Phương pháp Vierordt Để xác định nồng độ của các cấu tử trong hỗn hợp, lần đầu tiên Vierordt đã đo độ hấp thụ quang của dung dịch hỗn hợp ở các bước sóng khác nhau, sau đó thiết lập hệ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ DUY LONG
I PARACETAMOL, CLOPHENINAMIN MALEAT VÀ PHENYLEPHIN
Hướng dẫn khoa học: TS MAI XUÂN TRƯỜNG
THÁI NGUYÊN - NĂM 2014
Trang 2Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện
đề tài nghiên cứu của mình
, chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp chân thành từ các thầy giáo, cô giáo và bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Tác giả
Vũ Duy Long
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt của luận văn iv
Danh mục các bảng của luận văn v
Danh mục các hình của luận văn vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Tổng quan về paracetamol, clopheninamin maleat và phenylephin hydroclorit 2
1.1.1 Paracetamol 2
1.1.2 Chlorpheniramin 6
1.1.3 Phenylephin hydroclorit 9
1.2 Các định luật cơ sở của sự hấp thụ ánh sáng 13
1.2.1 Định luật Bughe - Lămbe – Bia 13
1.2.2 Định luật cộng tính 14
1.2.3 Những nguyên nhân làm cho sự hấp thụ ánh sáng của dung dịch không tuân theo định luật Bughe – Lămbe – Bia 15
1.3 Một số phương pháp xác định đồng thời các cấu tử 16
1.3.1 Phương pháp Vierordt 16
1.3.2 Phương pháp phổ đạo hàm 18
1.3.3 Phương pháp mạng nơron nhân tạo 19
1.3.4 Phương pháp lọc Kalman 21
1.4 Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC 22
1.4.1 Nguyên tắc của phương pháp HPLC 22
1.4.2 Sơ đồ máy HPLC 23
1.4.3 Kết quả xác định một số chất theo phương pháp HPLC 23
Trang 4Chương 2: THỰC NGHIỆM 25
2.1 Nội dung nghiên cứu 25
2.1.1 Phương pháp HPLC 25
2.1.2 Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
26
26
2.3 Đánh giá độ tin cậy của quy trình phân tích 27
2.3.1 Giới hạn phát hiện (LOD) 27
2.3.2 Giới hạn định lượng (LOQ) 27
2.3.3 Đánh giá độ tin cậy của phương pháp 27
2.3.4 Đánh giá kết quả phép phân tích theo thống kê 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Phương pháp HPLC 32
3.1.1 Xây dựng điều kiện để xác định đồng thời 3 chất PRC, CPM và PNH 32
3.1.2 Đánh giá phương pháp định lượng 35
3.1.3 Xác định PRC, CPM và PNH trong thuốc TIFFY 42
3.2 Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử 43
3.2.1 Khảo sát phổ hấp thụ phân tử của paracetamol, clopheninamin maleat và phenylephin hydroclorit 43
3.2.2 Khảo sát sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của PRC, CPM và PNH vào pH 44
3.2.3 Khảo sát sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của PRC, CPM và PNH theo thời gian 45
3.2.4 Khảo sát sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của PRC, CPM và PNH theo nhiệt độ 46
Trang 53.2.5 Khảo sát khoảng tuyến tính tuân theo định luật Bughe – Lambe – Bia của PRC, CPM và PNH Xác định chỉ số LOD và LOQ 483.2.6 Khảo sát và đánh giá độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu trên các mẫu tự pha 543.2.7 Xác định hàm lượng PRC, CPM và PNH trong
61
KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CỦA LUẬN VĂN
Clopheninamin maleat Chlorpheniramine maleate CPM Phenylephin hidrocloric Phenylephrine hydrochloride PNH
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu
năng cao
High Performance Liquid
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG CỦA LUẬN VĂN
Trang
Bảng 3.1 Giá trị các đại lượng đặc trưng 36
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát thời gian lưu 36
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát diện tích pic 36
Bảng 3.4 Mối tương quan giữa nồng độ và diện tích pic của PRC, CPM và PNH 37
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát độ lặp lại 40
Bảng 3.6 Kết quả khảo sát độ đúng 41
Bảng 3.7 Kết quả phân tích thuốc TIFFY 42
Bảng 3.8 Độ 44
Bả PRC, CPM và PNH theo thời gian 45
Bả thụ quang của PRC, CPM và PNH theo nhiệt độ 47
Bảng 3 48
50
Bảng 3.13 50
Bảng 3.14 Kết quả tính LOD và LOQ của CPM 52
52
Bảng 3.16 Kết quả tính LOD và LOQ của PNH 54
54
55
56
57
58
59
60
, CPM và PNH 60
Trang 8Bảng 3.25 Kết quả tính nồng độ, sai số PRC, CPM và PNH trong mẫu thuốc TIFFY 62Bảng 3.26 Thành phần các dung dịch chuẩn PRC, CPM và PNH thêm vào dung dịch mẫu thuốc TIFFY 63Bảng 3.27 Kết quả xác định độ thu hồi của PRC, CPM và PNH trong mẫu thuốc TIFFY 64
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH CỦA LUẬN VĂN
Trang
Hình 1.1 Công thức cấu tạo của paracetamol 2
Hình 1.2 Công thức cấu tạo của paracetamol dưới dạng không gian ba chiều 2 1.3 Mô hình hoạt động của mạng nơron 20
1.4 Mô hình hoạt động của bộ lọc Kalman 21
Hình 1.5 Sơ đồ hệ thống máy HPLC 23
Hình 3.1 phổ pic của PRC (500 µg/mL) 33
Hình 3.2 phổ pic của CPM (8 µg/mL) 33
Hình 3.3 phổ pic của PNH (20 µg/mL) 33
Hình 3.4 Phổ các pic của PRC (3), CPM (1) và PNH (2) 34
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc tuyến tính giữa nồng độ và diện tích pic của PRC 38
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc tuyến tính giữa nồng độ và diện tích pic của CPM 38
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc tuyến tính giữa nồng độ và diện tích pic của PNH 39
3.8 Phổ hấp thụ của các dung dịch chuẩn PRC (1), CPM (2) và PNH (3) 43
Hình 3.9 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của PRC, CPM và PNH theo thời gian 46
47
Hình 3.11 Phổ hấp thụ quang của PRC ở các nồng độ 0,2 40,0 g/mL 48
3.12 49
Hình 3.13 Phổ hấp thụ quang của CPM ở các nồng độ 0,2 40 g/mL 50
Hình 3.14 Đường hồi quy tuyến tính biểu diễn sự phụ thuộc của độ hấp thụ quang A vào nồng độ CPM 51
Trang 10Hình 3.15 Phổ hấp thụ quang của PNH ở các nồng độ 1,0 40,0 g/mL 52H
53
Trang 11MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, ngành công nghệ dược phẩm cũng phát triển một cách nhanh chóng Các nhà sản xuất dược phẩm đã áp dụng nhiều phương thức sản xuất và chế biến tiên tiến để tổng hợp ra nhiều loại dược phẩm có tính năng vượt trội Nhiều loại thuốc hỗn hợp như cảm cúm, hạ sốt, nhức đầu, ho… với những thành phần khác nhau ngày càng được sản xuất và sử dụng rộng rãi ở nước ta Việc định lượng các hoạt chất trong các loại thuốc hỗn hợp theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất là rất quan trọng vì chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ thành phần hoạt tính của thuốc cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của hàng nghìn, hàng triệu người Do đó
để đánh giá đúng chất lượng sản phẩm một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn và hiệu quả thì công tác kiểm nghiệm để xác định các thành phần của thuốc bằng các phương pháp hiện đại có độ chính xác cao ngày càng được quan tâm Nhiều phương pháp có độ lặp và độ chính xác cao đã được ứng dụng Sử dụng phương pháp HPLC, phương pháp UV-VIS dùng phổ toàn phần kết hợp với kỹ thuật tính toán và ứng dụng phần mềm máy tính đã được nghiên cứu và cho nhiều ưu điểm như độ nhạy, độ lặp, độ chính xác, độ tin cậy của phép phân tích cao, phân tích nhanh, tiện lợi
: "Định lượng đồng
thời paracetamol, clopheninamin maleat và phenylephin hydroclorit trong thuốc TIFFY sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử (UV-VIS)"
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về paracetamol, clopheninamin maleat và phenylephin hydroclorit
1.1.1 Paracetamol
1.1.1.1 Giới thiệu chung
Paracetamol hay acetaminophen là thuốc có tác dụng giảm đau và hạ sốt,
tuy nhiên không như aspirin nó không hoặc ít có tác dụng chống viêm So với
các thuốc chống viêm không steroide (nonsteroidal antiinflammatory drugs -
NSAIDs), paracetamol có rất ít tác dụng phụ với liều điều trị nên được cung
cấp không cần kê đơn ở hầu hết các nước
- Tên quốc tế: Paracetamol
- Tên khác: Acetaminophen
- Mã ATC (mã giải phẫu - điều trị - hóa học): NO2B EO1
- Biệt dược: Panadol, Pradon, Efferalgan, Pandol
- Công thức phân tử: C8H9O2N
- Khối lượng mol phân tử: 151,17g/mol
- Công thức cấu tạo:
- Tên IUPAC: N-(4-hydroxyphenyl) acetamit hoặc p-hydroxy acetanilit
hoặc 4-hydroxy acetanilit
Trang 13- Tên gọi paracetamol được lấy từ tên hóa học của hợp chất para- acetyl aminophenol [2-4]
1.1.1.2 Tính chất
Tính chất vật lý
- Paracetamol là chất bột kết tinh màu trắng, không mùi, vị đắng nhẹ
- Khối lượng riêng: 1,263 g/cm3
- Chế phẩm tan ít trong nước, tan nhiều hơn trong nước sôi, khó tan trong clorofom, ete, etanol và các dung dịch kiềm dung dịch bão hòa trong nước có
pH khoảng 5,3÷5,6; pKa=9,51 [15]
Tính chất hóa học
-OH, nhóm chức acetamide và tính chất của nhân thơm quyết định
Sự có mặt của 2 nhóm hydroxyl và acetamide làm cho nhân benzen được hoạt hóa có thể phản ứng được với các hợp chất thơm có ái lực electron Sự liên kết giữa nhóm acetamide, hydroxyl với vòng benzen làm giảm tính bazơ của nhóm amide và làm tăng tính axit của nhóm hydroxyl
muối sắt (III) cho màu tím
kết tủa vì p-aminophenol tạo thành tan trong axit Thêm thuốc thử kali dicromat thì có kết tủa màu tím khác với phenacetin là không chuyển sang đỏ
Quá trình xảy ra chủ yếu là:
HO NHCOCH3 HCl
K2Cr2O7[O]
Trang 14Sự có mặt của hai nhóm hoạt tính cũng làm cho vòng benzen phản ứng lại với các chất thay thế có ái lực Khi các nhóm thay thế là đoạn mạch thẳng ortho và para đối với mỗi cái khác, tất cả các vị trí trong vòng đều
ít nhiều được hoạt hóa như nhau Sự liên kết cũng làm giảm đáng kể tính bazơ của oxi và nitơ, khi tạo ra các hydroxyl có tính axit
Paracetamol được tổng hợp theo 4 bước từ nguyên liệu đầu là phenol:
- Phenol được nitro hóa bởi axit sunfuric và natri nitrit tạo ra hỗn hợp 2 đồng phân o, p-nitro phenol
- Đồng phân para được tách ra khỏi đồng phân ortho bằng phản ứng thủy phân
- Khử para-nitro phenol bằng NaBH4
para-aminophenol
- Para-aminophenol phản ứng với anhidrit axetic cho ra paracetamol
Đem kết tinh lại paracetamol trong hỗn hợp etanol-nước
Trang 151.1.1.3 Dược lý cơ chế tác dụng
Paracetamol là chất chuyển hóa có hoạt tính của phenacetin, là thuốc giảm đau - hạ sốt hữu hiệu có thể thay thế aspirin; tuy vậy, khác với aspirin, paracetamol không có hiệu quả điều trị viêm Với liều ngang nhau tính theo gam, paracetamol có tác dụng giảm đau và hạ sốt tương tự như aspirin.Paracetamol làm giảm thân nhiệt ở người bệnh sốt, nhưng hiếm khi làm giảm thân nhiệt ở người bình thường Thuốc tác động lên vùng dưới đồi gây hạ nhiệt, tỏa nhiệt tăng do giãn mạch và tăng lưu lượng máu ngoại biên
Paracetamol với liều điều trị, ít tác động đến hệ tim mạch và hô hấp, không làm thay đổi cân bằng axit - bazơ, không gây kích ứng, xước hoặc chảy máu dạ dày như khi dùng salixylat, vì paracetamol không tác dụng trên xyclooxygenat (COX) toàn thân, chỉ tác động đến xyclooxygenat prostaglandin của hệ thần kinh trung ương Paracetamol không có tác dụng trên tiểu cầu hoặc thời gian chảy máu
Khi dùng quá liều paracetamol, một chất chuyển hóa là benzoquinonimin gây độc nặng cho gan Liều bình thường, paracetamol dung nạp tốt, không có nhiều tác dụng phụ như aspirin Tuy vậy, quá liều cấp tính (trên 10g) làm thương tổn gan gây chết người, những vụ ngộ độc và tự tử bằng paracetamol đã tăng lên một cách đáng lo ngại trong những năm gần đây
N-axetyl-Paracetamol hấp thu nhanh qua ống tiêu hóa, sinh khả dụng là 80-90%, hầu như không gắn vào protein huyết tương Chuyển hóa lớn ở gan và một phần nhỏ ở thận, cho các dẫn xuất glucuro thải trừ qua thận
Cũng như các thuốc chống viêm không chứa steroide khác, paracetamol có tác dụng hạ sốt và giảm đau, tuy nhiên lại không có tác dụng chống viêm và thải trừ axit uric, không kích ứng tiêu hóa, không ảnh hưởng đến tiểu cầu và đông máu
Uống paracetamol liều cao dài ngày có thể làm tăng nhẹ tác dụng chống đông của coumarin và dẫn chất indandion
Trang 16Cần phải chú ý đến khả năng gây hạ sốt nghiêm trọng ở người bệnh dùng đồng thời phenothiazin và liệu pháp hạ nhiệt
Ở liều thông thường, paracetamol không gây kích ứng niêm mạc dạ dày, không ảnh hưởng đông máu, không ảnh hưởng chức năng thận Tuy nhiên, một
số nghiên cứu cho biết dùng paracetamol liều cao (trên 2000 mg/ngày) có thể làm tăng nguy cơ biến chứng dạ dày [15]
Đôi khi xảy ra ban da và những phản ứng dị ứng khác Thường là ban đỏ hoặc ban mề đay, nặng hơn có thể kèm theo sốt do thuốc và thương tổn niêm mạc Người bệnh mẫn cảm với salixylat hiếm khi mẫn cảm với paracetamol và những thuốc có liên quan
Ở một số ít trường hợp riêng lẻ, paracetamol đã gây giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu
1.1.1.4 Dạng thuốc
- Chế phẩm viên nén: Paracetamol, Panadol, Donodol…
- Chế phẩm viên đạn: Efferalgan, Panadol…
- Chế phẩm viên sủi: Efferalgan, Donodol, Panadol…
1.1.2.1 Giới thiệu chung
Chlorpheniramine thường được bán trên thị trường ở dạng chlorpheniramine maleate là thế hệ đầu tiên alkylamin kháng histamin được sử dụng trong dự phòng các triệu chứng của dị ứng các điều kiện như viêm mũi và nổi mề đay Tác dụng an thần của nó là tương đối yếu so với các thuốc kháng histamin thế hệ đầu tiên Clopheninamin maleat là một trong những thuốc kháng histamin thường được sử dụng trong thực tế thú y động vật nhỏ Nói chung clopheninamin maleat không được chỉ định như một thuốc chống trầm cảm hoặc lo âu [14, 26]
Trang 17Clopheninamin maleat là một phần của một loạt các thuốc kháng histamin bao gồm pheniramin (Naphcon) và các dẫn xuất halogen hóa của nó và những chất khác bao gồm fluorpheninamin, dexclorpheninamin (Polaramin), brompheniramin (Dimetapp), dexbrompheninamin (Drixoral), desclorpheninamin, dipheninamin (còn gọi là triprolidin với tên thương mại Actifed ) và iotpheninamin
Clopheninamin maleat là một kháng histamin có rất ít tác dụng an thần Như hầu hết các kháng histamin khác, clopheninamin maleat cũng có tác dụng phụ chống tiết acetylcholin, nhưng tác dụng này khác nhau nhiều giữa các cá thể
Tác dụng kháng histamin của clopheninamin maleat thông qua phong bế cạnh tranh các thụ thể H1 của các tế bào tác động
Clopheninamin maleat có công thức phân tử là: C16H19ClN2.C4H4O4 Công thức cấu tạo
Tên IUPAC: 3-(4-clorophenyl)- N , N -dimethyl- 3 - (4-clorophenyl) - N, N-dimethyl- 3-pyridin-2-yl-propan-1-amine 3-pyridin-2-YL-propan-1-amin
Khối lượng mol phân tử: 390,87 (g/mol)
Độ tan trong nước: 0,55 g/100 mL ở 200C
Clopheninamin maleat chuyển hóa nhanh và nhiều Các chất chuyển hóa gồm có desmethyl - didesmethyl- chlorpheniramine và một số chất chưa được xác định, một hoặc nhiều chất trong số đó có hoạt tính
Trang 181.1.2.3 Dược lý và cơ chế tác dụng
Clopheninamin maleat hấp thu tốt khi uống và xuất hiện trong huyết tương trong vòng 30 - 60 phút Nồng độ đỉnh huyết tương đạt được trong khoảng 2,5 đến 6 giờ sau khi uống Khả dụng sinh học thấp, đạt 25 - 50% Khoảng 70% thuốc trong tuần hoàn liên kết với protein Thể tích phân bố khoảng 3,5 lít/kg (người lớn) và 7 - 10 lít/kg (trẻ em)
Nồng độ clopheninamin maleat trong huyết thanh không tương quan với tác dụng kháng histamin vì còn một chất chuyển hóa chưa xác định cũng có tác dụng
Thuốc được bài tiết chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi hoặc chuyển hóa, sự bài tiết phụ thuộc vào pH và lưu lượng nước tiểu Chỉ một lượng nhỏ được thấy trong phân Thời gian bán thải là 12 - 15 giờ ở người bệnh suy thận mạn kéo dài tới 280 - 330 giờ Một số viên nén clopheninamin maleat được bào chế dưới dạng tác dụng kéo dài, dưới dạng viên nén 2 lớp Lớp ngoài được hòa tan và hấp thu giống như viên nén thông thường Lớp trong chỉ được hấp thu sau 4 - 6 giờ Tác dụng của những viên nén kéo dài bằng tác dụng của hai viên nén thông thường, uống cách nhau khoảng 6 giờ
Hiện nay, clopheninamin maleat thường được phối hợp trong một số chế phẩm bán trên thị trường để điều trị triệu chứng ho và cảm lạnh Tuy nhiên, thuốc không có tác dụng trong điều trị triệu chứng nhiễm virus
Etanol hoặc các thuốc an thần gây ngủ có thể tăng tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương của clopheninamin maleat Clopheninamin maleat ức chế chuyển hóa phenytoin và có thể dẫn đến ngộ độc phenytoin
Liều gây chết của clopheninamin maleat khoảng 25 - 50 mg/kg thể trọng Những triệu chứng và dấu hiệu quá liều bao gồm: kích thích nghịch thường hệ thần kinh trung ương, loạn tâm thần, cơn động kinh, ngừng thở, co giật, tác dụng chống tiết axetylcholin, phản ứng loạn trương lực và trụy tim mạch, loạn nhịp
Trang 19Ðiều trị triệu chứng và hỗ trợ chức năng sống, cần chú ý đặc biệt đến chức năng gan, thận, hô hấp, tim và cân bằng nước, điện giải
Khi gặp hạ huyết áp và loạn nhịp, cần được điều trị tích cực Có thể điều trị co giật bằng tiêm tĩnh mạch diazepam hoặc phenytoin và phải truyền máu trong những ca nặng
1.1.2.4 Dạng thuốc
- Chế phẩm viên nén: Coldacmin, Panactol enfant, Tro-padol-Flu, Triam-Fort
- Chế phẩm viên đạn: Calmezin, Amecol C, Coldacmin, Corypadol
- Chế phẩm siro: Dibigen
- Chế phẩm gói bột: ACE, Babyplex, Pamin
- Các chế phẩm kết hợp với thuốc khác
1.1.3 Phenylephin hydroclorit
1.1.3.1 Giới thiệu chung
Phenylephin hydroclorit là một loại thuốc giảm sung huyết trong điều trị bệnh viêm mũi dị ứng theo mùa và cảm Phenylephin hydroclorit có tác dụng giãn phế quản và có trong một số thuốc dùng trong điều trị bệnh hen phế quản và viêm phế quản mạn Trong dạng thuốc nhỏ mắt, phenylephin hydroclorit được dùng để làm giãn đồng tử lúc khám (soi đáy mắt) hay phẫu thuật mắt [12]
Công thức phân tử: C9 H13NO2 HCl
Khối lượng mol phân tử: 203,67(g/mol)
Tên hóa học: (-) - m -Hydroxy-α-[(methyl-amino) metyl] benzyl alcohol
hydrochloride hay còn gọi là phenylephin hydroclorit
Trang 201.1.3.2 Tính chất
Phenylephin hydroclorit là loại thuốc cường giao cảm 1
( 1-adrenergic) có tác dụng trực tiếp lên các thụ thể, 1-adrenergic làm co mạch máu và làm tăng huyết
Cơ chế tác dụng -adrenergic của phenylephin hydroclorit là do ức chế
sự sản xuất AMP vòng (AMP: xyclic adenosin - 3’, 5’- monophotphat) do ức chế enzym adenyl xyclat, trong khi tác dụng -adrenergic là do kích thích hoạt tính adenyl xyclat
Phentolamin và thuốc chẹn alpha-adrenergic: tác dụng tăng huyết áp của phenylephin hydroclorit sẽ giảm, nếu trước đó đã dùng thuốc chẹn alpha-adrenergic như phentolamin mesylat Phentolamin có thể được dùng để điều trị tăng huyết áp do dùng quá liều phenylephin hydroclorit
Các phenothiazin (như clopromazin): các phenothiazin cũng có một số tác dụng chẹn alpha-adrenergic; do đó, dùng một phenothiazin từ trước có thể làm giảm tác dụng tăng huyết áp và thời gian tác dụng của phenylephin hydroclorit Khi huyết
áp hạ do dùng quá liều phenothiazin hoặc thuốc chẹn alpha-adrenergic, có thể phải dùng phenylephin hydroclorit liều cao hơn bình thường
Monoaminoxidat (MAO): tác dụng kích thích tim và tác dụng tăng huyết áp của phenylephin hydroclorit được tăng cường, nếu trước đó đã dùng thuốc ức chế MAO là do chuyển hoá phenylephin hydroclorit bị giảm đi Tác dụng kích thích tim
và tác dụng tăng huyết áp sẽ mạnh hơn rất nhiều nếu dùng phenylephin hydroclorit dạng uống so với dạng tiêm, vì sự giảm chuyển hoá của phenylephin hydroclorit ở ruột làm tăng hấp thu thuốc Vì vậy, không được dùng phenylephin hydroclorit uống phối hợp với thuốc ức chế MAO [12]
Pilocarpin là thuốc co đồng tử, có tác dụng đối kháng với tác dụng giãn đồng tử của phenylephin hydroclorit Sau khi dùng phenylephin hydroclorit làm giãn đồng tử để chẩn đoán mắt xong, có thể dùng pilocarpin để mắt phục hồi được nhanh hơn
Trang 21Với guanethidin: dùng phenylephin hydroclorit cho người bệnh đã có một thời gian dài uống guanethidin, khả năng gây giãn đồng tử của phenylephin hydroclorit tăng lên nhiều và huyết áp cũng tăng lên rất mạnh
Thời gian bán hủy: 2,1 đến 3,4 giờ
1.1.3.3 Dược lý và cơ chế tác dụng
Phenylephin hydroclorit gây nhịp tim chậm do phản xạ, làm giảm thể tích máu trong tuần hoàn, giảm lưu lượng máu qua thận cũng như giảm máu vào nhiều mô và cơ quan của cơ thể
Ở liều điều trị, phenylephrine hydrochloride thực tế không có tác dụng kích thích trên thụ thể -adrenergic của tim (thụ thể 1-adrenergic); nhưng ở liều lớn, có kích thích thụ thể -adrenergic Phenylephin hydroclorit không kích thích thụ thể -adrenergic của phế quản hoặc mạch ngoại vi (thụ thể
2-adrenergic) Ở liều điều trị, thuốc không có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương
Phenylephin hydroclorit cũng có tác dụng gián tiếp do giải phóng norepinephrin từ các nang chứa vào tuần hoàn Thuốc có thể gây quen thuốc nhanh, tức là tác dụng giảm đi khi dùng lặp lại nhiều lần, nhưng nhà sản xuất cho là không gây quen thuốc nhanh [12]
Phenylephin hydroclorit có thể dùng đường toàn thân Trước đây, thuốc
đã được dùng để điều trị sốc sau khi đã bù đủ dịch để nâng huyết áp, nhưng hiệu quả chưa được chứng minh và có thể còn gây hại cho người bệnh Norepinephin, metaraminol thường được ưa dùng hơn, nhất là khi cần kích thích cơ tim, đặc biệt trong sốc do nhồi máu cơ tim, nhiễm khuẩn huyết hoặc tai biến phẫu thuật Tuy vậy, phenylephin hydroclorit có thể có ích khi không cần phải kích thích cơ tim như trong điều trị hạ huyết áp do gây mê bằng xyclopropan, halothan hoặc các thuốc khác dễ gây loạn nhịp tim
Trang 22Phenylephin hydroclorit cũng đã được dùng để dự phòng và điều trị hạ huyết
áp do gây tê tuỷ sống, nhưng có người cho là không nên dùng các thuốc chủ vận adrenergic thuần tuý, vì có thể làm giảm lưu lượng máu về tim
-Dùng phenylephin hydroclorit để điều trị hạ huyết áp trong khi gây mê cho sản phụ còn tranh cãi, vì có thể điều trị bằng bù đủ dịch và thay đổi tư thế người bệnh để tử cung không đè lên tĩnh mạch chủ dưới Nếu cần dùng thuốc
để nâng huyết áp, thường ephedrin được ưa dùng hơn
Phenylephin hydroclorit cũng đã được dùng để điều trị cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, đặc biệt khi người bệnh bị hạ huyết áp hoặc sốc, nhưng một thuốc kháng cholinesterat tác dụng ngắn (thí dụ edrophonium clorit) thường được ưa dùng vì an toàn hơn
Phenylephin hydroclorit có thể dùng tại chỗ với các dung dịch có nồng
độ khác nhau từ đậm đặc (nồng độ từ 2,5% trở lên) đến loãng (nồng độ 0,125%
- 0,5%)
Khi nhỏ vào niêm mạc mắt, phenylephin hydroclorit tác động trực tiếp trên thụ thể -adrenergic ở cơ giãn đồng tử làm co cơ này, nên đồng tử giãn rộng; tác động nhẹ đến thể mi, nên không làm liệt thể mi; tác động đến cơ vòng
mi, nên làm giảm sụp mi trong hội chứng Horner hoặc Raeder; có thể làm giảm nhãn áp ở mắt bình thường hoặc bị glôcôm góc mở do thuỷ dịch thoát ra tăng hoặc do giảm sản xuất thuỷ dịch Phenylephin hydroclorit còn làm co các mạch máu, nên làm giảm sung huyết ở kết mạc
Khi nhỏ vào niêm mạc mũi, phenylephin hydroclorit gây co mạch tại chỗ, nên làm giảm sung huyết mũi và xoang do cảm lạnh
Phenylephin hydroclorit hấp thụ rất bất thường qua đường tiêu hoá, vì bị chuyển hoá ngay trên đường tiêu hoá Vì thế, để có tác dụng trên hệ tim mạch, thường phải tiêm Sau khi tiêm tĩnh mạch, huyết áp tăng hầu như ngay lập tức
và kéo dài 15 – 20 phút Sau khi tiêm bắp, huyết áp tăng trong vòng
10 – 15 phút và kéo dài từ 30 phút đến 1 – 2 giờ
Trang 23Khi hít qua miệng, phenylephin hydroclorit có thể hấp thu đủ để gây ra tác dụng toàn thân Sau khi uống, tác dụng chống sung huyết mũi xuất hiện trong vòng 15 – 20 phút, và kéo dài 2 – 4 giờ
Sau khi nhỏ dung dịch 2,5% phenylephin hydroclorit vào kết mạc, đồng
tử giãn tối đa vào khoảng 15 – 60 phút và trở lại như cũ trong vòng 3 giờ Nếu nhỏ dung dịch 10% phenylephin hydroclorit, đồng tử giãn tối đa trong vòng 10 – 90 phút và phục hồi trong vòng 3 – 7 giờ Đôi khi phenylephin hydroclorit bị hấp thu đủ để gây tác dụng toàn thân
Để làm giảm sung huyết ở kết mạc hoặc ở mũi, thường dùng các dung dịch loãng hơn (0,125 – 0,5%) Sau khi nhỏ thuốc vào kết mạc hoặc vào niêm mạc mũi, mạch máu tại chỗ hầu như co lại ngay Thời gian tác dụng làm giảm sung huyết sau khi nhỏ thuốc đối với kết mạc hoặc niêm mạc mũi dao động nhiều, từ 30 phút đến 4 giờ
Phenylephin hydroclorit trong tuần hoàn, có thể phân bố vào các mô, nhưng còn chưa xác định được thuốc có phân bố được vào sữa mẹ không
Phenylephin hydroclorit bị chuyển hoá ở gan và ruột nhờ enzym monoaminoxidat [26]
1.1.3.4 Dạng thuốc
- Chế phẩm viên nén: Decolgen, Rhumenol Plus, Andol S
- Chế phẩm viên đạn: Preparatiom-H-S
- Chế phẩm siro: Osacuf, Pamagin-C
- Dạng dung dịch tiêm: Phenylephrine
- Các chế phẩm kết hợp với thuốc khác
1.2 Các định luật cơ sở của sự hấp thụ ánh sáng
1.2.1 Định luật Bughe - Lămbe – Bia
Trang 24
Độ hấp thụ qua
và bề dày lớp dung dịch mà ánh sáng truyền qua
Phương trình toán học biểu diễn định luật Bughe - Lămbe - Bia
C: nồng độ của cấu tử trong dung dịch (mol/lít)
Định luật Bughe – Lămbe – Bia là sự tổ hợp của hai định luật thứ nhất và thứ hai của sự hấp thụ ánh sáng
1.2.2 Định luật cộng tính
Định luật cộng tính là một sự bổ sung quan trọng cho các định luật hấp thụ ánh sáng vừa xét Định luật cộng tính là cơ sở định lượng cho việc xác định nồng độ của hệ trắc quang nhiều cấu tử
Bản chất của định luật cộng tính là sự độc lập của đại lượng độ hấp thụ quang của một chất riêng biệt khi có mặt của các chất khác có sự hấp thụ ánh sáng riêng
Biểu diễn tính cộng tính về độ hấp thụ quang của dung dịch hỗn hợp chứa n cấu tử tại bước sóng bằng phương trình toán học:
Trang 251.2.3 Những nguyên nhân làm cho sự hấp thụ ánh sáng của dung dịch không tuân theo định luật Bughe – Lămbe – Bia
Xuất phát từ biểu thức của định luật Bughe – Lămbe – Bia A= f( , b, C) nghĩa là độ hấp thụ quang A là hàm số của ba biến:
) Do đó mọi sự sai lệch của các tham số này đều có thể đưa đến làm sai lệch quy luật hấp
- Các điều kiện đo quang như: bề dày cuvet, độ trong suốt của bề mặt cuvet không thật đồng nhất, bề mặt cuvet gây các hiện tượng quang học phụ như tán xạ, hấp thụ
- Sự có mặt của các chất điện giải lạ trong dung dịch màu làm biến dạng các phần tử hoặc các ion phức màu làm ảnh hưởng đến sự hấp thụ ánh sáng của các tiểu phân hấp thụ ánh sáng
- Hiệu ứng solvat hóa: sự solvat hóa (hay hydrat hóa) làm giảm nồng độ các phần tử dung môi tự do, do đó làm thay đổi nồng độ của dung dịch màu và làm ảnh hưởng đến sự hấp thụ ánh sáng của dung dịch màu
- Hiệu ứng liên hợp: trong một số trường hợp có sự tương tác của chính các tiểu phân hấp thụ ánh sáng để tạo ra các tiểu phân polime làm thay đổi nồng độ hợp chất màu
- Ảnh hưởng pH của dung dịch: sự thay đổi nồng độ của ion H+ (tức thay đổi pH) của dung dịch sẽ ảnh hưởng đến sự tuân theo định luật Bughe – Lămbe – Bia theo các trường hợp sau:
Trang 26+ Thuốc thử có đặc tính axit: sự thay đổi nồng độ ion H+
làm chuyển dịch cân bằng tạo thành chất màu
+ Thay đổi pH kéo theo sự thay đổi thành phần hợp chất màu
+ Khi tăng pH phức màu có thể bị phân hủy do sự tạo thành phức hydroxo + Dưới ảnh hưởng của ion H+
trạng thái tồn tại và màu của dung dịch cũng thay đổi
- Ảnh hưởng của sự pha loãng dung dịch phức màu: khi pha loãng các dung dịch phức màu sẽ gây ra sự lệch khỏi định luật Bughe – Lămbe – Bia
- Nhiệt độ môi trường và dung dịch đo phổ trong cuvet là không hằng định suốt trong thời gian đo Vì trong một mức độ nhất định độ hấp thụ quang
A phụ thuộc vào nhiệt độ
1.3 Một số phương pháp xác định đồng thời các cấu tử
1.3.1 Phương pháp Vierordt
Để xác định nồng độ của các cấu tử trong hỗn hợp, lần đầu tiên Vierordt đã
đo độ hấp thụ quang của dung dịch hỗn hợp ở các bước sóng khác nhau, sau đó thiết lập hệ phương trình bậc nhất mà số phương trình bằng số ẩn số (số cấu tử trong hỗn hợp), giải hệ phương trình này sẽ tính được nồng độ của các cấu tử Điều kiện
để áp dụng phương pháp này là các cấu tử trong hỗn hợp phải tuân theo định luật Bughe - Lămbe - Bia và thỏa mãn tính cộng tính của độ hấp thụ quang
Với hỗn hợp chứa n cấu tử ta cần phải lập hệ n phương trình n ẩn Hệ phương trình này được thiết lập bằng cách đo độ hấp thụ quang của hỗn hợp ở
Trang 27Trong đó : A( 1), A( 2), , A( n): độ hấp thụ quang của hỗn hợp ở bước sóng 1, bước sóng 2, , và bước sóng n
in: hệ số hấp thụ mol phân tử của cấu tử i tại bước sóng n (được xác định bằng cách đo độ hấp thụ quang của dung dịch chỉ chứa cấu tử i ở bước sóng n )
b: bề dày lớp dung dịch (cm)
Ci: nồng độ của cấu tử thứ i trong hỗn hợp (mol/lít) Với i, j = 1 n
Giải hệ n phương trình với n ẩn số là C1, C2 Cn sẽ tìm được nồng độ của các cấu tử Khi số cấu tử trong hỗn hợp ít thì việc giải hệ n phương trình tuyến tính khá đơn giản Tuy nhiên khi số cấu tử lớn thì việc giải hệ phương trình phức tạp hơn
Phương pháp Vierordt chủ yếu được vận dụng để tìm cách giải hệ phương trình như: giải bằng đồ thị, giải bằng phép ma trận vuông, phương pháp khử Gauss, để xác định nồng độ của mỗi cấu tử
Một số tác giả sử dụng phương pháp Vierordt để xác định đồng thời paracetamol và clopheninamin maleat trong thuốc viên nén bằng cách đo độ hấp thụ quang ở các bước sóng 242 và 264 nm, còn một số tác giả khác đã xác định đồng thời axit salixylic và chloramphenilcol bằng cách đo độ hấp thụ quang ở các bước sóng 278 và 297 nm
Phương pháp Vierordt đơn giản, dễ thực hiện nhưng chỉ áp dụng được khi số cấu tử trong dung dịch hỗn hợp ít, phổ hấp thụ quang phân tử xen phủ nhau không nhiều, tính chất cộng tính độ hấp thụ quang được thoả mãn nghiêm ngặt, thiết bị đo quang tốt thì phương pháp cho kết quả khá chính xác Đối với
hệ nhiều cấu tử, đặc biệt là khi phổ của các cấu tử xen phủ nhau nhiều, tính chất cộng tính độ hấp thụ quang không được thoả mãn nghiêm ngặt, thiết bị đo
có độ chính xác không cao thì phương pháp không chính xác và có sai số lớn [1] Bởi vậy mặc dù phương pháp Vierordt tuy ra đời đã lâu, nhưng ứng dụng trong thực tế còn rất ít Tuy nhiên đây là cơ sở lý thuyết cơ bản nhất, đặt nền
Trang 28móng cho các nhà khoa học sau này phát triển, cải tiến để xây dựng nên các phương pháp mới
1.3.2 Phương pháp phổ đạo hàm
Độ hấp thụ quang của các cấu tử là hàm của độ dài bước sóng của ánh sáng tới A = f( ) Phổ đạo hàm của độ hấp thụ quang theo bước sóng được biểu diễn bằng phương trình toán học:
Đạo hàm bậc 1 của độ hấp thụ quang: 1 ,
1 λ
A = a0 + a1 + a2 2 + + ak k (1.8) Các hệ số a0, a1 ak tại mỗi bước sóng tương ứng là các giá trị đạo hàm bậc 0, 1, 2 k Để có phổ đạo hàm đối với tập số liệu phổ bậc không, đầu tiên
ta phải sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu để tìm được hàm
Trang 29hồi quy là đa thức bậc cao Sau đó lấy đạo hàm của hàm này ta sẽ được các phổ đạo hàm
Đối với phổ đạo hàm bậc 0, 1 n ta thấy có những đặc điểm như sau: đỉnh của phổ đạo hàm bậc n là điểm uốn của phổ đạo hàm bậc (n - 1), còn tại đỉnh của phổ đạo hàm bậc (n-1) thì phổ đạo hàm bậc n có giá trị bằng 0 Số đỉnh của phổ đạo hàm bậc n nhiều hơn số đỉnh của phổ đạo hàm bậc (n - 1)
Như vậy, dùng phương pháp phổ đạo hàm ta có thể tách phổ gần trùng nhau thành những phổ mới và khi đó ta có thể chọn được những bước sóng mà tại đó chỉ có duy nhất 1 cấu tử hấp thụ quang còn các cấu tử khác không hấp thụ, nhờ đó mà có thể xác định được từng chất trong hỗn hợp Bằng toán học, người ta xây dựng được phần mềm khi đo phổ của dung dịch hỗn hợp có thể ghi ngay được phổ đạo hàm các bậc của phổ đó Căn cứ vào các giá trị phổ đạo hàm ta lựa chọn được bước sóng xác định đối với từng cấu tử
Ở nước ta, một số tác giả đã sử dụng phương pháp phổ đạo hàm xác định đồng thời các vitamin tan trong nước [17, 18, 23] cũng như xác định đồng thời các chế phẩm dược dụng khác
Các kết quả thu được có sai số trong khoảng 1,7 5%
Trên thế giới, phương pháp phổ đạo hàm được ứng dụng để phân tích các chế phẩm dược dụng cũng như hỗn hợp các chất vô cơ, hữu cơ Hầu hết các kết quả đều cho thấy phương pháp có độ tin cậy cao Tuy nhiên phương pháp phổ đạo hàm chỉ được áp dụng khi số cấu tử trong dung dịch ít và phổ hấp thụ quang phân tử của chúng không trùng nhau
1.3.3 Phương pháp mạng nơron nhân tạo
Nguyên tắc: đặt các nơron sao cho chúng ở trong những lớp cách biệt, mỗi nơron trong một lớp được nối với tất cả các nơron khác ở lớp kế tiếp và xác định bằng những tín hiệu chỉ được truyền theo một hướng qua mạng Đó chính là mô hình mạng nơron
Quá trình vận hành mạng nơron: mỗi nơron nhận một tín hiệu từ nơron của lớp trước và mỗi tín hiệu này được nhân với hệ số riêng Những tín hiệu vào
có trọng số được gom lại và qua một hàm hạn chế dùng để căn chỉnh tín hiệu ra
Trang 30(kết quả) vào một khoảng giá trị xác định Sau đó, tín hiệu ra của hàm hạn chế được truyền đến tất cả các nơron của lớp kế tiếp Như thế, để sử dụng mạng giải bài toán, chúng ta sử dụng những giá trị tín hiệu vào cho các lớp đầu Cho phép tín hiệu lan truyền qua mạng và đọc các giá trị kết quả sau lớp ra
Phương pháp mạng nơron nhân tạo được ứng dụng để xác định đồng thời các cấu tử theo phương pháp trắc quang
1.3
lớp ẩn
input output
Tín hiệu vào Tín hiệu ra
1.3 Mô hình hoạt động của mạng nơron
Độ chính xác của tín hiệu ra phụ thuộc vào trọng số của các nơron, nên cần phải hiệu chỉnh các trọng số để giải với từng bài toán cụ thể Để hiệu chỉnh được trọng số cần các thông tin lan truyền ngược Quá trình lan truyền ngược được thực hiện với một số bước lặp Lúc đầu, các kết quả thu được sẽ
là hỗn loạn Kết quả này được so sánh với kết quả đã biết và tín hiệu sai số bình phương trung bình sẽ được tính Sau đó, giá trị sai số sẽ được lan truyền trở lại mạng và những thay đổi nhỏ được thực hiện đối với các trọng số trong mỗi lớp Sự thay đổi trọng số được tính toán sao cho giảm tín hiệu sai số đối với truờng hợp đang xét Toàn bộ quá trình được lặp lại đối với mỗi bài toán và sau đó lại quay trở về bài toán đầu tiên và cứ thế tiếp tục Vòng lặp được lặp lại cho đến khi sai số toàn cục rơi vào vùng xác định bởi một ngưỡng hội tụ nào đó Tất
phức tạp, khó áp dụng vào thực tế Để xây dựng được chương trình theo
Trang 31phương pháp mạng nơron có kết quả cao là rất khó và đòi hỏi người lập trình phải có kiến thức tốt về tin học [21]
1.3.4 Phương pháp lọc Kalman
Thuật toán lọc Kalman đầu tiên được nghiên cứu trong vật lý vô tuyến nhằm loại bỏ các tín hiệu "nhiễu" và sau đó được ứng dụng vào hoá học trắc quang Thuật toán lọc Kalman hoạt động trên cơ sở các file dữ liệu phổ ghi được của từng cấu tử riêng rẽ và của hỗn hợp các cấu tử, xác định sự đóng góp về phổ của từng cấu tử trong hỗn hợp tại các bước sóng Khi chương trình chạy, những kết quả tính toán liên tiếp sẽ càng tiến gần đến giá trị thực Trong thực tế, người ta
sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu để giảm sai số giữa phổ của hỗn hợp với phổ nhân tạo được dự đoán bởi phương pháp lọc Kalman Kết quả tính toán là
lý tưởng khi phổ của hỗn hợp trừ đi phổ nhân tạo được tính bởi lọc Kalman sẽ tạo
ra một đường thẳng có độ lệch không đáng kể Độ đúng của phép xác định phụ thuộc vào độ nhiễu của nền, vào việc tách các đỉnh phổ hấp thụ của các cấu tử và
sự tương tác giữa các cấu tử Hỗn hợp có càng ít cấu tử, các đỉnh hấp thụ càng cách xa nhau thì sai số của phép tính toán sẽ càng nhỏ
Việc tính toán sẽ được thực hiện trên toàn bộ khoảng bước sóng được chọn Nếu kết thúc quá trình tính toán, độ lệch chuẩn tương đối của giá trị nồng
độ các cấu tử trong hỗn hợp vẫn lớn hơn giá trị sai số cho phép thì nồng độ của cấu tử đó sẽ phải xác định lại Khi đó, cần phải tăng giá trị sai số mặc định hoặc giảm số giá trị nồng độ mặc định để tính giá trị nồng độ trung bình
1.4 Mô hình hoạt động của bộ lọc Kalman
^
X : TÝn hiÖu cÇn ®o
Trang 32Một số tác giả đã sử dụng thuật toán lọc Kalman để xác định các cấu tử trong hỗn hợp bằng phương pháp trắc quang Kết quả cho thấy sai số của phép xác định với hỗn hợp 2 cấu tử nhỏ hơn 1%, với hỗn hợp 3 cấu tử có sai số nhỏ hơn 2% [10, 22, 23]
1.4 Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC
Phương pháp này ra đời từ năm 1967-1968 trên cơ sở phát triển và cải tiến từ phương pháp sắc ký cột cổ điển Hiện nay phương pháp HPLC ngày càng phát triển và hiện đại hoá cao nhờ sự phát triển nhanh chóng của ngành chế tạo máy phân tích Nó áp dụng rất nhiều trong các ngành kiểm nghiệm đặc biệt là ứng dụng cho ngành kiểm nghiệm thuốc, máy phân tích HPLC là công
cụ đắc lực trong phân tích các thuốc đa thành phần cho phép định tính và định lượng Phương pháp này ngày càng được sử dụng rộng rãi và phổ biến vì nhiều
lý do: có độ nhạy cao, khả năng định lượng tốt, thích hợp tách các hợp chất khó bay hơi hoặc dễ phân hủy nhiệt
1.4.1 Nguyên tắc của phương pháp HPLC
Sắc ký lỏng hiệu năng cao là một phương pháp tách một hỗn hợp chất lỏng dựa trên sự phân bố chúng giữa hai pha, một pha đứng yên gọi là pha tĩnh, một pha di chuyển gọi là pha động Do ái lực hấp thu và giải hấp thu khác nhau của các hợp phần có trong mẫu phân tích với pha tĩnh và pha động mà chúng di chuyển dọc theo pha tĩnh (cột sắc ký) tốc độ khác nhau nên lần lượt đi ra khỏi cột
Nguyên tắc của quá trình sắc ký trong cột:
+ Pha tĩnh là một yếu tố quan trọng quyết định bản chất của quá trình sắc
Trang 33- Nếu pha tĩnh là chất lỏng thì ta có sắc ký phân bố hay sắc ký chiết
- Nếu pha tĩnh là gel thì ta có sắc ký gel hay rây phân tử
+ Để rửa rải chất phân tích ra khỏi cột, ta cần có một pha động Nếu nạp mẫu phân tích gồm hỗn hợp chất phân tích A, B, C vào cột phân tích, kết quả
là các chất A, B, C sẽ được tách ra khỏi nhau sau khi đi qua cột
3 Bơm cao áp: đẩy pha động qua cột sắc kí
4 Bộ tiêm mẫu: tiêm vào cột một thể tích mẫu nhất định
5 Cột tách (pha tĩnh)
6 Detector
7 Máy ghi tín hiệu hoặc máy vi tính
8 Máy in
1.4.3 Kết quả xác định một số chất theo phương pháp HPLC
Ở nước ta, phương pháp HPLC được ứng dụng nhiều trong phân tích các chế phẩm về dược cũng như hỗn hợp các chất vô cơ, hữu cơ Các kết quả đều
cho thấy phương pháp có độ tin cậy cao
Trang 34Phương pháp định lượng đồng thời paracetamol và axit mefenamic: phương pháp có độ chính xác cao (sai số tương đối 0,51% – 1,42%), độ đúng tốt (tỷ lệ thu hồi 98,16% – 99,16%) [20]
Phương pháp định tính và định lượng đồng thời paracetamol và ibuprofen: phương pháp có độ lặp lại tốt (sai số tương đối 0,81% - 1,03%), độ đúng cao (tỷ lệ thu hồi 98,0% – 98,4%) [20]
Phương pháp định lượng đồng thời paracetamol và cafein: phương pháp
có độ lặp lại tốt (sai số tương đối 0,54% – 1,07%), độ đúng cao (tỷ lệ thu hồi 98,9% – 99,5%) [20]
Phương pháp định lượng đồng thời paracetamol, phenylpropanolamin hidroclorit và clorphenylamin maleat: phương pháp có độ lặp lại cao (sai số tương đối của paracetamol là 0,47%; phenylpropanolamin hidroclorid là 0,67%
và clorphenylamin maleat là 1,19%), độ đúng cao (tỷ lệ thu hồi 99,61% – 100,65%) [20]
Trang 35Chương 2
THỰC NGHIỆM
2.1 Nội dung nghiên cứu
Áp dụng phương pháp HPLC và phương pháp quang phổ hấp thụ phân
tử để xây dựng quy trình xác định đồng thời PRC, CPM và PNH trong thuốc TIFFY trên thị trường
Khảo sát để lựa chọn các điều kiện sắc ký:
- Bước sóng thích hợp để phát hiện đồng thời 3 chất
- Pha động: thành phần, tỷ lệ pha động, tốc độ dòng
Đánh giá quy trình sắc ký đã xây dựng được:
- Khảo sát tính thích hợp của hệ thống
- Khảo sát khoảng tuyến tính giữa nồng độ và diện tích pic của các chất
- Khảo sát độ chính xác của phương pháp
- Khảo sát độ đúng của phương pháp
Xác định đồng thời PRC, CPM và PNH trong thuốc TIFFY theo phương pháp HPLC
2.1.2 Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử
Trang 36- Khảo sát sự ổn định độ hấp thụ quang của PRC, CPM và PNH
2.2.2.1 Phương pháp HPLC
Nghiên cứu các điều kiên tối ưu cho phương pháp HPLC để định lượng đồng thời PRC, CPM và PNH
Xử lý thống kê các kết quả thu được
2.2.2.2 Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử
Trang 372.3 Đánh giá độ tin cậy của quy trình phân tích
2.3.1 Giới hạn phát hiện (LOD)
LOD được coi là
:
LOD = 3.SD
B (2.1) Trong đó:
SD: độ lệch chuẩn của tín hiệu y trên đường chuẩn
B: độ dốc của đường chuẩn chính là độ nhạy của phương pháp trắc quang
PNH tự pha chế thông qua sai số tương đ
: Tinh toan 0
0
C (2.3) Trong đó: RE% là sai số tương đối của phép xác định nồng độ các cấu tử
trong hỗn hợp
Trang 38- Đánh giá độ đúng của phươn
là giá trị nồng độ thực của mẫu;
C là giá trị nồng độ trung bình tính được sau n lần xác định;
k là số bậc tự do
2.3.4 Đánh giá kết quả phép phân tích theo thống kê
Khoảng tin cậy của phép xác định nồng độ được tính theo công thức:
Trang 39; S là độ lệch chuẩn, được tính theo công thức (2.5); n là số phép đo
2.4 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất
2.4.1 Thiết bị
- Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao Hitachi L-2000 với detector UV-VIS
- Máy quang phổ UV – 1700 Shimadzu
– Đại học Thái Nguyên, có khả năng quét phổ trong khoảng bước sóng 190nm – 900 nm, có kết nối máy tính
- Cốc thủy tinh, phễu thủy tinh, ống nghiệm
- Chương trình lọc Kalman tính toán đồng thời nồng độ các cấu tử [22]
Trang 40, chúng tôi đã sử dụng các dung môi sau:
- Dung dịch đệm NaH2PO4 0,05M
- Dung dịch pha loãng (gọi là dung dịch I)
- Dung dịch pha mẫu (gọi là dung dịch II)
Dung dịch pha loãng (dung dịch I) được pha bằng cách lấy đệm NaH2PO4 0,05M và acetonitrile với tỷ lệ về thể tích là 1:1
Dung dịch pha mẫu (dung dịch II) là hỗn hợp nước cất và dung dịch pha loãng với tỉ lệ về thể tích là 24 : 1
Dung dịch pha động chuẩn bị bằng cách lấy đệm NaH2PO4 0,05M và acetonitrile ở các tỷ lệ về thể tích từ 85:15 đến 95:5