1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương

75 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 812,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng nhà cung cấp và các khoản nợ phải trả khác có tính chất chu kỳ như lương phải

Trang 1

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU

QUẢ SỬ DỤNG VỐNG LƯU ĐỘNG

1.1 Tổng quan về vốn lưu động của doanh nghiệp.

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm vốn lưu động.

Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cần có sự kết hợp giữa 3 yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động Khác với tư liệu lao động, các đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất kinh doanh và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyển một lần toàn bộ vào giá trị sản phẩm

Những đối tượng lao động nói trên, xét về hình thái hiện vật được gọi là tài sản lưu động, xét về hình thái giá trị thì được gọi là vốn lưu động

Tài sản lưu động trong doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông:

• Tài sản lưu động sản xuất: Bao gồm những tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất và trong quá trình sản xuất như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, thành phẩm dở dang, bán thành phẩm

• Tài sản lưu động lưu thông: là tài sản nằm trong quá trình lưu thông như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán

Để hình thành nên các tài sản lưu động , doanh nghiệp cần phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để đầu tư vào các tài sản đó Số vốn này được gọi

là vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường

Trang 2

Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bị chi phối bởi đặc điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có đặc điểm sau:

Vốn lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình chu chuyển

Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần và được hoàn lại toàn

bộ sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh

Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh

1.1.2 Phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp

Để quản lý tốt nguồn vốn lưu động cần phải phân loại vốn lưu động Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau:

1.1.2.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ

Theo cách phân loại này, vốn lưu động được chia thành: vốn bằng tiền

và các khoản phải thu và vốn về hàng tồn kho

• Vốn bằng tiền và các khoản phải thu

Vốn bằng tiền gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển

Các khoản phải thu gồm: Phải thu của khách hàng, phải thu tạm ứng, phải thu nội bộ, phải thu khác

• Vốn về hàng tồn kho gồm: Vốn về vật tư dự trữ, vốn về sản phẩm

dở dang, vốn thành phẩm Đây là khoản vốn lưu động có hình thái biển hiện bằng hiện vật cụ thể như: nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm

Cách phân loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét đánh giá mức dự trữ tồn kho và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Mặt khác cách phân loại này giúp cho nhà quản lý biết được tác dụng từng bộ phận vốn lưu động, giúp đảm bảo vật tư cho quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời không

Trang 3

gây ứ đọng vốn ở khâu dự trữ và đảm bảo được khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp

1.1.2.2 Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại trên, vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành các loại chủ yếu sau:

• Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm: Vốn nguyên, vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ

• Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất, bao gồm: Vốn sản phẩm đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước

• Vốn lưu động trong khâu lưu thông, bao gồm: vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư về tài chính ngắn hạn

Theo cách phân loại này cho ta thấy kết cấu vốn lưu động theo vai trò

Từ đó giúp cho việc đánh giá được tình hình phân bổ vốn trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn trong kinh doanh Từ đó có giải pháp quản lý vốn hiệu quả làm tăng tốc độ luân chuyển vốn

Qua các cách phân loại vốn lưu động, doanh nghiệp có thể xác định cho mình một kết cấu vốn lưu động hợp lý phù hợp với đặc điểm kinh doanh của công ty, phân tích kết cấu vốn lưu động để từ đó thấy được những đặc điểm riêng biệt về vốn lưu động mà doanh nghiệp mình quản lý và sử dụng Từ đó doanh nghiệp xác định được trọng tâm quản lý và có những giải pháp quản lý vốn lưu động phù hợp qua các thời kỳ

1.1.3 Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động.

1.1.3.1 Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.

Nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong chu kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, thể hiện số vốn tiền tệ cần thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng

Trang 4

ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng nhà cung cấp và các khoản nợ phải trả khác

có tính chất chu kỳ như lương phải trả, tiền thuế phải nộp… có thể các định theo công thức sau:

Căn cứ vào tính chất và thời gian sử dụng vốn lưu động, người ta chia thành hai loại:

• Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết: là nhu cầu vốn lưu động tính ra phải đủ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất tiến hành một cách liên tục, nghĩa là với mỗi một quy mô kinh doanh, với điều kiện mua sắm dự trữ hàng hoá vật tư và lượng sản phẩm tiêu thụ đã được xác định, đòi hỏi doanh nghiệp phải có thường xuyên một lượng vốn lưu động nhất định

• Nhu cầu vốn lưu động tạm thời: là nhu cầu vốn lưu động tăng thêm ứng vào cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh để đáp ứng tăng thêm về dự trữ vật tư, hàng hoá do sự gia tăng có tính chất thời vụ, do nhận thêm đơn đặt hàng, do sự biến động giá cả

Việc xác định đúng đắn và hợp lý nhu cầu vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp bởi vì:

Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết được xác định đúng đắn

và hợp lý là cơ sở để tổ chức tốt các nguồn tài trợ

Đáp ứng kịp thời và đầy đủ vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành bình thường và liên tục, tránh tình trạng thừa vốn hoặc thiếu vốn

Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động vừa là cơ sở giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi vừa là căn cứ để kiểm tra tình hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Tuy nhiên vốn lưu động

là một nhân tố động không cố định mà thường xuyên biến đổi do tác động của nhiều nhân tố khác nhau Do đó muốn xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu

Trang 5

động, nhà quản lý doanh nghiệp cần phải chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động, trong đó cần chú ý đến một số nhân tố sau:

 Thứ nhất, những yếu tố về đặc điểm tính chất ngành nghề kinh doanh như: chu kỳ kinh doanh, quy mô kinh doanh, tính chất thời vụ, những thay đổi về kỹ thuật công nghệ sản xuất Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến số vốn lưu động mà doanh nghiệp phải ứng ra và thời gian ứng vốn

 Thứ hai, những yếu tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm như: khoảng cách giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp vật tư hàng hoá, sự biến động giá cả của các loại vật tư, hàng hoá mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khoảng cách giữa doanh nghiệp với thị trường bán hàng, điều kiện và phương tiện vân tải

 Thứ ba, chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, tín dụng và tổ chức thanh toán

1.1.3.2 Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

• Phương pháp trực tiếp

Nội dung cơ bản của phương pháp này là: Căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng VLĐ mà DN phải ứng ra để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên Việc xác định nhu cầu VLĐ theo phương pháp này có thể xác định theo công thức sau:

Nhu cầu = Mức dự trữ + Khoản phải thu - Khoản phải trảVốn lưu động hàng tồn kho từ khách hàng người cung cấpTrong đó:

- Mức dự trữ hàng tồn kho: là mức dự trữ những tài sản của DN để sản xuất hoặc bán ra sau này Thường thì mức tồn kho dự trữ của DN tồn tại dưới

3 dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất, các sản phẩm dở dang, các bán thành phẩm và các thành phẩm chờ tiêu thụ

Trang 6

- Khoản phải thu từ khách hàng: là khoản đơn vị phải thu của người mua sản phẩm, khoản lao vụ và dịch vụ của người giao thầu,xây dựng cơ bản

về các khối lượng công tác xây dựng cơ bản đơn vị đã hoàn thành bàn giao chưa được trả tiền

- Khoản phải trả người cung cấp: là những khoản phát sinh trong quá trình thanh toán có tính chất tạm thời mà DN chưa thanh toán cho các bên do chưa đến hạn thanh toán hoặc trong thời hạn thanh toán theo hợp đồng ký kết

Ưu điểm của phương pháp này là kết quả tương đối sát và phù hợp với tình hình thực tế của DN Tuy nhiên việc tính toán tương đối phức tạp, khối lượng tính toán nhiều và mất thời gian

• Phương pháp gián tiếp

Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn lưu động ở đây có thể chia làm 2 trường hợp:

 Trường hợp 1: Căn cứ vào kinh nghiệm thực tế của doanh nghiệp cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp mình

Nội dung của phương pháp này là dựa vào hệ số vốn lưu động tính theo doanh thu từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành, căn cứ quy mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của doanh nghiệp mình để

dự tính nhu cầu vốn lưu động

Phương pháp này tương đối đơn giản nhưng độ chính xác bị hạn chế

Nó thích hợp với việc xác định nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ

Trường hợp 2: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời

kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu chuẩn ở thời kỳ tiếp theo.Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: hàng tồn kho, nợ phải thu của khách hàng, nợ phải trả nhà cung cấp (số nợ phát sinh có tính chất chu kỳ và

có tính chất tự động) với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ

Trang 7

chuẩn nhu cầu vốn lưu động theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định nhu cầu vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo.

Trình tự thực hiện:

- Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu vốn lưu động trong năm báo cáo Chọn ra những khoản mục chịu sự tác động trực tiếp và có mối quan hệ chặt chẽ với doanh thu và tính tỷ lệ phần trăm của các khoản mục

đó so với doanh thu thực hiện được trong kỳ

- Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo cáo trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động so với doanh thu thuần

- Xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch

Phương pháp này có ưu điểm là việc tính toán tương đối đơn giản giúp doanh nghiệp nhanh chóng ước tính được nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp năm kế hoạch để xác định nguồn tài trợ phù hợp, thích hợp với việc xác định vốn lưu động trong những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Tuy nhiên trong những trường hợp vốn lưu động của doanh nghiệp thường có những biến đổi bất thường thì việc xác định nhu cầu vốn lưu động này có phần hạn chế độ chính xác

1.1.4 Các phương pháp tài trợ vốn lưu động

1.1.4.1 Nguồn tài trợ vốn lưu động tại doanh nghiệp

Để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp có hai nguồn tài trợ bảo đảm là nguồn vốn lưu động thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời

• Nguồn VLĐ thường xuyên: Là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết TSLĐ thường xuyên cần thiết này bao gồm các khoản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang,thành phẩm Nguồn VLĐ thường xuyên càng lớn doanh nghiệp càng chủ động trong tổ chức, đảm bảo vốn cho doanh nghiệp

Nguồn VLĐ thường xuyên tại một thời điểm được xác định như sau:

Trang 8

Trong đó:

Nguồn vốn lưu động thường xuyên tạo ra mức độ an toàn về mặt tài chính cho doanh nghiệp Tuy nhiên trong nhiều trường hợp sử dụng nguồn vốn lưu động thường xuyên để đảm bảo sự ổn định về mặt tài chính thì doanh nghiệp phải chịu chi phí sử dụng vốn cao hơn Do vậy đòi hỏi các nhà quản lý phải xem xét tình hình thực tế của doanh nghiệp để xác định nguồn tài trợ phù hợp

• Nguồn VLĐ tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm), chủ yếu để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh ngiệp Nguồn vốn này bao gồm: Các khoản vay ngắn hạn, các khoản phải trả cho người bán, các khoản phải trả, phải nộp cho NSNN, các khoản phải trả khác

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu VLĐ cho từng tháng, từng quý có thể lớn hơn khả năng cung ứng của nguồn VLĐ thường xuyên Do đó doanh ngiệp cần phải huy động vốn và sử dụng nguồn vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu VLĐ phát sinh có tính chất bất thường trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác sử dụng nguồn vốn lưu động tạm thời sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn

Giá trị còn lại của TSCĐ và TSDH khác

Khấu hao lũy kế của

TSCĐNguồn vốn chủ

sở hữu

Trang 9

Nguồn vốn tạm thời phụ thuộc vào những nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Cần thêm vật tư dự trữ, cần vốn để đẩy mạnh quá trình tiêu thụ hàng hoá bị ứ đọng chưa tiêu thụ được

Như vậy:

Để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành được liên tục thì doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động thường xuyên ở mức độ nhất định, và nó được hình thành từ nguồn vốn lưu động thường xuyên Còn những tài sản lưu động có thời gian sử dụng ngắn được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời hay nguồn vốn ngắn hạn

Tùy theo từng doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển khác nhau của doanh nghiệp mà cách thức phối hợp các nguồn tài trợ để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động doanh nghiệp là khác nhau

1.1.4.2 Mô hình tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp

Để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên liên tục thì tương ứng với quy mô sản xuất kinh doanh nhất định, thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong giai đoạn luân chuyển như dự trữ nguyên vật liệu, sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm, thành phẩm, nợ phải thu của khách hàng Những tài sản này được gọi là TSLĐ thường xuyên Nhưng trong hoạt động sản xuất kinh doanh không phải lúc nào cũng diễn ra bình thường mà có những lúc xuất hiện sự cố làm nảy sinh nhu cầu vốn lưu động tạm thời như: giá cả nguyên liệu đầu vào tăng đột biến, lượng đơn đặt hàng tăng mạnh Như vậy doanh nghiệp cần phải xác định cho mình nguồn tài trợ hợp lý

a, Mô hình tài trợ thứ nhất:

Nguồn vốn lưu động

của doanh nghiệp

Nguồn vốn lưu động thường xuyên

Nguồn vốn lưu động tạm thời

Trang 10

Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được tài trợ bằng nguồn vốn tạm thời.

Mô hình này giúp cho doanh nghiệp xác lập được sự cân bằng về thời gian sử dụng tài sản với thời gian huy động nguồn tài trợ Đồng thời giúp doanh nghiệp hạn chế được những rủi ro trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn, giảm bớt được chi phí sử dụng vốn nhưng lại có hạn chế là chưa tạo ra sự linh hoạt trong tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy, tính chắc chắn được đảm bảo hơn song kém linh hoạt hơn

b, Mô hình tài trợ thứ hai:

Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên và một phần tài sản lưu động tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, một phần TSLĐ tam thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn lưu động tạm thời

Nguồn vốn tạm thời

Nguồn vốn thường xuyên

Trang 11

Sử dụng mô hình này đảm bảo khả năng thanh toán và độ an toàn ở mức cao, tuy nhiên doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay trung và dài hạn nên chi phí sử dụng vốn cao hơn

c, Mô hình tài trợ thứ ba:

Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thường xuyên và TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằn nguồn vốn lưu động tạm thời

Mô hình này có lợi thế hơn so với hai mô hình kia là chi phí sử dụng vốn sẽ hạ thấp hơn vì sử dụng nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, việc

sử dụng vốn sẽ linh hoạt hơn Tuy vậy mô hình này sẽ mang lại rủi ro cao hơn cho doanh nghiệp nếu có những biến động bất thường trong sản xuất kinh doanh

Nguồn vốn tạm thời

Nguồn vốn thường xuyên

Trang 12

Trên thực tế mô hình này thường được các doanh nghiệp lựa chọn nhiều hơn vì nguồn tín dụng ngắn hạn cũng được xem như dài hạn vì khoản này có tính chất chu kỳ.

1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là đảm bảo với số vốn hiện

có, thông qua các biện pháp tổ chức quản lý và sử dụng số vốn đó mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là vấn đề cần thiết, xuất phát từ những lý do chủ yếu sau:

• Xuất phát từ vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong cùng một thời điểm, vốn lưu

Tiền

Thời gianTSCĐ

TSLĐ Tạm thời

Nguồn vốn tạm thời

Nguồn vốn thường xuyênTSLĐ TX

Trang 13

động tồn tại ở nhiều hình thái khác nhau từ vật tư hàng hoá đến tiền mặt, tiền gửi Vốn lưu động có mặt ở các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn vận động, luôn biến đổi Nếu doanh nghiệp không đủ vốn lưu động đầu

tư sẽ ảnh hưởng tới quy mô sản xuất dự kiến, gây đình trệ trong kinh doanh, mất đi cơ hội kinh doanh, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh Mặt khác nếu doanh nghiệp có vốn lưu động ứ đọng ở một khâu bất kỳ sẽ gây ra lãng phí, làm tăng chi phí sử dụng vốn, giảm hiệu quả sinh lời Ngoài ra, việc phân bổ vốn lưu động không hợp lý, thiếu sự đồng bộ giữa các khâu có thể gây ra những khó khăn trong sản xuất, khiến sự chuyển hoá vốn lưu động khó khăn, tạo áp lực thiếu giả tạo trong khi vẫn không phát huy được hiệu quả của lượng vốn đã huy động

Vốn lưu động cũng là công cụ đánh giá quá trình vận động của vật tư Với một lượng vốn lưu động chi ra doanh nghiệp có sự vận động ngược chiều tương ứng của dòng vật tư Do vậy qua sự vận động của vốn lưu động sẽ đánh giá được sự vận động của vật tư, chất lượng hoạt động mua sắm vật tư Thêm vào đó thông qua tốc độ vận động của vốn lưu động nhà quản lý có thể biết được sự vận động không bình thường của vốn lưu động, những bất thường trong sản xuất kinh doanh để từ đó có giải pháp phù hợp

• Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và

sử dụng vốn lưu động

Vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục Trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn lưu động tồn tại ở nhiều hình thái khác nhau, vốn lưu động sử dụng không hiệu quả ở một giai đoạn của chu kỳ sẽ làm ảnh hưởng đến cả quá trình sản xuất Việc phân bố vốn lưu động hợp lý và đảm bảo đầy đủ góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn

Góp phần giảm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình chuyển hoá hình thái biển hiện của vốn lưu động diễn ra ăn khớp nhịp nhàng đồng bộ sẽ góp phần đẩy nhanh

Trang 14

tốc độ luân chuyển vốn lưu động, từ đó làm giảm chi phí ở các khâu, góp phần

hạ giá thành sản phẩm Điều này có ý nghĩa quan trọng góp phần làm tăng lợi nhuận và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Góp phần tiết kiệm vốn lưu động sử dụng, từ đó làm giảm áp lực về vốn cho doanh nghiệp

• Xuất phát từ thực tế hiệu quả sử dụng vốn lưu động với các doanh nghiệp hiện nay:

Thực tế các doanh nghiệp hiện nay tình trạng thiếu vốn lưu động vẫn còn phổ biến Lượng vốn phân bổ ở các khâu chưa hợp lý ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Lượng vốn lưu động thực chất động còn hạn chế trong mỗi doanh nghiệp do tồn đọng ở khâu thành phẩm kém chất lượng không tiêu thụ được,nợ phải thu khó đòi Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là cần thiết trong các doanh nghiệp hiện nay

Mặt khác, vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như nguồn vốn vay, nguồn vốn tự bổ sung… Trong đó nguồn vốn vay chiếm tỷ trọng không nhỏ, các doanh nghiệp sẽ phải mất một khoản chi phí lãi vay Do vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ góp phần giảm lượng vốn lưu động cần thiết phải huy động, giảm được một khoản lãi vay phải trả

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp

1.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn

• Tốc độ luân chuyển vốn lưu động (L)

Được thể hiện qua hai chỉ tiêu: số lần luân chuyển vốn lưu động và kì luân chuyển vốn lưu động

Số lần luân chuyển vốn lưu động là tỷ lệ giữa tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ và số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ của doanh nghiệp

 Số lần luân chuyển vốn lưu động được xác định theo công thức:

Trang 15

 Kỳ luân chuyển vốn lưu động (K):

Là tỷ lệ giữa số ngày trong kỳ và số lần luân chuyển vốn lưu động trong kỳ

Kỳ luân chuyển vốn lưu động xác định theo công thức:

• K: là kỳ luân chuyển vốn lưu động

• N: là Số ngày trong kỳ (thống nhất N = 360 ngày)Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một lần luân chuyển vốn (phản ánh độ dài thời gian một vòng quay của vốn lưu động trong kỳ của doanh nghiệp) Kỳ luân chuyển càng ngắn, chứng

Trang 16

tỏ tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng nhanh, hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao.

• Mức tiết kiệm vốn lưu động ( VTK ):

Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô vốn lưu động

Mức tiết kiệm vốn lưu động được xác định theo công thức:

360

) (

0

1 1

1

L

M V

L

M L

M

VTk = − = LD

Trong đó:

• VTK : Mức tiết kiệm vốn lưu động

• K0, K1: Lần lượt là kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch và kỳ báo cáo

• L0, L1: Lần lượt là vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch và

kỳ báo cáoPhản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ kế hoạch so với kỳ báo cáo (VTK < 0 : tiết kiệm vốn VTK > 0 : lãng phí vốn)

Trang 17

Mức dùng vốn lưu động càng thấp thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.

• Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động

Là chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết một đồng VLĐ sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận

1.2.2.2 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán

• Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là tỷ lệ giữa tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với tổng nợ ngắn hạn (bao hàm cả nợ dài hạn đến hạn trả)

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được xác định như sau:

Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm bảo của TSLĐ với

nợ ngắn hạn Nếu trị số của chỉ tiêu này lớn hơn bằng 1 thì doanh nghiệp có

đủ và thừa khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính

là bình thường khả quan Ngược lại nếu trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp, doanh nghiệp không đảm bảo đáp ứng được các khoản nợ ngắn hạn Tính hợp lí của hệ số này phụ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh Ngành nghề mà chiếm tỉ

Hàm lượng vốn lưu

động

Vốn lưu động bình quânDoanh thu thuần

Tỷ suât lợi nhuận vốn lưu động

Lợi nhuận trước thuếVốn lưu động bình quân

Hệ số khả năng thanh toán nợ NH

Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Trang 18

trọng lớn trong tổng tài sản (như thương nghiệp) thì hệ số này lớn và ngược lại

• Hệ số khả năng thanh toán nhanh:

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là tỷ lệ giữa hiệu của tài sản lưu động

và vốn vật tư hàng hoá, với tổng nợ ngắn hạn (bao hàm cả nợ dài hạn đến hạn trả)

Hệ số khả năng thanh toán nhanh được xác định như sau:

Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kì không dựa vào việc phải bán các loại vật tư hàng hoá, là một đặc trưng tài chính quan trọng của doanh nghiệp Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ trong một khoảng thời gian ngắn Độ lớn hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán của món nợ phải thu, phải trả trong kỳ

• Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Do số tài sản dùng để thanh toán nhanh còn được xác định là tiền cộng tương đương tiền, là các khoản có thể chuyển đổi nhanh bất kì lúc nào thành một lượng tiền biết trước Vì vậy hệ số đánh giá khả năng thanh toán tức thời các khoản nợ được xác định như sau:

Hệ số khả năng thanh toán tức thời là tỷ lệ giữa tiền và các khoản tương đương tiền, với tổng nợ ngắn hạn (bao hàm cả nợ dài hạn đến hạn trả)

Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán ngay các khoản nợ bằng tiền và chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển đổi thành

thanh toán tức thời

Tiền + Tương đương tiền

Nợ ngắn hạn

Trang 19

tiền Thông thường hệ số này bằng 1 là lý tưởng nhất Hệ số này vẫn có thể <1

mà doanh nghiệp vẫn đảm bảo khả năng thanh toán tức thời vì mẫu số là toàn

bộ các khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng 1 năm còn tử số là các khoản có thể sử dụng để thanh toán trongn thời hạn 3 tháng Nếu hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ, vì vào lúc cần doanh nghiệp có thể buộc phải sử dụng các biện pháp bất lợi như bán các tài sản với giá thấp để trả nợ Tuy nhiên, độ lớn của hệ số này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kì hạn thanh toán của món nợ phải thu, phải trả trong kì

• Hệ số khả năng thanh toán lãi vay:

Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp

và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ

Hệ số này được xác định theo công thức:

Chỉ tiêu này thể hiện khả năng thanh toán các khoản lãi vay trong kỳ bằng lợi nhuận do sử dụng tiền vay Chỉ tiêu này cao hay thấp phụ thuộc vào mức độ sinh lời của hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và lãi vay phải trả Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ vay cao đem lại hiệu quả thì hệ số này sẽ cao và ngược lại

1.2.2.3 Các chỉ tiêu về hệ số hoạt động kinh doanh

• Số vòng quay hàng tồn kho:

Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay hàng tồn kho luân chuyển trong kỳ (thường là 1 năm) Số vòng quay hàng tồn kho càng lớn thì càng tốt đối với doanh nghiệp

• Số ngày một vòng quay hàng tồn kho:

Số vòng quay hàng

tồn kho

Giá vốn hàng bánTrị giá hàng tồn kho BQ

Hệ số khả năng

thanh toán lãi vay

Lợi nhuận trước lãi vay và thuế

Lãi vay phải trả

Trang 20

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho.

• Số vòng quay các khoản phải thu:

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn thì tốc độ thu hồi các khoản phải thu càng nhanh, doanh nghiệp ít chiếm dụng vốn và ngược lại

• Kỳ thu tiền trung bình (số ngày một vòng quay các khoản phải thu):

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu Chỉ tiêu này biến động ngược chiều với chỉ tiêu vòng quay các khoản phải thu

1.3 Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp

1.3.1 Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức và

sử dụng vốn lưu động

Trong quá trình tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, ta có thể chia ra thành hai nhóm nhân tố sau:

1.3.1.1 Các nhân tố khách quan

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho

Số ngày trong kỳ

Số vòng quay hàng tồn kho

Số vòng quay các khoản phải thu

Doanh thu thuần

Số dư BQ các khoản phải thu

Kì thu tiền trung

bình

Số ngày trong kỳ

Số vòng quay các khoản phải thu

Trang 21

• Sự ổn định của nền kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái, lạm phát cao hay thấp đều ảnh hưởng đến nhu cầu cũng như hiệu quả sử dụng vốn Đặc biệt là lạm phát làm cho giá cả các mặt hàng tăng lên từ đó làm giảm sức mua của đồng tiền Với một lượng vốn lưu động như trước đây không còn

đủ đáp ứng nhu cầu vốn lưu động trog điều kiện lạm phát

• Rủi ro: Trong kinh doanh không thể tránh khỏi những rủi ro như thiên tai, hoả hoạn, rủi ro trong kinh doanh như thị trường hàng hoá bất ổn… gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

• Chính sách chế độ của nhà nước: Những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước và chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp nói riêng có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

• Sức ép cạnh tranh: Sức ép này đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để tăng khả năng cạnh tranh

1.3.1.2 Các nhân tố chủ quan

• Việc xác định nhu cầu vốn lưu động trong doanh nghiệp: Xác định nhu cầu vốn lưu động không chính xác có thể dẫn đến tình trạng thiếu vốn hoặc thừa vốn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, gây đình trệ hoặc lãng phí vốn

• Trình độ quản lý của doanh nghiệp: Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục Trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh nếu vốn lưu động sử dụng không hiệu quả ở một khâu sẽ ảnh hưởng đến cả quá trình sản xuất Điều đó phụ thuộc vào trình độ quản lý của doanh nghiệp

• Việc lựa chọn phương án đầu tư: Trong nền kinh tế khi lựa chọn phương án đầu tư phải tính toán giữa chi phí bỏ ra, rủi ro có thể gặp phải với lợi ích thu được Phương án đầu tư mà hiệu quả, tăng sản lượng tiêu thụ, đẩy nhanh việc bán hàng thì sẽ làm tăng vòng quay vốn lưu động

Trang 22

1.3.2 Một số biện pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp

• Thứ nhất, xác định đúng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết

Công tác xác định nhu cầu vốn lưu động phải được các nhà quản trị quan tâm đầu tư thời gian và công sức một cách thích đáng với yêu cầu của

nó Phải có kế hoạch và bước đi cụ thể; lựa chọn phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động một cách hợp lý, phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình Trên thực tế phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu được nhiều doanh nghiệp áp dụng để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp mình, bởi nó đơn giản, tương đối chính xác, thích hợp cho việc lập kế hoạch nhu cầu vốn lưu động thường xuyên đối với nhiều loại hình doanh nghiệp

Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn nhằm hạn chế tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh từ

đó gây ảnh hưởng bất lợi đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như làm tăng chi phí, tăng rủi ro, giảm uy tín cho doanh nghiệp, đồng thời cũng tránh được tình trạng ứ đọng vốn không phát huy được hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp

• Thứ hai, tổ chức huy động vốn lưu động một cách hợp lý và đầu tư đúng đắn

Trong việc huy động vốn, doanh nghiệp cần tích cực khai thác triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng kịp thời cho nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp đồng thời tính toán lựa chọn các nguồn vốn bên ngoài cho hợp lý (hợp lý cả về thời gian và mục đích sử dụng) để giảm tới mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn

Trang 23

Khi quyết định đầu tư, doanh nghiệp cần phải cân nhắc kĩ thị trường tiêu thụ, tình hình cung ứng nguyên vật liệu, quy trình công nghệ, áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp để rút ngắn chu kỳ sản xuất.

• Thứ ba, phân bổ nguồn vốn lưu động một cách hợp lý

Cần phải tính toán xác định nhu cầu vốn lưu động cần thiết ở từng khâu

để từ đó phân bổ hợp lý, tránh tình trạng vốn thừa hoặc thiếu ở một khâu bất

kỳ góp phần tăng vòng quay,tăng hiệu suất sử dụng vốn lưu động

• Thứ tư, tăng cường công tác quản lý vốn ở các khâu của quá trình sản xuất

• Trong khâu dự trữ sản xuất:

Tạo mức tồn kho hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn ở khâu sản xuất và tối thiểu hóa chi phí quản lý trong doanh nghiệp Đồng thời doanh nghiệp cũng nên đề phòng rủi ro bằng cách dự phòng giảm giá hàng tồn kho, mua bảo hiểm hàng hóa Để xác định mức dự trữ tồn kho hợp lý, doanh nghiệp có thể sử dụng một trong hai phương pháp là phương pháp tổng chi phí tối thiểu và phương pháp tồn kho bằng không

• Trong khâu sản xuất:

Doanh nghiệp cần áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa máy móc hiện đại vào sản xuất đồng bộ để rút ngắn chu kỳ sản xuất, góp phần nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm từ đó đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn

• Trong khâu lưu thông:

Đối với các khoản phải thu: Doanh nghiệp cần phải xây dựng chính sách tín dụng thương mại đối với khách hàng, phân tích khách hàng, xác định chính sách bán chịu, các điều kiện thanh toán; thường xuyên kiển soát nợ phải thu, áp dụng các biện pháp thích hợp để thu hồi nợ và bảo toàn vốn

Đối vơi vốn bằng tiền: Doanh nghiệp cần phải cần phải cân đối thu chi bằng tiền cho từng tháng, từng quý, năm để đảm bảo cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp Trên cơ sở đó doanh nghiệp xem xét các dòng tiền vào và

Trang 24

các dòng tiền ra để thấy được sự thiếu hụt hay thừa vốn bằng tiền để có giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp.

• Thứ năm, tăng cường phát huy chức năng giám đốc tài chính trong quản lý vốn lưu động

Doanh nghiệp cần phải tăng cường phát huy chức năng giám đốc tài chính trong quản lý sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng Thực hiện biện pháp này, đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn lưu động ở tất cả các khâu: dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Việc kiểm tra phải được áp dụng kỹ lưỡng và có hệ thống Đồng thời phải kịp thời có sự điều chỉnh phù hợp, tạo điều kiện cho sự luân chuyển của vốn lưu động, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

• Thứ sáu, tổ chức tốt quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Doanh nghiệp cần phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động từ đó giảm thiểu chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tích cực nghiên cứu tìm hiểu thị trường, đồng thời tăng cường công tác tiếp thị marketing, quảng cáo và có những chính sách tín dụng thương mại phù hợp nhằm tăng khối lượng tiêu thụ sản phẩm, hạn chế tối đa sản phẩm tồn kho, tănh nhanh vòng quay của vốn

• Thứ bảy, quan tâm đầu tư phát triển nguồn nhân lực

Trước tiên cần nâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản

lý nhất là cán bộ tài chính, để họ - những nhà lãnh đạo nhà quản lý trong doanh nghiệp thật sự có trình độ và nhạy bén với những diễn biến phức tạp của thị trường, đúng đắn trong việc ra các quyết định Đồng thời có kế hoạch tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực ngay từ đầu để chuẩn bị thay thế cho những cán bộ công nhân viên không đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công việc Bên cạnh đó cần có những chính sách kỷ luật và đãi ngộ hợp lý nhằm khuyến khích và phát huy sức sáng tạo, lòng nhiệt tình, cống hiến trong công việc của từng cá nhân

Trang 25

Trên đây là một số biện pháp cơ bản nhằm thực hiện nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Trong thực tế, không phải tất cả các biện pháp trên áp dụng đều mang lại hiệu quả tốt Do các doanh nghiệp thuộc những ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nên mỗi doanh nghiệp trên cơ sở các giải pháp chung đều có thể đưa ra cho mình những biện pháp riêng cụ thể, có tính khả thi nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp mình Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra rất đa dạng, phức tạp đòi hỏi doanh nghiệp cần xem xét nghiên cứu kỹ,

sử dụng tổng hợp và đồng bộ, linh hoạt các biện pháp Có như vậy các giải pháp cơ bản trên đây mới có thể phát huy tác dụng của nó một cách thích đáng

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÁ MÀI HẢI DƯƠNG

2.1 Khái quát về tình hình tổ chức và hoạt động kinh doanh của của Công ty cổ phần đá mài Hải Dương.

Trang 26

1963 nhà máy chế tạo đá mài tách ra khỏi nhà máy chế tạo bơm để thành lập Nhà máy chế tạo Đá Mài Ngày 03/11/1966 Nhà Nước đã quyết định thành lập Nhà máy chế tạo Đá Mài Hải Hưng, đếm năm 1997 thì nhà máy đổi tên thành Công ty đá mài Hải Dương thuộc Tổng công ty máy và thiết bị công nghiệp

Để phù hợp với tình hình mới, theo đề nghị của Ban đổi mới và phát triển Doanh Nghiệp Bộ Công Nghiệp, ngày 23/10/2003 Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp ra Quyết định số 170/2003/QĐ-BCN về việc chuyển công ty Đá Mài thành Công ty Cổ phần đá mài với vốn điều lệ hiện tại là 39 tỷ đồng, tỷ lệ cổ phần của nhà nước là 1 tỷ đồng

Cho đến nay công ty Cổ Phần Đá Mài Hải Dương đã hình thành và phát triển được 45 năm Công ty đã từng bước khảng định mình trên thị trường

Tên công ty: Công ty cổ phần đá mài Hải Dương – Damahad

Tên giao dịch: Hai Duong Grinding Wheels Joint Stock CompanyĐịa chỉ: Số 413 – Điện Biên Phủ - Thành phố Hải Dương

Số điện thoại: 0320 3853790 Email: damahad@.vnn.vn

2.1.2 Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Trang 27

Hội đồng quản trị

01 Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Giám Đốc phụ trách chung và phụ trách trực tiếp công tác tổ chức, tài chính, thị trường

01 Phó giám đốc phụ trách sản xuất, vật tư

01 Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật, chất lượng công nghệ

Các phòng ban của công ty

Phòng tổ chức lao động tiền lương và bảo vệ: Nhiệm vụ sắp xếp, tổ

chức lao động theo giây truyền sản xuất hợp lý, làm công tác tuyển dụng, đề bạt cán bộ, định mức lao động tiền lương, hoàn thiện chế độ trả lương đối với người lao động, thực thiệp chế độ bảo hiểm khác và bảo vệ tài sản công ty

Đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị Ban giám đốc

PGĐ sản

xuất

Phòng tài vụ

Phòng tổng hợp

Phòng thị trường

Phòng KCS

Phòng kỹ thuật

Phòng bảo vệ

Văn phòng

Phòng tổ chức

Phân xưởng chế biến

Phân xưởng chất dính

Phân xưởng hoàn chỉnh

Phân xưởng

cơ khí

Phân xưởng

đá nhựa

Phân xưởng chế thửPGĐ kĩ thuật

Trang 28

Phòng kế hoạch vật tư: Xây dựng dản xuất theo kế hoạch sản xuất

phát triển và mua sắm vật tư

Văn phòng công ty: Làm công tác văn phòng, công tác quản trị hành

chính, tiếp khách văn thư

Phòng tài chính kế toán: Theo dõi và quản lý toàn bộ về mặt tài

chính của công ty, quản lý tài sản lao động, tài sản cố định, quản lý sản phẩm

và tiêu thụ sản phẩm

• Tập hợp chi phí tính giá thành sản phẩm và kết quả sản xuất kinh doanh, lập các biểu báo cáo kế toán

Phòng kỹ thuật công nghệ: Thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật, phục vụ

cho sản xuất, nghiên cứu cải tiến quy trình công nghệ, thay đổi các mặt hàng phù hợp với nhu cầu của thị trường

Phòng KCS: Kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi nhập kho.

Phòng thị trường: Tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm bán và giới

thiệu sản phẩm

2.1.2.2 Tổ chức bộ máy kế toán

Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty

Bộ máy kế toán của công ty gồm 6 người được tổ chức như sau:

Kế toán trưởng: chịu trách nhiệm quản lý chung công việc của phòng,

tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán phù hợp với việc tổ chức sản xuất của công ty theo yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý, kiểm tra kiểm soát thực hiện các chế độ kế toán tài chính của Nhà Nước, giúp Giám đốc công ty phân tích

KẾ TOÁN TRƯỞNG

KẾ TOÁN THUẾ KIÊM KẾ

TOÁN NGÂN HÀNG THỦ QUỸ

KẾ TOÁN VIÊN KIÊM

KẾ TOÁN TỔNG HỢP

KẾ TOÁN CÁC DỰ ÁN,

XÍ NGHIỆP TRỰC THUỘC

Trang 29

hoạt động kinh tế nhằm đánh giá đúng đắn tình hình kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Kế toán thành phẩm: Hạch toán chi tiết và tổng hợp thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm, tính giá thành phẩm

Kế toán vốn bằng tiền: Theo dõi các khản thu chi bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng

Kế toán tiền lương, BHXH, CPCĐ: Theo dõi tình hình tiền lương và các khoản trích theo lương

Kế toán tổng hợp: Có nhiệm vụ tập hợp tài liệu của các thành viên kế toán, để tiến hành lập báo cáo kế toán định kì đồng thời kiêm kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, kế toán tài sản cố định

Một thủ quỹ: Tiến hành thu chi và theo dõi chặt chẽ các khản thu chi và quỹ tiền mặt tại đơn vị

Ngoài ra, ở mỗi phân xưởng có một nhân viên thống kê phân xưởng: với chức năng định kỳ báo cáo, thống kê về sản lượng, lao động gửi cho các phòng chức năng để giúp lãnh đạo điều hành sản xuất kinh doanh

2.1.2.3 Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh

Công ty có 7 phân xưởng sản xuất gồm :

 Phân xưởng khai thác Bâu Xít

 Phân xưởng luyện

 Phân xưởng chế biến

 Tổ chất dính

 Phân xưởng hoàn chỉnh

 Phân xưởng chế khử

 Phân xưởng cơ khí

Quy trình sản xuất của công ty được sắp xếp thành các phân xưởng với nhiệm vụ cụ thể như sau:

Phân xưởng khai thác quặng kim nhôm màu nâu ở mỏ Bâu xít Lỗ Sơn – Kinh Môn, khai thác với công cụ lao đọng thô sơ với chi phí nhân công phại

Trang 30

trả ở phân xưởng này chủ yếu là lao động thủ công, với qui trình sản xuất giản đơn:

Phân xưởng luyện: lấy quặng Bâu xít đã khai thác về luyện thành phôi

Cn cục bằng phương pháp hồ quang điện (Than đá, than cốc và than điện cực)

Tóm tắt quy trình sản xuất ở phân xưởng luyện:

Phân xưởng chế biến: Lấy tảng Cn đã được chế biến đưa vào dập, sau

đó chuyển sang máy cán, cán thành hạt nhỏ theo tường cỡ hạt Khi đã đã phân loai được các cỡ hạt thì rửa bằng Axít H2SO4 và hút sắt ra, sau đó đem nhập kho

Phân xưởng hoàn chỉnh sản xuất đá mài bằng hạt các cỡ và chất dính

Quy trình sản xuất ở phân xưởng hoàn chỉnh được tóm tắt như sau:

Nghiền nhỏ

Luyện Hồ Quang Phá tảng phân loại

Phôi Cn cục

Quặng

Bâu xít

Sàng phân loại

Rửa AxitH2SO4

Khử sắt sống

Hạt mài các loại nhập kho bán thành phẩm

Dập cánPhôi

Cn

Trang 31

Phân xưởng thử: Chuyên sản xuất các mặt hàng chế thử và mặt hàng đơn chiếc.

Phân xưởng cơ khí: Sửa chữa máy móc thiết bị trong công ty

Kho thành phẩm: Như kho nguyên vật liệu, tổ chức nhập bán thành phẩm từ phân xưởng chế biến và xuất bán thành phẩm cho phân xưởng hoàn chỉnh

Như vậy, Công ty đã sắp xếp mỗi phân xưởng, bộ phận sản xuất theo một trật tự khoa học hợp lý gồm các tổ nhóm sản xuất thực hiện một hoặc một

số bước công việc tạo thành một quy trình khép kín Nó được thể hiện qua sơ đồ:

2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh chủ yếu

• Đặc điểm yếu tố đầu vào:

Luyện Hồ quang điện Phôi Cn cục Chế biến

Hạt mài

Đá mài thành

Kho bán thành phẩmKhai thác

quặng Bâu xít

Trang 32

Đặc điểm về nguyên vật liệu: Nguyên liêu chính để sản xuất đá mài là quặng Bâu Xít tự nhiên được công ty tổ chức khai thác tại mỏ Bâu Xít Lỗ Sơn – Kinh Môn – Hải Dương cách công ty khoảng 45km đường bộ và khoảng 85km đương sông

• Cơ sở vật chất kĩ thuật:

Vừa qua Công ty phối hợp với ĐH Bách Khoa Hà Nội nghiên cứu và xây dựng thành công dây chuyền công nghệ sản xuất đá mài cao tốc 45-60 m/s với chất dính gốm, công suất 2000 T sản phẩm/ năm, sử dụng các nguyên liệu có sẵn trong nước như Hạt mài corindon nâu của chính Công ty, đất sét trắng Trúc Thôn (Hải Dương), trường thạch Sơn Mãn (Lào Cai) Dây chuyền công nghệ mới này đã cải thiện đáng kể năng suất và chất lượng sản phẩm của công ty

• Các sản phẩm chính:

Sản phẩm chính của công ty là hạt mài, hạt xay xát, đá mài, đá cắt, đá ráp xếp, đá rung xóc các loại

• Thị trường đầu ra:

Những sản phẩm của công ty luôn được đánh giá cao không chỉ thị trường trong nước mà cả nước ngoài, công ty hiện có chi nhánh ơ Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh Với những cải tiến trong kĩ thuật và công nghệ, sản phẩm tạo ra phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 525, ISO 603, ISO

6103, ISO 13942 Công ty đang hướng đến việc tăng cường xuất khẩu sản phẩm, mở rộng thị trường ra các nước khu vực và quốc tế

2.1.4 Khái quát về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của Công ty trong những năm qua

2.1.4.1 Khái quát về tình hình cơ cấu vốn và nguồn vốn

Trong nền kinh tế thị trường để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần có một số vốn nhất định Để có cái nhìn khái quát về quy

Trang 33

mô hoạt động, tình hình tổ chức và sử dụng vốn của công ty ta đi xem xét đánh giá sự biến động và cơ cấu vốn và nguồn vốn của công ty.

Vốn kinh doanh của công ty:

Trong cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty, tỷ trọng TSDH tăng nhẹ từ 32,71% lên 33,53%, nguyên nhân là do sự gia tăng lớn của TSDH từ

Trang 34

27.541.569.576Đ lên 39.346.160.302Đ tương ứng với tỷ lệ tăng 42,86% TSNH cũng tăng nhưng với tỷ lệ tăng nhỏ hơn là 37,66%.

TSDH của công ty chỉ bao gồm Tài sản cố định Tài sản cố định tăng mạnh là do công ty đang đầu tư xây dựng một dây chuyền sản xuất mới thể hiện qua sự gia tăng của Chi phí xây dựng dở dang từ 5.236.461.678Đ cuối năm 2009 lên 31.232.417.790Đ cuối năm 2010 Việc đầu tư nâng cấp tài sản

cố định có ý nghĩa chiến lược đối với công ty, đó sẽ là cơ sở để công ty có thể

mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong tương lai

TSNH tăng 21.334.633.700Đ cuối năm so với đầu năm chủ yếu là do các khoản phải thu ngắn hạn tăng từ 33.287.848.069Đ lên 56.711.369.106Đ tương ứng với tỷ lệ tăng 70,37% là do doanh nghiệp thực hiện chính sách tín dụng thương mại để gia tăng tiêu thụ sản phẩm, nhờ đó doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng hơn 30 tỷ trong 2010, đây là tín hiệu đáng mừng cho hoạt động kinh doanh của công ty nhưng cũng đòi hỏi công ty phải

có biện pháp quản lý tốt các khoản phải thu nhằm tránh tình trạng vốn bị chiếm dụng quá nhiều bởi vì tính đến cuối năm tỉ trọng của các khoản phải thu ngắn hạn đã chiếm tới 72,72% của TSNH Tiền và các khoản tương đương tiền cũng giảm nhẹ từ 13.089.785.874Đ ở cuối năm 2009 lên 12.204.254.846Đ cuối năm 2010 Hàng tồn kho giảm từ 10.190.279.550Đ xuống còn 9.070.923.241Đ tương ứng với tỷ lệ giảm 10,98

Qua phân tích trên cho thấy việc phân bổ vốn trong doanh nghiệp đã có

sự cải thiện rõ rệt Việc tăng TSCĐ là cần thiết để mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng lực sản xuất thu hút khách hàng TSNH cũng tăng tương ứng theo quy mô tương đối hợp lý Tuy nhiên doanh nghiệp cũng phải chú ý đến các khoản phải thu để tránh vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán, hạn chế việc chiếm dụng vốn

Nguồn vốn kinh doanh

Bảng số 2 Sự biến động của nguồn vốn

Trang 35

CHỈ TIÊU 31/12/2010 31/12/2009 Số TiềnChênh lệchTỉ Lệ

1 Vốn đầu tư của chủ sở hữu 41.665.340.000 41.665.340.000 0 0,00

7 Quỹ đầu tư phát triển 4.903.479.213 2.615.932.624 2.287.546.589 87,45

8 Quỹ dự phòng tài chính 1.263.297.896 781.196.896 482.101.000 61,71

-100,00

10 LNST chưa phân phối 12.731.943.789 9.642.023.589 3.089.920.200 32,05

II Nguồn kinh phí và quỹ khác 461.199.146 86.844.746 374.354.400 431,06

TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 117.332.707.495 84.193.483.069 33.139.224.426 39,36

Tổng nguồn vốn của công ty tính đến cuối năm 2010 là 117.332.707.495Đ tăng 33.139.224.426Đ so với đầu năm với tỉ lệ tăng là 39,36% Đây là thành tích đáng khen ngợi của công ty trong việc huy động vốn để mở rộng quy mô nguồn vốn kinh doanh Tuy nhiên mức độ tăng khác nhau giữa các nguồn vốn nên gây ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu nguồn vốn của công ty Cuối năm 2009 tỉ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn là

Trang 36

34,72%, đến cuối năm 2010 đã tăng lên là 48% Điều này cho thấy Công ty tăng cường sử dụng đòn bẩy tài chính trong chiến lược kinh doanh của mình.

Về Nợ phải trả, Nợ phải trả đã tăng từ 29.318.145.214Đ cuối năm 2009 lên 56.307.447.442Đ cuối năm 2010 tương ứng với tỉ lệ tăng 92,06%, trong

đó Nợ ngắn hạn tăng từ 9.417.611.131Đ lên 17.415.239.242Đ tương ứng với

tỉ lệ tăng 84,92%, nợ dài hạn tăng từ 19.900.534.083Đ lên 38.892.208.200Đ tương ứng với tỉ lệ tăng 95,43% Nợ Ngắn hạn tăng chủ yếu do tăng khoản Phải trả cho người bán (tăng 6.556.608.283Đ tương ứng với 359,53%) là do công ty thực hiện các hợp đồng mua bán chịu các nguyên vật liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất, đây là khoản vốn chiếm dụng rất cần thiết trong bối cảnh công ty đang cần nguồn lực để đầu tư dây chuyền công nghệ mới, tuy nhiên việc này lại làm tăng rủi ro trong thanh toán, vì vậy công ty cần nâng cao quản

lý công nợ hạn chết các rủi ro có thể xảy ra

Nợ dài hạn tăng chủ yếu là do Vay và nợ dài hạn Tính đến cuối năm

2010, Vay và nợ dài hạn đã tăng 18.710.773.920Đ tương ứng với tỷ lệ tăng 95,82% nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn dài hạn để tài trợ cho dự án xây dựng dây chuyền công nghệ mới

Về nguồn vốn chủ sở hữu, cuối năm 2010 Vốn chủ sở hữu là 61.025.260.053Đ tăng 6.149.922.198Đ tương ứng với tỷ lệ tăng 11,21% là do công ty tăng Quỹ đầu tư phát triển và quỹ dự phòng tài chính, đây là việc làm cần thiết nhằm chuẩn bị vốn cho dự án xây dựng dây chuyền sản xuất mới và giảm rủi ro tài chính khi công ty tăng các khoản vay dài hạn Bên cạnh đó lợi nhuận sau thuế chưa phân phối cũng tăng (32,05%) đây là nguồn bổ sung quan trọng đáp ứng cho nhu cầu vốn ngày càng lớn của công ty

Việc doanh nghiệp sử dụng nợ vay cao có khả năng khuếch đại tỷ suất vốn chủ sở hữu nhưng lại làm tăng rủi ro tài chính Doanh nghiệp cần xem xét

cơ cấu nguồn vốn để đảm bảo mức độ an toàn về mặt tài chính Doanh nghiệp cần căn cứ vào tình hình thực tế của Công ty, sự ổn định về lãi suất trên thị trường để điều chỉnh cơ cấu nguồn tài trợ một cách hợp lý

Trang 37

Qua phân tích sơ bộ vốn kinh doanh và nguồn vốn của công ty cho thấy hiện tại hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tương đối tốt Việc tăng quy mô vốn kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đang có chiều hướng đi lên, lượng đơn đặt hàng tăng lên theo đòi hỏi công ty phải mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường

Để thấy rõ được tính hợp lý trong cơ cấu nguồn vốn và tài sản của Công

ty, ta đi xem xét đánh giá cơ cấu nguồn tài trợ của Công ty

Trên cơ sở xác định nhu cầu vốn lưu động, doanh nghiệp đã xây dựng cho mình nguồn tài trợ vốn lưu động như sau:

TSNH

56.651.913.493(67,29%)

TSDH

27.541.569.576(32,71%)

NVNH

9.417.611.131 (11,19%)

NVDH

74.775.871.938(88,81%)

Cơ cấu tài trợ vốn năm 2009 Công ty đá mài Hải Dương

Ngày đăng: 03/11/2014, 03:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty - một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương
Sơ đồ b ộ máy kế toán của công ty (Trang 28)
Bảng số 1 Sự biến động tài sản - một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương
Bảng s ố 1 Sự biến động tài sản (Trang 33)
Bảng số 3: Kết quả kinh doanh năm 2007,2008, 2009, 2010 - một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương
Bảng s ố 3: Kết quả kinh doanh năm 2007,2008, 2009, 2010 (Trang 39)
Bảng 5: Kết cấu vốn lưu động: - một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương
Bảng 5 Kết cấu vốn lưu động: (Trang 46)
Bảng 6: Kết cấu các khoản phải thu - một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương
Bảng 6 Kết cấu các khoản phải thu (Trang 48)
Bảng 7: Tình hình thu hồi các khoản công nợ của Công ty - một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương
Bảng 7 Tình hình thu hồi các khoản công nợ của Công ty (Trang 51)
Bảng 8: Kết cấu hàng tồn kho của Công ty cổ phần đá mài Hải Dương - một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương
Bảng 8 Kết cấu hàng tồn kho của Công ty cổ phần đá mài Hải Dương (Trang 52)
Bảng 10: Kết cấu vốn bằng tiền - một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần đá mài hải dương
Bảng 10 Kết cấu vốn bằng tiền (Trang 56)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w