Tuy nhiên, phải đương đầu với những bất cập trong các chính sách về tài chính tiền tệ, về tỷ giá, với tình trạng khủng hoảng suy thoái kinh tế và với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
VŨ MINH XUÂN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH SÔNG CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thiện Đức
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Giải pháp nâng cao chất lượng dịch
vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công’’” là công trình nghiên cứu độc lập; số liệu sử dụng và kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
Tác giả đã sử dụng nhiều nguồn thông tin liên quan khác nhau để phục vụ cho việc nghiên cứu, các nguồn thông tin đã được xử lý và trích dẫn rõ nguồn tài liệu tham khảo theo quy định Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài đã được cảm ơn./
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Minh Xuân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Quý thầy, cô, bạn bè
Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn TS Đinh Thiện Đức, người Thầy
đã định hướng cho chủ đề nghiên cứu; nghiêm túc về mặt khoa học và tận tình giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu; các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế; cán bộ và chuyên viên Phòng QLĐT Sau Đại học - Trường ĐH Kinh tế và QTKD Thái Nguyên đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi về các điều kiện trong quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các phòng chức năng và cán bộ, nhân viên Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông
Công, các Phòng chuyên môn của Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên; Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Để có được kiến thức như ngày hôm nay, cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý thầy, cô trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của bạn bè, đồng nghiệp
và gia đình
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Minh Xuân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
5 Những đóng góp mới của luận văn 3
6 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 5
1.1 Khái niệm về ngân hàng và hoạt động NHTM 5
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng 5
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 6
1.2 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Vốn chủ sở hữu 7
1.2.2 Vốn nợ 10
1.3 Những vấn đề cơ bản về huy động vốn từ bên ngoài của NHTM 12
1.3.1 Huy động vốn tiền gửi 12
1.3.2 Huy động vốn vay 14
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng huy động vốn 17
1.4.1 Chi phí huy động vốn 17
Trang 51.4.2 Các hình thức huy động vốn 18
1.4.3 Tính ổn định của nguồn vốn 19
1.4.4 Một số chỉ tiêu khác 19
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn từ bên ngoài 20
1.5.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng 20
1.5.2 Các nhân tố khách quan (môi trường kinh doanh của ngân hàng) 23
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.3 Dữ liệu cho nghiên cứu 26
2.4 Các phương pháp nghiên cứu 27
2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả 27
2.4.2 Phương pháp phân tích SWOT 27
2.4.3 Lấy phiếu ghi nhận ý kiến của khách hàng về chất lượng hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại NHCT Sông Công 27
2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 28
2.5.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 28
2.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ tại NHCT Sông Công 28
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HUY ĐỘNG VỐN Ở VIETINBANK- CHI NHÁNH SÔNG CÔNG 33
3.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công 33
3.1.1 Giới thiệu chung 33
3.1.2 Bộ máy quản lý 35
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng huy động vốn tại NHCT Sông Công 36
3.2.1 Các nhân tố khách quan 36
Trang 63.2.2 Các nhân tố chủ quan 40
3.3 Thực trạng phát triển dịch vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công 42
3.3.1 Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của NHCT Sông Công trong giai đoạn 2009 - 2012 42
3.3.2 Thực trạng phát triển dịch vụ huy động vốn của NHCT Sông Công trong giai đoạn 2009 - 2012 44
3.3.3 Tương quan giữa phát triển dịch vụ huy động vốn và sử dụng vốn của NHCT Sông Công trong giai đoạn 2009 - 2012 52
3.3.4 Tình hình phát triển các dịch vụ khác của NHCT Sông Công trong giai đoạn 2009 - 2012 55
3.3.5 Kết quả khảo sát chất lượng dịch vụ huy động vốn và các dịch vụ khác tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công 57
3.4 Những tồn tại, hạn chế của hoạt động dịch vụ huy động vốn tại NHCT Sông Công và nguyên nhân 60
3.4.1 Tồn tại và hạn chế 60
3.4.2 Nguyên nhân những hạn chế 61
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VN - CN SÔNG CÔNG 65
4.1 Dự báo tình hình phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn 2013 - 2015 65
4.2 Định hướng phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công năm 2020 73
4.3 Các giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công 75
4.3.1 Mở rộng mạng lưới kinh doanh 75
4.3.2 Phát triển các sản phẩm mới 76
4.3.3 Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý, linh hoạt 78
Trang 74.3.4 Tăng cường hoạt động Marketing 80
4.3.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 83
4.3.6 Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 84
4.3.7 Nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay 85
4.4 Các kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam và Vietinbank - Chi nhánh Sông Công 86
4.4.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 86
4.4.2 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 87
4.4.3 Kiến nghị với Vietinbank - Chi nhánh Sông Công 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
NHCT : Ngân hàng Công Thương
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTW : Ngân hàng Trung ương
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả kinh doanh các năm tại Vietinbank Sông Công 43
Bảng 3.2 Tình hình huy động vốn tại Vietinbank Sông Công 45
Bảng 3.3 Tỷ trọng chi phí huy động/Tổng huy động vốn 46
Bảng 3.4 Quy mô huy động vốn/Chi phí tiền lương 47
Bảng 3.5 Tỷ trọng huy động vốn theo sản phẩm 51
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng vốn tại Vietinbank Sông Công 53
Bảng 3.7 Yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn dịch vụ tiền gửi 59
Bảng 3.8 Đánh giá của khách hàng về sản phẩm tiền gửi 59
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức Vietinbank Sông Công 36
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Tình hình huy động theo đối tượng khách hàng tại Vietinbank Sông Công 48
Biểu đồ 3.2 Tình hình huy động theo kỳ hạn tại Vietinbank Sông Công 50
Biểu đồ 3.3 Tình hình sử dụng vốn/huy động vốntại Vietinbank Sông Công 55
Biểu đồ 3.4 Thời gian sử dụng dịch vụ của khách hàng 58
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế hiện nay đang theo xu hướng hợp tác và hội nhập để có sự phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm khai thác tối ưu tiềm năng của mỗi quốc gia trong sự phát triển đi lên của nền kinh tế toàn cầu Nền kinh tế Việt Nam những năm gần đây cũng được đánh giá là năng động và đang phát triển bền vững, dưới sự tác động của xu thế kinh tế thế giới Việt Nam đã hội nhập vào
Tổ chức thương mại thế giới WTO, đây cũng là cơ hội và thử thách cho nền kinh
tế Việt Nam nói chung cũng như cho từng doanh nghiệp riêng lẻ hoạt động cho từng lĩnh vực khác nói riêng, trong đó có lĩnh vực tài chính mà cụ thể là các ngân hàng thương mại không thể tránh khỏi xu hướng chung đó Đứng trước những thách thức (cạnh tranh) và cơ hội (tăng thêm khả năng huy động vốn cũng như cho vay và cung ứng dịch vụ, học hỏi được nhưng kinh nghiệm quản lý …), do
sự hội nhập kinh tế mang lại các Ngân hàng thương mại đã có sự chuẩn bị gì và chiến lược kinh doanh ra sao để không bị tụt hậu và đào thải khỏi nền kinh tế
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công (NHCT Sông Công) thuộc hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - một trong những ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu Việt Nam
đã có nhiều thành công trong công tác huy động vốn trên thị trường Tuy nhiên, phải đương đầu với những bất cập trong các chính sách về tài chính tiền tệ, về tỷ giá, với tình trạng khủng hoảng suy thoái kinh tế và với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường tài chính - ngân hàng…, chi nhánh NHCT Sông Công đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế về quy mô, về lãi suất, về áp dụng các hình thức huy động vốn, cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng …
Sau một thời gian khảo sát nghiên cứu tình hình thực tiễn công tác phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại NHCT Sông Công, với mong muốn được góp phần nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ của chi nhánh, tôi
đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công’’
làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng việc cung cấp các sản phẩm dịch
vụ huy động vốn ngân hàng của NHCT Sông Công¸ và một số ngân hàng thương mại hoạt động trên địa bàn, đánh giá mặt mạnh, mặt còn hạn chế của các sản phẩm dịch vụ, để thấy được tiềm lực của NHCT Sông Công về việc phát triển các dịch vụ ngân hàng trên địa bàn
Trên cơ sở phân tích những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong công tác cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng để tìm giải pháp nâng cao hiệu quả chất lượng của các sản phẩm dịch vụ Huy động vốn tại chi nhánh NHCT Sông Công
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực trạng, chất lượng và mức độ hiệu quả của hoạt động kinh doanh dịch vụ huy động vốn của ngân hàng, từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu để ứng dụng vào thực
tế, và những kiến nghị để hoạt động dịch vụ huy động vốn ngày một tốt hơn
Do giới hạn về thời gian nên đề tài chỉ tập trung vào tình hình phát triển sản phẩm dịch vụ huy động vốn ở NHCT Sông Công trong khoảng thời gian
từ năm 2009 đến năm 2012
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Dịch vụ huy động vốn là hoạt động cơ bản và quan trọng tại các ngân hàng thương mại Bất kỳ một ngân hàng thương mại nào, dù mới thành lập hay đã hoạt động lâu năm đều phải tập trung đẩy mạnh hoạt động này Nhất
là đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, khi mà trình độ và khả năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại còn hạn chế, thì nguồn thu nhập chủ yếu vẫn là từ hoạt động huy động tiền gửi để cho vay
Trang 13Trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, khi hàng rào bảo hộ đối với ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng được nới lỏng và xoá bỏ theo cam kết hội nhập, nguy cơ bị cạnh tranh ngày càng cao bởi các Ngân hàng nước ngoài
có trình độ cao hơn, uy tín và kinh nghiệm lâu năm hơn, nhiều kênh huy động vốn mới ra đời và phát triển, thì nguy cơ giảm thị phần hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng lớn
Tuy nhiên, nếu có một chính sách linh hoạt, đa dạng, chiến lược quảng
bá thành công, phân khúc thị trường phù hợp nhu cầu từng nhóm khách hàng, thì khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong nước sẽ được nâng cao
Vì vậy,việc xem xét các yêu cầu mở cửa, tìm hiểu nguy cơ cạnh tranh, phân tích thực trạng phát triển hoạt động dịch vụ ngân hàng huy động vốn và hiểu rõ đánh giá của khách hàng đối với các sản phẩm dịch vụ của NHCT Sông Công, từ đó giúp Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói chung
và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Sông Công nói riêng xây dựng chính sách phát triển dịch vụ phù hợp là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn đối với NHCT Sông Công trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay và khi hội nhập kinh tế quốc tế
5 Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích những luận cứ khoa học mang tính lý luận, thực tiễn về sản phẩm dịch vụ huy động vốn Hệ thống số liệu dùng để nghiên cứu, phân tích, đánh giá được cập nhật đến thời điểm 31/12/2012
- Phân tích những nguyên nhân còn hạn chế của hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ huy động vốn tại chi nhánh NHCT Sông Công
- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ huy động vốn tại chi nhánh NHCT Sông Công
Trang 146 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, một số biểu bảng, hình vẽ, đồ thị, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng và phát triển dịch
vụ ngân hàng;
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài;
Chương 3: Thực trạng hoạt động dịch vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công;
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm về ngân hàng và hoạt động NHTM
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng
Nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường kéo theo hàng loạt các thay đổi tích cực, có lợi cho nền kinh tế như thị trường được mở cửa, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các loại hình kinh doanh khác được chào đón, nhu cầu trao đổi hàng hóa tăng nhanh vì công nghiệp phát triển và phương thức thanh toán nhanh chóng, từ đó phát sinh nhu cầu gửi tiền và cho vay, nên mô hình ngân hàng ra đời và phát triển nhanh chóng, trở thành nhân
tố quan trọng trong nền kinh tế, vậy ngân hàng là gì? Căn cứ theo tính chất, mục đích hoạt động hoặc đối tượng hoạt động của ngân hàng ta còn có một số định nghĩa như sau:
Định nghĩa của Fed: Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền
gửi và cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng séc hay bằng rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại, vay cá nhân, vay hộ gia đình sẽ được xem là một ngân hàng
Định nghĩa của Pháp: Ngân hàng thương mại là những cơ sở mà nghề
nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010:
- Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
Trang 16Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về ngân hàng, mỗi định nghĩa đều có cách miêu tả riêng về mục tiêu hoạt động và các đặc điểm cơ bản của ngân hàng nhưng đều có điểm chung nhất ngân hàng là tổ chức tín dụng kinh doanh với hai đặc điểm cơ bản là nhận tiền ủy thác, sử dụng tiền này để cho vay và làm dịch vụ thanh toán
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Trung gian tín dụng
Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng, nó thể hiện bản chất và chức năng chủ yếu của ngân hàng thương mại Bằng việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội (bao gồm tiền tiết kiệm của người dân, vốn bằng tiền của các tổ chức kinh tế,…) ngân hàng thương mại tạo một quỹ cho vay để cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế, xã hội Yếu tố trung gian của ngân hàng thương mại thể hiện khi các đối tượng tham gia trong hoạt động của ngân hàng thương mại gồm người gửi tiền và người đi vay hoàn toàn không có liên hệ kinh tế trực tiếp nào với nhau, không chịu trách nhiệm và nghĩa vụ gì với nhau, tất cả đều thông qua một trung gian tín dụng - ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có nghĩa vụ hoàn trả tiền cho người gửi (bất kể người đi vay có kinh doanh hiệu quả không) và người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả tiền cho ngân hàng
1.1.2.2 Trung gian thanh toán
Đây là chức năng đặc biệt của ngân hàng thương mại, chỉ phát triển sau khi hệ thống ngân hàng thương mại được mở rộng và nhu cầu trao đổi hàng hóa có quy mô lớn hơn Ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian thực hiện các khoản chi trả, thanh toán bằng cách trích từ tài khoản tiền gửi của khách hàng để thanh toán các khoản tiền mua bán hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu của họ Hoạt động này giúp khách hàng không cần đem theo tiền mặt để chi trả khi giao dịch, qua đó đẩy nhanh việc thanh toán, tiết kiệm thời gian, tăng tính an toàn và đảm bảo hàng hóa lưu thông dễ dàng
Trang 171.1.2.3 Tạo tiền
Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, thông qua việc cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống ngân hàng có thể tạo ra số tiền tín dụng gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu, làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu chi trả trong xã hội
1.1.2.4 Cung ứng các dịch vụ ngân hàng
Các dịch vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng chỉ được thực hiện trọn vẹn và đầy đủ nhất bởi những ưu thế vượt trội của ngân hàng thương mại như:
Hệ thống ngân hàng có mạng lưới rộng khắp ở trong và ngoài nước
Có mối quan hệ sâu rộng với các tổ chức kinh tế, cá nhân, nắm bắt được điểm mạnh, điểm yếu của từng khách hàng
Được trang bị hệ thống thông tin hiện đại nên dễ dàng nắm bắt tình hình tài chính, tiền tệ, giá cả và diễn biến của nó trên thị trường
Các dịch vụ liên quan đến hoạt động khách hàng không chỉ giúp ngân hàng thương mại đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng mà còn hỗ trợ ngân hàng thực hiện tốt 2 chức năng cơ bản là trung gian tài chính và trung gian thanh toán
1.2 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
NHTM cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào để tồn tại và phát triển phải có vốn Vốn tác động đến kết cấu tài sản và khả năng sinh lời, hạn chế các loại rủi ro trong hoạt động NHTM Vốn của NHTM gồm 2 loại cơ bản nếu phân chia theo hình thức sở hữu là vốn chủ sở hữu và vốn nợ (vốn huy động từ bên ngoài)
1.2.1 Vốn chủ sở hữu
1.2.1.1 Khái niệm
Vốn chủ sở hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng được luật pháp cho phép hoạt động và đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, nguồn vay nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phần và các quỹ
Trang 181.2.1.2 Các thành phần vốn chủ sở hữu và đặc điểm của chúng
Vốn thường không phải hoàn trả Các cổ đông có thể bán cổ phiếu trên thị trường vốn (thị trường chứng khoán) Các cổ phần thường được hưởng cổ tức cao hay thấp tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh và chính sách phân chia lợi nhuận của ngân hàng
- Vốn chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động
Bao gồm cổ phần phát hành thêm (hoặc ngân sách cấp thêm) trong quá trình hoạt động, lợi nhuận tích luỹ, thặng dư vốn, các quĩ
- Cổ phần phát hành thêm, ngân sách cấp thêm: Ngân hàng có thể phát
hành thêm cổ phần (thường là cổ phần ưu đãi) hoặc xin cấp thêm vốn từ ngân sách để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để chống đỡ rủi ro trong trường hợp cần phải duy trì thị giá của cổ phiếu
- Huy động vốn cổ phần từ cán bộ công nhân viên ngân hàng mình:
Hình thức huy động này huy động vốn từ chính những cán bộ công nhân viên trong ngân hàng mình, làm cho họ trở thành những cổ đông của ngân hàng và gắn chặt quyền lợi với quyền lợi chung của ngân hàng Đây là hình thức mang tính lâu dài và ổn định cần được chú trọng
Trang 19- Huy động từ lợi nhuận bổ sung vốn tự có, các quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp, quỹ khen thưởng là các loại quỹ khác: Nếu như lợi nhuận để lại
của ngân hàng đủ để đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn của mình thì thông thường đây chính là nguồn bổ sung quan trọng nhất Nguồn bổ sung này có thể lấy trực tiếp từ các quỹ như: Quỹ dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp.v.v Mặc dù vậy khó nhất là phải xác định được khi nào thì được phép trích lập từ các quỹ trên để làm nguồn vốn bổ sung, tỉ lệ trích lập ra sao cho hợp lý
- Vốn bổ sung bằng phát hành giấy nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu: Một số ngân hàng coi cổ phần ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu dài hạn
cũng thuộc vốn tự có mặc dù chúng mang nhiều tính chất của một khoản nợ
Tuy nhiên, phần này thường bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ
1.2.1.3 Vai trò
Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với vốn nợ, do đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng là huy động để cho vay Theo quy định của NHNN Việt Nam tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối thiểu là 1/20 Tuy chiếm
tỷ trọng nhỏ, song Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng
Vốn chủ sở hữu có vai trò bảo vệ người gửi tiền: Kinh doanh ngân hàng thường xuyên đối đầu với rủi ro Các khoản tổn thất của ngân hàng sẽ được bù đắp bằng vốn chủ sở hữu Như vậy, nếu quy mô vốn chủ sở hữu lớn, người gửi tiền và người cho vay sẽ cảm thấy an tâm hơn về ngân hàng
Vốn chủ sở hữu có vai trò tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động cho ngân hàng: Như đã phân tích ở trên, để hoạt động điều kiện đầu tiên
là ngân hàng phải có được số vốn tối thiểu ban đầu Số vốn này được sử dụng
để mua sắm trang thiết bị, nhập công nghệ, xây thêm chi nhánh, mở văn phòng đại diện
Ngoài ra, Vốn chủ sở hữu có vai trò điều chỉnh các hoạt động của ngân hàng: Rất nhiều quy định về hoạt động của ngân hàng có liên quan chặt chẽ với Vốn chủ sở hữu như quy mô nguồn tiền gửi được tính theo tỷ lệ với Vốn chủ sở hữu Vì vậy quy mô và cấu trúc hoạt động của ngân hàng được điều chỉnh theo vốn chủ sở hữu
Trang 201.2.2 Vốn nợ
1.2.2.1 Khái niệm
Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, vốn nợ của NHTM chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với vốn của chủ và đây là loại vốn cơ bản để tài trợ cho các danh mục tài sản của NHTM Vốn nợ được huy động từ các nguồn tiền gửi, vay và một số loại khác
1.2.2.2 Các thành phần vốn nợ và đặc điểm của chúng
- Tiền gửi
Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn Quy mô tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác Thông thường nguồn chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của ngân hàng Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, do vậy chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi Tiền gửi nhất là tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập và nhiều nhân tố khác Lãi suất cao là yếu tố kích thích các doanh nghiệp, dân cư gửi và cho vay Thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn nguồn tiền gửi Các yếu tố khác như địa điểm ngân hàng, các loại hình huy động đều ảnh hưởng tới quy mô và cấu trúc của nguồn tiền
- Tiền vay
Tỷ trọng nguồn này thấp hơn so với nguồn tiền gửi Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải đi vay thường xuyên chỉ vay lúc cần thiết và hoàn toàn chủ động quyết định khối lượng vay phù hợp với nhu cầu
sử dụng Các khoản vay thường có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao Hơn nữa vay NHNN phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Trang 21- Nguồn khác
Phần lớn các nguồn này ngân hàng không phải trả lãi Tuy nhiên, chi phí để có và duy trì chúng là rất đáng kể Nhìn chung, các nguồn khác trong ngân hàng thường không lớn
1.2.2.3 Vai trò
Có thể nói nếu vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng để ngân hàng được
đi vào hoạt động và là đệm đỡ không thể thiếu của ngân hàng thì vốn nợ lại là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng
Trên cơ sở vốn nợ tạo lập, ngân hàng sử dụng để cho vay, đầu tư vào chứng khoán, mua sắm tài sản cố định, tiền gửi tại ngân hàng khác và phải được thực hiện dự trữ theo quy định để đảm bảo khả năng thanh toán Qui
mô, cơ cấu của các nhóm tài sản này được xác định một phần căn cứ vào qui
mô, cơ cấu vốn nợ
Thêm vào đó, tính ổn định về chi phí và thời hạn của vốn nợ quy định
số tiền phải dự trữ là cơ sở cân nhắc đầu tư bao nhiêu vào chứng khoán ngắn hạn nên cho vay với thời hạn nào, lãi suất bao nhiêu để phù hợp với vốn
Như vậy, vốn nợ có vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định danh mục tài sản đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của NHTM
Ngoài ra, qui mô và kết cấu của vốn nợ cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự
an nguy hoạt động của NHTM Sự không phù hợp giữa việc huy động vốn từ bên ngoài và việc sử dụng vốn về thời hạn, độ nhạy cảm với lãi suất, qui mô các loại tiền có thể dẫn tới các rủi ro về thanh toán, lãi suất, tỷ giá mà ngân hàng phải gánh chịu
Tóm lại, qua những vấn đề được đề cập ở trên thì rõ ràng vốn có vai trò quan trọng quyết định sự sống còn của một ngân hàng đặc biệt là vốn
nợ Để có được vốn nợ thì hoạt động huy động vốn từ bên ngoài lại càng
có vai trò hết sức quan trọng Sau đây là những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn từ bên ngoài trong NHTM
Trang 221.3 Những vấn đề cơ bản về huy động vốn từ bên ngoài của NHTM
Tuỳ theo các tiêu chí, mục đích huy động khác nhau có các hình thức sau:
Nếu phân theo loại vốn huy động gồm: huy động tiền gửi và tiền vay
Nếu huy động vốn phân theo loại tiền: huy động vốn nội tệ và ngoại tệ
Nếu phân theo phạm vi huy động: huy động vốn trong nước và nước ngoài
Nếu theo kỳ hạn huy động: huy động vốn ngắn, trung và dài hạn
Nếu phân theo đối tượng huy động vốn: huy động vốn từ các cá nhân,
hộ gia đình và tổ chức kinh tế
Vốn huy động được phân tích cụ thể theo cách phân loại thứ nhất gồm huy động tiền gửi và tiền vay như sau:
1.3.1 Huy động vốn tiền gửi
“Ngân hàng được nhận tiền gửi của các TCKT, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi khác” - Điều 45 Luật các TCTD số 03/1997/QH10 Tiền gửi phân loại theo kỳ hạn bao gồm:
a Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch)
Khi tiền mặt (hoặc Séc từ một ngân hàng khác) được gửi vào ngân hàng
A, nếu muốn sẽ có thể rút tiền ra hoặc chi tiêu vào bất cứ lúc nào, ngân hàng
A sẽ sắp xếp tiền gửi đó vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với thời gian không xác định Người vừa mới gửi tiền vào buổi sáng, nếu cần có thể rút ra ngay vào buổi chiều Nếu không có nhu cầu sử dụng, có thể mười bữa nửa tháng hoặc một năm sau mới rút ra Tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất thấp hoặc không được trả lãi và bao gồm 2 loại sau:
+ Tiền gửi thanh toán: Đó là khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hết được sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận tiện
Trang 23Đối với tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện bằng séc hay chuyển khoản
Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư nợ, có lúc dư có Với tài khoản này, khách hàng còn có thể được ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định Đứng trên góc độ ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn là một khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào
+ Tiền gửi không kỳ hạn thuần tuý: Là các khoản tiền được ký gửi với mục đích an toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán Khi cần thanh toán khách hàng có thể đến ngân hàng để chi tiêu Ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép sử dụng tồn khoản chi khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả
kỳ hạn càng dài mặc dù được hưởng lãi suất cao hơn nhưng khi có nhu cầu rút tiền đột xuất thì khoản lãi suất mà ngân hàng trả sẽ rất thấp, do phải chịu lãi suất phạt vì đã làm ảnh hưởng đến kế hoạch của ngân hàng
Lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi có kỳ hạn thường là cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn Lý do ở đây là, khi đã thống nhất với ngân hàng rằng sẽ gửi tiền trong khoảng thời gian nào đó, có đến hơn 80% những khách hàng đã giữ được cam kết nói trên Do vậy, NHTM hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi để cho vay Với khoản cho vay ổn định này, ngân hàng sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Vì thế tiền thu lao nó trả cũng phải cao hơn để kích thích sự gửi tiền hơn nữa
Trang 24Tóm lại, đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng
và ngân hàng về thời gian rút tiền Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi Các NHTM nhận 2 loại tiền gửi có kỳ hạn tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút (tức khi muốn rút ra phải báo trước)
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách
đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng
c Tiền gửi tiết kiệm: Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của dân
cư chưa sử dụng cho tiêu dùng Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm) Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản tiền tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều
cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữa vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn
d Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: Nhằm mục đích nhờ thanh
toán hộ và một số mục đích khác, các TCTD có thể gửi tiền tại ngân hàng Tuy nhiên, quy mô nguồn này thường không lớn
Trang 25Trong trường hợp vốn vay trên tiếp tục không đáp ứng được cho đủ nhu cầu sử dụng của NHTM thì NHTM sẽ đi vay của NHTW
a Phát hành giấy tờ có giá
Bản chất của nghiệp vụ này là ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu để huy động vốn thường nhằm mục đích đã định Ví dụ phát hành kỳ phiếu để có tiền cho vay khắc phục hậu quả bão lụt, để cho vay thu mua nông sản, để đầu tư cho một dự án
Trong phát hành giấy tờ có giá thì chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định; trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn Hai loại phiếu nợ trên được ngân hàng phát hành từng đợt, tuỳ theo mục đích
Trong huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động Vì vậy khi thực hiện huy động vốn dưới các hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất, thời hạn và phương pháp huy động
Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đã huy động
đủ khối lượng vốn theo dự kiến các ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán)
kỳ phiếu, trái phiếu
b Vay NHNN (vay ngân hàng trung ương)
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM
Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (dự trữ thanh toán ), NHTM thường vay ngân hàng Nhà nước Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn) Các thương phiếu đã được các NHTM chiết khấu (hoặc tái chiết khấu) trở thành tài sản của họ Khi cần tiền, ngân hàng mang những thương phiếu này đến tái chiết khấu tại NHNN
NHNN điều hành vay mượn này một cách chặt chẽ; tuỳ thuộc chính sách tiền tệ từng thời kỳ mà NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định
Trang 26Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ Còn trong điều kiện chưa có thương phiếu, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định
Một điều cho thấy, đặc biệt là ở những nước có nền kinh tế phát triển, cho dù NHTW áp dụng mức lãi suất tái chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao hay thấp thế nào đi nữa thì NHTW vẫn phải cho các NHTM vay khi NHTM bị kẹt thanh toán để tránh những cơn khủng hoảng tài chính không đáng xảy ra và thực hiện tốt chức năng là “là người cho vay cuối cùng” đối với các NHTM
Đứng về phía NHTM, vay tại NHTW là một dịch vụ hết sức tiện lợi vào những khi NHTW hạ lãi suất chiết khấu trong chính sách cung ứng tiền tệ nới lỏng để kích thích đầu tư
Trong trường hợp khi NHTM đến vay giữa lúc NHTW đang thắt chặt cung ứng để chống lạm phát Lúc đó lãi suất chiết khấu được đưa lên cao với những khoản lỗ trông thấy khi vay vốn của NHTW, các NHTM chỉ miễn cưỡng vay trong những tình huống thắt chặt ngặt nghèo, và tìm mọi cách trả nợ rất nhanh Khi đó các khoản vay này chỉ chiếm một phần rất ít trong tổng tài sản nợ
Tùy vào yêu cầu điều tiết của nền kinh tế mà NHTW có thể hạ hoặc nâng lãi suất chiết khấu Song dù sao đây cũng là nguồn cuối cùng đối với hoạt động vốn của các NHTM
c Huy động vốn qua hình thức vay các TCTD khác
Đó là nguồn các NHTM vay lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ Đây là hình thức cho vay, nhưng thực chất nó là hình thức tương trợ giữa các ngân hàng để có được sự hợp tác đôi bên cùng có lợi Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao Ngược lại,
Trang 27các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản
Như vậy nguồn vay mượn từ các TCTD khác để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp sẽ bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN
1.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng huy động vốn
1.4.1 Chi phí huy động vốn
a Lãi suất huy động
Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế Người gửi muốn một lãi suất cao, người vay lại muốn lãi suất thấp
Là trung gian đóng vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên, ngân hàng phải tìm cách điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhất đối với các bên, trong đó điều quan trọng là phải đảm bảo lợi ích của ngân hàng Vì vậy trong huy động vốn, mỗi ngân hàng đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được những nguồn vốn sao cho chi phí huy động vốn bình quân là nhỏ nhất và sử dụng số vốn đó để cho vay với một mức lãi suất chấp nhận được trên thị trường Chi phí huy động được đánh giá qua hệ thống các chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân (tính bằng bình quân gia quân gia quyền của lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn), lãi suất huy động của từng nguồn và đặc biệt là lãi suất cạnh tranh NEC
Mặt khác, cũng với một mức chi phí trả lãi bình quân, sự đa dạng hoá trong lãi suất cho phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần thiết Sự đa dạng hoá lãi suất làm cho tăng tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân hàng đưa ra Nếu có chính sách lãi suất phù hợp, hiệu quả, ngân hàng sẽ tối thiểu hoá được chi phí trong khi vẫn hoàn thanh kế hoạch về nguồn vốn
b Chi phí khác
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất, trong quá trình huy động vốn còn có các chi phí khác như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động, chi phí in ấn
Trang 28phát hành, chi phí cơ sở vật chất, chi phí giao dịch quảng cáo … Tuy chi phí này chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng nếu tiết kiệm được cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng
1.4.2 Các hình thức huy động vốn
Hình thức huy động vốn là những cách thức ngân hàng sử dụng để thu hút nguồn vốn Hình thức huy động càng đa dạng thì vốn chảy vào ngân hàng càng nhiều Vì vậy độ đa dạng của các hình thức huy động vốn chính là chỉ tiêu
để đánh giá hiệu quả của công tác huy động vốn ở các ngân hàng thương mại
Sự đa dạng các công cụ huy động được thể hiện trước hết là ở số lượng các công cụ ngân hàng sử dụng Tuỳ theo đặc điểm, mục tiêu chiến lược kinh doanh, mỗi ngân hàng đưa ra những loại công cụ huy động Thực tế, số lượng các công cụ huy động càng nhiều thì ngân hàng càng có nhiều điều kiện thu hút được vốn, tuy nhiên số lượng các công cụ vốn lại bị hạn chế bởi khả năng quản lý của ngân hàng Một ngân hàng sử dụng nhiều công cụ huy động vốn không hoàn toàn đồng nghĩa với việc công tác huy động vốn của ngân hàng
đó có hiệu quả tốt, mà nó chỉ được coi là có hiệu quả khi những công cụ đó thực sự thích hợp với ngân hàng Cụ thể đối với các ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng, đội nhũ cán bộ công nhân viên ngân hàng có trình độ cao thì ngân hàng nên đa dạng hoá các loại công cụ huy động vốn
Đa dạng về số lượng các công cụ là chưa đủ, mà ngân hàng phải đa dạng về kỳ hạn huy động, loại tiền sử dụng nữa Đó là khả năng huy động vốn với các kỳ hạn khác nhau trong đó có cả nội tệ, ngoại tệ và với mức lãi suất khác biệt tương ứng sao cho người gửi tiền chấp nhận được và cảm thấy hợp
lý Do vậy, để công tác huy động vốn của ngân hàng thực sự đạt được hiệu quả cao, ngân hàng cần phải tính toán, nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu của thị trường, trên cơ sở năng lực bản thân đưa ra các hình thức huy động đa dạng
về kỳ hạn, loại tiền Nếu những ngân hàng có quan hệ quốc tế rộng thì nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ phải lớn, hay nếu có chiến lược sử dụng vốn để cho vay dài hạn thì cần tăng cường huy động vốn trung và dài hạn
Trang 291.4.3 Tính ổn định của nguồn vốn
Tính ổn định ở đây bao gồm ổn định về khối lượng, tốc độ tăng trưởng,
cơ cấu nguồn Công tác huy động vốn không thể có hiệu quả khi mà nguồn vốn huy động được lại không đạt được quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân hàng hay không đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh; cơ cấu vốn của ngân hàng lại không có sự hợp lý giữa các nguồn vốn huy động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giữa vốn ngoại tệ và vốn nội tệ Đối với ngân hàng, do mỗi nguồn vốn có những điểm mạnh, điểm yếu riêng trong việc khai thác và huy động nên cơ cấu vốn biến đổi sẽ dẫn tới sự biến đổi trong cơ cấu “đầu ra”: cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động kinh doanh Cơ cấu nguồn vốn huy động phụ thuộc không chỉ vào một phần kế hoạch của ngân hàng mà còn chịu
sự tác động của các nhân tố bên ngoài đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu tiếp cận thị trường
Khối lượng vốn huy động phản ánh quy mô vốn Quy mô vốn lớn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì quy mô vốn huy động là một bộ phận chiếm tỷ trọng cao nhất và có vai trò quan trọng hơn cả Sau khi đã huy động được khối lượng vốn lớn thì cái mà ngân hàng cần quan tâm lúc này là tốc độ tăng trưởng ổn định của nó vì có thể lúc này quy mô vốn lớn, nhưng sẽ là khó khăn cho ngân hàng khi đưa ra quyết định cho vay hay đầu tư nếu ngân hàng không kiểm soát, không dự đoán được xu hướng biến động của dòng tiền rút
ra và dòng tiền gửi vào
1.4.4 Một số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu chính trên, chất lượng công tác huy động vốn còn được đánh giá qua một số chỉ tiêu:
Trang 30● Mức độ hoạt động của vốn huy động: Được đánh giá qua chỉ tiêu hệ
số sử dụng vốn Hệ số sử dụng vốn càng tiến đến 1 càng tốt, điều này thể hiện nguồn vốn huy động được sử dụng tối đa
● Mức độ thuận tiện khách hàng: Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền, rút tiền, các dịch vụ kèm theo của ngân hàng …nhằm tiết kiệm được thời gian và chi phí cho khách hàng
● Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định
● Một số chỉ tiêu khác như: số lượng vốn bị rút ra trước thời hạn, kỳ hạn thực tế của nguồn vốn…
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn từ bên ngoài
1.5.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Trên đây là các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn từ bên ngoài Tuy vậy nếu chỉ căn cứ vào các chỉ tiêu trên là chưa đủ mà cần phải xem xét thêm về các nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn cả nhân tố thuộc về ngân hàng lẫn nhân tố khách quan Các nhân tố thuộc về ngân hàng có thể thấy như:
- Chiến lược khách hàng của ngân hàng về huy động vốn
Giờ đây, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn ngân hàng, mà theo họ là thuận tiện hơn chức không chỉ là nơi cất trữ tiền tệ và kiếm lời từ lãi suất Do
đó các ngân hàng nhận thấy cũng cần có chiến lược khách hàng đúng đắn trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong huy động vốn nói riêng
Trước tiên, ngân hàng cần hiểu được động cơ, thói quen và những mong muốn của người gửi tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng gửi tiền thông qua phân tích lợi ích của khách hàng Mục đích gửi tiền của doanh nghiệp thường là nhờ ngân hàng quản lý, ký quỹ hoặc nhờ chi trả trong thanh toán khi các cá nhân gửi tiết kiệm có mục đích là hưởng lãi Mục đích của tiền gửi trên loại tài khoản khách nhau cũng rất khác nhau như tiền gửi giao dịch
Trang 31để phát hành séc thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn để giành tiền cho tiêu dùng, đầu tư trong tương lai đồng thời hưởng lãi
Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng xem xét đặc điểm đối tượng khách hàng mà ngân hàng tài trợ (xem xét nhu cầu đầu tư, hình thức tài trợ, thị hiếu của khách hàng)
- Trên cơ sở những thông tin của khách hàng trong hoạt động huy động và hoạt động sử dụng vốn, ngân hàng có thể đưa ra hệ thống các chính sách và biện pháp phù hợp để có được qui mô và cơ cấu nguồn vốn mong muốn Hệ thống chính sách đáp ứng và gợi mở nhu cầu liên quan đến huy động vốn bao gồm:
+ Huy động với qui mô, cơ cấu, kỳ hạn, lãi suất ra sao cho phù hợp, việc huy động và sử dụng vốn gắn kết với nhau ra sao
+ Các chính sách liên quan đến sản phẩm và dịch vụ tiền gửi ngân hàng Nhóm chính sách này nhằm vào việc đánh giá các loại sản phẩm dịch vụ cung cấp và chất lượng sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường đồng thời mở rộng phát triển dịch vụ mới
+ Các chính sách về giá cả, lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và chi phí dịch vụ được coi là giá cả của các sản phẩm và dịch vụ tài chính, ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động tiền gửi và thay đổi qui mô nguồn vốn Để duy trì và thu hút thêm vốn ngân hàng cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá cho những khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên
Hơn nữa, hệ thống lãi suất cần linh hoạt, phù hợp với qui mô và cơ cấu nguồn vốn Qui mô và cơ cấu nguồn vốn còn bị chi phối bởi giá cả của các dịch vụ khách như chi phí chuyển tiền, phí dịch vụ thanh toán, ngân quĩ
+ Các chính sách về tổ chức kỹ thuật: Đây là các chính sách và biện pháp nhằm làm thuận lợi, nhanh chóng, đơn giản trong quan hệ với khách hàng Bao gồm việc bố trí mạng lưới thu hút vốn, hoàn thiện công nghệ
Trang 32ngân hàng, cơ chế tài chính đồng thời tổ chức thông suốt hệ thống thanh toán sao cho nhanh chóng, an toàn, chính xác
+ Các chính sách trong phục vụ và giao tiếp: Các chính sách này được các NHTM rất quan tâm nhằm tạo, củng cố uy tín của mình trên thị trường, gắn bó với khách hàng truyền thống và hấp dẫn khách hàng mới Trong điều kiện khó có thể duy trì sự khác biệt về sản phẩm và giá cả như hiện nay, chất lượng dịch vụ trở thành công cụ cạnh tranh vô cùng quan trọng để thu hút vốn Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo, bố trí hệ thống thanh toán khoa học là những điều hết sức cần thiết để giữ vững khách hàng hiện có và thu hút thêm khách hàng
- Quy mô vốn chủ sở hữu:
Vốn của chủ đóng vai trò như cái đệm chống đỡ sự sụt giảm giá trị tài sản của NHTM, nó đảm bảo lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng cũng
là yếu tố quyết định giới hạn tối đa của qui mô huy động vốn
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng:
Ngân hàng phải dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lược phát triển qui mô và điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn là một bộ phận
- Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Đây là một trong các nguồn lực để ngân hàng hoạt động có hiệu quả
Đó là mạng lưới các chi nhánh, các điểm giao dịch với đặc thù,vị trí, hệ thống thông tin và thiết bị khác
- Tài sản vô hình:
Tài sản vô hình quan trọng nhất của ngân hàng là uy tín của nó trong hệ thống, của các thành viên trong hội đồng quản trị, ban giám đốc Thuộc nhóm này phải kể đến các quan hệ mà ngân hàng đã tạo lập được với khách hàng hiện có, khách hàng tiềm năng, các trung gian tài chính và
Trang 33các cơ quan nhà nước Các khách hàng được ngân hàng huy động vốn, họ đều có tâm lý là muốn đảm bảo chắc chắn tiền của mình không bị rủi ro
và có lãi Bởi vậy, họ tìm đến những ngân hàng có uy tín, có thương hiệu lớn Như vậy những NHTM có thương hiệu, có uy tín cao sẽ thu hút được nguồn vốn cao hơn những NHTM khác
- Tính chất sở hữu của ngân hàng:
Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến mô hình, cơ cấu tổ chức và cơ chế tài chính, chiến lược kinh doanh từ đó ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn và quản lý, sử dụng vốn
Ngoài ra: mạng lưới huy động, trình độ công nghệ ngân hàng, trình độ cán bộ cũng là những yếu tố ảnh hưởng khác
1.5.2 Các nhân tố khách quan (môi trường kinh doanh của ngân hàng)
Hoạt động huy động vốn nói chung và huy động vốn của ngành ngân hàng nói riêng luôn gắn với môi trường kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là môi trường kinh tế và pháp lý
- Việc huy động của ngân hàng bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập dự tính của người lao động, tâm lý người gửi tiền, chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế tác động trực tiếp Có thể thấy khi nền kinh tế có sự trượt giá của đồng tiền dẫn đến việc nguồn vốn nhàn rỗi hầu như sẽ được chuyển thành những thứ có giá trị bền vững hơn (vàng bạc, kim cương ) để an toàn hơn; nhất là khi tỷ lệ trượt giá cao hơn cả lãi suất huy động thì vấn đề khai thác nguồn vốn lại càng khó khăn hơn
- Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt chịu tác động bởi nhiều chính sách, các qui định của Chính phủ và của NHTW Thay đổi chính sách của nhà nước, của NHTW về tài chính, tiền tệ, tín dụng, lãi suất sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như khả năng thu hút vốn của NHTM Sự ổn định về chính trị hay chính sách ngoại giao cũng
Trang 34tác động đến quan hệ nguồn vốn của một ngân hàng với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới
- Thông tin đại chúng: chính phương tiện truyền thông cũng ảnh hưởng đến khả năng khai thác vốn của NHTM, bởi chính nó là thứ chuyển tải những thông tin về các chính sách, tiện ích của NHTM đến mọi người, để mọi người
có thể hiểu về lợi ích của mình kho gửi tiền vào ngân hàng
- Phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng
có thể khai thác nhằm mở rộng qui mô huy động vốn của NHTM
- Môi trường văn hoá như tâm lý, tập quán, thói quen sử dụng tiền của dân cư ảnh hưởng nhiều đến quyết định kinh tế của người có thu nhập về tiêu dùng và tiết kiệm, mức độ chấp nhận rủi ro khi gửi tiền vào các TCTD hay quyết định chi số tiền nhàn rỗi của họ đầu tư vào bất động sản, động sản, chứng khoán
Hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng có sự tham gia của nhiều loại hình ngân hàng mới và các tổ chức tài chính phi ngân hàng Cạnh tranh có xu hướng gia tăng mạnh, làm giảm đi sự khác biệt giữa các NHTM với các tổ chức tài chính phi ngân hàng Khách hàng có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư trực tiếp vào mua chứng khoán của Chính phủ và công
ty Xu hướng cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng gia tăng do các yếu tố: Thay đổi chính sách về tài chính-tiền tệ, đổi mới tài chính của doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, xu hướng chứng khoán hoá
Trong môi trường ngành ngân hàng, cạnh tranh về tiền gửi diễn ra dưới nhiều hình thức Các ngân hàng có thể áp dụng các điều kiện giống nhau cho tất cả các khách hàng gửi tiền Vì lý do này, các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tiền gửi được mở rộng và được phổ biến nhanh chóng Thêm vào đó nhiều tổ chức tài chính phi ngân hàng có thể huy động gửi tiền có kỳ hạn, thậm chí còn cung cấp các tài khoản không kỳ hạn (tiết kiệm bưu điện) Do cạnh tranh, lãi suất tiền gửi tăng lên trong khi giá dịch vụ liên quan đến tiền
Trang 35gửi giảm xuống, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng
Trên đây là hệ thống lý luận liên quan đến hoạt động của ngân hàng và nguồn vốn, chúng ta đã nghiên cứu các thành phần, cơ cấu nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM, các phương thức tạo lập vốn và các nhân tố ảnh hưởng đến qui mô, cơ cấu nguồn vốn
Trang 36Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các câu hỏi nghiên cứu
Luận văn hoàn thành sẽ nghiên cứu và trả lời được nhưng câu hỏi sau:
- Thực trạng hoạt động cung cấp các sản phẩm huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Sông Công như thế nào?
- Những yếu tố tác động chủ yếu đến việc nâng cao chất lượng cung cấp các sản phẩm huy động vốn tại NHCT Sông Công là gì?
- Chất lượng của các sản phẩm huy động vốn tại NHCT Sông Công so với mục tiêu phát triển hoạt động kinh doanh của NHCT Sông Công như thế nào?
- Các giải pháp nào để nâng cao chất lượng cung cấp các sản phẩm huy động vốn tại NHCT Sông Công?
2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Bước 1 Khảo sát và nghiên cứu hiện trạng để tìm hiểu các vấn đề đang tồn tại ở NHCT Sông Công Trong nội dung này người nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn nhanh một số lãnh đạo trong ngân hàng và các nhân viên lâu năm làm việc trong các bộ phận giao dịch
Bước 2 Thu thập tài liệu nghiên cứu có liên quan
Bước 3 Thu thập các số liệu cho việc phân tích
Bước 4 Phân tích số liệu và viết hoàn thiện ba chương đầu của luận văn Bước 5 Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để đánh giá kết quả hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại NHCT Sông Công
Bước 6 Hoàn thiện chương 4 và đưa các giải pháp đề xuất để thảo luận tại cơ quan nghiên cứu (NHCT Sông Công)
2.3 Dữ liệu cho nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp Nguồn
số liệu này được lấy từ các nghiên cứu, các báo cáo của hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cũng như của NHCT Sông Công trong 5 năm
Trang 37gần đây (2008 - 2012) Ngoài ra, dữ liệu được lấy theo một số báo cáo của Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh Thái Nguyên, các ngân hàng thương mại trên địa bàn (Ngân hàng ĐT&PT Thái Nguyên, Ngân hàng Nh0&PTNT Thái Nguyên, NHCT Thái Nguyên …)
2.4 Các phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả
Mục tiêu của nghiên cứu là tìm ra giải pháp để nâng cao kết quả và hiệu quả của hoạt đông cung ứng các sản phẩm dịch vụ tại NHCT Sông Công nên người nghiên cứu sẽ dụng các chỉ tiêu đo lường kết quả kinh doanh và kết quả phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại NHCT Sông Công trong các năm 2008 - 2012
Các số trung bình, số tương đối được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của ngân hàng
Trong nghiên cứu này có sử dụng các bảng biểu và các biểu đồ để phân tích
2.4.2 Phương pháp phân tích SWOT
Sử dụng phương pháp phân tích SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu -
Cơ hội - Thách thức) trong việc đánh giá các lợi thế và bất lợi thế của điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh và kết quả của hoạt động dịch
vụ của ngân hàng
Phân tích các yếu tố Môi trường bên trong Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W)
Môi trường bên ngoài Cơ hội (O) Các nguy cơ, thách thức (T)
2.4.3 Lấy phiếu ghi nhận ý kiến của khách hàng về chất lượng hoạt động
cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại NHCT Sông Công
Trong quá trình nghiên cứu, sẽ thực hiện lập Phiếu điều tra ý kiến khách hàng để lấy ý kiến khách hàng về việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại NHCT Sông Công
Trang 38- Số lượng phiếu điều tra dự kiến: 100 phiếu
- Đối tượng điều tra:
+ Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp: 40 phiếu
+ Khách hàng là cá nhân: 60 phiếu
- Nội dung Phiếu điều tra: Lấy ý kiến đánh giá của khách hàng về cơ sở vật chất của Ngân hàng; phong cách phục vụ của nhân viên; chất lượng các dịch vụ tiền gửi, tiền vay, thanh toán, thẻ, ngân hàng điện tử, kiều hối …
2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
2.5.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Các chỉ tiêu về doanh thu và lợi nhuận theo các năm
- Tổng thu nhập từ hoạt động dịch vụ theo các năm
- Cơ cấu thu nhập từ thu phí dịch vụ chia theo sản phẩm: Thanh toán, Ngân quỹ, dịch vụ ngân hàng điện tử …
- Cơ cấu thu nhập từ thu phí dịch vụ chia theo đối tượng khách hàng:
Tổ chức, Doanh nghiệp, cá nhân
2.5.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động cung ứng các sản phẩm dịch vụ tại NHCT Sông Công
Ngân hàng huy động bằng nhiều hình thức khác nhau Mỗi cách thức huy động vốn đem lại cho ngân hàng thương mại một nguồn vốn có tính chất khác nhau với chi phí khác nhau Để đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của một ngân hàng thương mại ta cần dựa vào các chỉ tiêu cụ thể Mỗi chỉ tiêu nên lên một mặt của hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Sau đây là một số chỉ tiêu:
2.5.2.1 Quy mô vốn huy động/Chi phí vốn huy động
Vốn của ngân hàng thương mại được chia làm hai loại: Vốn chủ sở hữu và Nợ Vốn chủ sở hữu chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng và đặc biệt là được dùng để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng
Trang 39Nợ chiếm phần lớn trong nguồn vốn của ngân hàng thương mại, là nguồn vốn hoạt động chính đối với mỗi ngân hàng, cho nên hầu hết các khoản
nợ của ngân hàng thương mại đều liên quan đến chi phí huy động vốn
Chi phí huy động vốn của ngân hàng bao gồm chi phí trả lãi và chi phí phi lãi Trong tổng số chi phí vốn huy động thì chi phí trả lãi là chủ yếu Ngoài ra còn có các chi phí khác như: Chi phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí quản
lý, dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán, chi phí cho hoạt động marketing, quảng cáo để thu hút khách hàng gửi tiền, chi phí để mở các quỹ tiết kiệm, chi phí mua máy móc thiết bị… và các chi phí khác liên quan đến hoạt động huy động vốn
Chi phí trả lãi mà ngân hàng trả cho khách hàng là chi phí trả lãi dựa trên lãi suất danh nghĩa, lãi suất ngân hàng công bố cho khách hàng Chi phí này phục thuộc rất nhiều yếu tố như kỳ hạn, loại tiền gửi, mục tiêu gửi tiền của khách hàng, chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ, tiện ích đi kèm… Tuy nhiên, lãi suất thực tế của từng nguồn vốn huy động đối với ngân hàng là cao hơn bởi vì ngoài chi phí trả lãi, ngân hàng còn phải bỏ ra nhiều loại chi phí ngoài lãi khác nữa Vì vậy, chỉ tiêu chi phí huy động vốn/tổng vốn huy động được chia nhỏ ra làm hai chỉ tiêu khác Đó là:
- Chi phí trả lãi/Tổng vốn huy động: cho thấy để huy động được một đồng vốn thì ngân hàng cần phải trả bao nhiêu tiền dựa trên lãi suất công bố cho khách hàng
- Chi phí trả ngoài lãi/Tổng vốn huy động: cho thấy một đồng vốn huy động được ngân hàng bỏ ra chi phí là bao nhiêu cho việc quản lý, cất giữ, bảo quản…
Tóm lại chi phí huy động/tổng vốn huy động được dùng để đánh giá xem một đồng vốn ngân hàng huy động được cần phải bỏ ra bao nhiêu chi phí
Như vậy khi xem xét hiệu quả huy động vốn, chi phí cho một đồng vốn phải hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù đắp được chi phí này và
Trang 40có lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này càng thấp thì huy động vốn càng có hiệu quả Tuy nhiên cũng phải thấy rằng để giảm chi phí huy động vốn thì cần phải giảm lãi suất huy động một cách tối ưu nhất Việc đưa ra một lãi suất huy động hợp lý là rất quan trọng, lãi suất không quá cao - đảm bảo lợi ích ngân hàng, cũng không quá thấp- thu hút được khách hàng gửi tiền Đồng thời giảm các chi phí trả lãi cũng sẽ làm cho hiệu quả của hoạt động huy động vốn của ngân hàng hiệu quả hơn
2.5.2.2 Quy mô vốn huy động/Chi phí tiền lương
Trước tiên để đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thông qua chỉ tiêu này, cần phải đánh giá chỉ tiêu quy mô vốn huy động/toàn bộ huy động vốn
Chỉ tiêu này được tính bằng tổng số vốn mà ngân hàng huy động được trong một thời kỳ từ khách hàng cá nhân chia cho tổng số lao động trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng trong thời kỳ đó
Quy mô vốn huy động/1 cán bộ huy động vốn = Tổng số vốn huy động/ Tổng số lao động huy động vốn
Chỉ tiêu này cho thấy trong một thời kỳ nhất định, một lao động của ngân hàng huy động được bao nhiêu vốn, hay nói cách khác chỉ tiêu này cho biết năng suất huy động vốn của lao động hoạt đông huy động vốn của ngân hàng
Chỉ tiêu này tăng cho thấy năng suất huy động vốn của ngân hàng tăng lên khi nguồn vốn huy động tăng nhanh hơn số lao động hoạt động huy động vốn làm cho chỉ tiêu này tăng lên Tuy nhiên cũng cần phải xem xét tới sự giảm của nguồn vốn huy động và số lượng lao động hoạt động huy đông vốn của ngân hàng qua các năm Bởi chỉ tiêu này vẫn tăng nếu sự giảm xuống của nguồn vốn huy động được chậm so với sự giảm xuống của lao động hoạt động huy động vốn