Xuất phát từ tình hình đó, đề tài luận án: “ Giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo của Đồng bằng sông Cửu Long ” với mục đích phân tích, đánh giá, đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục hoà
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Võ Thị Yên Hà
Trang 2MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình đã công bố liên quan đến đề tài NC 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5
3.1 Mục tiêu tổng quát 5
3.2 Mục tiêu cụ thể 5
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4.3 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Những đóng góp mới của luận án 6
6 Kết cấu của luận án 7
Chương 1 XUẤT KHẨU GẠO VÀ TÀI CHÍNH VỚI VIỆC HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO 1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GẠO 8
1.1.1 Đặc điểm của thị trường xuất khẩu gạo 8
1.1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu gạo 11
1.1.3 Vai trò của xuất khẩu gạo đến phát triển kinh tế - xã hội 14
1.2 TÀI CHÍNH VỚI VIỆC HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO 18
1.2.1 Vai trò của các chính sách tài chính đối với xuất khẩu gạo 18
1.2.1.1 Tạo lập nguồn tài chính để tài trợ cho quá trình hoạt động xuất khẩu gạo 19
1.2.1.2 Phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính phục vụ quá trình hoạt động xuất khẩu gạo 21
Trang 31.2.1.3 Định hướng hoạt động xuất khẩu gạo 23
1.2.2 Tác động của các chính sách tài chính đến xuất khẩu gạo 24
1.2.2.1 Chính sách chi NSNN 26
1.2.2.2 - Tín dụng đối với hoạt động xuất khẩu gạo 33
1.2.3 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến các chính sách tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo 38
1.2.3.1 Cam kết quốc tế và lộ trình thực hiện liên quan tới các chính sách tài chính đối với tiêu thụ nông sản 38
1.2.3.2 Tác động của chính sách bảo hộ sản xuất nông nghiệp đến xuất khẩu gạo 40
1.2.3.3 Đánh giá những tác động của các cam kết quốc tế đến hoạch định các chính sách tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo 41
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG TÀI CHÍNH HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO 42
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 42
1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 44
1.3.3 Bài học cho Việt Nam 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49
Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THỜI GIAN QUA 2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ SẢN XUẤT GẠO Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 50
2.1.1 Vị trí địa lý 51
2.1.2 Lợi thế về điều kiện tự nhiên 52
2.1.3 Nguồn lực lao động 55
2.1.4 Tình hình sản xuất gạo ở ĐBSCL trong những năm qua 58
Trang 42.2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GẠO VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG 61
2.2.1 Hệ thống thu mua và xuất khẩu gạo ở ĐBSCL 61
2.2.2 Tình hình xuất khẩu gạo của ĐBSCL trong thời gian qua 64
2.2.3 Năng lực xuất khẩu gạo ĐBSCL 66
2.2.3.1 Lợi thế so sánh 67
2.2.3.2 Chất lượng gạo xuất khẩu (chênh lệch về chất lượng so với đối thủ cạnh tranh) 68
2.2.3.3 Giá xuất khẩu (mức chênh lệch về giá xuất khẩu so với đối thủ cạnh tranh) 70
2.2.4 Phân tích đóng góp và thụ hưởng của các thành phần tham gia xuất khẩu gạo trong chuỗi giá trị 75
2.3 THỰC TRẠNG CHI NSNN VÀ TÍN DỤNG CHO VAY TẠM TRỮ GẠO XUẤT KHẨU Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 77
2.3.1 Chi ngân sách nhà nước 77
2.3.1.1 Chi đ u tư cho qu hoạch xâ dựng các v ng sản xuất gạo xuất khẩu 77
2.3.1.2.Đ u tư xâ dựng hệ thống kết cấu hạ t ng ngành nông nghiệp, nông thôn 83
2.3.1.3.Đ u tư nghiên cứu và chu ển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất và xuất khẩu gạo 86
2.3.2 Chính sách tín dụng cho vay tạm trữ 93
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐẾN XUẤT KHẨU GẠO VÙNG ĐBSCL 98
2.4.1 Kết quả đạt được 99
2.4.2 Hạn chế và ngu ên nhân 100
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 105
Trang 5Chương 3 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 3.1 NHỮNG DỰ BÁO VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU GẠO
Ở ĐBSCL 106
3.1.1 Dự báo về biến đổi khí hậu - nước biển dâng và biến đổi dòng chảy ảnh hưởng đến sản xuất lúa ĐBSCL 106
3.1.1.1 Kịch bản biến đổi khí hậu 106
3.1.1.2 Kịch bản nước biển dâng 108
3.1.1.3 Kịch bản biến đổi dòng chả thượng lưu 109
3.1.2 Dự báo nhu cầu thế giới và khả năng xuất khẩu gạo của ĐBSCL 112
3.1.2.1 Thị trường xuất khẩu thế giới 112
3.1.2.2 Xuất khẩu gạo của ĐBSCL 113
3.2 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC VỀ XUẤT KHẨU GẠO Ở VIỆT NAM 114
3.2.1 Quan điểm về mở rộng thị trường gạo ở Việt Nam đến năm 2020 116
3.2.2 Định hướng mở rộng thị trường gạo 117
3.3 QUAN ĐIỂM VỀ SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG GẠO Ở ĐBSCL 120
3.3.1 Đầu tư có trọng điểm và đồng bộ cho sản xuất và xuất khẩu gạo ở ĐBSCL 120
3.3.2 Các giải pháp tài chính phải phù hợp với cơ chế thị trường nhưng không tách rời sự hỗ trợ của Nhà nước đối với xuất khẩu gạo 122
3.3.3 Chú trọng phối hợp các giải pháp tài chính với hệ thống các giải pháp khác như: xây dựng chiến lược, quy hoạch, tổ chức, nhân sự, khoa học và công nghệ 124
Trang 63.3.4 Sử dụng các giải pháp tài chính phải phát huy tiềm năng và thế mạnh
của ĐBSCL về phát triển nông nghiệp nói chung và sản xuất gạo nói riêng 124 3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM HỖ TRỢ XUẤT KHẨU
GẠO CỦA ĐBSCL NHỮNG NĂM TỚI 125 3.4.1 Giải pháp về chi NSNN 125
3.4.1.1 Tăng cường đ u tư cho qu hoạch, xâ dựng các v ng chu ên sản
xuất lúa tập trung với qu mô lớn 126 3.3.1.2 Đ u tư đồng bộ cho các v ng sản xuất lúa gạo hàng hóa tập trung
qu mô lớn 128 3.3.1.3 Đ u tư phát triển hệ thống xuất khẩu gạo theo hướng hiện đại 137
3.4.2 Giải pháp về chính sách tín dụng cho vay tạm trữ 144 3.4.3 Xây dựng chính sách tài khóa hỗ trợ phát triển sản xuất và thị trường
gạo để kích thích và ổn định sản xuất, giảm thiểu rủi ro cho nông
dân 146 3.4.3.1 Hỗ trợ đối với người sản xuất gạo (chủ ếu là kinh tế hộ gia đình
nông dân) 146 3.4.3.2 C n có chính sách tài chính hỗ trợ cho xâ dựng thương hiệu gạo và
hoạt động quảng bá tiếp thị 149 3.4.3.3 Có chính sách hỗ trợ và thúc đẩ sự phát triển của Hiệp Hội ngành
hàng 150 3.4.3.4 Nghiên cứu các chính sách tài chính nhằm hỗ trợ, khu ến khích
phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất và xuất khẩu gạo 151 3.4.3.5 Xâ dựng và phát triển hình thức bảo hiểm rủi ro trong sản xuất và
xuất khẩu gạo 152 3.4.3.6 Chú trọng công tác khu ến nông cơ sở tại địa phương 152
3.5 ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 153
Trang 73.5.1 Đối với Chính phủ 153
3.5.2 Đối với các tỉnh ĐBSCL 155
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 157
KẾT LUẬN CHUNG 159
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tr.Người Triệu người
WTO Tổ chức thương mại thế giới
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
KT – XH Kinh tế - xã hội
Trang 9TD Tín dụng
NBD Nước biển dâng
Trang 10DANH MỤC BẢNG, BIỂU
1.2 : Sản lượng gạo tiêu dùng một số nước trên thế giới 2008 – 2012 16
1.3 : Sản lượng gạo xuất khẩu một số nước trên thế giới 2008 – 2012 17
2.1 : Một số chỉ tiêu thể hiện vai trò của nông nghiệp, nông thôn vùng
2.2 : Diện tích, năng suất, sản lượng lúa cả nước 2007-2012 59
2.3 : Diện tích, năng suất, sản lượng lúa ĐBSCL 2007 -2012 60
2.6 : Thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam 2007/2008 - 2010/2011 67
2.7 : Thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam so với Thái Lan niên vụ 2007/2008
2.8 : Một số chỉ tiêu về sản xuất lúa của Việt Nam và Thái Lan 67
2.10 : Giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam theo tháng 71
2.11 : Giá gạo xuất khẩu 25% tấm của Việt Nam theo tháng 71
2.12 : Giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Thái Lan theo tháng 72
2.13 : Giá gạo xuất khẩu 25% tấm của Thái Lan theo tháng 73
2.14 : Chỉ tiêu quy hoạch đất lúa vùng ĐBSCL đến năm 2020 80
2.17 : Tốc độ tăng chi đầu tư phát triển ĐBSCL 2007 – 2012 83
3.1 : Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa so với thời kỳ
1980 – 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) ở vùng ĐBSCL 106
3.2 : Dự báo tổng hợp thiệt hại do tác động của BĐKH 107
Trang 113.3 : Kịch bản NBD cho khu vực thuộc ĐBSCL 108 3.4 : Dự báo thiệt hại sản lượng lúa theo kịch bản về NBD 1m tại ĐBSCL 109
Trang 12DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ Hình vẽ, đồ thị Tên hình vẽ, đồ thị Trang
Đồ thị 1 : Năng suất và sản lượng lúa ở ĐBSCL từ năm 2007-2012 60
Đồ thị 2 : Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của ĐBSCL 2007-2012 65
Đồ thị 3 : So sánh giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Việt Nam và Thái Lan 73
Đồ thị 4 : So sánh giá gạo xuất khẩu 25% tấm của Việt Nam và Thái Lan 74
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, sản phẩm nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn đóng góp một tỷ lệ đáng kể trong giá trị xuất khẩu hàng năm, trong đó Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long là hai khu vực sản xuất gạo chủ yếu của nước ta
ĐBSCL với điều kiện thời tiết khí hậu cho phép sản xuất 3 vụ lúa trong năm, diện lớn và tập trung, có điều kiện để cơ giới hoá sản xuất với mức độ cao từ khâu làm đất, gieo trồng đến chăm sóc, thu hoạch Ngoài đáp ứng nhu cầu gạo cho người tiêu dùng trong vùng, ĐBSCL còn là vùng trọng điểm cung cấp gạo hàng hoá cho xuất khẩu và các vùng khác trong cả nước (chiếm trên 90% lượng gạo xuất khẩu hàng năm của Việt Nam)
ĐBSCL có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng khác; có tiềm năng đất đai rất lớn cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là vùng có lợi thế về sản xuất và xuất khẩu gạo lớn nhất trong cả nước
Mặc dù, sản xuất và xuất khẩu gạo trong hơn 20 năm qua đã liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và ổn định, khối lượng gạo xuất khẩu ngày càng tăng cùng với sự gia tăng của kim ngạch xuất khẩu và gạo của Việt Nam đã có mặt ở tất cả các châu lục trên thế giới với gần 50 nước mua gạo của Việt Nam
Nhưng gạo Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu sang các nước đang phát triển ở châu Á, còn các nước đòi hỏi gạo chất lượng cao thì Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được và gần đây các thị trường này nhập khẩu gạo từ Việt Nam có xu hướng giảm, chủ yếu xuất khẩu những loại gạo có chất lượng trung bình và thấp nên giá trị thu được chưa cao, do giá xuất khẩu trung bình năm thấp nên mức tăng kim ngạch không tương xứng với mức tăng khối lượng xuất khẩu Bên cạnh đó, lợi ích của nông dân sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu không được đảm bảo, giá trị gia tăng từ sản phẩm cuối cùng không được phân bổ công bằng giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh
Trang 14lúa gạo, trong đó nông dân là chịu thiệt thòi nhất Điều đó khiến cho hiệu quả của xuất khẩu gạo của Việt Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng thiếu bền vững
Vì vậy, đồng bằng Sông Cửu Long – vẫn thường xuyên được đặt ra như một trong những vấn đề bức xúc, đòi hỏi giải quyết cả trong ngắn hạn cũng như trung và dài hạn Xuất khẩu gạo và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ xuất khẩu gạo tại đồng bằng Sông Cửu Long càng quan trọng và cần thiết khi thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân của Đảng và Nhà nước ta Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách góp phần tích cực giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, trong đó các chính sách tài chính đóng vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, do sự thay đổi trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, những tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp, biến động thị trường nông sản, … quá trình thực hiện chính sách thường xuyên gặp những khó khăn nhất định, chưa thật sự đạt được mục đích như mong muốn của nhà nước
Xuất phát từ tình hình đó, đề tài luận án: “ Giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo của Đồng bằng sông Cửu Long ” với mục đích phân tích, đánh giá, đề
xuất giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các chính sách tài chính để hỗ trợ xuất khẩu gạo của đồng bằng Sông Cửu Long tốt hơn trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
2.Tổng quan các công trình đã công bố liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trong nhiều năm qua, vấn đề xuất khẩu gạo đã thu hút sự chú ý không chỉ giới nghiên cứu mà còn có sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý chỉ đạo thực tiễn ở các bộ ngành, địa phương Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài báo khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công có liên quan đến xuất khẩu gạo như:
- Trong báo cáo thường niên ngành gạo năm 2010 và triển vọng 2011 của Trung tâm thông tin phát triển Nông nghiệp Nông thôn (AGROINFO) đã đề cập đến tình hình sản xuất, dự trữ và xuất khẩu gạo của các nước trên thế giới và Việt Nam trong hơn 10 năm qua Đối vối sản xuất gạo ở Việt Nam, báo cáo đề cập đến tình hình phát triển sản xuất lúa từ năm 2001 -2010 về diện tích, năng suất, sản lượng lúa của cả
Trang 15nước nói chung và ĐBSCL nói riêng Đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam, báo cáo cung cấp số liệu về khối lượng gạo xuất khẩu hàng năm và các thị trường xuất khẩu chính cũng như biến động về giá xuất khẩu Đồng thời báo cáo cũng đưa ra một số dự báo về triển vọng của thị trường xuất khẩu gạo cũng như những khó khăn trong xuất khẩu gạo sắp tới
- Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam do Dự án VIE/61/94 của
Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCATD/WTO(ITC) và Cục xúc tiến Thương mại Việt Nam (VIETRADE) thực hiện đã có những đánh giá tiềm năng xuất khẩu của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong đó có gạo Bản đánh giá cũng chỉ ra những hạn chế trong xuất khẩu của Việt Nam như nhiều sản phẩm chất lượng thấp, giá thành cao, chưa có thương hiệu, giá trị gia tăng thấp, công nghệ lạc hậu, thiếu thông tin, cơ sở hạ tầng, chế biến, vận tải lạc hậu, kiến thức thị trường nước ngoài hạn chế…và đưa ra một số khuyến nghị như cải tiến chất lượng sản phẩm, tạo dựng thương hiệu, đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, đào tạo lao động, cải thiện khả năng tiếp cận thông tin, đa dạng hóa thị trường và phát triển các hoạt động xúc tiến thương mại.v.v
- Báo cáo khoa học: “Nghiên cứu những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy lợi thế nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển thị trường xuất khẩu nông sản trong thời gian tới” do Tiến sĩ Nguyễn Đình Long, viện Kinh tế nông nghiệp làm chủ nhiệm (Nghiên cứu năm 2001), đã có những phân tích đánh giá lợi thế và khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu nông sản ở Việt Nam, những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu nông sản (trong
đó có gạo)
- Gạo ĐBSCL với an ninh lương thực quốc gia của tác giả Dương Văn Chín, viện lúa ĐBSCL đã có những đánh giá về những thành tựu đảm bảo an ninh lương thực và vai trò của ĐBSCL, những thách thức và khiếm khuyết của vùng đồng thời đề xuất một số giải pháp vượt qua thách thức nhằm đẩy mạnh sản xuất lúa trong thời gian tới
Trang 16- Một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến xuất khẩu gạo và các chính sách xuất khẩu như: Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đinh Thiện Đức về đề tài “ Cung cầu hàng hoá lúa gạo và những giải pháp chủ yếu phát triển thị trường lúa gạo Việt Nam” bảo vệ năm 2003 tại Đại học Kinh Tế Quốc Dân đã đề cập đến quan hệ cung cầu hàng hoá lúa gạo và đưa ra các giải pháp tác động đến cung và cầu nhằm phát triển thị trường lúa gạo Việt Nam
- Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trịnh Thị Ái Hoa về đề tài “Chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam ” bảo vệ năm 2006 tại Học Viện Chính trị quốc gia đã
đề cập đến các chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam trên cơ sở lý luận, thực tiễn
và đưa ra giải pháp hoàn thiện các chính sách
- Bài viết: “Phát triển ĐBSCL như thế nào” của tiến sĩ Trần Văn Đạt đăng trên báo Kinh tế nông thôn điện tử đã đánh giá về những nghịch lý trong sản xuất và xuất khẩu gạo từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu gạo hiệu quả ở ĐBSCL
- Bài viết: “Bất cập trong điều hành xuất khẩu gạo” của Ngô Lê Phương trên báo Kinh tế nông thôn điện tử đề cập đến một số bất cập trong điều hành xuất khẩu gạo của Hiệp hội lương thực hiện nay như cơ chế hạn ngạch xuất khẩu gạo, vấn đề liên kết trong hoạt động xuất khẩu gạo
- Bài viết: “ Chính sách và giải pháp đối với sản xuất gạo của nông dân” của Phan Sĩ Mẫn đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 7 (386) tháng 7, 2010 Bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh sản xuất lúa gạo của hộ nông dân Việt Nam
Đó là những kiến nghị tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách và giải pháp về đất đai, chính sách tín dụng và đầu tư cho sản xuất lúa gạo, giải pháp thị trường (nội địa và quốc tế), phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, các loại hình kinh tế hợp tác và liên kết
- Bài viết: “ Hoạt động sản xuất lúa gạo hàng hóa hướng vào lợi ích của nông dân” của Nguyễn Văn Luật và Nguyễn Đức Lộc, đăng trên tạp chí Khoa học phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam số 1, tháng 6 năm 2012 Trong bài viết này tác giả đề cập đến một số vấn đề trong chuỗi giá trị lúa gạo Việt Nam, các tác nhân
Trang 17tham gia sản xuất kinh doanh lúa gạo, lưu thông phân phối trong hoạt động xuất khẩu gạo
Tóm lại, vấn đề “xuất khẩu gạo” đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập trên nhiều quan điểm, theo nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau, tuy nhiên đề xuất các giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo trên cơ sở vận hành quá trình sản xuất và xuất khẩu gạo theo chuỗi giá trị sẽ đảm bảo cho các chính sách hỗ trợ của Nhà nước có hiệu quả hơn Đề tài luận án “Giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo của Đồng bằng sông Cửu Long “ là công trình khoa học hoàn toàn mới, đáp ứng yêu cầu
3.2 Mục tiêu cụ thể
+ Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về thị trường xuất khẩu, các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu, vai trò và tác động của các chính sách tài chính đến hoạt động xuất khẩu gạo làm cơ sở tham chiếu cho việc đánh giá thực trạng ở Việt Nam và
đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới
+ Phân tích thực trạng công tác xuất khẩu gạo và thực thi chính sách chi ngân sách, chính sách tín dụng cho vay tạm trữ hỗ trợ xuất khẩu lúa gạo Việt Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng giai đoạn 2007– 2012, chỉ rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân, làm cơ sở thực tế cho việc đề xuất giải pháp
+ Đề xuất hệ thống giải pháp cùng các điều kiện thực hiện hỗ trợ xuất khẩu lúa gạo của ĐBSCL giai đoạn tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án: là các chính sách tài chính hỗ trợ xuất khẩu
gạo
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 18- Phạm vi về nội dung:
Các giải pháp tài chính tác động đến xuất khẩu gạo có phạm vi rộng, bao gồm nhiều giải pháp khác nhau, như: chi ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, tỷ giá hối đoái, thuế, giá cả, bảo hiểm…nhưng luận án chỉ nghiên cứu về chính sách chi ngân sách cho đầu tư phát triển và tín dụng cho vay tạm trữ lúa gạo
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Phạm vi về thời gian: giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012
4.3 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Thu thập số liệu chủ yếu thông qua các tài liệu, các báo cáo đánh giá về điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết về tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, của Hiệp hội lương thực Việt Nam
- Phương pháp xử lý số liệu: Trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập được, đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích thống kê, phương pháp phân tích, so sánh các tư liệu được thu thập để làm sáng tỏ các vấn đề đưa ra, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn kết hợp với lý luận và kinh nghiệm lịch sử để đưa ra những giải pháp hỗ trợ xuất khẩu gạo của đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
- Đề tài còn sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về vùng đồng bằng sông Cửu Long, các công trình, bài báo có liên quan đến luận án
5 Những đóng góp mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của các chính sách tài chính liên quan đến xuất khẩu gạo ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu gạo của ĐBSCL, với những đóng góp sau:
- Tổng hợp, làm rõ các vấn đề lý luận về chính sách tài chính đối với xuất khẩu gạo, đặc biệt luận án đã tổng hợp, phân tích những tồn tại khi thực hiện chính sách chi NSNN, chính sách tín dụng cho vay tạm trữ và kinh nghiệm của một số nước Đây là vấn đề được đề cập không ít, nhưng cho tới nay chưa có nghiên cứu nào đề cập đến năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo ở ĐBSCL
Trang 19- Phân tích, đánh giá thực trạng tác động của các chính sách chi ngân sách và chính sách tín dụng cho vay tạm trữ ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo ở ĐBSCL giai đoạn
2007 – 2012
- Đề xuất hệ thống các giải pháp tài chính nhằm gia tăng hiệu quả xuất khẩu gạo ở ĐBSCL trong thời gian tới hướng đến phát triển bền vững nền kinh tế
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận án được chia làm ba chương: Chương 1: Xuất khẩu gạo và tài chính với việc hỗ trợ xuất khẩu gạo
Chương 2: Thực trạng các giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo của ĐBSCL thời gian qua
Chương 3: Giải pháp tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo của ĐBSCL
Trang 20Chương 1 XUẤT KHẨU GẠO VÀ TÀI CHÍNH VỚI VIỆC HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO 1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ XUẤT KHẨU GẠO
1.1.1 Đặc điểm của thị trường xuất khẩu gạo
Kể từ khi xuất hiện tiền tệ, thị trường thường được hiểu là nơi diễn ra sự mua, bán hàng hóa (bao gồm hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình – dịch vụ)
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, giao dịch mua bán hàng hóa có thể diễn
ra mà không cần gắn với một địa điểm địa lý nào Người ta có thể tiến hành các thỏa thuận về mua bán hàng hóa với nhau qua điện thoại, fax hay thư điện tử mà không cần gặp nhau tại một nơi chốn cụ thể Hàng hóa có thể được vận chuyển từ nơi này đến nơi khác mà không cần lấy một địa điểm nào làm trung gian; hay như trên những thị trường kỳ hạn, những thỏa thuận về hàng hóa và luồng vận động của tiền tệ có thể độc lập với luồng vận động của hàng hóa Như thế, nói đến thị trường là nói đến nội dung kinh tế mà nó biểu thị chứ không phải hình dung nó như một nơi mà những nội dung này xảy ra
Phạm vi địa lý là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho chúng ta xác định thị trường mang tính chất địa phương, vùng, quốc gia hay quốc tế
Phần lớn thị trường nông sản trong các nước đang phát triển thông qua các quan
hệ trực tiếp giữa người mua và người bán, định ra cho thị trường một vị trí địa lý cụ thể Trên thị trường, giá cả hàng hoá giao dịch được xác định thông qua quan hệ cung cầu
Nền kinh tế thị trường luôn tồn tại sự cạnh tranh của các nhà sản xuất, dựa vào hình thái, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo
và độc quyền
Cũng như mọi thị trường hàng hoá khác, thị trường gạo hàng hoá cũng là nơi cung và cầu về gạo hàng hoá gặp nhau, là nơi hình thành nên giá cả của gạo hàng hoá Đối với thị trường gạo xuất khẩu là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, giá cả thị trường bị ảnh hưởng bởi những nước xuất khẩu lớn, thường xuyên Tuy nhiên, bên
Trang 21cạnh những điểm chung giống như thị trường các loại hàng hóa khác, thị trường gạo chịu ảnh hưởng trực tiếp của đặc điểm sản xuất và tiêu dùng gạo
Về sản xuất: Do sản xuất gạo mang tính thời vụ và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng miền nên lượng cung về gạo phụ thuộc rất lớn vào thời vụ thu hoạch Vào thời vụ thu hoạch, ở những vùng sản xuất gạo tập trung quy mô lớn như ở đồng bằng sông Cửu Long lượng lúa có thể tăng lên nhanh chóng (có thể từ 15 triệu tấn trở lên) Vì vậy, theo quy luật cung cầu giá lúa thường xuống thấp vào vụ thu hoạch Đây là đặc điểm rất quan trọng của thị trường gạo đòi hỏi Nhà nước cần có những chính sách và giải pháp thích hợp để vừa đẩy mạnh xuất khẩu gạo, vừa bảo vệ được lợi ích của người nông dân trồng lúa Như vậy, về nguồn cung gạo phụ thuộc rất lớn vào thời vụ thu hoạch, nhưng nhu cầu tiêu dùng lại quanh năm nên để hoạt động xuất khẩu gạo chủ động nguồn hàng và đảm bảo chất lượng gạo thì các công đoạn như chế biến, bảo quản gạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động xuất khẩu gạo Đặc điểm này đặt ra cho mỗi quốc gia cũng như từng địa phương có lợi thế về sản xuất gạo lớn quan tâm đầu tư không chỉ tăng năng suất, chất lượng gạo mà còn phải quan tâm đến đầu tư phát triển công nghệ chế biến và bảo quản gạo
Về tiêu dùng: gạo là mặt hàng tiêu dùng không thể thiếu đối với cuộc sống của người dân, người trồng lúa đồng thời là người tiêu dùng lúa do họ sản xuất ra Hiện nay ở nước ta hầu hết các hộ gia đình nông dân ở các vùng miền khác nhau, kể cả vùng sản xuất gạo phân tán họ vẫn quan tâm đến việc sản xuất một lượng lương thực
để tự cấp tự túc Là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu nhưng trong xu hướng phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng gạo của mỗi người dân có xu hướng giảm xuống Vì vậy, ngay trong điều kiện được mùa thì nhu cầu tiêu dùng của mỗi người dân cũng không vì thế mà tăng theo Tính đặc thù về nhu cầu tiêu dùng gạo của người dân trong nước cũng như thế giới đang có xu hướng chuyển nhanh sang tiêu dùng các loại gạo chất lượng cao, các loại gạo đặc sản Như vậy, xu hướng tiêu dùng gạo (cầu về gạo) đang có sự thay đổi từ lượng sang chất Đặc điểm về cầu gạo đòi hỏi các chính phủ, nhất là những nước có truyền thống và nhiều lợi thế về sản xuất gạo như nước ta cần
có chiến lược phát triển sản xuất gạo phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân
Trang 22trong nước cũng như các nước trên thế giới mới có cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu gạo đạt hiệu quả cao
Thị trường tiêu thụ gạo có thể được phân thành nhiều thị trường khác nhau, tuỳ thuộc vào tiêu chí lựa chọn và mục đích nghiên cứu Để phục vụ mục tiêu nghiên cứu, chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thị trường gạo chủ yếu là thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu gạo: là nơi diễn ra các giao dịch gạo hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngoài nước
Thị trường gạo thế giới (xuất khẩu) diễn ra chủ yếu ở châu Á, châu Phi và Mỹ
La Tinh Số lượng gạo nhập khẩu thường xuyên phân tán ra nhiều nước, hầu như không có nước nào hàng năm nhập khẩu đều đặn lượng gạo lớn Do đó, cũng không
có nước nhập khẩu cá biệt nào giữ vị trí áp đảo chi phối biến động cung cầu, giá cả trên thị trường thế giới Mặt khác, đội ngũ các nước nhập khẩu gạo cũng không cố định qua các giai đoạn
Lượng gạo nhập khẩu của toàn thế giới cũng như của từng nước thường xuyên biến động và mang tính thời vụ rõ rệt Do kết quả thu hoạch mùa màng chi phối, có nước năm này nhập khẩu nhiều nhưng năm khác lại không nhập do thu hoạch trong nước tăng lên
Ở thị trường gạo thế giới, nhiều nước nghèo, nhất là Châu Phi, có nhu cầu tiêu dùng gạo rất lớn (còn hàng triệu người thiếu đói), nhưng nhập khẩu rất ít vì những khó khăn tài chính
Trong thị trường xuất khẩu, các khu vực, quốc gia khác nhau trên thế giới có nhu cầu tiêu dùng, điều kiện giao dịch khác nhau… Việc nắm bắt nhu cầu, điều kiện giao dịch trong từng khu vực, từng quốc gia rất quan trọng đối với chiến lược sản xuất trong nước
Để nghiên cứu khả năng xuất khẩu trên thị trường gạo, chúng ta phải nghiên cứu năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Chính sự phân công lao động xã hội
đã mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, tự do thương mại quốc tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, vận tải … đã hình
Trang 23thành mạng lưới sản xuất và tiêu thụ toàn cầu Ở góc độ toàn cầu, mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp là một giá trị, các giá trị này hợp lại với nhau sẽ tạo thành chuỗi giá trị toàn cầu Có nhiều cách diễn tả chuỗi giá trị và tùy từng sản phẩm, dịch vụ, chuỗi giá trị có thể có cấu tạo và quy mô khác nhau Tuy nhiên, ở dạng khái quát và đơn giản nhất, chuỗi giá trị gồm các khâu liên tiếp sau: Nghiên cứu và phát triển; Thiết kế sản phẩm, dịch vụ; Sản xuất; Marketing và bán hàng; Phân phối; Dịch vụ khách hàng Trong đó, giá trị gia tăng được tạo ra nhiều nhất là khâu: Nghiên cứu và phát triển; Marketing và bán hàng, còn khâu sản xuất có giá trị gia tăng là thấp nhất
Trong xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại, các nước đang tận dụng cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu vào những khâu tạo ra nhiều giá trị nhất Các yếu tố cấu thành nên năng lực tham gia của gạo vào chuỗi giá trị toàn cầu bao gồm cả yếu tố trong chuỗi và ngoài chuỗi như:
- Các yếu tố trong chuỗi: hộ nông dân, nhà chế biến, nhà phân phối, các công ty quảng cáo, …
- Các yếu tố ngoài chuỗi: hệ thống luật pháp trong nước và quốc tế, các chính sách của chính phủ, hạ tầng cơ sở, đất đai, công nghệ,…
Năng lực của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thể hiện khả năng điều chỉnh linh hoạt các yếu tố đầu vào (giống, đất đai, lao động,…), các yếu tố đầu ra (chất lượng sản phẩm,…) cũng như mô hình tổ chức, quản lý để đáp ứng nhu cầu của thị trường
Để đẩy mạnh khả năng xuất khẩu gạo hay nâng cao năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu để có thể tiêu thụ được nhanh, nhiều và lợi ích mang lại là tốt nhất chúng ta phải nghiên cứu những biến động của thị trường cũng như các nhân tố tác động đến nó để có những giải pháp thích hợp
1.1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu gạo
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu gạo trong đó nổi bật nhất là các nhân tố sau đây:
Sự phát triển của dân số: Có thể nói đây là nhân tố quan trọng nhất, tác động
mạnh nhất đến nhu cầu xuất khẩu gạo Bởi vì con người sinh ra trước hết phải ăn để
Trang 24tồn tại, sau đó mới có thể thực hiện các việc khác được Do dân số tăng nhanh nên nhu cầu về lương thực (kể cả gạo) cũng tăng lên rất nhanh
Sự thay đổi trong tập quán tiêu dùng lương thực: đối với việc tiêu dùng lương
thực, ngoài việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng về mặt vật chất, còn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố văn hoá như quy định trong lễ giáo, thói quen tiêu dùng của các dân tộc Cùng với sự phát triển của kinh tế, đặc biệt là phát triển của giao lưu kinh tế giữa các nước trong khu vực, tập quán tiêu dùng lương thực của con người cũng có những biến đổi hết sức sâu sắc Các nước ở vùng ôn đới, người dân theo truyền thống chỉ dùng lúa
mỳ làm lương thực, nhưng do tiếp xúc với nền văn minh Châu Á, họ cũng dần dần biết ăn và thích gạo ngày càng tăng Ở Châu Mỹ, Châu Phi cũng có sự thay đổi tương
tự, họ cũng biết ăn gạo và dùng gạo làm lương thực thay thế cho các loại lương thực khác Xu hướng nhập khẩu gạo ngày càng tăng ở các quốc gia thuộc các châu lục này
Sự thay đổi về mức sống dân cư: Thu nhập của người tiêu dùng có ảnh hưởng
trực tiếp đến nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng Kinh tế ngày càng phát triển thì đời sống vật chất và tinh thần của người dân càng được nâng cao Khi thu nhập cao, đời sống được cải thiện, thì xu hướng phát triển có tính quy luật là các sản phẩm cao cấp, có chất lượng tốt được tiêu thụ ngày càng nhiều Con người tiêu thụ lương thực trực tiếp cho bản thân để đảm bảo sự tồn tại và phát triển có chiều hướng giảm dần, các loại thực phẩm như thịt, trứng, sữa, rau đậu sẽ được tiêu thụ ngày càng tăng
Riêng đối với gạo do thu nhập của người dân tăng lên nên họ dần ưa chuộng các loại gạo chất lượng cao, có tính thơm ngon chứ không còn thích các loại gạo giá
r nữa Như vậy, mức sống tăng là yếu tố giảm nhu cầu tiêu dùng gạo Điều này có thể nhận thấy rất rõ ở các nước phát triển
Chẳng hạn như ở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp kinh tế chậm phát triển, đời sống của người dân còn khó khăn, để tồn tại và hoạt động người dân nước ta đã ăn lương thực là chính Vì thế mỗi tháng một người tiêu dùng từ 15 – 20 kg vẫn cảm thấy thiếu, vẫn cảm thấy đói Còn ngày nay khi mức sống được nâng cao, chúng ta có
Trang 25nhiều thịt, trứng, sữa, rau đậu, các loại hoa quả, bánh và nước giải khát trong bữa ăn nên mỗi tháng mỗi người tiêu thụ 10 – 12 kg gạo vẫn cảm thấy dư thừa
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu dân cư: Theo xu hướng
chung có tính quy luật thì lao động nông nghiệp ngày càng giảm xuống cả về tương đối và tuyệt đối, lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên Còn
về cơ cấu dân cư thì dân cư đô thị sẽ ngày càng tăng còn dân cư nông thôn sẽ ngày càng giảm xuống Cùng với xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu dân cư theo xu hướng trên thì đất đai nông nghiệp cũng ngày càng giảm xuống để phục vụ cho phát triển công nghiệp, đô thị Xu hướng này có tác động rất lớn đến nguồn cung gạo cho xuất khẩu Vì vậy, đối với các quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa
và đô thị hóa như nước ta, chính phủ cần hết sức quan tâm đến việc lấy đất trồng lúa cho phát triển công nghiệp đô thị để đảm bảo nguồn cung gạo cho xuất khẩu
Sự thay đổi chính sách của các quốc gia: chính sách của các quốc gia trên thế
giới, nhất là chính sách của các nước lớn, đông dân có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu lương thực nói chung, nhu cầu gạo nói riêng
Các chính sách của nhà nước, nhất là chính sách đối với phát triển nông nghiệp nói chung, chính sách sản xuất và xuất khẩu gạo nói riêng ảnh hưởng rất lớn đến thị trường gạo Một chính sách tài chính đúng sẽ cho phép các quốc gia huy động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài nước Đặc biệt là nguồn lực đất đai, vốn, khoa học, công nghệ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và sự nghiệp phát triển nông nghiệp nói riêng Chính sách đúng sẽ làm cho nông nghiệp phát triển đa dạng với năng suất cây trồng vật nuôi cao, chất lượng sản phẩm tốt thoả mãn đầy đủ lương thực, thực phẩm cho người dân Khi thực phẩm đáp ứng cho dân đủ thì nhu cầu lương thực sẽ giảm dần
Khả năng phát triển của công nghiệp chế biến: công nghiệp chế biến là khu
vực tiêu thụ hàng hoá với vai trò là nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất chế biến Trình độ công nghệ chế biến càng cao, quy mô càng lớn thì khối lượng gạo được tiêu thụ càng nhiều Trình độ công nghệ và quy mô của lĩnh vực chế biến phụ thuộc
Trang 26rất lớn vào các chính sách, như chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách tín dụng…
Sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải: Việc xuất khẩu gạo thuận lợi
hay không phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển của hệ thống giao thông vận tải, bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và các phương tiện vận tải chuyên dùng hiện đại Hiện nay ở nước ta hệ thống giao thông mặc dầu đã được đầu tư khá lớn và
có sự phát triển vượt bậc so với trước đây nhưng so với yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hóa vẫn còn nhiều hạn chế và yếu kém Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt vẫn còn lạc hậu, chưa cho phép rút ngắn hành trình vận chuyển để hạ giá thành vận chuyển Vì vậy, việc vận chuyển hàng hóa nói chung và gạo nói riêng từ các vùng sản xuất tập trung đến các trung tâm tiêu dùng lớn vẫn còn khó khăn, chi phí vận chuyển cao và thời gian vận chuyển còn dài Đây là một trong những điểm nghẽn trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng thị trường hiện đại nếu không được tiếp tục đầu tư theo hướng hiện đại và đồng bộ sẽ là lực cản cho sự phát triển sản xuất gạo hàng hoá theo hướng tập trung quy mô lớn ở các vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế
1.1.3 Vai trò của xuất khẩu gạo đến phát triển kinh tế - xã hội
Để sống và làm việc, con người tất yếu phải được cung cấp năng lượng từ khẩu phần ăn đa dạng hàng ngày, trong đó lương thực giữ vị trí hết sức quan trọng Theo phân loại của tổ chức lương nông thế giới (FAO) thì có 5 loại lương thực chủ yếu: gạo, lúa mỳ, ngô, kê, lúa mạch Trong đó, lúa mỳ và gạo là hai loại lương thực cơ bản nhất và được tiêu dùng nhiều nhất Lúa mỳ được sử dụng chủ yếu ở Châu Âu, Châu
Mỹ, Châu Úc và một phần Châu Phi còn gạo được tiêu dùng phổ biến ở Châu Á, một phần Châu Phi và Châu Mỹ Các nước có truyền thống lâu đời trong sản xuất và sử dụng gạo là Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Philippin và Băng la đét Tuy gạo chỉ chủ yếu tiêu thụ ở Châu Á, nhưng do dân số ngày càng tăng nên nhu cầu về gạo tăng lên nhanh chóng
Châu Á có số dân đông nhất thế giới hiện nay và cũng là khu vực có số lượng
và tốc độ tăng dân số nhanh nhất
Bảng 1.1
Trang 2710 Quốc gia có dân số đông nhất năm 2012
Nguồn: Tổ chức Lương Nông Quốc Tế FAO
Dân số Châu Á chiếm hơn 60% dân số toàn thế giới trong đó: Trung quốc với hơn 1 tỷ 3; Ấn Độ với hơn 1 tỷ 2; Hoa Kỳ hơn 310 triệu, Indonesia với gần 241 triệu
và Brazil với hơn 194 triệu… Với dân số đông như vậy đòi hỏi Châu Á phải cần một lượng lương thực rất lớn (chủ yếu là gạo) Cứ tính bình quân mỗi tháng tiêu thụ 9 kg gạo (một năm khoảng 108 kg) thì với dân số khoảng 4 tỷ người hiện nay, hàng năm Châu Á cần một lượng lương thực khoảng 432 triệu tấn
Trong khi sản xuất lương thực phải dựa vào đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, dân số tăng nhanh việc đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu không phải đơn giản Ngoài nhu cầu gạo nhanh ở Châu Á, các châu lục khác cũng bắt đầu ưa thích tiêu dùng gạo Vì thế nhu cầu gạo thế giới càng lớn
Bên cạnh việc tiêu dùng gạo phục vụ nhu cầu ăn của con người, gạo còn được dùng vào việc chăn nuôi Đây là nguồn cung cấp năng lượng thay thế, hỗ trợ cho bữa
ăn hàng ngày của con người Để có nhiều thịt, trứng, sữa để cung cấp cho con người nhất thiết phải phát triển chăn nuôi Gia súc, gia cầm ngoài thức ăn thô (cỏ, các loại
Trang 28lá, rau, ) cần phải bổ sung chất ăn tinh, trong đó có gạo Do đó, lượng gạo dành cho chăn nuôi cũng ngày càng gia tăng Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế thì lượng gạo dành cho chăn nuôi hàng năm chiếm khoảng 3 – 4% tổng lượng gạo thế giới
Ngoài chăn nuôi, gạo còn được dùng cho công nghiệp chế biến như: rượu, cồn cao cấp, dược liệu, bánh, mứt, kẹo hàng năm chiếm khoảng 1 – 2% tổng lượng gạo của toàn thế giới
Tình hình xuất khẩu gạo của thế giới:
Trang 30Word total 31,667 28,925 31,194 34,196 32,815
Nguồn: AGROINFO tổng hợp từ USDA
Do đó, hoạt động xuất khẩu gạo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Đối với người sản xuất gạo: Việc xuất khẩu gạo tốt hay không tốt có ảnh
hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hộ nông dân trồng lúa và hàng chục triệu nhân khẩu kèm theo Khoảng cách giàu – nghèo giữa thành thị và nông thôn, kể cả trong khu vực nông thôn ngày càng nghiêm trọng Từ nhiều năm nay, tình trạng nông dân trồng lúa gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ dẫn đến thu nhập thấp, nhiều lúc không đủ
bù đắp chi phí bỏ ra hoặc có lãi nhưng không đáng kể Trong khi đó các tầng lớp trung gian (các cơ sở xay sát, các chủ vựa – tư thương) và các cơ sở xuất khẩu lương thực lại lãi lớn Vấn đề này nếu không được giải quyết sớm bằng các phương thức tiêu thụ hợp lý đảm bảo lợi ích cho người trồng lúa thì sẽ dẫn đến những hậu quả khó có thể lường trước được về mặt xã hội
Đối với xã hội: Đối với nhà nước và đối với người tiêu dùng gạo, nếu tình
trạng xuất khẩu gạo không có lợi cho người sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng nhiều hộ nông dân giảm diện tích hoặc bỏ không trồng lúa mà chuyển sang trồng các loại cây trồng và nuôi các loại vật nuôi khác có lợi hơn thì xã hội phải gánh chịu một tổn thất
to lớn về an ninh lương thực, về đời sống của những người dân đô thị và những người công nhân, trí thức và các tầng lớp lao động khác Về phía nhà nước để đảm bảo khối lượng lương thực cho nhu cầu tiêu dùng thiếu hụt do nông dân bỏ diện tích trồng lúa buộc phải dành một phần ngoại tệ cho nhập khẩu lương thực Đây là vấn đề phức tạp
và đang có những diễn biến bất lợi cho người trồng lúa Nếu nhà nước không có một chiến lược và giải pháp đồng bộ từ sản xuất đến xuất khẩu gạo, nhất là khâu xuất khẩu thì tất yếu sẽ dẫn đế tình trạng như đã nói ở trên và cái giá phải trả cho những sai lầm trong hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay sẽ rất nghiêm trọng
1.2 TÀI CHÍNH VỚI VIỆC HỖ TRỢ XUẤT KHẨU GẠO
1.2.1 Vai trò của các chính sách tài chính đối với xuất khẩu gạo
Trang 31Phạm trù tài chính tồn tại khách quan trong nền kinh tế thị trường “ Tài chính
thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội”{31}
Sự tồn tại của phạm trù tài chính là cơ sở khách quan để hình thành nên các chính sách và các công cụ tài chính
Các chính sách tài chính là phương tiện được Chính phủ sử dụng để tác động
vào các hoạt động của nền kinh tế, điều khiển nền kinh tế theo những mục tiêu đã định Tác động của các chính sách tài chính đối với hoạt động xuất khẩu gạo chủ yếu thông qua các công cụ tài chính Hệ thống các công cụ tài chính mà Nhà nước sử dụng để tác động vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu gạo nói riêng bao gồm: Chi NSNN, thuế, tín dụng, bảo hiểm, tỷ giá hối đoái, giá cả Trong phạm vi nghiên cứu của luận án chủ yếu tập trung trình bày một số chính sách như: chính sách chi NSNN và Chính sách tín dụng cho vay tạm trữ
Vai trò của tài chính đối với quá trình hoạt động xuất khẩu gạo thể hiện ở các vấn đề chủ yếu sau:
1.2.1.1 Tạo lập nguồn tài chính để tài trợ cho quá trình hoạt động xuất khẩu
gạo
Mục tiêu cần đạt được là huy động được các nguồn lực tài chính tiềm năng trong nền kinh tế của mọi thành phần kinh tế, khai thông các dòng chảy của vốn, tạo lập các kênh dẫn vốn và tập trung các nguồn tài chính phục vụ cho các mục tiêu đặt ra trong hoạt động xuất khẩu gạo
Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc tạo lập nguồn tài chính để hỗ trợ cho quá trình xuất khẩu gạo là vấn đề cấp thiết, bởi các lý do sau:
Ngành hàng xuất khẩu gạo mặc dầu đã hình thành và phát triển khá lâu dài ở Việt Nam, với quy mô khá lớn và phân bố rộng khắp trên các vùng lãnh thổ của đất nước nhưng tiềm lực tài chính còn rất hạn chế Cho đến nay các tổng công ty lương thực lớn vẫn chưa có khả năng đầu tư đồng bộ cho hoạt động xuất khẩu gạo mà vẫn
Trang 32phụ thuộc vào đầu tư hỗ trợ từ phía nhà nước, chưa có khả năng chủ động trong đầu
tư xây dựng ngành hàng theo hướng đồng bộ, hiện đại Phần lớn các tổng công ty và công ty xuất khẩu lương thực phải mua gạo qua trung gian, chưa có khả năng đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống chế biến, bảo quản hiện đại để dảm bảo chất lượng gạo xuất khẩu và chủ động nguồn hàng trong việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu có lợi
Xét rộng ra trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nguồn lực tài chính nhà nước đưa vào sử dụng cũng rất hạn chế, nhu cầu đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại đòi hỏi ngày càng lớn Mặt khác, đầu tư vào hoạt động xuất khẩu gạo
có nhiều khó khăn và rủi ro cao so với các lĩnh vực đầu tư khác
Đầu tư vào hoạt động xuất khẩu gạo rủi ro cao, vì phần lớn các hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp có liên quan nhiều đến tự nhiên Ngoài ra, còn có những rủi ro tiềm ẩn lớn do thị trường xuất khẩu gạo bấp bênh, do trình độ kinh doanh còn non yếu và thiếu tính chuyên nghiệp của các chủ thể kinh tế có liên quan đến hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta hiện nay
Hoạt động xuất khẩu gạo đòi hỏi chi phí cao, phải qua nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau cũng là trở ngại cho việc cung ứng vốn cho lĩnh vực hoạt động này
Do địa bàn hoạt động xuất khẩu gạo rộng, phân tán, nhiều vùng còn rất khó khăn về giao thông, hoạt động tiêu thụ gạo chịu ảnh hưởng của thời vụ thu hoạch nên không thường xuyên, từ đó làm cho chi phí giao dịch cao làm hạn chế việc thu hút các dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực này
Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư phục vụ quá trình hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay cũng có nhiều cơ hội Đó là:
+ Các nguồn tài chính tiềm năng trong xã hội nói chung, trong nông thôn nói riêng vì nhiều lý do chưa được sử dụng vẫn còn khả năng lớn Nếu có chủ trương và biện pháp đúng vẫn có thể khai thác và sử dụng các nguồn tài chính nhàn rỗi ở nông thôn phục vụ cho hoạt động xuất khẩu gạo
+ Quan điểm của Đảng và Nhà nước về coi trọng đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng như phát triển sản xuất lương thực ngày càng đi vào cuộc sống nên ý thức của toàn xã hội đối với việc thực thi chính sách và giải pháp hỗ trợ
Trang 33về mọi mặt cho sự ổn định và phát triển nông nghiệp, nông thôn ngày càng cao Điều
đó, một mặt tạo khả năng đầu tư từ phía Nhà nước vào nông nghiệp, nông thôn ngày càng tăng, mặt khác tạo môi trường và niềm tin cho các nhà đầu tư quyết định mạnh dạn hơn trong việc đầu tư vào phát triển kinh tế nông thôn nói chung và hoạt động xuất khẩu gạo nói riêng
+ Chủ trương của các tổ chức tài chính quốc tế và khu vực đang hướng sự ưu tiên tài trợ cho khu vực nông nghiệp, nông thôn với nguồn vốn ngày càng lớn
+ Ngoài ra, bản thân hoạt động xuất khẩu gạo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần mà là vấn đề chính trị, xã hội có liên quan đến cuộc sống của cả đất nước và của hàng chục triệu hộ nông dân đang sản xuất gạo nuôi sống xã hội Hiện nay sự bất bình đẳng giữa người sản xuất và người xuất khẩu gạo đang có xu hướng gia tăng, người nông dân đang chịu nhiều áp lực và thua thiệt từ hoạt động xuất khẩu gạo bất bình đẳng hiện nay, nếu không sớm được giải quyết sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng trong việc đảm bảo an ninh an ninh lương thực quốc gia và đời sống của hàng chục triệu hộ nông dân trồng lúa, chênh lệch giàu nghèo sẽ có xu hướng gia tăng, từ
đó tạo ra những bất ổn về xã hội
1.2.1.2 Phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính phục vụ quá
trình hoạt động xuất khẩu gạo
Với chức năng phân phối và giám đốc của tài chính, các khâu của hệ thống tài chính và cả hệ thống tài chính đều có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nguồn tài chính được phân phối, sử dụng một cách tối ưu, tiết kiệm và có hiệu quả theo các mục tiêu của hoạt động xuất khẩu gạo
Trong hoàn cảnh các nguồn lực tài chính phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động xuất khẩu gạo đang còn khan hiếm so với nhu cầu như ở nước
ta thì vai trò phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính càng có ý nghĩa quan trọng Khi xem xét vai trò này của tài chính, mục tiêu cần đạt được là các chính sách, giải pháp tài chính là phải tối đa hoá hiệu quả kinh tế - xã hội của quá trình hoạt động xuất khẩu gạo
Trang 34Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu gạo ở đây phải là tiêu chuẩn hiệu quả tổng hợp nhưng hiệu quả kinh tế phải được đặt lên hàng đầu
Trong mọi điều kiện, yêu cầu đặt ra đối với quá trình phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính là phải đạt được hiệu quả sử dụng nguồn lực cao nhất
Bởi lẽ:
- Các nguồn lực tài chính phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động xuất khẩu gạo đang còn khan hiếm so với nhu cầu
- Các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động xuất khẩu gạo trên phạm vi cả
nước cũng như ở khu vực nông thôn nhìn chung có năng lực đầu tư cũng như năng lực quản trị kinh doanh còn yếu
Trong thực tế, những thách thức và trở ngại đặt ra đối với hệ thống tài chính gây khó khăn và trở ngại cho việc thực hiện phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ quá trình hoạt động xuất khẩu gạo hiện nay là do các vấn đề sau đây:
- Nguồn vốn đầu tư từ NSNN còn hạn chế so với nhu cầu về vốn, trong khi đó việc phân bổ vốn đầu tư còn dàn trải, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, thất thoát, lãng phí trong đầu tư còn nhiều;
- Các kênh huy động vốn khác như thị trường chứng khoán còn chưa phát triển nên nguồn vốn tín dụng của NHTM là kênh tài trợ chủ yếu cho các DN Trong khi đó, nguồn vốn tín dụng NHTM hiện nay mới chủ yếu dành cho đầu tư ngắn hạn, tỷ trọng đầu tư dài hạn còn thấp; khả năng tiếp cận của các chủ thể kinh tế đối với nguồn vốn của các NH còn rất nhiều “rào cản” phải vượt qua;
- Các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chưa được huy động tối đa cho đầu tư phát triển kinh tế, vốn của doanh nghiệp, của dân cư còn tập trung nhiều vào các lĩnh vực có lợi ích ngắn hạn, đầu tư còn mang nặng tính tự phát, chưa chú trọng đến đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực trọng điểm để nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của sản phẩm gạo, nhất là gạo xuất khẩu
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, hoạt động phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính còn nhiều hạn chế, nhất là việc phân phối và sử dụng vốn đầu
tư của Nhà nước còn mang tính bình quân, dàn trải, hiệu quả thấp thì việc thực hiện
Trang 35vai trò phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính phục vụ quá trình hoạt động xuất khẩu gạo càng có ý nghĩa quan trọng
1.2.1.3 Định hướng hoạt động xuất khẩu gạo
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động xuất khẩu gạo chịu sự tác động của các quy luật thị trường Vì vậy, người sản xuất gạo cũng như các tổ chức kinh doanh gạo phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung - cầu gạo trên thị tr-ường để định hướng chiến lược sản xuất kinh doanh của mình Sự thay đổi chiến lược sản xuất - kinh doanh của các chủ thể có liên quan đến sản xuất và xuất khẩu gạo để thích ứng với điều kiện của thị trường mới có khả năng tồn tại và phát triển
Tuy nhiên, gạo là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội, không chỉ là vấn đề cấp thiết trước mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự phát triển kinh tế đất nước Hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo có tính đặc thù không giống với những hàng hóa thông thường khác là chịu
sự tác động trực tiếp của các điều kiện tự nhiên và của quy luật sinh học nên sản xuất
và thu hoạch có tính thời vụ rất rõ rệt
Ở Việt Nam gạo chủ yếu tập trung ở 2 vùng đồng bằng trọng điểm: Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra còn phân bố rải rác ở các vùng đồng bằng của các tỉnh miền trung nhưng với quy mô không lớn Sản xuất và thu hoạch gạo mang tính thời vụ nên quy luật cung cầu tác động tiêu cực gây nhiều khó khăn cho người sản xuất cũng như hoạt động tiêu thụ gạo Thông thường vào thời vụ thu hoạch giá lúa trên thị trường thường xuống thấp và người sản xuất cũng rất khó tiêu thụ nên gây cho họ nhiều khó khăn trong bảo quản và thu hồi vốn để đầu tư cho
vụ sản xuất tiếp theo
Vì vậy, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì hoạt động sản xuất, xuất khẩu gạo, nhất là hoạt động xuất khẩu sẽ gặp rất nhiều khó khăn Điều đó sẽ gây ra những hậu quả không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị, xã hội
Vai trò của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu gạo là rất quan trọng và không thể thiếu Hoạt động xuất khẩu gạo chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó chính sách của Nhà nước, như: quy hoạch tổng thể và cụ thể cho từng
Trang 36vùng, từng ngành, từng loại sản phẩm chủ yếu; chính sách đầu tư; chính sách tài chính; chính sách tiền tệ; chính sách phát triển khoa học công nghệ; chính sách khuyến khích xuất khẩu; chính sách đào tạo nguồn nhân lực; các chính sách xã hội; v.v…và Nhà nước phải sử dụng một hệ thống các công cụ, giải pháp để thực hiện các chính sách đó Việc thực hiện định hướng cho quá trình hoạt động xuất khẩu gạo của Nhà nước trước hết được thực hiện bởi các công cụ, giải pháp về quy hoạch, kế hoạch và tổ chức Tuy nhiên, chính sách tài chính của Nhà nước có sự chi phối và tác động rất mạnh mẽ đến quá trình định hướng này, vai trò đó thể hiện tập trung ở những nội dung sau đây:
- Một là, trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, Nhà nước sử dụng các công cụ của chính sách tài chính như: chi ngân sách, tín dụng ưu đãi như một đòn bẩy kinh tế
để hướng các chủ thể trong nền kinh tế thực hiện các mục tiêu sản xuất và xuất khẩu gạo đã hoạch định;
- Hai là, mọi hoạt động kinh tế theo quy hoạch, kế hoạch phải được tài trợ bởi một nguồn lực tài chính nhất định Vì vậy, tài chính có vai trò đảm bảo sự tài trợ đúng hướng để các ý đồ quy hoạch, kế hoạch về sản xuất và tiêu thụ gạo trở thành hiện thực;
- Ba là, những công cụ tài chính có tính linh hoạt cao do sử dụng lợi ích kinh
tế như một động lực nên tác động của nó đối với quá trình hoạt động tiêu thụ gạo là khá mạnh mẽ
Mặc dù, Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất tài trợ cho quá trình hoạt động tiêu thụ gạo, nhưng vai trò định hướng cho hoạt động tiêu thụ gạo của tài chính gắn liền với vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Bằng việc sử dụng các công cụ tài chính để Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hoạt động tiêu thụ gạo qua đó định hướng phát triển sản xuất và tiêu thụ gạo theo định hướng của Nhà nước
1.2.2 Tác động của các chính sách tài chính đối với hoạt động xuất khẩu gạo
Trang 37Cơ chế tác động của các công cụ tài chính đối với hoạt động xuất khẩu gạo có thể theo phương thức tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chủ thể có liên quan đến quá trình sản xuất và xuất khẩu gạo
Tác động trực tiếp, là việc sử dụng các công cụ tài chính nhằm làm thay đổi quy mô, trình độ, chất lượng hoạt động của các bộ phận cấu thành quá trình hoạt động xuất khẩu gạo, như đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu gạo, đầu tư xây dựng và hiện đại hóa hệ thống công nghiệp chế biến, bảo quản gạo.v.v
Tác động gián tiếp, là việc sử dụng các công cụ tài chính tác động nhằm tạo
môi trường thuận lợi, hoặc các lĩnh vực có liên quan đến quá trình hoạt xuất khẩu gạo
như đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển các ngành dịch vụ cho nông nghiệp, phát triển hệ thống thị trường …
Để các công cụ tài chính phát huy tối đa các nguồn lực phục vụ quá trình hoạt động xuất khẩu gạo, đạt mục tiêu và định hướng đưa ra, cần có sự kết hợp đồng bộ các công cụ đó Nếu thiếu sự kết hợp đồng bộ giữa các công cụ tài chính, có thể dẫn đến triệt tiêu động lực, gây lãng phí nguồn lực, cản trở quá trình hoạt động xuất khẩu gạo Trong quá trình sử dụng các công cụ tài chính, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhất là giữa ngành tài chính, ngân hàng, các ngành kinh tế – kỹ thuật và chính quyền các cấp
Một đặc điểm bao trùm của các công cụ tài chính là tính chất hai mặt: tích cực
và tiêu cực Cùng một công cụ tài chính nếu được sử dụng đúng và thích hợp sẽ kích thích và tạo động lực cho phát triển kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu gạo nói riêng Ngược lại, nếu sử dụng không đúng và không phù hợp thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hoạt động xuất khẩu gạo, có thể dẫn đến triệt tiêu động lực của cả
hệ thống tài chính
Về lý luận cũng như thực tiễn, việc sử dụng các công cụ tài chính phục vụ quá trình hoạt động xuất khẩu gạo đều chịu sự ràng buộc của những điều kiện cụ thể Sự ràng buộc trong việc thực hiện các giải pháp tài chính là xuất phát từ chính bản thân
hệ thống tài chính và từ mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực trong phát triển
Trang 38kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Mặt khác, việc sử dụng các công cụ tài chính hỗ trợ xuất khẩu gạo không thể tách rời những yếu tố tác động của môi trường bên ngoài (sự tác động của các ngành công nghiệp, dịch vụ đô thị, xu thế hội nhập quốc tế…)
Khả năng về tài chính của một quốc gia không chỉ biểu hiện bằng số lượng các nguồn lực tài chính có trong tay Nhà nước, mà còn biểu hiện ở việc sử dụng các công
cụ tài chính để chi phối và tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và quá trình hoạt động xuất khẩu gạo nói riêng
Hoạt động xuất khẩu gạo là vấn đề phức tạp có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoạt động và nhiều vùng địa phương cũng như các quốc gia khác nhau trên thế giới Quá trình đó đòi hỏi phải có sự nỗ lực không chỉ đối với ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước và chính quyền các cấp, phải có sự quan tâm của cả xã hội Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo theo hướng hiện đại, hiệu quả đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp
cả về khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lý, về kinh tế, tài chính, trong đó tài
chính có một vai trò cực kỳ quan trọng và có tính quyết định đến sự thành bại đối với
hoạt động xuất khẩu gạo
Để hiểu rõ tác động của tài chính đối với quá trình hoạt động xuất khẩu gạo cần xem xét sự tác động cụ thể của một số công cụ chủ yếu sau:
Chi NSNN là việc Nhà nước sử dụng nguồn thu của ngân sách vào các khoản chi tiêu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu của Nhà nước
Trang 39Nội dung chi NSNN bao gồm:
- Chi đầu tư phát triển;
- Chi thường xuyên;
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền vay của Chính phủ;
- Chi viện trợ cho các Chính phủ và các tổ chức nước ngoài;
- Chi cho vay theo quy định của pháp luật;
- Bổ sung quỹ dự trữ tài chính;
- Bổ sung cho ngân sách địa phương;
- Chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang năm sau
Chi NSNN đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống các công cụ tài chính để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội của Nhà nước Tuy nhiên, xét dưới giác độ tác động đến xuất khẩu gạo thì chi NSNN được biểu hiện tập trung thông qua chi NSNN cho đầu
tư phát triển những lĩnh vực có tác động trực tiếp cũng như gián tiếp đến hoạt động xuất khẩu gạo và thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
- Chi đ u tư phát triển từ NSNN để xâ dựng đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ t ng đảm bảo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu gạo
Kết cấu hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến
sự phát triển của đất nước nói chung và từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động nói riêng Theo đánh giá của các nhà kinh tế cũng như các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đều có nhận định hệ thống kết cấu hạ tầng lạc hậu và thiếu đồng bộ cùng với chất lượng nguồn nhân lực thấp đang là những điểm nghẽn đối với sự phát triển kinh tế đất nước nói chung và từng ngành kinh tế, từng vùng địa phương nói riêng
Chính vì vậy, đầu tư xây dựng và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng đang là vấn đề cấp thiết đối với nước ta hiện nay Hệ thống kết cấu hạ tầng có tác động đến hoạt động xuất khẩu gạo trong đó nhiều nội dung có liên quan đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, như: hệ thống chuyển tải điện, hệ thống giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin, hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ cho đào tạo nguồn nhân lực, cho nghiên cứu
và chuyển giao khoa học và công nghệ.v.v Ngoài ra, do tính đặc thù của sản xuất và
Trang 40xuất khẩu gạo nên hệ thống kết cấu hạ tầng cần được đầu tư xây dựng phù hợp với nhu cầu thực tiễn, như hệ thống các công trình thủy lợi, các cơ sở nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ sản xuất, chế biến, bảo quản , vận chuyển lương thực,
hệ thống kho dự trữ, bảo quản lương thực.v.v
Đầu tư xây dựng, hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ đòi hỏi phải có một lượng vốn rất lớn, trong đó chi đầu tư phát triển từ NSNN giữ vai trò tiên quyết và chủ yếu, xuất phát từ những lý do sau đây:
Một là, Hệ thống kết cấu hạ tầng có tính xã hội và tính liên kết rất cao, mang đặc
tính của “hàng hoá công cộng”, tức là ai cũng cần nhưng không ai có thể sử dụng chúng một mình và không ai tự nguyện bỏ tiền để đầu tư xây dựng hoặc mua kết cấu hạ tầng cho riêng mình Chính vì vậy, việc quy hoạch và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trước hết phải do Nhà nước khởi xướng và tổ chức thực hiện
Hai là, Hệ thống kết cấu hạ tầng yêu cầu về vốn đầu tư rất lớn, khả năng thu hồi
rất khó khăn và phải thu hồi trong thời gian dài hoặc không thể thu hồi được, nhất là hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp do chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố tự nhiên, đối tượng thụ hưởng là những người nông dân phần đông còn nghèo và nhiều vùng địa phương rất khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác Vì vậy, để có
hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung, hoạt động xuất khẩu gạo nói riêng thì đầu tư từ phía Nhà nước có tính quyết định, ngoài Nhà nước đầu tư ra thì các thành phần kinh tế, các chủ thể khác không có khả năng hoặc không muốn đầu tư
Ba là, Hệ thống kết cấu hạ tầng phải luôn đi trước, mở đường cho sự phát triển
Với chức năng định hướng phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước phải quy hoạch và đầu
tư phát triển kết cấu hạ tầng, từ đó định hướng, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác đầu tư phát triển sản xuất và kinh doanh gạo
Hiện nay, hệ thống kết cấu hạ tầng đảm bảo cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo, nhất là ở các vùng trọng điểm sản xuất lúa như Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa được đầu tư một cách đồng bộ, phần lớn vẫn trong tình trạng lạc hậu và xuống cấp nghiêm trọng, nhất là hệ thống công trình thủy lợi, hệ thống cảng phục vụ cho vận