LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” là tr
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐẶNG QUANG TRỰC
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS CHU ĐỨC DŨNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
“Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” là trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
, số liệu sử dụng trong luận văn do Tổng cục Thuế, Cục thuế tỉnh Phú Thọ, UBND tỉnh Phú Thọ, Sở Tài nguyên và Môi trường cung cấp
và do cá nhân tôi thu thập từ các báo cáo của UBND tỉnh, ngành thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường
Thái Nguyên, tháng 02 năm 2014
Tác giả luận văn
Đặng Quang Trực
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối
với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều tập thể, cá nhân Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, cá
trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
PGS.TS Chu Đức Dũng
doanh - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Cục thuế tỉnh Phú Thọ, Lãnh đạo và cán bộ Phòng Tổng hợp-Nghiệp vụ-
Dự toán, lãnh đạo và cán bộ các phòng có liên quan…
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 02 năm 2014
Tác giả luận văn
Đặng Quang Trực
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
D vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục sơ đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Đóng góp của Luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.2 Các thành tố cơ bản trong hệ thống quản lý thuế 8
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế 14
1.2 Cơ sở thực tiễn của công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản 17
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản 17
1.2.2 Quan điểm của Đảng về khoáng sản và công nghiệp khoáng sản 19
1.2.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản 22
Trang 6Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 25
2.2.2 Phương pháp thống kê 26
2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 26
2.2.4 Phương pháp so sánh 28
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực tế 28
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 29
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá về công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT 29
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thông tin NNT 29
2.3.3 Chỉ tiêu về thu ngân sách và sản lượng khai thác 29
2.3.4 Chỉ tiêu đánh giá về công tác quản lý nợ thuế 30
2.3.5 Chỉ tiêu về số lượng doanh nghiệp vi phạm pháp luật về thuế so với tổng số doanh nghiệp 30
2.3.6 Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn của cán bộ thuế 30
Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 31
3.1 Giới thiệu chung về tỉnh Phú Thọ 31
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
3.1.2 Tình hình Kinh tế - xã hội 31
3.2 Khái quát về Cục Thuế tỉnh Phú Thọ 33
3.2.1 Khái quát chung 33
3.2.2 Tình hình quản lý NNT và kết quả thu ngân sách trên địa bàn 34
Trang 73.2.3 Đặc điểm hoạt động khai thác khoáng sản của các doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ 35
3.3 Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 38
3.3.1 Công tác quản lý thông tin NNT 38
3.3.2 Kết quả thu NSNN từ hoạt động khai thác khoáng sản 41
3.3.3 Công tác đăng ký, kê khai và kế toán thuế 44
3.3.4 Tình hình phân cấp quản lý NNT 48
3.3.5 Công tác thanh tra, kiểm tra NNT 49
3.3.6 Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế 50
3.4 Thành tựu của công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong 5 năm qua 52
3.4.1 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế 52
3.4.2 Công tác tổ chức cán bộ 54
3.4.3.Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý thuế 57
3.4.4 Cơ sở vật chất kĩ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thuế 58
3.4.5 Trình độ dân trí, ý thức tuân thủ pháp luật của NNT 60
3.4.6 Công tác chỉ đạo của UBND tỉnh và sự phối hợp công tác giữa các cơ quan hữu quan 60
3.4.7 Công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế 61
3.5 Những hạn chế và nguyên nhân của công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản 61
3.5.1 Một số tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản 61
3.5.2 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế 64
Trang 8Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU
ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 70
4.1 Bối cảnh và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản ở tỉnh Phú Thọ từ nay đến năm 2020 70
4.1.1 Đặc điểm, tình hình hoạt động khai thác khoáng sản hiện nay trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 70
4.1.2 Định hướng của của Nhà nước về quản lý tài chính đối với hoạt động khai thác khoáng sản 71
4.1.3 Định hướng của UBND tỉnh Phú Thọ đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn 72
4.1.4 Các mục tiêu chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 của Ngành thuế Việt Nam 73
4.2 Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 74
4.2.1 Phương hướng 74
4.2.2 Một số giải pháp 75
4.3 Một số kiến nghị 79
4.3.1 Đối với HĐND và UBND tỉnh 79
4.3.2 Đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng NNT từ năm 2008 đến năm 2012 34
Bảng 3.2: Tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2008 đến năm 2012 35
Bảng 3.3: Số lượng các doanh nghiệp được cấp phép khai thác khoáng sản qua các năm 38
Bảng 3.4: Tổng thu NSNN từ hoạt động khai thác khoáng sản từ năm 2008 đến năm 2012 41
Bảng 3.5: Kết quả thu thuế tài nguyên từ năm 2008 đến năm 2012 42
Bảng 3.6: Kết quả thu Phí bảo vệ môi trường từ năm 2008 -2012 43
Bảng 3.7: Số thuế nợ của NNT khai thác khoáng sản từ năm 2008 - 2012 51
Bảng 3.8: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ năm của cán bộ Cục Thuế năm 2012 và năm 2013 57
Bảng 3.9: Chất lượng tuyển dụng qua từng thời kỳ 58
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Tổ chức của Cục thuế tỉnh Phú Thọ 34
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 Sau hơn 5 năm thực hiện, những quy định về công tác quản lý thuế đã được cụ thể hóa trong Luật và đi vào cuộc sống, góp phần tích cực
cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Luật Quản lý thuế quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch các thủ tục hành chính thuế nhằm nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế (NNT), tạo điều kiện cho NNT chấp hành tốt pháp luật thuế; quy định rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc phục vụ hỗ trợ NNT và giám sát quá trình tuân thủ pháp luật thuế; quy định cụ thể trách nhiệm của một số cơ quan, tổ chức trong việc tham gia công tác quản lý thuế từ đó đã nâng cao vai trò và trách nhiệm pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia vào
công tác quản lý thuế
Việc thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với những quy định cụ thể về thủ tục hành chính thuế cũng như việc xử lý vi phạm công minh đã tạo cho NNT có ý thức hơn trong việc
thực hiện trách nhiệm của mình và tuân thủ chính sách pháp luật thuế
Trong những năm qua, Cục Thuế tỉnh Phú Thọ thường xuyên tuyên truyền, vận động, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ của mình với Nhà nước; Luôn đẩy mạnh cải cách hành chính theo nội dung Đề án 30/CP của Chính phủ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phù hợp với nội dung cải cách hành chính thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, rõ ràng, công khai, dân chủ; đảm bảo dễ hiểu, dễ làm, tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát của nhà nước và cộng đồng xã hội, phát hiện
Trang 13và kiến nghị loại bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NNT Do đó trong các năm qua số thu ngân sách nhà nước (NSNN) của tỉnh ngày càng tăng cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
ổn định đời sống của nhân dân
Mặc dù hệ thống chính sách thuế của Việt Nam liên tục được sửa đổi,
bổ sung theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai Chính sách xã hội đã tách ra khỏi chính sách thuế nhưng mức độ còn khá hạn chế, tính trung lập của thuế vì vậy chưa cao; một số quy định về thuế chưa theo kịp để điều chỉnh, bao quát các hoạt động kinh tế mới phát sinh, chính sách thuế chưa thực sự khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tích lũy tăng đầu tư
chiều sâu, cải thiện đời sống và tăng phúc lợi cho người lao động,
Công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có nhiều đổi mới, đảm bảo theo đúng chính sách, chế độ Tuy nhiên hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đang diễn ra rất phức tạp, số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực này ngày càng tăng, các khu mỏ đang khai thác hiện nay hầu hết nằm ở vùng núi và trung du cùng với công nghệ khai thác lạc hậu và chưa hợp lý nên mức độ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, phá hủy rừng, hủy hoại về mặt đất, ô nhiễm nguồn nước, đất canh tác, không khí…, đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe của người dân Mặt khác số thu ngân sách từ lĩnh vực này còn thấp so với lượng tài nguyên khai thác, nguồn
thu không đảm bảo cho công tác tái tạo môi trường sau khi khai thác
Trước những vấn đề đặt ra nêu trên, là người trực tiếp tham gia quản lý thuế, tiếp cận với NNT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, để góp phần hoàn thiện
công tác quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, tôi lựa chọn đề tài "Hoàn
thiện công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ" có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn làm
luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành quản lý kinh tế
Trang 142 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm
2008 đến năm 2012, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác
quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản
- Phân tích các nguyên nhân, những yếu tố ảnh hưởng; đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với
hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, bao gồm:
- Quản lý thông tin về NNT;
- Kê khai và kế toán thuế;
- Công tác thanh tra, kiểm tra NNT;
- Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
Về thời gian: 5 năm (Từ năm 2008 đến năm 2012 và một vài số liệu
liên quan trong năm 2013)
Trang 154 Đóng góp của Luận văn
- Ý nghĩa khoa học:
Luật Quản lý thuế có vai trò, vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính sách thuế hiện hành ở nước ta, nó có phạm vi điều chỉnh rộng, đó là tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước và đóng góp nguồn thu lớn cho NSNN Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những luận cứ khoa học xác thực cho việc hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hoạt
động hai thác khoáng sản nói riêng và công tác quản lý thuế nói chung
- Ý nghĩa thực tiễn:
Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện quy trình, nội dung, phương pháp quản lý thuế trên địa bàn, góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai
thác khoáng sản trên địa bàn
Kết quả nghiên cứu luận văn góp phần đổi mới chính sách tài chính đối với hoạt động khai thác khoáng sản với mục tiêu tăng thu cho NSNN; đảm bảo lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân nơi có hoạt
động khai thác khoáng sản
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cám ơn, lời cam đoan và danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn được chia ra 4 Chương có các nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai
thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay
Chương 4: Phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý
thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về Quản lý
Hiện nay còn tồn tại nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý Thuật ngữ quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu các ngành khoa học khác nhau như: Kinh tế học, hành chính học, luật học, xã hội học… đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp với đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành
Dưới góc độ chung của các chuyên ngành khoa học, “Quản lý là điều
khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước” [ 1, tr.258]
Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “Quản
lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung” [ 1, tr.258]
Có một số định nghĩa về quản lý được ghi nhận ở một số tài liệu khác:
“Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan” [ 9, tr.61] Hoặc: “Quản
lý là thuật ngữ chỉ hoạt động của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra… các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất” [ 10, tr.136]
Trang 17Qua các giải thích trên cho thấy, thuật ngữ quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhận và giải quyết Đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra Ngoài ra khi sử dụng thuật ngữ này người ta còn có hàm ý bao gồm
cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của một tổ chức, nghĩa là nói tới quản lý là nói tới kết quả đạt được với chất lượng tốt nhất, chi phí thấp nhất chứ không chỉ là những quy trình thực hiện các thao tác ký thuật đơn thuần
1.1.1.2 Khái niệm về Quản lý thuế
Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có Nhà nước và gắn với quyền lực của Nhà nước Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của Nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế Tuy nhiên, hiện nay để quản lý thuế có hiệu quả, ở những mức độ nhất định có sự tham gia của các tổ chức,
cá nhân trong xã hội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của Nhà nước
Qua nghiên cứu sự ra đời, tồn tại và phát triển của thuế cho thấy, thuế
là phạm trù kinh tế khách quan luôn gắn liền với Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng, ngoài việc huy động nguồn thu từ thuế, Nhà nước còn sử dụng một số hình thức huy động khác như phát hành công trái, thu phí, lệ phí, thu từ bán dầu thô… Nhưng thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu của Nhà nước trong chế độ xã hội có Nhà nước Như vậy, thuế được sinh ra từ Nhà nước, tồn tại dựa vào quyền lực Nhà nước và nhằm thỏa mãn phần lớn các nu cầu chi tiêu của Nhà nước Bởi vậy, ngay từ khi thuế ra đời, việc quản lý thuế
đã trở thành hoạt động tất yếu của Nhà nước, luôn được Nhà nước và cả xã hội quan tâm
Quản lý thuế được một số tác giả khái niệm như sau:
“Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tư pháp của Nhà nước trong lĩnh vực thuế” [8, tr.18]
Trang 18“Quản lý thuế là quá trình tổ chức thực thi các luật thuế, là việc định
ra một hệ thống các tổ chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ hữu hiệu trong việc thực thi luật thuế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [ 11, tr.11]
Theo các quan niệm trên, khái niệm quản lý thuế được tiếp cận theo hai phạm vi sau đây:
Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của Nhà nước
liên quan đến thuế Quản lý thuế không chỉ bao gồm hoạt động tổ chức điều hành quá trình thu nộp thuế vào NSNN mà còn bao gồm hoạt động xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế và cả hoạt động kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền thuế của các tổ chức thụ hưởng NSNN
Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế,
bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể là hệ thống cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản
lý thu, nộp thuế cho Nhà nước của các tổ chức, cá nhân là NNT được xác định trong các luật thuế
Điều 3 Luật Quản lý thuế hiện hành của Việt Nam quy định nội dung
quản lý thuế bao gồm: “Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ
tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về NNT; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại,
Trang 191.1.1.3 Quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản
Từ phân tích khái niệm về quản lý thuế trên đây, quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản là việc cơ quan quản lý nhà nước mà cụ thể là
cơ quan thuế sử dụng chức năng, quyền hạn của mình để tổ chức, điều hành, hướng dẫn, đôn đốc các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên, khoáng sản thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ thuế với Nhà nước
Quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản bao gồm hệ thống chính sách thuế và công tác quản lý của ngành thuế
Hệ thống chính sách thuế đối với hoạt động này bao gồm: Thuế môn bài, thuế GTGT, thuế TNDN, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, tiền thuê đất v.v… Trong đó sắc thuế quan trọng và thể hiện bản chất của hoạt động khai thác khoáng sản là thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường Để hoạt động khai thác khoáng sản hợp lý, hiệu quả, các sắc thuế này có tỷ lệ động viên vào NSNN ngày càng tăng
Công tác quản lý của ngành thuế bao gồm: Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế, công tác kê khai kế toán thuế, công tác thanh tra kiểm tra thuế, công tác quản lý và cưỡng chế nợ thuế, công tác tổ chức cán bộ
Ngoài ra để quản lý tốt nguồn thu đối với hoạt động này, ngành thuế còn phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành liên quan trong công tác quản lý hoạt động khai thác khoáng sản
1.1.2 Các thành tố cơ bản trong hệ thống quản lý thuế
1.1.2.1 Cơ chế quản lý thuế
Cơ chế quản lý thuế nói chung có thể hiểu là phương thức quản lý thuế
mà Nhà nước sử dụng để quản lý quá trình thu nộp thuế từ các đối tượng nộp thuế cho NSNN Có 2 loại cơ chế quản lý, đó là cơ chế cơ quan thuế tính thuế và
cơ chế NNT tự tính thuế hay còn gọi là cơ chế NNT tự kê khai, tự nộp thuế
+ Cơ chế cơ quan thuế tính thuế: Theo cơ chế này đòi hỏi cán bộ thuế phải kiểm tra tất cả các tờ khai thuế, các khoản phải thu dựa trên những số liệu mà cơ quan thuế có được để xác định số thuế chính thức phải nộp và ra
Trang 20thông báo thuế cho NNT thực hiện Với cơ chế này, thể hiện sự không tin tưởng hoặc ít tin tưởng của Nhà nước đối với NNT Cách thức quản lý thuế mang tính áp đặt, sử dụng quyền lực Nhà nước là chủ yếu để quản lý thuế đối với NNT; trường hợp này tiến độ thu thuế thường chậm, chi phí cho công tác quản lý thuế cao Việc xác định số thuế phải nộp trở thành trách nhiệm pháp
lý của cơ quan quản lý thuế, không khuyến khích được NNT tự giác tuân thủ Hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế, số lượng NNT ngày càng gia tăng nhanh chóng, để quản lý thuế có hiệu quả đòi hỏi ngành thuế phải có nguồn nhân lực đảm bảo cả về số lượng và chất lượng mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao Đồng thời phải có cơ chế quản lý phù hợp với tỉnh hình thực tế, đó là cơ chế tự khai, tự nộp thuế
+ Cơ chế tự khai, tự nộp thuế:
Theo cơ chế quản lý thuế này, việc kê khai, tính thuế, nộp thuế được thực hiện trên nền tảng sự tuân thủ tự giác về nghĩa vụ thuế của NNT Người nộp thuế căn cứ quy định của pháp luật thuế để xác định các loại thuế phải nộp và thực hiện nộp vào NSNN NNT có trách nhiệm lưu trữ chứng từ, sổ sách kế toán để chứng minh số liệu đã kê khai Cơ quan thuế có nhiệm vụ hỗ trợ, hướng dẫn để NNT hiểu rõ chính sách thuế, các thủ tục về thuế, từ đó họ
tự thực hiện nghĩa vụ thuế của mình Cơ quan quản lý thuế tập trung nguồn lực để giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT thông qua công tác thanh tra, kiểm tra về thuế để phát hiện xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của NNT Việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá những rủi ro để lựa chọn chính xác những trường hợp cần thanh tra kiểm tra để giảm chi phí quản lý và tránh phiền hà cho NNT Như vậy, việc thực hiện cơ chế tự khai,
tự nộp thuế không phải là sự buông lỏng quản lý mà là quản lý một cách hiện đại, tiên tiến, phù hợp với quy luật chung của sự phát triển kinh tế Cơ chế này tạo được sự cân bằng giữa hai chức năng chủ yếu của cơ quan quản lý
Trang 21thuế là chức năng phục vụ và chức năng giám sát, kiểm tra hoạt động tuân thủ pháp luật thuế đối với NNT
Hiện nay ở Việt Nam chủ yếu áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế Trừ trường hợp đặc biệt khi NNT không thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng
từ theo quy định, không tự giác kê khai thuế hoặc kê khai không đúng số thuế phải nộp thì cơ quan thuế tính thuế cho NNT
1.1.2.2 Mô hình tổ chức quản lý thuế
Mô hình tổ chức quản lý thuế là việc xác định cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý thuế theo một nguyên tắc chủ đạo nhất định, đồng thời xác định số lượng các bộ phận; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó; thực hiện phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý nhằm hình thành bộ máy quản lý thuế một cách phù hợp đảm bảo tính thống nhất, đầy
đủ, có hiệu quả của các chức năng quản lý thuế
+ Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế: Đây là mô hình trong đó bộ máy quản lý thuế được tổ chức thành từng bộ phận riêng biệt để quản lý một hoặc một số loại thuế cụ thể Ví dụ: Phòng thuế thu nhập cá nhân, Phòng thuế tiêu thụ đặc biệt, Phòng thu lệ phí trước bạ, Phòng quản lý các khoản thu từ đất…
Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế có ưu điểm là: Tạo điều kiện chuyên sâu quản lý từng sắc thuế, hiểu rõ phương pháp quản lý sắc thuế một cách có hiệu quả nhất, cho phép từng phòng tự phát triển các chương trình chuyên sâu phù hợp nhất theo yêu cầu của từng sắc thuế Công tác quản lý thuế được điều chỉnh kịp thời khi chính sách thuế thay đổi, bổ sung hoặc thay đổi quy trình quản lý
Bên cạnh những ưu điểm trên mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế có những nhược điểm: Chi phí quản lý cao, hiệu suất quản lý thấp vì các chức năng quản lý bị chồng chéo giữa các bộ phận Mỗi bộ phận đều phải thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý trong khi có chức năng có thể chỉ do một
Trang 22phòng, một bộ phận thực hiện hoặc mỗi bộ phận có hệ thống phần mềm quản
lý riêng; mô hình này gây khó khăn cho việc thực hiện của NNT, họ cần được
sự hỗ trợ từ nhiều bộ phận của cơ quan thuế dẫn đến chi phí tuân thủ và chi phí quản lý thuế cao; bộ máy quản lý cồng kềnh, dễ xảy ra tiêu cực trong đội ngũ cơ quan thuế vì dễ xảy ra thông đồng giữa NNT và cán bộ thuế Phương pháp này được áp dụng tại Việt Nam trong thâp kỷ 90
+ Mô hình tổ chức theo nhóm NNT: Là mô hình trong đó mỗi bộ phận (phòng, đội thuế) chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ các dịch vụ và quản lý một nhóm NNT nhất định Ví dụ: Phòng quản lý các doanh nghiệp Nhà nước, Phòng quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh…
Với mô hình quản lý này mỗi bộ phận thực hiện tất cả các chức năng quản lý để quản lý thu tất cả các sắc thuế mà NNT phải có nghĩa vụ với Nhà nước
Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm NNT có ưu điểm là đáp ứng được yêu cầu quản lý phù hợp với từng nhóm đối tượng; cơ quan thuế nắm rõ đặc điểm của nhóm NNT, từ đó có biện pháp quản lý thuế cho phù hợp, khuyến khích tính tự giác tuân thủ của NNT, hiệu suất quản lý được nâng cao
+ Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng: Là mô hình trong đó cơ quan quản lý thuế tổ chức bộ máy thành các bộ phận riêng rẽ để thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định trong quy trình quản lý đối với tất cả các loại thuế như: Bộ phận tuyên truyền hỗ trợ NNT, bộ phận xử lý tờ khai thuế,
bộ phận quản lý nợ, bộ phận kiểm tra thuế, bộ phận thanh tra thuế… Mỗi bộ phận thực hiện một hoặc một số chức năng quản lý thuế có quan hệ mật thiết với nhau để quản lý tất cả NNT theo chức năng được phân công
Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng có ưu điểm: Công tác quản lý được chuyên môn hóa, chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng, mô hình này khuyến khích và phát huy sở trường năng lực chuyên môn của từng cán bộ; tạo điều kiện cho NNT tăng cường tính tự giác chấp hành pháp luật
Trang 23thuế, giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế; giảm thiểu hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong quản lý thuế do có sự kiểm tra, giám sát giữa các bộ phận trong cơ quan thuế
Bên cạnh những ưu điểm, mô hình này có có một số nhược điểm như: Chưa hoàn toàn thích ứng trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp luật thuế và tính tự giác của NNT còn thấp và trong cơ chế giao chỉ tiêu pháp lệnh thu ngân sách
Để áp dụng có hiệu quả mô hình này đòi hỏi bộ phận tuyên truyền và
hỗ trợ NNT phải hoạt động có hiệu quả, nhằm tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật thuế cho mọi người dân và NNT; đồng thời cơ quan thuế phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm chính sách thuế
+ Mô hình quản lý thuế có tính hỗn hợp:
Là mô hình quản lý thuế có sự kết hợp giữa các mô hình quản lý theo đối tượng, quản lý thuế theo sắc thuế và quản lý thuế theo chức năng Hiện nay Việt Nam đang áp dụng mô hình quản lý thuế có tính hỗn hợp, chủ yếu là quản lý thuế theo chức năng Ở địa phương thực hiện quản lý thuế theo chức năng có các bộ phận quản lý đó là: Tuyên truyễn hỗ trợ NNT, kê khai thuế, quản lý nợ, thanh tra kiểm tra thuế Ngoài ra còn có bộ phận quản lý thuế Thu nhập cá nhân, bộ phận quản lý các khoản thu từ đất, thu lệ phí trước bạ (quản
lý theo sắc thuế)… Ở Tổng cục Thuế có Vụ Quản lý doanh nghiệp lớn (quản
lý theo đối tượng)
1.1.2.3 Biện pháp quản lý thuế
Xét về bản chất, quản lý thuế là biểu hiện của quyền lực của Nhà nước Quản lý thuế thuộc loại quản lý hành chính nhà nước, biện pháp quản lý thuế chủ yếu bằng biện pháp mệnh lệnh hành chính bắt buộc Tuy nhiên nếu tuyệt đối hóa bản chất này trong quản lý thuế sẽ mang lại kết quả ngược chiều mới mục tiêu chung của quản lý thuế Qua thực tế chứng minh, muốn quản lý thuế
Trang 24có hiệu quả thì việc làm cho NNT tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách tự nguyện đầy đủ và kịp thời trên cơ sở môi trường quản lý dân chủ hơn Để đạt mục tiêu này cần phải thay đổi chiến lược và biện pháp quản lý thuế theo hướng
tiếp cận mới đó là “Coi người nộp thuế là khách hàng của cơ quan thuế”,
“người nộp thuế là bạn đồng hành của cơ quan thuế” đây là cơ sở căn bản
cho mọi giải pháp đổi mới quản lý thuế Cơ quan thuế đánh giá việc tuân thủ
pháp luật của NNT để đề xuất, áp dụng các biện pháp quản lý riêng cho từng nhóm NNT theo từng cấp độ sau đây:
+ Nhóm NNT sẵn sàng tuân thủ: NNT cảm thấy thoải mái trong việc chấp hành chính sách thuế, tự nguyện hợp tác với cơ quan thuế, tuân thủ một cách tích cực; nộp thuế đầy đủ, đúng hạn vào NSNN Với đối tượng này hầu hết là người có trình độ hiểu biết khá tốt về chính sách pháp luật nói chung và chính sách thuế nói riêng, có tính tự giác cao Vì vậy biện pháp quản lý của cơ quan thuế
là tự quản lý để khuyến khích tự tuân thủ tự nguyện thông qua các chương trình cụ thể như giáo dục, cung cấp các dịch vụ thuận tiện và có hiệu quả
+ Nhóm NNT chấp nhận tuân thủ: NNT chấp nhận những yêu cầu của
cơ quan thuế và tin tưởng vào cơ quan thuế Đối với trường hợp này thường nộp đủ thuế, đúng hạn nhưng không tự giác, chủ động chấp hành mà phải có thông báo nộp thuế của cơ quan thuế Biện pháp quản lý của cơ quan thuế là
tự quản lý có sự kiểm tra của cơ quan thuế NNT có trách nhiệm tự sửa chữa những vi phạm của họ nhưng cần phải có cơ chế để đảm bảo rằng họ sẽ tuân thủ và cung cấp thông tin phản hồi để đảm bảo sự tuân thủ tốt
+ Nhóm NNT miễn cưỡng tuân thủ: Trường hợp này NNT thường chấp hành chính sách thuế khi được cơ quan thuế đôn đốc nhiều lần hoặc có biện pháp cưỡng chế theo quy trình quản lý Biện pháp quản lý áp dụng là cưỡng chế
có suy xét ở cấp độ mềm mỏng của quản lý mệnh lệnh đó là xem xét, phân tích việc sử dụng các hình thức, biện pháp xử phạt để cải thiện sự tuân thủ
Trang 25+ Nhóm NNT từ chối tuân thủ: NNT tách ra khỏi sự quản lý của cơ quan thuế Biện pháp quản lý là cưỡng chế không suy xét khi áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm pháp luật thuế, biện pháp xử phạt sẽ được ấn định nghiêm khắc khi sự không tuân thủ bị phát hiện ở bất kỳ hoàn cảnh nào
Trên thực tế, trong quá trình quản lý, cơ quan thuế cần phải theo dõi sự tuân thủ của NNT để có biện pháp quản lý phù hợp Các biện pháp quản lý được áp dụng linh hoạt, phụ thuộc vào mức độ sai phạm, điều kiện kinh doanh thực tế của đơn vị, việc tuân thủ pháp luật của NNT
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế
1.1.3.1 Nhân tố khách quan
+ Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế:
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế có vai trò quan trọng đến hiệu quả của công tác quản lý thuế Nếu hệ thống chính sách thuế đồng
bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc thực thi chính sách của NNT tôt hơn, thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước Ngược lại, nếu hệ thống chính sách thuế không đồng bộ, thống nhất, công bằng thì sẽ làm cho công tác quản lý thuế gặp nhiều khó khăn, hạn chế thúc đẩy SXKD, kìm hãm sự phát triển kinh tế
Về lý thuyết, nếu thu thuế quá cao thường dẫn đến tình trạng NNT vì muốn đạt được lợi ích kinh tế của mình sẽ tìm mọi cách trốn thuế, gian lận thuế Vì vậy chính sách thuế sẽ đạt mức tối ưu khi tỷ lệ động viên ở mức độ phù hợp
Chính sách pháp luật thuế hiện hành còn có những sơ hở, thiếu chặt chẽ, thiếu minh bạch nên một số NNT lợi dụng để thực hiện hành vi “lách luật” để chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước
Trang 26Bên cạnh đó, chính sách thuế thường xuyên được sửa đổi, bổ sung gây nhiều khó khăn cho quản lý thuế cả về phía cơ quan thuế cũng như từ phía NNT Một trong những tính chất của thuế là tính ổn định, nếu chính sách thuế hay thay đổi sẽ tạo điều kiện cho các hành vi trái pháp luật gia tăng do cả không nắm bắt kịp và do cả lợi dụng
Chế tài xử lý các vi phạm luật thuế không đủ mạnh để làm cho đối tượng nộp thuế không dám thực hiện gian lận Trong xã hội văn minh mọi hoạt động của con người được điều chỉnh bằng pháp luật trong đó pháp luật quy định những hình phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật Hình phạt dùng để xử lý các hành vi vi phạm đồng thời có tính giáo dục răn đe Luật thuế không là ngoại lệ, để đảm bảo thực hiện tốt luật thì phải có các chế tài xử
lý nghiêm các vi phạm pháp luật về thuế, đồng thời răn đe các đối tượng không dám làm sai luật
+ Trình độ dân trí và ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của NNT
Trình độ hiểu biết chính sách pháp luật thuế của NNT cao sẽ tạo điều kiện cho chính sách dễ ràng đi vào cuộc sống, giảm thiểu chi phí của cơ quan thuế trong việc tuyên truyền, hộ trợ NNT Bên cạnh đó ý thức tuân thủ pháp luật của NNT tốt là tiền đề cho việc thực thi pháp luật nghiêm minh, hạn chế các hiện tượng trốn thuế, gian lận thuế, kê khai thuế chậm…
+ Sự hợp tác giữa các cơ quan hữu quan và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuế
Trong công tác quản lý, ngoài cơ quan thuế ra cần phải có sự hợp tác của các cơ quan có liên quan như UBND các cấp; Cơ quan Công an, Cơ quan Quản lý thị trường Cơ quan Tài nguyên môi trường… Điều 13 Luật Quản lý
thuế đã nêu rõ “Các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế; phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc quản lý thuế; tạo điều kiện thuận lợi cho NNT thực hiện nghĩa vụ thuế.”
“Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm
Trang 27minh tội phạm vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và
thông báo tiến độ, kết quả xử lý vụ việc cho cơ quan quản lý thuế.”[12]
Điều 17 Luật quản lý thuế quy định về hợp tác quốc tế về quản lý thuế
như sau: “Theo chức năng và quy định của pháp luật, trong phạm vi thẩm
quyền được phân cấp, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm: Thực hiện quyền, nghĩa vụ và bảo đảm lợi ích của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện thoả thuận quốc tế song phương với cơ quan quản lý thuế các nước; Tổ chức khai thác, trao đổi thông tin và hợp tác nghiệp vụ với cơ quan quản lý thuế các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan.”[12]
Như vậy, với chức năng, nhiệm vụ của các cấp, các ngành có liên quan; nếu sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan có liên quan được chặt chẽ
và thường xuyên sẽ tăng cường công tác quản lý thuế, hạn chế những tiêu cực phát sinh, thúc đẩy kinh tế phát triển
1.1.3.2 Nhân tố chủ quan
Đây là các yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt hơn so với các nhân tố khách quan Vì thế, các yếu tố chủ quan này thường mang tính quyết định đối với hiệu quả công tác quản lý thuế
+ Tổ chức bộ máy quản lý:
Ở Trung ương có Tổng cục thuế thuộc Bộ tài chính Bộ máy giúp việc
cơ quan Tổng cục gồm các Vụ chức năng và Cục Công nghệ thông tin
Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các Cục thuế Các Cục thuế chịu sự chỉ đạo song trùng của Tổng cục thuế và UBND cùng cấp
Ở cấp quận, huyện và cấp tương đương có Chi cục Thuế thuộc Cục thuế Chi cục thuế chịu sự chỉ đạo song trùng của Cục thuế và UBND cùng cấp
Như vậy, cơ cấu trên là hợp lí và tương đối chặt chẽ Cơ cấu đó có tác động lớn tới công tác quản lý thuế Cụ thể, việc thống nhất hệ thống tổ chức
Trang 28bộ máy quản lý về thuế không những cho phép Nhà nước quản lý thống nhất chế độ thuế trong cả nước, mà còn tạo cơ sở về mặt tổ chức bảo đảm thực hiện thành công đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thuế
+ Nguồn nhân lực phục vụ công tác quản lý thuế:
Rõ ràng, nếu trình độ, năng lực quản lý thuế cũng như đạo đức của cán
bộ quản lý thuế tốt thì việc thi hành chính sách thuế sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại Hiện nay trình độ của các cán bộ quản lý thuế luôn được Nhà nước quan tâm, việc đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ được tiến hành thường xuyên Do đó đội ngũ cán bộ thuế có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng tăng cao, đạo đức nghề nghiệp luôn được tăng cường, sẽ là yếu tố quyết định đến hiệu quả công tác quản lý thuế
+ Bên cạnh yếu tố con người thì điều kiện cơ sở vật chất của cơ quan
đó là trụ sở làm việc, trang thiết bị văn phòng, phương tiện và công cụ công tác cần được bổ sung nhằm đáp ứng được yêu cầu phục vụ công tác quản lý như trụ sở làm việc, phương tiện quản lý như máy tính, các ứng dụng phần mềm quản lý thuế, hệ thống truyền thông
1.2 Cơ sở thực tiễn của công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản
Theo Luật Khoáng sản năm 2010: “ Khoáng sản là khoáng vật, khoáng
chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của nó”[16]
Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản có từ khá lâu đời Lúc đầu hoạt động khai thác khoáng sản chỉ là khai thác đá, sắt, đồng… để làm công
cụ phục vụ cho chăn nuôi, trồng trọt, luyện vũ khí để chống giắc ngoại xâm Nhưng phải đến thời pháp thuộc hoạt động khai thác khoáng sản được coi như một nghề Mục đích khai thác khoáng sản là để làm nguyên liệu sản xuất và phục vụ cho Đế quốc Pháp
Trang 29Từ sau khi nền kinh tế của đất nước ta đổi mới, hoạt động khai thác khoáng sản được quan tâm nhiều hơn, lúc đó chúng ta mới nhận thấy tầm quan trọng của khai thác khoáng sản đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Về phương diện kinh tế: Khi nói đến vai trò của khoáng sản, ta không thể không kể đến tầm quan trọng của nó đối với ngành công nghiệp Khoáng sản là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt Tuy nhiên công nghiệp chế biến của Việt Nam còn chưa phát triển, các loại khoáng sản khai thác được vẫn chủ yếu dùng để xuất khẩu thô Tài nguyên khoáng sản đã có những đóng góp nhất định vào tăng trưởng kinh tế Khi tiến hành các hoạt động khai thác khoáng sản, doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, thuế GTGT, thuế TNDN, tiền thuê đất
Về phương diện chính trị: Tài nguyên khoáng sản giúp các quốc gia bình ổn, giữ gìn trật tự xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động Tuy nhiên việc khai thác khoáng sản đem lại tác động không nhỏ đến môi trường, đến cuộc sống con người, nếu chúng ta không có biện pháp khai thác có hiệu quả tài nguyên khoáng sản thì không những lãng phí nguồn tài nguyên mà còn ảnh hưởng đến môi trường sống của con người kể cả hiện tại và trong tương lai Vì vậy hiện nay Việt Nam đang tích cực bảo vệ môi trường nhằm giảm thiểu hiện tượng “nhà kính”, biến đổi khí hậu toàn cầu Một trong những công
cụ kinh tế nhằm tác động vào hoạt động khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước đó là công cụ thuế Tùy theo từng thời kỳ cụ thể, căn cứ đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, chính sách thuế góp phần vào việc khuyến khích hoặc hạn chế khai thác tài nguyên, khoáng sản Nguồn thu từ thuế để phục vụ phát triển đất nước, trong đó có việc đầu tư để cải tạo lại môi trường thiên nhiên sau khi khai thác
Trang 301.2.2 Quan điểm của Đảng về khoáng sản và công nghiệp khoáng sản
1.2.2.1 Theo Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị, Đảng ta đã đưa ra Năm quan điểm cơ bản về chiến lược khoáng sản và phát triển công nghiệp khai khoáng trong thời gian tới, đó là:
Một là, khoáng sản là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống
nhất quản lý, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội đất nước, phải được điều tra, thăm dò, đánh giá đúng trữ lượng và có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sử dụng hiệu quả, góp phần vào tăng trưởng chung và bền vững của nền kinh tế Là đại diện chủ sở hữu về khoáng sản, Nhà nước phải thể hiện đầy đủ quyền của chủ sở hữu, nhất là quyền định đoạt đối với khoáng sản khi giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác
Hai là, tài nguyên khoáng sản nước ta đa dạng về chủng loại; một số
khoáng sản có tài nguyên, trữ lượng lớn, do vậy cần phải hình thành một số ngành công nghiệp khai thác, chế biến quy mô công nghiệp với thời gian lâu dài như: dầu khí, than, bô-xít, titan - zircon, đất hiếm, a-pa-tít, đá nguyên liệu
xi măng, đá ốp lát, v.v… tuy nhiên, khoáng sản là tài nguyên không tái tạo nên phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hết sức hợp lý, triệt để tiết kiệm, thật sự có hiệu quả cao
Ba là, việc khai thác tài nguyên khoáng sản phải tính đến nhu cần trước
mắt cũng như lâu dài của đất nước, có tính đến xu hướng tiến bộ của khoa học công nghệ trong lĩnh vực sử dụng công nghệ mới và vật liệu thay thế
Bốn là, nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công
nhân lành nghề, từng bước làm chủ việc thăm dò và khai thác, chế biến khoáng sản, đầu tư thêm thiết bị và công nghệ tiên tiến cho công tác địa chất, khai khoáng và chế biến khoáng sản
Năm là, phát triển công nghiệp khai khoáng phải đi đôi với bảo đảm an
ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan, di tích lịch sử, văn hoá; bảo đảm hài hoà lợi ích thu được từ khai thác và chế biến khoáng sản
Trang 31giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến
1.2.2.2 Các mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 02-NQ/TW về phát triển khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
- Thứ nhất, đối với công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản cần:
+ Lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỉ lệ 1:50.000 đạt 90%
diện tích phần đất liền, diện tích biển ven bờ sâu đến 30m nước, diện tích các đảo; làm rõ hơn về cấu trúc địa chất, mức độ phân bố khoáng sản và phát hiện, khoanh định các diện tích có triển vọng về khoáng sản
+ Điều tra, đánh giá ở độ sâu đến 500m để làm rõ tiềm năng một số
loại khoáng sản quan trọng, chiến lược, có quy mô lớn như: chì, kẽm, đồng, thiếc, vàng, sắt, đất hiếm, urani và đầu tư điều tra, đánh giá tổng thể một số khoáng sản có tiềm năng lớn chưa được đánh giá như: bô-xít, than, nước khoáng - nước nóng, đá hoa trắng, cát thuỷ tinh, đá ốp lát
+ Tăng cường năng lực và đổi mới thiết bị, công nghệ tiên tiến, có độ
chính xác cao, đáp ứng các yêu cầu về độ sâu điều tra, đánh giá và độ chính xác trong phân tích mẫu địa chất, khoáng sản; xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu thống nhất về địa chất khoáng sản trên phạm vi cả nước
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ điều tra, thăm dò địa chất - khoáng sản có
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới; xây dựng chính sách thu hút cán bộ ngành địa chất; tăng cường hợp tác quốc tế về kỹ thuật trong điều tra cơ bản địa chất - khoáng sản
- Thứ hai, đối với hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản cần: + Đần tư cải tạo mở rộng đối với các mỏ khoáng sản đang hoạt động
theo quy hoạch khoáng sản đã duyệt; đầu tư cải tạo công nghệ, thiết bị hoặc thay thế các cơ sở chế biến khoáng sản đã lạc hậu, hệ số thu hồi khoáng sản thấp, gây ô nhiễm lớn tới môi trường
Trang 32+ Đầu tư bằng NSNN để thăm dò một số loại khoáng sản chiến lược
như: urani, đất hiếm và một số mỏ khoáng sản để đấu giá quyền khai thác khoáng sản
+ Hình thành một số cụm công nghiệp khai thác - chế biến khoáng sản
tập trung cho một số loại khoáng sản như than đá, đồng, thép, bô-xít - nhôm, cromit, titan - zircon, đất hiếm, chì - kẽm, đá ốp lát, cát trắng; tăng cường đầu
tư các dự án chế biến sâu khoáng sản
1.2.2.3 Các giải pháp cụ thể về phát triển khoáng sản và công nghiệp khai khoáng
Nghị quyết đã nêu rõ 3 nhóm giải pháp cơ bản về phát triển khoáng sản
và công nghiệp khai khoáng, đó là:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản;
- Đổi mới cơ chế chính sách về phát triển công nghiệp khai khoáng: Đổi mới cơ chế, chính sách về đầu tư khoa học và công nghệ, thăm dò; đổi mới cơ chế chính sách tài chính như hoạt động điều tra, thăm dò, khai thác, chuyển nhượng khoáng sản; xác định đúng giá trị tài nguyên khoáng sản được khai thác; xây dựng cơ chế đấu giá quyền khai thác khoáng sản, bảo đảm lợi ích của Nhà nước phù hợp với đặc điểm của từng loại khoáng sản Điều chỉnh kịp thời, hợp lý các loại thuế liên quan đến hoạt động khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản, tăng thu NSNN; có cơ chế thu hồi kinh phí nhà nước
đã đầu tư cho công tác điều tra, thăm dò khoáng sản Điều chỉnh mức ký quỹ bảo đảm phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai trong từng thời kỳ để đảm bảo trách nhiệm của các tổ chức khai thác khoáng sản Xây dựng chính sách
dự trữ và xuất khẩu khoáng sản;
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về khoáng sản: Tiếp tục hoàn
thiện hệ thống pháp luật về khoáng sản; nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản từ trung ương đến địa phương; nâng cao vị thế, năng lực cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản; rà soát và
Trang 33chấn chỉnh việc phân cấp, cấp phép khai thác khoáng sản hiện nay, khắc phục tình trạng sơ hở, gây thất thoát tài nguyên, nhiều tiêu cực trong lĩnh vực này
1.2.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản
1.2.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Tuyên Quang
- Đối với hoạt động khai thác cát sỏi trên sông Lô:
Năm 2012 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có 27 cơ sở khai thác cát, sỏi được cấp giấy phép đang còn hoạt động với tổng công suất theo giấy phép là 1,623 triệu m3/năm; trong đó có 3 cơ sở sản xuất lớn, 14 cơ sở sản xuất vừa, còn lại là sản xuất quy mô nhỏ công suất từ 10 - 30 nghìn m3/năm
Theo đánh giá của UBND tỉnh Tuyên Quang, một số đơn vị thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ mỏ, không chấp hành đầy đủ nội dung của giấy phép khai thác; vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản sai quy định; khai thác không đúng thiết kế cơ sở được duyệt; kê khai thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường thấp hơn so với sản lượng thực tế khai thác Trước tình hình đó, năm 2011 UBND tỉnh đã quyết định không tiếp tục cấp phép khai thác đối với các doanh nghiệp có năng lực khai thác hạn chế nhằm quản lý tốt việc chấp hành chính sách thuế của các doanh nghiệp còn lại
Cơ quan thuế thường xuyên phối hợp với Công an, Sở Tài nguyên và môi trường kiểm tra sản lượng khai thác bình quân ngày của từng doanh nghiệp để ấn định mức thuế và phí cho doanh nghiệp
- Quản lý thuế đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ tắm nước khoáng nóng:
Nhằm quản lý chặt chẽ nguồn nước nóng Mỹ Lâm, Huyện Yên Sơn, UBND tỉnh cấp phép khai thác cho một đơn vị duy nhất, đó là Ban quản lý khu du lịch Mỹ Lâm Khối lượng nước khoáng khai thác và tiêu thụ được quản lý bằng việc sử dụng đồng hồ chuyên dụng Các tổ chức, cá nhân kinh
Trang 34doanh dịch vụ tắm nước khoáng nóng phải mua của Ban quản lý khu du lịch Căn cứ sản lượng khai thác của Ban quản lý khu du lịch, cơ quan thuế tính thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường, do đó công tác quản lý thuế được chặt chẽ, đúng quy định
1.2.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lào Cai
UBND tỉnh Lào cai đã ban hành Quyết định số 58/2008/QĐ-UBND ngày 06/11/2008 về quản lý khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lào cai Trong đó quy định
rõ nghĩa vụ tài chính của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản
Trước khi tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản phải thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ thuế, phí, lệ phí, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định đối với Nhà nước; thực hiện đăng ký kế hoạch hoạt động khai thác khoáng sản tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và
Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi được phép tiến hành khai thác;
Trong quá trình hoạt động khai thác khoáng sản NNT phải kê khai, nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, nộp tiền thuê đất, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của Luật Quản
Cục Hải Quan tỉnh kiểm soát chặt chẽ việc xuất khẩu khoáng sản, kiểm tra giấy tờ chứng minh nguồn gốc khoáng sản, số lượng, hàm lượng, loại khoáng sản được phép xuất khẩu; xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định
Trang 351.2.3.3 Tổng kết rút ra kinh nghiệm cho tỉnh Phú Thọ
- Công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản phải có
sự chỉ đạo sát sao, chặt chẽ của UBND tỉnh; sự phối hợp thường xuyên của
cơ quan thuế với các cơ quan có liên quan như cơ quan Công an, cơ quan Tài
nguyên và môi trường các cấp
- Thành lập Ban chỉ đạo và Tổ giúp việc quản lý hoạt động khai thác khoáng sản từ cấp tỉnh đến cấp xã, trong đó giao trách nhiệm, quyền hạn cụ thể cho từng ngành, từng cấp, từng địa phương nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác khoáng sản
- Đối với khai thác nước khoáng nóng: Cần phải có cơ sở khai thác tập trung để quản lý và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên quý hiếm
ở địa phương
- Phải tăng cường kiểm tra, kiểm soát các tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản; xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật thuế cũng như các chính sách pháp luật khác
Trang 36Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản?
- Thực trạng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản, những tồn tại, bất cập cần khắc phục?
- Những giải pháp nào nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ?
- Cần đề xuất kiến nghị gì để hoàn thiện chính sách thuế của Việt Nam
và cơ chế quản lý hoạt động khai thác khoáng sản ở địa phương?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Đề tài tiến hành thu thập thông tin thứ cấp được thu thập từ các nguồn tài liệu, báo cáo của UBND tỉnh Phú Thọ; Tài liệu và báo cáo của các cơ quan: Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư; Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ; các tài liệu, thông tin đã được công bố trên các giáo trình, báo và tạp chí
Tài liệu thu thập được gồm:
- Các tài liệu thống kê về tình hình dân số, lao động, kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Các tài liệu thống kê về liên quan đến công tác quản lý thuế
hoạt động khai thác khoáng sản trong giai đoạn 2008 - 2012
- Các bài báo tại các tạp chí khoa học chuyên ngành kinh tế, quản lý, thuế
Mục tiêu của phương pháp này nhằm thu
Trang 37thu đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, đồng thời thấy
2.2.2 Phương pháp thống kê
Để hệ thống hóa và tổng hợp số liệu theo các tiêu thức phù hợp với
mục tiêu nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin
Phân tích thông tin là giai đoạn cuối cùng của quá trình nghiên cứu khoa học, có nhiệm vụ làm rõ các đặc trưng, xu hướng phát triển của hiện tượng và quá trình nghiên cứu dựa trên các thông tin thống kê đã được thu thập, xử lý và tổng hợp nhằm giải đáp các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra Quá trình phân tích phải xác định cụ thể các mức độ của hiện tượng, xu hướng biến động cũng như tính chất và mức độ chặt chẽ của các mối liên hệ giữa các hiện tượng, để từ đó rút ra được những kết luận khoa học về bản chất cũng như tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu; dự báo quá trình tiếp theo của hiện tượng trong thời gian ngắn Trong đề tài này, các phương pháp phân tích thống kê được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích dãy số theo thời gian, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Phương pháp phân tích trong đề tài này chủ yếu sử dụng Phương pháp phân tích dãy số thời gian
Nghiên cứu này sử dụng các dãy số thời kỳ với khoảng cách giữa các thời kỳ trong dãy số là 1 năm C
, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ theo thời gian bao gồm:
*) Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối định gốc (Δi)
Chỉ tiêu này phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối của chỉ tiêu nghiên cứu trong khoảng thời gian dài
Trang 38Trong đó: yi: mức độ tuyệt đối ở thời gian i
y1: mức độ tuyệt đối ở thời gian đầu
*) Tốc độ phát triển
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ phát triển của hiện tượng qua thời gian Tốc độ phát triển có thể được biểu hiện bằng lần hoặc phần trăm Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, nghiên cứu sử dụng một số loại tốc độ phát triển sau:
+ Tốc độ phát triển liên hoàn (ti)
Tốc độ phát triển liên hoàn được dùng để phản ánh tốc độ phát triển của hiện tượng ở thời gian sau so với thời gian trước liền đó
Công thức tính:
Trong đó: yi: mức độ tuyệt đối ở thời gian i
yi-1: mức độ tuyệt đối ở thời gian liền trước đó
+ Tốc độ phát triển định gốc (Ti)
Tốc độ phát triển định gốc được dùng để phản ánh tốc độ phát triển của hiện tượng ở những khoảng thời gian tương đối dài
Công thức tính:
Trong đó: yi: mức độ tuyệt đối ở thời gian i
y1: mức độ tuyệt đối ở thời gian đầu
Trang 39Trong đó: t2, t3, t4, tn: là tốc độ phát triển liên hoàn của thời kỳ i
Tn: là tốc độ phát triển định gốc của thời kỳ thứ n
yn: là mức độ tuyệt đối ở thời kỳ n y1: mức độ tuyệt đối ở thời kỳ đầu
*) Tốc độ tăng (hoặc giảm)
Tốc độ tăng (hoặc giảm) bình quân (a)
Tốc độ tăng (hoặc giảm) bình quân được dùng để phản ánh mức độ đại diện của tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn
Công thức tính:
Hoặc:
2.2.4 Phương pháp so sánh
Để đánh giá sự tương quan giữa các chỉ tiêu, giữa quá khứ với hiện tại
để tìm ra nguyên nhân của sự thay đổi
- So sánh là việc đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội
đã được lượng hoá có cùng một nội dung, tính chất tương tự nhau:
- Biểu hiện bằng số: Số lần hay phần trăm
- Phương pháp so sánh gồm các dạng:
+ So sánh qua các giai đoạn khác nhau
+ So sánh các đối tượng tương tự:
+ So sánh các yếu tố, hiện tượng cá biệt với trung bình hoặc tiên tiến
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực tế
Khảo sát nắm tình hình thực tế tại địa bàn nghiên cứu để thu thập thông tin về công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT cho các đối tượng là doanh nghiệp
có hoạt động khai thác khoáng sản
Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi thông qua các hội nghị đối thoại với doanh nghiệp
Trang 402.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá về công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT
- Số lượng các doanh nghiệp được tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ về thuế: Các dịch vụ hỗ trợ về thuế như tập huấn cho người nộp thuế; tổ chức hội nghị đối thoại với người nộp thuế; hướng dẫn chính sách thuế bằng văn bản, qua điện thoại, trực tiếp tại cơ quan thuế Thông qua các chỉ tiêu này đánh giá được mức độ quan tâm chăm sóc, giúp đỡ pháp lý cho người nộp thuế của cơ quan thuế
- Số doanh nghiệp đã thực hiện kê khai bằng phần mềm hỗ trợ kê khai
mã vạch hai chiều trên tổng số doanh nghiệp: Đây là phần mềm của ngành thuế để hỗ trợ các doanh nghiệp kê khai thuế trên ứng dụng của máy tính và được kết xuất ra văn bản giấy hoặc gửi cơ quan thuế qua mạng internet Sau
đó được cơ quan thuế tự động nhập vào ứng dụng của ngành thông qua thiết
bị đọc mã vạch hai chiều
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thông tin NNT
- Số lượng người nộp thuế đã thực hiện đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế qua các năm: Chỉ tiêu này được lấy từ báo cáo của các Chi cục Thuế nhằm đánh giá chất lượng công tác quản lý về mặt số lượng người nộp thuế
- Số doanh nghiệp được cấp MST mới qua các năm: Thông qua các thông tin trên ứng dụng cấp mã số thuế phản ánh chất lượng công tác quản lý thông tin danh bạ người nộp thuế; đồng thời phản ánh tốc độ tăng về mặt số lượng NNT
2.3.3 Chỉ tiêu về thu ngân sách và sản lượng khai thác
- Tổng thu NSNN từ hoạt động khai thác khoáng sản qua 5 năm: Chỉ tiêu này được lấy từ báo cáo kết quả thu hàng năm của Cục Thuế và các Chi cục Thuế, phản ánh tình hình tăng, giảm thu từ hoạt động khai thác khoáng sản Đồng thời đối chiếu với sản lượng khai thác thực tế của một số loại khoáng sản điển hình