1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất liệu dân gian trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn (khảo sát những ca khúc thân phận)

97 768 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn đề tài “Chất liệu dân gian trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn những ca khúc về thân phận” người nghiên cứu muốn khẳng định vai trò to lớn của văn học dân gian trong sự ảnh hưởng tới

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học dân gian là suối nguồn vô tận cho biết bao thi sĩ muôn đời nay Ngỡ tưởng rằng thi ca hiện đại sẽ ngày càng xa nguồn để hướng tới cảm quan hậu hiện đại nhưng trên hành trình ấy vẫn có những nhà thơ tìm về với truyền thống, với văn học dân gian để khơi nguồn thơ của mình Những nhà thơ như Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Tố Hữu, Nguyễn Duy …

đã chứng minh cho ta thấy ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian tới thi ca cũng như vậy các nhạc sĩ đã mượn “đôi cánh” của văn học dân gian để chắp vào cho âm nhạc của mình Sự hòa phối ấy đã tạo nên những hiện tượng âm nhạc độc đáo, những vần thơ nốt nhạc sẽ còn lưu lại mãi với thời gian

Mọi người vẫn gọi Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ chứ chưa mấy ai biết rằng ông cũng là một nhà thơ, dù ông cũng đã in một số tập thơ Cũng có người gọi

ông là "người thơ ca" hay "người hát thơ"[57], nghĩa là ông là người kết nối

cho thơ và nhạc trở nên hài hòa trở nên du dương, hoàn hảo nhất

Sáng tác ca khúc, Trịnh Công Sơn có thể viết lời và nhạc cùng một lúc,

hoặc có bài lời thơ viết sau khi đã có nhạc, hay trước khi "phổ nhạc" thì mỗi

lời ca của ông đều là những bài thơ hoàn chỉnh kể cả về ý, tứ, cấu trúc, ngôn

từ và cảm xúc Trịnh Công Sơn là nhà thơ rất độc đáo ôm chứa tư tưởng nhân sinh và thời cuộc với một phong cách rất riêng biệt trong thơ ca Việt Nam Các ca khúc của Trịnh Công Sơn sáng tác rất nhuần nhuyễn trong các thể thơ truyền thống như lục bát, đồng dao, ca dao Ngay từ lần nghe đầu tiên

ca khúc Ở trọ, tôi đã phát hiện ra đấy là một bài thơ lục bát rất tài hoa Từ cái

chuyện ở trọ bình thường trong đời, ông đã đẩy liên tưởng tới cái "cõi tạm"

chốn trần gian trong triết lý của Đạo Phật với một cách nói thoải mái, thông minh và hóm hỉnh Ông nhìn thấy con chim ở trọ trên cành cây, con cá ở trọ dưới nước, cơn gió ở trọ giữa đất trời, rồi đẩy tới một khái quát bất ngờ:

Trang 3

Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn (Ở trọ)

Trong ca khúc Để gió cuốn đi, Trịnh Công Sơn diễn tả thắm thiết tình

cảm với cuộc đời:

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng

Để làm gì em biết không

Để gió cuốn…đi

Để gió cuốn…đi

Gió cuốn đi cho mây qua dòng sông

Ngày vừa lên hay đêm xuống mênh mông

Ôi trái tim đang bay theo thời gian (Để gió cuốn đi)

Thân phận con người là một trong ba chủ để lớn (thân phận - tình yêu - quê hương) kết cấu nên dòng nhạc Trịnh Có thể nói thân phận con “Người”

là chủ thể của mọi mục đích sáng tạo Con người hiện sinh, con người tượng trưng, con người mặc định, con người trở đi trở lại như một nỗi ám ảnh trong hầu hết các sáng tác của Trịnh Công Sơn Thân phận con người có khi đứng tách riêng ra thành một chủ đề độc lập, có khi ẩn hiện trong các chủ đề khác tạo nên một sợi dây xuyên suốt, một chất keo kết dính tạo nên tính thống nhất

mà đa dạng trong âm nhạc Trịnh Công Sơn Ông khai thác con người ở hầu

hết các trạng thái khác nhau, khi thì “gần gũi”, có lúc thật “xa xôi”, nhưng tựu

chung đều bắt nguồn từ một cái nôi văn hoá dân gian của tâm hồn tác giả, đó

là: “chất liệu dân gian”, nguồn cảm hứng đã xuyên suốt mọi chủ đề và hình

tượng trong ca từ nhạc của ông Chất liệu dân gian hiện lên trọn vẹn nhất trong những bài hát về thân phận, về kiếp luân hồi và giải thoát bản ngã Ông giúp người nghe lắng nghe những âm vọng nhân sinh để chiêm nghiệm hết sự tàn phai của cõi đời, để rồi trăn trở với những suy tư, với những quan niệm về

sự sống và cái chết

Ca từ âm nhạc Trịnh Công Sơn rất xứng đáng được nghiên cứu Có thể nhận định rằng Trịnh Công Sơn là một nhà thơ lớn Nhạc và thơ của ông hòa

Trang 4

quyện vào nhau, nương tựa vào nhau tạo nên những nhạc phẩm đã, đang và sẽ làm say mê hàng triệu triệu trái tim qua bao thế hệ Trong đó phải nói phần ca

từ đóng một vai trò hết sức quan trọng để tạo nên phong cách Trịnh Công Sơn Đã có rất nhiều bài nghiên cứu về nhạc Trịnh Công Sơn Trước thực tế

đó, trong luận văn này chúng tôi chỉ tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về chất liệu dân gian của ông qua thi pháp thể loại văn học dân gian, qua những biểu tượng (mô típ dân gian), cách sử dụng ngôn từ ghép từ, nhịp điệu, gieo vần và biện pháp so sánh trong phạm vi những ca khúc viết về thân phận của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Chọn đề tài “Chất liệu dân gian trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn những

ca khúc về thân phận” người nghiên cứu muốn khẳng định vai trò to lớn của

văn học dân gian trong sự ảnh hưởng tới văn học viết đồng thời chỉ ra một hướng tiếp cận mới với ca từ âm nhạc Trịnh Công Sơn một trong những hiện thực độc đáo trong làng âm nhạc Việt Nam hiện đại Đề tài đồng thời cũng là

sự hiện thực hóa cho những câu hỏi? “Một thi sĩ hiện đại đã trở về với cội

nguồn dân gian như thế nào? Văn hóa dân gian đi qua màng lọc tư duy nghệ thuật hiện đại sẽ biến đổi ra sao? Sự dung hợp giữa hiện đại và truyền thống

sẽ tạo ra thành quả gì cho văn chương, thi ca, âm nhạc?”

2 Lịch sử của vấn đề

Đã có rất nhiều công trình, bào báo bài nghiên cứu về thơ về nhạc của

cố nhạc sĩ Có thể khẳng định ngay từ khi Trịnh Công Sơn công diễn tác

phẩm đầu tiên “Ướt mi” cho đến nay đã làm tốn không biết bao nhiêu là giấy

mực của nhà nghiên cứu phê bình Nhiều năm trở lại đây, với sự phát triển của âm nhạc và sự yêu mến những sáng tác của ông, liên tiếp những show

biểu diễn về nhạc “TRỊNH” ngày càng thu hút được sự quan tâm chú ý của

rất nhiều khán giả yêu thích nhạc Trịnh Công Sơn và những học giả, nhà

nghiên cứu tìm hiểu về ông

Trang 5

Hầu hết đều là giới thiệu những bài viết ngắn, từ 2 cho đến khoảng 15

trang, cho ta những cái nhìn nghiêng, những “bán diện” của Trịnh Công Sơn,

qua mắt nhìn của những người viết Ðặc biệt, về nội dung và cách trình bày,

nổi bật lên cuốn sách của Trịnh Cung và Nguyễn Quốc Thái (Trịnh Công Sơn

(1939 - 2001) cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội hoạ và suy tưởng) và tuyển tập Một

cõi Trịnh Công Sơn của Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha và Ðoàn Tử Huyến [45] Trong hai tuyển tập này, ngoài bài viết của những tác giả trong nước, có nhiều bài viết của những tác giả không sống ở Việt Nam Ở nước ngoài, có những tuyển tập đặc biệt về Trịnh Công Sơn, gồm những bài viết trong nước, của các tạp chí sáng tác, nhận định văn nghệ, tạp chí Văn học, … Trong những năm trở lại đây, về đề tài Trịnh Công Sơn, trong nước nổi

bật lên cuốn sách Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của Hoàng tử bé (nhà xuất

bản Trẻ, 2004) của Hoàng Phủ Ngọc Tường [72], một người bạn của người nhạc sĩ Cuốn sách là một tập hợp nhiều bài viết mang tính đoản văn, tuỳ bút, pha với phần nào tính chất ký và tự truyện, cho người đọc thấy được chân dung đời thường của người nhạc sĩ, được nhìn ngắm từ những góc độ đời thường pha lẫn một chút triết lý của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người có được những nét tài hoa trong tạp bút và ký, lại là bạn thân của Trịnh Công Sơn, nên

cuốn sách của ông có những nét đặc biệt riêng, chiếu rọi được những “cận

cảnh” đời thường của Trịnh Công Sơn Ở hải ngoại, có cuốn Trịnh Công Sơn: Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật (nhà xuất bản Văn Mới, 2005) của Bùi

Vĩnh Phúc [50] Ðây là chuyên luận của một nhà lý luận phê bình hiện sống tại

Mỹ Cùng với các nhà phê bình lý luận như Nguyễn Hưng Quốc, Ðặng Tiến và một vài người khác nữa, được nhiều độc giả văn học quan tâm theo dõi và đánh giá cao, trước chuyên luận về Trịnh Công Sơn này, Bùi Vĩnh Phúc đã cho ra mắt nhiều tác phẩm mà cuốn sách tương đối gần đây của ông được nhiều người

chú ý là cuốn Lý luận và phê bình Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước

(1975 - 1995) [49] Gần đây, trên báo Văn học (số 232, tháng 7 & 8.2006), một

Trang 6

tạp chí sáng tác và nhận định văn nghệ xuất bản tại Mỹ, người ta thấy có đăng

bài Thân phận con người và tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn của Nguyễn

Thị Thanh Thuý [56]

Cũng như những nghệ sĩ, những nhà văn, nhà thơ và những nhà văn hoá lỗi lạc khác của Việt Nam, Trịnh Công Sơn đã có những đóng góp của mình vào việc làm phong phú và đẹp đẽ hơn nữa gia tài văn hoá Việt Ðặc biệt đối với Trịnh Công Sơn, đóng góp của ông nổi bật lên trong lĩnh vực ngôn ngữ Ông đã làm mới lạ cách diễn tả tình ý của con người Việt Nam, đặc biệt trong khía cạnh tình yêu và thân phận con người trong cuộc chiến cũng như trong chuyến đi lữ thứ của nó về cõi vĩnh hằng Ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn để diễn tả cuộc chiến tàn khốc của lịch sử Việt Nam hậu bán thế kỷ XX, cái nhìn của ông về phận người giữa cõi vô thường là cuộc đời này, tiếng nói ngọt ngào yêu thương và thiết tha nhân ái trong trái tim ông khi nói về tình yêu nam nữ nói riêng, hoặc tình yêu giữa người và người nói chung, đã là những dấu ấn khó phai trong tâm thức con người Việt Nam hiện đại

Tóm lại đã có rất nhiều tác giả đi nghiên cứu về Trịnh Công Sơn trên

mọi phương diện âm nhạc và ca từ nhưng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về chất dân gian, chất văn học của tâm hồn và tư duy âm nhạc của ông Có thể khẳng định văn học dân gian là cội nguồn, là bầu sữa

mẹ nuôi dưỡng tâm hồn Trịnh Công Sơn giúp ông sáng tạo nên những tác

phẩm bất hủ cùng năm tháng

Như vậy, với lịch sử khám phá về ca từ nhạc Trịnh Công Sơn với những giai điệu đáng tự hào ta có thể làm rõ sự ảnh hưởng sâu sắc từ cội nguồn văn hoá - văn học dân gian đã tác động như thế nào, để từ đó tạo lên những vần thơ độc đáo vừa sâu lắng hồn quê vừa nồng nàn tinh thần hiện đại của tượng trưng - siêu thực trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 7

3.1 Luận văn sẽ làm rõ - chính văn hóa dân gian, văn học dân gian là cơ

sở, nền tảng góp phần tạo lập nên vẻ đẹp độ sâu trong nội dung ca từ nhạc

Trịnh Công Sơn Thành tựu bền vững của nhạc Trịnh là giai điệu lắng sâu, mê

đắm và ca từ đẹp của nhạc phẩm Vì vậy, việc tìm hiểu ca từ là tìm hiểu và

xác định giá trị đích thực của nhạc Trịnh Công Sơn

3.2 Việc sử dụng chất liệu dân gian - những thành tố cấu trúc trong văn

hóa dân gian, văn học dân gian - để tạo lập nên lời trong các ca khúc nhạc

Trịnh Công Sơn

3.3 Xác định được những thủ pháp mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sử

dụng để tạo nên ca từ của ông Ông đã sử dụng nguyên bản những yếu tố dân

gian và biến đổi sáng tạo những chất liệu dân gian như thế nào cho phù hợp

với thời đại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Những biểu tượng của văn hóa

dân gian, văn học dân gian đã được sử dụng làm chất liệu để tạo nên Lời, tức

là tạo nên ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn ?

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chỉ đi tìm hiểu riêng phần ca từ trong di sản nhạc Trịnh Công

Sơn Đối tượng nghiên cứu trong luận văn của chúng tôi là chất liệu dân gian

trong ca từ những bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong đó chúng tôi sẽ

làm sáng tỏ ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa - văn học dân gian tới sáng tác

nhạc Trịnh Công Sơn như thế nào

Trong số những ca khúc mà Trịnh Công Sơn sáng tác chúng tôi chỉ đi

sâu nghiên cứu ca từ những bài hát chủ đề thân phận con người, trên phương

diện chất liệu dân gian tạo nên hình tượng con người xã hội và con người bản thể

5 Nguồn tư liệu nghiên cứu

Trang 8

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận văn chúng tôi đã lựa chọn những tài liệu liên quan đến ca khúc của Trịnh Công Sơn đã được công bố rõ ràng gồm:

- Trịnh Công Sơn tuyển tập những bài ca đi cùng năm tháng – Nhà xuất

bản Âm nhạc - 1998

- Một cõi đi về - Nhà xuất bản âm Nhạc TP HCM - 1989

- Tuyển tập ca khúc Trịnh Công Sơn tập 1.2.3.4.5.6 – Nhà xuất Văn nghệ

Thành phố Hồ Chí Minh - 1999

- Những bài hát về thân phận của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, được sưu tầm

từ nhiều nguồn tài liệu

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Dựa trên những khái niệm về văn

hóa, văn học, ngôn ngữ Từ đó làm cơ sở để phân tích, tổng hợp những quan điểm này thông qua các ca từ trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn, để giải quyết những vấn đề mà đề tài đề cập đến

- Phương pháp định lượng qua thống kê phân loại, phân tích: Để cho

việc nghiên cứu đánh giá có căn cứ xác thực chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê những ca từ, những bài hát của Trịnh Công Sơn Thông qua đó phân loại nội dung phản ảnh theo từng chủ đề, từ đó phân tích nội dung phản ánh

để rút ra giá trị của những chất liệu dân gian mà Trịnh Công Sơn đã sử dụng trong ca khúc của mình

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Người viết đề tài đã phân loại các bài

hát theo đúng chủ đề thuộc phạm vi đề tài và có số liệu thống kê chính xác khoa học nhất cho những luận điểm của vấn đề đã được nêu ra trong ca từ nhạc

âm nhạc Trịnh Công Sơn Đó là quá trình tổng hợp các bài nghiên cứu, các bài thống kê nhận diện về chất liệu dân gian, cũng như qua đó thể hiện quan điểm cá nhân của tôi về Chất liệu dân gian trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn một cách

có hệ thống

Trang 9

- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh nhằm mục đích để soi

rọi, thấy được những điểm giống và khác nhau trong cách lựa chọn chất liệu dân gian của các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ với Trịnh Công Sơn Từ đó tìm ra cái khác biệt, cái mới, sự sáng tạo của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

7 Đóng góp của luận văn

Đề tài “Chất liệu dân gian trong ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

những ca khúc về thân phận” nhằm có một cái nhìn khái quát và hệ thống

hoá về tài năng nghệ thuật của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua những sáng tạo ca

từ của ông Từ đó chứng minh rằng Trịnh Công Sơn không chỉ là một nhạc sĩ tài hoa mà còn là một nhà thơ có tâm có tầm trong nghệ thuật, một nhà thơ với phong cách từ cội nguồn văn hoá dân gian Việt Nam

Nghiên cứu về chất dân gian trong ca từ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong ca từ những bài hát thân phận giúp người đọc, người nghe thêm yêu mến âm nhạc Trịnh Công Sơn hơn nữa và thấy rõ dấu ấn của chất liệu dân gian dân gian từ tâm lí sáng tạo, cách nhìn thế giới, dạng thức biểu hiện cái tôi trữ tình đến cách sử dụng các mô típ dân gian, nhằm bảo lưu văn hoá diễn xướng dân gian Với lối tư duy và diễn đạt đậm chất dân gian qua màng lọc của nghệ thuật âm nhạc hiện đại đã tạo nên giá trị riêng cho các ca khúc của Trịnh Công Sơn trong nền văn học đương đại

8 Cấu trúc của luận văn

Phần một: Mở đầu

Phần hai: Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về chất liệu dân gian của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong ca từ những ca khúc viết về thân phận

Chương 2: Biểu hiện chất liệu dân gian của nhạc sĩ Trịnh Công Sơntrong ca từ những ca khúc viết về thân phận

Chương 3: Hiệu quả của chất liệu dân gian trong ca khúc nhạc sĩ Trịnh

Công Sơn

Phần ba: Kết luận

CHƯƠNG 1

Trang 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LIỆU DÂN GIAN CỦA NHẠC SĨ

TRỊNH CÔNG SƠN TRONG CA TỪ NHỮNG CA KHÚC VIẾT VỀ THÂN PHẬN 1.1 Những vấn đề chung về cuộc đời và sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn quê làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Ông sinh vào giờ Thìn, ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Mão tức ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Daklak Ông mất vào 12:45 trưa ngày

1 tháng 4 năm 2001, tại Sài Gòn Ông an nghỉ tại nghĩa trang Gò Dưa chùa Quảng Bình, tỉnh Bình Dương bên cạnh mộ của thân mẫu

Năm 1943 từ Dak Lak ông theo gia đình chuyển về Huế Ông học trường tiểu học Nam Giao (nay là Trường An), vào trường Pellerin, theo học trường Thiên Hựu (Providence) Ông tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn Học trường Sư Phạm Quy Nhơn khoá I (1962-1964) Sau khi tốt nghiệp ông lên dạy học và làm hiệu trưởng một trường Tiểu học ở Bảo Lộc (Lâm Đồng) Sau 1965, ông bỏ hẳn nghề dạy học, về sống và sáng tác tại Sài Gòn Sau 1975 ông sống ở Huế một thời gian dài và sau đó vào ở hẳn tại Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) [45]

Ngoài Âm nhạc, tác phẩm của ông còn gồm nhiều thể loại thuộc các lãnh vực như: Thơ, Văn và Hội Họa

Ông tự học nhạc, bắt đầu sáng tác năm 1958 với tác phẩm đầu tay Ướt

Mi (Nhà xuất bản An Phú in năm 1959) Cho đến nay nhạc sĩ đã sáng tác hơn

600 tác phẩm, có thể được phân loại dưới 3 đề mục lớn: Tình Yêu - Quê Hương - Thân Phận

Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa vàng ở Nhật Bản với bài Ngủ đi con (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly phát hành trên

2 triệu bản; Giải thưởng cho bài hát hay nhất trong phim Tội lỗi cuối cùng; Giải nhất của cuộc thi Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh với

Trang 11

sau với bài Hai mươi mùa nắng lạ; Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội nhạc sĩ cho một chuỗi bài hát: Xin trả nợ người, Sóng về đâu, Em đi bỏ lại con đường [56]

Trịnh Công Sơn thực sự là một thi sĩ, nhạc sĩ có tài có tâm, cái tâm cao quý của người thể hiện những thi phẩm thơ lấp lánh chất nhạc Cái tâm của Trịnh Công Sơn còn là tâm huyết của người con Việt Nam luôn trăn trở trong khát vọng sống về tình yêu về hòa bình Bằng tài năng của mình, Trịnh Công Sơn đã khẳng định một tiếng nói riêng trong âm nhạc Việt Nam, một tiếng nói tha thiết trong dòng chảy âm nhạc dân tộc

1.1.1 Quan điểm về nghệ thuật, âm nhạc, ca khúc của Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn luôn sống trong tình yêu thương con người, tình yêu dân tộc bằng âm nhạc của mình Ông luôn có những suy tư, tâm sự về cuộc đời, con người và có những quan niệm sống thật giản đơn nhưng giàu triết lý

Về quan niệm sáng tác, Trịnh Công Sơn bộc bạch: "Tôi chỉ là một tên

hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo " [55]

Trong quan niệm sống, ông cho rằng “Sống trong đời sống cần có một

tấm lòng, dù không để làm gì cả, dù chỉ để gió cuốn đi!” ( Để gió cuốn đi )

Các tuyển tập ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ họ Trịnh có tiêu đề rất gần gũi

đời thường, trong đời sống người Việt Nam có thể kể tên: Ca khúc Trịnh Công Sơn, Tình khúc Trịnh Công Sơn, Tuổi đá buồn, Khói Trời mênh mông, Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời, Phụ khúc da vàng, Như cánh vạc bay, Tự tình khúc, Lời đất đá cũ, Thần thoại quê Shương, Tình yêu

và thân phận, Một cõi đi về, Huyền thoại Mẹ, Cỏ xót xa đưa, Em còn nhớ hay

em đã quên, Những bài ca không năm Tháng [56]

Về con người của Trịnh Công Sơn có thể tóm lại trong lời phát biểu hàm súc của ca sĩ Khánh Ly, người đã gắn bó với các ca khúc của Trịnh như là

Trang 12

một cái nghiệp không thể tách rời: "Ông Trịnh Công Sơn không của riêng ai

Ông là của tất cả mọi người Ông yêu dân tộc và quê hương Việc ông ở lại

và nằm xuống trên quê hương là điều đúng Từ ông, tôi đã thành danh, và quan trọng hơn là thành nhân Sống cùng với tên tuổi của ông gần 40 năm với những lời ông dặn bảo phải sống giữa đời với một tấm lòng, và sống với người bằng sự tử tế Ông là một nửa đời sống của tôi." [77]

1.1.2 Nội dung trong các ca từ về thân phận của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Nội dung của những bài hát về thân phận, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết về tất cả những gì về con người, đó là niềm vui nỗi buồn của kiếp nhân

sinh ở đời Trong những bài hát về thân phận con “Người” là chủ thể của mọi

mục đích sáng tạo Con người hiện sinh, con người tượng trưng, con người mặc định, con người ám chỉ cứ trở đi trở lại như một nỗi ám ảnh trong hầu hết các sáng tác của Trịnh Công Sơn Thân phận con người được nhạc sĩ khắc họa đầy đủ nhất tổng hợp nhất có khi đứng tách riêng ra thành một chủ đề độc lập,

có khi ẩn hiện trong các chủ đề khác tạo nên một sợi dây xuyên suốt, một chất keo kết dính tạo nên tính thống nhất mà đa dạng trong âm nhạc Trịnh Công Sơn Trong những bài hát về thân phận cái Tôi của Trịnh Công Sơn, là cái Tôi xuyên suốt mọi chủ đề và hình ảnh Tôi hiện lên trọn vẹn nhất trong những bài hát nói về thân phận, về kiếp luân hồi và giải thoát bản ngã Cái tôi gặm nhấm nỗi cô đơn, nỗi buồn đến đôi khi là tuyệt vọng Cái Tôi đào sâu vào bản ngã, lắng nghe những âm vọng nhân sinh để chiêm nghiệm hết sự tàn phai của cõi đời, để rồi trăn trở với những suy tư, với những quan niệm về sự sống và cái chết

“Thân phận” trong ca từ nhạc Trịnh hội tụ cái buồn, cái cô đơn của thân

phận con người vừa là tâm sự bản thể, vừa là nỗi ám ảnh của mọi kiếp người

Nó là sự phản ánh của hiện thực đời sống khách quan qua lăng kính tâm hồn mang đậm chất dân gian của người nghệ sĩ Thông qua giai điệu nồng nàn của

Trang 13

âm nhạc Trịnh Công Sơn, con người không còn sợ hãi “bệnh”, “xem” bệnh là

một tất nhiên - cái giới hạn mà khi nhận thức được nó, con người sẽ tiến gần

đến với sự “giải thoát”

“Bao nhiêu năm làm kiếp con người / Chợt một chiều tóc trắng như vôi”

(Cát bụi) Đó là những gì chúng ta tìm thấy trong những ca khúc của ông, ta

thấy mỗi con người sau phạm trù giữa cái sống và cái chết của niềm vui và nỗi buồn nhân thế Đến với những ca khúc viết về thân phận của Trịnh Công Sơn ta thấy một dấu ấn đậm nét của chất dân gian trong ca từ của ông với những ảnh hưởng của chất liệu dân gian, một sự ảnh hưởng có chiều sâu trên

cả phương diện nội dung cũng như nghệ thuật chứ không chỉ đơn thuần chỉ là những sự ảnh hưởng hình thức về chất liệu từ dân gian

1.1.3 Văn học dân gian trong đời sống văn hóa, xã hội người Việt Nam

Vượt qua khoảng cách không gian và thời gian, văn học luôn là nhu cầu không thể thiếu trong thế giới tinh thần của con người Việt Nam Trong nhịp sống hối hả của thời hiện đại, người ta lại càng cần có văn chương như một bến đỗ tâm hồn Đối với người học văn, việc nuôi dưỡng niềm say mê đối với văn học lại càng cần thiết Từ những thời đại xa xưa trong lịch sử loài người,

từ khi con người bắt đầu có những định hình về thẩm mĩ cũng là lúc văn học dân gian ra đời Văn học dân gian là bầu sữa ngọt ngào, nuôi dưỡng tâm hồn người Việt từ bao đời nay

Văn học dân gian trong tiềm thức người Việt bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân gian sáng tạo Theo cách hiểu này, văn hoá dân gian

là cơ sở nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là chất liệu sáng tạo của văn hoá, văn học, ngôn ngữ học, âm nhạc, hội họa

Văn học dân gian với ý nghĩa là những di tích của nền văn hóa vật chất

và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục, đạo đức, tín ngưỡng, những bài dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng Sau khi xuất

Trang 14

hiện, thuật ngữ “văn học dân gian” được hiểu với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Và đây cũng là nguồn “chất liệu” mà mỗi nhà thơ nhà văn, nhạc sĩ đều muốn tìm trong cội nguồn đó hơi thở của nghệ thuật dân gian

Hiểu như vậy những sáng tác âm nhạc của Trịnh Công Sơn đã tiếp nối

truyền thống “hồn cốt” của dân tộc, Ông đã mượn “chất liệu” dân gian hay sử

dụng trực tiếp để tạo nên những khúc ca, bày tỏ những suy tư trong tâm hồn với đời

Những đặc trưng cơ bản của thơ ca có liên quan chặt chẽ với các đặc trưng khác của văn học dân gian, nó như cội nguồn, như dòng thác muôn đời chảy trong tâm hồn dân tộc Việt Nam Trịnh Công Sơn là người có suy nghĩ suy sâu sắc, tâm hồn suy tư, tinh tế, nhạy cảm Ông đã lấy chất liệu dân gian làm nền tảng để sáng tạo nên những vần thơ hay nhất cho các ca khúc của mình

Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một món ăn tinh thần của con người từ những khi còn nằm nôi Những bài hát ru gắn với việc ru người ru đời, ru tình ru cõi lòng, dường như không thể thiếu lời ru khi nói đến nhạc dân gian Thơ và nhạc của Trịnh Công Sơn đã lấy cội nguồn từ chất liệu dân gian,

từ trong tinh hoa của văn học dân gian, văn hóa dân gian, “dệt” cho đời những

khúc ca thấm đậm bản sắc của người Việt, những khúc hát ru ngọt ngào yêu thương bậc nhất

Trang 15

1.2 Cơ sở của chất liệu dân gian trong các ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

* Quê hương

Cuộc đời Trịnh Công Sơn trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, chế độ cũng như giai đoạn sáng tác Ông lớn lên tại Huế Lúc nhỏ ông học theo học các trường Lyceè Francais và Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lyceé J.J Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây[56] Những năm tháng tuổi thơ gắn bó với quê hương Thừa Thiên Huế, được sống trong cái thơ mộng, bâng khuâng của sông Hương núi Ngự, nặng nghĩa tình của câu hò, điệu hát - múa cung đình, có lẽ vậy mà dù sống ở đâu Trịnh Công Sơn vẫn dâng trào cảm xúc khi nghe hát dân ca Xứ Huế sâu nặng Đó là chất xúc tác để những nỗi nhớ, niềm thương luôn ẩn sâu nơi đáy lòng của những người con xa quê được bộc bạch chân tình, da diết trong những ca khúc

Nghe nhạc Trịnh Công Sơn, ta thường gặp hình ảnh mái tóc của những

cô gái Huế:“tuổi nào lang thang thành phố tóc mây cài ” hoặc “gió heo may

đã về, chiều tím loang vỉa hè, và gió hôn tóc thề ” Đây chắc chắn là hình

ảnh Huế, bởi hai chữ “tóc thề” là tiếng Huế Tóc thề xứ Huế, đã được Trịnh Công Sơn ví von bằng nhiều hình ảnh như “mây”, “sông dài”, “dòng nước

hiền”, “mùa xanh lá, loài sâu ngủ quên trong tóc chiều” bởi chính họ Trịnh

đã nói: “ Có những cách nhìn và lòng đam mê không giống nhau Và làm

sao có thể giống nhau được khi bản chất của nghệ thuật là một đòi hỏi miên man cái muôn hình vạn trạng ” Song hình ảnh đẹp nhất, lãng mạn nhất về

tóc thề, được tác giả mô tả như quay lại một đoạn phim chậm là “tóc em từng

sợi nhỏ, rớt xuống đời làm sóng lênh đênh ”

* Gia đình

Ông lớn lên tại Huế, khi cha mất, Trịnh Công Sơn, anh cả của gia đình

họ Trịnh mới chỉ 14 tuổi Người mẹ trẻ chia đều tình thương cho tất cả 8 đứa

Trang 16

con nhưng bà chăm sóc nhiều hơn người em trai kế của Sơn: Trịnh Quang Hà

vì Hà thể chất, tinh thần yếu nhất trong anh em Trịnh Công Sơn còn đi học, chưa hé lộ tài năng nhưng đã lấp loé năng khiếu âm nhạc, anh đã biết chơi đàn

từ tuổi thiếu niên Khung cảnh Huế nuôi nấng thêm cho tâm hồn anh sự nhạy cảm và mơ mộng Người mẹ trẻ lo toan cơm áo nuôi con bằng cửa hiệu bán

phụ tùng xe đạp, xe gắn máy có bảng hiệu “Thanh Tâm" ở Huế Khi Trịnh

Công Sơn rời Huế, Quy Nhơn vào Sài Gòn học, bà kết hợp những chuyến vào mua hàng đến thăm con trai lớn Những lần như thế, bà gặp gỡ con và bạn bè cùng học với Sơn, cuộc trò chuyện cũng giống như thời Sơn còn bé, bà đọc

thơ của bà làm, lảy Kiều (vịnh, phú) cho con trai nghe Giai điệu Huế, tâm

hồn Huế, thi ca đã đến với Sơn trước khi âm nhạc đến và sau này, khi có những người bạn trí thức như Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường … người ta sẽ không ngạc nhiên khi ca từ trong ca khúc của Trịnh Công Sơn đẹp như những vần thơ Đúng hơn, đây cũng chính là những bài thơ [45,tr.27]

Trịnh Công Sơn yêu mẹ, sùng bái mẹ cũng thật dễ hiểu Khi lớn lên Trịnh Công Sơn ngày càng hiểu rõ sự yêu thương, đức hy sinh của mẹ dành cho con cái và đặc biệt là ông Nhiều bóng dáng giai nhân, nhiều người phụ

nữ đến rồi đi qua cuộc đời Trịnh Công Sơn, có nhiều người để lại dấu ân

không mai mờ trong nhiều ca khúc danh tiếng như: Diễm xưa, Biển nhớ, Xin trả nợ người, Bông bồng ơi … nhưng cuối cùng, con người tài hoa ấy vẫn

quay trở về nằm bên mẹ của mình Những anh chị em khác của Trịnh Công Sơn đều đã có gia đình, có con cái Trịnh Công Sơn dường như đã nhường hạnh phúc ấy cho các em mình, ông dành cả cuộc đời cho âm nhạc, cho sáng tạo và tìm về với mẹ như trẻ thơ sau cuộc trả nợ tử sinh, cho tất cả thân phận cuộc đời

Trang 17

* Thời đại

Trịnh Công Sơn sống trong một thời đại đầy biến động, đã tác động ảnh hưởng đến những sáng tác của ông Trịnh Công Sơn chứng kiến những giai đoạn lịch sử đất nước, chế độ xã hội cũng như thời kỳ văn học nghệ thuật khác nhau Vì lời lẽ đó mà trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền miền Nam đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông Ngay cả Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, vốn đối lập, cũng

không tán thành việc ông gọi chiến tranh Việt Nam là "nội chiến" trong bài

Gia tài của mẹ, vì quan điểm của họ cho rằng đây là cuộc chiến tranh chống

xâm lược và thống nhất đất nước Tuy nhiên, nhiều bài hát của ông lại rất thịnh hành trong công chúng cho đến hôm nay

Năm 1957, khi 18 tuổi, ông bị một tai nạn, khi đang tập Judo với người

em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế Thời gian nằm bệnh, ông đọc nhiều sách về triết học, văn học,

tìm hiểu dân ca Ông từng thổ lộ: “Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có

một niềm đam mê khác - âm nhạc Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy” [45,tr.12]

Năm 1961 vì bắt buộc phải trốn lính nên ông thi và theo học ngành Tâm

lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên đài truyền thanh Sài Gòn hát bài

“Nối vòng tay lớn”, bài hát nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc

mà ông viết từ năm 1968

Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại Hội âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc Từ thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, và có viết một số bài có nội dung ca ngợi

chế độ mới như: Thành phố mùa xuân, Em ở nông trường em ra biên giới,

Trang 18

Huyền thoại Mẹ Sau đất nước hoàn toàn giải phóng, bộ văn hóa lới lỏng

quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị [45,tr.13]

Ngoài âm nhạc, tác phẩm của ông còn gồm nhiều thể loại thuộc các lãnh vực như thơ, văn và hội họa Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu rộng rãi tại Việt Nam Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong liên hoan phim Á Mỹ năm 1996 [45, tr.15]

Trịnh Công Sơn bị bệnh gan, thận và tiểu đường Ông mất tại thành phố

Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường vào ngày mà không ai cho là thật 1- 4 - 2001 Con người Trịnh Công Sơn hiện lên rõ nét hơn qua những nhận xét của những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ về ông:

1 Nhạc sĩ Frank Gerke

“Nhạc anh Sơn rất đặc biệt Bài nào cũng chỉ phất phơ có mấy nét thôi,

cứ như là nhạc của trẻ con ấy Nhưng nghe là nhớ ngay Trịnh Công Sơn đã đạt được đến độ cao nhất của nghệ thuật Đó là sự giản dị Người hát hay nhất nhạc Trịnh chính là Trịnh Công Sơn Sau Trịnh mới đến Khánh Ly Sau Khánh Ly là không còn ai nữa Hồng Nhung chỉ hát tàm tạm được một đôi bài )

Mặc dù nhạc Cách mạng của các anh rất hay Hầu như bài nào cũng hay Khoẻ khoắn, hùng tráng Nhưng đó là nhạc hội hè, nhạc vui Nhạc cho tất cả mọi người Hầu hết nhạc sĩ các anh đều viết cho đám đông Người ta hát khi vui, hát ở chỗ đông người Còn nhạc anh Sơn là nhạc chỉ dành cho một người Khi nào buồn, khi nào cô đơn đến tuyệt vọng mà không còn biết bấu víu vào đâu nữa, người ta tìm về với Trịnh Trịnh sẽ đón họ, nâng đỡ an

ủi họ Vì thế, tôi mới bảo Trịnh Công Sơn là một nửa âm nhạc Việt Nam [56]

Trang 19

2 Nhà thơ Trần Đăng Khoa

“Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ có nhiều người hâm mộ nhất Đi đến đâu, tôi cũng thấy người ta hát ca khúc của anh Nhạc Trịnh không chỉ ngự trị khắp mọi xó xỉnh của xứ Việt này mà còn len lỏi đến tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất trong cõi tinh thần của người Việt ở Hải ngoại Dường như ở đâu, Trịnh Công Sơn cũng có người yêu mến”[56]

3 Nhạc sĩ Phạm Duy

“Tình yêu trong nhạc của anh là những cảm xúc dữ dội như trái phá con tim mù loà, như nỗi chết cơn đau thật dài, như vết thương mở rộng Cuộc đời là hư vô chủ nghĩa, con người sống trong cảnh Chúa, Phật bỏ loài người Cuộc đời còn là đám đông nhưng cũng là quán không Con người là cát bụi mệt nhoài, bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi Tất cả nói lên sự muộn phiền, đau đớn ”

“Nhạc thần thoại quê hương, nhạc tình yêu và thân phận con người của Trịnh Công Sơn có một tư tưởng chỉ đạo khá rõ, dù toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức họa trừu tượng hơn là tả thực Cả nhạc lẫn lời, cả xác chữ lẫn hồn thơ, nghe bảng lảng, mơ hồ khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng nếu nghe kỹ cũng tìm ra ý chính: Trịnh Công Sơn muốn nói lên nỗi đau con người trong cuộc sống hiện đại, có tình yêu, có chiến tranh, có hận thù, có cái chết dễ dàng như chết trong mơ Anh ca tụng tình yêu và cũng như bất cứ nghệ sĩ nào ở trên đời này anh chống bạo lực và chống chiến tranh”[56]

4 Nhạc sĩ Văn Cao

Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương tây Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó

trào ra Nói như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người bạn già của tôi, "Trịnh Công

Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra" „Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn

có lẽ là ở chính chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới Với những lời, ý đẹp và độc

Trang 20

đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân

ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà ở cả ngoài biên giới nữa ” [56]

5 Trịnh Công Sơn tự bộc bạch

Ông từng chia sẻ: “Mỗi bài hát của tôi là một lời tỏ tình với cuộc sống,

một nhắn nhủ thầm kín về những tuyệt vọng và cũng là nỗi lòng tiếc nuối không nguôi đối với buổi chia lìa cùng mặt đất mà tôi đã một thời gian sẻ những buồn vui với mọi người”

“Tôi đến với âm nhạc có lẽ cũng vì tình yêu cuộc sống Một phần cũng

do một khúc quanh nào đó của số phận.”

Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi tiếng nhưng đời đã tặng cho tôi món quà ấy thì tôi không thể không nhận Và khi đã nhận rồi thì mình phải có trách nhiệm đối với mọi người Vì thế tôi đã

cố gắng làm thế nào để có thể trong những bài hát của mình chuyên chở được một thông điệp của lòng nhân ái đến với mọi người” [56]

Chúng ta thấy những nhận xét đánh giá của các nhạc sĩ nhà văn đều coi Trịnh Công Sơn là một nhà thơ, một nhà thơ luôn đến với nỗi buồn, vui con người, âm nhạc của ông len lỏi đến tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất trong cõi tinh thần của người Việt bằng chính cội nguồn văn hóa dân tộc

1.3 Ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn được dệt lên từ chất liệu dân gian

* Khái niệm ca từ

Ca từ là phần lời của bài hát, khi tách biệt phần nhạc điệu của một bài hát ta có một tác phẩm nghệ thuật được viết như một bài thơ, bài văn [1,tr.3] Nếu tách riêng phần nhạc và phần lời của các ca khúc của Trịnh Công Sơn, bao giờ cũng có khả năng tồn tại độc lập bằng đời sống riêng của chúng, nhưng khi được kết hợp lại với nhau chúng dễ có cơ hội để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật sống mãi với thời gian Ở đây, chúng tôi tạm gác lại phần

Trang 21

giai điệu, mà chỉ bàn phần ca từ của các ca khúc bất hủ viết về thân phận của Trịnh Công Sơn

Những người hâm mộ, mến yêu nhạc Trịnh thường rất hài lòng với cả giai điệu và cả phần lời của ca khúc Lời của bài hát, đấy là phần ca từ Ca từ trong nhạc Trịnh: Đẹp, ngân nga, uyển chuyển, nhịp nhàng, sâu lắng và trữ

tình như thơ Vì vậy có thể khẳng định rằng rằng Trịnh Công Sơn đã “hát

thơ” Quả thật, lời của nhạc Trịnh đậm đà chất thơ Rất nhiều phần ca từ trong

ca khúc của Trịnh là một bài thơ trọn vẹn Hoàn toàn có thể tuyển chọn trong

ca khúc của Trịnh Công Sơn để xuất bản thành tập thơ thuần túy

Trong luận văn này, chúng tôi dành sự chú tâm của mình vào phần ca từ

mà Trịnh Công Sơn đã sáng tạo Những ca từ đẹp về ngôn từ, hay về ý nghĩa, được ông lấy từ chính chất liệu dân gian Đó là cơ sở, là ngọn nguồn sâu xa,

có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tạo lên nét riêng trong ca từ nhạc Trịnh

* Những đặc điểm nổi bật của chất liệu dân gian trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn

Thực tế rất khó lòng tách bạch giữa thơ và nhạc trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn Nhạc và thơ Trịnh hòa quyện vào nhau, nương tựa vào nhau tạo nên những nhạc phẩm đã, đang và sẽ làm say mê hàng triệu triệu trái tim qua bao thế hệ Trong đó phải nói phần ca từ đóng một vai trò hết sức quan trọng Trong số 600 ca khúc mà Trịnh Công Sơn để lại, có gần 400 ca khúc là nhạc tình Ca từ của Trịnh Công Sơn lời đẹp, ý sâu, âm điệu nhẹ

nhàng, êm ái Ông viết lời một cách dễ dàng, tự nhiên “như lấy chữ từ trong

túi ra” (cách nói của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát) [57] Tôi có cảm tưởng

Trịnh Công Sơn viết nhạc không khác gì Nguyễn Bính làm thơ “Đây là

những tài năng thiên phú” Những người như thế, phong cách hình thành rất

sớm và nó chi phối gần như suốt cả cuộc đời sáng tác của họ Thực ra, số lượng từ mà Trịnh Công Sơn sử dụng không lớn và có một số từ được anh dùng đi dùng lại khá nhiều lần

Trang 22

Một nét riêng nữa rất dễ nhận thấy là nhịp điệu trong các ca từ của Trịnh Công Sơn Nhịp điệu trong ca từ là yếu tố vô cùng quan trọng làm nên nhạc điệu của ca khúc Các nhà thơ, các nhạc sĩ tài năng đều có các kiểu ngắt nhịp riêng phù hợp với nhịp điệu của cảm xúc Trịnh Công Sơn cũng có rất nhiều

kiểu ngắt nhịp Ở bài Cát bụi chủ yếu là nhịp 3 - 4: Bao nhiêu năm - làm kiếp

con người/ Chợt một chiều - tóc trắng như vôi Tạo nên nét nhạc trầm lắng,

suy tư Bài Tình nhớ ngắt theo nhịp 3 - 2: Một người về - đỉnh cao/ Một người

về - vực sâu Tạo nên nét nhạc đứt đoạn như sự chia lìa Nhưng kiểu ngắt

nhịp đôi (2 - 2) mới là kiểu ngắt nhịp phổ biến trong ca từ Trịnh Công Sơn Chính kiểu ngắt nhịp này góp phần làm nên nhạc điệu chủ đạo trong gần một

phần ba tình khúc của ông Chẳng hạn như: Ngày mai - em đi - đồi núi -

nghiêng nghiêng - đợi chờ/ Sỏi đá - trông em - từng giờ Nghe buồn - nhịp

chân - bơ vơ (Biển nhớ); Mưa vẫn - mưa bay - trên hàng - lá nhỏ/ Buổi chiều - ngồi ngóng - những chuyến - mưa qua (Diễm xưa); Gọi nắng - trên vai - em gầy/ Đường xa - áo bay (Hạ Trắng); Con chim - ở đậu - cành tr/ Con cá - ở trọ - trong khe - nước nguồn (Ở trọ) Cảm giác nhẹ nhàng, êm

dịu của nhạc Trịnh Công Sơn phải chăng một phần là do kiểu ngắt nhịp khá phổ biến này

Vần cũng là một yếu tố quan trọng của cả thơ lẫn nhạc Trịnh Công Sơn gieo vần hết sức linh hoạt và sáng tạo Nhạc Trịnh dễ nhớ, dễ hát một phần cũng do lối gieo vần của tác giả Cũng như nhà thơ Nguyễn Bính, Trịnh Công Sơn gieo vần theo thể thơ lục bát của dân tộc một cách tự nhiên, không hề gò

ép Trịnh Công Sơn có nhiều cách gieo vần nhưng cách gieo vần được ông sử

dụng nhiều nhất trong ca từ của anh là cách gieo vần “chân” (các từ hiệp vần

đều nằm cuối câu) và thường liền với nhau từng nhóm ba câu một vần Cách gieo vần này cũng góp phần tạo nên âm điệu riêng của nhạc Trịnh Công Sơn

Chẳng hạn như: Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ/ Sỏi đá trông em từng giờ/

Trang 23

tủi hờn Nghe ngoài trời giăng mây tuôn (Biển nhớ); Gió heo may đã về/ Chiều tím loang vỉa hè/ Và gió hôn tóc thề (Nhìn những mùa thu đi); Gọi

nắng trên vai em gầy/ Đường xa áo bay/ Nắng qua mắt buồn/ lòng hoa bướm

say/ Lối em đi về trời không có mây (Hạ trắng); Màu nắng hay là màu mắt

em/ Mùa thu mưa bay cho tay mềm/ Chiều nghiêng nghiêng bóng qua

thềm (Nắng thủy tinh); Biển sóng - biển sóng - đừng xô nhau/ Ta xô - biển lại - sóng về đâu/ Sóng bạc đầu - và núi - chìm sâu (Sóng về đâu)

Một trong những yếu tố làm cho ca từ của Trịnh Công Sơn đẹp, giàu hình ảnh, giàu ý nghĩa, gây ấn tượng khó quên đối với người nghe là cách thức sử dụng các biện pháp tu từ Nghe và đọc gần 300 tình khúc của Trịnh Công Sơn, tôi nhận thấy biện pháp tu từ mà nhạc sĩ sử dụng khá nhiều là biện pháp so sánh Nhạc sĩ có một số so sánh hết sức bất ngờ, gây ấn tượng mạnh

Có lẽ chỉ Trịnh Công Sơn mới so sánh: Tình yêu như trái phá/ Con tim mù

lòa; Tình yêu như vết cháy trên da thịt người; Buồn như giọt máu Đối tượng

được đưa ra so sánh chủ yếu là những hiện tượng thiên nhiên, gần gũi với đời

sống hàng ngày Chẳng hạn như: Tình yêu như biển, biển rộng hai va/ Tình

yêu như biển, biển hẹp tay người Lạc lối (Lặng lẽ nơi này) Đây là cách so

sánh mà không phải ai cũng hiểu Tình yêu như biển thì quá rõ nhưng vì sao

biển rộng hai vai? Điều này làm cho ca từ của Trịnh có những “nét nhòe”,

kích thích trí tò mò của người nghe Nhưng cách so sánh hơi khó hiểu ấy không nhiều Phần lớn Trịnh Công Sơn chọn cách so sánh tương đối dễ hiểu,

dễ nhớ Chẳng hạn như: "Bao nhiêu năm làm kiếp con người/ Chợt một chiều

tóc trắng như vôi" (Cát bụi); Một người về đỉnh cao/ Một người về vực sâu/

Để cuộc tình chìm mau/ Như bóng chim cuối đèo (Tình nhớ); Trời còn làm

mây, mây trôi lang thang/ Sợi tóc em buồn, trôi nhanh, trôi nhanh/ như dòng

nước hiền Tuổi buồn như lá/ Gió mãi cuốn đi/ Quay tận cuối trời… (Tuổi

đá buồn); Cuộc tình lên cao vút/ Như chim mỏi cánh rồi/ Như chim xa lìa

bầy/ Như chim xa lìa trờ/ Nnhư chim bỏ đường bay (Tình sầu) Người bình

thường chỉ có thể so sánh “như chim mỏi cánh rồi” là hết, nhưng Trịnh Công

Trang 24

Sơn có thể so sánh liên tục mà lại hết sức dễ dàng như lấy “từ trong túi ra”

Muốn so sánh dễ dàng như vậy phải có óc liên tưởng phong phú và nhạy bén Với Trịnh, thiên nhiên là người bạn thân thiết sẵn sàng trở thành chất liệu giúp nhạc sĩ thể hiện ý tưởng, tình cảm của mình Thiên nhiên không chỉ trở thành đối tượng để so sánh mà còn biến thành hình ảnh ẩn dụ, nhân hóa trong những tình khúc của Trịnh Nghe nhạc Trịnh, ta bắt gặp rất nhiều các hình

ảnh: Con chim ở đậu, con cá ở trọ; chợt buồn trong mắt nai; đồi núi nghiêng

nghiêng đợi chờ; sỏi đá trông em từng giờ

* Tiểu kết

Chất liệu dân gian càng trở lên đậm nét hơn khi những khúc ru được cất lên, cứ ngân nga, cứ du dương như lời ru của mẹ chan chứa trong ca khúc của Trịnh Công Sơn Có khi là lời ru của mẹ của bà nhưng có khi là lời ru của em, lời du của anh cho em, của con cho mẹ, cho chính thân phận kiếp người của ông Trịnh tìm thấy sự bình yên trong tiếng ru, những du khúc ông viết đã an

ủi cho bản thân ông khi ông không nên duyên với ai, cũng là lời an ủi cho thế

hệ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ru chính ông, ru tình, ru đời

Một số đặc điểm về cách ghép từ, ngắt nhịp, gieo vần, biện pháp so sánh đã góp phần làm cho nhạc Trịnh Công Sơn tưởng chừng như không giống ai nhưng lại vô cùng giản dị mà không đơn điệu, quen thuộc mà vẫn mới lạ, triết lý mà chứa chan tình cảm Và đặc biệt ca từ của ông lại rất đậm

chất dân gian, chúng ta thấy rõ ràng trong ca từ của ông tuy “ma mị” nhưng

lại rất đời thường rất gần gũi như những hình ảnh thân quen của đời sống từ

hòn đá cho đến Đóa hoa vô thường

Cách Trịnh Công Sơn lựa chọn từ ngữ cho đến cách gieo vần đều rất

“thơ” và đều được lấy từ trong thơ truyền thống của dân tộc như thể Lục bát,

thơ bốn chữ (đồng dao), và những biến thể trong ca dao tục ngữ Trịnh Công

Sơn đã thổi vào trong nhạc của ông những âm hưởng thi pháp văn học dân gian

Trang 25

CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN CHẤT LIỆU DÂN GIAN TRONG CA TỪ CỦA NHẠC SĨ

TRỊNH CÔNG SƠN NHỮNG CA KHÚC VIẾT VỀ THÂN PHẬN

Trong kho tàng văn học Việt Nam, văn học dân gian là sự kết tinh quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhân dân qua nhiều thế hệ Những tác phẩm còn lưu truyền đến hôm nay đã được sàng lọc qua thời gian, bởi vậy chúng có giá trị về nhiều mặt Văn học dân gian không chỉ bồi đắp cho tâm hồn muôn triệu con người Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng vô tận đối với các nhà

thơ, nhà văn, giúp các nhà thơ, các nhạc sĩ “chắp cánh” cho thơ, học tập văn

học dân gian ở đây được hiểu là sự tiếp nối, kế thừa một cách sáng tạo những

vẻ đẹp của văn học dân gian Các tác giả không sao chép một cách vụng về thành tựu của văn học dân gian mà luôn sáng tạo Sự học ấy không chỉ giản đơn, thoáng chốc trong ngày một, ngày hai mà là cả một quá trình lâu dài, bền

bỉ Những truyện cổ tích, những áng ca dao cứ day dứt trong tâm hồn nghệ sĩ

để rồi hồn văn, hồn thơ dân gian tự nhiên chuyển hoá vào văn học viết chứ không phải là một sự bắt chước sống sượng, vô hồn

Các nhà văn học được học cách sáng tạo những hình tượng nghệ thuật hoàn hảo, học được nghệ thuật tự sự (cách kể chuyện) hấp dẫn học được cách

hư cấu và những yếu tố tưởng tượng phong phú đa dạng, học cách xây dựng nhân vật, xây dựng không khí truyện huyền ảo, thần bí, cách kết thúc truyện

có hậu trong các truyện cổ tích Nhà văn, nhà thơ cách xây dựng các hình tượng về người anh hùng và lối miêu tả những biến cố lịch sử mang tính cộng đồng trong sử thi, và cách nói hài hước, dí dỏm mà sâu sắc trong truyện cười dân gian giúp nhà văn nhà thơ giáo dục sâu sắc của dân gian qua những câu chuyện ngụ ngôn

Trang 26

Các nhà thơ học được những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của ca dao (cách gieo vần, việc sử dụng các thể thơ, hình ảnh, ngôn ngữ đậm màu sắc dân tộc; các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, ngoa dụ ) để thơ trở nên ngắn gọn, hàm súc, trong sáng, tinh tế và gợi cảm, dễ đi vào lòng người Học được cách nói hàm súc, vần vè, dễ nhớ, dễ thuộc của tục ngữ, câu đố, hò, vè Các tác phẩm văn học dân gian cứ thế, phả hồn mình trong những sáng tác của các nhà văn, nhà thơ hiện đại Sự học tập tinh hoa của văn học dân gian là

để làm đẹp, làm giàu cho các sáng tác của văn học viết Đây là một quá trình bền bỉ của nhiều nhà nghệ sĩ ở nhiều nền văn học thế giới

Văn học dân gian là kho tàng trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ của nhân dân lao động Văn học dân gian như một dòng sông muôn đời bồi đắp cho con người sáng tạo Nhà văn, nhà thơ đã phải biết khai thác và tiếp thu có sáng tạo những thành tựu của văn học dân gian Những nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc phần nhiều đều là những người biết tìm về truyền thống văn học dân gian

để tiếp thu và sáng tạo, làm cho tác phẩm của mình đậm đà tính dân tộc, tính nhân dân Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng như các nhà văn, nhà thơ khác đã học được nhiều điều từ truyện cổ, ca dao, từ những lời ru ngọt ngào êm ái của bà của mẹ Ông đã gom tất cả những giá trị thuộc về văn hóa dân gian vào trong

ca khúc của mình, chắp cánh cho thơ ông “bay lên” hòa vào cõi đời

2.1 Tư duy huyền thoại trong ca khúc của Trịnh Công Sơn

Nguồn sữa “Mẹ dân gian” đã mang đến Thơ - Nhạc của Trịnh Công Sơn

tư duy huyền thoại, những hình ảnh chất chứa vẻ đẹp đời sống dân gian Từ

nguồn “sữa mẹ dân gian” đã âm thầm lắng đọng trong những hồn thơ, lời

nhạc của Trịnh để cất lên những lời ru ngọt ngào du dương nhất, êm ái nhất, sâu lắng nhất, trầm ngâm nhất, bay bổng nhất Những tư duy huyền thoại cùng sắc mầu của ca dao, đồng dao, tục ngữ tất cả đều hiện hữu trong lời thơ nốt nhạc của người nghệ sĩ tài hoa đa tình Trịnh Công Sơn

Trang 27

2.1.1 Khái niệm huyền thoại

Theo cách nói thông thường, từ “huyền thoại” (Myth trong thiếng Anh,

mythe trong thiếng Pháp, миф trong tiếng Nga…)[39] thường được dùng như

một từ đồng nghĩa với từ “sai lầm”, “sai lạc” hoặc “ảo tưởng” (Niềm tin sai

lạc) Nhà triết học Hi Lạp cổ đại Platon cũng đã từng có thái độ phủ nhận huyền thoại vì cho rằng huyền thoại làm cho con người lạc lối, lầm đường Theo cách hiểu như thế về huyền thoại thì để mô tả, để chỉ rõ một nhận định, một điều hiểu biết, một sự khẳng định nào đó là sai, là không đúng như sự

thật, người ta thường phát biểu: “Đó chỉ là một huyền thoại!” Cũng theo cách

hiểu như thế, để diễn tả việc xoá bỏ, việc hoá giải điều sai lầm để tìm ra sự thật đích thực, người ta cũng thường dùng một khái niệm phát sinh từ khái

niệm “huyền thoại” là “giải huyền thoại” [36]

* Tư duy huyền thoại trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn

Huyền thoại là một kiểu tư duy đặc trưng của tư duy nguyên thủy Tư duy huyền thoại được in dấu đậm nét trong văn học dân gian qua những thể loại: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cố tích nhưng đậm đặc nhất là ở thần thoại Thần thoại là nguyên lí niềm tin có thật Tư duy huyền thoại khiến con người nhìn thế giới như một thực thể thực ảo trộn lẫn, thế giới được bao bọc trong một không khí huyền ảo với những vật thần kì, siêu nhiên Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, nguyên lí niềm tin ấy đã trở thành lớp trầm tích của thời một đi không trở lại Nhưng đi theo dòng thời gian, tư duy huyền thoại ấy không hề mất đi, nó được hồi sinh trong một dạng thức mới có

sự dung hợp với tư duy hiện đại Các nhà văn, nhà thơ đã lựa chọn huyền thoại như một phương thức nghệ thuật để thể hiện những vấn đề nhân sinh thế

sự của thời hiện đại Trong thế giới hiện sinh có biết bao những vấn đề không thể lí giải bằng khoa học, có biết bao những bức xúc, những phi lí, con người rơi vào vòng hoài nghi, bế tắc có khi không thể tìm được lối thoát Người nghệ sĩ phải tìm tới huyền thoại, tư duy huyền thoại để giải tỏa những uẩn ức,

Trang 28

biểu hiện những khát khao tìm đường, cách trở về nguồn là một cách để tìm con đường mới và để nhìn thế giới theo một chiều kích khác

Đến với những ca khúc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ta sẽ nhận thấy dấu ấn của tư duy này khá rõ nét Tác giả đã tạo dựng lên một thế giới có sự hòa trộn

giữa cái thực và cái ảo mà nói như Thụy Khuê đó là một “sa mạc Trịnh Công

Sơn lung linh giữa mơ và thực” [55]

Ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn quả thật vô cùng đa đạng Trong các ca khúc, ta có thể tìm thấy nào là bò, gà, ngựa, vạc, côn trùng, chim chóc, cây

cỏ, bào thai, lăng, miếu Không ít người thắc mắc, không biết “cây cơm

nguội” như thế nào, hay loài “sâm cầm” hình dáng ra sao?

Những ai đã từng cảm nhận được mùa thu Hà Nội, sẽ hiểu ý nghĩa của

những ca từ ấy (Sâm cầm là một loài chim quý hiếm chuyên ăn sâm Thời

nhà Nguyễn, làng Nghi Tàm phải đóng thuế hàng năm cho triều đình bằng loại chim này Lúc Bà Huyện Thanh Quan được triệu vào dạy học trong cung đình đã xin nhà vua cho giảm loại thuế đó vì ngày càng khó tìm cho đủ số)

[49, tr.28]

Trái lại, có những ca từ rất đặc biệt, mà nếu không hiểu rất dễ hát nhầm

làm sai nghĩa một cách trầm trọng Chẳng hạn “làm sao em nhớ những vết

chim di ” (Diễm xưa) chứ không phải là chim đi Hay “rọi suốt trăm năm chứ không phải là rọi xuống trăm năm” (Một cõi đi về) Hoặc con “tinh” yêu

thương mà hát sai thành con “tim” yêu thương, trường hợp đó thì dù có dễ dãi

đến mấy, chắc chắn tác giả cũng không thể nào chấp nhận được Từ ngữ sử dụng là những chữ bình thường, không cầu kỳ, lạ lẫm, nhưng lại được dùng

một cách rất … Trịnh Công Sơn: “Em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh” (Tôi ơi đừng tuyệt vọng)

“ Xin đứng yên trong chiều, phơi tình cho nắng khô mau, xin đứng yên

trong chiều, treo tình trên chiếc đinh không” (Tình xót xa vừa): “ Lá hát như

Trang 29

phá, con tim mù lòa” (Tình sầu) Nguyễn Du trong Đoạn trường Tân thanh

có câu: "Nào người phượng chạ loan chung/ Nào người tích lục tham hồng là

ai” Chữ lục và hồng để chỉ những người phụ nữ Trong “Rơi lệ ru người”,

một cách tình cờ Trịnh Công Sơn cũng dùng những chữ sen xanh, sen hồng

để chỉ những thiếu nữ xinh đẹp: “Bao nhiêu sen xanh, sen hồng, với dòng

sông, hay anh em và những phố phường Hay: Ngày xưa khi còn bé, tôi mơ có

cuộc tình, như mơ ước được gần với những nụ hồng” (Ngày nay không còn

bé) Trong nhạc Trịnh Công Sơn, ca từ chiếm một địa vị rất quan trọng Nếu

người nghe không hiểu rõ lời, người nghe không thể nào hiểu thấu ý nghĩa của ca khúc Ca sĩ Khánh Ly thành công với ca khúc Trịnh Công Sơn không chỉ nhờ giọng ca đặc biệt mà còn nhờ cách nhả chữ rõ ràng làm cho người nghe dễ hiểu những ca từ

Ngoài hình ảnh phong phú, ca từ Trịnh Công Sơn còn mang nhiều tính

ẩn dụ đôi khi làm người nghe khó hiểu, mà chính tác giả cũng không thể nào giải thích một cách đơn giản những suy nghĩ của mình đã chuyển tải sang ngôn ngữ âm nhạc (Tương tự như một họa sĩ vẽ tranh trừu tượng đôi khi cũng khó thể giải thích những ý tưởng rất… trừu tượng của mình thể hiện trên tác

phẩm hội họa) Chẳng hạn “Hòn đá lăn trên đồi, hòn đá rớt xuống cành mai,

rụng cánh hoa mai gầy, chim chóc hót tiếng sau cùng” Quả đúng là “Tự

mình biết riêng mình, và ta biết riêng ta” (Ngẫu nhiên) Tuy nhiên lại có

trường hợp, chỉ cần một câu trong ca khúc nào đó đủ tác động sâu sắc khiến người nghe suốt đời không thể quên Nhà văn Bảo Ý, bạn của Trịnh Công

Sơn, đã từng nói: “Sau khi nghe câu Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ,

chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà” (Một cõi đi về), "thì tôi cảm thấy không

còn sợ cái chết xưa nay vẫn thường ám ảnh mình” Những lời thơ như của

một thuở huyền thoại đi về trong cõi thực của Trịnh [77]

Ca từ Trịnh Công Sơn được mệnh danh là “lời của phù thủy” Do đó,

việc hiểu đúng, hát đúng ca từ nhạc Trịnh là hết sức quan trọng, nếu không là

Trang 30

“sai một ly đi một dặm” Trong nhạc Trịnh, ta bắt gặp nhiều hình ảnh, biểu

tượng như: chim di, dạ lan, loài sâu, mặt trời… cũng như nhiều cảm xúc đã

được mã hóa “Thư tình gửi một người” đã giải mã những hình ảnh, biểu

tượng, những cảm xúc này, giúp người thưởng thức có những khám phá mới

và thú vị về thế giới nghệ thuật của Trịnh Công Sơn

Hình ảnh “dạ lan” được nhắc tới trong ca khúc “Dấu chân địa

đàng”: “Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng” Ca khúc này còn có tên

là Tiếng hát dạ lan Nhà Dao Ánh (cách nhà Trịnh Công Sơn một cây cầu là

cầu Phú Cam) trồng nhiều hoa dạ lan và loài hoa này không chỉ thơm ngát trong vườn nhà Dao Ánh mà còn lừng hương trong nhạc Trịnh và trong nhiều

bức thư tình tha thiết, da diết của Trịnh Công Sơn gửi Dao Ánh: “Dạ lan giờ

này chắc đã ngạt ngào cả một vùng tối đó rồi, đã cài lên từng sợi tóc của

Ánh” (Thư Blao, 31.12.1964), “Anh ao ước bây giờ mở cửa ra bỗng dưng có

chiếc cầu bắc qua dòng sông và anh bước qua cầu rồi rẽ về phía tay phải đi đến căn nhà có mùi thơm dạ lan và đứng đó gọi tên Ánh thật thầm để chỉ vừa

đủ Ánh nghe” (Thư Blao, 26.9.1965) Dĩ nhiên, “dạ lan” trong vùng kỷ niệm

của Trịnh Công Sơn cũng như trong nhạc Trịnh không đơn thuần để chỉ một loài hoa đáng yêu mà còn là biểu tượng, là hiện thân của vẻ đẹp và tình yêu thầm kín,

thanh tao, thắm thiết của Dao Ánh, là biểu tượng, là hiện thân của cõi “địa

đàng”, cõi “Thiên Thai”, cõi mơ ước hạnh phúc bất tuyệt muôn đời của nhân

loại: “Mưa đã trở về cùng với đêm Như một ngày nào Ánh rời xa anh để trở về

với nếp sống bình thường, ở đó Ánh đi trên lối đi quen thuộc của những người

đã đi trước mà không cần phải nhìn những bảng số hai bên đường Sẽ bình thường và thản nhiên quên đã một lần dẫm chân qua một vực - thẳm địa đàng

mà anh đã linh cảm trước từ lâu, như “địa đàng còn in dấu chân bước quên” của một thời anh đã âm thầm nghĩ rằng biết đâu Ánh không lớn lên từ

một loài dạ lan nào đó” (Thư Blao, 27.10.1964), “Bây giờ là tiếng nói đêm của

Trang 31

Cũng trong ca khúc Dấu chân địa đàng, bên cạnh hình ảnh “dạ lan” là

hình ảnh “loài sâu” được nhắc đi nhắc lại với nhiều trạng thái như ngủ: “Mùa

xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”, ca hát: “Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng”, giải thoát ưu phiền: “Rồi từ đó loài sâu nửa đêm quên

đi ưu phiền” Loài sâu này chính là một phiên bản khác của phận người, ôm

chứa những buồn vui của nhân sinh, điều này càng được thấy rõ hơn trong

những bức thư của Trịnh Công Sơn gửi Dao Ánh: “Ngôn ngữ đã mất đi với

những ngày nằm co như một loài - sâu - chiếu ở Blao” (Thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Ở đây cũng có loài sâu đất reo đêm” (Thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Đêm sáng mờ bên ngoài Sâu đất reo rất trong ở bãi cỏ” (Thư Blao, 23.10.1964), “Đêm đã

lạnh và đã buồn Cây cỏ lao xao Anh chỉ còn nghe rõ tiếng sâu đất và tiếng

dế reo… ” (Thư Blao, 29.12.1964), “Đêm rất dày đen Sâu đất của núi rừng cũng đã reo lên âm thanh rất nhọn” (Thư Blao, 23.9.1965) Hình ảnh “loài

sâu” này không xuất hiện trở lại ở những ca khúc khác của Trịnh Công Sơn

nhưng trong ca khúc Phúc âm buồn, một biến thể khác của “loài sâu” đã hiện

ra qua hình ảnh “loài thú nằm co”: “Người nằm co như loài thú khi mùa đông

về”, “Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù” Như thế, “loài sâu”

chứ không phải là một hình ảnh nào khác mới thể hiện trọn vẹn tính phức điệu của hồn người: vừa khát khao dâng tặng đời những khúc nhạc lòng quý giá tinh luyện được như nguồn nhạc của loài sâu đất, loài ve mùa hè được ấp ủ, dưỡng nuôi từ trong bào thai của đất; vừa mang nỗi cô đơn nguyên ủy của phận người, cô đơn như là một cách thế để giữ gìn bản ngã của mình, không vong thân, không vọng ngoại Vì lẽ đó, dễ hiểu vì sao không ít lần, Trịnh

Công Sơn đã nhắn nhủ Dao Ánh: “Vọng ngoại quá nhiều chỉ làm hư hao,

thiệt thòi mình thêm mà thôi Ở trên lý do đó anh đã luôn luôn cố gắng tách rời đám đông, co mình về với mình, với Ánh Ánh đã phải nhận ra điều đó từ

lâu rồi phải không” (Thư 12.1.1967) [53, tr.309]

Trang 32

Có khá nhiều hình ảnh, nhiều câu từ trong nhạc Trịnh đã được cảm và

hiểu sâu sắc hơn, thấm thía hơn như vậy nhờ được giải mã qua Thư tình gửi một người” Vẻ đẹp của người tình trong nhạc Trịnh thường là vẻ buồn đẹp,

tuổi buồn, mắt buồn, tóc buồn, tay buồn Tất cả những hình ảnh trong ca khúc đều mang dấu ấn của tư duy huyền thoại Người xưa nhìn thế giới cũng qua lớp màn sương huyền diệu để thấy cái ảo - thực lẫn lộn và tin rằng thế giới màu nhiệm như thế Và Trịnh Công Sơn đã kết nối hai thế giới thực và ảo, kết nối tình yêu, thân phận và con người ngày nay và của quá khứ, giữa hiện tại

và tuổi thơ Đan xen giữa quá khứ và hiện tại giữa cố đô Huế mơ mộng với

âm u núi rừng chốn Blao, Trịnh Công Sơn đã hòa điệu nhạc trong hư ảo giữa khát vọng và thực tại Tất cả được bao phủ sắc màu huyền thoại lung linh nhiều gam màu huyền ảo trong ca từ nhạc Trịnh

Giai điệu Huyền thoại mẹ mang chất tự sự, sâu lắng, trầm hùng và mang

đậm âm hưởng dân ca miền Trung, nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã có được cảm xúc sáng tạo tác phẩm này Câu cuối của ca khúc ta thấy được nhắc lại ba

lần: “Cho đời mãi trong lành, mẹ chìm dưới gian nan…” như muốn khắc sâu,

in đậm hình ảnh người mẹ Việt Nam thân thương đang say sưa kể chuyện ngày xưa

Ý nghĩa ca từ của Trịnh Công Sơn càng được soi tỏ hơn khi qua những bức thư tình gửi Dao Ánh, Trịnh Công Sơn đã nói rõ về lý do ra đời của một

ca khúc hoặc tự bạch về nỗi niềm sâu kín của mình ký thác vào những ca

khúc mang chất tư duy huyền thoại Như thế, “ăn năn” ở đây là để tạ ơn đời,

tạ ơn người tình đã nuôi trọn hồn ta mà ta lại mắc lỗi, lại chưa vẹn niềm đền

đáp Như thế, “xin mãi ăn năn mà thôi” tức là càng “ăn năn” để càng được yêu người, yêu đời gấp bội lần, yêu thêm cái phần thiếu hụt phải “tạ tội” với

người tình

Trang 33

2.1.2 Sử dụng và sáng tạo thể hát ru trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn

Trong nền văn hóa dân gian, hát ru đã xuất hiện và ngân lên từ tận đáy lòng, từ trong trái tim và ký ức tuổi thơ của mỗi con người Việt Nam Những khúc hát ru đã nuôi dưỡng bao tâm hồn, bao thế hệ lớn lên Người ta cất tiếng hát ru là để ru con, ru cháu, ru em và ru chính mình lịm vào dòng suối ngọt ngào của tuổi thơ Từ đó trong tâm hồn mỗi người luôn mang nặng hình ảnh quê hương và quãng đời thơ ấu trên nôi hoặc bên võng, lặng nhìn vào con trẻ của mình đung đưa với những câu hát ru êm đềm say đắm hồn nhiên mà bất

tử hơn bất kỳ loại nhạc nào Và cũng từ đó, Trịnh Công Sơn ta đã mượn hát ru

để dạy con, cháu học, dạy bản thân sống và làm theo ý nghĩa trong những câu hát giản dị nhưng ẩn dụ, mang nhiều ý nghĩa và tính giáo dục vô cùng sâu thẳm

2.1.3 Hát ru trong dân gian

Hát ru là vốn quý ngàn đời của dân tộc Việt Nam Những người đang sống xa quê, sống ở nước ngoài và người sống trên nhung gấm cao sang bỗng khi nghe một tiếng hát ru của mẹ thì trong tâm hồn cũng thổn thức bâng khuâng Đó là món ăn tinh thần mà bao thế hệ người Việt đều đau đáu bên

mình như nỗi nhớ niềm thương khi những trái tim “người lớn” tìm về với quê

hương của tuổi thơ

Hát ru của dân tộc Việt Nam rất truyền cảm, phong phú và đa dạng Chỉ

cần nghe những tiếng "à ơi", "ạ ời" hay "ầu ơ", người ta biết ngay đó là điệu

hát ru của miền nào

Đặc điểm của hát ru là bài hát không dài, từ ngữ dễ hiểu, dễ nhớ và thường dùng thể thơ lục bát, dùng ca dao có sẵn trong dân gian, vì thế lời hát

ru mang đậm nghệ thuật dân ca Nó lại thường xuất hiện ở chốn làng quê tĩnh lặng Giờ khuya vắng, xế trưa vô tình sau hè có tiếng gà gáy râm ran, bờ tre kẽo kẹt hồn nhiên hòa điệu càng khiến cho lòng người sâu lắng, xao xuyến khôn cùng

Trang 34

2.1.4 Nhận diện thể hát ru trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn

Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, hát ru và đồng dao được xem như hai thể loại âm nhạc dân gian dành riêng cho trẻ nhỏ, gắn bó với tuổi thơ của một đời người Trên thế giới, hát ru và đồng dao dường như là những thể loại không thể thiếu ở hầu khắp các dân tộc Có thể nói, song song với mục đích ru trẻ ngủ đơn thuần, làn điệu Hát ru là một cơ hội thuận tiện để người ta thỏa mãn nhu cầu nghệ thuật âm nhạc và thơ ca Thông qua hát ru, Trịnh Công Sơn có thể bộc bạch nhiều tâm sự, kể cả những tâm tư tình cảm khó có thể nói bằng lời trong cuộc sống thường nhật Dường như trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn hát ru đã trở thành mộ bộ phận quan trọng khi cất

lên nhưng “khúc ru” đó sẽ làm say đắm tâm hồn

Bảng tỉ lệ những bài hát ru trong những ca khúc về thân phận của

Trịnh Công Sơn

Qua bảng số liệu cho ta thấy trong 235 bài hát về thân phận của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, có 35 bài hát mang âm hưởng hát ru chiếm tỉ lệ 14.8 %,

trong đó 22 bài có tiêu đề là “ru…” ( Ru tình, Ru em ngủ, Ru đời đi em, Ru

em từng ngón xuân nồng, Ru mãi ngàn năm…), và có tới 288 từ “ru” trong

ca từ những bài hát về thân phận Đây là một tỉ lệ lớn, với số lượng như vậy

có thể nhận định rằng Trịnh Công Sơn đã dành nhiều tình cảm lòng yêu mến đối với hát ru Ông muốn dùng chính chất liệu mà trong văn học dân gian coi

là cội nguồn là dòng sữa nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam

Đến với thơ và nhạc của Trịnh Công Sơn đề tài "ru" đã có sắc thái khác

biệt Trước tiên trong các tình khúc của ông cách xưng hô đã có khác Trước

Trang 35

các tình khúc của Trịnh Công Sơn thì lại là (tôi - em) Với cách xưng hô này

ta thấy có sự cách biệt, có một khoảng cách nào đó giữa tác giả và cô gái kia, dường như ông luôn luôn giữ một khoảng cách nhất định với người mình yêu, cùng với khoảng cách đó ta thấy có một sự bao dung, tha thứ với người con gái, như một người anh lớn, luôn đứng ở vị thế cao hơn cô gái chứ không phải ngang hàng như (anh và em), vì thế cô gái cũng trở nên nhỏ hơn để được sự

chiều chuộng của "ông anh" lớn Điều đó càng lúc càng rõ nét hơn theo trình

tự sáng tác của ông

Với những tình khúc ở giai đoạn đầu ông viết: "tôi ru em ngủ một sáng

mùa đông, em ra ngoài ruộng đồng hỏi thăm cành lúa mới" (Tôi ru em ngủ)

"Ru mãi ngàn năm vừa má em hồng" (Ru em từng ngón xuân nồng) ta còn

thấy sự gần gũi giữa em và tôi nhưng càng về sau đã có sự xa cách và sự xa

cách sẽ tăng dần lên theo thời gian "Ru em thèm khát xa hoa, ru em quì gối

vong nô, ru em bồng bế con theo" (Ru em) đã có sự không hòa hợp giữa hai

người, nghe như có sự trách móc, phê phán, có vẻ như lúc này em đã "theo

đời cơm áo" (Yêu dấu tan theo) không còn vô tư như trước nữa Rồi đến bài

Ru tình thì khoảng cách ấy càng xa thêm: "Ru em ngồi yên đấy, tôi tìm cuộc

tình cho" hệt như lời dỗ dành của người lớn với một em bé: Bé ngồi yên đấy

nhé, đừng chạy lung tung để anh mua bánh cho nhưng với "em bé" này thì

không phải mua bánh mà (Tìm cuộc tình cho em) nghe như vừa lớn lại vừa

nhỏ và có vẻ chua xót mỉa mai, như thế nhân vật tôi đã thoát ra ngoài quan hệ cuộc tình, như một người ngoài cuộc chơi, một ông anh tìm dùm tình yêu cho

em gái

Có khi lời ru mang màu sắc chiến tranh, lời ru trong nhạc Trịnh có tiếng

“bom đạn” ru bé lớn lên vượt qua cuộc chiến " Đại bác nghe quen như câu

chuyện buồn, trẻ con chưa lớn để thấy quê hương" (Đại bác ru đêm)

Cuối cùng, tác giả cũng rời xa những cuộc tình những hẹn hò từ nay

khép lại, thân nhẹ nhàng như mây (Như một lời chia tay) phải chăng đó cũng

Trang 36

là qui luật của con người: "Tình do tâm ta mà sinh ra, có khi tình mất mà tâm

còn động vọng, đến khi tâm bình yên thì tình kia cũng đoạn nổi" (lời dẫn trong

bài Đóa hoa vô thường) "Về bên núi đợi ngậm ngùi ôi quá thương thay" (Chiếc

lá thu phai) Để rồi tác giả lại ru chính mình, ngậm ngùi ru ta về lại thời thơ ấu:" Xin ngủ trong vành nôi, ta ru ta ngậm ngùi" (Ru ta ngậm ngùi)

Phải chăng tất cả rồi cũng hoang vu vô thường trong cõi đời tạm bợ này Cuộc sống còn có ý nghĩa gì khi mà con người còn tranh giành, bon chen, đố

kỵ nhau, Trịnh Công Sơn đã nói "Dù là kẻ chiến thắng hay kẻ chiến bại suốt

cuộc đời cũng không thể vui chơi, hạnh phúc đã ngủ quên trong những ngăn kéo quên lãng"

Trước tiên, đó là những người cùng sống trong hoàn cảnh như ông Khi con người bị bao bọc bởi màn sương của không khí chiến tranh loạn ly ấy, người ta cần những lời ru mơn man những vết thương cả về thể xác và tinh thần yếu đuối như thế

Nhạc Trịnh Công Sơn có nhiều ca khúc lấy chủ đề hát ru như : Ru tình,

Ru đời đi nhé, Ru ta ngậm ngùi, Ru em từng ngón xuân nồng là những ca

khúc ru điển hình của ông

Trong số các bài hát ru này, Ru ta ngậm ngùi là bài hát đau đớn nhất Có thể thấy đó là tâm trạng của một người vừa tan vỡ một cuộc tình cay đắng Trịnh Công Sơn rêu rao đời mình, ông để tim mình lăn trên đường, ông hóa thành con chim đứng trong vũng máu, Trịnh Công Sơn đi trong đêm và chờ những rạng đông

“Không còn, không còn ai, ta trôi trong cuộc đời/ Không chờ không chờ ai.”

Đó là tâm trạng của một người bất lực khi đã chấp nhận: "Em về hãy về

đi" Cuối cùng, anh ta chấp nhận về rừng, và nằm yên nghỉ dưới vòm cây

Như một sự trở về nguồn cội

Trang 37

Chỉ những người có tâm thức rằng cuộc sống đã tuyệt vọng và bỏ đi rồi, cuộc sống này không hề đáng sống, họ sẽ ngồi lại, để chịu nghe những tiếng

ru mang tính buồn phiền ấy

Trịnh Công Sơn rời nhà đi học ở một thành phố lạ, hình ảnh mang theo của bà mẹ là những bài hát ru Và ông nhắc đến những bài hát ru ấy rất nhiều trong các ca khúc của ông, những khúc ru dường như là nỗi niềm thương nhớ

về quê hương tuổi thơ của Trịnh

Những bài hát ru là những vỗ về, là những dỗ dành, là những an ủi, là những vuốt ve đầu tiên của những kỷ niệm đời Trịnh muốn gợi lại vòng tay thơm, giọng hát ấm áp của người mẹ đem lại cảm giác an toàn cuối cùng cho người ta trước khi bị đẩy ra thế giới có khi rất hung bạo ở ngoài cửa Trịnh Công Sơn tìm thấy trong những bài hát ru ấy một chỗ trú ẩn rất bình yên Đời sống của người thanh niên trẻ lần đầu tiên sống xa những bức tường an toàn của ngôi nhà cũ ở Huế khiến ông cứ tìm cách để trở về với nó mãi Và đó là lý

do Trịnh Công Sơn viết rất nhiều ru khúc trong chu trình sáng tác của ông Ông viết để trở về với đoạn đời hạnh phúc, an toàn ấy trong khi đi qua những con đường đầy những gập ghềnh của thế giới ông vừa tiến vào

Những bài hát ru đem lại cho người nghe cảm giác an toàn hạnh phúc

Và cuộc đời càng đưa tới những bão táp nghiệt ngã, thì người ta càng muốn tìm trở lại nơi trú ẩn cũ Những bài hát ru của thời thơ ấu cho ông nơi trú ẩn

đó Chiến tranh càng khốc liệt, thì người ta càng cần đến nhiều hơn những nơi trú ẩn, những nơi trú ẩn an toàn nhất của thời thơ ấu, đó là những bài hát ru trong lòng người mẹ Trịnh Công Sơn nhìn thấy, một cách kinh hoàng khi

những tiếng đại bác thay thế cho tiếng ru hàng đêm: “đại bác ru đêm vọng về

thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe”

Ông thấy phải thay những tiếng nổ đó bằng những ru khúc Những bài hát để ru những anh và những em, những người già, và những em bé, ru đất nước và dân tộc, ru cho những đau thương, những bất hạnh ngủ yên Trịnh

Trang 38

muốn cất lên tiếng ru cho tình yêu, ru cho thân phận, ru cho đời bằng những

ca từ sâu lắng nhất

Trịnh Công Sơn, trong khi đi tìm sự bình yên cho ông bằng những du khúc ông viết, thì cũng đem lại những an ủi, vỗ về cho nguyên một thế hệ của ông Có thể nói không một nhạc sĩ nào viết nhiều ru khúc như Trịnh Công Sơn Ông ngậm ngùi ru chính ông, Ông ru tình, ông ru đời, ông ru đời đã mất Ông ru người yêu ngủ trong buổi sớm mùa đông, rồi lại một sớm mùa xuân Ông ru mãi, ru hoài

2.2 Sử dụng thể đồng dao trong dân gian trong ca từ nhạc trịnh Công Sơn

2.2.1 Hát đồng dao trong dân gian

Đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em Việt Nam Đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát, câu hát trẻ em, lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắn liền với các trò chơi trẻ em Nói chung, đồng dao trong các trò chơi trẻ em ở các vùng miền đều là

những ca những lời hát dí dỏm ngây thơ của trẻ thơ

2.2.2 Nhận diện thể đồng dao trong ca từ của nhac Trịnh Công Sơn

Bảng tỉ lệ bài hát đồng dao trong những ca khúc về thân phận của

Trang 39

khi cất lên làm cho người hát và người nghe đều như trở lại quê hương tuổi thơ, người nghe thấy mình yêu mến những bài hát trẻ thơ hơn

Bài hát (Môi hồng đào) khởi đầu bằng sự nối dài của tiếng mõ ru trong

Ca dao mẹ (Mẹ, cánh chim cô đơn) đi vào cũng sẽ chìm trôi và thi thoảng gợi

nhớ đến điệu ru buồn da diết của ru tình, mà ca sĩ và những người thực hiện

mong muốn thể hiện như một dạng “Đồng dao” trong nhạc Trịnh Loại đồng

dao dành riêng cho người lớn của Trịnh Công Sơn có khi thật lãng đãng, dí

dỏm (Ở trọ, Biết đâu nguồn cội, Níu tay nghìn trùng, Nguyệt ca) nhưng

cũng có lúc lại buồn đến rã rời, khắc khoải trong từng hơi thở, từng kỷ niệm

riêng tư (Có một dòng sông đã qua đời) Để rồi đến cuối cuộc đời, người

nghệ sĩ vẫn ám ảnh và trăn trở khôn nguôi trước trò chơi lớn cả đời người

(Tiến thoái lưỡng nan)… Đó có lẽ là sự khác biệt lớn nhất về giá trị chân

thiện mỹ của những bài đồng dao không còn dành cho con trẻ

Khi nghe nhạc Trịnh Công Sơn tôi nhận ra được điều này từ sự nhận xét của giáo sư Trần Văn Khê, từ đó nhớ về Trịnh Công Sơn qua một chiều kích

mới “Đồng dao” như lời giảng giải của Giáo sư Trần Văn Khê, là những bài

hát dành cho các trò chơi của trẻ con, truyền tụng trong dân gian mà còn dang

dở, vốn chưa thành khúc “Lời giải thích này đã thật sự làm vỡ òa trong lòng

tôi khi "ngộ" ra thật nhiều điều lạ về giá trị âm nhạc của Trịnh Công Sơn"

[51] Nghiên cứu, khai thác sự độc đáo rất riêng của nhạc Trịnh Đó là tính

“dở dang” trong những cuộc tình (từ nguồn gốc các ca khúc Trịnh Công Sơn),

là sự ngây thơ trong những giai điệu và nét hồn nhiên của những ca từ nghe như đồng dao của trẻ con hát chơi, lại dành riêng cho cõi lòng của những người không còn trẻ

Tính cách độc đáo từ chính người nhạc sĩ và âm nhạc của ông là sự thăng hoa rất ngẫu nhiên, vô tình trong sáng tác, hơn là sự toan tính, sắp xếp

cố ý của lý trí Ca từ nhạc Trịnh Công Sơn với triết lý bay bổng nhưng lại

“thấm vào lòng người như suối tưới” một phần nhờ ở cái hồn nhiên mà sâu

Trang 40

sắc đó Âm nhạc Trịnh Công Sơn thật ra có khi nghe đơn giản như một hòn bi

của trẻ con chơi (Như một hòn bi xanh) mà thông điệp lại quá lớn Vì đó là

thông điệp của một triết gia và một thiên tài âm nhạc tổng hợp lại trong ký ức tuổi thơ

2.3.3 Nhạc Trịnh Công Sơn ví như đồng dao dành cho người lớn

Đồng dao là những bài ca dành cho trẻ em hát, trẻ em chơi Một ngày nào đó, khi người ta lớn, tất cả mọi thứ đều có ý nghĩa rõ ràng thì người ta

không còn hát đồng dao nữa Và người ta cũng quên cả chơi: “ Dung dăng

dung dẻ, dắt trẻ đi chơi, đến cổng nhà trời, lạy cậu lạy mợ, cho cháu về quê”,

những bài đồng dao ấy, đã là ngày xưa

Nhà văn của chuyện thần tiên Andersen bảo: “Có những người giữ được

tâm hồn trẻ thơ lâu hơn những người khác …” Nhà văn Saint - Exupery

trong truyện Hoàng tử bé, Chồn (tượng trưng cho sự già dặn, minh triết) nói

với hoàng tử Bé: “Và đây là điều bí ẩn của ta, nó thật là đơn giản Chỉ với

trái tim người ta mới nhìn được rõ Những điều thực sự là then chốt thì mắt trần không thể thấy được…” James Legge cũng nói: “Một con người vĩ đại là người không đánh mất trái tim của Trẻ thơ”[72, tr.77] Trịnh là một người

như thế Nên ông vừa hát vừa chơi Đến hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình

“ Tôi vui chơi giữa đời ối…a…Biết đâu nguồn cội”

Chúng ta - những người lớn - vẫn hát nghêu ngao hát ca khúc Biết đâu nguồn cội của Trịnh Công Sơn:

“Em đi qua chuyến đò thấy con trăng đang nằm ngủ

Con Sông là quán trọ và trăng - tên lãng du

Em đi qua chuyến đò í…a…thấy trăng còn trẻ Con Sông đâu có ngờ ngày kia trăng sẽ già

Em đi qua chuyến đò í…a…trăng nay đã già Trăng muôn đời thiếu nợ mà sông không nhớ ra

Ngày đăng: 02/11/2014, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Viết Á (2005), Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, Nxb Viện Âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca từ trong âm nhạc Việt Nam
Tác giả: Dương Viết Á
Nhà XB: Nxb Viện Âm nhạc
Năm: 2005
3. Diệp Quang Ban (2003), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
4. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt (tiếng, từ ghép, đoản ngữ), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1998
5. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
6. Hà Châu (1966), “Cách so sánh trong ca dao ngày nay”, Tạp chí Văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách so sánh trong ca dao ngày nay”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Hà Châu
Năm: 1966
7. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
9. Đặc tuyển về Trịnh Công Sơn và giới trẻ (2005), Tạp chí Thời Văn, số 2, Nxb Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tuyển về Trịnh Công Sơn và giới trẻ" (2005), "Tạp chí Thời Văn
Tác giả: Đặc tuyển về Trịnh Công Sơn và giới trẻ
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2005
10. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
11. Hữu Đạt (1981), “Thủ pháp so sánh trong ca dao và thơ hiện đại”, Văn nghệ, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ pháp so sánh trong ca dao và thơ hiện đại”, "Văn nghệ
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 1981
12. Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan (1998), Cơ sở tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
14. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại) , Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại)
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
15. Fedinand De Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Fedinand De Saussure
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1973
16. George La Koff and Mark Johnsen (2003), Metaphors we Live by. London: The University of Chicago Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metaphors we Live by
Tác giả: George La Koff and Mark Johnsen
Năm: 2003
17. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
18. Hoàng Văn Hành (1976), "Về bản chất của thành ngữ so sánh tiếng Việt", Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, tr 11-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất của thành ngữ so sánh tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1976
19. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2009), Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
20. Lê thị Thu Hiền (2007), Quan niệm nhân sinh trong ca từ Trịnh Công Sơn, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn - Chuyên ngành Văn học Việt Nam, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nhân sinh trong ca từ Trịnh Công Sơn
Tác giả: Lê thị Thu Hiền
Năm: 2007
56. Trịnh Công Sơn - Bách khoa toàn thƣ, http://vi.wikipedia.org/wiki/Trịnh -_Công_Sơn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tỉ lệ bài hát đồng dao trong những ca khúc về thân phận của - Chất liệu dân gian trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn (khảo sát những ca khúc thân phận)
Bảng t ỉ lệ bài hát đồng dao trong những ca khúc về thân phận của (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w