Chỉ tiêu cơ bản về lượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể là lượng calories tiêu dùng cần thiết Theo đó, WB yêu cầu cần thiết theo đầu người là 2.100 calories mỗi ngày Đây được xem là ranh giới nghèo lương thực thực phẩm về mặt dinh dưỡng đang dùng phổ biến trên thế giới Như vậy chi phí tiêu dùng lương thực thực phẩm dựa trên một rổ lương thực thực phẩm để bảo đảm có được một lượng 2.100 calories mỗi ngày theo giá cả phù hợp với từng vùng, trong từng khoảng thời gian nhất định được gọi là ngưỡng nghèo về lương thực thực phẩm
- Ngưỡng nghèo theo chi tiêu chung
Ngưỡng nghèo về lương thực thực phẩm thường thấp, bởi nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực tối thiểu để con người tồn tại trong xã hội Do đó WB đã đưa ra khái niệm ngưỡng nghèo chung trên cơ sở kết hợp mức nghèo lương thực thực phẩm và phần chi tiêu tối thiểu ngoài lương thực thực phẩm Ơû mức ngưỡng nghèo chung thì phần tiêu dùng cho các sản phẩm lương thực thực phẩm chiếm khoảng 70% tổng chi tiêu; 30% còn lại là các sản phẩm, dịch vụ phi lương thực (bảng 1.1)
Chẳng hạn, WB đã xây dựng ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm và ngưỡng nghèo chung theo chi tiêu cho Việt Nam dựa trên một rổ các loại lương thực, thực phẩm đảm bảo mức năng lượng đầu người là 2.100 calories một ngày và các sản phẩm phi lương thực cần thiết tối thiểu Rổ lương thực và các sản phẩm phi lương thực này được xây dựng trên cơ sở VHLSS93 và
1 WB(2000) Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000:Tấn công nghèo đói Tr.157
Trang 26VHLSS98 Cụ thể, ngưỡng nghèo theo chi tiêu của Việt Nam của năm 1993 và năm 1998 được xác định ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Ngưỡng nghèo theo chi tiêu của Việt Nam năm 1993 và 1998
1,287 1,788
Nguồn:WB, 2000 Báo cáo phát triển Việt Nam 2000: Tấn công nghèo đói
Ngưỡng nghèo được mô tả ở đây là ngưỡng nghèo được tính theo mức giá của năm 1993 và năm 1998 đồng thời cũng là mức giá trung bình của cả nước Để xác định ngưỡng nghèo theo vùng và theo thời gian, phải dựa trên chỉ số giảm phát GDP theo vùng và theo thời gian
1.1.3.1.2 Ngưỡng nghèo theo thu nhập
Nghèo thuần túy dựa trên tiêu chí thu nhập là cách tiếp cận thông qua thu nhập để đo lường mức độ nghèo dựa trên một ngưỡng nghèo về thu nhập
Một người được xem là nghèo nếu có mức thu nhập thấp hơn mức tối thiểu cần phải có để đáp ứng đủ những nhu cầu cơ bản của một người bình thường Mức thu nhập tối thiểu này gọi là ngưỡng nghèo theo thu nhập
Ngưỡng nghèo theo thu nhập là tiêu chí chính thức màViệt Nam sử dụng để đánh giá tình trạng nghèo thông qua việc ấn định ngưỡng nghèo của Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho từng giai đoạn cụ thể (bảng 1.2, bảng 1.3 và bảng 1.4)
Trang 27Bảng 1.2: Ngưỡng nghèo của Việt Nam giai đoạn 1997 - 1998
ĐVT: 1.000 đ
Hộ nghèo Thu nhập bình
quân người/tháng
Thu nhập bình quân người/nămKhu vực miền núi và hải đảo
Khu vực nông thôn đồng bằng
Khu vực nông thôn đồng bằng
Bảng 1.4: Ngưỡng nghèo của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010
ĐVT: 1.000 đ
Hộ nghèo Thu nhập bình
quân người/tháng
Thu nhập bình quân người/nămKhu vực nông thôn đồng bằng
1.1.3.2 Ngưỡng nghèo tương đối
Ngưỡng nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội Một ngưỡng hay được dùng để đo lường nghèo tương đối là 50% hay 60% mức thu nhập bình quân đầu người của nền kinh tế Tuy nhiên, chuẩn nghèo tương đối theo cách đo như vậy trên thực tế phản ánh rất ít về
Trang 28mức sống của con người do khi thu nhập đồng loạt tăng hoặc giảm thì tỉ lệ người nghèo vẫn không đổi, mặc dù thu nhập của họ có thay đổi Vì vậy, nguỡng nguy cơ nghèo cũng thường dùng thay cho ngưỡng nghèo tương đối1
1.2 Tăng trưởng kinh tế, nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo – những căn cứ lý luận
Nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng lịch sử - xã hội xuất hiện trong quá trình phát triển và do đó dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giữa các nhóm người trong xã hội Cụ thể là sự phân cực một cách rõ ràng, một bên là lớp người có thu nhập cao, chiếm đa phần của cải trong xã hội; cực còn lại là lớp người bần cùng với thu nhập thấp, thậm chí không đủ bù đắp cho những nhu cầu cơ bản tối thiểu Như vậy, phân hoá giàu nghèo là khoảng cách về thu nhập (chi tiêu) giữa lớp người có thu nhập cao nhất gọi là lớp người giàu, chiếm giữ và phần thu nhập (chi tiêu) thấp nhất gọi là lớp người nghèo trong xã hội Khoảng cách này càng lớn, thể hiện độ phân hoá giàu - nghèo càng cao
Theo S.Kuznets (1963), giữa tăng trưởng kinh tế và phân hóa giàu nghèo quan hệ với nhau theo biểu đồ hình chữ U ngược Ông chỉ ra rằng, mức phân hóa giàu nghèo (bất bình đẳng) sẽ tăng lên trong giai đoạn phát triển kinh tế đầu tiên và sẽ giảm xuống trong giai đoạn kế tiếp (xem hình 1.1)
Tuy nhiên, trong mười năm trở lại đây, một số kinh tế gia thế giới đã đặt lại vấn đề và đã đạt được một số kết quả khá khả quan Cụ thể, Bruno, Ravallion và Squire (1996), sau khi nghiên cứu trên một tập hợp số liệu của hai mươi quốc gia, họ đã đi đến kết luận rằng, phát triển kinh tế không hề có tác động tiêu cực trên sự thay đổi của mức phân hóa giàu nghèo Tác động đo được là sự giảm nghèo trên toàn bộ mức thu nhập khác nhau, và dĩ nhiên, tác động đó về định lượng cũng tùy thuộc mức thu nhập Như vậy, không phải
1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007) Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu, thách thức và giải pháp Hà nội Tr.48
Trang 29phát triển kinh tế hoàn toàn là trung tính đối với phân bố thu nhập; nhưng sự thay đổi của phân bố này không thể giải thích bằng yếu tố phát triển kinh tế được1
Hình 1.1: Biểu đồ Kuznets quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
phân hoá giàu nghèo
Trong khi tăng trưởng kinh tế là điều kiện để giảm nghèo đói, nhưng sự phân chia của cải làm ra cũng quan trọng không kém gì việc tạo ra nó
M.P.Todaro (1994) đã cho rằng, một vấn đề quan tâm chính của các nước nghèo là sự mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và sự phân phối thu
1 Phạm Đỗ Chí và Trần Nam Bình (2001) Đánh thức con rồng ngủ quên NXB TP Hồ Chí Minh Tr 525
2 Sđd Tr 524
Trang 30nhập Yêu cầu có một sự tăng trưởng kinh tế cao và nhanh là một điều hiển nhiên Tuy nhiên vấn đề đặt ra là ai đã tạo ra nó – thiểu số hay đa số Nếu nó tạo ra từ số ít của những người giàu, nghèo khổ và sự bất bình đẳng sẽ tiếp tục gia tăng một cách tồi tệ Ngược lại, nếu nó được tạo ra bởi đa số, những lợi ích từ sự tăng trưởng kinh tế sẽ được phân chia đồng đều hơn, xã hội ngày càng thịnh vượng hơn
Có bốn lý do để chúng ta đặt niềm tin vào M.P.Todaro; đồng thời lập luận rằng, nếu có mức công bằng cao hơn ở các nước đang phát triển, trên thực tế có thể là một điều kiện để tăng trưởng kinh tế lâu dài
Thứ nhất, thực tế được hàng loạt các số liệu thu thập gần đây xác nhận
và đã chứng tỏ một điều là, không giống như kinh nghiệm lịch sử của các nước phát triển hiện nay Người giàu ở những nước đang phát triển không có tính chất căn cứ cũng như ý muốn tiết kiệm và đầu tư một phần đáng kể trong thu nhập của họ vào nền kinh tế trong nước Ngược lại, địa chủ, thương gia, chính khách và những nhóm người thượng đẳng khác nổi tiếng là những người luôn xài hàng ngoại nhập xa xỉ ở những ngôi nhà đắt tiền, hay đi du lịch nước ngoài, và đầu tư vào vàng, đồ trang sức, có tài khoản ở ngân hàng nước ngoài Những loại tiết kiệm và đầu tư đó không đóng góp được gì cho tiềm lực sản xuất của quốc gia Thực ra, đó còn là một sự tiêu phí tiềm lực đáng kể, thu nhập phát sinh ra từ tiềm lực đó lại bòn rút từ sức lực của những người lao động bình thường, không có học vấn, không có tay nghề
Nói chung, người giàu không nhất thiết là tiết kiệm và đầu tư một phần lớn hơn đáng kể trong thu nhập của họ so với người nghèo (theo nghĩa thực sự của tiết kiệm và đầu tư cho “sản xuất” trong nước) Vì vậy, một chiến lược tăng trưởng dựa vào sự gia tăng mức độ bất công trong thu nhập trên thực tế không hơn gì một phép màu mang tính cơ hội được tạo ra để giữ các đặc quyền, đặc lợi và duy trì nguyên trạng của các nhóm người thượng lưu về kinh
Trang 31tế và chính trị ở các nước đang phát triển, mà thường là đại đa số dân thường phải trả giá cho việc đó
Thứ hai, thu nhập thấp và mức sống thấp của người nghèo, thể hiện ở
tình trạng sức khỏe kém, dinh dưỡng và giáo dục kém, có thể làm giảm năng suất của họ, và vì thế, trực tiếp hay gián tiếp, dẫn đến kinh tế phát triển chậm Các chiến lược nhằm nâng cao thu nhập của 40% dân nghèo nhất sẽ đóng góp không chỉ vào phúc lợi vật chất của họ, mà còn vào năng suất và thu nhập của toàn bộ nền kinh tế nói chung
Thứ ba, tăng thu nhập cho người nghèo sẽ kích thích việc tăng toàn bộ
nhu cầu đối với các nhu yếu phẩm sản xuất trong nước như thực phẩm và quần áo Ngược lại, người giàu có xu hướng chi tiêu phần thu nhập tăng thêm của họ để mua xa xỉ phẩm nhập nhiều hơn Nhu cầu tăng đối với hàng trong nước sẽ kích thích nhiều hơn đối với sản xuất, công ăn, việc làm và đầu tư trong nước, vì vậy sẽ tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng nhanh và đông đảo quần chúng tham gia nhiều hơn vào sự tăng trưởng đó
Cuối cùng là, một sự phân phối thu nhập bình đẳng hơn đạt được do
giảm bớt mức độ nghèo đói của dân chúng sẽ kích thích phát triển kinh tế lành mạnh bằng cách đóng vai trò như một hình thức khuyến khích vật chất và tâm lý mạnh mẽ để mở rộng sự tham gia của quần chúng vào quá trình phát triển Ngược lại, thu nhập lớn và nghèo đói tuyệt đối phổ biến sẽ là một cản trở lớn về vật chất và tâm lý đối với tiến bộ kinh tế Nó thậm chí còn tạo điều kiện cho những người bất đồng chính kiến hay những người không hài lòng với cuộc sống quay lưng lại với sự phát triển, nhất là trong số những người có học thức
Nicolas Stern (2000) củng cố niềm tin trên bằng kết luận: “Lịch sử phát triển đã cho thấy trong nhiều trường hợp, những thành tựu về tăng trưởng kinh tế thường đi đôi với kết quả giảm nghèo Tuy nhiên, điều này không thể dẫn đến kết luận rằng các chính sách chỉ đơn thuần thúc đẩy tăng trưởng sẽ giúp
Trang 32giảm nghèo Sự phát triển của bất kỳ một nền kinh tế nào chỉ bền vững khi đạt được cùng lúc hai mục tiêu là vừa tăng trưởng kinh tế, vừa giảm được sự phân hoá giàu nghèo”1
Như vậy, tăng trưởng kinh tế liệu có kéo theo bất bình đẳng trong phân phối thu nhập hay không vẫn là chủ đề gây nhiều tranh cãi và chưa thực sự ngã ngủ Song, trong sự tương tác ngược lại, nếu kết quả của tăng trưởng kinh tế không được phân phối đồng đều, cũng có nghĩa là các chính sách XĐGN không hiệu quả sẽ dẫn đến sự chênh lệch thu nhập quá cao tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì hệ quả xã hội là bất ổn, thậm chí có thể sụp đổ trong dài hạn là hiển hiện Các quốc gia châu Phi và mô hình kinh tế Mỹ La Tinh là những biểu hiện rõ nét cho điều đó
Xin mượn lời của Đức giáo hoàng John Paul II: “Một xã hội không có công bằng xã hội và không có ý định trở nên công bằng sẽ tự làm hại tương lai của chính mình”2
Như vậy, Vấn đề cơ bản của sự phát triển phải được định nghĩa lại như một cuộc tấn công có lựa chọn vào các hình thái tồi tệ nhất của nghèo đói Mục đích của sự phát triển phải được xác định trên cô sở phấn đấu giảm dần và cuối cùng là loại bỏ hẳn tình trạng thiếu dinh dưỡng, bệnh tật, mù chữ, nghèo khổ và bất công
Tóm lại, với những thành tựu khiêm tốn, kinh tế học vẫn chỉ điều nghiên một mặt nhất định nào đó của xã hội Để xây dựng một quốc gia đòi hỏi phải nỗ lực nhiều hơn trên nhiều mặt, đặc biệt là về mặt đạo đức xã hội, chất keo gắn kết mọi thành viên trong xã hội có chung một lịch sử, một văn
1 Nguyễn Thị Cành, 2001 Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyễn đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Nxb Lao động - Xã hội, TP Hồ Chí Minh Tr 243
2 Giáo hoàng John Paul II Brazil, 1980
Trang 33hóa và một tương lai Chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, dưới tác động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh cùng vơi áp lực của tư hữu hóa và toàn cầu hóa, rõ ràng Việt Nam đang đối diện với khả năng của sự phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng Chính vì thế, mục tiêu phát triển của Việt Nam không chỉ là tạo ra một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định mà còn “phải luôn quan tâm bảo vệ lợi ích người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, vừa coi trọng xoá, đói giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả”1 Đó chính là bản chất của định hướng XHCN
1.3 Hồ sơ về tình nghèo đói và phân hóa giàu nghèo trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1.Tổng quan về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo trên thế giới
1.3.1.1 Tình trạng nghèo đói trên thế giới
Bối cảnh thế giới đang thay đổi theo ba hướng: không gian đang thu hẹp, cuộc sống của con người - việc làm, thu nhập và sức khỏe của họ bị ảnh hưởng bởi những sự kiện phía bên kia địa cầu, thường là những sự kiện mà họ không hề biết Thời gian đang rút ngắn, các thị trường và công nghệ giờ đây đã thay đổi với tốc độ chưa từng thấy, nó ảnh hưởng tới cuộc sống của những ngưới ở rất xa Các đường biên giới giữa các quốc gia đang biến mất dần bởi
xu hướng và tốc độ của toàn cầu hóa
Xu hướng toàn cầu hóa đang mang lại cho con người nhiều cơ hội hơn trong việc hội nhập kinh tế thế giới, đồng thời cũng tạo ra những thách thức mới Một trong những thách thức đó là sự gia tăng của tình trạng nghèo đói, đồng thời sự phân cực giàu- nghèo ngày càng tỏ ra sâu sắc giữa các quốc gia
1 Đảng Cộng sản Việt Nam(1996) Văn kiện Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ VIII NXB CTQG, Hà Nội
Tr 73
Trang 34cũng như trong nội bộ của từng quốc gia Ngày nay, nghèo đói đang thực sự trở thành một vấn nạn của nhiều quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới
Hội nghị cấp cao toàn thế giới bàn về các vấn đề xã hội tại Compenhaghen, Đan Mạch vào tháng 3 - 1995 đã công bố trong số 5,5 tỉ người trên toàn thế giới, có tới 1,3 tỉ người đang phải sống dưới mức nghèo với mức chi tiêu mỗi người một ngày thấp hơn 1 USD1
Mặc dù trên toàn thế giới đang nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm làm giảm thiểu vấn nạn nghèo đói hiện nay, nhưng tình hình vẫn chưa có gì sáng sủa Theo báo cáo của WB năm 2000 về "Tấn công nghèo đói" cho biết, trong
6 tỉ người trên thế giới thì có khoảng 2,8 tỉ người, tức gần một nửa, sống một ngày với mức chi tiêu bình quân dưới 2 USD, khoảng 1,2 tỉ người có mức chi tiêu chưa đến 1USD một ngày Nghèo đói hầu như hiện diện khắp mọi nơi, đặc biệt nghiêm trọng nhất tại các khu vực Nam Á, tiểu vùng sa mạc Sahara và khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (bảng 1.5)
Bảng 1.5: Phân bố 1,2 tỉ dân số thế giới sống dưới 1 USD/ ngày
Nam Á
Tiểu vùng sa mạc Sahara- châu Phi
Đông Á -Thái Bình Dương
Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê
Châu Aâu và Trung Á
Trung Đông và Bắc Phi
43,5 24,3 23,2 6,5 2,0 0,5 Tổng 100,0
Nguồn: Nguyễn Thị Cành (2001)
1 UNFPA, 2000 Dân số và phát triển - Một số vấn đề cơ bản NXB CTQG, Hà Nội Tr.173
Trang 35Theo WB, trong năm 2003 có 1,2 tỉ người trong số 4,8 tỉ người ở các nước đang phát triển với mức thu nhập không quá 1 USD/ngày; trong khi 2,8
tỉ người có mức thu nhập không quá 2 USD/ngày1
Nghèo đói không chỉ tồn tại ở các nước chậm phát triển, đang phát triển mà nó còn là một vấn nạn tương đối phổ biến ở các nước phát triển cao, điển hình như trong nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới(G7)
Tại Đức, theo số liệu “Báo cáo giàu và nghèo lần thứ hai” do Chính phủ liên bang đưa ra vào tháng 3/2005 thì trong năm 2003 có 13,5% dân số là nghèo Con số đó năm 2002 là 12,7%; năm 1998 là 12,1%
Một đất nước có mức thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giơi như Mỹ, cũng là một nước phải đối mặt với một tỉ lệ sống dưới mức nghèo khá cao Số liệu từ Cục điều tra dân số tháng 8/2005 cho biết, con số những người có thu nhập dưới ngưỡng nghèo đã liên tiếp tăng lên lần thứ tư: 12,7% dân số nghèo và đã tăng lên 0,2% so với năm trước đó2
Hiện trạng này đã chỉ ra rằng, tình trạng nghèo đói trong một xã hội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp, mà còn là hệ quả của sự phân
phối thu nhập bất công trong chính xã hội đó
1.3.1.2 Tình trạng phân hoá giàu nghèo trên thế giới
Trên bình diện tổng thể, theo báo cáo của Oxfam về tình trạng nghèo trên thế giới, vào năm 1960 có một phần năm những người giàu nhất thế giới đang sống trong những quốc gia công nghiệp phát triển với mức thu nhập bình quân gấp 30 lần so với một phần năm những người nghèo nhất đang sống trong những nước đang phát triển Đến năm 1990, họ có mức thu nhập gấp 60 lần Cách tính theo PPP của IMF làm giảm bớt sự chênh lệch, nhưng khoảng
1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007) Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu, thách thức và giải pháp Hà nội Tr.50
2 Sđd Tr 59
Trang 36cách này vẫn còn lớn hơn 50 lần Trong đó, thu nhập của nhóm 50 nước nghèo nhất đã tụt xuống ở mức chỉ còn bằng 2% thu nhập của thế giới, những quốc gia này là quê hương của một phần năm dân số thế giới1
Báo cáo thường kỳ của các tổ chức quốc tế tại Paris từ năm 1994 cũng đã cho biết, sự phân cực giàu - nghèo đang ngày càng gia tăng trên thế giới, số người giàu có mức sống, mức thu nhập cao gấp 60 lần so với người nghèo Bên cạnh đó, những nước có thu nhập trên đầu người dưới 370 USD được coi là nghèo ngày càng gia tăng, hàng năm có thêm khoảng 200 triệu người nghèo trên thế giới 2
Càng sững sốt hơn khi biết rằng trong năm 2003, 20% dân số giàu nhất thế giới chiếm tới 85% tổng thu nhập của toàn thế giới; trong khi 20% dân số nghèo nhất chỉ nhận được 1,4% thu nhập của toàn cầu3
Sự phân hóa giàu nghèo không chỉ diễn ra giữa các nhóm nước trên phạm vi toàn cầu, mà nó còn là vấn nạn ở trong lòng của mỗi mỗi quốc gia và
không có giới hạn về không gian
Thái Lan là một trong những nước khá phát triển của khu vực Đông Nam Á, từ nhiều năm trước đây Thái Lan đã thành công trong phát triển kinh tế và đã giảm được số người nghèo từ 57% xuống chỉ còn 13,7% năm 1992 Tuy nhiên, khoảng cách giữa 10% nhóm có thu nhập cao nhất và 10% nhóm có thu nhập thấp nhất lên tới gần 13 lần
Hồng Kông, một nền kinh tế nằm trong nhóm NIES Đông Á, phát triển nhất của châu Á Tuy nhiên, sự thịnh vượng đó dường như quay mặt với tầng lớp nghèo, thu nhập 10% dân số nghèo nhất chỉ chiếm vỏn vẹn hơn 2% tổng
1 UNFPA, 2000 Dân số và phát triển - Một số vấn đề cơ bản NXB CTQG, Hà Nội
2 Nguyễn Thị Cành, 2001 Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyễn đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Nxb Lao động - Xã hội, TP Hồ Chí Minh Tr 23
3 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007) Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu, thách thức và giải pháp Hà nội Tr.59
Trang 37sản phẩm thu nhập quốc dân Trong khi, Trung Quốc, một nền kinh tế mới nổi của thế giới cũng không thoát ly được quỹ đạo ngày một dốc lên của sự phân hóa Khoảng cách của thập phân vị giàu nhất và nghèo nhất lên tới hơn 18 lần
Ơû các nước Mỹ La Tinh và vùng Caribê, năm 2000 có khoảng 270 triệu
người, chiếm 60% tổng số người dân Mỹ La Tinh đang sống dưới mức nghèo Sự bất công trong phân phối nguồn của cải xã hội làm giảm sút thu nhập của các tầng lớp có mức sống trung bình và đẩy hàng chục triệu người nghèo đói vào cảnh bần cùng Tại đây, 20% số người nghèo có thu nhập chỉ chiếm từ 2,4% đến 5,5% tổng thu nhập, trong khi 10% dân số người giàu chiếm từ 33,4% đến 42% tổng thu nhập toàn quốc1
Tại châu Phi - một lục địa giàu có về tài nguyên của thế giới, nhưng một nghịch lý đó lại là lục địa nghèo nhất thế giới Chiến tranh sắc tộc; bất ổn về chính trị; đại dịch về bệnh tật; thiên tai và vấn nạn nghèo đói là những gì khi nói đến châu Phi Đồng hành với nó là sự phân hóa giàu nghèo diễn ra một cách sâu sắc ở các quốc gia này Nhận xét về tình trạng bất bình đẳng ở các nước châu Phi và Mỹ Latinh, O Solages (1996) đã thốt lên rằng, một hệ thống bất bình đẳng và thống trị mới đang ngự trị trong các chế độ chính trị ở các nước châu Phi, ở thời điểm phi thực dân hoá, khoảng cách thu nhập không mấy chốc đã mở rộng thêm đến độ vượt quá giới hạn an toàn của nó
Ở châu Aâu, Pháp là một quốc gia phát triển bậc nhất thuộc nhóm G7 cũng phải đối mặt với một hố sâu ngăn cách giàu nghèo khá cao: khoảng cách thu nhập của nhóm giàu nhất và nghèo nhất trong thập phân vị dân số ước tính lên đến 9,1 lần; trong đó, 10% dân số thu nhập thấp nhất chỉ chiếm tỉ trọng không quá 3% của tổng thu nhập quốc dân
1 Nguyễn Thị Cành, 2001 Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyễn đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh Nxb Lao động - Xã hội, TP Hồ Chí Minh Tr 29
Trang 38Đối với Mỹ – nền kinh tế số một của thế giới tỏ ra càng tồi tệ hơn khoảng cách thu nhập bình quân giữa nhóm thượng lưu và nhóm hạ lưu của thập phân vị cũng xấp xỉ 16 lần (bảng 1.6)
Bảng 1.6: Mức phân hóa giàu nghèo ở mộ số quốc gia
điển hình trên thế giới
ĐVT:% Quốc gia Thu nhập hoặc tiêu dùng
của 10% giàu nhất/10%
2,8 1,9 2,0 2,7 1,8 1,4 0,7 0,3
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007) Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam:
Thành tựu, thách thức và giải pháp Hà nội Tr.60-66
Như vậy, tình trạng phân hóa giàu nghèo cao dường như ngự trị ở hầu hết mọi quốc gia, trải tên khắp các lục địa, không kể giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển
Thế giới đang chứng kiến một điều rất kỳ lạ: Ngày càng giàu lên và
đồng thời, ngày càng nghèo thêm cho phần đa số
Trước cách mạng công nghiệp, cách biệt giữa nhóm giàu và nghèo nhất là 3:1 Thập niên cuối của thế kỷ 20 tỉ lệ này nhảy vọt 71:1 Theo WB, nhóm cực nghèo(thu nhập mỗi ngày không quá 1 USD đã tăng từ 1,2 tỷ người năm
1997 lên 1,5 tỷ người năm 2000, và dự kiến lên đến 1,9 tỷ người năm 2015
Trang 39Trên bình diện toàn cầu, đây thực sự là một thách thức của toàn cầu hóa đối các nước nghèo Nó như là một công cụ của các nước tư bản phát triển nhằm khống chế phần còn lại Và như thế, khoảng cách cứ dần nới rộng ra1
1.3.2 Tổng quan về tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam
1.3.2.1 Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam
Trước thập niên 90, Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội kéo dài, cùng với nó, hầu như nghèo đói ngự trị khắp nơi và triền miên Công cuộc đổi mới được khởi xướng từ cuối năm 1986 đã thổi vào đất nước một luồng sinh khí mới và theo đó, bộ mặt của đất nước ngày càng được cải thiện Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã thoát ra khỏi vùng xoáy của khủng hoảng, nền kinh tế ngày càng khởi sắc và tình trạng nghèo đói cũng dần vơi đi đầy lạc quan
- Gai đoạn 1991-2000
"Đời sống của đại bộ phận nhân dân tỉnh Trà Vinh đã được cải thiện hơn nhiều so với 10 năm trước đây Người dân Trà Vinh có thu nhập cao hơn, để dành được nhiều hơn, có chế độ dinh dưỡng và sức khỏe tốt hơn" (PPA Trà Vinh)
Một PPA Hà Tỉnh cho biết: "Nghèo đói đã giảm đáng kể, nhất là các hộ thuộc loại có mức sống thấp nhất, nghèo đặc biệt hay đói Nhìn chung tỉ lệ phần trăm các hộ rơi vào phạm trù này đã giảm từ hai phần ba làng xuống còn non nửa làng, trong khi đó số hộ khá giả, tăng từ hầu như không có lên tới khoảng 10%"2
Trang 40Hai nhận xét trên đây nằm trong báo cáo tổng hợp của PPA do WB thực hiện năm 200 đã cho thấy những dấu hiệu thực sự lạc quan trong nỗ lực XĐGN của chính phủ Việt Nam trong thập niên 90
Thật vậy, thập niên 90 cùng với thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội 1991-2000 đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân khoảng 7%/năm, Việt Nam đồng thời cũng đã chứng kiến một tốc độ giảm nghèo cực kỳ ấn tượng
Trong giai đoạn này, cả nước đã giảm được trên 2 triệu hộ nghèo đói Tỷ lệ hộ nghèo đói, theo đó đã giảm nhanh từ trên 30% vào năm 1992 xuống còn 10% năm 2000 (theo chuẩn nghèo quốc gia cũ), bình quân mỗi năm giảm 250.000 hộ
Theo đánh giá của WB, tình trạng nghèo đói ở Việt Nam trong thời
gian qua đã có xu hướng giảm nhanh Theo ước tính vào giữa những năm của thập kỷ 80, cứ mười người dân Việt Nam thì có bảy người sống trong tình trạng nghèo đói, Sau hơn một thập niên - thập niên của tăng trưởng kinh tế nhanh, tỉ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm xuống chỉ còn một nửa Đặc biệt, trong giai đoạn 1993 - 1998, tỉ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm xuống một cách nhanh chóng1
Ước tính của WB dựa trên số liệuVHLSS93 vàVHLSS98 đã cho biết, mặc dù tỉ lệ nghèo ở Việt Nam vẫn còn ở mức cao, thế nhưng những kết quả đạt được trong giai đoạn 1993-1998 là rất nổi bật Tỉ lệ nghèo về lương thực thực phẩm đã giảm từ khoảng 25% năm 1993 xuống còn gần 16% năm 1998; bên cạnh đó, tỉ lệ nghèo chung của Việt Nam đã giảm hơn 20% Nghèo cũng đồng thời đã giảm một cách đáng kể ở cả khu vực nông thôn và thành thị của Việt Nam trong giai đoạn 1993 - 1998 Đặc biệt đối với nghèo về lương thực
1 WB(2000) Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000: Tấn công nghèo đói Tr.2