Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện luật quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên; thực hiện yêu cầu đảm bảo thu đúng, đủ theo quy định
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ THÚY PHƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan
Những nội dung trong Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS Đỗ Thị Thúy Phương
Mọi tham khảo dùng trong Luận văn đều được trích nguồn gốc rõ ràng Các nội dung trong nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Quỳnh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Đỗ Thị Thúy Phương, cùng các thầy cô
giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tận tâm giúp đỡ trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên và các bạn bè khác đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2014
Tác giả
Phạm Thị Quỳnh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài và đóng góp mới của đề tài 3
5 Bố cục của Luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế bảo vệ môi trường 5
1.1.1 ơ bảo vệ môi trường 5
1.1.2 Lý luận chung về thuế 7
1.1.3 Lý luận chung về thuế BVMT 17
1.1.4 Lý luận về quản lý thuế BVMT 21
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế BVMT 34
1.1.6 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế BVMT 37
1.2 Kinh nghiệm quản lý thuế BVMT ở một số Cục Thuế và bài học cho Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 39
1.2.1 Công tác quản lý thuế BVMT tại một số Cục Thuế 39
1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 47
Chương 2 PHƯƠ 51
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 51
2.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài 51
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 51
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2.2 Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin 51
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 52
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 53
2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh số lượng hàng hóa dịch vụ gây ô nhiễm 53
2.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh số thuế phải nộp, số thuế đã nộp và tình hình chấp hành Luật thuế BVMT của doanh nghiệp 53
2.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả quản lý thu thuế BVMT của Cục Thuế 53
Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ TỈNH THÁI NGUYÊN 50
3.1 Đặc điểm của tỉnh Thái Nguyên 56
3.1.1 điều kiện tự nhiên 56
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 59
3.2 Sơ lược về lịch sử phát triển của Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 64
3.2.1 Lịch sử phát triển, vị trí, chức năng 64
3.2.2 Nhiệm vụ quyền hạn 65
3.3 Thực trạng công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 70
3.3.1 thuế 2011 - 2013 70
3.3.2 Kết quả thực hiện công tác quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 74
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế BVMT của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 85
3.4.1 Yếu tố kinh tế 85
3.4.2 Thể chế, chính sách 86
3.4.3 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT 86
3.4.4 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế BVMT 87
3.4.5 Công tác quản lý tạo lập, sử dụng và kiểm tra hóa đơn 87
3.4.6 Công tác quản lý nợ thuế BVMT, cưỡng chế thuế BVMT 87
3.4.7 Tin học hóa và cơ sở dữ liệu về tổ chức, cá nhân nộp thuế 88
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.4.8 Công tác tổ chức và trình độ năng lực đội ngũ cán bộ công chức
ngành thuế 88
3.4.9 Trụ sở, phương tiện làm việc của cơ quan thuế 88
3.4.10 Sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý thuế BVMT 89
3.5 Đánh giá tình hình quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 89
3.5.1 Kết quả đạt được 89
3.5.2 Những mặt còn hạn chế 95
3.5.3 Một số nguyên nhân làm hạn chế công tác quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 95
Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CỤC THUẾ TỈNH THÁI NGUYÊN 99
4.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 99
4.1.1 Quan điểm 99
4.1.2 Mục tiêu quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 101
4.1.3 Định hướng quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 102
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 103
4.2.1 Căn cứ đưa ra giải pháp 103
4.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới 104
4.3 Kiến nghị để thực hiện các giải pháp đề ra 116
4.3.1 Đối với Nhà nước 116
4.3.2 Đối với Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 117
4.3.3 Đối với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên 119
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
DN DNNNĐP DNTW DNĐTNN BVMT ĐKKD GDP HĐND MST NQD NXB NNT NSNN SDĐNN SDĐNN TNCN
TP
TS TKTN UBND
: Doanh nghiệp : Doanh nghiệp nhà nước địa phương : Doanh nghiệp trung ương
: Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài : Bảo vệ môi trường
: Đăng ký kinh doanh : Tổng sản phẩm quốc nội : Hội đồng nhân dân : Mã số thuế
: Ngoài quốc doanh : Nhà xuất bản : Người nộp thuế : Ngân sách nhà nước : Sử dụng đất nông nghiệp : Sử dụng đất phi nông nghiệp : Thu nhập cá nhân
: Thành phố : Tiến sỹ : Tự khai tự nộp : Ủy ban nhân dân
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả thu NSNN của Cục thuế tỉnh Bắc Giang 2011 - 2013 41 Bảng 1.2 Kế hoạch và kết quả thu NSNN từ sắc thuế BVMT giai đoạn
2011 - 2013 43 Bảng 1.3 Kết quả thu NSNN của các đơn vị thuộc Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn
giai đoạn 2011 - 2013 45
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh Thái
Nguyên năm 2012, 2013 và kế hoạch năm 2014 62 Bảng 3.2 Kết quả thu ngân sách tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2013 70 Bảng 3.3 Kết quả thu ngân sách tỉnh Thái Nguyên của các sắc thuế giai đoạn
2011 - 2013 72 Bảng 3.4 Tình hình sản lƣợng xăng, dầu các loại và nghĩa vụ thuế BVMT
của các doanh nghiệp năm 2012; 2013 74 Bảng 3.5 Tình hình sản lƣợng khai thác than các loại và nghĩa vụ thuế
BVMT của các doanh nghiệp năm 2012; 2013 75 Bảng 3.6 Thống kê số lƣợng NNT theo loại hình doanh nghiệp thuộc đối
tƣợng nộp thuế BVMT giai đoạn 2011 - 2013 76 Bảng 3.7 Thống kê tỷ lệ nộp hồ sơ khai thuế BVMT năm 2011, 2012, 2013 77 Bảng 3.8 Kết quả thu, nộp thuế BVMT tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2012 - 2013 77 Bảng 3.9 Tình hình nợ thuế BVMT giai đoạn 2012 - 2013 81 Bảng 3.10 Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp phải
nộp thuế BVMT năm 2012, 2013 82 Bảng 3.11 Kết quả kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp phải nộp thuế BVMT
giai đoạn 2012 - 2013 83
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức quản lý theo chức năng của hệ thống thuế Việt Nam 69Biểu đồ 3.1 Tình hình phát sinh thuế BVMT theo từng loại hàng hóa giai đoạn
2012 - 2013 81
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong suốt hơn 30 năm kể từ Hội nghị môi trường đầu tiên của thế giới (Stockholm 1972) cho đến nay, cộng đồng thế giới đã có nhiều nỗ lực để đưa vấn đế môi trường vào các chương trình nghị sự ở cấp quốc tế và quốc gia Tuy nhiên, hiện trạng môi trường toàn cầu vẫn đang tiếp tục trở nên tồi tệ hơn Suy giảm đa dạng sinh học tiếp diễn, trữ lượng cá tiếp tục giảm sút, sa mạc hóa ngày càng cướp đi nhiều đất đai màu mỡ, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã hiển hiện rõ ràng Thiên tai trên thế giới ngày càng nhiều và ngày càng khốc liệt, có thể kể đến một ví dụ điển hình đó
là thảm họa động đất và sóng thần mới diễn ra ở Nhật Bản đầu tháng 4 năm 2011 Trong tháng 11 năm 2013 tại Philippines số người chết vì bão lên đến hơn 3.600 người
Trong thời gian qua tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế, quá trình công nghiệp hoá và phát triển đô thị tăng nhanh đã tác động xấu đến môi trường sinh thái như sự gia tăng phát thải nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt; gia tăng số lượng chất thải rắn trong sinh hoạt và trong công nghiệp; gia tăng phát thải các chất gây ô nhiễm không khí từ các quy trình sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải; ô nhiễm ngày càng gia tăng cả trên mặt đất, trong lòng đất, sông hồ và trong không khí
Để bảo vệ và cải thiện môi trường, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 ngày 15 tháng 11 năm 2010 đã thông qua
“Luật thuế bảo vệ môi trường” Mục tiêu của Luật thuế này, một mặt sẽ bổ sung vào nguồn thu tài chính để đầu tư, cải tạo môi trường, mặt khác sẽ hạn chế hoạt động gây hại đến môi trường của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
Thái Nguyên được thiên nhiên ban tặng cho một nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú Các loại tài nguyên khoáng sản như quặng sắt, than
mỡ, thiếc, tài nguyên làm vật liệu xây dựng, tuy có trữ lượng không lớn nhưng
đã được thăm dò và nhiều loại đang khai thác là nhân tố quan trọng trong việc hình thành một số trung tâm công nghiệp chuyên môn hoá của tỉnh Tuy nhiên, hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ngày càng
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
gia tăng và khó kiểm soát, tính chất vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng phức tạp, nhiều "điểm nóng" về ô nhiễm môi trường còn tồn tại, gây bức xúc trong dư luận Vì vậy, việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường là việc làm cần thiết
Quản lý thuế bảo vệ môi trường là một trong những sắc thuế cần được xây dựng để hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Tuy nhiên, quản lý thuế bảo
vệ môi trường là công tác quản lý thuế mới, hiện nay vẫn còn tồn tại chủ yếu như: chính sách thuế chưa thực sự đồng bộ, còn phức tạp, sắc thuế còn nhiều mức thuế suất, bộ máy thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm về thuế, quản lý nợ và cưỡng chế thuế thì còn quá nhỏ so với yêu cầu quản lý thuế Vì vậy, hoàn thiện công tác quản lý thuế bảo vệ môi trường để nâng cao chất lượng quản lý, đồng thời nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nhằm góp phần thay đổi nhận thức của con người đối với môi trường, tạo thêm nguồn lực để khôi phục môi trường
sinh thái Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế bảo vệ môi trường tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện luật quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên; thực hiện yêu cầu đảm bảo thu đúng, đủ theo quy định của luật quản lý thuế, nuôi dưỡng nguồn thu, nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuế, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế bảo vệ môi trường tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế BVMT
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên, kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối BVMT thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức quản lý thuế BVMT tại Cục
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: nghiên cứu trên địa bàn tại tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi về mặt thời gian: thu thập thông tin thứ cấp từ các tài liệu đã được
- Trên cơ sở chủ trương, đường lối, quan điểm, pháp luật của Đảng và Nhà nước
về thuế BVMT, luận văn nêu bật vai trò quan trọng của thuế BVMT và quản lý thu thuế BVMT trong phát triển kinh tế - xã hội
- Luận văn là tài liệu khoa học có ý nghĩa thiết thực cho công tác quản lý thuế BVMT đạt hiệu quả cao
- Từ những nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên và của các tỉnh khác về quản lý thuế thuế BVMT, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế BVMT ở các địa phương khác trong thời gian tới
4.2 Đóng góp mới của đề tài
ý thuế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trong những năm trước đây chưa nghiên cứu
về thuế bảo vệ môi trường, do đó qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng công tác quản lý thuế BVMT nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên để quản lý thu thuế có hiệu quả
5 Bố cục của Luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, được chia ra 4 Chương nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế BVMT
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế BVMT tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thuế bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường được nêu trong Văn kiện của Đại hội Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số Nghị quyết, Chỉ thị chuyên đề về công tác bảo
vệ môi trường Chỉ thị của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu quan điểm của Đảng về công tác
BVMT, đó là “Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc…” (Chỉ thị 36-CT/TW, 1998) Tiếp theo
đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm
2004 về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết tiếp tục khẳng định các quan điểm của Chỉ thị số 36/CT-TW và bổ sung, phát triển các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp lớn, cập nhật xu thế của thời đại và phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đặt ra, nhấn mạnh quan điểm
“Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch,
dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành và từng địa phương Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế - xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường Đầu
tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững” và “Bảo vệ môi trường là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta" (Nghị quyết số 41-NQ/TW, 2004) Chỉ thị số 29-CT/BBT
ngày 21 tháng 1 năm 2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số NQ/TW cập nhật những nhận thức mới và đề ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm
41-vụ BVMT phù hợp với tình hình, nhiệm 41-vụ
Với tính chất là một thuật ngữ pháp lý, bảo vệ môi trường được định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11, của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2005 Tại điểm 3, điều 3, Chương I, Luật BVMT số 52/2005/QH11 ngày
29/11/2005 quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” (Luật BVMT số 52/2005/QH11, 2005)
1.1.1.2 Đặc điểm, vai trò của công tác BVMT
- Đặc điểm của bảo vệ môi trường:
+ BVMT phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã
hội để phát triển bền vững đất nước
+ BVMT của quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường
+ BVMT phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
- Vai trò của bảo vệ môi trường: Công tác BVMT là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải
1.1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về công tác quản lý BVMT
- Quan điểm công tác quản lý BVMT
+ Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng BVMT đô thị, khu dân cư
+ Đầu tư BVMT là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hàng năm
+ Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động BVMT
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Ưu đãi về đất đai, chính sách thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động BVMT và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và
sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển
- Mục tiêu công tác quản lý BVMT
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi người tham gia BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học Bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt BVMT
1.1.2 Lý luận chung về thuế
1.1.2.1 Khái niệm về thuế
Trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được
quan niệm rất đơn giản: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá " (Mác - Ăng Ghen,
1962, tr.522) Và với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực nhà nước Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp Khái niệm nêu trên mới nhấn mạnh một chiều, theo quan niệm của từng góc độ khác nhau thì thuế được hiểu:
Trên góc độ phân phối thu nhập thì: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trên góc độ người nộp thuế thì: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước
Trên góc độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nước
sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo Từ
điển tiếng Việt thì “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định” (Trung tâm từ điển học, 1998) .
Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển xã hội, việc quy định thuế phải được sử dụng chung cũng là một vấn đề cần xem xét Có những loại thuế được thu chỉ nhằm một mục đích định trước và trao cho một số đối tượng quy định
Trong tài liệu của khối các trường kinh tế, các nhà quản lý kinh tế, tài chính,
đặc biệt trong lĩnh vực thuế nêu khái niệm về thuế: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng” (Giáo trình thuế của Học viện Tài chính, 2009, tr.5)
1.1.2.2 Đặc điểm của Thuế
Qua phân tích nguồn gốc của sự ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế nêu trên, có thể khẳng định rằng: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả … Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong kinh tế thị trường như sau:
- Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền
Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật
đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác Chính sự phát triển của hoạt động trao đổi hàng hoá bằng tiền đã làm cho thuế phát triển, và ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tế thị trường bằng cách đòi hỏi người nộp thuế trong trường hợp không có tiền phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để thanh toán nợ thuế
Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không hoàn toàn mất đi trong
hệ thống chính sách thuế đương đại Một số quốc gia vẫn duy trì hình thức này dưới dạng thanh toán thuế bằng hiện vật với một số hiện vật quý, như khi đào được cổ vật phải nộp thuế cho nhà nước với một tỷ lệ hiện vật tùy theo quy định cụ thể Kỹ thuật này giúp Nhà nước sưu tập được những di sản quốc gia quý giá từ dân chúng để bảo tồn tập trung những giá trị văn hoá của dân tộc, nhân loại
- Luôn gắn liền với quyền lực nhà nước
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành quỹ ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” đồng thời, Hiến pháp cũng quy định: “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân; Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội; Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định” (Hiến pháp, 2013)
Như vậy, theo quan điểm này công dân không có quyền từ chối trả thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình, mà chỉ có quyền chấp hành Trường hợp đối tượng nộp thuế nào cố tình không chấp hành sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế của mình theo luật định
Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác
- Luôn gắn liền với thu nhập
Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế Thuế, cho dù dưới bất kỳ hình thức nào đều buộc người trả thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh toán cho Nhà nước mà không cần biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa
Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật
- Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng
Tính chất không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá
Về mặt pháp lý, thuế không là giá cả của dịch vụ cung cấp Vì vậy, NNT không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà nước sử dụng tiền thuế không
có hiệu quả Họ cũng không thể đòi hỏi số tiền thuế do họ nộp phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác Mặt khác, họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do số thuế thu được tài trợ cho các khoản chi tiêu trái với những nguyên tắc của nó
Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ
trực tiếp cho NNT nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Khái niệm chi tiêu công cộng ngày nay không chỉ được hiểu theo nghĩa bó hẹp trong các khoản chi tiêu cho việc duy trì bộ máy nhà nước Trên thực tế, nhà nước hiện nay còn thực hiện nhiều chức năng kinh tế, xã hội, văn hoá và tất yếu các hoạt động này cũng chỉ được chi trả bằng thuế
1.1.2.3 Vai trò của Thuế
- Thuế là công cụ tập trung nguồn thu chủ yếu cho NSNN
Để huy động nguồn lực vật chất cho mình, Nhà nước có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau như: phát hành thêm tiền; phát hành trái phiếu để vay trong nước và ngoài nước; bán một phần tài sản quốc gia; thu thuế Trong các hình thức nêu trên thì thuế là công cụ chủ yếu và có vai trò quan trọng nhất Vì so với các hình thức huy động khác, sử dụng công cụ thuế có những ưu điểm:
+ Thuế là một công cụ phân phối có lĩnh vực và phạm vi rộng lớn Đối tượng nộp thuế bao gồm các thể nhân, pháp nhân theo quy định cụ thể của từng Luật thuế
+ Phương thức huy động của thuế là sử dụng phương pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế được đảm bảo tập trung một cách nhanh chóng, thường xuyên và ổn định
+ Thông qua thu thuế một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra đã tập trung vào Nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng và thực hiện các biện pháp kinh tế - xã hội
+ Tính ưu thế của động viên thông qua thuế so với các công cụ khác còn thể hiện ở chỗ: thuế kết hợp hài hoà giữa phương pháp cưỡng bức và kích thích vật chất nhằm tạo ra sự quan tâm của các đối tượng nộp thuế tới chất lượng sản xuất và hiệu quả kinh doanh
Số liệu thống kê trên cho thấy số thu thuế và phí chiếm phần lớn trong tổng thu NSNN và tăng nhanh qua các năm, đảm bảo về cơ bản yêu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của NSNN, giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội, an ninh quốc phòng và giành một phần để tăng tích luỹ
Do vậy có thể khằng định thuế là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của NSNN
- Thuế tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô
Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những khuyết tật vốn có của nó Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô bằng
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cách đưa ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế - xã hội theo các mục tiêu Nhà nước
đã định và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng nhiều biện pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong
đó biện pháp kinh tế là gốc Trong các biện pháp kinh tế thì thuế là công cụ quan trọng
và sắc bén nhất Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế thị trường, người ta thường xác định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi Chính phủ phải theo đuổi đó là:
+ Thuế kích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
Thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường xảy
ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và
tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững
+ Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cụ Thông qua thuế Thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng như: thuế GTGT, thuế Tiêu thụ đặc biệt
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Với những hàng hoá dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước
+ Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung, cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng Thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động
+ Thuế góp phần
kinh tế thế giới:
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng sa xỉ
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong khu vực và trên thế giới Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế
Nhà nước thường sử dụng công cụ thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
+ Xác định mối quan hệ hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Thay đổi thuế suất: thuế suất hay định suất thuế là linh hồn của mỗi sắc thuế Thay đổi thuế suất tức là mức thu thuế hay đại lượng thu thuế tính trên một đơn vị đối tượng chịu thuế
Thay đổi thuế suất được coi là một phương pháp quan trọng trong quá trình nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết nền kinh tế Thông qua việc đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các ngành nghề, mà nhà nước tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường nhằm góp phần điều tiết vĩ mô, đảm bảo giữa các ngành nghề trong nền kinh tế
+ Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế: Ưu đãi thuế tức là hình thức cho NNT được hưởng các điều kiện thuận lợi khi nộp thuế Qua thực hiện ưu đãi thuế, nhà nước đã điều tiết nền kinh tế một cách linh hoạt, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của cục diện nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đã đặt ra
- Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoàng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng Chính vì vậy Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội Thuế là một công cụ để Nhà nước tác động trực tiếp vào quá trình này Việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thu thuế tiêu thụ đặc biệt Các sắc thuế trực thu đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất lũy tiến là sắc thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập
và đảm bảo công bằng xã hội
- Thuế còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh
Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện thu đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy
mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, những mặt hàng họ được phép kinh doanh Từ công tác quản lý thu mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ Như vậy qua công tác quản lý
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thuế mà họ có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh
tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội
1.1.2.4 Một số khái niệm cơ bản
* Hệ thống thuế: Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà
giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế,
phương pháp thu nộp thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định
* Phân loại thuế: Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà
hệ thống pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể định hướng xây dựng và quản lý hệ thống thuế, việc sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế
Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định Tuỳ thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế có khác nhau Cũng tuỳ thuộc vào cơ sở, mục đích phân định, thông thường thuế được phân loại theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính động viên vào Ngân sách Nhà nước, thuế được phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu
+ Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
+ Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu
có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế
- Căn cứ vào đối tượng thu thuế Theo cách phân loại này thuế được chia thành các loại:
+ Thuế thu vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng, thuế đánh vào sản phẩm hàng hoá như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
+ Thuế thu vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân + Thuế thu vào tài sản như thuế nhà đất, thuế đánh vào việc khai thác hoặc
sử dụng một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất, sử dụng vốn của Ngân sách Nhà nước, thuế khác và lệ phí, phí
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Các yếu tố cơ bản cấu thành một sắc thuế
Khác với các hình thức động viên tài chính khác, thuế thực hiện chuyển giao thu nhập dưới các hình thức biểu hiện cụ thể của mình bằng một sắc thuế Mỗi sắc thuế đều phải được quy định bằng một văn bản pháp luật và được gọi là một luật thuế Trong một luật thuế thông thường chứa đựng các yếu tố cơ bản sau đây:
- Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế (Đối tượng nộp thuế):
Chủ thể chịu sự điều chỉnh của một luật thuế chỉ rõ khoản thuế đó do chủ thể nào phải nộp Luật thuế gọi chủ thể đó là đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế theo luật định là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm phải nộp thuế cho Nhà nước theo luật pháp quy định Đối tượng nộp thuế không nhất thiết là đối tượng chịu thuế Trong nhiều trường hợp đối tượng nộp thuế cũng chính là đối tượng chịu thuế, khi trong sắc thuế đó người nộp thuế không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác
- Khách thể chịu sự điều chỉnh của luật thuế (Đối tượng chịu thuế):
Khách thể trong luật thuế chỉ rõ đối tượng được đưa ra làm cơ sở tính thuế hay đối tượng chịu thuế Trong luật thuế, người ta gọi khách thể là đối tượng chịu thuế
Do cơ sở thuế là thu nhập, hàng hoá hay tài sản, nê đối tượng chịu thuế cũng
có thể là thu nhập, giá trị hàng hoá hoặc giá trị của tài sản Mỗi một luật thuế có một đối tượng chịu thuế riêng Đối tượng chịu thuế có thể được tính trên một đơn vị, trên một đơn vị vật lý hoặc một đơn vị giá trị
- Mức thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng chịu thuế (Thuế suất):
Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế Trong ngôn ngữ luật thuế người ta gọi mức thuế phải nộp là thuế suất hay định suất
Trong một luật thuế, thuế suất là linh hồn của sắc thuế, mang trong mình nó gánh nặng của thuế, thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Vì vậy, việc xác định thuế suất trong một luật thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích chung của quốc gia vừa phải
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chú ý thích đáng đến lợi ích của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công cụ thuế
1.1.3 Lý luận chung về thuế BVMT
1.1.3.1 Khái niệm về thuế BVMT
Khái niệm thuế BVMT thường được tiếp cận dưới hai góc độ:
Theo nghĩa rộng, thuế BVMT là toàn bộ các khoản thuế mà chủ thể nộp thuế phải đóng góp liên quan đến việc tác động đến môi trường thông qua hành vi của mình Dưới giác độ này, thuế BVMT được hiểu là thuế liên quan đến môi trường
Theo nghĩa hẹp, thuế BVMT được hiểu là một loại thuế riêng biệt, được Quốc hội ban hành dưới hình thức Luật, điều chỉnh quan hệ thuế giữa Nhà nước và các chủ thể có hành vi tác động tiêu cực đến môi trường
Như vậy, thuế BVMT là loại thuế mà các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường phải nộp nhằm phòng, chống ô nhiễm môi trường và đảm bảo phát triển bền vững Đa phần các quốc gia trên thế giới đều giải thích khái niệm thuế BVMT theo nghĩa rộng, tuy nhiên ở Việt Nam, khái niệm thuế BVMT lại được hiểu theo nghĩa hẹp tại khoản 1, điều 2 Luật thuế bảo vệ môi trường số 57/2010,
ngày 15 tháng 11 năm 2010 đưa ra khái niệm về thuế BVMT như sau: “Thuế BVMT
là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường” (Luật thuế BVMT, 2010)
Thuế BVMT thu vào các sản phẩm mà khi sử dụng sẽ gây ô nhiễm môi trường Người tiêu dùng là người chịu thuế nhưng người sản xuất, nhập khẩu là
người nộp thay Mức thuế môi trường có tính ổn định cao
1.1.3.2 Đặc điểm của thuế BVMT
- Thuế BVMT mang tính chủ quan, thể hiện ý chí của Nhà nước áp đặt một mức thu cố định trên một đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm mà người tiêu dùng phải trả khi sử dụng sản phẩm đó nhằm hạn chế việc sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm
- Thuế BVMT thu vào các sản phẩm mà khi sử dụng sẽ gây ô nhiễm môi trường Người tiêu dùng là người chịu thuế nhưng người sản xuất, nhập khẩu là người nộp thay Mức thuế môi trường có tính ổn định cao
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Luôn gắn liền với thu nhập của tổ chức, hộ gia đình cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa gây ô nhiễm môi trường
- Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng
Từ những đặc điểm nêu trên, Luật thuế bảo vệ môi trường quy định tám (08) nhóm hàng hoá vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường (đây là 08 nhóm hàng hóa lớn
mà khi sử dụng gây ô nhiễm trên diện rộng) Việc đưa các sản phẩm, hàng hoá (sau đây gọi chung là hàng hoá) vào đối tượng chịu thuế BVMT theo các nguyên tắc:
Thứ nhất, phải là những hàng hoá được sản xuất, nhập khẩu mà khi sử dụng
gây tác động xấu đến môi trường
Thứ hai, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia và với
thông lệ quốc tế
Thứ ba, đây là loại thuế mới và phức tạp, do đó cần bảo đảm tính khả thi, xác
định rõ loại hàng hoá để quản lý thu thuế được hiệu quả; phải tính đến sự hài hoà với phát triển kinh tế, không tác động đến năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu
Trên thực tế, có nhiều hàng hóa mà khi sử dụng gây ô nhiễm với các mức độ tác động khác nhau đến môi trường Do đó sẽ có rất nhiều loại hàng hoá có thể phải đưa vào diện chịu thuế môi trường Trong bối cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại chưa nên đưa tất cả các hàng hóa gây ô nhiễm vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường mà chỉ nên chọn lựa một số hàng hóa gây ô nhiễm đáp ứng các nguyên tắc nêu trên
1.1.3.3 Vai trò của thuế BVMT
- Thuế BVMT là công cụ thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước, Luật Thuế này
có thể động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo nguồn thu cho Chính phủ để giải quyết vấn đề môi trường Đây chính là ưu điểm lớn của việc sử dụng thuế môi trường so với các biện pháp hành chính khác, vì các doanh nghiệp và người tiêu dùng thực sự khó từ bỏ hoàn toàn những hoạt động bị đánh thuế Việc áp dụng thực hiện thuế môi trường sẽ đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước và do đó một phần giải quyết được những khó khăn về tài chính
- Thuế BVMT tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô, thu nhập thu được từ thuế môi trường có thể đem lại “lợi ích kép” Lợi ích thứ nhất là BVMT một cách có hiệu quả và lợi ích thứ hai là mang lại nguồn thu nhập từ thuế môi trường Với những vai trò to lớn như trên, việc áp dụng thuế BVMT là thực sự cần thiết đối với
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mỗi quốc gia, đặc biệt khi so sánh tính hiệu quả của thuế môi trường với các công
cụ quản lý môi trường khác
- Thuế BVMT là nhằm thay đổi hành vi đầu tư, sản xuất và tiêu dùng, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường Khi áp dụng, thuế BVMT sẽ cho phép mỗi doanh nghiệp tự quyết định xem nên trả thuế môi trường hay nên xử lý ô nhiễm để giảm thiểu chi phí Những người có chi phí giảm ô nhiễm cao sẽ có khuynh hướng chấp nhận nộp thuế và những người có chi phí giảm ô nhiễm thấp sẽ cố gắng hạn chế sự thải ô nhiễm của mình Do đó, thuế BVMT tạo ra các khuyến khích cho người sản xuất và người sử dụng tránh các hành vi gây hại tới môi trường, đặc biệt
là khi thuế được tăng cường bởi các công cụ hành chính truyền thống
- Thuế BVMT còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường
- Tính thuế theo nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền: Theo nguyên tắc này, người gây ô nhiễm cho môi trường, cho dù là người sản xuất hay là người tiêu dùng,
họ đều phải chịu trách nhiệm về các chi phí phải sử dụng để hoàn trả lại những tổn thất về môi trường mà chính họ là nguyên nhân gây ra; nói cụ thể hơn là người gây
ô nhiễm môi trường phải nộp một số tiền thuế tương ứng với mức ô nhiễm môi trường mà họ gây ra
- Tính thuế theo khối lượng tiêu thụ các nguyên, nhiên liệu đầu vào: Các loại nguyên, nhiên vật liệu được sử dụng cho quá trình sản xuất, nếu chúng là các nguyên nhân phát sinh ô nhiễm môi trường thì phải chịu một mức thuế tương đương với mức ô nhiễm môi trường mà chúng gây ra Phương pháp tính thuế này có rất nhiều ưu điểm; để hạn chế tối đa, thậm chí tránh được mức thuế ô nhiễm môi trường phải nộp, các doanh nghiệp phải tích cực tìm kiếm và sử dụng các loại
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nguyên nhiên vật liệu thích hợp với các yêu cầu bảo vệ môi trường; thông qua đó khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường sử dụng các nguyên nhiên vật liệu sạch, vừa đảm bảo cho quá trình sản xuất, vừa đảm bảo an toàn cho môi trường
- Tính thuế dựa vào lợi nhuận của doanh nghiệp: Lợi nhuận trước thuế của một doanh nghiệp được tính bằng hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của doanh nghiệp trong kì kế hoạch Do đó, việc tính thuế này có vẻ đơn giản và dễ thực hiện, nó phản ánh được một cách trực tiếp các chi phí về môi trường mà doanh nghiệp phải nộp Cơ sở để xác định tỷ lệ thuế mà doanh nghiệp phải nộp phụ thuộc vào mức độ gây ô nhiễm môi trường mà doanh nghiệp gây ra
- Tính thuế dựa vào khối lượng sản phẩm được sản xuất ra: Cách tính thuế này phải tùy theo từng loại hình sản xuất kinh doanh để tính dựa vào khối lượng sản phẩm được sản xuất ra hoặc dựa vào doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch Tuy nhiên, phương pháp này có một số nhược điểm là: khó có thể xác định được tỷ lệ thu thuế hợp lý và đảm bảo tính công bằng giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh; nó có thể gây bất lợi cho các cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ mới, hoặc bất lợi cho các doanh nghiệp đã triển khai thực hiện các biện pháp xử lý môi trường
- Tính thuế theo mức độ gây ô nhiễm môi trường: Việc xác định mức thuế ô nhiễm phải dựa vào quy mô, tính chất hoạt động và mức độ gây ô nhiễm môi trường của từng doanh nghiệp cụ thể Khối lượng chất thải của một doanh nghiệp càng lớn, hàm lượng chất độc hại càng cao, tính chất các chất độc hại càng nguy hiểm, thì mức thuế ô nhiễm môi trường doanh nghiệp phải nộp càng nhiều Như vậy, để giảm thuế doanh nghiệp bắt buộc phải tìm cách đổi mới công nghệ để hạn chế chất thải ra môi trường
Tại Luật thuế BVMT quy định căn cứ tính thuế BVMT số lượng hàng hoá tính thuế và mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị hàng hoá
Thuế bảo vệ môi trường phải nộp được tính theo công thức sau:
Thuế bảo vệ môi
trường phải nộp =
Số lượng đơn vị hàng hoá tính thuế ×
Mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị hàng hoá Trong đó:
- Đối với hàng hoá sản xuất trong nước: số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu
Đối với trường hợp số lượng hàng hoá chịu thuế BVMT xuất, bán và nhập khẩu tính bằng đơn vị đo lường khác đơn vị quy định tính thuế tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thì phải quy đổi ra đơn
vị đo lường quy định tại biểu mức thuế BVMT để tính thuế
- Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hoá tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hoá tương ứng
Luật thuế BVMT quy định mức thuế tuyệt đối nhằm đơn giản, minh bạch trong thực hiện, đảm bảo ổn định số thu ngân sách Nhà nước (không phụ thuộc vào
sự biến động của giá cả hàng hóa) Áp dụng mức thuế tuyệt đối cũng có nhược điểm
là khi giá sản phẩm chịu thuế tăng cao thì thuế không điều chỉnh kịp theo giá Tuy nhiên, mục tiêu chủ yếu của thuế BVMT là nhằm thay đổi hành vi đầu tư, sản xuất và tiêu dùng, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường (mục tiêu thu NSNN là thứ yếu) nên thuế BVMT được xác định không phụ thuộc vào giá của sản phẩm chịu thuế mà cân nhắc trên mức độ gây ô nhiễm môi trường của sản phẩm thuộc diện chịu thuế
1.1.4 Lý luận về quản lý thuế BVMT
1.1.4.1 Khái niệm quản lý thuế
Để thu được thuế, Nhà nước đã thể chế hoá yêu cầu bắt buộc đóng góp nguồn lực tài chính cho NSNN đối với các thể nhân, pháp nhân Nhà nước quy định nguyên tắc chung về nghĩa vụ nộp thuế của các thể nhân, pháp nhân trong Hiến pháp - văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước Đồng thời để thực hiện nguyên tắc pháp lý chung đó, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về thuế để điều tiết các khoản thu phát sinh trong quá trình vận động của các quan hệ kinh tế
xã hội Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam hiện nay bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế bảo vệ môi trường, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế môn bài, …
Đối với từng sắc thuế nêu trên, pháp luật quy định hoàn cảnh phát sinh nghĩa
vụ thuế, cơ sở chịu thuế, cách xác định nghĩa vụ thuế, trường hợp được ưu đãi thuế,
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
miễn thuế, giảm thuế và ai là người phải nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước Các quy định này phản ánh nội dung, bản chất, chức năng của từng sắc thuế, được gọi chung là quy định về chính sách thuế
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định cách thức NNT thực hiện các thủ tục hành chính để chuyển giao nguồn lực tài chính vào quỹ NSNN, các chế tài xử lý trong trường hợp không chấp hành nghĩa vụ thuế; trách nhiệm và quyền hạn của các
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình chấp hành chấp hành chính sách thuế… Các quy định này thuộc phạm vi quản lý thuế
“Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo NNT chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật” (Tài liệu bồi dưỡng cán bộ công chức thuế, 2008)
Quản lý thuế có vai trò bảo đảm cho chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội Chính sách thuế thường được thiết kế nhằm thực hiện những chức năng cao cả của thuế như điều tiết kinh tế vĩ mô phục
vụ mục tiêu tăng trưởng của đất nước hay phân phối thu nhập nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Tuy nhiên, các mục tiêu này chỉ được hiện thực hoá nếu như công tác quản lý thuế thực hiện điều hành, giám sát để
ai là người nộp thuế thì phải nộp thuế và NNT phải nộp đúng, nộp đủ và nộp đúng hạn số thuế phải nộp vào NSNN Vì vậy, có thể khẳng định Quản lý thuế có vai trò quyết định cho sự thành công của từng chính sách thuế
Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thế các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động (Luật số 78/2006/QH11, 2006)
Quản lý thuế theo quy định hiện hành bao gồm các nội dung như sau:
- Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế
- Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
- Quản lý thông tin về người nộp thuế
- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế
- Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Quan niệm về quản lý thuế đều có các điểm chung là:
- Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế
- Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản
lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thể quản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp) Đối tượng quản
lý là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để đối tượng nộp thuế và các đối tượng có liên quan thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình Phương tiện quản lý là sử dụng các qui định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ
sở chất cần thiết để quản lý
Quản lý thu thuế đối với DN là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để hướng dẫn, quản lý, giám sát việc thực thi pháp luật về thuế đối với các doanh nghiệp tạo điều kiện cho DN phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh
và tăng thu ngân sách nhà nước
Đối với công chức thuế, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế DN nói riêng bao gồm ba hoạt động riêng biệt, liên tiếp nhau: xác định đối tượng nộp thuế, xác định số thuế phải nộp và thu thuế Chức năng chủ yếu của quản lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các chế tài để răn đe những NNT vi phạm Đồng thời, quản lý thuế cũng đảm bảo bên thứ ba có giao dịch mua bán hay cung cấp dịch vụ với NNT phải báo cáo đầy đủ, trung thực các giao dịch kinh tế có phát sinh thuế nộp ngân sách nhà nước theo qui định của luật
Đối với một cơ quan thuế, quản lý thuế hay quản lý thuế đối với DN là một quá trình giống như quá trình sản xuất Trong đó, đầu vào gồm nhân công (công chức thuế), tài liệu và các thông tin, còn đầu ra là số thu cho Nhà nước và sự công bằng cho NNT Trên phạm vi cả nước, quản lý thuế đối với DN bao gồm các hoạt động: hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành qui trình thủ
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tục, đề ra giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ chức bộ máy
và nhân sự để thực hiện các khâu công việc
1.1.4.2 Khái niệm quản lý thuế BVMT
Quản lý thuế BVMT là quản lý khoản thu ngân sách về môi trường mang tính chủ quan, thể hiện ý chí của Nhà nước áp đặt một mức thu cố định trên một đơn
vị sản phẩm gây ô nhiễm mà người tiêu dùng phải trả khi sử dụng sản phẩm đó nhằm hạn chế việc sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm Nhằm thay đổi hành vi của người sản xuất và người tiêu dùng trong việc giảm các chất phát thải và sử dụng các sản phẩm, mà các chất thải và sản phẩm này có tiềm năng hoặc gây tác động xấu tới môi trường và sức khỏe con người
1.1.4.3 Yêu cầu của quản lý thuế BVMT
Quản lý thu thuế BVMT phải đáp ứng được các yêu cầu về tăng cường sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước; tăng cường tính tuân thủ pháp luật; tăng thu cho ngân sách nhà nước; phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện để hội nhập, phát triển
Các giải pháp tài chính để ngăn ngừa ô nhiễm và khôi phục hậu quả môi trường bao gồm chính sách:
- Chi ngân sách để đầu tư khôi phục môi trường, khắc phục hậu quả môi trường
- Thu ngân sách nhằm huy động thêm nguồn lực cho hoạt động BVMT
Quy trình quản lý thuế BVMT được thực hiện theo Quyết định số 1209/QĐ-TCT ngày 29 tháng 7 năm 2004 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Quy trình quản lý thuế được viết cho từng khâu công việc như: Đăng ký thuế; Kê khai thuế; Miễn thuế, giảm thuế; Hoàn thuế; Thanh tra, kiểm tra thuế Tuy nhiên, khi Luật Quản lý thuế được Quốc hội thông qua có hiệu lực thi hành chính thức
từ ngày 01/7/2007 đến nay, Tổng cục Thuế đã ban hành các Quyết định về quy trình quản lý thuế riêng đối với từng khâu công việc gắn với các chức năng Cụ thể như sau:
(1) Quy trình quản lý đăng ký thuế BVMT Nội dung cơ bản gồm:
(a) Mục đích
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thực hiện các quy định về Đăng ký thuế của Luật Quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế;
Cải tiến thủ tục quản lý thuế, chuẩn hoá công tác quản lý thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thuế;
Tiếp nhận và kiểm tra thủ tục hồ sơ đăng ký thuế
Nhập và xử lý thông tin đăng ký thuế
Trả kết quả đăng ký thuế cho NNT
Nhận kết quả cấp MSDN từ Sở KHĐT
* Quy trình đăng ký thuế đối với trường hợp thay đổi thông tin, phục hồi MST
Trường hợp NNT nộp hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế, phục hồi MST trực tiếp tại Cục Thuế/Chi cục Thuế quản lý
Trường hợp NNT nộp hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế tại Phòng đăng
ký kinh doanh - Sở KHĐT
* Quy trình đăng ký thuế đối với trường hợp chấm dứt hiệu lực MST/MSDN
Hướng dẫn lập hồ sơ chấm dứt hiệu lực MST/MSDN
Nơi nộp hồ sơ chấm dứt hiệu lực MST/MSDN
Tiếp nhận và kiểm tra thủ tục hồ sơ chấm dứt hiệu lực
Nhập và xử lý thông tin chấm dứt hiệu lực MST/MSDN
Trả kết quả đăng ký thuế cho NNT
(2) Quy trình quản lý khai thuế BVMT, nộp thuế và kế toán thuế BVMT Nội dung cơ bản gồm:
(a) Mục đích
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Quy trình Quản lý khai thuế BVMT, nộp thuế và kế toán thuế BVMT nhằm đảm bảo theo dõi, quản lý người nộp thuế thực hiện các thủ tục hành chính thuế về khai thuế BVMT, nộp thuế BVMT, kế toán thuế BVMT, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy đủ, đúng quy định và đảm bảo công chức thuế, cơ quan thuế thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Quản lý thuế, các Luật thuế hiện
hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
(b) Phạm vi áp dụng
Quy trình này áp dụng cho cơ quan thuế các cấp: Tổng cục Thuế, Cục Thuế
và Chi cục Thuế, để quản lý khai thuế BVMT, nộp thuế BVMT và kế toán thuế BVMT theo quy định của Luật Quản lý thuế, Luật thuế BVMT các Luật thuế hiện
hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
(c) Nội dung cụ thể
* Quy trình quản lý khai thuế BVMT
Quản lý tình trạng kê khai thuế BVMT của NNT
Xử lý hồ sơ khai thuế BVMT
Xử lý vi phạm về việc nộp hồ sơ khai thuế BVMT
* Quy trình kế toán thuế BVMT
Kế toán thu ngân sách nhà nước
Kế toán theo dõi thu nộp thuế BVMT của NNT
(3) Quy trình miễn thuế, giảm thuế BVMT Nội dung cơ bản gồm:
(a) Mục đích
Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế và người nộp thuế trong quá trình thực hiện và xác định số thuế được miễn, giảm theo các quy định của Luật Quản lý thuế và Luật thuế BVMT
Quy định cụ thể nội dung công việc cơ quan thuế, công chức thuế phải thực hiện trong việc giải quyết miễn thuế, giảm thuế BVMT theo quy định của Luật Quản lý thuế, Luật thuế BVMT
(b) Phạm vi áp dụng
Quy trình miễn thuế BVMT, giảm thuế BVMT được thực hiện thống nhất tại
Cơ quan thuế các cấp (bao gồm: Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế) trong việc giải quyết miễn thuế, giảm thuế BVMT theo quy định của Luật Quản lý thuế, Luật thuế BVMT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đối với các trường hợp cơ quan thuế quyết định miễn thuế BVMT, giảm thuế BVMT
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(c) Nội dung cụ thể
Tiếp nhận hồ sơ miễn thuế BVMT, giảm thuế BVMT
Giải quyết hồ sơ miễn thuế BVMT, giảm thuế BVMT
Thẩm định quyết định miễn thuế BVMT, giảm thuế BVMT
Quyết định miễn thuế, giảm thuế BVMT và thực hiện miễn, giảm thuế BVMT Giải quyết các trường hợp miễn thuế BVMT, giảm thuế BVMT thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế)
Báo cáo, lưu trữ hồ sơ miễn thuế, giảm thuế
(4) Quy trình hoàn thuế BVMT Nội dung cơ bản của quy trình gồm:
(b) Phạm vi áp dụng
Quy trình hoàn thuế được áp dụng đối với cơ quan Tổng cục Thuế, Cục Thuế
và Chi cục Thuế trong việc giải quyết hoàn thuế theo quy định của pháp luật thuế, Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế BVMT
(c) Nội dung cụ thể
Quy trình giải quyết hồ sơ hoàn thuế BVMT gồm các bước công việc sau đây: Bước 1 - Tiếp nhận hồ sơ
Bước 2 - Phân loại hồ sơ
Bước 3 - Giải quyết hồ sơ: Hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau;
Hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau
Bước 4 - Thẩm định pháp chế
Bước 5 - Quyết định hoàn thuế BVMT
(5) Quy trình quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế BVMT . Nội dung cơ bản gồm: (a) Mục đích
Quy định trách nhiệm, nội dung, trình tự, thủ tục, thời gian để triển khai thực hiện thống nhất trong cơ quan thuế các cấp trong việc xây dựng và thực hiện chỉ
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiêu, đôn đốc thu hồi và xử lý khoản tiền thuế BVMT còn nợ của NNT có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN (sau đây gọi là quản lý nợ thuế BVMT), đã được quy định tại Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn về thuế BVMT
(b) Phạm vi áp dụng
Cơ quan thuế các cấp: Tổng cục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế
Vụ Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc Tổng cục Thuế
Phòng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc Cục Thuế; Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc Chi cục Thuế
Công chức thuộc Phòng, Đội và bộ phận quản lý nợ
(c) Nội dung cụ thể
* Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế BVMT nợ
Xác định số tiền thuế BVMT nợ năm thực hiện
Lập chỉ tiêu thu tiền thuế BVMT nợ năm kế hoạch
Báo cáo chỉ tiêu thu tiền thuế BVMT nợ đã xác định
Phê duyệt chỉ tiêu thu tiền thuế BVMT nợ
Triển khai thực hiện chỉ tiêu thu tiền thuế BVMT nợ trên cơ sở phê duyệt
* Đôn đốc thu và xử lý tiền thuế BVMT nợ
Phân công quản lý nợ thuế BVMT
Phân loại tiền thuế BVMT nợ
Lập nhật ký và sổ tổng hợp theo dõi tiền thuế BVMT nợ
Đối chiếu số liệu
Thực hiện đôn đốc thu nộp
Xử lý các văn bản, hồ sơ đề nghị xóa nợ tiền thuế BVMT, gia hạn nộp thuế BVMT, hoàn kiêm bù trừ
Xử lý tiền thuế BVMT đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh; khó thu và một
số nguyên nhân gây chênh lệch tiền thuế BVMT nợ
Đôn đốc tiền thuế BVMT nợ đối với đơn vị xây dựng cơ bản vãng lai, các chi nhánh, đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị ủy nhiệm thu
Báo cáo kết quả thực hiện và lưu trữ tài liệu về quản lý nợ
(6) Quy trình kiểm tra thuế BVMT Nội dung cơ bản gồm:
(a) Mục đích
Tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế BVMT của NNT nhằm
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế BVMT; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm về thuế BVMT
Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế BVMT của NNT trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế
Thực hiện cải cách hành chính trong việc kiểm tra thuế BVMT từ đó tránh gây phiền nhiễu và tạo điều kiện thuận lợi cho NNT phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
(b) Phạm vi áp dụng
Quy trình này áp dụng cho cán bộ kiểm tra thuế thuộc Cục Thuế, Chi cục Thuế trong việc thực hiện kiểm tra hồ sơ khai thuế BVMT và hồ sơ khai các khoản thu phải nộp NSNN theo tháng, quý
(c) Nội dung cụ thể
* Kiểm tra hồ sơ khai thuế BVMT tại trụ sở cơ quan Thuế
Thu thập, khai thác thông tin để kiểm tra hồ sơ khai thuế BVMT
Lựa chọn cơ sở kinh doanh để lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế BVMT Duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ khai thuế BVMT
Nội dung kiểm tra hồ sơ thuế BVMT
Xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế BVMT tại trụ sở cơ quan Thuế
* Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế
Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế BVMT tại trụ sở của người nộp thuế
Lập biên bản kiểm tra
Xử lý kết quả kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế
1.1.4.5 Nội dung công tác quản lý thuế BVMT
(1) Quản lý công tác đăng ký, kê khai, nộp thuế, ấn định thuế BVMT
- Đối tượng đăng ký thuế: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế BVMT
- Thời hạn đăng ký thuế: Đối tượng đăng ký thuế phải đăng ký thuế BVMT trong thời hạn mười ngày làm việc
- Hồ sơ đăng ký thuế
- Địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thuế
+ Đối với doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp: NNT nộp hồ sơ tại Phòng đăng ký kinh doanh - Sở KHĐT
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Đối với các trường hợp còn lại: NNT nộp hồ sơ cho cơ quan thuế trực tiếp tại bộ phận Tuyên truyễn hỗ trợ hoặc qua đường bưu chính
- Trách nhiệm của cơ quan thuế, công chức thuế trong việc tiếp nhập hồ sơ đăng ký thuế
- Cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế BVMT: Cơ quan thuế cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế chậm nhất không quá 5 ngày làm việc đối
với hồ sơ nhận tại cấp Cục và 10 ngày làm việc đối với hồ sơ nhận tại cấp Chi cục
kể từ ngày cơ quan thuế nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ của NNT
- Nguyên tắc khai thuế BVMT và tính thuế BVMT
+ Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong
tờ khai thuế theo mẫu do Bộ tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế
+ Người nộp thuế tự tính số thuế BVMT phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ
- Hồ sơ khai thuế BVMT
- Thời hạn, địa điểm nộp hồ sơ khai thuế BVMT: Chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế BVMT
- Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ khai thuế BVMT
- Ấn định thuế đối với người nộp thuế nộp thuế theo phương pháp kê khai trong trường hợp vi phạm pháp luật về thuế BVMT
- Thời hạn nộp thuế BVMT
+ Trường hợp người nộp thuế tính thuế BVMT, thời hạn nộp thuế chậm nhất
là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế
+ Trường hợp cơ quan quản lý thuế tính thuế BVMT hoặc ấn định thuế BVMT, thời hạn nộp thuế BVMTlà thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan quản lý thuế
Đồng tiền nộp thuế: Đồng tiền nộp thuế là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp nộp thuế bằng ngoại tên theo quy định của Chính Phủ
- Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt: Tiền thuế nợ; tiền thuế truy thu; tiền thuế phát sinh; tiền phạt (Luật số 78/2006/QH11, 2006)