Ở Việt Nam thì khái niệm này cũng thống nhất với khái niệm trongcông ước Kyoto và được nêu cụ thể trong luật Hải quan sửa đổi năm 2005như sau: Kiểm tra sau thông quan là hoạt động của cơ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh đất nước ta hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộngthì hoạt động xuất nhập khẩu cũng được đẩy mạnh, kèm theo đó là các hành
vi gian lận thương mại cũng gia tăng với những thủ đoạn ngày càng tinh vihơn Để đáp ứng những yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu thươngmại quốc tế đồng thời thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về hải quan,nghành hải quan đã tiến hành cải cách, hiện đại hóa hải quan bằng cách chotriển khai áp dụng nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan Nghiệp vụ này thực sự
có nhiều hữu ích cho chính cơ quan hải quan và cho cộng đồng doanh nghiệp
và nó ngày càng được chú trọng hơn
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thếgiới WTO cũng đồng nghĩa với việc các cam kết khi Việt Nam gia nhậpWTO có hiệu lực Một trong những cam kết đó là việc cắt giảm hàng rào thuếquan sẽ phải hoàn thành trong 5-7 năm nữa với những thay đổi lớn về thuếnhập khẩu và việc đó có tác động rất lớn đến các mặt hàng giá trị thương mạilớn, thuế suất nhập khẩu cao trong đó có mặt hàng ô tô Mặt hàng ô tô nhậpkhẩu là mặt hàng nhạy cảm nằm trong danh mục 13 mặt hàng nhập khẩu phảiquản lý rủi ro về giá và có nhiều thay đổi nhất về chính sách quản lý trongthời gian vừa qua Lợi dụng sự thông thoáng và những thay đổi trong chínhsách mà nhiều doanh nghiệp đã dùng mọi thủ đoạn nhằm gian lận về thuế đốivới mặt hàng này làm thất thu Ngân sách nhà nước hàng chục tỉ đồng Mộttrong những hình thức gian lận chủ yếu và được phát hiện nhiều nhất trongkiểm tra sau thông quan đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu đó là gian lận quatrị giá tính thuế
Như vậy, việc kiểm tra sau thông quan về trị giá tính thuế đối với mặthàng ô tô nhập khẩu không chỉ có ý nghĩa phát hiện ra các sai phạm của
Trang 2doanh nghiệp, tránh thất thu Ngân sách Nhà nước Ngoài ra nó còn có ý nghĩaquan trọng trong việc đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của các doanhnghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung và của các doanh nghiệp kinhdoanh mặt hàng ô tô nhập khẩu nói riêng Từ đó, cung cấp nhiều thông tincần thiết cho công tác thông quan để khâu thông quan thực hiện tốt quản lýrủi ro đặc biệt là đối với các ngành hàng có khả năng thất thu thuế cao.
Xuất phát từ tình hình thực tế và qua quá trình thực tập tại Chi cục Kiểm
tra sau thông quan – Cục Hải quan Hà Nội, em đã chọn đề tài: “Công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu tại Chi cục kiểm tra sau thông quan – Cục Hải quan Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Về lý luận: Làm rõ những vấn đề cơ bản về công tác kiểm tra sauthông quan về trị giá tính thuế đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu
- Về thực tiễn: đánh giá thực trạng công tác KTSTQ về trị giá đối vớimặt hàng ô tô nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay để từ đó kiến nghịmột số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KTSTQ về trị giá đốivới mặt hàng ô tô nhập khẩu nói riêng và đối với hàng nhập khẩunói chung
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng: Công tác kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá,các doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu ô tô
- Phạm vi: Nghiên cứu đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong luận văn này chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, so sánh,tổng hợp và phân tích để trình bày những kiến thức đã học hỏi, tiếp thuđược và những quan điểm của bản thân về tình hình triển khai công tác
Trang 3kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu tại Chicục KTSTQ – Cục Hải quan TP Hà Nội Đồng thời, luận văn cũng vậndụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp vớinhững lý luận thực tiễn để có cơ sở đề xuất các giải pháp.
4 Kết cấu của đề tài
Ngoài Lời mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo,
đề tài được chia làm 3 phần như sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản trong công tác kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) về lĩnh vực trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu.
Chương 2: Thực trạng công tác KTSTQ về trị giá đối với mặt hàng
ô tô nhập khẩu tại Chi cục kiểm tra sau thông quan – Cục Hải quan
TP Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác KTSTQ về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu tại Chi cục kiểm tra sau thông quan – Cục Hải quan TP Hà Nội
Nhân đây, em xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Thầy giáo PGS
TS Hoàng Trần Hậu, người đã trực tiếp hướng dẫn em tận tình trong suốtquá trình thực hiện và hoàn thiện bài luận này Đồng thời, em cũng xin cảm
ơn anh Phạm Quốc Huy cùng các cán bộ công chức đội trị giá và các cô, cácchú, các anh chị công tác tại Chi cục KTSTQ- Cục Hải quan TP Hà Nội đãgiúp em có được những thông tin cần thiết, tài liệu bổ ích và những ý kiếnđóng góp quý báu để em có thể hoàn thành được bài viết này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG KTSTQ VỀ
TRỊ GIÁ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG Ô TÔ NHẬP KHẨU
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
1.1.1 Khái niệm về kiểm tra sau thông quan
Kiểm tra sau thông quan là một khâu nghiệp vụ hết sức quan trọngtrong công nghệ quản lý của hải quan hiện đại, nhằm đáp ứng yêu cầu củagiao lưu thương mại quốc tế trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Nghiệp vụnày đã và đang được áp dụng phổ biến trên phạm vi toàn thế giới Việt Namchính thức triển khai công tác này kể từ ngày 01/01/2002 trên cơ sở điều 32luật Hải quan ngày 29/6/2001 và nghị định 102/2001/NĐ- CP ngày28/12/2001 quy định chi tiết về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóaxuất nhập khẩu
Hiện nay, ở mỗi quốc gia khác nhau có những định nghĩa khác nhau vềkiểm tra sau thông quan:
Trên thế giới kiểm tra sau thông quan được biết đến với thuật ngữ
“kiểm tra trên cơ sở kiểm toán” (Audit-based control) Khái niệm kiểm tratrên cơ sở kiểm toán được Tổ chức Hải quan thế giới và được áp dụng rộngrãi trên các nước trên thế giới, khái niệm này được nêu trong công ước Kyotosửa đổi năm 1999 như sau : “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán” là biện pháp do
cơ quan hải quan tiến hành để kiểm tra sự chuẩn xác và trung thực của các tờkhai hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hệ thống kinh doanh hay các
số liệu thương mại có liên quan do các bên hữu quan quản lý
Trang 5Ở Việt Nam thì khái niệm này cũng thống nhất với khái niệm trongcông ước Kyoto và được nêu cụ thể trong luật Hải quan sửa đổi năm 2005như sau: Kiểm tra sau thông quan là hoạt động của cơ quan hải quan nhằmthẩm định tính chính xác, trung thực của nội dung các chứng từ mà ngườikhai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan
Kiểm tra sau thông quan nhằm thẩm định tính trung thực, độ chínhxác trong việc khai hải quan thông qua việc kiểm tra hồ sơ hải quan, sổ sáchchứng từ kế toán, báo cáo tài chính, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thươngmại của đơn vị được kiểm tra Từ đó có thể phát hiện các sai phạm của doanhnghiệp góp phần ngăn chặn tình trạng thất thu thuế đồng thời nâng cao được
ý thức chấp hành pháp luật hải quan của cộng đồng doanh nghiệp
Mặt khác, kiểm tra sau thông quan là phương pháp kiểm tra ngượcthời gian, diễn ra sau khi hàng hóa đã được thông quan do vậy nó cho phép
mở rộng phạm vi kiểm tra trên nhiều lĩnh vực Nhờ vậy mà việc kiểm trađược thực hiện một cách toàn diện hơn, kĩ hơn, đem lại hiệu quả cao hơn.Đồng thời nghiệp vụ này còn cho phép rút ngắn thời gian kiểm tra trongthông quan, đáp ứng nhu cầu giải phóng hàng nhanh mà vẫn đảm bảo việc ápdụng quản lý rủi ro Có thể nói bản thân khâu nghiệp vụ quan trọng này ngàycàng thực sự có nhiều hữu dụng cho chính cơ quan hải quan cũng như cộngđồng doanh nghiệp
1.1.2 Nguyên tắc, mục đích, nội dung của kiểm tra sau thông quan (KTSTQ)
Về mặt nguyên tắc, kiểm tra sau thông quan cũng là một nghiệp vụkiểm tra hải quan nên phải tuân thủ các nguyên tắc của kiểm tra hải quan Vìvậy mà kiểm tra sau thông quan phải tuân thủ các nguyên tắc như: phải đượcthực hiện dựa trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá việc chấp hành phápluật của chủ hàng, mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan nhằm đảm
Trang 6bảo thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về hải quan đồng thời khônggây trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp; kiểm tra sauthông quan phải được tiến hành theo quy định của pháp luật; nguyên tắc bảomật thông tin: phải đảm bảo tính chính xác, khách quan để không gây cản trởtới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ khi nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan được triển khai áp dụng rộngrãi ít nhiều đã làm thay đổi quan niệm “hải quan là người gác cửa” bởi mụcđích của kiểm tra sau thông quan là: xác định mức độ chính xác, trung thựccủa việc kê khai hàng hóa; xác định mức độ chính xác về việc tự tính và nộpthuế của doanh nghiệp và xác định mức độ chấp hành pháp luật hải quan củadoanh nghiệp Trên cơ sở xác định được những nội dung đó mà hải quan cóthể xác định được mức độ ưu tiên trong quản lý của Hải quan đối với hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp làm căn cứ cho việc áp dụngquản lý rủi ro Đồng thời kiểm tra sau thông quan cho phép phát hiện và ngănchặn gian lận thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu đặc biệt là gian lậntrị giá hải quan để trốn thuế và đây cũng là mục đích chính của KTSTQ Đểđạt được những mục đích đó thì KTSTQ cần kiểm tra những nội dung chủyếu sau:
- Kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ hải quan
- Kiểm tra tính chính xác của các căn cứ tính thuế, tính chính xáccủa việc khai các khoản thuế phải nộp, được miễn, không thu,được hoàn…
- Kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về thuế
- Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hải quan của doanh nghiệp.Trong kiểm tra sau thông quan, đối tượng chịu sự kiểm tra là nhữngchủ thể có liên quan trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu bao gồm:
- Người xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
- Người ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
Trang 7- Đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp cung ứng các dịch vụbưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh.
- Người được chủ hàng ủy quyền làm thủ tục hải quan
Khi tiến hành kiểm tra sau thông quan đối với các đối tượng này thìKTSTQ phải kiểm tra thông qua các dữ liệu, giấy tờ, sổ sách kế toán ở dạnggiấy tờ hoặc dữ liệu điện tử có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu Đóchính là đối tượng kiểm tra của kiểm tra sau thông quan, cụ thể là:
- Hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và đơn vị hải quanlàm thủ tục hải quan cho hàng hóa liên quan
- Các chứng từ tài liệu liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu đãđược thông quan do doanh nghiệp lưu giữ ở dạng giấy tờ hoặc dữliệu điện tử
- Hàng hóa, nơi sản xuất nếu cần thiết và còn điều kiện
Kiểm tra sau thông quan là một trong những biện pháp chống gianlận có hiệu quả nhất trong công tác quản lý của cơ quan hải quan hiện nay.Việc phát hiện các sai phạm của doanh nghiệp trong quá trình kiểm tra sauthông quan là cơ sở cho việc truy thu thuế, xử lý vi phạm trong lĩnh vực hảiquan đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách và giảm thiểu đượcnhững rủi ro cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hải quan Khôngchỉ vậy kiểm tra sau thông quan còn góp phần đảm bảo thực hiện nghiêmchỉnh và có hiệu quả pháp luật hải quan và các văn bản pháp luật có liên quanđến lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, nâng cao ý thức tự giác chấp hànhpháp luật của cộng đồng doanh nghiệp
Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan thì việc xácđịnh được phạm vi kiểm tra sau thông quan là rất cần thiết Nó cho phép côngchức hải quan khoanh vùng để thực hiện các công việc của mình, tránh việckiểm tra tràn lan, tốn kém chi phí quản lý và hiệu quả thấp Phạm vi kiểm trasau thông quan bao gồm:
Trang 8- Kiểm tra tất cả hoạt động xuất nhập khẩu của một doanh nghiệptrong một giai đoạn.
- Kiểm tra việc xuất nhập khẩu một mặt hàng, của một hoặc củanhiều doanh nghiệp trong một giai đoạn
- Kiểm tra một hoặc nhiều nội dung của một hoặc nhiều mặt hàngxuất khẩu, nhập khẩu của một doanh nghiệp trong một giai đoạn
- Kiểm tra một hoặc nhiều loại hình xuất khẩu, nhập khẩu của mộtdoanh nghiệp trong một giai đoạn
1.2.NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA KIỂM TRA SAUTHÔNG QUAN VỀ TRỊ GIÁ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG Ô TÔ NHẬP KHẨU
1.2.1 Khái niệm kiểm tra sau thông quan về trị giá
1.2.1.1 Khái quát chung về trị giá hải quan
Trong xu thế hội nhập và giao lưu thương mại toàn cầu thì trị giá hảiquan là một trong những nội dung quan trọng trong thỏa thuận thuế quan vàthương mại giữa các quốc gia khác nhau Khái niệm trị giá hải quan đượchình thành khi người ta bắt đầu chuyển dần việc đánh thuế cụ thể theo lượnghàng hóa sang đánh thuế theo giá trị hàng hóa Càng ngày, việc tính thuế dựatrên giá trị của hàng hóa ngày càng phát triển do vậy việc xác định trị giá hảiquan một cách tùy tiện không còn phù hợp nữa, ở các khu vực và các nướcđang tìm cách xây dựng các cách xác định giá trị của hàng hóa để tính thuế.Tuy vậy, nhưng cho đến nay còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau:
- Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa dùng để tính thuế Hải quantheo giá trị
- Trị giá hải quan là trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
- Trị giá Hải quan là giá thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa để đánh thuế Hải quan theogiá trị của hàng hóa đó
Trang 9- Trị giá hải quan là trị giá phục vụ cho mục đích tính thuế hải quan vàthống kê hải quan…
Qua các ý kiến, quan điểm trên có thể hiểu khái quát về trị giá hải quan
như sau: Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý Nhà nước về Hải quan.
Trị giá hải quan được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau nhưng ởViệt Nam thì trị giá hải quan được phục vụ cho mục đích tính thuế và mụcđích thống kê là chủ yếu Để đạt được những mục đích đó thì việc xác định trịgiá hải quan là vấn đề trở lên vô cùng quan trọng không chỉ với Việt Nam màcòn với các quốc gia trên thế giới Vì ở đây đề tài nghiên cứu về nghiệp vụkiểm tra sau thông quan về trị giá đối với một mặt hàng nhập khẩu cụ thể nênchúng ta chỉ tập trung nghiên cứu trị giá hải quan với mục đích tính thuế Trước năm 2004, xác định trị giá tính thuế dựa trên việc cơ quan quản lýban hành danh mục những mặt hàng nhà nước quản lý giá và bảng giá tốithiểu kèm theo và coi nó như một công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa, chống gianlận qua giá đồng thời đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Khi dòng hàng hóalưu chuyển ngày càng tăng lên thì bảng giá tối thiểu đã bộc lộ hết nhữngnhược điểm lớn như: không linh hoạt, không phản ánh được thực tế thươngmại, nhanh chóng lạc hậu do giá cả thị trường luôn biến động Trước nhữngnhược điểm của bảng giá tối thiểu cùng với việc phải thực hiện nhiều cam kếtquốc tế khi hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã chuyển đổi phương phápxác định trị giá từ phương pháp xác định trị giá theo giá tối thiểu sang phươngpháp xác định trị giá tính thuế theo hiệp định trị giá GATT Để thực hiện điều
đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/2002/NĐ-CP và Bộ Tài chính cóthông tư 118/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Hiệp định trị giá GATT Tuynhiên trong quá trình thực hiện và áp dụng thì nhận thấy các văn bản trênchưa chuyển thể được hết nội dung của Hiệp định cũng do năng lực thực tếcủa Việt Nam nên việc áp dụng gặp khó khăn là không thể tránh khỏi Phản
Trang 10ứng lại vấn đề đó, chính phủ đã ban hành nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày
16 tháng 03 năm 2007 quy định việc xác định trị giá hải quan đối với hàngxuất khẩu, nhập khẩu và để thực hiện nghị định, Bộ Tài chính đã ban hànhThông tư số 40/2008/ TT- BTC ngày 21 tháng 5 năm 2008 nay đã được thaythế bằng thông tư số 205/2010/TT-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2010 hướngdẫn việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan nhằm mục đíchtính thuế (còn gọi là trị giá tính thuế) đối với hàng nhập khẩu đã được quyđịnh cụ thể trong điều 4 của Nghị định số 40/2007/TT-BTC ngày 16 tháng 3năm 2007 như sau:
Đối với hàng hóa nhập khẩu, trị giá tính thuế là giá thực tế phải trả tínhđến cửa khẩu nhập đầu tiên và được xác định theo các phương pháp xác địnhtrị giá tính thuế quy định từ điều 7 đến điều 12 nghị định này bằng cách ápdụng tuần tự từng phương pháp và dừng ngay ở phương pháp xác định trị giátính thuế Các phương pháp xác định trị giá tính thuế gồm: phương pháp trịgiá giao dịch; phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giốnghệt; phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự; phươngpháp trị giá khấu trừ; phương pháp trị giá tính toán, phương pháp suy luận Trong trường hợp người khai hải quan đề nghị bằng văn bản thì trình tự
áp dụng phương pháp trị giá khấu trừ, phương pháp suy luận có thể hoán đổicho nhau
1.2.1.2 Khái niệm về kiểm tra sau thông quan về trị giá
Trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh
tế thế giới trong khi hệ thống pháp luật về xuất nhập khẩu còn thiếu, chưađồng bộ, ý thức chấp hành pháp luật chưa thành văn hóa của nhiều doanhnghiệp Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế ngày càng giatăng Trong đó, hình thức gian lận qua giá ngày càng diễn biến phức tạp vớinhững thủ đoạn ngày càng tinh vi làm thất thu của ngân sách hàng trăm tỷđồng Để đáp ứng nhu cầu vừa tạo điều kiện cho giao lưu thương mại quốc tếđồng thời thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về hải quan thì công tác
Trang 11kiểm tra sau thông quan về trị giá tính thuế của hàng xuất khẩu, nhập khẩuđược đặc biệt chú ý trong công tác kiểm tra sau thông quan.
Kiểm tra sau thông quan là khâu kiểm tra lại kết quả của khâutrước Vì vậy, kiểm tra sau thông quan về trị giá sẽ tập trung vào các trườnghợp có nghi vấn về hồ sơ, chứng từ, các mức giá khai báo do lực lượng phúctập hồ sơ chuyển, do lực lượng kiểm tra tại thông quan chuyển đến hay dochính lực lượng kiểm tra sau thông quan phát hiện ra hoặc đánh giá mức độrủi ro theo mặt hàng, ngành hàng, theo doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu.Qua quá trình kiểm tra ta sẽ biết được trị giá tính thuế mà chủ hàng đã tự tính
và tự nộp có đúng theo quy định không Từ đó làm cơ sở cho việc truy thuthuế đồng thời đánh giá được phần nào mức độ tuân thủ pháp luật về thuế,pháp luật hải quan đối với doanh nghiệp
Như vậy, kiểm tra sau thông quan về trị giá tính thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực trong việc khai báo trị giá tính thuế trên tờ khai hải quan, tờ khai trị giá và các chứng từ có liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế mà chủ hàng đã nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
đã được thông quan.
1.2.2 Đặc điểm của mặt hàng ô tô
Ở nước ta hiện nay thì ô tô là một trong những phương tiện giao thôngđược nhiều người lựa chọn để phục vụ cho nhu cầu đi lại và vận chuyển hànghóa Và chúng ta thường biết đến mặt hàng ô tô với những đặc điểm sau:
- Ô tô là hàng hóa nên nó cũng mang 2 đặc tính của hàng hóa là giá trị
Nhu cầu về vận chuyển hàng hóa và hành khách bằng các phương tiệnvận tải ôtô rất lớn Để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu vận chuyển đó, ôtô có rấtnhiều chủng loại khác nhau, được biểu thị bằng sơ đồ phân loại như sau:
Trang 12Sơ đồ 1.1 Phân loại xe ô tô
Ô tô chở người là ô tô có kết cấu và trang thiết bị chủ yếu dùng để trởngười, hành lý mang theo
Ô tô con là ô tô chở người có từ 9 chỗ ngồi chở xuống tính cả chỗ ngồi củangười lái xe
Ô tô khách là ô tô chở người có số chỗ ngồi bao gồm cả người lái từ 10 trởlên
Ô tô chuyên dụng (xe chuyên dụng) là ô tô có kết cấu và trang bị để thựchiện một chức năng, công dụng đặc biệt
Ô tô tải (xe tải) là ô tô có kết cấu và trang bị chủ yếu dung để trở hàng Ô tôtrở hàng cũng có thể kéo theo 1 rơ móc và có thể bố trí tối đa 2 hàng ghế Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác như: phân loại theo nhiên liệudùng để chạy động cơ (động cơ xăng, động cơ dầu diesel, động cơ điện …),phân loại theo điều kiện sử dụng (ô tô thường, ô tô có tính năng cơ động cao),phân loại theo dung tích xilanh…
1.2.3 Yêu cầu khách quan của kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu
Kiểm tra trị giá tính thuế là một khâu quan trọng trong toàn bộ quy trình
Trang 13chung thì công tác kiểm tra trị giá chiếm đa số công việc của kiểm tra sauthông quan Kiểm tra sau thông quan về trị giá Hải quan nhằm phát hiện ranhững gian lận, sai sót trong khai báo về trị giá Hải quan của hàng hoá xuấtkhẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp từ đó truy thu số tiền thuế, tiền phạt về choNgân sách Nhà nước
Mặt hàng ô tô là mặt hàng trọng điểm về giá và được nhà nước rất chútrọng trong công tác quản lý bởi nó thuộc vào nhóm hàng có khả năng thất thuthuế cao Xuất phát từ yêu cầu quản lý của nhà nước đối với mặt hàng nàycũng như để thực hiện chức năng quản lý nhà nước của hải quan thì công táckiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu ngày càngcần thiết bởi lẽ:
Thứ nhất, ô tô là mặt hàng có giá trị lớn và kim nghạch nhập khẩu lớn.
Khi nền kinh tế trong nước ngày càng phát triển, theo đó đời sống nhânđược cải thiện và nhu cầu của của con người cũng ngày càng tăng trong đóbao gồm cả nhu cầu về đi lại Để đáp ứng được nhu cầu đó nghành côngnghiệp sản xuất ô tô trong nước đã phát triển cả về quy mô và chất lượng Tuynhiên, nó cũng không thể thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước với lượngcầu trong nước tăng như hiện nay Cũng vì vậy mà lượng ô tô nhập khẩu vàoViệt Nam với số lượng ngày càng lớn
Theo thống kê của Tổng cục hải quan thì ô tô là một trong các nhóm mặthàng có tỷ trọng nhập siêu trong 3 năm liên tiếp đặc biệt là ô tô nguyên chiếcdưới 9 chỗ ngồi Trong đó, mặt hàng ô tô có giá trị nhập khẩu trong năm 2010
là 401 triệu USD, trong khi năm 2008 và 2009, con số này lần lượt là 368triệu USD và 499 triệu USD Trị giá tính thuế là căn cứ để tính toán số thuếdoanh nghiệp phải nộp khi nhập khẩu mặt hàng này Do vậy vì mục tiêu lợinhuận các doanh nghiệp sẽ bất chấp mọi thủ đoạn để gian lận qua trị giá nhằmtrốn thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước
Thứ hai, Ô tô là mặt hàng đa dạng về mẫu mã và chủng loại sản phẩm.
Trang 14Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ cho phép chúng ta cóthiết kế, sản xuất hàng hóa đa dạng về mẫu mã, chủng loại; đáp ứng nhu cầungày càng cao cả về số lượng và chất lượng Đối với mặt hàng ô tô cũng vậy,ngày càng có nhiều kiểu dáng đẹp, sang trọng, lịch sự với những tính năng,công dụng ngày càng hiện đại được lắp ráp với những chi tiết đa dạng Tuysản xuất theo từng lô và mỗi chiếc xe đều có số model, seri khác nhau nhưng
có những chiếc xe tương đối giống nhau về kiểu dáng, kích thước Cũngchính vì lẽ đó mà nhiều doanh nghiệp khi khai báo đã cố tình khai sai tênhàng, số hiệu, khung xe, số máy… trong khi trình độ, sự hiểu biết của côngchức hải quan khâu thông quan còn hạn chế nên những rủi ro không thể pháthiện
Thứ ba, Ô tô là mặt hàng có nhiều thay đổi trong chính sách quản lý trong suốt thời gian qua
Nói về chính sách ô tô nước ta, khắp thế giới đều biết chính sách ô tô củaViệt Nam thay đổi soành soạch, không những thay đổi liên tục mà còn thayđổi bất ngờ, không có lộ trình đặc biệt là các dự thảo, chính sách thuế nhậpkhẩu của ô tô Lấy ví dụ, năm 2007- 2008 là khoảng thời gian có nhiều bấtngờ về thuế nhập khẩu ô tô (5 lần điều chỉnh thuế nhập khẩu ô tô trong vòng
16 tháng) Năm 2007 Bộ Tài Chính 3 lần giảm thuế nhập khẩu ô tô xuống còn60% Tuy nhiên giảm được vài tháng thì đến tháng 3/2008 lại tăng lên 70% vàkhông lâu sau là 83%
Đáng nói hơn cả là Bộ Tài Chính thường bí mật thông tin đến phút chótkhiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu đều mất ngờ và hoàn toàn mất chủđộng, gây tổn thất lớn do không bù đắp được chi phí cho việc nhập khẩuhàng Vì vậy mà có không ít các doanh nghiệp đã cố tình khai thấp trị giá tínhthuế thấp hơn so với giá thực tế phải thanh toán để có thể giảm thiểu được tối
đa rủi ro về mình cũng như để đạt được mục tiêu lợi nhuận trong kinh doanh
Sự thay đổi quá nhiều trong chính sách thuế nhập khẩu ô tô tuy có thể thực
Trang 15hiện được mục tiêu quản lý của nhà nước song đây cũng chính là nguyênnhân dẫn đến những hành vi gian lận qua giá tinh vi của các doanh nghiệpnhập khẩu ô tô.
Tóm lại, cùng với sự đa dạng của các hình thức kinh doanh xuất khẩu,nhập khẩu hàng hóa, các hình thức gian lận qua giá đối với mặt hàng ô tônhập khẩu cũng ngày càng phong phú, phức tạp và tinh vi Trong tình hình
đó, cán bộ công chức Hải quan nói chung và công chức Hải quan kiểm tra sauthông quan về trị giá Hải quan nói riêng ngày càng phải nâng cao trình độ,kiến thức bản thân để có thể nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn trong quátrình xuất nhập khẩu hàng hoá
1.2.4 Nội dung kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu
Đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu thì công chức hải quan khi tiến hànhkiểm tra sau thông quan về trị giá sẽ tiến hành kiểm tra các nội dung sau:
* Kiểm tra nội dung khai báo: Là việc kiểm tra toàn bộ tiêu chí trên tờkhai hải quan, tờ khai trị giá và các chứng từ khác có liên quan trong hồ
sơ hải quan do người nhập khẩu khai báo trong đó cần chú ý kiểm tra kĩcác tiêu chí sau:
- Tên hàng phải đầy đủ, chi tiết kí mã hiệu, xuất xứ hàng hóa, phùhợp với các tiêu chí trên tờ khai trị giá Cụ thể: Tên hàng khai báo là tênthương mại thông thường kèm theo những đặc trưng cơ bản về hàng hoánhư: Cấu tạo, công suất, kiểu dáng, công dụng, nhãn hiệu, xuất xứ,…đápứng được yêu cầu về phân loại và xác định các yếu tố ảnh hưởng, liênquan đến việc xác định trị giá tính thuế của hàng hóa Đối với mặt hàng
ô tô cần kiểm tra các thông tin về nhãn hiệu xe, hãng sản xuất, nước sảnxuất, kiểu dáng, dung tích xi lanh, model, mã kí hiệu khác,
Trang 16* Kiểm tra tính chính xác của hồ sơ (như phép tính số học…); sựtrung thực, phù hợp về nội dung giữa các chứng từ trong bộ hồ sơ hảiquan (như so sánh, đối chiếu các điều khoản của hợp đồng,…); so sánh,đối chiếu các nội dung của hóa đơn thương mại với hợp đồng mua bánhàng hóa; so sánh đối chiếu các nội dung khai báo trên tờ khai trị giá vớicác chứng từ tương ứng có liên quan trong hồ sơ hải quan.
* Kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ có liên quan đến việc xác địnhtrị giá tính thuế: Kiểm tra các chứng từ có liên quan đến các khoản chiếtkhấu, giảm giá; chứng từ vận chuyển, chứng từ bảo hiểm, các chứng từ
có liên quan đến các khoản phải cộng, phải trừ khác…
* Các chứng từ, số liệu kế toán hợp pháp, hợp lệ về chi phí quản lýchung, các chi phí khác và lợi nhuận bán hàng trên hệ thống sổ kế toán
và trên các tài khoản liên quan khác: TK 111, 131, 156, 627…; cácchứng từ thanh toán (lệnh chuyển tiền, sổ phụ ngân hàng…)
* Kiểm tra tính tuân thủ nguyên tắc và các phương pháp xác định trịgiá tính thuế hướng dẫn tại thông tư số 40/2008/TT- BTC ngày21/5/2008 nay được thay thế bằng thông tư số 205/2010/TT- BTC ngày15/12/2010 Kiểm tra các điều kiện áp dụng, trình tự các phương phápđược sử dụng để xác định trị giá
* Kiểm tra mức giá khai báo: Công chức hải quan sẽ tiến hành so sánh,đối chiếu mức giá khai báo với mức giá trên cơ sở dữ liệu giá, với vớimức giá trong danh mục quản lý rủi ro về giá hàng nhập khẩu, với mứcgiá được xây dựng từ các nguồn thông tin khác nhau như: các tổ chứchiệp hội ngành hàng, thư chào hàng của nhà xuất khẩu…để xác định cácdấu hiệu nghi vấn về giá
* Kiểm tra mức giá bán trong nội địa: là việc cán bộ công chức hảiquan sẽ tiến hành kiểm tra mức giá bán loại ô tô đó trên thị trường nộiđịa để đánh giá mức giá mà doanh nghiệp khai báo khi nhập khẩu có hợp
Trang 17lý hay có vấn đề nào khả nghi hay không? Trong công tác KTSTQ về trịgiá đối với mặt hàng ô tô thì nội dung này được cán bộ công chức hảiquan rất chú trọng.
1.2.5 Căn cứ kiểm tra sau thông quan về kiểm tra trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu
1.2.5.1 Các nguồn thông tin xây dựng mức giá kiểm tra.
Để thực hiện kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng ô tônhập khẩu thì ta cần phải so sánh mức trị giá do doanh nghiệp đã khai báo vớimột mức giá kiểm tra tạm được coi là chuẩn Trên cơ sở đó đánh giá khả năngsai sót, gian lận của doanh nghiệp này Dựa theo mục 5 điều 23 của thông tư
số 205/2010/TT- BTC ngày 15/12/2010 mức giá kiểm tra đối với mặt hàng ô
tô nhập khẩu sẽ được xây dựng từ các nguồn sau:
- Nguồn thông tin về giá từ hồ sơ nhập khẩu do doanh nghiệp khai báohoặc do cơ quan hải quan xác định
- Nguồn thông tin từ các thư chào hàng của các nhà xuất khẩu ô tô
- Nguồn thông tin từ giá bán tại thị trường nội địa
- Nguồn thông tin từ các tổ chức Hiệp hội nghành hàng như: Hiệp hộicác nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), các nhà cung cấp ô tôchính hãng…
- Nguồn thông tin từ internet, tạp chí, sách báo
- Nguồn thông tin từ các cơ quan, tổ chức trong nước cung cấp như:Thông tin từ cơ quan thuế nội địa, thông tin từ phía Ngân hàng, thôngtin từ cơ quan thẩm định giá
- Nguồn thông tin do các cơ quan, tổ chức quốc tế cung cấp như:Thông tin do tham tán thương mại cung cấp, thông tin do hải quancác nước cung cấp, thông tin do cơ quan thẩm định giá nước ngoàicung cấp
Trang 18- Các nguồn thông tin khác do cơ quan hải quan thu thập được theoquy chế xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu giá.
Như vậy, Việc thu thập mức giá kiểm tra từ các nguồn khác nhau có
ý nghĩa cực kì quan trọng trong quá trình kiểm tra sau thông quan về trị giáđối với mặt hàng ô tô Bởi lẽ trên cơ sở đánh giá được những gian lận, sai sótcủa doanh nghiệp, hải quan mới có thể đưa ra những quyết định xử phạtnghiêm minh đối với doanh nghiệp đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ phápluật của doanh nghiệp
1.2.5.2 Các phương pháp xác định trị giá tính thuế.
Kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng nhập khẩu nóichung và đối với ô tô nhập khẩu nói riêng cũng là một nghiệp vụ kiểm tra trịgiá tính thuế Vì vậy mà nó đều phải dựa trên nguyên tắc và phương pháp xácđịnh trị giá tính thuế được hướng dẫn cụ thể tại điều 12 thông tư số205/2010/TT- BTC ngày 15/12/2010:
Về nguyên tắc: Trị giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu là giá thực tếphải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên
Về phương pháp xác định: Giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhậpđầu tiên được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 6 phương pháp xác định trịgiá tính thuế và dừng ngay ở phương pháp xác định được trị giá tính thuế.Trong trường hợp người khai hải quan đề nghị bằng văn bản thì trình tự ápdụng phương pháp trị giá khấu trừ và phương pháp trị giá tính toán có thểhoán đổi cho nhau
Các phương pháp xác định trị giá là một trong những căn cứ quan trọngtrong việc đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong việc xác định trịgiá khai báo Việc hiểu và nắm bắt kĩ về các phương pháp xác định trị giá này
sẽ giúp cơ quan hải quan phát hiện được doanh nghiệp nào chấp hành tốt,doanh nghiệp nào chưa chấp hành tốt pháp luật hải quan Từ đó, thu hẹp quy
mô kiểm tra, tiến hành kiểm tra trọng điểm đem lại hiệu quả cao trong công
Trang 19tác kiểm tra sau thông quan nói chung và công tác KTSTQ về trị giá nóiriêng Chúng ta có thể sơ lược 6 phương pháp xác định trị giá tính thuế nhưsau:
a) Phương pháp 1: Xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu.
Trị giá tính thuế của hàng nhập khẩu trước hết phải được xác định theotrị giá giao dịch
Theo Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm 2007, trị giáhải quan được xác định như sau: “Trị giá giao dịch là giá mà người mua thực
tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho người bán để mua hàng hóa nhậpkhẩu, sau khi đã được điều chỉnh theo quy định
Giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán là tổng số tiền màngười mua đã thanh toán, trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bán để mua hànghóa nhập khẩu” Và nó bao gồm các khoản: Giá mua ghi trên hóa đơn thươngmại; các khoản tiền người mua phải thanh toán nhưng chưa tính vào giá muaghi trên hóa đơn thương mại; Các khoản thanh toán gián tiếp cho người bán
* Mặt hàng ô tô nhập khẩu được xác định trị giá tính thuế theo phươngpháp trị giá giao dịch nếu thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau:
- Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hoặc sử dụng hàng hóasau khi nhập khẩu, trừ các hạn chế: do pháp luật quy định, hạn chế vềnơi tiêu thụ hàng hóa, các hạn chế khác không ảnh hưởng đến trị giácủa hàng hóa
- Giao dịch mua bán không phụ thuộc vào bất cứ điều kiện nào dẫn đếnviệc không thể xác định được trị giá của hàng hóa nhập khẩu
- Người mua sẽ không phải trả thêm một khoản nào trích từ doanh thuhay lợi nhuận bán hàng của mình cho người cung cấp hàng hóa(người bán), trừ khi khoản tiền đó chính là khoản điều chỉnh đã quyđịnh
Trang 20- Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt hoặc nếu cóthì mối quan hệ đặc biệt đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch Trong trường hợp tại khâu thông quan người khai hải quan xác định là
có mối quan hệ đặc biệt và không ảnh hưởng đến giá cả; nhưng do có số liệu,lực lượng KTSTQ thấy nghi ngờ về sự ảnh hưởng của mối quan hệ đến giá
cả thì cơ quan kiểm tra sau thông quan sẽ thông báo về sự nghi ngờ đó chodoanh nghiệp và yêu cầu doanh nghiệp tiến hành giải trình bằng việc đưa racác bằng chứng để chứng minh như: các bảng giá hợp pháp do các bên pháthành (catalogue, price list…)
Khi kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩukhi được xác định theo phương pháp trị giá giao dịch ta cần xem xét kĩlưỡng các khoản sau:
- Các khoản thanh toán gián tiếp: là các khoản tiền thường không trựctiếp thể hiện trên hóa đơn thương mại và không trực tiếp liên quanđến lô hàng được thanh toán
- Các khoản chiết khấu: Các khoản chiết khấu được chấp nhận khấu trừkhỏi trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu thường có 3 loại: chiếtkhấu thương mại, chiết khấu số lượng và chiết khấu thanh toán
- Các khoản giảm giá: Doanh nghiệp chỉ được phép giảm giá với điềukiện: Việc giảm giá đó phải được quy định cụ thể trên hợp đồng haythư tín trao đổi giữa hai bên mua bán, được xác lập trước khi hànghóa lên phương tiện vận tải và phải phù hợp với thông lệ quốc tế; các
số liệu, chứng từ liên quan đến việc giảm giá phải hợp pháp, hợp lệ
và phải có trong bộ hồ sơ hải quan
- Các khoản điều chỉnh bao gồm: các khoản điều chỉnh cộng và cáckhoản điều chỉnh trừ
+ Các khoản điều chỉnh cộng bao gồm: Tiền hoa hồng bán hàng; Chi phíbao bì liên quan đến hàng hóa; các khoản trợ giúp; tiền phí bản quyền,
Trang 21phí giấy phép; tiền thanh toán bổ sung sau khi bán lại hoặc sử dụng lôhàng nhập khẩu; chi phí vận tải, xếp dỡ hàng hóa; chi phí bảo hiểm hànghóa.
+ Các khoản điều chỉnh trừ gồm: phí vận chuyển, bảo hiểm từ cửa khẩunhập đến địa điểm giao hàng cho chủ hàng; các khoản chi phí phát sinhsau khi nhập khẩu; các khoản thuế, phí và lệ phí phải trả ở Việt Nam
b) Phương pháp 2, 3: xác định trị giá tính thuế theo trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt / hàng hóa nhập khẩu tương tự.
Khi mặt hàng ô tô nhập khẩu không được xác định trị giá theo phươngpháp trị giá giao dịch thì sẽ xác định trị giá hải quan theo phương pháp trị giágiao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự
Nguyên tắc áp dụng trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt,hàng hóa nhập khẩu tương tự:
- Lô hàng nhập khẩu giống hệt/tương tự phải đáp ứng được các tiêuchuẩn về hàng hóa giống hệt/tương tự;
- Lô hàng giống hệt/tương tự phải được xác định trị giá Hải quan theophương pháp trị giá giao dịch;
- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa giống hệt/tương tự với lôhàng đang được xác định trị giá
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, áp dụng 2 phương pháp này thìngười khai hải quan phải tự tìm kiếm tài liệu, chứng từ của lô hàng giốnghệt/tương tự để xuất trình cho cơ quan Hải quan Khi kiểm tra sau thông quanđối với lô hàng được áp dụng theo phương pháp 2, 3 thì cơ quan kiểm tra sauthông quan sẽ kiểm tra bộ hồ sơ hải quan bao gồm:
- Bản sao tờ khai hàng hóa nhập khẩu và tờ khai trị giá của hàng hóanhập khẩu giống hệt/tương tự;
- Bản sao hợp đồng vận tải hoặc vận tải đơn của hàng hóa nhập khẩugiống hệt/tương tự (nếu có sự điều chỉnh của chi phí này);
Trang 22- Bản sao hợp đồng bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm của hàng hóa nhậpkhẩu giống hệt/tương tự (nếu có sự điều chỉnh chi phí này);
- Bản sao hợp đồng thương mại, hóa đơn thương mại của hàng hóanhập khẩu giống hệt/tương tự, các bảng giá bán hàng xuất khẩu củanhà sản xuất hoặc người bán hàng ở nước ngoài (nếu có sự điều chỉnh
về số lượng và cấp độ thương mại);
- Các hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ khác cần thiết và liên quan đếnviệc xác định trị giá tính thuế
Lô hàng giống hệt/tương tự được sử dụng trong phương pháp 2 và 3 nàychỉ được cơ quan Kiểm tra sau thông quan chấp nhận khi thỏa mãn nhữngđiều kiện sau:
- Được làm từ các nguyên liệu, vật liệu giống nhau, có cùng phươngpháp chế tạo;
- Có cùng chức năng và mục đích sử dụng;
- Chất lượng sản phẩm tương đương nhau;
- Được sản xuất ở cùng một nước, bởi cùng một nhà sản xuất hoặcđược nhà sản xuất khác được ủy quyền;
- Có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại;
- Được nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với hàng hóa đangđược xác định trị giá Theo quy định tại Nghị định 40/2007/NĐ-CPthì lô hàng nhập khẩu giống hệt/tương tự được xuất khẩu đến ViệtNam vào cùng ngày hoặc trong vòng 60 ngày trước hoặc sau ngàyxuất khẩu của lô hàng đang được xác định trị giá
- Cùng điều kiện về cấp độ thương mại và số lượng
c) Phương pháp 4: Xác định trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ Trong trường hợp ô tô nhập khẩu vào Việt Nam không xác định trị
giá tính thuế theo phương pháp 1, 2 và 3 thì trị giá tính thuế là trị giá khấu trừ.Trị giá khấu trừ được xác định căn cứ vào giá bán của hàng hóa nhập khẩu,
Trang 23hàng hóa nhập khẩu giống hệt, hàng hóa nhập khẩu tương tự trên thị trườngViệt Nam (-) đi các chi phí hợp lý phát sinh sau khi nhập khẩu.
Giá bán hàng hóa nhập khẩu trên thị trường Việt Nam được xác địnhdựa trên các nguyên tắc sau:
- Giá bán hàng ô tô nhập khẩu là giá bán thực tế, nếu không có giá bánthực tế của hàng hóa đó cần xác định trị giá tính thuế thì lấy giá bánthực tế của hàng ô tô nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự còn nguyêntrạng như khi nhập khẩu được bán trên thị trường trong nước để xácđịnh giá bán thực tế
- Người nhập khẩu và người mua hàng trong nước không có mối quan
Các chi phí hợp lý phát sinh sau khi nhập khẩu hàng hóa bao gồm:
- Các chi phí về vận tải và chi phí mua bảo hiểm cho hàng hóa khi tiêuthụ trên thị trường nội địa
- Các khoản thuế, phí và lệ phí phải nộp ngân sách nhà nước khi nhậpkhẩu và bán hàng nhập khẩu mà theo quy định của pháp luật hiệnhành được hạch toán vào doanh thu bán hàng, giá vốn và chi phí bánhàng nhập khẩu
- Chi phí quản lý chung liên quan đến việc bán hàng nhập khẩu
- Lợi nhuận sau khi bán hàng nhập khẩu
Các chứng từ mà cơ quan kiểm tra sau thông quan sẽ kiểm tra khi tiếnhành KTSTQ về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu là:
+ Hóa đơn bán hàng do Bộ Tài Chính phát hành hay cho phép sử dụng;
Trang 24+ Hợp đồng đại lý bán hàng nếu người nhập khẩu là đại lý bán hàng củanhà xuất khẩu;
+ Các chứng từ, số liệu kế toán hợp pháp, hợp lệ về chi phí quản lýchung, các chi phí khác và lợi nhuận bán hàng;
+ Biên lai thuế hoặc các thông báo thuế về các khoản thuế đã nộp hoặc sẽnộp, bảng kê các loại phí, lệ phí đã nộp hoặc sẽ phải nộp;
+ Tờ khai hàng hóa nhập khẩu của lô hàng được lựa chọn để khấu trừ; + Các tài liệu cần thiết khác có liên quan đến việc xác định trị giá tínhthuế;
Phương pháp 5: Xác định trị giá tính thuế theo trị giá tính toán
Trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam không thuế xácđịnh trị giá tính thuế theo phương pháp 1, 2, 3 và 4 thì trị giá tính thuế là trịgiá tính toán Trị giá tính toán được xác định bao gồm các khoản sau:
- Giá thành hoặc trị giá của nguyên vật liệu, chi phí của quá trình sảnxuất hoặc quá trình gia công khác của việc sản xuất hàng hóa nhậpkhẩu
- Lợi nhuận và chi phí chung: Lợi nhuận là số lợi nhuận mà người sảnxuất thu được sau khi bán hàng hóa cho người nhập khẩu Chi phíchung là những chi phí mà người sản xuất trực tiếp hoặc gián tiếpphải ghánh chịu khi thực hiện việc bán và xuất khẩu hàng hóa
- Các chi phí vận chuyển, bảo hiểm và các chi phí liên quan đến việcvận chuyển hàng hóa
Khi tiến hành KTSTQ về trị giá mặt hàng ô tô nhập khẩu được xácđịnh theo phương pháp trị giá tính toán thì công chức hải quan sẽ tập trungvào kiểm tra các chứng từ sau:
+ Bảng kê chi phí sản xuất, các khoản chi phí chung và lợi nhuận choviệc sản xuất và bán hàng xuất khẩu có xác nhận của nhà sản xuất
Trang 25+ Các chứng từ, tài liệu khác có liên quan đến việc xác định trị giá:chứng từ bảo hiểm, chứng từ vận chuyển…
Phương pháp 6: Phương pháp suy luận
Trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam không thuế xác địnhtrị giá tính thuế theo phương pháp 1, 2, 3, 4 và 5 thì trị giá tính thuế được xácđịnh bằng phương pháp suy luận
Phương pháp suy luận là áp dụng tuần tự, linh hoạt các phương pháp xácđịnh trị giá tính thuế từ phương pháp 1 đến phương pháp 5 và dừng ngay tạiphương pháp xác định được trị giá tính thuế, với điều kiện việc áp dụng đóphải: Không được sử dụng các phương pháp bị cấm như: giá tính thuế tốithiểu, trị giá áp đặt hay hư cấu, giá bán trên thị trường nội địa nước xuất khẩu,giá bán trên thị trường nội địa của mặt hàng cùng loại được sản xuất tại ViệtNam… và phải dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập được từ nước nhập khẩu
Theo sự đánh giá của nhiều nước, cũng như sự đánh giá của Tổ chức Hảiquan Thế giới (WCO) thì có tới hơn 90% tổng lượng tờ khai hàng hóa nhậpkhẩu các nước áp dụng hiệp định trị giá GATT được xác định trị giá tính thuếtheo phương pháp trị giá giao dịch Và đối với mặt hàng ô tô cũng vậy, trị giátính thuế của hàng này thường được xác định theo phương pháp trị giá giaodịch Như vậy cơ sở kiểm tra sau thông quan về trị giá tính thuế đối với mặthàng này dựa trên 6 phương pháp xác định trị giá như đã trình bày ở trênnhưng tập trung chủ yếu vào phương pháp trị giá giao dịch
1.2.6 Quy trình kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu
Quy trình KTSTQ về trị giá đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu cũng giốngnhư quy trình KTSTQ đối với các loại hàng hóa nhập khẩu khác và tuân thủ theocác bước sau đây:
Quy trình 1: Thu thập, xử lý thông tin
Thứ nhất, thu thập, xử lý thông tin đối với loại đã có dấu hiệu vi phạm.
Trang 26Dấu hiệu vi phạm ở đây được hiểu là dấu hiệu gây thất thu thuế hoặckhai sai trị giá tính thuế, khai thiếu các khoản phải cộng vào trị giá tính củamặt hàng ô tô nhập khẩu Dấu hiệu bao gồm dấu hiệu cụ thể của một đốitượng cụ thể, dấu hiệu cụ thể của nhóm đối tượng nhưng chưa xác định đượctên đối tượng cụ thể, hoặc dấu hiệu mới chỉ là vấn đề đang nổi cộm, chưa rõnhững DN nào có dấu hiệu này.
Quy trình thu thập, xử lý thông tin bao gồm các bước thực hiện nhưsau:
Bước 1: Tiếp nhận thông tin về dấu hiệu vi phạm Dấu hiệu có thể được
chuyển đến từ khâu thông quan, do KTSTQ tự phát hiện, do hoạt động phốihợp giữa lực lượng KTSTQ với các đơn vị khác trong và ngoài Ngành, dolãnh đạo cấp trên chuyển đến
Bước 2: Nhận dạng dấu hiệu Cần nhận dạng tương đối chính xác về
dấu hiệu làm cơ sở cho việc xác định quy mô của dấu hiệu Sau khi nhận rõdấu hiệu, nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm có thể gây thất thu đáng
kể, hoặc vi phạm lớn chính sách quản lý XNK, hoặc đây là thủ đoạn mới, nếukhông ngăn chặn thì sẽ lan rộng, hoặc theo quy định của pháp luật sắp hếtthời hạn KTSTQ thì tiến hành các bước tiếp theo; Nếu đó là dấu hiệu củamột hành vi vi phạm, nhưng hậu quả có thể nhỏ, trong khi tại thời điểm hiệntại đơn vị có những nhiệm vụ khác cần ưu tiên nguồn lực hơn, thì đề nghị tạmdừng, đưa vào diện theo dõi tiếp
Bước 3: Xác định quy mô của dấu hiệu vi phạm được phản ánh tại cơ
sở dữ liệu Nếu đã xác định được tên DN cụ thể thì tiến hành tra cứu tìm DN
đó từ cơ sở dữ liệu, trích xuất dữ liệu về tình hình NK mặt hàng ô tô liên quanđến dấu hiệu vi phạm của DN đó từ cơ sở dữ liệu của Ngành và tổng hợp sốliệu đã trích xuất được để bước đầu xác định quy mô của dấu hiệu vi phạm,quy mô của hậu quả rủi ro; Nếu những dấu hiệu này chưa xác định được DN
Trang 27cụ thể thì tiến hành tra cứu tìm tất cả các DN có hoạt động NK mặt hàng nàyliên quan đến dấu hiệu vi phạm hoặc có hiện tượng nổi cộm đó và trích xuất
dữ liệu về tình hình NK của mặt hàng hoặc hiện tượng nổi cộm đó của từng
DN từ cơ sở dữ liệu của Ngành Sau đó tổng hợp số liệu đã trích xuất đượcđối với từng DN để bước đầu xác định quy mô vi phạm của từng DN Cuốicùng, sắp xếp quy mô vi phạm của các DN theo thứ tự từ lớn đến nhỏ để thựchiện bước tiếp theo
Bước 4: Thu thập thêm thông tin từ các nguồn khác Quá trình thu thập
thông tin cho thấy dấu hiệu vi phạm, quy mô vi phạm còn được thể hiện ở cácnguồn thông tin khác thì tiến hành thu thập thêm thông tin từ các nguồn đó
Bước 5: Phân tích, xử lý thông tin Hệ thống, tổng hợp lại tất cả các
thông tin đã thu thập được, tiến hành phân tích, xử lý thông tin
Bước 6: Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin Kết thúc giai đoạn
thu thập, xử lý thông tin đối với trường hợp đã có dấu hiệu vi phạm là việcxác định được DN phải được tiến hành KTSTQ
Trường hợp đã xác định được tên DN cụ thể, nếu dấu hiệu đã rõ, quy
mô dấu hiệu lớn đến mức phải ưu tiên kiểm tra thì đề nghị đưa vào danh sáchcác DN phải KTSTQ; Nếu dấu hiệu chưa thật rõ, hoặc dấu hiệu rõ nhưng quy
mô nhỏ thì đề nghị đưa vào diện theo dõi tiếp, khi đơn vị bố trí được nguồnlực thì thực hiện kiểm tra
Trường hợp dấu hiệu liên quan đến một nhóm DN thì tùy theo nguồnlực mà quyết định số lượng DN sẽ được kiểm tra và thứ tự ưu tiên kiểm tratrước Nếu nguồn lực hạn chế thì chọn DN có mức độ rủi ro cao hơn so vớicác DN khác (dấu hiệu vi phạm rõ hơn, quy mô vi phạm lớn, kim ngạch lớn,
đã từng vi phạm ) tiến hành kiểm tra trước
Sau khi kết thúc bước 6 thì thực hiện tiếp các bước của Quy trìnhKTSTQ, kiểm tra thuế
Trang 28Thứ hai, thu thập, xử lý thông tin đối với loại chưa có dấu hiệu vi phạm.
Giai đoạn thu thập, xử lý thông tin được thực hiện theo các bước nhưsau:
Bước 1: Xác định đối tượng thu thập thông tin Căn cứ xác định đối
tượng thu thập thông tin là kế hoạch kiểm tra đã được xác định, chỉ đạo củalãnh đạo các cấp và nguồn lực hiện tại Đối tượng ở đây gồm các DN có hoạtđộng nhập khẩu ô tô và lĩnh vực cần thu thập thông tin là lĩnh vực trị giá tínhthuế
Bước 2: Xác định phạm vi thu thập thông tin về đối tượng Việc thu
thập thông tin phải được tập trung vào những vấn đề nhất định Phạm vi đó làmặt hàng ô tô nhập khẩu và cũng có thể là một DN
Bước 3: Thu thập thông tin trong phạm vi đã xác định Thông tin được
thu thập từ các cơ sở dữ liệu của Ngành, nếu cần thiết thì thu thập thông tin từcác nguồn khác
Bước 4: Phân tích, xử lý thông tin, kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin Hệ thống, tổng hợp lại tất cả các thông tin đã thu thập được, tiến
hành phân tích, xử lý thông tin
Bước 5: Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin Căn cứ kết quả
phân tích, xử lý thông tin, nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm thì thực hiện tiếpgiống như các bước từ 1 đến 6 đối với trường hợp đã có dấu hiệu vi phạm (đãđược trình bày ở trên); Nếu không phát hiện vi phạm, sai sót thì kết luận, kếtthúc việc thu thập thông tin đối với DN, đề nghị đưa vào diện theo dõi chung
Quy trình 2: Kiểm tra sau thông quan, kiểm tra thuế.
Bước 1: Xác định đối tượng chịu kiểm tra, đối tượng kiểm tra, phạm vi kiểm tra Việc xác định đối tượng chịu kiểm tra, đối tượng kiểm tra, phạm vi
Trang 29kiểm tra được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro, căn cứ vào kết quả thuthập, xử lý thông tin, kế hoạch đã được xác định, dấu hiệu vi phạm mới pháthiện, tình hình nổi cộm từng thời gian hoặc chỉ đạo của cấp trên.
Bước 2: Thu thập, phân tích thông tin về đối tượng kiểm tra Việc thu
thập, phân tích thông tin về đối tượng kiểm tra được thực hiện thông qua: Ràsoát, củng cố lại thông tin đã có bằng việc đối chiếu các thông tin đó với các
cơ sở dữ liệu của ngành; Đối chiếu các thông tin đã được củng cố trên với hồ
sơ Hải quan lưu tại đơn vị Hải quan làm thủ tục thông quan cho các lô hàngliên quan; Đề nghị các đơn vị Hải quan làm thủ tục thông quan cung cấp bổsung tài liệu, thông tin, giải thích, làm rõ những vấn đề chưa rõ trên hồ sơ Hảiquan; Yêu cầu DN cung cấp các tài liệu, chứng từ liên quan; Xác minh cácvấn đề chưa rõ ở các tổ chức, cá nhân liên quan hoặc có khả năng biết đượcvấn đề đó; Giám định các chứng từ nghi vấn, giám định hàng hóa nếu cầnthiết và còn điều kiện; Tổng hợp, hệ thống lại các thông tin trên, để làm rõ vềđối tượng kiểm tra
Sau khi tiến hành thu thập, phân tích thông tin về đối tượng kiểm tra,phải báo cáo kết quả thu thập, phân tích thông tin, đề xuất Trường hợp cácthông tin về hoạt động XNK của DN là đầy đủ, minh bạch, DN không nộpthiếu thuế, không vi phạm pháp luật thì đề nghị kết thúc kiểm tra, lập “Bảnkết luận KTSTQ, kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan Hải quan”, đưa DN vào diệnchấp hành tốt pháp luật, tổ chức lưu trữ hồ sơ vụ việc theo quy định; Trườnghợp phát hiện DN có dấu hiệu nộp thiếu thuế, hoặc có hành vi vi phạm phápluật, thì thực hiện tiếp bước 3; Trường hợp có cơ sở nghi ngờ, nhưng chưa đủcăn cứ để kết luận DN có nộp thiếu thuế không, có vi phạm pháp luật khôngthì đề nghị thực hiện tiếp bước 3; Trường hợp phát hiện DN nộp thừa thuế thì
đề nghị lãnh đạo giao đơn vị làm thủ tục Hải quan kiểm tra lại, nếu đúng nhưphát hiện thì xử lý số tiền thuế nộp thừa theo đúng quy định
Trang 30Bước 3: Yêu cầu DN giải trình Trong bước này, phải thông báo cho
DN về việc nộp thiếu thuế, vi phạm pháp luật hoặc những vấn đề chưa rõ, đềnghị DN, nếu có ý kiến khác, thì phải giải trình và cung cấp chứng từ, tài liệuchứng minh cho bản giải trình
Trường hợp DN giải trình được rõ ràng các vấn đề nêu ra thì báo cáo đềxuất kết thúc kiểm tra, lập “Bản kết luận kiểm tra sau thông quan, kiểm trathuế tại trụ sở cơ quan Hải quan”, đưa DN vào diện chấp hành tốt pháp luật,
tổ chức lưu trữ hồ sơ vụ việc theo quy định
Trường hợp có nghi vấn về giải trình của DN liên quan đến các tổ chức,
cá nhân khác thì tiến hành xác minh làm rõ
Trường hợp DN không giải trình hoặc không giải trình được, nếu đã có
đủ căn cứ để ấn định thuế, căn cứ để xử lý vi phạm hành chính thì lập “Bảnkết luận KTSTQ, kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan Hải quan” và thực hiện tiếpbước 6 Nếu chưa đủ căn cứ để ấn định thuế thì đề nghị lãnh đạo quyết địnhthực hiện bước 4
Bước 4: Kiểm tra tại DN Khi kiểm tra tại DN, cơ quan KTSTQ thành
lập đoàn kiểm tra tại DN, xác định phạm vi kiểm tra và lập kế hoạch kiểm tra.Sau đó đoàn sẽ kiểm tra rà soát, củng cố lại các thông tin thuộc phạm vi kiểmtra đã được xác định và ban hành quyết định KTSTQ tại trụ sở DN Quyếtđịnh này sẽ được gửi tới DN được kiểm tra Khi đoàn kiểm tra đến DN kiểmtra, phải công bố quyết định kiểm tra và thực hiện kiểm tra tại DN Nếu đượcngười có thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra ủy quyền thì Trưởng đoànkiểm tra được quyền ký, đóng dấu của đơn vị ban hành quyết định kiểm tracác văn bản liên quan
Bước 5: Kết luận KTSTQ, kiểm tra thuế tại trụ sở DN Kết luận
KTSTQ tại trụ sở DN phải được gửi cho DN bản dự thảo kết luận kiểm tra
Trang 31Sau khi đã ban hành bản kết luận KTSTQ tại trụ sở DN, phải gửi một bản cho
DN
Bước 6: Báo cáo kết quả kiểm tra, đề xuất xử lý Ngay sau khi kết thúc
việc kiểm tra hoặc trong trường hợp có tình huống phức tạp, vượt thẩmquyền, vượt khả năng giải quyết, Trưởng đoàn KTSTQ tại trụ sở DN, côngchức hoặc trưởng nhóm KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan báo cáo ngườiquyết định việc kiểm tra toàn bộ diễn biến, kết quả kiểm tra, những vấn đề đãthống nhất, những vấn đề còn ý kiến khác nhau, những sai sót của phía cơquan quản lý nhà nước, những bất cập của chính sách, pháp luật, biện phápquản lý và đề xuất giải quyết
Bước 7: Quyết định ấn định thuế (nếu có.)
Bước 8: Lập biên bản vi phạm hành chính (nếu có).
Quy trình 3: Lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính.
Hồ sơ ở quy trình này là các hồ sơ được lập từ thời điểm xác định đượcđối tượng chịu KTSTQ, tại trụ sở cơ quan Hải quan cho đến khi vụ việc đượcgiải quyết xong Tùy tình hình cụ thể của từng vụ việc mà lập, ban hành tất cảhoặc chỉ một số các loại biên bản, bản kết luận, quyết định hành chính Baogồm các giai đoạn: Lập hồ sơ trong quá trình KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hảiquan; Lập hồ sơ trong quá trình KTSTQ tại trụ sở DN; Giai đoạn ban hànhquyết định hành chính; Giai đoạn giải quyết khiếu nại (nếu có); Giai đoạntham gia tố tụng tại tòa án (nếu có); Lưu trữ hồ sơ
1.2.7 Các hình thức gian lận qua trị giá chủ yếu đối với mặt hàng ô tô
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang rất phát triển như hiện nay,hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ, thuế đánh vàohàng hoá xuất nhập khẩu đang chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong Ngânsách Nhà nước, số thuế mà doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hoá phải nộp
Trang 32vào Ngân sách là khá lớn Điều đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp tìm cáchgian lận thương mại để trốn thuế để giảm chi phí, tăng lợi nhuận của doanhnghiệp.
Có rất nhiều hình thức gian lận thương mại như: gian lận thương mạiqua xuất xứ, gian lận qua xác định mã số, gian lận thương mại qua giá, gianlận thương mại qua số lượng, buôn lậu…Trong số các hình thức gian lậnthương mại, gian lận thương mại qua giá được đánh giá là một điểm yếu của
hệ thống quản lý Hải quan ở các nước đang phát triển nói chung và ở ViệtNam nói riêng Hiện nay, hiện tượng gian lận này đang được rất chú trọngtrongcôngtácKTSTQ
Gian lận thương mại qua giá là việc doanh nghiệp khai báo không chính xác trị giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán của hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để được hưởng những lợi ích không chính đáng.
Gian lận thương mại qua giá có 2 loại:
- Trị giá Hải quan thấp hơn trị giá thực của hàng hoá để trốn thuế đánhvào hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Trị giá Hải quan cao hơn trị giá thực của hàng hoá (thường là hàng hoánhập) để làm tăng vốn đầu tư, từ đó chuyển lậu lợi nhuận đầu tư ra nước ngoài
Hình thức gian lận qua giá vẫn được nhắc đến trong giới ô tô đó là hiệntượng các doanh nghiệp nhập khẩu khai trị giá hải quan thấp hơn so với trị giáthực tế của ô tô để trốn thuế. Theo khảo sát của VAMA thực hiện hồi tháng6/2009 cho thấy, các loại xe “hot” trên thị trường như Santa Fe, KiaMorning đều có mức giá khai báo ở cảng Việt Nam chỉ bằng một nửa so vớigiá thị trường ở quốc gia sản xuất hoặc xuất khẩu Chẳng hạn, một chiếcMatiz 0,8 lít AT mới 100% sản xuất năm 2009 có giá tại Hàn Quốc là 6.065 -7.027 USD/chiếc, nhưng mức khai báo ở cảng Việt Nam là 2.700 - 3.000USD/chiếc Tương tự, các mẫu xe mới 100%, sản xuất năm 2009 nhãn hiệuKia Moring 1.0 có giá tại thị trường Hàn Quốc là 5.883 - 7.374 USD/chiếc,
Trang 33nhưng khai báo ở Việt Nam là 3.000 USD; Santa Fe 2.2 máy dầu số tự độnggiá 20.434 - 26.238 USD, nhưng khai báo ở Việt Nam chỉ 11.954 USD.
Khi số lượng ô tô nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng tăng về số lượngthì tình hình gian lận qua giá đối với mặt hàng này càng trở nên nghiêm trọnghơn với những thủ đoạn hết sức tinh vi, được diễn ra với “muôn hình, vạntrạng” Một số thủ đoạn gian lận qua giá phổ biến đối với mặt hàng này là:
- Ngụy tạo chứng từ liên quan đến trị giá:
Đó là việc doanh nghiệp nhập khẩu làm hồ sơ khai báo hải quan giả,
chứng từ giả hoặc cố ý khai sai trị giá tính thuế để trốn thuế hay khai thiếu,sai lệch một số yếu tố có liên quan đến việc xác định trị giá như: các khoảnphải cộng vào trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu: phí THC, phí vận chuyển,phí bảo hiểm… nhằm hạ thấp trị giá của hàng nhập khẩu Trường hợp nàythường xảy ra khi bên xuất khẩu và bên nhập khẩu có sự móc ngoặc với nhau,
có mối quan hệ đăc biệt Tức là mua sẽ yêu cầu bên bán ghi trên giá hóa đơnthấp hơn giá thực tế phải thanh toán Và khi thanh toán thì số tiền ghi trên hóađơn sẽ được thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng, còn số tiền “down giá”
sẽ được thanh toán bằng cách khác như: chuyển chui thông qua các tổ chứcchuyển tiền bất hợp pháp…
- Hợp thức hóa hồ sơ trên cơ sở khai báo các khoản chiết khấu, giảm giá
để được khấu trừ ra khỏi trị giá tính thuế.
Đối với mặt hàng ô tô thì yếu tố chiết khấu giảm giá thường về sốlượng Trường hợp này thường xảy ra khi doanh nghiệp nhập khẩu nhậpnhiều lần cho một hợp đồng Các khoản chiết khấu thường được quy địnhtrong hợp đồng và được thể hiện trong tờ khai hải quan và tờ khai trị giá,doanh nghiệp nhập khẩu nhiều lần và giá trên hóa đơn thường thể hiện giá đãđược chiết khấu nhưng sẽ không nhập đủ số lượng như đã thỏa thuận tronghợp đồng và hai bên bán và mua sẽ ký kết phụ lục hợp đồng thay thế điềukhoản về số lượng hàng hóa thực tế đã giao và bên bán vẫn chấp nhận chiếtkhấu giảm giá cho bên mua
Trang 34- Một số thủ đoạn gian lận qua giá khác: Lợi dụng sự thông thoáng và sự
thay đổi chính sách để khai báo trị giá thấp cùng loại, cùng chủng loạinhưng doanh nghiệp khai báo không đồng nhất; Sử dụng các chứng từ
“dành riêng cho Hải quan”…
Như vậy, gian lận thương mại qua giá có xu hướng gia tăng dưới nhiềuhình thức và mức độ thì ngày càng tinh vi, phức tạp Và để thu hút và tạo điềukiện cho hoạt động xuất nhập khẩu nhưng vẫn đảm bảo đúng các quy địnhcủa Pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng gian lận thương mại quagiá, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong cộng đồng doanh nghiệp thìcông chức Hải quan nói chung và công chức Hải quan kiểm tra sau thôngquan về trị giá Hải quan nói riêng ngày càng phải cố gắng học hỏi, nỗ lực hếtmình cho công việc đảm bảo đem lại kết quả tốt nhất cho nền kinh tế nóichung và cho ngành hàng ô tô nói riêng
1.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VỀ TRỊ GIÁ
ĐỐI VỚI MẶT HÀNG Ô TÔ NHẬP KHẨU
Việc thực hiện kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với hàng hóa nhậpkhẩu nói chung và đối với hàng ô tô nhập khẩu nói riêng được dựa trên những
cơ sở pháp lý nhất định Cơ sở pháp lý đó gồm cơ sở pháp lý quốc gia và cơ
sở pháp lý quốc tế
Cơ sở pháp lý quốc gia hay còn gọi là luật pháp quốc gia là những văn bảnquy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nhà nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành theo trình tự thủ tục do luật định
Cơ sở pháp lý quốc gia gồm các văn bản pháp luật về hải quan và các vănbản pháp luật có liên quan đến hải quan
Các văn bản pháp luật về hải quan bao gồm:
- Luật Hải quan ngày 29/6/2001 và luật hải quan sửa đổi ngày 14/6/2005
- Nghị định số 154/2005/NĐ- CP ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một
số điều luật hải quan về thủ tục hải quan và kiểm tra giám sát hải quan
Trang 35- Thông tư số 79/TT-BTC ngày 20/4/2009 hướng dẫn về thủ tục hải quan;kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lýthuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
- Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 03 năm 2007 quy định việcxác định trị giá hải quan đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu
- Thông tư số 205/2010/TT-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2010 hướng dẫnviệc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Quy trình 1383/ QĐ- TCHQ ngày 14 tháng 7 năm 2009 về việc banhành quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, kiểm tra thuế đối vớihàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật khác liên quan đến lĩnh vực hảiquan như: Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006; Nghị định số85/2007/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành Luật quản lý thuế; Nghị định số87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; Danh mục quản lý rủi ro về giá đối với hàngnhập khẩu…
Cơ sở pháp lý quốc tế là các văn bản do các quốc gia thỏa thuận xây dựng
và thường được gọi là các điều ước quốc tế
Các điều ước quốc tế về hải quan mà Việt Nam đã tham gia: Công ướcKyoto sửa đổi năm 1999 về đơn giản hóa, hài hòa hóa thủ tục hải quan; Hiệpđịnh thực hiện điều VII Hiệp định ưu đãi thuế quan và thương mại (Hiệp địnhtrị giá GATT)
Tóm lại, xuất phát từ những nhận thức cơ bản về lĩnh vực trị giá hải
quan và ngành hàng ô tô nhập khẩu đến những hiểu biết các khía cạnh pháp lý
về nội dung, cở sở kiểm tra cũng như quy trình KTSTQ về trị giá đối với mặthàng này, chúng ta phần nào hình dung được sự khó khăn, phức tạp trongcông tác kiểm tra trị giá hải quan đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu mà các cán
bộ KTSTQ phải thực hiện Từ những lý luận trên đây, chúng ta sẽ xem xétthực trạng và kết quả mà Chi cục KTSTQ – Cục Hải quan Hà Nội đã đạt đượckhi áp dụng những lý luận đó trong thực tiễn ở chương 2
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KTSTQ VỀ TRỊ GIÁ ĐỐI VỚI
MẶT HÀNG Ô TÔ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC KTSTQ – CỤC HẢI QUAN TP HÀ NỘI
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CHI CỤC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN – CỤCHẢI QUAN HÀ NỘI
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi cục KTSTQ- Cục Hải quan
Hà Nội
Ngày 01/01/2002 Luật hải quan chính thức bắt đầu có hiệu lực thi hành.Ngày 17/03/2003 Bộ trưởng Bộ tài chính đã ký quyết định 37/2003/QĐ –BTC quyết định thành lập Phòng kiểm tra sau thông quan thuộc Cục hải quanđịa phương, liên tỉnh, thành phố trực thuộc Tổng cục hải quan Phòng KTSTQ– Cục hải quan được thành lập từ đó
Qua một thời gian hoạt động, cùng với những thay đổi về quy trìnhnghiệp vụ, Luật hải quan sửa đổi bổ sung và những bước tiến bộ về cải tiếncông tác nghiệp vụ dựa trên công nghệ tin học theo yêu cầu hiện đại hóa củaNghành hải quan Bên cạnh đó, tình hình hoạt động xuất nhập khẩu tại cáccửa khẩu ngày càng trở lên sôi động và phức tạp; để đáp ứng tình hình nhiệm
vụ, ngày 06/06/2006 Bộ trưởng Bộ Tài Chính đã ký quyết định số 34/2006/QĐ-BTC thành lập Chi cục kiểm tra sau thông quan trực thuộc Hải quan tỉnh,liên tỉnh, thành phố Lúc này thì phòng kiểm tra sau thông quan- Cục hải quan
Hà Nội chính thức được tách ra hoạt động dưới mô hình Chi cục kiểm tra sauthông quan
Chi cục kiểm tra sau thông quan- Cục Hải quan TP Hà Nội được hìnhthành và ngày càng phát triển cả về cơ cấu tổ chức cũng như nhiệm vụ, quyềnhạn
Trang 37Về mặt cơ cấu tổ chức: Phòng kiểm tra sau thông quan – Cục Hải quan
TP Hà Nội khi mới đi vào hoạt động chỉ bao gồm 9 cán bộ, công chức (03lãnh đạo phòng và 06 nhân viên) thì đến khi hoạt động dưới mô hình Chi cụckiểm tra sau thông quan – Cục Hải quan TP Hà Nội, năm 2006, bộ máy củaChi cục Kiểm tra sau thông quan gồm 20 cán bộ, công chức Đến năm 2007,
bộ máy của Chi cục được kiện toàn với biên chế 22 cán bộ, công chức và ổnđịnh về mặt tổ chức cho đến nay
Về nhiệm vụ, quyền hạn: Bên cạnh chức năng tham mưu khi mới thànhlập đã được bổ sung thêm chức năng trực tiếp tác chiến, kiểm tra đối với hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu Đến nay khi Luật quản lý thuế bắt đầu có hiệu lực
từ ngày 1/7/2007 thì Chi cục kiểm tra sau thông quan–Cục Hải quan Hà Nộicòn có thêm nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra thuế
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi cục Kiểm tra sau thông quan – Cục Hải quan Hà Nội
Theo Quyết định số 1092/QĐ-TCHQ ngày 26/06/2006 của Tổng cục
Hả i quan thì cơ cấu tổ chức bên trong của chi cục KTSTQ có các đội côngtác để tổ chức thực hiện chức năng tham mưu và tác nghiệp trong lĩnh vựcKTSTQ của Cục Hải quan địa phương
Hiện nay Chi cục KTSTQ - Cục Hải quan TP Hà Nội có 22 cán bộ côngchức chiếm 3% biên chế của Cục Hải quan TP Hà Nội, gồm có 1 Chi cụctrưởng, 4 phó chi cục trưởng và 17 cán bộ công chức Nhà nước Theo Quyếtđịnh số 1092/QĐ-TCHQ thì Chi cục KTSTQ – Cục Hải quan TP Hà Nội gồm
5 đội, phân công theo lĩnh vực chuyên sâu, quản lý địa bàn, quản lý doanhnghiệp và thực hiện công tác bổ nhiệm, quy hoạch chức năng lãnh đạo
- Đội 1: Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan gồm có 1 đội trưởng, 1phó đội trưởng, 2 cán bộ công chức và 1 lãnh đạo phó chi cục phụ trách Đội
1 có nhiệm vụ kiểm tra trị giá thực tế của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu saukhi thông quan tại Chi cục Hải quan Bắc Hà Nội, Chi cục Hải quan ga đường
Trang 38sắt quốc tế Yên Viên, Chi cục Hải quan Bắc Ninh và tham mưu công tácKTSTQ về trị giá cho lãnh đạo.
- Đội 2: Kiểm tra sau thông quan về mã số và thuế suất gồm có 4 cán bộ côngchức và 1 lãnh đạo phó chi cục phụ trách Công việc được giao cho đội 2 làkiểm tra mã số và thuế suất của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sau khi thôngquan và tham mưu cho lãnh đạo về công tác KTSTQ về mã số và thuế suất.Địa bàn mà đội 2 phụ trách bao gồm: Chi cục Hải quan Gia Thụy, chi cục Hảiquan Vĩnh Phúc, chi cục Hải quan Gia Lâm
- Đội 3: Kiểm tra sau thông quan về loại hình gia công, sản xuất xuất khẩugồm có 4 cán bộ công chức và 1 lãnh đạo phó chi cục phụ trách Đội 3 đượcgiao nhiệm vụ kiểm tra hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu sau khi đã thông quantại Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư gia công, Chi cục Hải Quan Hà Tây,Chi cục Hải quan Phú Thọ và tham mưu cho lãnh đạo trong việc kiểm tra sauthông quan đối với mặt hàng trên
- Đội 4: Kiểm tra sau thông quan về chính sách thương mại gồm có 3 cán bộcông chức và 1 lãnh đạo phó Chi cục phụ trách Đội 4 được giao nhiệm vụkiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo các loại hìnhkhác và tham mưu cho lãnh đạo trong công tác KTSTQ đối với mặt hàng đó.Địa bàn mà đội 4 phụ trách: Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế NộiBài, Chi cục Hải quan khu công nghiệp Bắc Thăng Long
- Đội 5: Đội tham mưu tổng hợp gồm có 2 cán bộ công chức Nhiệm vụ đượcgiao cho đội 5 là tiến hành tổng hợp, phân tích, sàng lọc hồ sơ từ nguồn hồ sơlưu, thông tin và tham mưu cho lãnh đạo
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục kiểm tra sau thông quan – Cục Hải quan Hà Nội
Theo quyết định số 1092/QĐ-TCHQ ngày 26/06/2006 của Tổng cụctrưởng Tổng cục Hải quan thì Chi cục KTSTQ có chức năng, nhiệm vụ vàquyền hạn như sau:
Trang 39Chi cục KTSTQ – Cục Hải quan TP Hà Nội là đơn vị trực thuộc Cục Hảiquan TP Hà Nội, có chức năng giúp Cục trưởng Cục Hải quan TP Hà Nộitrong việc quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện KTSTQ vàphúc tập hồ sơ Hải quan; trực tiếp thực hiện kiểm tra sau thông quan theo quyđịnh của pháp luật Cụ thể:
- Giúp Cục trưởng trong việc xây dựng, tổ chức, thực hiện chươngtrình, kế hoạch về Kiểm tra sau thông quan
- Quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra thực hiện nhiệm vụ phúc tập hồ
sơ Hải quan và Kiểm tra sau thông quan trong phạm vi quản lý của CụcHải quan TP Hà Nội
- Thu thập, tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin trong và ngoài nghành
để phục vụ công tác Kiểm tra sau thông quan
- Trực tiếp thực hiện Kiểm tra sau thông quan theo quy định của phápluật; thực hiện việc truy thu, truy hoàn tiền thuế và các khoản thu kháctheo kết luận Kiểm tra sau thông quan; xử lý vi phạm hành chính và giảiquyết khiếu nại về quyết định xử phạt vi phạm hành chính phát sinhtrong quá trình kiểm tra sau thông quan
- Trực tiếp giao dịch với các tổ chức, cá nhân; tiến hành các biện phápnghiệp vụ để xác minh, nắm tình hình, thu thập thông tin, tiếp nhận tinbáo, tố giác phục vụ cho hoạt động kiểm tra sau thông quan
- Sơ kết, tổng kết, thống kê, báo cáo, đánh giá tình hình và kết quả thựchiện công tác phúc tập hồ sơ Hải quan, công tác KTSTQ của Cục.Thông qua đó phát hiện, kiến nghị sửa đổi, bổ sung những thiếu sót, bấtcập trong quy định và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, quy trình,quy định nghiệp vụ Hải quan của Ngành, của Cục
- Tuyên truyền pháp luật về Kiểm tra sau thông quan Thực hiện lưu trữ,bảo mật hồ sơ, tài liệu Kiểm tra sau thông quan theo quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được Cục trưởng giao
Trang 40
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VỀ TRỊGIÁ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG Ô TÔ NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC KTSTQ-CỤC HẢI QUAN TP HÀ NỘI
2.2.1 Khái quát hoạt động KTSTQ về trị giá tại chi cục KTSTQ – Cục Hải quan Hà Nội
Qua một thời gian hoạt động, cùng với sự thay đổi về quy trình nghiệp vụ,
luật Hải quan sửa đổi bổ sung, việc triển khai áp dụng xác định trị giá hảiquan theo Hiệp định trị giá GATT và với những bước tiến bộ về cải cách côngtác nghiệp vụ dựa trên công nghệ tin học theo yêu cầu hiện đại hóa ngành hảiquan Bên cạnh đó, với tình hình hoạt đông xuất nhập khẩu tại các cửa khẩungày càng trở lên sôi động với những thủ đoạn gian lận thương mại ngày càng
đa dạng và phức tạp đặc biệt là gian lận qua trị giá hải quan thì công tác kiểmtra sau thông quan về trị giá ngày càng trưởng thành và phát triển hơn cả vềnguồn nhân lực và trang thiết bị hiện đại; hoạt động ngày càng tinh thônghơn, chuyên sâu hơn, thực hiện quản lý theo địa bàn, công khai và minh bạchhơn Sự phát triển vượt bậc đó tạo tiền đề cho việc nâng cao hiệu quả công tácKTSTQ nói chung và công tác KTSTQ về trị giá nói riêng Qua đó, góp phầnđảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, nâng cao tính tuân thủ pháp luậtcủa doanh nghiệp ở khâu thông quan, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnhtrong hoạt động thương mại
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo sáng suốt của lãnh đạo chi cụccùng với đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh nghềnghiệp vững vàng, năng động, tâm huyết và có tinh thần trách nhiệm caotrong công việc, đội trị giá luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao gópphần đáng kể vào thành tích chung của Chi cục kiểm tra sau thông quan.Chúng ta có thể thấy được điều đó qua các bảng số liệu 3.1 sau: