1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

106 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở điều tra các yếu tố khí hậu, thủy văn, đất đai, thảm thực vật của các tiểu vùng sinh thái trong xã Nham Sơn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang tiến hành: - Đá

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẶNG THỊ NHUNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG

BIẾN ĐỔI CỦA MỘT SỐ THẢM CỎ TẠI XÃ NHAM SƠN,

HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG CHUNG

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Đặng Thị Nhung

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Bằng tấm lòng thành kính, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng tới:

- Thầy giáo PGS.TS Hoàng Chung đã quan tâm, tận tình hướng dẫn và giúp

đỡ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này

- Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, Thầy giáo Lê Ngọc Công cùng toàn thể các thầy cô giáo, các cán bộ khoa Sinh – KTNN trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học

- Lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Nham Sơn, cán bộ phòng Nông Nghiệp huyện Yên Dũng, Tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2014

Tác giả

Đặng Thị Nhung

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục i

Danh mục các từ viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Danh mục các hình iv

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm vùng, phân vùng 3

1.1.1 Khái niệm vùng 3

1.1.2 Khái niệm phân vùng 4

1.2 Các dạng phân vùng 4

1.2.1 Phân vùng địa vật lý 4

1.2.2 Phân vùng khí hậu 5

1.2.3 Phân vùng thổ nhưỡng 7

1.2.4 Phân vùng sinh thái thảm thực vật 9

1.3 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên 13

1.3.1 Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới 13

1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần loài 14

1.3.3 Những nghiên cứu về dạng sống 15

1.3.4 Những nghiên cứu về năng suất 17

1.4 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam 18

1.4.1 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả 18

1.4.2 Những nghiên cứu về sử dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam 20

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

CHƯƠNG II: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VÙNG

NGHIÊN CỨU 22

2.1 Điều kiện tự nhiên của xã Nham Sơn 22

2.1.1 Vị trí địa lý của huyện Yên Dũng 22

2.1.2 Vị trí địa lý của xã Nham Sơn 22

2.1.3 Địa hình, địa mạo 24

2.1.4 Khí hậu 24

2.1.5 Các nguồn tài nguyên 25

2.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Nham Sơn 27

2.2.1 Tình hình phát triển các ngành kinh tế 27

2.2.2 Lao động, việc làm 28

CHƯƠNG III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29

3.2 Nội dung nghiên cứu 29

3.3 Phương pháp nghiên cứu 29

3.3.1 Điều tra cơ bản vùng nghiên cứu qua số liệu thứ cấp tại địa phương 30

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 30

3.3.2.1 Lập tuyến điều tra 30

3.3.2.2 Điều tra nghiên cứu theo ô tiêu chuẩn 30

3.3.2.3 Điều tra trong dân 31

3.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 31

3.3.3.1 Xác định tên khoa học của mẫu thực vật 31

3.3.3.2 Xác định dạng sống 31

3.3.3.3 Nghiên cứu năng suất cỏ 31

3.3.3.4 Phân tích mẫu đất 31

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4.1 Đặc điểm đặc trưng của các tiểu vùng 33

4.1.1 Tiểu vùng sinh thái ven sông 33

4.1.2 Tiểu vùng sinh thái ven suối 33

4.1.3 Tiểu vùng sinh thái chân đê 33

4.1.4 Tiểu vùng sinh thái gò đồi 34

4.1.5 Tiểu vùng sinh thái dưới tán rừng trồng keo 34

4.2 Tổ hợp thành phần loài, dạng sống và khối lượng thực vật trong từng tiểu vùng sinh thái 34

4.2.1 Tiểu vùng sinh thái ven sông 34

4.2.1.1 Thành phần loài 34

4.2.1.2 Thành phần dạng sống thực vật 39

4.2.1.3 Khối lượng thực vật 41

4.2.2 Tiểu vùng sinh thái ven suối 42

4.2.2.1 Thành phần loài 43

4.2.2.2 Thành phần dạng sống 46

4.2.2.3 Khối lượng thực vật 48

4.2.3 Tiểu vùng sinh thái bãi bằng chân đê 49

4.2.3.1 Thành phần loài 49

4.2.3.2 Thành phần dạng sống 55

4.2.3.3 Khối lượng thực vật 57

4.2.4 Tiểu vùng sinh thái trên đồi cỏ tự nhiên 59

4.2.4.1 Thành phần loài 59

4.2.4.2 Thành phần dạng sống 64

4.2.4.3 Khối lượng thực vật 67

4.2.5 Tiểu vùng sinh thái dưới tán rừng 68

4.2.5.1 Thành phần loài 68

4.5.2.2 Thành phần dạng sống 73

4.5.2.3 Khối lượng thực vật 76

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4.3 Đánh giá thực trạng và xu hướng biến đổi của từng thảm cỏ trong

tình trạng khai thác hiện nay 77

4.3.1 Thảm cỏ ven sông 77

4.4.2 Thảm cỏ ven suối 78

4.4.3 Thảm cỏ bãi bằng chân đê 79

4.4.4 Thảm cỏ trên đồi 80

4.4.5 Thảm cỏ dưới tán rừng trồng Keo 82

4.4 Phương hướng sử dụng các tiểu vùng sinh thái trong tình trạng khai thác hiện nay 86

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88

1 Kết luận 88

2 Đề nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam 16 Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai của xã Tân Hương 26 Bảng 4.1 Thành phần loài trong thảm cỏ ven sông 35 Bảng 4.2 Những dạng sống chính của thực vật trong các thảm cỏ ven sông 39 Bảng 4.3 Khối lượng thực vật trong thảm cỏ ven sông (g/m2

) 41 Bảng 4.4 Thành phần loài trong thảm cỏ ven suối 43 Bảng 4.5 Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ ven suối 46 Bảng 4.6 Khối lượng thực vật trong thảm cỏ ven suối (g/m2

) 48 Bảng 4.7 Thành phần loài trong thảm cỏ bãi bằng chân đê 49 Bảng 4.8 Những dạng sống chính của thực vật trong bãi bằng chân đê 55 Bảng 4.9 Khối lượng thực vật bãi bằng chân đê (g/m2

) 57 Bảng 4.10 Thành phần loài trong thảm cỏ trên đồi 59 Bảng 4.11 Những dạng sống chính của thực vật trên đồi 64 Bảng 4.12 Khối lượng thực vật trên gò đồi (g/m2

) 67 Bảng 4.13 Thành phần loài trong thảm cỏ dưới tán rừng 69 Bảng 4.14 Những dạng sống chính của thực vật dưới tán rừng 73 Bảng 4.15 Khối lượng thực vật dưới tán rừng (g/m2

) 76

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Dũng 23 Hình 2.2 Bản đồ hành chính xã Nham Sơn 23

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của từng quốc gia,

đã từ lâu thu hút sự chú ý của loài người Để tạo ra nhiều sản phẩm chăn nuôi

có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường thì việc cung cấp thức ăn đủ, có chất lượng cao và ổn định là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong chăn nuôi Đồng cỏ là một trong những cơ sở quan trọng để phát triển ngành chăn nuôi gia súc đặc biệt là trâu bò Chúng ta biết rằng, đồng

cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hóa năng lượng chứa trong đồng cỏ thành thức ăn của con người Cỏ không những là nguồn thức ăn gia súc có chất lượng, rẻ tiền và phù hợp với điều kiện của nhiều nước

mà cỏ còn có nhiều tác dụng như bảo vệ và cải tạo đất trồng dưới dạng này hay

dạng khác, tham gia cải thiện khí hậu…

Từ lâu, con người đã biết khai thác đồng cỏ để làm thức ăn cho gia súc, lúc đầu còn hoàn toàn dựa vào tự nhiên Nhưng do nhu cầu phát triển ngày càng tăng, hình thức chăn thả tự nhiên như trước không đáp ứng được Vì vậy đòi hỏi con người phải tìm cách để làm tăng năng suất cỏ cung cấp đủ cho ngành chăn nuôi

Sự phát triển của đồng cỏ cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khí hậu, đất đai, các hình thức tác động khác của con người Sự sinh trưởng của thảm cỏ cũng có sự biến động theo mùa rõ rệt Ở các vùng sinh thái khác nhau thì thảm

cỏ có sự phát triển khác nhau tạo nên thảm cỏ với năng suất khác nhau

Trên thực tế hiện nay, nguồn thức ăn xanh ngày càng cạn kiệt do đồng cỏ chăn thả dần bị thu hẹp để nhường chỗ cho cây trồng khác Bên cạnh đó, con người chăn thả gia súc một cách bừa bãi không có kỹ thuật đã làm cho một số bãi chăn thả trở thành đất trống, đồi chọc không còn khả năng khai thác Từ đó, nguồn thức ăn của gia súc trở nên thiếu đặc biệt là vào mùa đông

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Yên Dũng là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang Số lượng đàn gia súc của huyện ngày càng giảm do diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, Tỉnh Bắc Giang”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở điều tra các yếu tố khí hậu, thủy văn, đất đai, thảm thực vật của các tiểu vùng sinh thái trong xã Nham Sơn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang tiến hành:

- Đánh giá thực trạng khai thác thảm cỏ tự nhiên trong từng tiểu vùng sinh thái

- Đánh giá xu hướng biến đổi của thảm cỏ trong từng tiểu vùng sinh thái

- Đề xuất phương hướng khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong từng tiểu vùng

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm vùng, phân vùng

1.1.1 Khái niệm vùng

“Vùng” là một khái niệm được dùng một cách rất phổ biến và cách tiếp

cận nó cũng rất khác nhau Vùng thường được dùng để chỉ một lãnh thổ có phổ biến một hiện tượng nào đó về mặt không gian được đặc trưng bởi sự thống nhất về các đặc điểm khác nhau Lãnh thổ đất nước được chia thành những vùng khí hậu, thổ nhưỡng, các vùng kinh tế, các vùng hoang mạc…[23, tr.5]

Theo Lê Bá Thảo “Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như mối quan hệ có chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài” [31, tr.281]

Vùng sinh thái được hiểu là một bộ phận lãnh thổ cụ thể có chung nguồn gốc phát sinh và phát triển, đặc trưng bởi sự đồng nhất tương đối về các điều kiện

tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất) và trên đó phát triển một sinh quần lạc điển hình Vùng sinh thái bao gồm một tập hợp có quy luật các đơn vị sinh thái cảnh quan cấu trúc (đơn vị cấp thấp) Mỗi vùng sinh thái có những chức năng xã hội (chức năng kinh tế) nhất định, trước hết chúng phải phù hợp với điều kiện và tài nguyên tự nhiên của chính vùng đó Tại đây có những hình thức khai thác, sử dụng và cải tạo thiên nhiên tương đối giống nhau của cộng đồng con người [35, tr 9]

Như vậy có thể hiều vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ của các bộ phận cấu thành với các dạng liên hệ địa lý, kỹ thuật, kinh tế, xã hội bên trong hệ thống cũng như bên ngoài hệ thống Vùng có quy mô rất khác nhau, song dù quy mô thế nào, lớn hay nhỏ đều có điểm chung, đó là một lãnh thổ có ranh giới nhất định, trong đó có sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố tự nhiên, môi trường và con người

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.1.2 Khái niệm phân vùng

a Sự phân vùng

Phân vùng là sự phân chia lãnh thổ, vùng biển ra thành các vùng hay các phần, được phân biệt bởi mức độ đồng nhất bên trong của nó Những dấu hiệu được sử dụng để phân vùng có thể khác nhau về đặc điểm, theo mức độ rộng hẹp của dấu hiệu nào đó về phân bố hoặc theo mục đích phân vùng Thời kỳ đầu nghiên cứu lãnh thổ thường phải phân vùng, từ đó cho phép sử dụng hợp lý tài nguyên và lao động

b Nguyên tắc phân vùng

Theo Lê Bá Thảo phân vùng dựa trên 3 nguyên tắc:

- Về tính đồng nhất tương đối, thường được áp dụng để phân định các vùng - cảnh quan, vùng tự nhiên hay vùng văn hóa lịch sử

- Sự khai lợi và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó sự gắn kết của vùng được thể hiện thông qua vai trò của hệ thống các đô thị các cấp, quan trọng nhất là của thành phố có sức hút và của vùng ảnh hưởng lớn nhất, coi như cực tạo vùng

- Tính hữu hiệu của các điều kiện đảm bảo sự quản lý lãnh thổ [29, tr.282]

1.2 Các dạng phân vùng

Trong phần tổng quan chúng tôi chỉ đề cập đến một số dạng phân vùng sau: Phân vùng địa vật lý, phân vùng thổ nhưỡng, phân vùng khí hậu, phân vùng sinh thái thảm thực vật

1.2.1 Phân vùng địa vật lý

Phân vùng địa vật lý là hệ thống phân chia bề mặt trái đất Cơ sở để phân chia và nghiên cứu là tổ hợp các đặc trưng bên trong và rất riêng của nó - thiên nhiên Người ta có thể phân chia theo từng tổ hợp riêng (như địa hình, khí hậu, đất…) hoặc phân chia theo cả một tập hợp các yếu tố (phân vùng cảnh quan)

Theo Lê Bá Thảo (1970), dựa trên chỉ tiêu địa mạo - kiến tạo ông đã phân vùng miền Bắc Việt Nam thành 6 miền thuộc đới á Bắc đó là: Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên [30]

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Vũ Tự Lập (1976), khi nghiên cứu vùng cảnh quan miền Bắc ông đã phân chia thành 2 miền: Miền Bắc và Đông Bắc, miền Tây Bắc và Bắc Trung

Bộ Miền Bắc và Đông Bắc lại được phân chia làm 3 khu: Khu Việt Bắc, khu Đông Bắc và khu đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ chia thành 5 khu: Khu Tây Bắc, khu Phanxipăng - puluong, khu Hòa Bình - Thanh Hóa, khu Quảng Bình - Vĩnh Ninh, khu Nghệ Tĩnh [24]

1.2.2 Phân vùng khí hậu

Trên thế giới trái đất được chia thành 6 châu lục, mỗi châu lục có những đặc điểm khí hậu khác nhau Trong mỗi châu lục lại có sự phân miền khí hậu Châu Âu chia làm 3 miền khí hậu: Miền khí hậu cực và cận cực, miền khí hậu

ôn đới đại dương và ôn đới lục địa, miền khí hậu á nhiệt đới khô (khí hậu Địa Trung Hải, khí hậu cận nhiệt đới) Châu Á được chia ra làm 6 miền khí hậu: Miền khí hậu xích đạo, miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền khí hậu nhiệt đới, miền khí hậu á nhiệt đới, miền khí hậu ôn đới, miền khí hậu ôn đới lạnh và cận cực Châu Phi được phân ra làm 7 miền khí hậu: Miền khí hậu xích đạo, 2 miền khí hậu cận xích đạo, 2 miền khí hậu nhiệt đới khô, 2 miền khí hậu á nhiệt đới khô Châu Mỹ gồm Bắc Mỹ và Nam Mỹ Bắc Mỹ gồm các khu vực khí hậu: khu vực khí hậu cận và cận cực, khu vực khí hậu ôn đới, khu vực khí hậu á nhiệt đới, khu vực khí hậu nhiệt đới Nam Mỹ gồm các khu vực khí hậu: khu vực khí hậu xích đạo, khu vực khí hậu cận xích đạo và nhiệt đới, khu vực khí hậu á nhiệt đới, khu vực khí hậu ôn đới Châu đại dương chia ra các khu vực khí hậu: khu vực khí hậu nhiệt đới, khu vực khí hậu nửa hoang mạc, khu vực khí hậu ôn đới Châu Nam Cực là một lục địa lạnh [39]

Các tác giả như H.Gaussen, P.Legris, P.blasco (1976) đã nghiên cứu và thành lập bản đồ sinh khí hậu đối với vùng lãnh thổ Đông Nam Á [41]

Ở Việt Nam có khí hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm, đa dạng và thất thường Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

và có cả sự phân hóa từ thấp đến cao Vấn đề phân vùng khí hậu ở Việt Nam từ trước đến nay đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu

Vào thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã có những nhận xét về đặc điểm khí hậu các vùng địa lý và dựa trên đó đánh giá những thuận lợi khó khăn trong công cuộc mở mang kinh tế ở từng vùng Tiếp theo đó là Lê Tắc, Vân Anh, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Sỹ, Nguyễn Nghiễm và nhiều nhà địa lý khác bắt đầu đi sâu vào nhiều khía cạnh khí hậu kinh tế các vùng của đất nước

Những năm 1970, Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc đã đưa ra những sơ

đồ đầu tiên về phân vùng khí hậu miền Bắc Việt Nam [36] Đến những năm 80, khi xây dựng Atlat quốc gia, viện khí hậu thủy văn cũng đưa ra phân vùng khí hậu Việt Nam ở tỷ lệ 1/3000.000

Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc (1993) đã phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 3 miền khí hậu lớn: Miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu Đông Trường Sơn, miền khí hậu phía Nam Ngoài ra còn có thêm một miền khí hậu phụ nữa là miền khí hậu Biển Đông Miền khí hậu phía Bắc được chia làm 5 vùng khí hậu: Khí hậu khu vực núi Đông Bắc, khu vực núi Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, khu vực núi Tây Bắc, khu vực đồng bằng Bắc Bộ, khu vực Bắc Trung Bộ Trong đó khí hậu khu vực núi (Đông Bắc, Việt Bắc và Tây Bắc) đều được phân chia thành 3 vùng: Vùng thấp, vùng có độ cao trung bình và vùng núi cao Miền khí hậu Đông Trường Sơn có sự phân hóa thành 3 vùng khí hậu: Vùng khí hậu khu vực Bình - Trị - Thiên, khu vực Trung Trung Bộ (được chia thành 2 khu vực nhỏ hơn: Quảng Nam - Quảng Ngãi và Bình Định - Phú Yên cũ), khu vực Nam Trung Bộ Miền khí hậu phía Nam chia thành 2 vùng khí hậu sau: Vùng khí hậu khu vực Tây Nguyên (được phân chia thành 3 khu vực nhỏ hơn: Bắc Tây Nguyên, Trung Tây Nguyên và Nam Tây Nguyên), khu vực đồng bằng Nam Bộ Miền khí hậu Biển Đông chia thành 2 vùng khí hậu: Vùng khí hậu khu vực phía Bắc Biển Đông, khu vực phía Nam Biển Đông [36]

Trong công trình Atlat khí hậu Thủy văn Việt Nam (1994) đã đưa ra một

sơ đồ về phân vùng khí hậu Việt Nam Phân chia khí hậu Việt Nam thành 2 miền khí hậu: Miền khí hậu niền Bắc và Miền khí hậu miền Nam với ranh giới

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

là dãy núi Bạch Mã Đồng thời nước ta còn được phân chia ra 7 vùng khí hậu trong đó có 4 vùng khí hậu thuộc miền khí hậu miền Bắc (khu vực núi phía Bắc, khu vực núi Tây Bắc, khu vực đồng bằng Bắc Bộ và khu vực núi phía Tây, khu vực Bắc Trung Bộ) và 3 vùng khí hậu thuộc miền khí hậu miền Nam (khu vực Nam Bộ, khu vực ven biển Nam Trung Bộ, khu vực Tây Nguyên) [38]

Mai Trọng Thông (1998) và một số tác giả khi nghiên cứu phân vùng khí hậu Việt Nam đã nêu nguyên tắc và đưa ra sơ đồ phân vùng khí hậu Việt Nam Theo sơ đồ này khí hậu Việt Nam được chia ra làm 2 miền khí hậu: Miền khí hậu phía Bắc (miền khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh) và miền khí hậu phía Nam (miền khí hậu nhiệt đới gió mùa không có mùa đông lạnh) Trong phạm vi mỗi miền khí hậu đã phân chia ra các vùng khí hậu khác nhau: Miền khí hậu phía Bắc đã được phân thành 6 vùng khí hậu (vùng khí hậu Đông Bắc, vùng khí hậu Tây Bắc, vùng khí hậu Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ và bắc của Bắc Trung Bộ, vùng khí hậu của Bắc Trung

Bộ, vùng khí hậu Bình Trị Thiên), miền khí hậu phía Nam được phân ra 3 vùng khí hậu (vùng khí hậu Tây Nguyên, vùng khí hậu Trung và Nam Trung Bộ, vùng khí hậu đồng bằng Nam Bộ) [34]

Theo quan điểm của các nhà phân vùng khí hậu thì đơn vị lớn nhất trong

hệ thống phân vị là miền rồi đến vùng và nhỏ nhất là khu

1.2.3 Phân vùng thổ nhƣỡng

Để phân loại đất người ta dựa vào các kiểu đá mẹ, đặc điểm và phẫu diện của các kiểu đất, độ phì của đất, cấu trúc và chế độ nước, chế độ nhiệt Nó được thể hiện trên bản đồ đất

Trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu về phân vùng thổ nhưỡng V Dokutsaev đã căn cứ vào kinh nghiệm và những tài liệu điều tra thổ nhưỡng trên một đơn vị rộng lớn, đề ra học thuyết về tính địa đới của thổ nhưỡng: theo chiều ngang, theo chiều cao, tính địa phương hay tính vùng [31]

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

E.N Ivanova và cộng sự (1962) đã công bố phân vùng địa lý thổ nhưỡng

ở Liên Xô Trong đó lãnh thổ Liên Xô được chia theo các dấu hiệu tự nhiên thành các dải, miền, đới và tỉnh thổ nhưỡng - khí hậu sinh vật [19]

Ở phía Đông, Đông Bắc Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản từ Bắc xuống Nam phân bố 3 vùng đất: Vùng đất nâu rừng, vùng đất nâu của các rừng khô và cây bụi, vùng đất cận nhiệt và đất đỏ [21]

Kết quả sự phân bố thổ nhưỡng trên thế giới gồm: Nhóm đất thuộc đới Bắc cực và đài nguyên (chia thành 5 đới phụ), nhóm đất thuộc đới rừng Taiga, nhóm đất thuộc đới rừng cây lá rộng ôn đới, nhóm đất thuộc đới thảo nguyên

ôn đới, nhóm đất rừng và rừng cây bụi cận nhiệt đới, nhóm đất thuộc vành đai nhiệt đới [32]

Ở Việt Nam vấn đề phân vùng thổ nhưỡng từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm

Năm 1930, Jve Henry đã nghiên cứu về đất đỏ và đất đen phát triển trên

đá mẹ bazan ở Đông Dương Ông đã nêu đầy đủ điều kiện phát sinh, phát triển tính chất các nhóm đất trên đá mẹ bazan và các tiểu vùng phân bố của chúng ở Việt Nam [42]

Năm 1958 dựa trên sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/1000.000 (xây dựng năm 1957) V.M.Fridland và Lê Duy Thước đã xây dựng bản dự thảo phân vùng địa lý thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam, phân chia miền Bắc Việt Nam thành 40 vùng địa lý thổ nhưỡng, quy lại thành 17 liên vùng Năm 1975 dựa trên bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000, Ban biên tập bản đồ đất Việt Nam chủ trì cho xây dựng bản dự thảo phân vùng địa lý thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam thành 63 vùng địa lý tự nhiên Sau khi nhà nước thống nhất (1975), dựa trên bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1000.000, Ban biên tập bản đồ đất Việt Nam đã xây dựng bản dự thảo phân vùng địa lý thổ nhưỡng Việt Nam phân chia lãnh thổ cả nước thành 154 vùng địa lý tự nhiên (kể cả các đảo) [17]

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Lê Văn Khoa (1993), căn cứ vào địa hình có thể chia ra 3 vùng đất: Vùng núi hay vùng thượng du, vùng đồi gò hay trung du, vùng đồng bằng [21]

Dựa vào đặc điểm chủ yếu của đất đai, khí hậu, tổ nghiên cứu sinh thái

và môi trường - Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã chia ra 5 vùng đất: Vùng đất cát và cồn cát ven biển, vùng đất phèn, vùng ngập mặn ven biển, vùng đồng bằng châu thổ và vùng đồi núi [12]

Tổng hợp những kết quả nghiên cứu phân vùng thổ nhưỡng năm 1996

đã xác định hệ thống phân vị trong phân vùng thổ nhưỡng Việt Nam có 4 cấp là: Miền thổ nhưỡng, á miền thổ nhưỡng, khu thổ nhưỡng và vùng thổ nhưỡng Theo kết quả nghiên cứu này, nước ta được phân ra làm 2 miền thổ nhưỡng, 6 á miền thổ nhưỡng, 16 khu thổ nhưỡng và 142 vùng thổ nhưỡng Hai miền thổ nhưỡng là miền thổ nhưỡng phía Bắc và miền thổ nhưỡng phía Nam Miền thổ nhưỡng phía Bắc được chia thành 3 miền á thổ nhưỡng (á miền thổ nhưỡng Bắc

và Đông Bắc Bộ, á miền thổ nhưỡng Tây Bắc, á miền thổ nhưỡng Trường Sơn Bắc) và 8 khu thổ nhưỡng Miền thổ nhưỡng phía Nam cũng được chia ra làm 3 miền thổ nhưỡng (á miền thổ nhưỡng Nam và Đông Nam Bộ) và 8 khu thổ nhưỡng Các khu thổ nhưỡng trên lại được phân chia ra 142 vùng thổ nhưỡng, trong đó miền thổ nhưỡng phía Bắc có 77 vùng và miền thổ nhưỡng phía Nam

có 65 vùng thổ nhưỡng [16]

1.2.4 Phân vùng sinh thái thảm thực vật

Trên trái đất khí hậu thay đổi từ nóng sang lạnh, từ ẩm sang khô Mỗi loại hình lớn của nó có thành phần thực vật, động vật đặc trưng - người ta gọi là các biomes Biomes theo trường phái Anh Mỹ đó là hệ sinh thái xâm chiếm vùng rộng lớn có sự giống nhau về khí hậu và sinh vật Cũng có thể coi biomes

là hệ sinh thái mà ở đó có một số nơi sống cùng tồn tại

Humboldt (1805) có xu hướng địa lý trong nghiên cứu mối quan hệ giữa phân bố thực vật với sự phân bố nhiệt độ trên lục địa, ông đã hệ thống hóa những tri thức địa lý thực vật, vẽ được bản đồ chung về sự phân bố lớp phủ

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thực vật trên trái đất Tiếp đó K.F Lêđêbur cũng công bố cuốn thực vật chí đầu tiên của Nga (4 tập) về các hệ thực vật thuộc các vùng khác nhau trên trái đất [40]

Năm 1865, cuốn sách giáo khoa tiếng Nga đầu tiên về địa lý thực vật do A.N.Beketov viết được xuất bản Sách bao gồm những đặc điểm chung của lớp phủ thực vật trên trái đất viết theo từng miền, phân tích những nguyên nhân lịch sử của sự phân bố thực vật [40]

Năm 1903, G.I.Tanfilev công bố công trình nghiên cứu về thảm thực vật

ở Nga kèm theo bản đồ tỷ lệ 1/25.000.000 Đây là tấm bản đồ địa lý thực vật đầu tiên của Nga [40]

A.Hensen (1920) dựa trên khu hệ thực vật đã phân chia hệ thực vật thế giới theo các vành đai vĩ độ và độ cao (8 vành đai) Các vành đai đó đặc trưng cho các vùng nhiệt độ khác nhau, với các thảm thực vật khác nhau gọi là vành đai khí hậu [11]

Dựa vào vĩ độ địa lý, độ cao so với mặt nước biển và độ lục địa Meusel (1943) đã có những nghiên cứu phân chia hệ thực vật thành các vành đai khác nhau (4 vành đai)

Poronov (1955) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thực vật với động vật của các vành đai tự nhiên đã phân chia ra thành 3 vùng: Vùng rừng, vùng Tunđra (đài nguyên cực Bắc) và vùng thảo nguyên [33]

Schimithusen (1959) đã phân biệt các vùng thực vật theo quần xã ưu thế, chủ đạo và ổn định Ông đã phân biệt được các đơn vị không gian tự nhiên nhỏ nhất của thảm thực vật, đó là “các tiểu khu thực vật” (Wuchsdistrikte), các tiểu khu này họp thành các đơn vị lớn hơn: Khu, vùng, miền, khu hệ [28]

A.G Voronov (1976), trên cơ sở tổng hợp những kết quả nghiên cứu trước đó đã phân chia thành 6 miền thực vật trên lục địa: Cổ nhiệt đới (Palaeotropic), Toàn Bắc (Holarctic), Tân nhiệt đới (neotropic), Capsk, Châu

Úc (Australia), Châu Nam Cực (Antarctic) Trong đó miền Toàn Bắc phân

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thành 9 phân miền (Âu Châu - Xibia, Actic, Trung Hoa - Nhật Bản, Pông tích - Trung Á - Địa Trung Hải, Bắc Mỹ - Thái Bình Dương), miền cổ nhiệt đới được chia thành 3 phân miền (Châu Phi - Ấn Độ, Mã Lai, Tân Tây Lan), miền Tân nhiệt đới được chia thành 3 phân miền ( Trung Mỹ, nhiệt đới, Angđơ) [40]

Olson (1983) trong bảng phân vùng sinh thái được nhiều người công nhận ông dung khái niệm biomes Theo ông biomes là một vùng rộng lớn trên trái đất,

nó được phân biệt với nhau bởi khí hậu và sinh vật Trong bảng phân loại các biomes ông chia ra 4 dạng: Các biomes trên đất liền gồm 10 kiểu lớn, các biomes nước ngọt gồm 8 kiểu, các biomes nước mặn gồm 8 kiểu, các biomes nhân tạo gồm 3 kiểu [44] Phần biomes trên đất liền (Tirrestialbiomes) ông chia ra các kiểu sau: Tundra (lãnh nguyên), Temperate deciduous forest, Boreal coniferous forest (rừng lá kim phương Bắc hoặc rừng Taiga), Tropical grassland and savanna (thảm cỏ nhiệt đới và savan), Temperate rainforest (rừng mưa ôn đới), Temperate grassland (thảm cỏ ôn đới), Chaparal (dạng thảo nguyên), Semi - evergreen tropical forest (rừng mưa mùa nhiệt đới), Desert (hoang mạc), Evergreen tropical rainforest (rừng mưa nhiệt đới)

Về sự phân bố cây trồng, theo Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Ngọc Lân (1980), cây trồng được phân bố ở 10 trung tâm trên thế giới trong đó có 6 trung tâm nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới ( Trung Mỹ, Nam Mỹ, Êtiopi, Tây Xu - đăng,

Ấn Độ, Đông Nam Á); 2 trung tâm nằm trong vành đai cận nhiệt đới (Địa Trung Hải, Tiền Á) và 2 trung tâm nằm ở vành đai cận nhiệt, có một phần lan sang cả vùng ôn đới (Trung Quốc và Trung Á) [14]

Các công trình nghiên cứu về phân vùng sinh thái thảm thực vật ở Việt Nam còn rất ít Maurand P (1943) khi nghiên cứu thảm thực vật ở Đông Dương đã chia thảm thực vật này thành 3 vùng: Vùng Nam Đông Dương, vùng Bắc Đông Dương và vùng trung gian [43]

Trần Ngũ Phương (1970), khi nghiên cứu phân loại rừng miền Bắc Việt Nam

đã chia rừng miền Bắc thành 3 đai lớn theo độ cao phân bố: Đai rừng nhiệt đới mùa mưa, rừng á nhiệt đới mưa mùa và rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [27]

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo phân hóa độ cao so với mặt biển, Thái Văn Trừng (1978) đã phân chia thảm thực vật thành hai nhóm kiểu chính: Nhóm các kiểu thảm thực vật nhiệt đới ở vùng thấp và vùng có độ cao trung bình dưới 700m (ở miền Bắc), nhỏ hơn 100m (ở miền Nam); nhóm các kiểu thảm thực vật ở vùng núi có độ cao lớn hơn 700m (miền Bắc) và lớn hơn 1000m (ở miền Nam) [39]

Dương Hữu Thời (1981), khi nghiên cứu về thảm cỏ Bắc Việt Nam, ông chia Bắc Việt Nam thành 5 vùng tự nhiên với sự phân bố các loài: vùng Bắc Trung Bộ, vùng Trung Bộ, Vùng Đông Bắc, vùng Việt Bắc, vùng Tây Bắc [32]

Lê Trần Chấn, Nguyễn Hữu Trí, Huỳnh Nhung (1994) trên cơ sở những hiểu biết về điều kiện tự nhiên và sự phân hóa về thành phần loài của hệ thực vật, phân chia ra các vùng sinh thái thực vật sau: Vùng núi Đông Bắc, vùng núi Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, vùng núi Tây Bắc, Vùng Đông Bắc Bộ, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Bình Trị Thiên, Vùng Trung Trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng đồng bằng Nam Bộ [4]

Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), nghiên cứu các kiểu khu phân bố địa lý thực vật của các chi thực vật có hoa ở Việt Nam Ông cho rằng điều kiện địa hình, địa chất và khí hậu quyết định cấu trúc hệ thực vật đó và ở mỗi vùng địa lý của Việt Nam được đặc trưng bởi một số yếu tố địa lý nhất định Đó là kết quả của

sự biến đổi về địa chất, địa lý, khí hậu và đã tạo ra 4 vùng hệ thực vật chính: Khu Đông Bắc Bộ và Đông Bắc Trường Sơn, khu Tây Bắc và dãy Trường Sơn; khu Đông Nam Trường Sơn được chia thành hai phân khu (phân khu 1 và phân khu 2); khu Tây Nguyên và Nam Bộ được chia thành 2 phân khu (Tây Nguyên

và Nam Bộ) [22]

Hoàng Chung (2004) khi nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam

đã chia đồng cỏ Bắc Việt Nam thành hai vùng: Vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc, mỗi vùng có một tổ hợp quần hệ, quần hợp khác nhau [7]

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.3 Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên

1.3.1 Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới

Đồng cỏ Việt Nam phân bố rải rác ở khắp nơi nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là trên các đồi núi và cao nguyên của trung du và miền núi (chiếm tới 10 triệu ha) Những khu vực có đồng cỏ tự nhiên với diện tích lớn không nhiều lắm, đại diện là các đồng cỏ Mộc Châu và Mai Sơn (Sơn La), Lai Châu, đồng

cỏ Ngân Sơn (Bắc Kạn), Lạng Sơn và một số đồng cỏ thuộc vùng Tây Nguyên Các đồng cỏ khác thường có diện tích nhỏ từ vài chục đến vài trăm ha Các đồng cỏ thường xuất hiện trên đất xấu, cây quán mộc nhiều, những khu vực này dùng từ bãi chăn có lẽ chính xác hơn

Nguồn gốc của đồng cỏ là không đồng nhất, có nhiều loại hình đồng cỏ được hình thành bằng con đường tự nhiên nhưng cũng có những đồng cỏ được hình thành do hoạt động của con người trên vùng đất rừng, thảo nguyên hay đầm lầy… làm thay đổi điều kiện môi trường và hình thành ra đồng cỏ [5]

Nguồn gốc của đồng cỏ trong đai nhiệt đới giữa các tác giả có các ý kiến khác nhau Đa số cho rằng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới không có đồng cỏ tồn tại, các quần xã cỏ ở đây là loại hình savan [7]

Khi nghiên cứu về nguồn gốc thứ sinh của các thảm cỏ trong vùng nhiệt đới khác nhau, các tác giả đã đi đến kết luận rằng: Các đồng cỏ và cây bụi trong vùng nhiệt đới đều được hình thành trên những quần xã rừng bị chặt hạ Con người khi chặt phá rừng và đốt nương làm rẫy đã làm đất bị cháy và khô đi, những tác động này được kết thúc vào cuối mùa khô Đầu mùa mưa ở đây sẽ được gieo trồng các loại cây trồng nông nghiệp Trải qua nhiều lần như vậy đất

sẽ bị bỏ hoang, trên đó lại phục hồi dần rừng thứ sinh và lại tiếp tục bị chặt hạ để trồng trọt Kết quả dẫn đến rửa trôi mạnh lớp đất mặt, cây gỗ không còn điều kiện tái sinh nữa, hình thành nên lớp cỏ hay còn lẫn một số loài cây thảo và cây bụi hạn sinh Về ngoại mạo nó gần giống với thảo nguyên vùng ôn đới Vì nguồn

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

gốc thứ sinh như thế nên đồng cỏ phân bố rải rác ở các vành đai khác nhau, tồn tại dạng đồng cỏ thấp hay cao tùy thuộc vào mức độ sử dụng của con người

Đối với vùng núi Bắc Việt Nam tồn tại nhiều kiểu hình savan, đồng cỏ

và các dạng trung gian Trong đai nhiệt đới, trên những vùng đã bị chặt phá khi

mà đất còn khá tốt, độ ẩm còn khá cao thì sẽ hình thành ở đây loại hình đồng cỏ

vì thảm cỏ ở đây gồm các cây cỏ có thân rễ dài, búi thưa thuộc nhóm trung sinh sống lâu năm ngừng sinh trưởng vào mùa đông Trong quá trình tác động tiếp theo con người sẽ làm cho lớp đất bề mặt bị bào mòn, khả năng giữ nước của đất kém, đất có độ chua cao, trong thảm cỏ tỷ lệ cây hạn sinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở đây các loài cỏ, cây bụi hạn sinh, cây đoản mệnh, hình thành savan cỏ, savan cây bụi và thảm cây bụi hạn sinh Có thể tóm tắt quá trình trên như sau: Rừng nguyên sinh - rừng thứ sinh - đồng cỏ - savan cỏ hay savan bụi - thảm cây bụi hạn sinh [7]

1.3.2 Những nghiên cứu về thành phần loài

Những tài liệu nghiên cứu về thành phần loài của các quần xã cỏ vùng Đông Nam Á còn rất hạn chế Kết quả nghiên cứu thành phần loài thực vật đồng cỏ Bắc Việt Nam còn đơn lẻ và chưa thật đầy đủ

Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam của Dương Hữu Thời (1981) đã công bố 213 loài của 5 vùng thuộc Bắc Việt Nam [32]

Hoàng Chung (1980) nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của đồng

cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài thuộc 54 họ và 44 chi [5] Trong cuốn “Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam” năm

2004 là 79 họ, 402 loài [7]

Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của Savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ với 131 loài thực vật khác nhau [18]

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1997) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của savan bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau [3]

Ma Thế Quyên (2000) nghiên cứu về động thái đồng cỏ trong mối quan

hệ với hình thức sử dụng của người dân địa phương (Ngân Sơn - Bắc Kạn) Sưu tầm được 88 loài thuộc 35 họ [28]

Lục Thị Nghi, Hoàng Chung (2003), nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Chi Lăng - Lạng Sơn điều tra được 83 loài thuộc 33 họ

Vũ Văn Thường, Hoàng Chung (2004), nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Móng Cái - Quảng Ninh đã điều tra được 98 loài thuộc 44 họ

Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả: Lê Sinh Tăng, Nguyễn Chính (1959); Nguyễn Quang Ngọ, Lê Sinh Tăng (1964, 1969); Trịnh Văn Thịnh và các tác giả (1974); Nguyễn Đăng Khôi (1978, 1979, 1981); Võ Duy Giảng (1983)…

1.3.3 Những nghiên cứu về dạng sống

Humbon (1805) là người đầu tiên đặt cơ sở cho môn địa lý thực vật đề nghị phân loại thực vật theo hình dạng bên ngoài và đã xác định được 19 dạng thực vật như Hòa thảo, Dương xỉ, Dây leo… Sau Humbon kiểu phân loại như vậy được hàng loạt các nhà nghiên cứu tiến hành Cùng với thời gian đó, người

ta đã không chỉ dùng dấu hiệu bên ngoài mà cả tổ chức cơ thể thực vật để phân loại Từ đó đã hình thành khái niệm dạng sống của cơ thể thực vật Người đầu tiên đề cập đến khái niệm này là Warming (1901) Ông sử dụng các đặc điểm sinh vật học như: Đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo dài đời sống, sự phát triển… để nghiên cứu và phân chia dạng sống của thực vật thuộc thảo thuộc vùng ôn đới

Drude (1913), Raunkiner (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã sử dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn

để phân chia [7] I.K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 5 nhóm: Thực

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vật thường xanh, thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi, thực vật có thời kỳ sinh trưởng phát triển ngắn, thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm Braun Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài chia thành 5 thang: Mọc lẻ, mọc thành vạt, mọc thành dải nhỏ, mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn

Đối với cây thuộc thảo phân loại dạng sống được Cannon thực hiện (1911), ở Liên Xô (cũ) có G.N Vưsoxki (1915), L.T Kadakevich (1922), V.r Villiams (1922)… Đặc biệt trong phân loại dạng sống thực vật của T.Isatrenko (1954), I.V Brixova (1960, 1961)… đã sử dụng những đặc điểm cấu trúc phần dưới đất Dodulin (1959), Xêbêbriacôp cũng đã đưa ra một số hệ thống tương

tự Nhưng dạng sống hoàn thiện hơn cả cho Hòa thảo có lẽ là của Gôlubép (1957, 1962, 1968) [7]

Ở Việt Nam có Doãn Ngọc Chất (1969) có nghiên cứu dạng sống của một số loài họ Hòa thảo Hoàng Chung và các cộng sự (2002) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ, savan, thảo nguyên của miền Bắc Việt Nam Bảng phân loại dạng sống của đồng cỏ Bắc Việt Nam của ông dựa trên nguyên tắc phân loại của Gôlubép (1962, 1968) [7]

% loài trong tổng số loài chung của vùng Tây Bắc

1 Kiểu 1: Cây gỗ 8.8 6.2

2 Kiểu 2: Cây bụi 9.3 9.3

3 Kiểu 3: Cây bụi thân bò 2.3 3.1

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4 Kiểu 4: Cây bụi nhỏ 10.6 9.3

5 Kiểu 5: Cây bụi nhỏ thân bò 0.9 2

6 Kiểu 6: Cây nửa bụi 4.6 4.2

7 Kiểu 7: Cây thảo lâu năm có hệ rễ cái 4.2 4.2

8 Kiểu 8: Cây có chồi mọc từ rễ 0.9 1

9 Kiểu 9: Cây thảo sống lâu năm có hệ rễ cái có thân rễ ngắn 0.9 0

10 Kiểu 10: Cây thảo có hệ rễ chùm, sống lâu năm 14.4 14.7

11 Kiểu 11: Cây thảo có hệ rễ chùm, sống lâu năm, có thân bò 2.3 4.2

12 Kiểu 12: Cây thảo mọc thành búi thưa, sống lâu năm 15.7 12.4

13 Kiểu 13: Cây thảo mọc thành búi dày, sống lâu năm 4.2 7.3

14 Kiểu 14: Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài 4.2 5.2

15 Kiểu 15: Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài và thân bò 5.1 7.3

16 Kiểu 16: Cây thảo một năm có rễ cái 6.5 5.2

17 Kiểu 17: Cây thảo một năm có hệ rễ cái, có thân bò 0.4 0

18 Kiểu 18: Cây thảo một năm có hệ rễ chùm 4.2 2

Tổng số

1.3.4 Những nghiên cứu về năng suất

Năng suất sinh học là một đặc điểm quan trọng của hệ sinh thái Năng suất sinh học có ý nghĩa lớn nhất trong nghiên cứu về quy trình trao đổi chất và năng lượng Tất cả các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái đều có quan hệ mật thiết với quá trình tạo thành và biến đổi của sản phẩm sinh học Thông qua việc nghiên cứu năng suất đồng cỏ để tính sản lượng

cỏ cung cấp trong năm trên đơn vị diện tích của một vùng đất nhất định, từ đó

có kế hoạch phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc theo các hướng khác nhau

Cuối thế kỷ XX những công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu phần trên mặt đất hoặc là số lượng các chất hữu cơ ở trạng thái sống và chết, sự tăng trưởng của nó, phần chết hàng năm, thảm mục… Nghiên

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cứu năng suất sinh học của các thảm cỏ vùng Đông Nam Á có Ogawa và cộng

sự (1961), Iwaki và cộng sự (1964, 1969), Iwaki (1979) Riêng nghiên cứu cả phần dưới mặt đất của đồng cỏ thì có tác giả: Baranopskaia (1954), Krưm (1960), Xemnop (1966), Kharitonop (1967), Gawood (1968) [7]

Ở Việt Nam từ năm 1960 đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu

về năng suất cỏ được tiến hành trong các quần xã cỏ trồng (chăn thả hay đồng

cỏ cắt) Những nghiên cứu trên đồng cỏ tự nhiên này chỉ tập trung ở một số cây

có giá trị kinh tế cao như các tác giả: Dương Hữu Thời (1981), Nguyễn Đăng Khôi, Nguyễn Hữu Hiến (1985)

Hoàng Chung (1981, 2002, 2004), Hoàng Chung và cộng sự (2003) nghiên cứu năng suất các quần xã vùng núi Bắc Việt Nam đã nghiên cứu cả phần trên mặt đất và phần dưới mặt đất Từ những nghiên cứu đó ông đã rút ra

kết luận: “Trong các thảm thuộc thảo (savan - đồng cỏ) của miền Bắc Việt Nam, năng suất sinh học tăng lên dần theo trình tự: Đồng cỏ á thảo nguyên - savan - đồng cỏ”

1.4 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả và vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam

1.4.1 Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả

Hiện nay trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thoái hóa đồng cỏ do chăn thả cũng như thảo nguyên của các vùng khác nhau Ở Liên Bang Nga đã tích lũy khá nhiều tư liệu của đới thảo nguyên và bán sa mạc G.I Vưsoxki (1915) đã xác định 4 giai đoạn thoái hóa của thực bì thảo nguyên dưới tác động chăn thả Patrôtxki (1917) nghiên cứu đới Nam của thảo nguyên Stipa longifolia, ông phân chia một số giai đoạn thoái hóa khác nhau

Nó bao gồm cả giai đoạn chăn thả và không chăn thả được

V.V Alekhin (1934) nghiên cứu ở vùng thuộc đới phụ Kursk thuộc đới phụ (phía bắc) của thảo nguyên đồng cỏ đã được các giai đoạn thoái hóa do chăn thả ở đây như sau: “Khi chăn thả nặng nề thì stipa sẽ mất đi và thành phần

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hệ thực vật trở nên nghèo nàn hơn đồng thời rất nhiều loài có số lượng cá thể không nhiều thường đơn độc rồi cũng mất dần đi, bắt đầu trội hẳn lên là Bromus Sau nữa còn lại chủ yếu là cây thuộc thảo và trên thảo nguyên phát triển mạnh ở tầng trên là cây Bromus riparius, tầng thấp là Festuce đồng thời trong vùng đó biểu hiện hai tầng rất rõ ràng; Bromus - Festuce; cuối cùng chỉ còn lại Festuca, những sự chèn ép sau này của thảm cỏ qua hàng loạt những trạng thái nhỏ nhặt sẽ dẫn đến sự phân bố rộng rãi của bào tử thực vật trên thảo nguyên” [7]

B.D.Andreev (1958) khi nghiên cứu các giai đoạn hình thành và thoái hóa của thực bì thảo nguyên ở Nam Nga đã chia ra làm 8 giai đoạn: Giai đoạn đầu là sự chặt hạ và cuối cùng là sự hình thành thảm bào tử thực vật

A.V Abramtruk, P.L Gortriakopski (1980) khi đánh giá mức độ thoái hóa của các quần xã cỏ do tác động của con người Ông đã đề ra bảng thang bậc riêng gồm có 3 mức, sự khác nhau giữa các mức là phụ thuộc vào mức độ thoái hóa do con người tạo ra (1 - ít, 2 - trung bình, 3 - nhiều)

Sự biến đổi các thảm thực vật (đồng cỏ) dưới tác động của yếu tố do con người tạo ra ở vùng nhiệt đới đã từ lâu trở thành vấn đề nóng bỏng cho nền kinh tế và cho chăn nuôi ở xứ nhiệt đới Nhưng những nghiên cứu về vấn đề này cho đến nay vẫn còn ít: Cooper I.P, Taiton N.M và Pleming G (1968); Dương Hữu Thời (1981); Hoàng Chung (1981, 1983)…

Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam là loại hình đồng cỏ thứ sinh Đặc biệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới đồng thời đồng cỏ ở đây phân bố chủ yếu ở vùng núi, các sườn đồi có độ dốc khá lớn (15 - 40 độ) Vì vậy vấn đề thoái hóa của đồng cỏ do chăn thả là một trong những vấn đề nan giải hiện nay của các đồng cỏ Bắc Việt Nam

Những nghiên cứu về thoái hóa đồng cỏ do chăn thả ở Việt Nam hiện nay đã được Dương Hữu Thời (1981) đề cập trong cuốn “Đồng cỏ Bắc Việt Nam” khi phân tích thành phần loài và các điều kiện sinh thái trong đồng cỏ đã

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đề cập đến hai nguyên nhân thoái hóa đồng cỏ Bắc Việt Nam là do cường độ chăn thả và điều kiện khí hậu

Hoàng Chung (1981, 1983, 2003) sau hơn 10 năm nghiên cứu tại đồng

cỏ tại vùng Thôm Luông (Ngân Sơn) đã phân tích ảnh hưởng của sự chăn thả không có kế hoạch trên sự thay đổi thành phần loài, cấu trúc và năng suất của thảm cỏ và đã đưa ra kết luận về thoái hóa đồng cỏ ở Bắc Việt Nam như sau:

“Những thay đổi đầu tiên của lớp phủ thực vật đã dẫn đến sự hình thành các quần xã cỏ ở đây, những thảm cỏ này dưới tác động thường xuyên nhưng không thật nặng nề của con người như chăn thả, đốt nương rẫy sẽ dẫn đến sự hình thành đồng cỏ khô, á thảo nguyên và đồng cỏ Khi chăn thả nặng nề hơn

sẽ dẫn đến sự thay đổi phức tạp thành phần loài ở từng quần xã, đó là sự thay đổi các loài đang mọc bằng những loài từ ngoài đi vào, loài bản địa bị thay thế bởi loài phổ biến rộng rãi, đồng thời đơn giản hóa cấu trúc quần xã, giảm bớt khoảng không phân bố của lớp phủ thực vật, giảm năng suất của nó” Trên cơ

sở đó đã chia quá trình thoái hóa đồng cỏ do sự sử dụng thành 5 giai đoạn: Bắt đầu từ trạng thái đồng cỏ đến giai đoạn hình thành savan cây bụi [7]

1.4.2 Những nghiên cứu về sử dụng hợp lý đồng cỏ miền Bắc Việt Nam

Đồng cỏ phía Bắc Việt Nam chủ yếu là có nguồn gốc thứ sinh do hoạt động khai phá rừng mà thành nên diện tích đồng cỏ được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như làm bãi chăn thả, trồng cây lương thực, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, trồng rừng…

Trên thực tế hiện nay, tại các vùng có sử dụng đồng cỏ vào mục đích chăn nuôi hầu như chưa có phương thức sử dụng hợp lý, khai thác một cách cạn kiệt làm cho thảm cỏ ngày càng thoái hóa mạnh Cho đến nay những nghiên cứu về sử dụng đồng cỏ vẫn còn mới mẻ, tài liệu còn ít

Những công trình nghiên cứu về sử dụng hợp lý đồng cỏ rải rác ở một số công trình như:

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Nguyễn Vũ Hùng, Bùi Văn Minh (1968) có nghiên cứu và sử dụng luân phiên đồng cỏ ở Ba Vì và đề nghị chia thành 6 ô và mùa hè sử dụng 5 ô Trong một đàn gia súc số lượng nên là 100 - 150 con, diện tích đồng cỏ 50 - 80 ha

Võ Văn Trị (1983) đã chia đồng cỏ trồng ra làm những ô nhỏ, sự luân phiên mùa hè theo ông có khoảng cách 40 - 50 ngày, mùa đông là 60 ngày

Dương Hữu Thời (1981) có đề cập đến một số vấn đề sử dụng hợp lý như: Luân phiên đồng cỏ, trồng cỏ, diệt trừ cây bụi [32]

Hoàng Chung (1988) nghiên cứu về vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ Bắc Việt Nam Trên cơ sở tương đối đầy đủ những tư liệu về đồng cỏ vùng này ông

đã chia đồng cỏ Bắc Việt Nam thành 3 hệ thống (3 loại theo độ dốc): Loại 1: đồng cỏ có độ dốc sườn dao động từ 0 - 7 độ; loại 2: đồng cỏ có độ dốc sườn dao động từ 7 - 25 độ; loại 3: đồng cỏ có độ dốc sườn dao động từ 25 - 30 độ trở lên Từ việc phân chia này ông đã đề xuất các biện pháp sử dụng hợp lý đồng cỏ ở từng nhóm Vấn đề cải tạo đồng cỏ Bắc Việt Nam ông đã đề cập đến hai vấn đề lớn: Cải tạo môi trường sống, cải tạo lớp đất mặt Qua những nghiên cứu trên ông đã đề xuất một số ý kiến về vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ của vùng núi Bắc Việt Nam

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên của xã Nham Sơn

2.1.1 Vị trí địa lý của huyện Yên Dũng

Yên Dũng là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 16 km, cách thành phố Hà Nội 60 km theo quốc lộ 1A và được bao bọc bởi ba con sông là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Huyện có diện tích tự nhiên là 19042 km2

bao gồm 19 xã và 2 thị trấn Phía Bắc giáp với thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang; phía Đông giáp với huyện Lục Nam; phía Nam giáp với huyện Quế Võ (Bắc Ninh), huyện Chí Linh (Hải Dương); phía Tây giáp với huyện Việt Yên

2.1.2 Vị trí địa lý của xã Nham Sơn

Xã Nham sơn nằm ở khu ba tổng của huyện Yên dũng, cách trung tâm huyện 2km, cách thành phố Bắc Giang 14km, có ranh giới hành chính như sau:

Phía Đông giáp với thị trấn Neo và xã Tư Mại

Phía Bắc giáp với xã Tân Liễu

Phía Tây giáp với xã Yên Lư

Phía Nam giáp với xã Thắng Cương và sông Cầu

Là xã có dãy núi Nham Biền và có trục đường tỉnh 398 đi qua nên tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Dũng

Hình 2.2 Bản đồ hành chính xã Nham Sơn

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.1.3 Địa hình, địa mạo

Địa hình thấp dần theo hướng từ Bắc sang Nam Phía Bắc của xã là dãy Nham Biền, sườn núi có độ dốc khá lớn thích hợp trồng các loại cây lấy gỗ và cây ăn quả Các phần còn lại có địa hình khá bằng phẳng, độ chênh cao không đáng kể thuận lợi cho việc trồng lúa và các cây công nghiệp ngắn ngày Tuy nhiên địa hình đồng ruộng của xã cũng khá phức tạp, hệ thống bờ vùng, bờ thửa cũng chưa thật hoàn chỉnh vì thế dễ bị mất nước gây hạn cục bộ ở nơi địa hình cao, còn ở địa hình thấp bị ngập úng cục bộ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng

2.1.4 Khí hậu

Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 4 mùa: Xuân,

Hạ, Thu, Đông Mùa hè nắng nóng và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô hanh

* Chế độ nhiệt: Theo số liệu thống kê nhiệt độ trung bình qua các năm thì nhiệt độ trung bình của xã là 23,10C, trong đó tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình 28,90C, thấp nhất là tháng giêng trung bình 12,70C Biên độ dao động nhiệt độ tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 16,20

C Nhiệt độ cao tuyệt đối ghi được ở vùng này là 40,20C (tháng 6), thấp tuyệt đối

là 5,820C (tháng 1)

* Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.680mm Mùa mưa tập trung từ tháng 6 đên tháng 9, lượng mưa chiếm 75% tổng lượng mưa cả năm, có những khi cường độ mưa lớn 200 - 300mm/ngày, cá biệt lên tới 713,5mm Tháng 12 có lượng mưa thấp nhất là 19,6mm Các tháng còn lại lượng mưa nhỏ khoảng 15 - 20% tổng lượng mưa cả năm Riêng tháng 12 và tháng 1 lượng mưa thường nhỏ hơn lượng bốc hơi

* Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82% Từ tháng 4 đến tháng 9 độ ẩm cao Vào tháng 8 độ ẩm cao nhất có thể đạt 92%, nhưng từ tháng

12 năm trước đến tháng 1 năm sau độ ẩm thấp chỉ đạt 60% thời tiết khô hanh,

độ ẩm thấp, độ bốc hơi cao thường xuất hiện hay gặp hạn

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

* Số giờ nắng: Số giờ nắng trung bình cả năm là 1744 giờ, chỉ số này thuộc nhóm tương đối cao, điều này rất thuận lợi để xã thực hiện canh tác 3 vụ/năm

* Gió: Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam Gió mùa Đông Băc thổi từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau mang theo không khí lạnh Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10 mang theo không khí nóng Ở các tháng 4, tháng 5, tháng 6 xuất hiện gió Tây Nam khô nóng song ảnh hưởng không nhiều đến sản xuất nông nghiệp

Tóm lại: Với nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng dồi dào, khí hậu tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp với nhiều loại cây trồng và vật nuôi Tuy nhiên hạn chế cơ bản là lượng mưa phân bố theo mùa gây khô hạn vào mùa đông, thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, làm giảm khả năng thâm canh tăng vụ Do đó cần phải giải quyết tốt khâu thủy lợi và biện pháp thủy nông

2.1.5 Các nguồn tài nguyên

* Tài nguyên đất:

Theo thống kê điều tra, xã Nham Sơn có diện tích tự nhiên là 1098,34 ha trong đó đất nông nghiệp là 792,45 ha chiếm 72,15%, đất trồng lúa là 448,75 ha chiếm 40,86% tổng diện tích đất tự nhiên Cơ cấu đất đai của xã được trình bày qua bảng (2.1)

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai của xã Tân Hương

(ha)

Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Số liệu thống kê của UBND xã Nham Sơn)

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng toàn xã có các loại đất chính sau:

- Đất đồi núi (thuộc dãy Nham Biền) đã bị rửa trôi nặng, bạc màu, nghèo dinh dưỡng, loại này chiếm 1/3 tổng diện tích đất tự nhiên của xã

- Đất bạc màu trên phù sa cổ, loại này chiếm phần lớn diện tích đất của

xã với tính chất nghèo dinh dưỡng, pHKCL từ 4 - 6, khá thích hợp cho việc trồng lúa, lạc, đậu tương và cây trồng ngắn ngày khác

- Đất dốc tụ tại các chân núi và thung lũng có nguồn gốc feralit, với tính chất giàu dinh dưỡng, pHKCL từ 5 - 7 khá thích hợp cho việc trồng cây ăn quả

và cây ngắn ngày khác [1]

* Tài nguyên nước:

- Nguồn nước mặt: Chủ yếu lấy từ sông Cầu qua các trạm bơm và các kênh mương để phục vụ sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có hệ thống ao hồ nằm rải rác trên địa bàn xã

- Nguồn nước ngầm: Tầng khá nông, dễ khai thác, chất lượng tốt chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt và một phần sản xuất

* Tài nguyên nhân văn: Theo số liệu thống kê trên địa bàn xã năm 2012 dân số xã Nham Sơn là 5.695 người và 1.510 hộ

2.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Nham Sơn

2.2.1 Tình hình phát triển các ngành kinh tế

- Ngành trồng trọt: Trong những năm 2009 - 2010 nhân dân trong xã đã tiến hành trồng các loại cây màu có hiệu quả cao, tăng diện tích cấy lúa 2 vụ bằng những giống lúa thuần, lúa lai có năng suất cao, đặc biệt là vụ chiêm xuân

2010 đã có 100% diện tích cấy lúa thuần và lúa lai, năng suất đạt trên 55 tạ/ha, sản lượng lương thực đạt trên 3.540 tấn

- Ngành chăn nuôi: Trong những năm qua giá cả thị trường có nhiều biến động, đầu tư vào thức ăn chăn nuôi liên tục tăng, dịch cúm gia cầm và các loại dịch bệnh khác diễn biến phức tạp nhưng tình hình chăn nuôi của xã vẫn giữ được thế ổn định Trong xã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi trang trại có

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hiệu quả Nhiều hộ đầu tư chăn nuôi gia súc, gia cầm từ hàng trăm đến hàng nghìn con, đạt thu nhập từ chăn nuôi lên tới 20 - 30 triệu đồng/năm Năm 2010 đàn trâu bò có 882 con, đàn lợn 7815 con, đàn gia cầm 50.000 con Thu nhập từ chăn nuôi đạt 9,5 tỷ đồng

- Về lâm nghiệp, vườn đồi: Năm 2010 đã trồng mới 189 ha rừng và gần 40.000 cây phân tán chủ yếu là thông, bạch đàn, keo Kinh tế vườn rừng chưa thực sự đạt hiệu quả kinh tế cao, tổng thu nhập từ vườn rừng mới chỉ đạt 2 tỷ đồng

2.2.2 Lao động, việc làm

Nham Sơn có một lực lượng lao động sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp khá lớn Số người trong độ tuổi lao động là 1.429 người chiếm 25,09% tổng số người trong toàn xã Phần lớn lực lượng lao động đang làm trong lĩnh vực nông nghiệp, còn lại một số bộ phận lao động đang làm ở một số ngành nghề tại địa phương như nghề cơ khí nhỏ, làm mộc, xây dựng… Một bộ phận khác là các hộ kinh doanh, làm nghề tại gia đình Nhìn chung lực lượng lao động của xã chưa được đào tạo cơ bản, chỉ làm việc theo kinh nghiệm kiểu truyền thống

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

CHƯƠNG III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng một số thảm cỏ và mức độ khai thác hiện nay trong xã Nham Sơn Đó là:

Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 7/2013 đến tháng 5/2014

Về không gian: Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang với mục đích là đánh giá thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ phục vụ cho chăn nuôi đại gia súc

3.2 Nội dung nghiên cứu

Điều tra về khí hậu, thủy văn, đất đai, các kiểu thảm thực vật Từ đó phân chia ra các tiểu vùng sinh thái

Ở tất cả các điểm nghiên cứu, chúng tôi tiến hành điều tra về thành phần loài, dạng sống, năng suất của một số thảm cỏ Đánh giá thực trạng và xu hướng biến đổi của các loài thực vật trong thảm cỏ Từ đó đề xuất phương hướng sử dụng thảm cỏ một cách hợp lý

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Theo yêu cầu nghiên cứu của đề tài chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.3.1 Điều tra cơ bản vùng nghiên cứu qua số liệu thứ cấp tại địa phương

Thu thập số liệu vùng nghiên cứu từ các cơ quan chức năng của xã Nham Sơn và huyện Yên Dũng về: Dân số, đất đai, khí hậu, thủy văn, mùa vụ, các kiểu thảm thực vật và tình hình chăn nuôi gia súc

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên

3.3.2.1 Lập tuyến điều tra

Chúng tôi phân chia vùng nghiên cứu ra làm nhiều điểm căn cứ vào địa hình, đất đai, thảm thực vật, mức độ sử dụng khác nhau để xác định các sinh cảnh chính cần giám sát, đánh giá và thu mẫu thực vật theo tuyến đi Lập 2 tuyến đi cắt qua các sinh cảnh đó là:

Tuyến 1: Hướng Tây Bắc từ thôn Minh Phượng - Kem đi qua thảm cỏ dưới tán rừng trồng keo, thảm cỏ ven suối, thảm cỏ trên đồi

Tuyến 2: Hướng Đông Nam từ thôn Minh Phượng - Đông Hương đi qua thảm cỏ dưới tán rừng trồng Keo, thảm cỏ trên đồi, thảm cỏ ven sông, thảm cỏ bãi bằng chân đê

3.3.2.2 Điều tra nghiên cứu theo ô tiêu chuẩn

Ngoài nghiên cứu trên tuyến đi, chúng tôi còn tiến hành lập các ô tiêu chuẩn để thống kê thành phần loài, đánh giá về độ đầy của loài trong quần xã, nghiên cứu về năng suất của thảm thực vật, quan sát và ghi chép các loài thực vật

Ô tiêu chuẩn được bố trí theo tuyến điều tra trên các địa hình khác nhau

và hiện trạng thảm thực vật, với diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 1m2 Tại mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành thống kê thành phần loài, dạng sống và cắt toàn bộ cỏ trong ô để tính năng suất theo phương pháp của Hoàng Chung (2008) [9] Chúng tôi chỉ lập các ô tiêu chuẩn tại các vùng có địa hình và thảm thực vật đặc trưng, mỗi kiểu thảm làm 3 ô tiêu chuẩn

Ngày đăng: 02/11/2014, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các học thực vật hạt kín ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các học thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
3. Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (199 ), Nghiên cứu cấu trúc một số mô hình phục hồi rừng trên savan cây bụi ở Bắc Thái, Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Thái Nguyên, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc một số mô hình phục hồi rừng trên savan cây bụi ở Bắc Thái
4. Lê Trần Chấn, Nguyễn Hữu Trí, Huỳnh Nhung (1994), “Thành lập bản đồ phân bố một số nhóm cây có ích, tỷ lệ 1/1000.000 và đánh giá tiềm năng hệ thực vật Việt Nam”, Các công trình nghiên cứu địa lý, tr.247 – 258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Thành lập bản đồ phân bố một số nhóm cây có ích, tỷ lệ 1/1000.000 và đánh giá tiềm năng hệ thực vật Việt Nam”
Tác giả: Lê Trần Chấn, Nguyễn Hữu Trí, Huỳnh Nhung
Năm: 1994
5. Hoàng Chung (1980), Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam, Công trình nghiên cứu khoa học – Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chung
Năm: 1980
6. Hoàng Chung (2002), Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam, Công trình nghiên cứu khoa học – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chung
Năm: 2002
7. Hoàng Chung (2004), Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
8. Hoàng Chung (2006), Tập bài giảng đồng cỏ học, Tài liệu nội bộ Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng đồng cỏ học
Tác giả: Hoàng Chung
Năm: 2006
9. Hoàng Chung (2008), Các phương pháp nghiên cứu Quần xã Thực vật, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu Quần xã Thực vật
Tác giả: Hoàng Chung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Hoàng Chung và cộng sự (2003), Sự thoái hóa trong quá trình sử dụng đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam, Hội nghị những vấn đề cơ bản trong khoa học sự sống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thoái hóa trong quá trình sử dụng đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Chung và cộng sự
Năm: 2003
11. Vũ Văn Chuyên, Lê Trần Chấn, Trần Hợp (1987), Địa lý các họ cây Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các họ cây Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Chuyên, Lê Trần Chấn, Trần Hợp
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1987
12. Phan Củng (1999), Giáo trình sử dụng đất, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sử dụng đất
Tác giả: Phan Củng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
13. V. Davies (1960), Quá trình phát triển của kỹ thuật nghiên cứu đồng cỏ, Đồng cỏ nhiệt đới, Tập 1, Nxb khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển của kỹ thuật nghiên cứu đồng cỏ
Tác giả: V. Davies
Nhà XB: Nxb khoa học
Năm: 1960
14. Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Ngọc Lân (1980), Địa lý cây trồng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý cây trồng
Tác giả: Nguyễn Phi Hạnh, Đặng Ngọc Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1980
18. Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995), Thành phần loài và dạng sống thực vật trong loại hình savan vùng đồi Quảng Ninh, Thông báo khoa học Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, Số 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và dạng sống thực vật trong loại hình savan vùng đồi Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung
Năm: 1995
19. E.N. Ivanova và cộng sự (1962), Phân vùng địa lý thổ nhưỡng Liên Xô, Nxb Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, Matxơcơva (bản dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng địa lý thổ nhưỡng Liên Xô
Tác giả: E.N. Ivanova và cộng sự
Nhà XB: Nxb Viện hàn lâm khoa học Liên Xô
Năm: 1962
20. Lê Khả Kế và các tác giả (1969, 1975). Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, Nxb khoa học và kỹ thuật, T2, tr.6 – 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
21. Lê Văn Khoa (1993), Địa lý thổ nhưỡng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Địa lý thổ nhưỡng
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
22. Lê Vũ Khôi, Nguyễn Nghĩa Thìn (2001), Địa lý sinh vật, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý sinh vật
Tác giả: Lê Vũ Khôi, Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2001
23. G.A.Kuznetxov (1975), Địa lý và quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp (Bản dịch), Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý và quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp
Tác giả: G.A.Kuznetxov
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1975
24. Vũ Tự Lập (1976), Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1976

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 1.1 Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi Bắc (Trang 26)
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Yên Dũng - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Yên Dũng (Trang 33)
Hình  2.2. Bản đồ hành chính xã Nham Sơn - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
nh 2.2. Bản đồ hành chính xã Nham Sơn (Trang 33)
Bảng 4.1. Thành phần loài trong thảm cỏ ven sông - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.1. Thành phần loài trong thảm cỏ ven sông (Trang 45)
Bảng 4.2. Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ ven sông - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.2. Những dạng sống chính của thực vật trong thảm cỏ ven sông (Trang 49)
Bảng 4.4. Thành phần loài trong thảm cỏ ven suối - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.4. Thành phần loài trong thảm cỏ ven suối (Trang 53)
Bảng 4.6.  Khối lƣợng thực vật trong thảm cỏ ven suối (g/m 2 ) - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.6. Khối lƣợng thực vật trong thảm cỏ ven suối (g/m 2 ) (Trang 58)
Bảng 4.7. Thành phần loài trong thảm cỏ bãi bằng chân đê - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.7. Thành phần loài trong thảm cỏ bãi bằng chân đê (Trang 59)
Bảng 4.9. Khối lƣợng thực vật bãi bằng chân đê (g/m 2 ) - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.9. Khối lƣợng thực vật bãi bằng chân đê (g/m 2 ) (Trang 67)
Bảng 4.11. Những dạng sống chính của thực vật trên đồi - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.11. Những dạng sống chính của thực vật trên đồi (Trang 74)
Bảng 4.12. Khối lƣợng thực vật trên gò đồi (g/m 2 ) - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.12. Khối lƣợng thực vật trên gò đồi (g/m 2 ) (Trang 77)
Bảng 4.14. Những dạng sống chính của thực vật dưới tán rừng - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.14. Những dạng sống chính của thực vật dưới tán rừng (Trang 83)
Bảng 4.15. Khối lượng thực vật dưới tán rừng (g/m 2 ) - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Bảng 4.15. Khối lượng thực vật dưới tán rừng (g/m 2 ) (Trang 86)
Hình 3.1. Thảm cỏ tự nhiên ven sông thôn Đông Hương - Nghiên cứu thực trạng và xu hướng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Hình 3.1. Thảm cỏ tự nhiên ven sông thôn Đông Hương (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w