Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo c
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ ĐỨC HẬU
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG
CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ ĐỨC HẬU
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG
CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Lệ Hoa
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Vũ Đức Hậu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, khảo sát thực tế triển khai đề tài
khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm của các thầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN cùng các thầy, cô giáo tham gia giảng dạy cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Vũ Lệ Hoa, người
đã tận tâm, nhiệt tình chỉ dẫn cho tôi về kiến thức và phương pháp luận trong suốt thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban lãnh đạo, các Phòng ban, các thầy, cô giáo ở Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên và các bạn đồng nghiệp, những người thân đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, số liệu, tham gia đóng góp ý kiến, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song những thiếu sót trong luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi Kính mong nhận được các ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn quí báu của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU v
DANH MỤC BIỂU iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức 11
1.2.2 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý Nhà trường 13
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 18
1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở trường cao đẳng 19
1.3.1 Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ đào tạo của trường Cao đẳng 19
1.3.2 Đặc điểm của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng 22
1.3.3 Nội dung hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 26
1.3.4 Phương pháp và hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong Nhà trường 28
Trang 61.3.5 Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh, sinh viên 32 1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 33 1.4.1 Vai trò, chức năng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh, sinh viên 33 1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 35 1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh, sinh viên 36
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ -
2.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Điện Biên và Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 40 2.1.1 Khái quát về vị trí địa lí, kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên 40 2.1.2 Vài nét về Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 42 2.2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 46 2.2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên, cán bộ, học sinh, sinh viên về tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 47 2.2.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 49 2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 52 2.3 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 64
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 72
Trang 73.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu đào tạo của nhà trường 72
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 72
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 73
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 74
3.2.1 Nâng cao nhận thức, năng lực cho cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên, cán bộ nhân viên Nhà trường về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 74
3.2.2 Kế hoạch hóa công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 76
3.2.3 Tăng cường nội dung giáo dục gắn với cộng đồng, địa phương và đa dạng các hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 78
3.2.4 Chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh, sinh viên 82
3.2.5 Đổi mới cơ chế phối kết hợp các lực lượng trong và ngoài Nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 84
3.2.6 Tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên một cách hợp lý 90
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp 93
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Khuyến nghị 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả xếp loại học tập của học sinh, sinh viên (Trong 03 năm
từ 2010 - 2013) 45 Bảng 2.2: Kết quả học sinh, sinh viên lên lớp, tốt nghiệp, thôi học (Trong
03 năm từ 2010 - 2013) 45 Bảng 2.3: Nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện giáo dục đạo
đức cho học sinh, sinh viên 47 Bảng 2.4: Nhu cầu giáo dục đạo đức của học sinh, sinh viên 48 Bảng 2.5: Kết quả xếp loại đạo đức của học sinh, sinh viên (Từ năm học
2010- 2011 đến năm học 2012- 2013) 50 Bảng 2.6: Những nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện tiêu cực về đạo
đức của học sinh, sinh viên 51 Bảng 2.7: Công tác kế hoạch hoá quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh, sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 54 Bảng 2.8: Đánh giá về các phẩm chất đạo đức mà mình đạt được 56 Bảng 2.9: Các hình thức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh
viên tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 58 Bảng 2.10: Mức độ thực hiện phối hợp của Nhà trường với các lực lượng giáo
dục đạo đức trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 62 Bảng 2.11: Nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục đạo
đức học sinh, sinh viên 67 Bảng 3.1: Khảo nghiệm tính cần thiết của biện pháp quản lý giáo dục đạo
đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 94 Bảng 3.2: Khảo nghiệm tính khả thi của biện pháp quản lý giáo dục đạo
đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 96 Bảng 3.3: Mức độ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 98
Trang 10DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho Học
sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên 55Biểu đồ 3.1: Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên 99
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, giáo dục - đào tạo được coi là yếu tố quan trọng bậc nhất Bởi lẽ, chỉ có giáo dục - đào tạo với chức năng nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài mới có thể phát huy tiềm năng của con người Hơn bao giờ hết, giáo dục - đào tạo luôn là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững của quá trình xây dung và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ ng
Đầu tư cho giáo dục là đầu
- " [8]
Đồng thời chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ,
đó là: Làm thế nào để đưa những thành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới áp dụng vào nước ta, nhưng lại vừa phải giữ vững và phát huy những bản sắc văn
hóa dân tộc, những giá trị truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam Vì vậy
cần giáo dục để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, trong đó, giáo dục đạo đức cho mỗi người Việt Nam, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho thế hệ
trẻ là nhiệm vụ hết sức quan trọng
Luật giáo dục đã khẳng định mục tiêu giáo dục trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa là: “Đào tạo con người Việt Nam, phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” Như vậy, việc giáo dục phải đảm bảo phát triển toàn diện con
Trang 12người, tức là đảm bảo cho con người phát triển cả về đức và tài, trong đó vấn đề
giáo dục đạo đức được đặt lên hàng đầu bởi đạo đức là “cái gốc” của con người
Với xu hướng ngày càng phát triển của đất nước, mặt trái của cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp giáo dục, trong đó một bộ phận thế hệ trẻ nhận thức chưa đúng đắn về sự tiến bộ của xã hội: tệ nạn xã hội, các hành vi lệch chuẩn đạo đức, hành vi vi phạm pháp luật có chiều hướng gia tăng, làm xấu đi bộ mặt văn hóa - đạo đức của dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến
sự phát triển xã hội, làm mất trật tự trị an xã hội Đánh giá về vấn đề này Đảng
ta đã nhận định: "Một bộ phận học sinh, sinh viên có biểu hiện suy thoái về đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước" Vì vậy, vấn đề giáo dục đạo đức của thế hệ trẻ hiện nay đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội và đặt ra cho những người làm công tác giáo dục nói chung và những người làm công tác quản lý giáo dục nói riêng nhiệm vụ nặng nề là phải giáo dục thế hệ trẻ những phẩm
chất đạo đức cách mạng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới đất nước
Cùng với bối cảnh chung của cả nước, tỉnh Điện Biên vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn: Là một tỉnh miền núi biên giới, đa phần là người dân tộc thiểu
số, xa các trung tâm kinh tế lớn, xuất phát điểm kinh tế thấp, sản xuất hàng hoá chậm phát triển, điều kiện sản xuất, đời sống của đa số đồng bào vùng cao còn nhiều khó khăn Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu thu hút nguồn lực để đầu tư phát triển Văn hoá xã hội có mặt còn hạn chế, trình độ dân trí không đồng đều, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp…đã tác động, ảnh hưởng đến triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng, các chủ
trương chính sách của Nhà nước và tỉnh Điện Biên
Trong khi đó các biểu hiện tiêu cực xã hội đang có chiều hướng gia tăng
và diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ tới một bộ phận thanh niên, học sinh, sinh viên trong các Nhà trường Chính vì lẽ đó, Trường Cao đẳng Kinh tế
- Kỹ thuật Điện Biên đã quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh,
Trang 13sinh viên và đã thu được một số kết quả nhất định, tuy nhiên cũng còn không ít hạn chế Điều đó là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về phía biện pháp quản lý Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh,
sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở các trường Đại học và Cao đẳng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên đã đạt được một số kết quả nhất định, song vẫn còn những vấn đề hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được mục tiêu đào tạo Nếu có những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên phù hợp với đặc điểm, nhu cầu giáo dục thực tế của Nhà trường
và yêu cầu phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh Điện Biên thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
Trang 14- Chỉ tiến hành khảo sát 250 học sinh, sinh viên (trên tổng số 1554 học sinh, sinh viên toàn trường) và 50 cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên, cán bộ nhân viên (trong tổng số 156 cán bộ, giảng viên, giáo viên toàn trường)
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở Trường Đại học và Cao đẳng
6.2 Khảo sát thực trạng quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
6.3 Đề xuất các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên và khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp,
tổng kết kinh nghiệm, hệ thống hóa các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Quốc hội, các luật và chính sách của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên Các sách, tài liệu, công trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu đề tài, các luận văn thạc sĩ, luận
án tiến sĩ,… có liên quan tới đề tài luận văn
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát một số hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
Trang 15- Phương pháp điều tra: Dùng phiếu hỏi để trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý và giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên trong trường nhằm thu thập thông tin
- Điều tra bằng phiếu hỏi đối với:
+ 50 cán bộ, giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý của Nhà trường + 250 học sinh, sinh viên các khối, lớp trong Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục đạo đức tại Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
- Phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến một số cán bộ quản lý, chuyên viên Phòng Quản lý học sinh, sinh viên của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên và một số chuyên gia giáo dục về các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên của Nhà trường
7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ: Sử dụng toán thống kê, tin học để xử lý các số
liệu, kết quả khảo sát thực trạng và khảo nghiệm
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
- Mở đầu
- Nội dung: Gồm 3 chương
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng
+ Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
+ Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
- Kết luận và khuyến nghị
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 16cùng với xã hội đồng thời giúp xã hội loài người ngày càng tiến cao hơn
Trong xã hội hiện đại, giáo dục - đào tạo ví như: "Chiếc chìa khoá vàng
để mở cánh cửa đi vào tương lai" Một xã hội hiện đại là xã hội áp dụng các
thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ, trí tuệ để phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước Tăng trưởng kinh tế cùng với những biến đổi xã hội đã làm cho mức sống con người được nâng cao Giáo dục - Đào tạo đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát triển và truyền bá văn minh của nhân loại Điều này càng thể hiện rõ trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay, tiềm năng trí tuệ trở thành động lực chính của sự tăng tốc phát triển Giáo dục - Đào tạo được coi là nhân tố tích cực tạo nên nguồn nhân lực, quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia và sự thành đạt cho mỗi cá nhân trong cuộc sống của mình Vì thế phát triển giáo dục - đào tạo đã trở thành
“Quốc sách hàng đầu” của nhiều quốc gia
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: "Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung phương pháp dạy và học, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam" [6, tr.95]
Trang 17Sự nghiệp công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đặt ra mục tiêu đến năm 2020 đất nước ta về cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp Nhân tố quyết định
sự thắng lợi của công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Vì vậy muốn đảm bảo tăng trưởng về kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, trước hết phải chăm lo việc phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Trong lĩnh vực khoa học quản lý giáo dục ở Việt Nam những năm qua đã
có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận cũng như đề ra được các giải pháp quản lý có hiệu quả trong việc phát triển giáo dục và đào tạo Ví dụ như: PGS
TS Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản
lý giáo dục” đã đề cập đến những khái niêm cơ bản của quản lý, quản lý giáo dục và các đối tượng của khoa học quản lý giáo dục; GS.TSKH Phạm Minh Hạc trong cuốn “Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục” NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996, đã nêu vấn đề giáo dục toàn diện thế hệ trẻ
Đạo đức là cái gốc của con người, việc nghiên cứu về giáo dục đạo đức, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ đã được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới nghiên cứu
Các tác giả K.Đ Usinxki, N.A Lyalin, A.G Kavaliop, I.I.Bogiovic đã
có những công trình nghiên cứu về cơ sở tâm lí học của việc giáo dục đạo đức
A.X Makarenco, Xukhomlinxki, những sư phạm nổi tiếng của Liên
Xô cũ cũng đã có nhiều nghiên cứu, đặc biệt là về phương pháp giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên, nổi tiếng nhất là trong các tác phẩm như “Bài ca sư phạm” (A.X Makarenco), “Giáo dục con người chân chính như thế nào” (Xukhomlinxki)
Với truyền thống của một nước Phương Đông như Việt Nam, vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ luôn được quan tâm và chú trọng
Trang 18Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề này Người
đã dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” Theo người, “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là những phẩm chất đạo đức quan trọng cần được giáo dục cho mọi người, đặc biệt là cho người cán bộ
+ Tác giả Hà Thế Ngữ đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh [21]
+ Tác giả Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách Công trình nghiên cứu của ông và các cộng sự về phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa đã dành một chương cho vấn đề đạo đức, giáo dục đạo
đức, các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp về giáo dục đạo đức các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phươngpháp nghiên cứu giáo dục đạo đức Trong các công trình nghiên cứu của mình.[11]
+ Tác giả Hà Nhật Thăng đã đề cập đến những vấn đề chung như phương pháp luận của giáo dục đạo đức, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, các giải pháp
nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay Nhìn chung các
tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đưa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000 Đặc biệt những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã hết sức nhức nhối trước những hiện tượng suy thoái đạo đức của một số thanh niên đã có những bài viết đáng quan tâm.[30]
- Chuyên đề “Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên trong chiến lược phát triển toàn
Trang 19diện con người Việt Nam thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước” của tác Trần Kiều, Vũ Trọng Rỹ, Hà Nhật Thăng, Lưu Thu Thủy thực hiện năm
2001 thuộc Chương trình Khoa học công nghệ cấp nhà nước KHXH - 04 Công trình này đã chỉ ra bức tranh thực trạng rất phong phú, đa dạng về đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên học sinh THPT và học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng với những mặt tích cực và hạn chế, yếu kém Đồng thời các nhà khoa học cũng đã đề xuất các giải pháp cụ thể để góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Cũng thuộc chương trình KHXH - 04, còn có đề tài khoa học “Chuẩn mực và giải pháp hình thành đạo đức con người Việt Nam thời kì Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa” do tác giả Hà Nhật Thăng và các cộng sự thực hiện năm
2000 Kết quả nghiên cứu đề tài này là đã xác định được 5 nhóm chuẩn mực đạo đức cần giáo dục cho các công dân Việt Nam và các giải pháp để giáo dục các chuẩn mực đạo đức đó một cách hiệu quả
Đề tài Khoa học và công nghệ cấp Bộ “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” do tác giả Lưu Thu Thủy làm chủ nhiệm (2003) đã xác định các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc cần được giáo dục cho học sinh THPT và nội dung, cách thức tổ chức giáo dục cụ thể các giá trị này cho các em thông qua những
mô hình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cụ thể
Đề tài khoa học cấp Viện: “Tìm hiểu về giáo dục đạo đức học sinh của một vài nước trên thế giới” chủ nhiệm đề tài Nguyễn Dục Quang (năm 2010)
đã tìm hiểu kinh nghiệm giáo dục đạo đức của một số nước trên thế giới như
Mĩ, Nhật, Thái Lan và đề xuất hướng vận dụng vào Việt Nam
Ngoài ra còn có các luận văn tiến sĩ, thạc sĩ nghiên cứu tới vấn đề giáo dục đạo đức như:
- Biện pháp quản lý phối hợp giữa Nhà trường với gia đình và xã hội nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông các trường ngoài công lập thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ, Nguyễn Thị Chiến - năm 2007
Trang 20- Tác giả Huỳnh Khái Vinh đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn
đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người; sự tác động của những nhân
tố chính trị, kinh tế, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng; những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội và một số nước; thực trạng phương hướng, quan điểm
và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước
- Tác giả Nguyễn Huy Bằng lại quan tâm đến mối quan hệ giữa pháp luật
và đạo đức, giữa giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, mục tiêu giáo dục, điều kiện thuận lợi khó khăn, yêu cầu xã hội đối với giáo dục đạo đức, ý nghĩa của việc kết hợp giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật cho học sinh trong việc làm tăng hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức đạo đức và ý thức pháp luật
- Tác giả Phạm Phương Bằng trên cơ sở tiếp cận việc giáo dục đạo đức
cho học sinh THPT, từ góc độ nhà quản lý đã đưa ra 6 giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tuy nhiên tác giả chưa nêu được điểm nhấn, điểm thúc đẩy quá trình quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh
Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của các nhà khoa học nói trên đã được nhiều nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục vận dụng vào hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên nhiều cấp học trong các cơ sở giáo dục và các trường Cao đẳng, Đại học
Tuy nhiên, biện pháp chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên gặp khó khăn ở Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên chưa được quan tâm nghiên cứu Do đó, mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên, tìm một số biện pháp trong công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên
Trang 211.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Đạo đức và giáo dục đạo đức
Bàn về đạo đức đã có nhiều định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên chúng ta có thể khái quát các định nghĩa này dưới hai góc độ:
- Dưới góc độ xã hội, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người ta có thể tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến
bộ xã hội Trong quan hệ con người với con người, giữa cá nhân và xã hội
Dưới góc độ cá nhân, đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình
Quá trình hình thành và phát triển đạo đức của mỗi con người là quá trình tác động qua lại giữa xã hội với cá nhân để chuyển hoá những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực giá trị đạo đức - xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức, công dân đáp ứng được yêu cầu xã hội Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau song có thể khái quát chung về đạo đức như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con
Trang 22người trong mọi lĩnh vực xã hội Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội
Trong thực tế, nhiều trường hợp pháp luật không trừng phạt nhưng lại bị đạo đức lên án Thang bậc đánh giá của pháp luật theo khuôn từ thấp đến cao
còn thang bậc đánh giá đạo đức rộng hơn rất nhiều Có thể nói: Pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa.[29]
Truyền thống của dân tộc Việt Nam luôn coi trọng đạo đức Phẩm giá
đạo đức của mỗi con người được đặt lên hàng đầu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn ” hay "Hình thức con người không bằng cái tốt về nội tâm, tính cách con người" Ông cha ta thường khuyên: “Đói cho sạch, rách cho thơm” hay “Giấy rách giữ lấy lề ”
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vấn đề tư tưởng, đạo đức, giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của thời đại Nguồn gốc của mọi giá trị đạo đức là sự sáng tạo, cần cù trong lao động, có ý nghĩa chỉ đạo trong sự giáo dục và tự giáo dục đạo đức của con người
Tình yêu quê hương đất nước gắn chặt với yêu chủ nghĩa xã hội, thực hiện nghĩa vụ của người công dân, sống và làm việc theo pháp luật, đấu tranh không mệt mỏi vì hoà bình, có tính cộng đồng và tinh thần quốc tế là giá trị đạo đức cao của con người Việt Nam Giá trị đạo đức XHCN thể hiện ở tinh thần nhân đạo XHCN Thực hiện nếp sống văn minh, ý thức bảo vệ môi trường, bảo
vệ thiên nhiên
* Giáo dục đạo đức:
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho
họ một ý thức, tình cảm và một niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là tạo lập những thói quen hành vi đạo đức
Quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có
kế hoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của
Trang 23xã hội với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục
Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trị Từ đó là cơ sở hình thành thế giới quan Mác - Lênin và định hướng chính trị theo quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam cho ý thức và hành động đạo đức
Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật giúp cho người học nắm được chuẩn mực của pháp luật, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam Luật pháp bản thân nó cũng đã bao hàm những yếu tố đạo đức Thực hiện pháp luật một cách tự giác góp phần vào cuộc sống bình yên của xã hội chính là thể hiện những phẩm chất đạo đức chân chính
Quá trình giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là hình thành được những thói quen hành vi đạo đức
Như vậy giáo dục đạo đức là một nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt toàn
bộ hoạt động của gia đình, Nhà trường và xã hội để hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục đạo đức trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là vấn đề của mọi vấn đề trong chiến lược giáo dục và đào tạo vì sự phát triển con người
Trang 24hơn, cho nên nhiệm vụ quản lý ngày càng quan trọng Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, mục đích của hoạt động quản lý nhằm tăng năng suất lao động, cải tạo cuộc sống Để đạt được mục tiêu trên cơ sở kết hợp các yếu tố con người, phương tiện thì cần có sự tổ chức và điều hành chung,
đó chính là quá trình quản lý Trải qua quá trình phát triển, cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ tổ chức và quản lý cũng được từng bước nâng lên
Hiện nay có nhiều quan niệm về quản lý Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, tác giả người Mỹ H.Kootz đã đưa ra khái niệm: “Quản lý
là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật; còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”
Theo tác giả Bùi Minh Hiền:“Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý
* Bản chất của quản lý
Theo tác giả Bùi Minh Hiền:
- Quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động
- Quản lý là một nghệ thuật tác động vào hệ thống có hướng đích, có mục tiêu xác định
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc
Trang 25- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan
- Quản lý xét về mặt công nghệ là xử lý thông tin
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại
Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền Biểu hiện
cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó, điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận
Như vậy: “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật Quản lý là một hệ thống mở mà bản chất của nó là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi, …chúng là những mặt đối lập trong một
hệ thống nhất Đó là biện chứng và bản chất của hoạt động quản lý”
* Quản lý giáo dục
Xã hội tồn tại và phát triển dựa trên yếu tố đầu tiên là sản xuất ra của cải vật chất Ph Ăngghen viết: “Các Mác là người đầu tiên đã phát hiện quy luật phát triển của lịch sử loài người, nghĩa là tìm ra cái sự thật đơn giản…là trước hết con người cần phải ăn, uống, mặc và ở trước khi có thể lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo v.v…
Cùng với việc phát triển sản xuất, xã hội ở một giai đoạn đều tiến hành chức năng giáo dục Giáo dục là quá trình chuẩn bị cho con người, trước hết là thế hệ trẻ, tham gia lao động sản xuất, tham gia vào đời sống xã hội bằng cách
tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người một cách có ý thức, có mục đích Tham gia quá trình giáo dục có những phương tiện, điều kiện giáo dục …Tất cả những yếu tố trên quy tụ lại thành
Trang 26“Hệ thống giáo dục quốc dân” Đây là một bộ phận của hệ thống xã hội Quản
lý giáo dục chính là quản lý bộ phận này của xã hội Quản lý giáo dục được hiểu là quản lý quá trình giáo dục và đào tạo Tùy theo các cấp độ thì sự quản
lý giáo dục sẽ khác nhau
Về khái niệm quản lý giáo dục, hiện nay cũng có nhiều định nghĩa khác nhau Quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục Ngày nay, lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước, do mỗi chỗ mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội Tuy nhiên, giáo dục thế hệ trẻ là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội
Quản lý giáo dục có hai nội dung chính: Quản lý nhà nước về giáo dục
và Quản lý Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác Quản lý giáo dục là việc thực hiện, giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, khái niệm quản
lý giáo dục được nhiều tác giả diễn đạt như sau:
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục (vĩ mô) được hiểu là những tác động liên tục, có tổ chức, có hướng của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội Tính vượt trội của hệ thống là: sử dụng một cách tối ưu tiềm năng, cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động ”.[16;10 ]
“Quản lý giáo dục (vi mô) được hiểu là những tác động trực tiếp (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giảng viên, giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh sinh viên, phụ huynh, và các lực lượng xã hội trong và ngoài Nhà trường nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của Nhà trường”.[ 16;11]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
Trang 27được các tính chất của Nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Qua các định nghĩa trên có thể thấy quản lý giáo dục là tập hợp những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có chất lượng, có hiệu quả mục tiêu giáo dục
….đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục Quản lý giáo dục có thể hiểu là sự quản lý hệ thống Giáo dục và Đào tạo bao gồm một hay nhiều cơ sở giáo dục, trong đó Nhà trường là đơn vị cơ sở, ở đó diễn ra các hoạt động quản lý giáo dục cơ bản nhất
Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp, đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật và các hoạt động thực hiện các chức năng của quá trình giáo dục và đào tạo
Nội dung của quản lý Nhà nước về giáo dục bao gồm các vấn đề cơ bản được quy định tại điều 99 Luật giáo dục sửa đổi năm 2009
Muốn quản lý giáo dục đạt kết quả tốt thì người quản lý phải năng động, linh hoạt, tuân theo các quy luật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng quản lý, có như vậy thì hiệu quả quản lý mới đạt được yêu cầu mong muốn
* Quản lý Nhà trường
Quản lý trường học là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống quản lý giáo dục nói chung Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý Nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa Nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh, sinh viên”
Quản lý Nhà trường về bản chất là quản lý con người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong Nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của
Trang 28một tổ chức xã hội - Nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh viên
Theo tác giả Trần Kiểm: “ Quản lý Nhà trường thực chất là việc xác định
vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi Nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội"
Như vậy: Quản lý trường học nói chung và quản lý trường đại học, cao đẳng nói riêng là tổ chức chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy, giáo dục của thầy và hoạt động học tập, rèn luyện của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục vụ cho giáo dục và dạy học nhằm đạt được mục đích Giáo dục - Đào tạo Xét về bản chất, quản lý con người trong Nhà trường là tổ chức một cách hợp lý lao động của giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh viên, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người
1.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
* Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Từ khái niệm quản lý và khái niệm giáo dục đạo đức đã nêu trên đây, chúng tôi cho rằng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạo đức đạt tới mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất
Về bản chất, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào các quá trình giáo dục đạo đức nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đạo đức bằng việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đó để những yêu cầu, mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức theo các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra với thế hệ trẻ phù hợp với lứa tuổi học, cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân trở thành hiện thực
Trang 29* Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Theo Từ điển Tiếng Việt 1992 của Viện khoa học xã hội Việt Nam thì biện pháp có nghĩa là: Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Hà Nội năm 2005: “Biện pháp là cách hành động lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích”
Từ khái niệm về biện pháp, về quản lý, chúng ta có thể hiểu: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là cách thức tổ chức thực hiện, chỉ đạo, điều hành của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý trong quá trình giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức đề ra
Như vậy, trong luận văn này, xây dựng biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên được hiểu là cách thức tổ chức thực hiện, chỉ đạo, điều hành của Hiệu trưởng đối với các giảng viên, giáo viên, cán bộ, chuyên viên và học sinh, sinh viên Nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức đề ra
1.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở trường cao đẳng
1.3.1 Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ đào tạo của trường Cao đẳng
* Mục tiêu
Mục tiêu là yếu tố cơ bản trong hệ thống quản lý Đây chính là trạng thái của hệ thống mà người quản lý muốn thu hoạch được trong quá trình quản lý Mục tiêu luôn được phát triển một cách xác định, bao gồm mục tiêu định lượng
và mục tiêu định tính Trong quá trình quản lý mục tiêu luôn phải được xác định và phân biệt rõ đâu là mục tiêu chính, đâu là mục tiêu phụ, mục tiêu nào cần ưu tiên Song song với việc xác định các mục tiêu đó là việc tổ chức thực hiện và xây dựng các tiêu chuẩn để đánh giá Mục tiêu quản lý trường Cao đẳng bao gồm:
- Thực hiện được chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm đúng đối tượng và đủ số lượng
- Giảng viên, giáo viên dạy học, giáo dục tốt (an toàn, chất lượng cao, có hiệu quả)
Trang 30- Học sinh, sinh viên học tập rèn luyện tốt (an toàn, chất lượng cao, có hiệu quả)
- Đảm bảo về cơ sở vật chất của Nhà trường đầy đủ, chất lượng tốt, không bị mất mát, hư hỏng công tác tài chính, thu chi đúng đắn, công khai, hiệu quả
- Nhà trường luôn có kỷ cương tốt, thực hiện tốt chế độ dân chủ trong Nhà trường, được cha mẹ học sinh, sinh viên tín nhiệm và tôn trọng tuyệt đối
* Chức năng
- Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên là cơ sở đào tạo công
lập nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường có chức năng đào tạo cán bộ các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật và văn hoá - xã hội trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp; đồng thời
là cơ sở nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên chịu sự quản lý hành
chính theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, sự quản lý Nhà nước
về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường hoạt động theo Điều lệ trường Cao đẳng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
* Nhiệm vụ:
- Đào tạo nhân lực các ngành quản lý kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn
hóa xã hội có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, có khả năng hợp tác trong hoạt động nghề nghiệp, tự tạo được việc làm cho mình và cho xã hội
- Đào tạo lại, bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới về quản lý kinh tế, khoa
học - kỹ thuật, văn hoá - xã hội cho đội ngũ cán bộ và người lao động trong các
ngành kinh tế, các doanh nghiệp, các cơ sở xã, phường, thị trấn và hợp tác xã
- Liên kết với các trường đại học, học viện đào tạo đại học và sau đại học cho cán bộ quản lý kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá - xã hội của địa phương
Trang 31- Thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền giao; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học, triển khai nghiên cứu khoa học; phát triển và chuyển giao công nghệ, thực hiện các loại hình dịch
vụ khoa học, công nghệ và sản xuất; sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát
triển khoa học và công nghệ
- Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện
các nhiệm vụ đào tạo, khoa học, công nghệ và hoạt động tài chính; quản lý giảng viên, cán bộ, công nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ
về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu
ngành nghề theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Đăng ký, tổ chức triển khai kiểm định chất lượng giáo dục và chịu sự quản lý chất lượng của cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục
- Tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Phát triển và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên của trường
- Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài sản theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với các tổ chức, cá nhân và gia đình của người học trong hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho giảng viên, giáo viên cán bộ, nhân viên và người học tham gia
các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo Chăm lo đời sống và bảo vệ
quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cán bộ, giảng viên, giáo viên Nhà trường
- Giữ gìn và phát triển những di sản văn hóa dân tộc
- Thực hiện chế độ báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan quản lý các cấp về các hoạt động của trường theo quy định hiện hành
- Công khai những cam kết của trường về chất lượng đào tạo, chất lượng đào tạo thực tế, các điều kiện đảm bảo chất lượng và thu, chi tài chính hàng năm
Trang 32- Hợp tác quốc tế: Đào tạo học sinh, sinh viên cho các tỉnh Bắc Lào
(Phong Sa Ly, Luông Pra Bang, U Đôm Say, Luông Nậm Thà ) trình độ cao đẳng và trung cấp những ngành mà nước bạn cần Phối hợp thực hiện các dự án
nước ngoài đầu tư vào Điện Biên về các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
1.3.2 Đặc điểm của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng
* Đặc điểm sinh lý
Học sinh, sinh viên Nhà trường thường có độ tuổi từ 15 – 25 tuổi, tức là
ở độ tuổi thanh niên
Trong tâm lý học lứa tuổi, người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển từ lúc dậy thì và kết thúc vào tuổi người lớn Chính các định nghĩa và giới hạn sinh lý, giới hạn xã hội đã chỉ ra tính phức tạp về nhiều mặt
của hiện tượng Đối với lứa tuổi thanh niên người ta chia ra thành 2 thời kỳ:
- Từ 14,15 tuổi đến 17,18 tuổi: Giai đoạn đầu tuổi thanh niên (còn gọi là
thanh niên mới lớn, thanh niên học sinh)
- Từ 17,18 tuổi đến 25 tuổi: Giai đoạn của tuổi thanh niên
Đặc điểm của thời kỳ này là thời kỳ của sự phát triển về mặt thể lực, những sự phát triển còn kém so với thời kỳ phát triển cơ thể người lớn Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ tương đối êm ả về mặt sinh lý Nhịp độ tăng trưởng
về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại Trọng lượng của các em trai đã đuổi
kịp các em gái và tiếp tục vượt lên
Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của tế bào bán cầu não của người lớn… điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa
vận động phân tích, tổng hợp… của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập
Nhìn chung thì đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khỏe
và đẹp Đa số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như
người lớn
Trang 33Thời kỳ này điều kiện xã hội có vai trò quan trọng trong sự phát triển Vai trò của xã hội, hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi, mà còn biến đổi về cả số lượng Ở gia đình thanh niên đã có nhiều thuận lợi và trách nhiệm người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi một số vấn đề trong
gia đình và các em đã quan tâm nhiều mặt đến sinh hoạt trong gia đình
Thời kỳ này các em đã đủ tuổi gia nhập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, tham gia công tác tập thể xã hội một cách độc lập và có trách nhiệm hơn, 18 tuổi có quyền bầu cử, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động… Tất cả đều có suy nghĩ về việc chọn ngành nghề… Do vậy Nhà trường, xã hội phải tìm cách tạo điều kiện cho việc xây dựng một phương thức phù hợp, khuyến khích hành động có ý thức trách nhiệm riêng, khuyến khích sự giáo dục lẫn
nhau trong tập thể thanh niên mới lớn lên
* Đặc điểm tâm lý
Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu
sự chi phối của hoạt động chủ đạo Ở đây, chúng tôi quan tâm đến học sinh, sinh viên, những người có hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường Cao đẳng Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên - học sinh, sinh viên là sự phát triển tự ý thức Nhờ có tự ý thức phát triển, học sinh, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Chẳng hạn học sinh, sinh viên đang học ở các trường Cao đẳng, họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà học sinh, sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao
hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập của họ
Trang 34Ở học sinh, sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Học sinh, sinh viên là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở môi trường giáo dục chuyên nghiệp là cơ hội tốt để học sinh, sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, học sinh, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử
thách để khẳng định mình
Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của học sinh, sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và
đam mê với nghề lựa chọn
Học sinh, sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ học sinh, sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi học sinh, sinh viên Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ Nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm và
khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của học sinh, sinh viên
Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình
độ nhất định, học sinh, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những
Trang 35tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên, do đó, học sinh, sinh viên dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của
dân tộc và không có lợi cho bản thân họ
Lứa tuổi học sinh, sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, học sinh, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn
luyện và phấn đấu của học sinh, sinh viên
* Nhu cầu giáo dục
Về hoạt động học tập và phát triển chí tuệ của thanh niên cũng thay đổi Trong học tập đòi hỏi tính năng và tính độc lập ở mức cao hơn nhiều, phát triển
tư duy lý luận thái độ với các môn học trở nên có sự lựa chọn Hứng thú này thường liên quan đến việc chọn một nghề nhất định Do vậy giảng viên, giáo viên cần làm cho các em hiểu ý nghĩa và chức năng của giáo dục thúc đẩy phát
triển tính chủ động của các quá trình nhận thức
Mặt khác tính chủ động được phát triển mạnh ở tất cả quá trình nhận thức đạt tới mức cao Hệ thống tín hiệu thứ 2 nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ Vì vậy cần quan tâm để hướng quan sát vào nhiệm vụ nhất định
tránh vội vàng không cần thiết
Ở tuổi thanh niên ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ động trong hoạt động trí tuệ Các em có khả năng tư duy lý luận trừu tượng một cách độc lập sáng tạo Tư duy của các em chặt chẽ hơn có căn cứ và tính nhất quán hơn… những đặc điểm đó tạo điều kiện cho học sinh thực hiện các thao tác tư duy
Trang 36phức tạp, phân tích mối quan hệ trong tự nhiên, xã hội Đó là cơ sở hình thành
thế giới quan và hình thảnh nhân cách
Những đặc điểm nhân cách chủ yếu của thời kỳ này cũng là vấn đề cần quan tâm trong việc giáo dục nhân cách Sự hình thành và tự ý thức biểu hiện ở mức độ khác nhau Nó diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi có tính chất đặc thù riêng, liên quan đến các vấn đề mục đích và hoài bão sống của mình, rồi xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, địa vị mới mẻ trong tập thể Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu đặc thù trong phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên Họ quan tâm đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của con người trong lịch sử nghĩa vụ và quyền lợi… đáng lưu tâm là hoạt động giao tiếp và đời sống tình
cảm… vì vậy cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
Quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa người và người để hình thành quan hệ tốt đẹp giữa thanh niên mới lớn với người lớn Quan hệ đó có thể tốt đẹp nếu người lớn thực sự tin tưởng vào thanh niên, tạo điều kiện cho họ được thỏa mãn tính tích cực, độc lập trong hoạt động, tạo điều kiện để nâng cao
tinh thần trách nhiệm của thanh niên
Người lớn cần giúp đỡ tổ chức đoàn một cách khéo léo, tế nhị để hoạt động đoàn được phong phú, hấp dẫn và độc lập, không quyết định và làm thay trẻ
Cần tổ chức hoạt động của thanh niên học sinh, sinh viên như thế nào để lôi kéo họ vào hoạt động chung, kích thích tinh thần trách nhiệm, giáo dục và
tự giáo dục trong tập thể các em Đồng thời người làm công tác giáo dục, uốn nắn cho tình bạn ở lứa tuổi sao cho thật lành mạnh, trong sáng, biến thành động lực để các em giúp nhau trong hoạt động tu dưỡng
1.3.3 Nội dung hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Có tài mà không có đức là người vô dụng,
có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Vì vậy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên là cần thiết và phải đi đôi với việc trang bị tri thức khoa học cho các em Hơn nữa, dù ở thời đại nào nguồn nhân lực cũng luôn là
Trang 37yếu tố quan trọng nhất quyết định sức mạnh của một quốc gia Học sinh, sinh viên là một lực lượng nguồn nhân lực có chất lượng cao của những năm tới, quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước Do vậy, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên cần phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Giúp cho mỗi học sinh, sinh viên có nhận thức đúng đắn về các giá trị,
chuẩn mực đạo đức xã hội, biết hành động theo các giá trị, chuẩn mực đạo đức
xã hội, công bằng và nhân ái, biết sống vì mọi người, vì sự phồn vinh của đất nước và vì sự tiến bộ của xã hội Đồng thời biết đấu tranh phê phán với những quan niệm, thái độ, hành vi sai trái, đi ngược lại với các giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội
- Hình thành cho học sinh, sinh viên nhận thức, nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp với nền đạo đức mới, đạo đức XHCN
- Xây dựng hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực của
xã hội, tạo lập cho đối tượng giáo dục ý chí đạo đức vững vàng, thể hiện trong hoạt động hàng ngày như học tập, lao động và quan hệ với người xung quanh
- Trang bị cho đối tượng giáo dục những hiểu biết và niềm tin về các chuẩn mực và quy tắc đạo đức, giáo dục ý thức và lối sống cá nhân, ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể và ngoài xã hội, giáo dục ý thức
về lao động sáng tạo, về nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ Quốc…
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa gồm 05 nhóm phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết:
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị như:
Có lý tưởng XHCN, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước
- Nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự hoàn thiện bản thân như: tự trọng, tự tin, tự lập giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận
Trang 38- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người và dân tộc khác: Nhân nghĩa, hiếu đế, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, lễ độ, tôn trọng mọi người, thủy chung giữ chữ tín
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện, quan hệ thể hiện đối với công việc
đó là: Trách nhiệm cao, có lương tâm, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết
- Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống như: Xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên, xây dựng xã hội dân chủ bình đẳng… Mặt khác có ý thức chống lại những hành vi gây tác hại đến con người, môi trường sống, bảo vệ hòa bình, bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc và nhân loại
Như vậy việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên không chỉ yêu cầu nắm vững các kiến thức về giáo dục mà quan trọng hơn là phải có kỹ năng vận dụng, thực hiện các nội dung và có thái độ tích cực khi tiếp nhận và thực hiện các nội dung đó
1.3.4 Phương pháp và hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong Nhà trường
1.3.4.1 Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên
Phương pháp giáo dục đạo đức là cách thức tác động của các nhà giáo dục lên người học nhằm hình thành cho các em những phẩm chất đạo đức cần thiết Về cơ bản phương pháp giáo dục đạo đức gồm ba phương pháp chính: phương pháp thuyết phục; phương pháp tổ chức hoạt động; phương pháp kích thích những hành vi
* Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân
- Phương pháp đàm thoại: trao đổi ý kiến với nhau về một đề tài giáo
dục cho học sinh, sinh viên nhằm giúp đỡ họ phân tích đánh giá các sự kiện, hành vi các hiện tượng trong đời sống xã hội Từ đó hình thành thái độ đạo đức cho học sinh, sinh viên
Trang 39- Phương pháp kể chuyện: là phương pháp nhà giáo dục dùng lời nói,
điệu bộ, nét mặt để thuật lại một cách sinh động một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục
Qua nội dung truyện kể, cách thức kể chuyện người được giáo dục sẽ hình thành phát triển tình cảm xúc cảm tích cực, niềm tin đúng đắn Đồng thời, học tập những gương tốt, tránh được những gương phản diện với óc phê phán nhận xét, đánh giá
- Phương pháp giảng giải: là phương pháp trong đó nhà giáo dục dùng
lời nói để giải thích, chứng minh các chuẩn mực xã hội đã được qui định, nhằm giúp cho người được giáo dục hiểu và nắm được ý nghĩa, nội dung, qui tắc thực hiện các chuẩn mực này
Qua giảng giải: Người được giáo dục nắm một cách tự giác với những chuẩn mực xã hội quy định; Hình thành niềm tin đối với các chuẩn mực xã hội
và tránh được các tình trạng: nắm các chuẩn mực xã hội, mù quáng, máy móc, hình thức dẫn đến hành vi không tự giác
- Phương pháp nêu gương: đây là phương pháp quan trọng để giáo dục ý
thức đạo đức cho học sinh, sinh viên Việc hình thành ý thức của học sinh, sinh viên phải thường xuyên được dựa vào những mẫu mực cụ thể, sống động, biểu hiện những tư tưởng và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa
* Nhóm các phương pháp tổ chức các hoạt động xã hội và hình thành các kinh nghiệm ứng xử xã hội
Đây là phương pháp đưa con người vào các hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện tạo nên hành vi thói quen đạo đức Nó bao gồm:
- Phương pháp đòi hỏi sư phạm: là phương pháp nêu lên các đòi hỏi về
mặt sư phạm, đề ra các yêu cầu về đạo đức đối với học sinh, sinh viên
- Phương pháp giao công việc: là cách thức lôi cuốn học sinh, sinh viên
vào các hoạt động đa dạng của tập thể, nhờ đó họ thu lượm được những kinh nghiệm trong quan hệ đối xử giữa người với người theo nguyên tắc đạo đức XHCN thông qua việc thực hiện những nghĩa vụ xã hội
Trang 40- Phương pháp tạo dư luận xã hội: là phương pháp dùng sự phản ánh
những đòi hỏi tập thể, nó trở thành một phương tiện giáo dục mạnh mẽ của tập thể đối với cá nhân học sinh, sinh viên Dư luận xã hội trở thành một phương pháp giáo dục khi đánh giá các hành vi của các thành viên hoặc nhóm tập thể
Để tạo ra dư luận xã hội lành mạnh, chúng ta cần lôi cuốn học sinh, sinh viên tham gia các cuộc thảo luận tập thể, các sự kiện tiêu biểu trong đời sống của môi trường giáo dục, hướng dẫn các em nhận xét các sự kiện đó đúng hay sai
- Phương pháp tạo tình huống giáo dục: là những tình huống của lựa
chọn tự do Đặt trong tình huống đó học sinh, sinh viên nhất thiết phải lựa chọn một giải pháp nhất định trong số các phương án khác nhau Trong khi lựa chọn giải pháp học sinh, sinh viên phải biết phân tích xem xét hành động của mình
có phù hợp với chuẩn mực đạo đức không?
* Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của học sinh, sinh viên
- Phương pháp thi đua: là phương pháp kích thích phương hướng tự
khẳng định ở mỗi học sinh, sinh viên thúc đẩy học, đua tài, gắng sức, hăng hái vươn lên hàng đầu, lôi cuốn người khác cùng tiến lên dành được những thành tích cao nhất Thi đua là kích thích sự lỗ lực, phát huy sáng tạo, đề cao ý thức trách nhiệm, thực hiện sự tương trợ tập thể
- Phương pháp khen thưởng: là biểu hiện sự đánh giá tích cực của xã hội
đối với cá nhân và tập thể
- Phương pháp trách phạt: biểu thị thái độ không tán thành, lên án, phủ
định của nhà giáo dục, của gia đình, xã hội đối với các hành vi sai trái, giúp cho học sinh, sinh viên tự chỉnh bản thân với chuẩn mực đã định
Như vậy: giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên, đòi hỏi nhà giáo dục cần phối hợp có hiệu quả các phương pháp giáo dục để nó trở thành như một nghệ thuật nhằm quyết định phần lớn sự thành công chất lượng giáo dục - đào tạo của Nhà trường