Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Y tế Điện Biên .... Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nông Khánh Bằng
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực chƣa hề đƣợc sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Lụa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại khoa Tâm lý - Giáo dục, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên em đã hoàn thành chương trình khoá học
Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục và hoàn thành luận văn “Quản lý hoạt
động giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Y tế Điện Biên”
Em xin chân thành cảm ơn:
Ban chủ nhiệm Khoa, Hội đồng Đào tạo, Hội đồng khoa học, các thầy giáo, cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình, quý báu của thầy giáo - Tiến sỹ Nông Khánh Bằng đã hết lòng giúp đỡ em ngay từ ngày đầu hình thành ý tưởng đến khi hoàn thiện luận văn Với tình cảm chân thành, em xin được gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Trường Cao đẳng Y tế Điện Biên cùng các bạn đồng nghiệp và gia đình đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện để em hoàn thành việc học tập, thu thập và xử lý thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu của mình
Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, trong luận văn không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Vũ Thị Lụa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Y ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ 5
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Những khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục (QLGD) 11
1.2.3 Khái niệm đạo đức 12
1.2.4 Y đức 14
1.3 Quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế 22
1.3.1 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục y đức 22
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục y đức 23
1.3.3 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức 25
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế 27
Trang 6Kết luận chương 1 30
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Y ĐỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Y ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐIỆN BIÊN 31
2.1 Một vài nét về tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội tỉnh Điện Biên 31
2.2 Khái quát lịch sử phát triển trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 32
2.2.1 Thành lập trường, truyền thống của nhà trường 32
2.2.2 Quy mô đào tạo, các ngành nghề đào tạo, môi trường đào tạo 34
2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 38
2.3.1 Khái quát chung về hoạt động giáo dục y đức trong trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 38
2.3.2 Thực trạng y đức của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 41
2.3.3 Thực trạng về nội dung giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên 50
2.3.4 Thực trạng các biện pháp giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 52
2.3.5 Các hình thức giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên 54
2.4 Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 56
2.4.1.Tổ chức bộ máy 56
2.4.2.Thực trạng về công tác lập kế hoạch 59
2.4.3.Thực trạng về công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch 60
2.4.4 Thực trạng về công tác kiểm tra, đánh giá 60
2.5 Nguyên nhân dẫn đến kết quả giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 61
Kết luận chương 2 62
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Y ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐIỆN BIÊN 63
3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 63
Trang 73.1.1 Đảm bảo phù hợp với mục tiêu đào tạo 63
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi 63
3.1.3 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, sinh viên trường Y 64
3.1.4 Đảm bảo tính đồng bộ 64
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 64
3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên nhà trường về vị trí và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên 64
3.2.2 Kế hoạch hoá hoạt động giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên 69
3.2.3 Tăng cường việc tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên 72
3.2.4 Tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong việc giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên 73
3.2.5 Phối hợp chặt chẽ với các cơ sở thực tập trong việc rèn luyện tay nghề và đạo đức nghề nghiệp cho HS, SV nhà trường 75
3.2.6 Đổi mới và thực hiện đúng việc đánh giá kết quả rèn luyện của HS, SV 77
3.2.7 Xây dựng chế độ khen thưởng và trách phạt hợp lý 79
3.2.8 Các biện pháp hỗ trợ 81
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 83
3.4 Khảo nghiệm về nhận thức tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 84
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Khuyến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 8HS,SV : Học sinh, sinh viên
NCKH : Nghiên cứu khoa học
Trang 9DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 36
Bảng 2.1: Vai trò của các lực lượng giáo dục trong hoạt động giáo dục y đức cho SV 39
Bảng 2.2: Nhận thức của sinh viên về tiêu chuẩn phẩm chất cần thiết của người cán bộ y tế 42
Bảng 2.3: Động cơ thi vào trường y của sinh viên 45
Bảng 2.4: Thái độ của sinh viên đối với nghề y 47
Bảng 2.5: Kết quả học tập, rèn luyện của HS, SV 49
Bảng 2.6: Mức độ thực hiện các nội dung giáo dục y đức 51
Bảng 2.7: Thực trạng các biện pháp giáo dục y đức cho HS, SV 52
Bảng 2.8: Các hình thức giáo dục y đức cho HS, SV 55
Bảng 2.9: Công tác lập kế hoạch quản lý giáo dục y đức cho HS, SV 59
Bảng 2.10: Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV 61
Bảng 3.1: Kết quả kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên 85
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
"Đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất của người dân, là nền tảng để xây dựng thế giới tâm hồn của mỗi con người, vì vậy bất cứ quốc gia nào, thời đại nào việc giáo dục đạo đức cho thế hệ đang lớn lên cũng là trung tâm chú ý của các nhà lãnh đạo và các thành viên trong xã hội" [45; tr.309]
Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ
rõ "Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đạo đức, trí dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành" [18; tr.33]
Nhiệm vụ của các trường y là đào tạo ra những cán bộ y tế vừa có đức, vừa có tài Đạo đức trong y học chính là y đức Y đức là đạo đức của người hành nghề y tế, thể hiện qua các tiêu chuẩn nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận, nhằm điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của thầy thuốc đối với bệnh nhân và cộng đồng Một người thầy thuốc có y đức tốt trước hết phải là người
có đạo đức tốt Y đức xác định trách nhiệm, lương tâm, danh dự và niềm hạnh phúc của người thầy thuốc
Thực vậy, nghề y là một nghề đặc biệt, bởi vì không có nghề nào lại đi vào đời sống con người một cách sâu sắc, cấp thiết như nghề y, nó có quan hệ thiết thực đến đời sống và tính mạng con người, đến hạnh phúc của từng gia đình, tương lai giống nòi, đến sức khoẻ và sự cường thịnh của một dân tộc, của toàn xã hội Đối tượng phục vụ của thầy thuốc là bệnh nhân, đó không phải là
máy móc, công trình kiến trúc hay đường xá mà là "người" một người cụ thể
đang ở tình trạng bệnh tật, đau đớn cả về thể xác cũng như về tinh thần, họ cần
sự quan tâm, cần được cứu chữa và giúp đỡ của thầy thuốc Sức khoẻ, sự sống của họ được giao phó cho thầy thuốc, vì vậy không thể tha thứ cho một sự cẩu thả, sự bàng quang và chủ nghĩa hình thức ở người thầy thuốc
Hơn nghìn năm trước đây nhà đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông
Lê Hữu Trác, cây Đại thụ về nghề y, với tính mạng bệnh nhân như sau: " Sống
Trang 11chết trong tay mình nắm, phúc hoạ trong tay mình giữ" Như vậy người thầy thuốc có "quyền" thực sự, nếu họ không có đạo đức thì cái quyền của họ sẽ gây ra
bao nỗi đau khổ cho con người, cho nhân loại Ngược lai nếu họ có đạo đức thì quyền lực này sẽ đem lại niềm vui, hạnh phúc chẳng những cho bệnh nhân, cho gia đình họ mà cho toàn xã hội
Chính vì vậy mà từ muôn đời nay đạo đức nghề y luôn được đề cao, người làm công tác y tế phải không ngừng rèn luyên nâng cao y đức, để đáp ứng nhiệm vụ cao cả của ngành và sự yêu mến, tín nhiệm của nhân dân và thực
hiện lời của Hồ Chủ Tịch đã dạy: "Lương y phải như từ mẫu"
Hiện nay, nước ta đang đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Dưới sự quản lý của Nhà nước, chủ trương trên đã phát huy được tiềm năng của các thành phần kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển
Trường Cao đẳng Y tế Điện Biên (được nâng cấp thành trường Cao đẳng tháng 5/2005), tiền thân là trường Trung học Y tế Điện Biện được thành lập năm 1966 Qua 48 năm xây dựng và phát triển, nhà trường đã thu được những kết quả đáng trân trọng Nằm trên địa bàn của một tỉnh miền núi, có đường biên giới với Lào, Trung Quốc, dân số phân bố không đồng đều, có nhiều dân tộc ít người Kinh tế của tỉnh chủ yếu dựa vào phát triển nông nghiệp Vì vậy sự phát triển kinh tế giữa các vùng miền cũng khác nhau Cùng với sự phát triển của đất nước, phần lớn học sinh (HS), sinh viên (SV) trường Cao đẳng Y tế Điện Biên đều có ý thức học tập, rèn luyện vươn lên vì họ ý thức được vị trí quan trọng của người cán bộ y tế Tuy nhiên một bộ phận HS, SV cũng bị cuốn vào dòng xoáy của nền kinh tế thị trường HS, SV của nhà trường chủ yếu là người Điện Biên, nhưng phần đông các em đều ở xa gia đình và có nhiều em là con
em dân tộc ít người, vì vậy các em thiếu sự quản lý của gia đình Mức sống của
HS, SV cũng chênh lệch nhau rất lớn, nhiều em có kinh tế gia đình khá giả, trái
Trang 12lại nhiều em có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn Một số em đã sa vào các tệ nạn
xã hội và sa vào lối sống thực dụng, ích kỷ, mất niềm tin, không còn chí hướng phấn đấu Hơn nữa, đặc điểm của HS, SV trường y là ngoài giờ học lý thuyết ở trường, hàng ngày các em được đi thực tập lâm sàng tại các bệnh viên Chính nơi đây, các em vừa được các thầy cô của mình, vừa được các y, bác sỹ ở bệnh viện hướng dẫn thực hành Nhưng cũng chính nơi đây tình trạng sách nhiễu bệnh nhân của một số y, bác sỹ đã có ảnh hưởng không nhỏ đến HS, SV
Việc quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trong nhà trường mặc
dù đã đạt được những kết quả nhất định, song sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục chưa chặt chẽ, các hình thức giáo dục y đức chưa phong phú, còn mang tính hành chính hoá Vì những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu vấn đề:
"Quản lý hoạt động giáo dục y đức cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng
Y tế Điện Biên" làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho người thầy thuốc tương lai
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý giáo dục đạo đức cho HS, SV
trong trường Cao đẳng Y tế Điện Biên
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức cho
HS, SV của trường Cao đẳng Y tế Điện Biên
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo Nếu nghiên cứu đề xuất được những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức có cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện thực tiễn, đồng thời tổ chức tốt việc thực hiện các biện
Trang 13pháp một cách đồng bộ sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục y đức cho
HS, SV nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường y
- Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục y đức và quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên
- Tổ chức khảo nhiệm các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại
các tài liệu lý luận và các văn bản pháp lý có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phương
pháp trò chuyện, phỏng vấn, phương pháp điều tra, phương pháp chuyên gia
6.3 Nhóm phương pháp bổ trợ: Sử dụng toán thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu
7 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức cho
HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế
Chương 2: Thực trạng về hoạt động giáo dục y đức và quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên
Chương 3: Các biện quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế Điện Biên
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Y ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngành Y tế là ngành được vinh dự nhận nhiệm vụ vẻ vang nhưng hết sức nặng nề, đó là bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ (CSSK) nhân dân Đối tượng chăm sóc của họ là những con người cụ thể đang trong tình trạng ốm đau, bệnh tật Họ đang đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần; họ giao toàn bộ sinh mạng của họ cho các y, bác sỹ Vì vậy, người hành nghề Y cần phải có phẩm chất đạo đức đặc biệt
đó là y đức Và không phải đến bây giờ vấn đề y đức mới được đề cập đến, mà
ngay từ thời cổ đại Hy Lạp "Y nghĩa vụ luận" đầu tiên được soạn thảo vào khoảng
500 năm trước công nguyên, vào thời kỳ thịnh vượng nhất của nước Hy Lạp cổ đại, do Hyppocrate và trường phái của ông đã phát triển những lời hứa trong lời
thề Asclepios Lời thề Hyppocrate có đoạn trích "Tôi sẽ săn sóc miễn phí cho người nghèo và không bao giờ đòi hỏi một thù lao quá đáng so với công việc làm Được mời đến tư gia, mắt tôi sẽ không chú ý đến mọi sự việc xảy ra, miệng tôi sẽ giữ kín những bí mật đã tiết lộ Tôi sẽ không lợi dụng địa vị của mình làm đồi bại phong tục hoặc tán trợ tội ác Một lòng tôn trọng và biết ơn thầy, tôi sẽ truyền bảo cho con cháu các thầy những giáo huấn mà tôi đã được lãnh hội Nếu tôi giữ chọn lời thề, người đời sẽ quý mến Nếu thất hứa, tôi sẽ mang mối ô danh và cam chịu
sự khinh bỉ của các bạn đồng nghiệp"
Tại đại hội của Liên Đoàn các thầy thuốc thế giới năm 1948 đã ra bản tuyên ngôn (gọi là bản tuyên ngôn Geneve) gồm những điều căn bản sau đây:
"Tôi tự đảm nhận lấy trách nhiệm trọng thể là cống hiến cả cuộc đời mình để phục vụ nhân loại Tôi sẽ giữ lòng kính trọng và biết ơn các bậc thầy dạy, tôi sẽ hành nghề với lương tâm và phẩm giá, sức khoẻ của bệnh nhân sẽ là mối quan tâm đầu tiên của chúng tôi, tôi sẽ tôn trọng những điều bí mật mà nó
Trang 15được giao phó cho tôi, tôi sẽ bằng mọi cách trong khả năng của mình, bảo vệ danh dự và truyền thống cao quý của nghề Y, những đồng nghiệp của tôi sẽ là anh em của tôi, tôi sẽ không được phép tính đến vấn đến vấn đề tôn giáo, dân tộc, chủng tộc, đảng phái chính trị, địa vị xã hội, xen vào giữa nhiệm vụ của tôi
và bệnh nhân của tôi Bằng sự tôn trọng tối đa, tôi sẽ bảo vệ tính mệnh con người từ hãy còn trứng nước, ngay cả dưới sự đe doạ, tôi cũng không dùng kiến thức y học của mình trái ngược với luật lệ của lòng nhân đạo Tôi thực hiện những điều hứa hẹn ấy một cách trọng thể, tự do, và với danh dự của tôi" Đây là "Y nghĩa vụ luận" thứ hai
Thomas Sydenhan (thế kỷ XVII) cho rằng "Thầy thuốc là công bộc của lòng từ thiện thiêng liêng" Đầu thế kỷ XIX những vấn đề về đạo đức y học đã được nghiên cứu trong các bài giảng của các giáo sư lâm sàng hệ Y khoa Trường Đại học Tổng hợp Mát-xcơ-va Nhà nội khoa lâm sàng lớn nhất ở nửa
đầu thế kỷ XIX, M.Ia Mucdrop giảng dạy rằng: "Thầy thuốc phải khiêm tốn và thận trọng, đối với bệnh nhân phải thương yêu", ông đã nhiều lần nói rằng
"Trong nghệ thuật Y học không thể có những thầy thuốc làm xong công tác khoa học"
Trong các giáo sư hệ Y khoa đã nêu ra vấn đề đạo đức y học, có E.O Mukhin, người được bệnh nhân yêu quý nhất Lời tựa của ông viết trong một chương cuốn khái niệm về giải phẫu học, để tặng SV, đã kết thúc bằng những lời
nổi tiếng sau đây: "Vì lợi ích, danh dự, vinh quang của tổ quốc, các bạn luôn luôn là những tấm gương lớn nhất"
Ở Việt Nam ngay từ thế kỷ XIV, đại danh y Tuệ Tĩnh (1326 - 1399) (tên
thật là Nguyễn Bá Tĩnh) là tấm gương sáng về y đức Trong tác phẩm "Nam dược quốc ngữ phú", ông đã viết lời tuyên ngôn đanh thép đầy tinh thần dân tộc
tự lực, tự cường:
" Tôi tiên sư kính đạo tiên sư Thuốc Việt Nam chữa người Nam Việt "
Trang 16Quan điểm dùng thuốc và cứu bệnh nhân của ông rất đặc biệt:
"Dùng thuốc như dùng binh, cứu bệnh như cứu hoả"
Và ông đã căn dặn:
"Cõi trời Nam gấm vóc Nước sông Hồng chảy dài Vườn hạnh phúc nghĩa dân Gió mùa xuân áp rộng Thương nhân dân chết chóc Chọn hiền triết phương thang"
Đến thế kỷ XIX danh y Hải Thượng Lãn Ông tên thật là Lê Hữu Trác (1720-1791) đã dạy người làm nghề Y trong cuốn Âm án và Dương án, ông
nêu ra 8 đức tính của người hành nghề y "Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lượng, Khiêm, Cần" và 8 điều tội lỗi mà người làm nghề Y phải tránh, đó là: "Lười, Keo kiệt, Bủn xỉn, Tham, Lừa dối, Bất nhân, Hẹp hòi, Thất đức, Dốt"
Sinh thời, Bác Hồ luôn quan tâm tới sức khoẻ của đồng bào, ngay từ
những ngày đầu Cách mạng tháng Tám thành công Người luôn căn dặn: "Mỗi người dân khoẻ thì cả nước khoẻ" và "Luyện tập thể dục, bồi dưỡng sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước"
Trong thư gửi cán bộ y tế ngày 27/02/1955 Bác Hồ đã dạy: "Thương yêu người bệnh - Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ gìn sức khoẻ của đồng bào Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang Vì vậy cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh, em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn", Người nhấn mạnh "Lương
y phải như từ mẫu"
GS Đỗ Nguyên Phương nguyên Bộ Trưởng Bộ Y tế đã ra chỉ thị số 09/2001/CT-BYT về tăng cường y đức, nâng cao tinh thần thái độ phục vụ và
chất lượng chăm sóc bệnh nhân tại các cơ sở y tế Trong cuốn "Phát triển sự nghiệp y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay" và trong Tạp chí y học thực
Trang 17hành tháng 3 năm 2000, ông cũng đã đề cập đến vấn đề rèn luyện đạo đức của người CBYT trong thời kỳ nền kinh tế thị trường
Trong bài viết về thi đua thực hiện lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh
"Lương y phải như từ mẫu", Lê Ngọc Trọng, thứ trưởng Bộ Y tế đã nêu ra
những tấm gương, những thầy thuốc đã hết lòng phục vụ sự nghiệp CSSK nhân dân, đồng thời trong bài viết cũng nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao y đức trong giai đoạn hiện nay bằng quyết định số 4031/2001/QĐ/-BYT về việc ban
hành "Quy định về chế độ giao tiếp trong các cơ sở khám, chữa bệnh"
Gần đây nhất, cả nước ta đã và đang dấy lên phong trào học tập và làm theo tấm gương của liệt sĩ bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm, người chiến sỹ áo trắng đã
hi sinh cả tuổi thanh xuân của mình để chăm sóc các chiến sĩ trong cuộc đấu tranh vĩ của dân tộc ta
Nói tóm lại, từ cổ chí kim hầu hết những người hành nghề y đều hết lòng phục vụ người bệnh, họ luôn thể hiện tấm lòng y đức cao cả, thương người như thể thương thân, người khác đau đớn cũng như mình đau đớn Họ luôn tận tuỵ với công việc mà họ đã lựa chọn, đó là việc được CSSK mọi người bằng tài năng của mình công với những kiến thức học được của thầy, của bạn và cả ở trường đời nữa Họ luôn mong muốn được cống hiến hết mình để chăm sóc cho người bệnh và truyền những kiến thức y học quý báu cho những thế hệ kế tiếp
Trong những năm gần đây, các vấn đề quản lý trường học và quản lý những nhiệm vụ cụ thể của trường học đã được quan tâm xem xét trong nhiều
đề tài, luận án, luận văn, các đề án phát triển giáo dục Trong đó có vấn đề quản
lý giáo dục đạo đức (QLGDĐĐ), y đức trong nhà trường cũng được đề cập, tuy chưa nhiều và chưa thường xuyên, ví dụ:
- “Những biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh phổ thông trung học của người hiệu trưởng” của Dương Thị Trúc Bạch, năm 2002
- “Một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ ở trường THPT An Lão, Hải Phòng” Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Tiến Dũng
Trang 18- “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong mối quan hệ phối hợp giữa nhà trương, gia đình và xã hội ở trường THPT Tân Yên 2 - Tỉnh Bắc Giang”
Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Văn Tân, Đại học sư phạm, Đại học Thái Nguyên, năm 2010
- “Một số biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Tây Hồ - Hà Nội” Luận văn
thạc sĩ của Phạm Minh Tâm, ĐHSP Hà Nội, 2007
- “Biện pháp quản lý công tác giáo dục y đức cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Thị Ái Liên, học viện quản lý giáo dục, ĐHSP Hà Nội, năm 2008
Các công trình này đã đề cập đến một số vấn đề lí luận về giáo dục đạo đức,
y đức, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý giáo dục đạo đức và đề xuất một số biện pháp phù hợp để quản lý giáo dục đạo đức, y đức ở một số địa bàn cụ thể Tại tỉnh Điện Biên và trường Cao đẳng Y tế Điện Biên chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này
1.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hoạt động rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh
tế và đời sống xã hội loài người Khi một nhóm hay một tổ chức cộng đồng người cùng làm việc với nhau để đạt được mục tiêu chung nào đó thì cần đến
sự quản lý để điều khiển và điều hoà mọi hoạt động của từng thành viên, hướng những hoạt động chuyên biệt riêng vào hoạt động chung và đạt đến mục đích chung nhất đã được xác định trước Như vậy, ở bất cứ đâu, trong bất kỳ lĩnh vực nào mà có sự hợp tác của nhiều người thì ở đó cần có quản lý, bởi vì mọi hoạt động chung của nhiều người, nhiều thành tố tham gia đòi hỏi phải có sự liên kết, phối hợp với nhau dù dưới bất kỳ hình thức nào Ăng Ghen khẳng định: "Quản lý là tất yếu khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau, khi
có sự hợp tác của một số người, khi có sự phối hợp của nhiều người"
Trang 19Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý Dưới đây là một số khái niệm chủ yếu:
- Theo cách tiếp cận hệ thống: quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất xã hội để đạt được mục đích đã định
Các nhà lí luận quản lý Quốc tế như: Frederich William Taylor (1856 - 1915), Mỹ; Henry Fayol (1841 - 1925), Pháp; Max Weber (1864 - 1920), Đức đều khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển XH
- Theo tác giả Trần Quốc Thành: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi
và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan [39; tr.1]
- Theo quan điểm quản lý hiện đại: Quản lý là cách tổ chức phối hợp thực hiện 4 chức năng cơ bản: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Bốn chức năng này liên quan mật thiết với nhau tạo thành chu trình quản lý
Các khái niệm quản lý tuy khác nhau, song chúng có chung những dấu hiệu chủ yếu sau đây:
+ Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm XH + Hoạt động quản lý là những tác động có tính hướng đích
+ Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Như vậy, chúng ta có thể đưa ra một khái niệm chung nhất cho quản lý:
quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của
tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường
QL là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn: Khoa học tự nhiên, Khoa học XH và nhân văn Đồng thời nó còn là nghệ thuật thu phục nhân tâm
Trang 201.2.1.2 Chức năng quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về chức năng quản lý, theo chúng tôi, quản lý có bốn chức năng cơ bản sau:
- Chức năng kế hoạch hoá: Là quá trình xác định các mục tiêu và lựa
chọn các phương thức đề đạt được các mục tiêu đó, xác định và đảm bảo về nhân lực và các nguồn lực khác, lập chương trình hoạt động để đạt được mục tiêu đã đề ra Kế hoạch hoá là khâu đầu tiên của chu trình quản lý
- Chức năng tổ chức: Bao gồm thiết lập bộ máy thống nhất từ trên xuống
dưới, xây dựng mối quan hệ giữa các bộ phận, các cá nhân Tổ chức công việc, điều hành nguồn nhân lực và các nguồn lực khác cùng hoạt động trong bộ máy
- Chức năng chỉ đạo: Là dùng mệnh lệnh, chỉ thị hoặc sử dụng năng lực
quản lý để cùng tham gia hoạt động theo đúng kế hoạch đã đề ra nhằm đạt tới mục tiêu đã định Động viên khuyến khích mọi thành viên hoạt động tốt đồng thời uốn nắn, điều chỉnh những thiếu sót, lệch lạc của các cá nhân
- Chức năng kiểm tra: Bao gồm đánh giá, phát hiện và điều chỉnh kế
hoạch Khi thực hiện chức năng kiểm tra cần chú ý nguyên tắc định chuẩn, lượng hoá và thu thập xử lý thông tin Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phải dựa trên cơ sở phân công, phân nhiệm từng tổ chức, cá nhân trong bộ máy, thu thập thông tin từ các báo cáo, kiểm tra thực tế hoạt động của cá nhân, tổ chức trong bộ máy
Tóm lại: Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, quản lý phải tuân
thủ những nguyên tắc, phương pháp nhất định Nhà quản lý phải xác định những yếu tố tác động đến quản lý để thực hiện quá trình quản lý một cách hiệu quả nhất
1.2.2 Quản lý giáo dục (QLGD)
Theo tác giả Hoàng Minh Thao: "QLGD là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thế quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong
hệ thống giáo dục, đảm bảo sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng" [40; tr.6]
Trang 21Theo tác giả Trần Kiểm, nếu chia QLGD theo 2 cấp độ: vĩ mô và vi mô thì có thể được hiểu như sau:
Đối với cấp vĩ mô:
- "QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội" [25; tr.36-37]
Đối với cấp vi mô:
-“QLGD thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng XH) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [25; tr.37-37]
Như vậy, có thể hiểu QLGD là quá trình chủ thể quản lý vận dụng các chức năng quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục; nói cách khác là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả cao nhất của mục tiêu giáo dục đã đề ra
1.2.3 Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng XH phức tạp, ở các góc độ khác nhau, khái niệm đạo đức có sự khác nhau
- Theo đạo đức học; “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội” [24; tr.12]
- Theo Giáo dục học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các quan niệm về cái thiện và cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người [46; tr.170-172]
- Theo Xã hội học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, quy tắc điều chỉnh (hoặc
Trang 22chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao động con người với chính bản thân mình” [23; tr.73]
- Theo Tâm lý học: “Đạo đức chính là những phẩm chất nhân cách, phản ánh y thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người - tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình” [23; tr.73]
- Quá trình hình thành và phát triển đạo đức của con người là quá trình tác động qua lại giữa XH và cá nhân để chuyển hóa những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức - XH thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức, công dân và đáp ứng về mặt yêu cầu XH
- Bàn về đạo đức không thể không nói đến quan niệm đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh Người cho rằng: đạo đức là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm
Đó là đạo đức cách mạng, đạo đức mới, đạo đức vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của lòng người Về Giáo dục đạo đức cách mạng, Người dạy: đạo đức cách mạng là chí công vô tư; là cố gắng học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn dùng phê bình và tự phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và đồng chí mình tiến bộ; là quyết tâm quét sạch chủ nghĩa cá nhân Theo Người, đạo đức là sự thống nhất giữa tư tưởng và phong cách sống Lời nói đi đôi với việc làm Và Người chính là biểu tượng sáng ngời, sống động của nhà
tư tưởng lớn về đạo đức và thực hành đạo đức trong cuộc đời mà Đảng ta đang thực hiện cuộc vận động lớn trong toàn dân “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
- Từ những định nghĩa về đạo đức nêu trên, có thể khái quát về đạo đức như sau: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với XH, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận XH
Trang 23Như vậy, bản chất đạo đức là những nguyên tắc chuẩn mực trong quan hệ
XH, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được XH thừa nhận và tự giác thực hiện
1.2.4 Y đức
1.2.4.1 Khái niệm y đức
Theo tiếng Hy Lạp y đức là một học thuyết về trách nhiệm (“Deon” nghĩa là trách nhiệm và “Logos” nghĩa là học thuyết) Theo cách giải thích hiện đại của Y học Liên Xô cũ thì y đức học là học thuyết về các nguyên tắc ứng xử của nhân viên y tế nhằm đạt được mục đích tối đa cho người bệnh
Ngành Y tế chia đạo đức thành 2 phần y đức và y đạo:
+ Y đức là những tiêu chuẩn, quy tắc của đời sống XH, điều chỉnh hành
vi xử sự và quan hệ của thầy thuốc với bệnh nhân cũng như với đồng nghiệp khác Nói cách khác y đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được XH thừa nhận
và lương tâm nghề nghiệp của người thầy thuốc
+ Y đạo là những quy định bằng văn bản có tính chất pháp lý bắt buộc cảthầy thuốc và bệnh nhân phải tuân theo
Theo tác giả Đỗ Nguyên Phương “Y đức là những chuẩn mực quy tắc của đời sống XH, điều chỉnh hành vi xử sự và quan hệ của thầy thuốc với bệnh nhân cũng như đối với đồng nghiệp, nó xác định bổn phận, lương tâm, danh dự
và hạnh phúc của người thầy thuốc”
Tóm lại, y đức là đạo đức của người hành nghề y tế, thể hiện qua các tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được XH thừa nhận, nhằm điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của thầy thuốc đối với bệnh nhân và cộng đồng Y đức xác định trách nhiệm, lương tâm, danh dự và niềm hạnh phúc của người thầy thuốc
Y đức hay còn gọi là đạo đức y học là cách xử thế hay các hành vi của người thầy thuốc trong khi hành nghề hàng ngày, nghĩa là trong khi tiếp xúc với người bệnh, chữa bệnh, chăm sóc họ và qua họ chăm sóc sức khỏe của gia đình họ, cho cộng đồng XH trong đó có họ sinh sống hàng ngày, tùy theo vị trí
Trang 24của người thầy thuốc làm công tác y tế trong trong một cơ quan Nhà nước, ở trạm y tế cơ sở hay thầy thuốc làm tư, người thầy thuốc gia đình
1.2.4.2 Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục y đức
Từ khái niệm quản lý và QLGD, chúng ta có thể hiểu quản lý hoạt động giáo dục y đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản
lý nhằm đưa hoạt động giáo dục y đức đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất
Quản lý hoạt động giáo dục y đức là phải hướng tới việc làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt đông giáo dục y đức, tích cực tham gia vào quá trình giáo dục y đức Quản lý hoạt động giáo dục y đức là quản lý cả mục tiêu, nội dung, hình thức phương pháp giáo dục y đức, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục y đức, phát huy năng lực tự giáo dục của sinh viên
Quản lý hoạt động giáo dục y đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý tới các thành tố tham gia vào hoạt động giáo dục y đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục y đức
1.2.4.3 Các phẩm chất của người cán bộ y tế
Ở Việt Nam, các bậc danh y như Nguyễn Bá Tĩnh hiệu Tuệ Tĩnh 1399) và Lê Hữu Trác hiệu Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) nêu cao tấm gương y đức, cả cuộc đời rèn luyện và phục vụ Cụ luôn nhắc nhở mình: “Tiến Đức, Tu Nghiệp” Tiến đức là mỗi ngày phải rèn luyện cho toàn diện, toàn mỹ
(1326-về đạo đức của người hành nghề y Tu nghiệp là hàng ngày phải chăm chỉ học tập cho y thuật ngày càng giỏi Trong cuốn Y huấn cách ngôn, Hải Thượng Lãn Ông có 9 điều dạy, có những điều sau:
“Phàm người mời đi thăm bệnh, nên tùy theo bệnh cần kíp hay không,
mà sắp đặt đi thăm trước hay sau Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ đến sau, hoặc bốc thuốc lại phân biệt yếu kém Khi trong mình
có chỗ không thành thật, thì khó mong thu được kết quả”
Trang 25“Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý cầu vui, như mang rượu lên núi, chơi bời, ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, nhớ khi
có bệnh cấp cứu, làm cho người ta sốt ruột mong chờ nguy hại đến tính mạng con người Vậy cần phải biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào”
Hải Thượng Lãn Ông tha thiết với lòng mong mỏi đào tạo lớp lương y kế tiếp có đạo đức và lành nghề Trong cuốn Y âm án ông đã nêu lên tám đức tính của người lương y và tám điều tội lỗi mà người hành nghề y dược phải tránh như sau:
* Tám đức tính: Nhân, minh, trí, đức, thành, lượng, khiêm, cần
1 Nhân là nhân từ bác ái, rộng lượng với mọi người và quan tâm đến người khác, không cá nhân ích kỷ
2 Minh là phải thông hiểu sâu rộng, sáng suốt minh bạch, không nhầm lẫn
3 Trí là phải khôn khéo, nhạy bén, để tâm lo nghĩ về việc làm, không cẩu thả, tùy tiện
4 Đức là phải có đạo đức nhân hậu, cốt làm điều lành để đức về sau, chống điều ác
5 Thành là thành thật ngay thẳng, trung thực vô tư, không dối trá thiên lệch
6 Lượng là phải có độ lượng hòa nhã và đúng mức vừa phải
7 Khiêm là phải khiêm tốn học hỏi và phải thực sự cầu thị không tự phụ, chủ quan
8 Cần là phải chuyên cần nhẫn nại và cần cù, chịu khó
* Tám điều tội lỗi:
1 Tội lừa là chẩn đoán qua loa, hay ngại vất vả không chịu đến khám bệnh cho cẩn thận, mà vội cho thuốc kê đơn cho xong chuyện
2 Tội keo kiệt, bủn xỉn là sợ bệnh nhân không có tiền trả cho mình đủ vốn mà không cho thứ thuốc tốt cần thiết
3 Tội tham là trường hợp thấy bệnh nhân chết đã rõ, mà không bảo thật với nhà bệnh, lại nói lờ mờ để kiếm tiền
Trang 264 Tội lừa dối là khi mới thấy người bệnh đã nói ngay là bệnh khó, bệnh nặng, làm cho người ta sợ, để lấy tiền
5 Tội bất nhân là khi thấy bệnh khó, đáng lý nên nói thật, rồi hết lòng hết sức cứu chữa, nhưng lại sợ mang tiếng thất bại, hoặc sợ không thành công mà không được hậu lợi nên không chịu chữa, đến nỗi người ta phải bó tay chịu chết
6 Tội hẹp hòi là trường hợp người bệnh ngày thường có chuyện bất bình với mình, khi mắc bệnh phải nhờ đến, liền nảy ra ý định oán thù mà không chữa hay không chịu chữa hết lòng
7 Tội thất đức là khi gặp những bệnh nhân mồ côi, goá bụa, tàn tật, cùng khổ không có tiền đến cấp cứu, thì cho là chữa mất công vô ích mà bỏ qua không chữa hay không chịu hết lòng cứu chữa
8 Tội dốt là sức học còn non, nhận xét bệnh còn lờ mờ, mà dùng thuốc sai lầm nguy hại cho người bệnh
Nguyễn Đình Chiểu tục gọi là Đồ Chiểu (1822-1888) cũng là một danh y nổi tiếng Mặc dù phải chịu cảnh mù lào tăm tối suốt hơn 40 năm trời nhưng cái tâm của ông thì luôn sáng ngời như ngọn hải đăng ngoài biển cả Sống trong cảnh mù lào nhưng ông luôn nghĩ đến con người, ngoài có tài văn thơ ra, ông còn có công học nghề thuốc, mà sau này chúng ta mới biết rõ ý đồ của ông: Học cốt để cứu người, không phải vì kế sinh sống, không vụ danh, vụ lợi Trong nhiều tác phẩm của ông, ông thường nhấn mạnh nhiều vào phẩm chất, xoáy quanh điểm phục vụ nhân dân của người thầy thuốc Ông đòi hỏi người thầy thuốc phải xa lánh sự cám dỗ của lợi dục và lấy việc cứu giúp người nghèo làm mục đích Muốn thế, người thầy thuốc phải "vi thiện", phải làm cho "tâm hồn" trong sạch, thể hiện qua một số câu thơ như sau:
" Bệnh nào cho thuốc không lành Nhớ lòng lo sợ, xét mình phải chăng
Vốn không theo thói tham nhăng Nhân khi bệnh ngặt đòi ăn của nhiều
Cũng không ghé mắt coi dèo
Trang 27Chỗ giàu trân trọng, chỗ nghèo đảo điên
Thấy người đau giống mình đau Phương nào cứu đặng mau mau trị lành Đứa ăn mày, cũng trời sanh
Bệnh còn cứu đặng, thuốc dành cho không”
Khi còn sống, Bác Hồ luôn quan tâm đến sức khỏe của nhân dân, ngay từ những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, Người luôn căn dặn cán
bộ y tế “Thương yêu người bệnh như anh en ruột thịt”, “Cần phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân”, “Lương y phải như từ mẫu” (Thư gửi Hội nghị cán bộ
y tế toàn quốc năm 1953), “… Cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán
bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác”
Năm 1955 tại Hội nghị cán bộ y tế, Bác Hồ lại tiếp tục nhắc nhở cán bộ y tế: “Phải thật thà đoàn kết… thương yêu người bệnh - người bệnh phó thác tính mệnh của họ cho các cô, các chú Chính phủ phó thác cho các cô , các chú việc chữa bệnh và giữ gìn sức khỏe của đồng bào… Vì vậy cán bộ y tế phải thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ đau đớn cũng như chính mình đau đớn…
“Lương y phải như từ mẫu”
Trong thư gửi báo sức khoẻ đời sống năm 2002, đồng chí Lê Khả Phiêu nguyên tổng bí thư đã nói "Công việc của người thầy thuốc được ví như công việc của người mẹ chăm lo cho con cái, cho gia đình, cho nòi giống, cho con người ngay từ thửa lọt lòng đến giây phút thanh thản từ giã cuộc đời, giúp cho
bà con vượt qua số phận hẩm hiu, những đau đớn quần quại của bệnh tật, sự sinh nở được mẹ tròn con vuông, giúp cho lứa đôi được hạnh phúc, các cụ già được trường thọ" và mỗi cán bộ y tế "Phải đem tình thương vĩnh cửu của người
mẹ để làm công việc cao quý của mình"
Trang 28Hồ Đắc Di một trong những người thầy thuốc tiêu biểu của ngành Y tế đồng thời là người thầy giáo của nhiều thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã từng nói:
"Trong mọi nghề, có lẽ người thầy thuốc và nghề thầy giáo là hai nghề cao thượng nhất Một mang lại sự sống, một mang lại trí tuệ và cả hai đều đòi hỏi lương tâm phải trong sạch"
Tiếp nối truyền thống y đức từ ngàn đời và noi gương Bác, trong thế ký
XX, chúng ta vô cùng tự hào về cố Bộ trưởng Bộ Y tế, bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, người thầy thuốc đầy tài năng và đức độ Ông mãi là tấm gương sáng rực rỡ trong ngành y tế, ông đã căn dặn cán bộ trong ngành: "Đến tiếp đón niềm nở, về dặn dò ân cần, ở tận tình chăm sóc" Những lời nói xuất phát từ trái tim ông khiến bao nhiêu người xúc động Bên cạnh ông còn có những giáo sư như: GS Đặng Văn Ngữ, GS Tôn Thất Tùng, GS Tôn Thất Bách và rất nhiều tấm gương khác nữa, với mỗi cuộc đời là những trang sách vàng hết lòng, hết sức tận tình phục vụ người bệnh
Những năm gần đây, Bộ Y tế đặc biệt quan tâm đến vấn đề y đức và đã ban hành quy định về y đức gồm 12 điều để cán bộ ngành y tế phấn đấu thực hiện, đó là chỉ thị 04/BYT - CT của Bộ trưởng Bộ Y tế về vấn đề y đức và Quyết định số 2088/BYT - QĐ ngày 06/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế:
1 Chăm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ Phải
có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc Không ngừng học tập và tiếp tục nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn Sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
2 Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn Không được sử dụng bệnh nhân làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh
Trang 293 Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thăm khám, chăm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội Không được phân biệt đối xử với người bệnh Không được có thái
độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh
4 Khi tiếp xúc với bệnh nhân và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cung hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chăm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết
5 Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử lý kịp thời không được đùn đẩy người bệnh
6 Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh
7 Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh
8 Khi người bệnh ra viện phải dăn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khoẻ
9 Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết
10 Thật thà, đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau
Trang 3011 Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước
12 Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị tai nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch
Ngoài ra Bộ Y tế cũng ra quyết định số 2526/1999/QĐ-BYT ngày 21/8/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành bản "Tiêu chuẩn cụ thể phấn đấu về y đức", áp dụng đối với cán bộ, công chức của bệnh viện
- Đối với bản thân:
+ Hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách công tác được giao + Có tham gia học tập nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, ngoại ngữ + Không vi phạm pháp luật, thực hiện nghiêm túc Quy chế bệnh viện Quy trình kỹ thuật bệnh viện và Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân
+ Tham gia nghiên cứu khoa học và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật + Không để sai sót về chuyên môn, nghiệp vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm + Trong giờ làm việc cán bộ, công chức phải mặc trang phục y tế chỉnh
tề, đeo thẻ công chức theo quy định
- Đối với người bệnh:
+ Tôn trọng người bệnh, không lạm dụng nghề nghiệp gây phiền hà cho người bệnh
+ Tiếp xúc với người bệnh niềm nở, thái độ tận tình
+ Khi cấp cứu người bệnh khẩn trương, trường hợp nặng phải hết lòng cứu chữa đến cùng
+ Phục vụ người bệnh tận tình, chu đáo
+ Chỉ định thuốc điều trị phù hợp với chẩn đoán, không lạm dụng thuốc, cận lâm sàng kỹ thuật cao
+ Hướng dẫn nội quy bệnh viện, quyền lợi, nghĩa vụ người bệnh đối với bệnh viện đầy đủ, tỷ mỷ, giải thích rõ ràng cho người bệnh và gia đình người bệnh
Trang 31+ Tôn trọng riêng tư và lịch sự đối với người bệnh
+ Đảm bảo công bằng trong chăm sóc phục vụ người bệnh, không phân biệt giàu nghèo, chức vụ và thân quen
+ Không có hành vi sách nhiễu, gợi ý bồi dưỡng, nhận quà, tiền biếu, thu phí ngầm trước, trong lúc người bệnh đến thăm khám và nằm điều trị tại bệnh viện
+ Khi người bệnh tử vong phải thông cảm sâu sắc và chia buồn với gia đình người bệnh
+ Không có thư khiếu nại của người bệnh và gia đình người bệnh
- Đối với đồng nghiệp:
+ Tôn trọng đồng nghiệp, không làm ảnh hưởng xấu đến đồng nghiệp + Chấp hành sự phân công, chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên Cộng tác và hỗ trợ đồng nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ
+ Không đùn đẩy người bệnh, không đùn đẩy trách nhiệm cho đồng nghiệp + Khiêm tốn học hỏi đồng nghiệp, thật thà, đoàn kết, giúp đỡ mọi người
- Đối với xã hội:
+ Gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh ở gia đình, nơi công cộng và tích cực tham gia các phong trào vệ sinh phòng bệnh ở nơi cư trú
+ Đoàn kết với nhân dân tại nơi cư trú, gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá
+ Tham gia công tác tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, phòng chống tệ nạn xã hội tại địa phương Tích cực giúp đỡ người bị nạn,
ốm đau tại cộng đồng
1.3 Quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế
1.3.1 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục y đức
Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục y đức là làm cho quá trình giáo dục
y đức vận hành đồng bộ và hiệu quả hơn
Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục y đức bao gồm:
- Về nhận thức: Giúp cho tất cả mọi người, từ giảng viên, giáo viên đến lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong nhà trường có nhận thức đúng đắn về
Trang 32tầm quan trọng của hoạt động giáo dục y đức, đồng thời giúp cho họ nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện
- Về tình cảm: Giúp mọi người biết, ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm không đúng với pháp luật, có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân, đối với việc quản lý hoạt động giáo dục y đức
- Về hành vi: Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc giáo dục y đức bằng hoạt đông tập thể, hoạt động XH, tự tu dưỡng rèn luyện theo chuẩn mực chung của XH
Tóm lại, điều quan trọng nhất của việc quản lý hoạt động giáo dục y đức
là làm sao cho quá trình giáo dục y đức tác động đến HS, SV để hình thành cho
họ có ý thức tình cảm và niềm tin vào y đức, tạo lập được các thói quen và có hành vi phù hợp với nghề nghiệp của họ
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục y đức
- Nội dung quản lý hoạt động giáo dục y đức cho sinh viên ở trường Cao đẳng (CĐ), Đại học (ĐH) bao gồm: Việc chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng và kế hoạch phải có tính khả thi
Kế hoạch phải được xây dựng từ tình hình thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức của trường CĐ, ĐH hiện tại nhưng cũng chú ý đến hoạt động
dự báo khoa học về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức thời gian tới Kế hoạch phải đưa ra các chỉ tiêu cụ thể và các giải pháp cụ thể
Nội dung quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức cho SV ở trường CĐ, ĐH còn là việc tổ chức sắp xếp bộ máy vận hành để thực hiện kế hoạch đã đề ra
Để giúp cho việc phân công nhiệm vụ một cách cụ thể, đúng người, đúng việc thì mỗi nhà trường đều phải thành lập một Phòng Công tác HS-SV Phòng Công tác HS-SV có nhiệm vụ đón nhận SV mới, có các biện pháp quản lý SV, đánh giá ý thức tổ chức kỷ luật của SV, kết hợp với các phòng chức năng của
Trang 33nhà trường tiến hành phân lại SV theo định kỳ và xét kỷ luật những SV vi phạm kỷ luật Phòng Công tác HS-SV kết hợp với Đoàn trường nhằm giáo dục đạo đức thông qua việc giáo dục lý tưởng, ý thức giác ngộ chính trị, ý thức làm chủ, hoạt động tự quản, nề nếp, kỷ luật, kỷ cương Các giáo viên chủ nhiệm là thành viên quan trọng trong việc quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức Các khoa và tổ bộ môn là nơi gần gũi sinh viên nhất, kết hợp cùng tập thể cán bộ lớp và chi đoàn để giáo dục đạo đức và đánh giá đạo đức sinh viên qua từng tháng Nội dung quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức còn là việc triển khai chỉ đạo thực hiện kế hoạch
Triển khai chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch theo đúng nội dung yêu cầu
và tiến độ, thường xuyên kiểm tra, uốn nắn những lệch lạc, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình cụ thể Tổng kết, đánh giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức Giáo dục đạo đức Nội dung quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức được lựa chọn tuỳ theo mục tiêu đề ra và được thực hiện theo kế hoạch đã định
Trên cơ sở các nội dung quản lý hoạt động Giáo dục đạo đức nói chung
và những quy định về y đức nói riêng, nhà trường cần xây dựng kế hoạch giáo dục y đức và quản lý hoạt động giáo dục y đức, đảm bảo cho kế hoạch phù hợp với đối tượng và có tính khả thi Việc quản lý hoạt động giáo dục y đức có các nội dung sau:
- Tại trường học: Dựa vào kết quả học tập và rèn luyện đạo đức của SV + Ý thức thực hiện các nội quy, quy định khu ký túc xá, quy chế HS, SV + Thái độ trong thi, kiểm tra
+ Ý thức tham gia các hoạt động của nhà trường, đoàn thanh niên, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao (TDTT)
- Tại bệnh viện nơi SV đi thực tập thực tế:
+ Ý thức chấp hành các nội quy, quy chế của bệnh viện, quy chế SV khi thực tập ở bệnh viện
Trang 34+ Thái độ học hỏi kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế của các bác
sỹ, điều dưỡng
+ Thái độ đối với người bệnh: Từ khâu đón tiếp bệnh nhân khi mới đến
và khi chăm sóc người bệnh ở các khoa phòng
- Thái độ với bạn bè trong lớp và với các cán bộ của bệnh viện
1.3.3 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức
Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu quản lý
đã đề ra Một số phương pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức là:
- Phương pháp tổ chức hành chính: Là phương pháp mà chủ thể quản lý
tác động trực tiếp vào đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính bắt buộc như : Nghị định, Nghị quyết, văn bản, quy chế, quy định… Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo tính kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của tổ chức, tập trung quyền hành làm cho sự chỉ đạo cơ động, linh hoạt và thực hiện kịp thời các quyết định của người lãnh đạo Nhược điểm của phương pháp này
là tạo nên sự áp đặt cho người dưới quyền bị động hạn chế tính chủ động sáng tạo Nếu lạm dụng phương pháp tổ chức hành chính sẽ dễ mắc vào bệnh quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền quản lý
- Phương pháp kinh tế: Đây là phương pháp mà chủ thể quản lý tác động
gián tiếp vào đối tượng quản lý dựa trên các lợi ích của mình và các đòn bẩy kinh tế để làm cho đối tượng quản lý suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện các bổn phận và trách nhiệm một cách tốt nhất mà không phải đôn đốc nhắc nhở nhiều về mặt hành chính mệnh lệnh của chủ thể quản lý Những phương pháp kinh tế mà nhà trường thường áp dụng là: Lấy kết quả điểm trung bình rèn luyện về đạo đức, y đức, khuyến khích bằng học bổng và phạt bằng tiền khi vi phạm…
Ở trường CĐ, ĐH phương pháp kinh tế thể hiện ở việc xây dựng cơ chế thưởng phạt trong quản lý hoạt động giáo dục y đức Bằng nguồn kinh phí của
Trang 35trường cũng như việc xã hội hóa giáo dục, nhà trường sử dụng cơ chế này để thưởng cho những cán bộ, giáo viên có thành tích nổi bật trong từng tháng hoặc trong từng đợt thi đua về hoạt động (có kèm theo tiền thưởng) Những trường hợp ít quan tâm hoặc không quan tâm, thậm trí thiếu trách nhiệm trong việc giáo dục đạo đức, y đức, cho HS, SV thì cũng vận dụng quy chế này, riêng phạt kinh
tế chỉ quy định phạt những HS, SV phá hoại của công, thiếu trách nhiệm gây hậu quả như: Làm mất, làm vỡ tài sản của các phòng thí nghiệm, làm hỏng hệ thống loa đài… (yêu cầu học sinh viên và gia đình sinh viên phải bồi thường)
Ưu điểm của phương pháp kinh tế: Tác động kinh tế khóe léo, thích đáng
sẽ dẫn đến tác động tâm lý - tinh thân có hiệu quả, động viên các đối tượng quản lý thực hiện công tác đạt hiệu quả tối ưu với hao phí lao động, thời gian và vật chất ít nhất
Nhược điểm của phương pháp kinh tế: Nếu tuyệt đối hóa phương pháp kinh tế, tách khỏi kích thích tâm lý - tinh thần sẽ dẫn đến khuynh hướng vụ lợi
Vì vậy, để áp dụng phương pháp kinh tế có hiệu quả cần phối hợp phương pháp hành chính
- Phương pháp tâm lý - xã hội: Phương pháp tâm lý - xã hội là phương
pháp mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý bằng các biện pháp lôgic và tâm lý nhằm biến yêu cầu của người lãnh đạo đề ra thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu của người thực hiện
Nếu sử dụng phương pháp tâm lý - xã hội một cách phù hợp sẽ huy động khả năng tiềm tàng của các thành viên của tổ chức tạo nên không khí phấn khởi, đoàn kết hăng hái hoàn thành nhiệm vụ
Nếu người cán bộ thiếu gương mẫu về đạo đức, lối sống và sử dụng phương pháp này không đúng lúc, đúng chỗ, đúng người sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực, hạn chế sự cố gắng của các thành viên
- Phương pháp kích thích hoạt động: Đây là nhóm phương pháp tác động
vào tình cảm, ý chí nhằm động viên khích lệ thúc đẩy những mặt tích cực hoặc hạn chế những biểu hiện tiêu cực trong từng hoạt động của đối tượng Trong
Trang 36nhóm phương pháp này, thi đua được coi là phương pháp kích thích sự tự khẳng định của mỗi cá nhân, thúc đẩy đua tài, gắng sức, hăng hái vươn lên, lôi cuốn người khác cùng tiến lên giành được những thành tích cao nhất cho cá nhân và tập thể
Tóm lại, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể mà chủ thể quản lý có thể vận dụng phối hợp các phương pháp quản lý khác nhau để tiến hành quản lý có hiệu quả hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV Muốn làm được như vậy chủ thể quản
lý phải là những người có phẩm chất quản lý tốt đẹp “Ân, uy, tâm, trí, dũng”
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y tế
Trong xu thế phát triển chung của XH, đạo đức của SV cả nước nói chung và của trường Cao đẳng Y tế nói riêng bị ảnh hưởng bởi những yếu tố sau đây:
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay đang phát triển như vũ bão Nhiều tri thức, kỹ năng và các lĩnh vực nghiên cứu mới, công nghệ mới, vật liệu mới xuất hiện Điều này tác động rất lớn đến đội ngũ trí thức nói chung và SV nói riêng SV phải tự xác định cho mình động cơ, thái độ
và phương pháp học tập và tu dưỡng một cách đúng đắn, khoa học, phù hợp với
xu thế phát triển khoa học công nghệ, xem đó là chìa khóa vạn năng cần thiết
để có đủ năng lực thích ứng với những yêu câu của thời đại
- Sự tiến bộ XH, sự giao lưu và hội nhập của thế giới và khu vực, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống XH, trong đó có giáo dục và đào tạo Điều này đưa đến nhiều lĩnh vực mới mẻ, tích cực thuận lợi cho SV
- Sự biến đổi sâu sắc của môi trường kinh tế - xã hội ở nước ta trong cơ chế thị trường không chỉ ảnh hưởng đến mọi hoạt động XH mà còn tác động đến đạo đức của SV rất lớn
- Các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của các tổ chức XH dành cho SV có tác dụng thúc đẩy ý chí phấn đấu vươn lên trong họp tập và rèn luyện của SV
Trang 37- Các chủ trương, biện pháp quản lý của Nhà trường, khoa, bộ môn và của các quản lý Sự quan tâm chăm lo của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường (Cấp ủy Đảng, Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV…); Sự quan tâm của gia đình SV… là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và có hiệu quả đến ý thức, tinh thần, thái độ rèn luyện y đức của SV
- Các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của các tổ chức XH dành cho SV có tác dụng thúc đẩy ý chí phấn đấu vươn lên trong học tập và rèn luyện của SV
- Các chủ trương, biện quản lý của Nhà nước, sự quan tâm của các tổ chức XH dành cho SV có tác dụng thúc đẩy ý chú phấn đấu vươn lên trong học tập và rèn luyện của SV
- Các chủ trương, biện pháp quản lý của Nhà trường, khoa, bộ môn và của các cấp quản lý Sự quan tâm chăm lo của các tổ chức đoàn thể trong Nhà trường (Cấp ủy Đảng, Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội SV….); Sự quan tâm của gia đình SV… Là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và có hiệu quả đến ý thức, tinh thần, thái độ rèn luyện y đức của SV
- Sự gương mẫu của các cấp lãnh đạo, của các thầy cô giáo, cán bộ quản
lý, công nhân viên của nhân viên nhà trường và của các y sĩ, bác sĩ, cán bộ, công nhân viên chức bệnh viện nơi SV tham gia học tập lâm sàng là những tấm gương sáng cho SV noi theo
- Các hoạt động tập thể: Sinh hoạt câu lạc bộ, hội thi chuyên môn nghiệp
vụ, văn hóa - văn nghệ - thể dục thể thao, vui chơi dã ngoại, giao lưu gặp gỡ, nêu gương các tập thể và cá nhân tiên tiến điển hình… Sẽ là nguồn cổ vũ, động viên thu hút SV vào những việc làm bổ ích, lành mạnh hóa môi trường học tập, môi trường sống của SV
- Điều kiện cơ sở vật chất đầy đủ, đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt vui chơi giải trí bổ ích, thiết thực và lành mạnh của SV
- Các hoạt động du khảo, về nguồn, đền ơn đáp nghĩa và hiến máu nhân đạo có tác dụng lớn trong nhận thức của SV Từ đó có những suy nghĩ, hành động ứng xử đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực chung của xã hội
Trang 38- Môi trường, cảnh quan trường học, trường lớp sạch đẹp, khang trang, nề nếp là những yếu tố quan trọng góp phần cho sự phát triển thể chất, trí tuệ, tâm hồn và đạo đức sinh viên
- Các hoạt động ngoài XH đang diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp Những yếu tố tích cực và tiêu cực ngoài XH có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tu dưỡng, rèn luyện của sinh viên
Trên đây là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình giáo dục y đức cho SV Cần phát huy những yếu tố có tác dụng giáo dục tích cực, ngăn ngừa
và hạn chế đến mức thấp nhất những yếu tố có tác dụng giáo dục tiêu cực ảnh hưởng xấu đến đạo đức, y đức của SV Đặc biệt là những thói hư tật xấu đang luôn rình rập, tìm cách xâm nhập, lôi kéo rủ rê SV đi đến vi phạm, sa ngã Chính vì thế, nhà trường phải cung cấp cho SV những kiến thức đủ để phòng tránh cho bản thân và cho bạn bè; gia đình và cộng đồng góp phần ngăn ngừa và đẩy lùi các tệ nạn xã hội ra khỏi nhà trường
Trang 39Kết luận chương 1
Đạo đức là những nguyên tắc chuẩn mực trong quan hệ XH, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được XH thừa nhận và tự giác thực hiện Đạo đức trong y học chính là y đức Y đức là đạo đức của người hành nghề y tế, thể hiện qua các tiêu chuẩn nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận, nhằm điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của thầy thuốc đối với bệnh nhân và cộng đồng Y đức xác định trách nhiệm, lương tâm, danh dự và niềm hạnh phúc của người thầy thuốc Năm 1996 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành quy định về y đức gồm
12 điều để cán bộ ngành y tế phấn đấu thực hiện Nhiệm vụ của các trường y là đào tạo ra những cán bộ y tế vừa có đức, vừa có tài
Quản lý hoạt động giáo dục y đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục y đức đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Quản lý hoạt động giáo dục y đức là phải hướng tới việc làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt đông giáo dục y đức, tích cực tham gia vào quá trình giáo dục y đức Quản lý hoạt động giáo dục y đức là quản lý cả mục tiêu, nội dung, hình thức phương pháp giáo dục y đức, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục y đức, phát huy năng lực tự giáo dục của sinh viên Quản lý hoạt động giáo dục y đức gồm các chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra
Các vấn đề nêu trên đều liên quan và phụ thuộc vào hoạt động quản lý giáo dục y đức trong nhà trường Để chất lượng giáo dục ngày càng cao thì phải
có các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục y đức thật hữu hiệu Nhưng muốn
đề ra các giải pháp quản lý hoạt động GDYĐ hiệu quản thì trước hết phải có sự đánh giá đúng đắn khoa học về thực trạng quản lý hoạt động GDYĐ trong nhà trường Chính vì thế trong chương 2 của luận văn này chúng tôi tập trung làm
rõ thực trạng quản lý hoạt động giáo dục y đức cho HS, SV trường Cao đẳng Y
tế Điện Biên trong trong những năm gần đây
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Y ĐỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Y ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐIỆN BIÊN
2.1 Một vài nét về tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội tỉnh Điện Biên
Điện Biên là tỉnh miền núi nằm ở vùng Tây Bắc của tổ quốc, được chia tách từ tỉnh Lai Châu tháng 12/2003, diện tích tự nhiên 9,554,09 km2 Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu; Phía Đông và Đông nam giáp với tỉnh Sơn La; Phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, có đường biên giới Việt - Trung dài 38,5 km; Phía Tây và Tây Nam giáp với ba tỉnh phía Bắc nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, có đường biên giới Việt - Lào dài 360 km; có cửa khẩu quốc tế Tây Trang giao lưu với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Có nhiều đồi núi, sông, suối và các hồ rộng như Hồ Pa Khoang, Hồ Pe Luông, Hồ Hồng Khếnh chứa lượng nước ngọt rất lớn phục vụ tưới tiêu cánh đồng Mường Thanh rộng mênh mông, là vựa lúa của vùng Tây Bắc Có Sân bay Điện Biên giao lưu thường xuyên với khách của nhiều địa phương và một số nước, có nhiều di tích lịch sử là điểm tham quan du lịch mà không phải tỉnh vùng cao biên giới nào cũng có được như: Hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hầm Tướng
Đờ Cát Tơ Ri, Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu Di tích Đồi A1, Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ, Đền Hoàng Công Chất, Suối nước
khoáng Pe Luông, suối khoáng U va và khu du lịch sinh thái khác
Điện Biên có 10 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện) với tổng số 131 xã phường thị trấn (113 xã, 10 phường, 8 thị trấn) Tổng dân
số có 523.030 người, gồm 21 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm tỉ lệ 40,4%, dân tộc HMông 28,8%, dân tộc Kinh 19,7%, dân tộc Khơ Mú 3,2%, còn lại dân tộc khác