1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập tốt nghiệp đại học môn Triết Học

32 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 71,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ôn tập tốt nghiệp đại học môn Triết Học 1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX… + Trước những năm 40XIX Mác còn là nhà triết học duy tâm chịu ảnh hưởng bởi triết học Hêgghen – khuynh hướng cấp tiến của hêgghen (Hêgghen trẻ); + Hệ tư tưởng, Mác là nhà dân chủ cách mạng = hệ tư tưởng tư sản. Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những lực lượng xã hội mới và mâu thuẫn mới của chủ nghĩa tư bản.

Trang 1

MỤC LỤC ÔN TẬP

I LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MAC-LENIN

1 Điều kiện kinh tế - xã hội

2 Tiền đê lý luận

3 Tiền đề khoa học tự nhiên

4 Sự xuất hiện và những giai đoạn chủ yếu của th mac-lenin

5 Đối tượng & đặc điểm chủ yếu của th mac-lenin

II PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT (CỦA TH MAC-LENIN)

1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

a.mối liên hệ phổ biến

b.sự phát triển

2 Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

a.Qui luật thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi chất

b.Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

c.Qui luật phủ định của phủ định

3 Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

a.Cái chung và cái riêng

b.Nguyên nhân và kết quả

c Tất nhiên và ngẫu nhiên

d.Nội dung và hình thức

e.Bản chất và hiện tượng

f Khả năng và hiện thực

III CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

1 Học thuyết về hình thái xh và ý nghĩa của cách tiếp cận học thuyết hình thái xh

kt-2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quy luật sx

3 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội

4 Biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

IV TRIẾT HỌC MAC-LENIN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1 Th mac-lenin trong đk toàn cầu hó & kinh tế thị trường

2 Th mac-lenin trong sự nghiệp xây dựng cn xh hiện nay ở vn

V MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC & CÁC KHOA HỌC

1 Mối liên hệ th & khoa học

2 Vai trò thế giới quan & phương pháp luận

Trang 2

NỘI DUNG CHI TIẾT

1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI

- Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX…

+ Trước những năm 40/XIX Mác còn là nhà triết học duy tâm chịu ảnh hưởng bởi triết học

Hêgghen – khuynh hướng cấp tiến của hêgghen (Hêgghen trẻ);

+ Hệ tư tưởng, Mác là nhà dân chủ cách mạng = hệ tư tưởng tư sản

- Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những lực lượng xã hội mới và mâu thuẫn mới của chủ nghĩa tư bản

+ Sự xuất hiện những giai cấp mới…

+ Sự hình thành dân tộc tư sản

+ Nhà nước dân chủ tư sản

+ Hệ thống tư bản chủ nghĩa…

- Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản;

- Sự ra đời của triết học học Mác là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân thế giới…

2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN

Triết học Mác kế thừa mang tính phê phán với toàn bộ lịch sử tư tưởng của nhân loại trước đó.Nguồn gốc lý luận có ý nghĩa trực tiếp là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa

xã hội không tưởng của Pháp và Anh

a Triết học cổ điển Đức (XVIII – XIX):

- Đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển…;

- Triết học Can tơ

- Sự ảnh hưởng của triết học Can tơ đối với sự hình thành và phát triển của triết học Mác

+ Quan niệm biện chứng về những giả thuyết sự hình thành phát triển của (vũ trụ) thế giới trong việc phê phán phương pháp tư duy siêu hình…;

+ Ý nghĩa khoa học trong thuyết khơng thể biết (hồi nghi luận) của Cantơ khơng chỉ ở chỗ khẳng định con người con người cĩ khả năng nhận thức về hiện thực khch quan, m ở quan điểm ơng cho rằng tri thức khoa học l một hệ thống mở đến vơ tận

Điều quan trọng không phải ở giới hạn nhận thức của con người về hiện thực mà là vấn đề

phương pháp tiếp cận của con người về hiện thực

Đây cũng là một trong những vấn đề được C.Mác kế thừa khi xây dựng triết học duy vật biện chứng của mình xét về mặt lý luận nhận thức

+ Mác phê phán những mặt hạn chế của triết học Can tơ…

- Sự ảnh hưởng của Hêghen đối với sự hình thành và phát triển của triết học Mác

+ Giai đoạn trước những năm 40/XIX…

+ Giai đoạn đầu những năm 40/XIX…

+Tư tưởng khoa học trong phép biện chứng của Hêghen …

- Mác Phê phán những mặt hạn chế trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen …

Trang 3

- Sự ảnh hưởng của triết học Phơ Bách đối với sự hình thành và phát triển của triết học Mác

+ Trước những năm 40/XIX…

+ Đầu những năm 40/XIX…

+ Tư tưởng nhân bản về vấn đề triết học xã hội, về vấn đề con người…

+ Tinh thần hoạt động xã hội những vấn đề thực tiễn trong phong trào đấu tranh của nhân dân lao động

- Mác phê phán những mặt hạn chế của triết học Phơ Bách…

- Các học thuyết kinh tế chính trị của Anh (XVIII – XIX)

+ Đặc điểm kinh tế chính trị Anh;

+ A Đ Ximít(A Smith 1723 - 1790);

+ Đ.Ricácđô(D Ricardo 1772 – 1823);

- Chủ nghĩa xã hội không tưởng của Pháp và Anh cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX

+ Đặc điểm các học thuyết chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và Anh…

+ Xanhximông(Saint Simon);

+ Phuriê(Furieur);

+ Ooen(Owen)

3 TIỀN ĐỀ KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Sự phát triển khoa học tự nhiên đến giữa thế kỷ XIX có ba phát minh quan trọng:

- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Mayer;

Định luật này chứng minh các hình thức vận động của vật chất không tách rời, có khả năng chuyển hóa cho nhau

Không có sự sinh ra và mất đi của năng lượng mà chỉ có sự chuyển hóa lẫn nhau từ dạng này sang dạng khác

- Học thuyết tế bào Do Slâyđen và Svan phát minh;

- Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn, xác định tính biến dị, di truyền giữa các loài, v.v

CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

1 Giai đoạn Mác - Ăngghen

- Đầu những năm 40/XIX;

- Từ năm 1842 đến những năm 1846;

- Từ năm 1847 đến 1895

2 Giai đoạn Lênin

- Sự phát triển của Lê-nin đối với chủ nghĩa Mác trong điều kiện, hoàn cảnh mới:

+ CNTB phát triển giai đoạn cao là CNĐQ;

+ CNXH hiện thực;

+ Phong trào giải phóng dân tộc

+Sự phát triển của khoa học kỹ thuật…

- Lênin bảo vệ chủ nghĩa Mác;

Trang 4

- Quốc tế 3 và cách mạng tháng 10 Nga và xây dựng Liên bang Xôviết;

- Sự phát triển của Lê-nin:

+ Mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực;

+ Vai trò đảng cộng sản;

+ Lý luận kinh tế mới

+ Lý luận giải phóng dân tộc

+ Nguyên tắc quốc tế vô sản

Ý NGHĨA BƯỚC NGOẶT CÁCH MẠNG DO MÁC – ĂNGGHEN THỰC HIỆN TRONG TRIẾT HỌC

1 Thống nhất thế giới quan duy vật v php biện chứng

Lịch sử hình thành và phát triển của phép biện chứng về cơ bản có ba hình thức:

- Phep biện chứng duy vật chất phác cổ đại;

- Phép biện chứng duy tâm của Hêghen;

- Phép biện chứng duy vật của triết học Mác

2 Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Sự khác nhau căn bản giữa triết học Mác và các nhà triết học trước Mác là quan điểm về thực tiễn;

Mác: "Các nhà triết học đã giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo

thế giới" Đó là nguyên tắc sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

- Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với lý luận:

+ Thực tiễn?

+ Lý luận;

+ Vai trò của thực tiễn và lý luận;

3 Quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử của triết học Mác là cơ sở lý luận khoa học nghiên cứu

về lịch sử

a Xã hội là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên;

b Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội;

c Sự phát triển của xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên;

d Quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử

4 Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng

Triết học Mác là thế giới quan của giai cấp vô sản với tính cách là hệ tư tưởng, cơ sở lý luận cho

sư hoạt động của các chính đảng cộng sản;

Khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thế giới…

5 Giải quyết khoa học về mối quan hệ giữa triết học và khoa học cụ thể

Sự hình thành, phát triển của triết học cũng như việc xác định đối tượng nghiên cứu của triết học cũng thay đổi gắn liền với những điều kiện lịch sử xã hội nhất định

Triết học cũng như các khoa học khác cần phải được bổ sung và phát triển thêm, vận dụng một cách sáng tạo trong những điều kiện lịch sử nhất định

Trang 5

ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

1 Đối tượng của triết học Mác- Lênin:

Các quan điểm trước Mác xác định đối tượng chưa đúng đắn, triết học Mác xác định: Đối tượng

nghiên cứu của triết học Mác –Lênin là Nghiên cứu những quy luật chung nhất về tự nhiên, xã hội

và tư duy Vai trò của con người đối với thế giới trên cơ sở giải quyết khoa học vấn đề cơ bản của triết học (1 điểm)

2 Đặc điểm của triết học Mác-Lênin:

Triết học Mác-Lênin là một học thuyết khoa học và tiến bộ, nó mang trong mình 3 đặc điểm chính sau:

* Thống nhất giữa tính Đảng và tính khoa học:

+ Tính đảng của triết học Mác-Lênin: Lập trường CNDV biện chứng, đấu tranh kiên quyết chống CNDT, siêu hình, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ và mang lại lợi ích cho giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động

+ Tính khoa học của triết học Mác-Lênin (TH MLN): phản ánh đúng đắn hệ thống các quy luật vận động và phát triển của thế giới

+ Vì sao có sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong TH MLN: Do mục tiêu lý tưởng chiến đấu, lợi ích giai cấp vô sản phù hợp tiến trình khách quan của lịch sử

* Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:

+ Gắn nhận thức thế giới với cải tạo thế giới là nguyên tắc cơ bản của triết học Mác: triết học MLN ra đời từ nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động Nó trở thành vũ khí lý luận của giai cấp vô sản…

+ Thông qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà phát triển triết học Triết học lại trở lại chỉ đạo, hướng dẫn cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản mà bổ sung và phát triển, mà làm tròn sứ mệnh của mình

+ Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn thì triết học MLN mới trở thành sức mạnh vật chất, mới phát triển và đổi mới không ngừng

Trang 6

NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Nội dung ý nghĩa phương pháp luận nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật

a Nội dung nguyên lý về sự phát triển

- Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển Bởi vì, họ tuyệt đối hóa sự ổn định tương đối của sự vật và hiện tượng, chứ không thấy được vận động, sự thay đổi chuyển hóa cũng như sự phát triển của sự vật và hiện tượng Nếu có thừa nhận sự phát triển thì theo họ chẳng qua chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng, chứ không phải

về mặt chất lượng hoặc không có sự ra đời của cái mới cao và hoàn thiện hơn cái cũ Ngược lại,

phép biện chứng duy vật cho rằng Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp từ cái chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn và phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật và hiện tượng

- Cần phân biệt giữa khái niệm vận động và khái niệm phát triển Khái niệm vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là sự biến đổi nói chung và là phương thức tồn tại của vật chất Điều đó, có nghĩa là có những hình thức vận động bao hàm sự phát triển và có hữnng hình thức vận động không bao hàm sự phát triển Ngược lại, khái niệm phát triển thì không khái quát mọi sự vận động nói chung, nó chỉ khái quát những vận động đi lên, sự xuất hiện cái mới theo một chiều hướng chung là từ đơn giản đến phức tạp, từ cái chưa hoàn thiện đến hoàn thiện so với cái cũ hoặc quá trình trước đó

Như vậy, sự phát triển bao hàm sự vận động, sự xuất hiện cái mới theo chiều hướng đi lên

Nhưng không phải bất kỳ sự vận động nào cũng bao hàm sự phát triển Không nên hiểu phát triển không phải bao giờ cũng diễn ra một cách đơn giản, thẳng tắp; mà là con đường quanh co, phức tạp Xét từng trường hợp cá biệt thì có những vận động đi lên tuần tự và đồng thời có những vận động đi xuống, hoặc thụt lùi Nhưng về quá trình và trong phạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướng tất yếu Chính vì vậy, phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các

sự vật và hiện tượng

- Tính chất của sự phát triển: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.

Tính khách quan của sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, dù thể hiện dưới

hình thức nào cũng cũng là quá trình giải quyết mâu thuẫn vốn có của các sự vật, hiện tượng độc lập và không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng khuynh hướng chung của sự phát triển trên cơ sở phân tích, giải quyết các mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong hoạt động thực tiễn xã hội

Tính phổ biến của sự phát triển là không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là không vận động

mà phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật, hiện tượng Vì vậy, phát triển là một quá trình vận động đi lên diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Trong đó, sự xuất hiện con người cũng chỉ là một quá trình lịch sử tự nhiên

Tính đa dạng phong phú của sự phát triển được thể hiện trong các sự vật, hiện tượng đều gắn liền

với những điều kiện khách quan nhất định Căn cứ tính đa dạng phong phú của sự phát triển có

Trang 7

thể phân chia sự phát triển như một quá trình xuất hiện cái mới có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể của nó Sự xuất hiện cái mới luôn gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định Trong

đó, cái mới phù hợp với qui luật vận động phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy là tiêu chuẩn của sự phát triển Bởi, có những cái mới là cái khác với cái cũ hoặc quá trình trước đó, nhưng không là tiêu chuẩn của sự phát triển vì nó không phù hợp với qui luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy

b Ý nghĩa phương pháp luận

Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, giúp cho chúng ta nhận thức được rằng, muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng, nắm được khuynh hướng vận động tất yếu của chúng, phải có

quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể.

- Nguyên tắc (Quan điểm) phát triển với yêu cầu khi phân tích một sự vật, hiện tượng phải đặt nó

trong sự vận động để phát hiện được xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng Điều đó, có nghĩa

là khi nghiên cứu sự tồn tại, vận động của sự vật, hiện tượng phải thấy được phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của sự vật, hiện tượng; đồng thời cũng phải nhận thức đúng tính khách quan, phổ biến, tính đa dạng phong phú của sự phát triển vận dụng trong hoạt động thực tiễn xã hội

Quan điểm phát triển còn đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm đúng về cái mới, cái mới là tiêu chuẩn của sự phát triển Sự xuất hiện cái mới là một quá trình, nhưng là cái tất yếu thay thế cái

cũ, nhưng sự kế thừa những mặt tích cực của cái cũ là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của cái mới

- Nguyên tắc (Quan điểm) lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận

động và phát triển của bản thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể Khi phân tích quá trình vận động của các sự vật, hiện tượng phải xem xét nó trong mối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử cụ thể của các mối quan hệ đó

- Phê phán quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển Bởi vì, họ tuyệt đối hóa sự ổn định tương

đối của sự vật và hiện tượng, chứ không thấy được vận động, sự thay đổi chuyển hóa cũng như

sự phát triển của sự vật và hiện tượng Nếu có thừa nhận sự phát triển thì theo họ chẳng qua chỉ

là sự tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng, chứ không phải về mặt chất lượng hoặc không có sự ra đời của cái mới là cái cao hơn và hoàn thiện hơn cái cũ

NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

a Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

- Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình coi sự tồn tại của các sự vật và hiện tượng trong thế giới là những cái tách rời nhau, giữa chúng không có sự liên hệ tác động qua lại, không có sự chuyển hóa lẫn nhau và nếu có chỉ là sự liên hệ mang tính chất ngẫu nhiên, gián tiếp Ngược lại, phép biện chứng duy vật cho rằng, sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng của thế giới không phải là sự tồn tại tách rời và cô lập lẫn nhau, mà chúng là một thể thống nhất Trong

Trang 8

thể thống nhất đó những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc và phụ thuộc, qui định lẫn nhau, chuyển hoá cho nhau.

Ví dụ: tự nhiên theo nghĩa rộng, là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan Xã hội chỉ là một

bộ phận đặc thù của giới tự nhiên Sự xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển của xã hội một mặt, phụ thuộc vào các qui luật tự nhiên, nhưng mặt khác còn phụ thuộc vào những qui luật xã hội, trong đó con người là chủ thể của lịch sử xã hội Do đó, xã hội không thể là cái gì khác, mà chính là một bộ phận đặc thù, được tách ra hợp qui luật của tự nhiên, là hình thức tổ chức vật chất cao nhất của vật chất trong quá trình tiến hoá liên tục, lâu dài của tự nhiên

- Tính chất của mối liên hệ: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.

Tính khách quan của mối liên hệ là mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, dù thể

hiện dưới hình thức nào cũng cũng là sự qui định, tác động và chuyển hoá lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng độc lập và không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có thể nhận thức

và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn xã hội Ví dụ: con người không thể tùy tiện lựa chọn chủ quan một hình thức xã hội này hay một hình thức xã hội khác Với tư cách là chủ thể của lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn của mình thì con người có thể nhận thức, vận dụng thành công các qui luật khách quan để khẳng định vai trò của con người trong quá trình biến đổi hiện thực khách quan

Tính phổ biến của mối liên hệ là không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới tồn tại tuyệt đối biệt

lập mà bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ vốn có của sự vật, hiện tượng như một cấu trúc mang tính hệ thống và sự tương tác và biến đổi lẫn nhau trong tự nhiên, xã hội và

tư duy Những hình thức riêng biệt, cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiên cứu của từng ngành khoa học cụ thể, còn phép biện chứng duy vật thì nghiên cứu những mối liên hệ phổ biến của tự nhiên xã hội và tư duy Vì vậy, Ph.Ăngghen đã viết: “Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến”[1]

Tính đa dạng phong phú của mối liên hệ là các sự vật, hiện tượng đều có những mối liên hệ cụ

thể khác nhau gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định Căn cứ tính đa dạng phong phú của mối liên hệ có thể phân chia các mối liên hệ theo từng cặp như mối liên hệ bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, mối liên hệ cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng… Sự phân chia các cặp của các mối liên hệ cũng mang tính tương đối, vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận của mối liên hệ phổ biến và giữa chúng đều có khả năng chuyển hoá cho nhau, tùy theo những điều kiện khách quan nhất định

b Ý nghĩa phương pháp luận

Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Cho nên, khi nghiên cứu mối liên hệ phổ biến phải có quan điểm toàn điện, quan điểm lịch sử cụ thể

- Nguyên tắc (Quan điểm) toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích về sự vật phải đặt nó trong

mối quan hệ với sự vật khác Đồng thời, phải nghiên cứu tất cả những mặt, những yếu tố, những mối liên hệ vốn có của nó Qua đó để xác định được mối liên hệ bên trong, bản chất, qui luật của

Trang 9

sự vật, hiện tượng Ví dụ: Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thành phần kinh tế, tức là các kiểu tổ chức kinh tế, các kiểu quan hệ sản xuất với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau, cũng tồn tại trong một nền kinh tế quốc dân thống nhất Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Có nghĩa là có sự thống nhất ở mức độ nhất định về mặt lợi ích, nhưng nó cũng tồn tại những mâu thuẫn nhất định…

- Nguyên tắc (Quan điểm lịch sử cụ thể) đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận

động và phát triển của bản thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể Khi phân tích tính toàn diện về các mối liên hệ của sự vật phải đặt nó trong mối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử cụ thể của các mối quan hệ đó Ví dụ: Nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, không có nghĩa là xóa bỏ các quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, mà chỉ phát triển sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Hiện nay trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nên việc duy trì và phát triển hình thức sở hũu tư nhân về tư liệu sản xuất là một yêu cầu khách quan mang tính qui luật

Phê phán quan điểm siêu hình coi sự tồn tại của các sự vật và hiện tượng trong thế giới là những

cái tách rời nhau, giữa chúng không có sự liên hệ tác động qua lại, không có sự chuyển hóa lẫn nhau và nếu có chỉ là sự liên hệ mang tính chất ngẫu nhiên, gián tiếp

QUI LUẬT THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN THAY ĐỔI CHẤT - QUI LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Nội dung, ý nghĩa phương pháp luận qui luật thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi chất - qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Qui luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại nghiên cứu nghiên cứu phương thức (cách thức) chung, phổ biến của các quá trình vận động và phát triển của tự nhiên,

xã hội và tư duy

1 Khái niệm chất và lượng

Bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới cũng bao gồm sự thống nhất giữa chất và lượng

Chất là tính qui định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác.

Mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới đều là những chất cụ thể để khẳng định sự vật, hiện tượng đó

là gì và phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác Con người khác với động vật là do tính qui định

về chất của con người và là khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động và có ý thức

Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính có thể là một chất Do đó, mỗi sự vật có thể là một chất, có thể là nhiều chất tuỳ theo những mối liên hệ nhất định Ví dụ: Con người là một thực thể tư nhiên có đặc tính xã hội là một để khẳng định con người là gì và phân biệt con người với các sự vật, hiện tượng khác trong tự nhiên Nhưng theo một nghĩa khác, con người bao gồm hai thuộc tính chung nhất là thuộc tính sinh học và thuộc tính xã hội và tương ứng với hai thuộc tính

Trang 10

đó cũng được coi là một chất cụ thể khác nhau của con người Cho nên, phân biệt sự khác nhau giữa chất và thuộc tính cũng chỉ mang tính chất tương đối, tuỳ theo những mối liên hệ nhất định.Chất có tính ổn định tương đối để khẳng định sự vật là gì và là tiêu chuẩn để phân biệt nó với sự vật khác.

Lượng cũng là tính qui định khách quan vốn có của sự vật biếu thị số lượng, qui mô, trình độ, nhịp điệu (tốc độ) của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như của các thuộc tính của sự vật.

Mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới đều là những chất cụ thể được thể hiện thông qua lượng Do

đó, lượng của sự vật là sự biểu hiện chất của sự vật dưới các hình thức khác nhau như số lượng, qui mô, trình độ, nhịp điệu (tốc độ) của sự vận động và phát triển của sự vật Ví dụ, tính qui định

về chất (bản chất) của con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội Theo đó, lượng của (bản chất) con người là từng quan hệ xã hội cụ thể…

Như vậy, chất và lượng là phương diện (mặt) khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng hay một quá trình nhất định của thế giới Chất và lượng mang tính khách quan, chất của sự vật thể hiện thông qua lượng, lượng biểu thị dưới các hình thức khác nhau của chất; nhưng phân biệt sự khác nhau giữa chất và lượng chỉ mang tính tương đối Ví dụ: Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay là một chất, đó là cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa, nhưng nó thông qua lượng là bao gồm các thành phần kinh tế, tức là các kiểu tổ chức kinh tế, các kiểu quan hệ sản xuất với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau, cũng tồn tại trong một nền kinh tế quốc dân thống nhất Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Có nghĩa là nếu xem xét mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế, thì mỗi một thành phần kinh

tế có thể được coi là một chất cụ thể nhất định…

2 Biện chứng giữa chất và lượng

Trong các sự vật, hiện tượng cũng là một thể thống nhất giữa chất và lượng ở giới hạn độ nhất

định

Độ là liên hệ qui định lẫn nhau giữa chất và lượng, nó là giới hạn mà trong đó sự vật vẫn là nó, nó

chưa trở thành cái khác, nhưng đồng thời trong giới hạn độ hai mặt chất và lượng tác động qua lại lẫn nhau làm cho sự vật vận động và biến đổi Ví dụ: sinh viên là những người đang học ở các trường cao đẳng và đại học, nhưng họ chưa tốt nghiệp; mặc dù trong quá trình học tập, họ có sự tích lũy tín chỉ các môn học dưới nhiều hình thức khác nhau Đó là giới hạn độ thể hiện sự qui định giữa chất là lượng của quá trình đào tạo, mà họ vẫn là sinh viên, họ chưa phải là kỹ sư, cử nhân…

Sự vận động và biến đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ quá trình thay đổi về lượng, nhưng sự thay đổi về chất chỉ xảy ra khi đã kết thúc một quá trình thay đổi về lượng, sự thay đổi đó đạt giới

hạn củađiểm nút.

Điểm nút là giới hạn mà ở đó sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, vượt qua giới hạn

độ để dẫn đến bước nhảy (nhảy vọt về chất) Ví dụ: những sinh viên đã tích lũy đầy đủ các tín chỉ

theo yêu cầu đào tạo, họ có thể bảo vệ luận văn, hoặc thi tốt nghiệp để trở thành kỹ sư, cử

Trang 11

nhân… đó là giới hạn của điểm nút và khi họ bảo vệ thành công luận văn hoặc đạt kết quả thi tốt nghiệp trở thành kỹ sư, cử nhân… đó là bước nhảy về chất.

Bước nhảy (nhảy vọt về chất) kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng nhưng nó không chấm dứt

sự vận động, nó chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của vận động Đó là quá trình sự vật cũ, chất cũ mất đi làm xuất hiện sự vật mới, chất mới Xét về hình thức của bước nhảy diễn ra dưới hai hình

thức: bước nhảy dần dần và bước nhảy đột biến.

Bước nhảy dần dần diễn ra trong một thời gian dài, sự tích lũy biến đổi về lượng dẫn đến sự

chuyển hoá dần dần từ chất này sang chất khác; đó cũng là sự biến đổi bộ phận của sự vật để dẫn đến sự biến đổi toàn bộ toàn bộ sự vật làm sự vật cũ, chất cũ mất đi, xuất hiện sự vật mới, chất mới Ví dụ: sự xuất hiện con người là một quá trình thông qua nhiều giai đoạn và nhiều hình thức khác nhau trong sự tiến hoá lâu dài của lịch sử tự nhiên

Bước nhảy đột biến diễn ra trong một thời gian rất ngắn, sự tích lũy, biến đổi về lượng và đồng

thời với nó là quá trình bước nhảy về chất toàn bộ của sự vật Ví dụ như một vụ nổ nguyên tử hoặc là những tia lửa điện của hiện tượng sấm chớp trong tự nhiên…

Sự thay đổi lượng dẫn đến thay đổi chất bao gìơ cũng được xem xét bởi những điều kiện khách quannhất định Bởi vì, trong điều kiện khách quan này sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi

vế chất, thì ngược lại trong điều kiện khách quan khác cũng vẫn sự biến đổi về lượng như vậy nhưng không có sự biến đổi về chất Ví dụ: sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam, một mặt phụ thuộc sự vận dụng các qui luật của kinh tế thị tường; nhưng mặt khác và chủ yếu là sự vận dụng các qui luật kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện lịch sử, cụ thể ở Việt Nam hiện nay

Qui luật thay đổi lượng dẫn đến thay đổi chất không chỉ nói lên một chiều là sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất, mà còn có chiều ngược lại Đó là quá trình hình thành sự vật mới, chất mới và chất mới qui định lượng mới của nó Khi sự vật mới ra đời bao hàm chất mới, nó lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó và trong sự vật mới lại lặp lại quá trình thay đổi lượng dẫn

đế thay đổi chất như là phương thức chung, phổ biến của mọi sự vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy

3 Ý nghĩa

Cần phân biệt sự khác nhau giữa tính qui định về chất và lượng Tính qui định về chất mang tính khẳng định sự vật là gì và phân biệt sự khác nhau giữa các sự vật Chất là cái tương đối ổn định,

là cái quyết định đối với lượng và bản thân sự vật Ngược lại, lượng không có ý nghĩa khẳng định

sự vật là gì, không là tiêu chuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các sự vật, là cái thường xuyên thay đổi và phụ thuộc vào chất…

Xem xét quá trình thay đổi về chất phải nghiên cứu quá trình tích lũy về lượng, biến đổi về lượng

gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định Bởi vì, trong điều kiện khác quan này lượng

thay đổi sẽ dẫn đến thay đổi chất, nhưng trong điều kiện khách quan khác vẫn sự thay đổi về lượng như vậy có thể không dẫn sự thay đổi về chất

Trang 12

Phê phán những khuynh hướng tuyệt đối việc thay đổi chất mà không chú ý đến quá trình thay

đổi lượng và ngược lại

QUI LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP - QUI LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Nội dung, ý nghĩa phương pháp luận qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập - qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Qui luật thống nhất và đấu tranh của những mặt đối lập

nghiên cứu nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi sự vận động và phát triển

Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập còn gọi là qui luật mâu thuẫn, đó là “hạt nhân của phép biện chứng” V.I.Lênin viết: “Có thể định nghĩa văn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng có điều đòi hỏi phải có sự giải thích và một sự phát triển thêm”[1]

1 Mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn

Đối lập với phép biện chứng, quan điểm siêu hình đều phủ nhận mâu thuẫn bên trong của các sự vật và hiện tượng, mà chỉ thừa nhận sự khác biệt, đối lập, giữa các sự vật, hiện tượng nhưng không phải là mâu thuẫn hoặc nếu có mâu thuẫn thì đó chỉ là những mâu thuẫn bên ngoài Phép biện chứng duy vật khẳng định mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan

- Mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng.

Trong các sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất của các mặt đối lập, những mặt đối lập này liên hệ tác động qua lại và ràng buộc lẫn tạo thành mâu thuẫn Ví dụ: mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ trong xã hội phong kiến; giữa tình cảm và lý trí trong hoạt động nhận thức; giữa lực hút và lực đẩy của nam châm Sự khác nhau, đối lập và mâu thuẫn không phải là những khái niệm đồng nhất Sự khác nhau có thể dẫn đến sự đối lập, nhưng không phải sự khác nhau nào cũng dẫn đến sự đối lập (ngày – đêm, trên – dưới, trong – ngoài v.v )

Các sự vật, hiện tượng là những thể thống nhất có rất nhiều mặt đối lập, nên nó có nhiều loại mâu thuẫn, nhưng một mâu thuẫn được hình thành bởi hai mặt đối lập.Ví dụ: Mâu thuẫn giữa giai cấp giữa tư sản – công nhân; giữa đồng hóa - dị hóa; biến dị - di truyền…

- Các tính chất chung của mâu thuẫn Mâu thuẫn có tính khách quan và tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú.

Tính khách quan của mâu thuẫn khẳng định mọi sự vật, hiện tượng của thế giới đều bao hàm

mâu thuẫn, độc lập và không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong hoạt động thực tiễn xã hội

Tính phổ biến của mâu thuẫn, một mặt, khẳng định mâu thuẫn không chỉ tồn tại trong các sự vật,

hiện tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy; mặt khác còn khẳng định quá trình giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng

Trang 13

Tính đa dạng phong phú của mâu thuẫn được thể hiện trong các sự vật, hiện tượng đều gắn liền

với những điều kiện khách quan nhất định Căn cứ tính đa dạng phong phú của mâu thuẫn trong

hiện thực, phép biện chứng duy vật nêu lên các loại mâu thuẫn như: mâu thuẫn bên trong - bên ngoài; mâu thuẫn cơ bản - không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu - mâu thuẫn thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng – mâu thuẫn không đối kháng v v

2 Quá trình vận động của mâu thuẫn

Trong mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và đấu tranh với nhau, đó cũng là quá trình vận động của mâu thuẫn trong các sự vật, hiện tượng của thế giới Ví dụ: sự hình thành, vận động và phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng là một quá trình tự thân của sự hình thành, vận động những mâu thuẫn xã hội vốn có của chủ nghĩa tư bản Đó cũng là sự thống nhất, đấu tranh trong quá trình giải quyết những mâu thuẫn xã hội của chủ nghĩa tư bản dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau

Thống nhất các mặt đối lập hiểu theo nghĩa chung nhất đó là những mặt đối lập tạo thành những

mâu thuẫn và đồng thời cũng tạo thành bản thân các sự vật và hiện tượng Trong một mâu thuẫn, hai mặt đối lập liên hệ với nhau trong một thể thống nhất, - đó là thống nhất của những mặt đối lập Đó cũng là sự ràng buộc và qui định lẫn nhau, mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm điều kiện tồn tại cho mình hoặc không có mặt đối lập này thì không có mặt đối lập kia Ví dụ: không có đồng hoá sẽ không có dị hoá hoặc ngược lại trong quá trình trao đổi chất giữa các thực thể sinh học đối với môi trường hoặc không có giảng dạy sẽ không học tập trong giáo dục…

Khái niệm về sự “thống nhất” và sự “đồng nhất” của các mặt đối lập theo một nghĩa nào đó, đều

là sự thừa nhận những khuynh hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau trong tất cả các sự vật và hiện tượng Tuy nhiên, khái niệm về sự đồng nhất còn bao hàm sự chuyển hoá các mặt đối lập Điều

đó, có nghĩa là không có sự đồng nhất thuần tuý trừu tượng hoặc mang tính tuyệt đối trong hiện thực khách quan

Đấu tranh của các mặt đối lập là khuynh hướng phát triển đối lập nhau của các mặt đối lập dẫn

đến sự bài trừ, phủ định và chuyển hóa giữa các mặt đối lập Đấu tranh của các mặt đối lập còn là quá trình giải quyết những mâu thuẫn trong các sự vật và hiện tượng khách quan nói chung, nhưng không nên hiểu theo nghĩa đen của từ này như người ta thường hiểu chỉ là đấu tranh giai cấp, bạo lực Ví dụ: Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và công nhân trong chủ nghĩa tư bản Cuộc “đấu tranh” giữa lực hút và lực đẩy, giữa đồng hóa và dị hóa, giữa biến dị và di truyền; giữa cái thiện và cái ác trong đạo đức của con người

Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của những mặt đối lập về thực chất là thể hiện sự

thống nhất biện chứng của các mâu thuẫn của các sự vật và hiện tượng

Thống nhất của các mặt đối lập mang tính tương đối, tạm thời Vì nó luôn là cái cụ thể có tính

chất lịch sử giống như sự “đứng im” tương đối của sự vật và hiện tượng Trong thể thống nhất đó, luôn diễn ra quá trình đấu tranh của các mặt đối lập, chuyển hóa các mặt đối lập dưới nhiều hình thức khác nhau Ví dụ: sự hình thành phát triển của chủ nghĩa tư bản là một chỉnh thể thống nhất các mặt đối lập và là một xã hội cụ thể Nhưng trong quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của

Trang 14

nó luôn diễn ra quá trình đấu tranh các mặt đối lập, chuyển hoá các mặt đối lập làm xuất hiện những điều kiện chín muồi của cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ dẫn đến việc xoá bỏ chủ nghĩa tư bản xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đấu tranh của các mặt đối lập mang tính tuyệt đối Bởi vì, nó là nguồn gốc, động lực bên trong

của sự phát triển Đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình lâu dài phức tạp, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với những giai đoạn khác nhau Khi mâu thuẫn phát triển đến mức độ

gay gắt, đến điều kiện chín muồi thì xảy ra sự chuyển hóa của các mặt đối lập và khi đó thì mâu thuẫn được giải quyết Kết quả là thể thống nhất cũ, sự vật cũ mất đi, thể thống nhất mới, sự vật mới xuất hiện và bao hàm những mâu thuẫn mới.

Chuyển hóa các mặt đối lập được thể hiện trong quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật cũ làm

xuất hiện sự vật mới, trong đó các mặt đối lập trước đây đã không còn đồng nhất với chính nó mà

đã có sự thay đổi hoặc bị xóa bỏ thông qua sự chuyển hóa của các mặt đối lập Ví dụ: Sự chuyển hóa các mặt đối lập trong quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ - nông dân trong chế độ phong kiến và giai cấp tư sản – công nhân trong chế độ tư bản chủ nghĩa, không có nghĩa

là giai cấp địa chủ trở thành giai cấp nông dân và ngược lại hoặc giai cấp tư sản thành giai cấp công nhân và ngược lại; thực chất, trong sự chuyển hóa đó mỗi giai cấp có sự thay đổi và sự thay đổi đó dẫn đến giải quyết mâu thuẫn làm xuất hiện một xã hội mới cao hơn

3 Phân loại mâu thuẫn

- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.

- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.

- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.

- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.

4 Ý nghĩa phương pháp luận

Khi phân tích mâu thuẫn của sự vật và hiện tượng về nguyên tắc, phải thừa nhận tính khách quan, tính phổ biến và tính riêng biệt của mâu thuẫn Đặc biệt, là tính riêng biệt của mâu thuẫn Bởi vì, sự vật, hiện tượng khác nhau có mâu thuẫn khác nhau; trong một sự vật, hiện tượng có rất nhiều loại mâu thuẫn khác nhau; trong một mâu thuẫn là một quá trình mang tính giai đoạn, lịch sử cụ thể nên phải có phương pháp giải quyết phù hợp với từng loại mâu thuẫn

Khái quát tính đa dạng phong phú của mâu thuẫn trong hiện thực, phép biện chứng duy vật nêu lên các loại mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không

cơ bản…cho nên, phải có các phương pháp giải quyết khác nhau phù hợp với từng loại mâu thuẫn Trong đó, mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu là các loại mâu thuẫn quan trọng

Phê phán những quan niệm duy tâm siêu hình về mâu thuẫn

QUI LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH - QUI LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Trang 15

Qui luật phủ định của phủ định nghiên cứu về khuynh hướng cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động và phát triển.

1 Phủ định biện chứng

a Phủ định là gì?

Phủ định hiểu theo nghĩa chung nhất là sự thay thế, chuyển hóa giữa các sự vật và hiện tượng

của thế giới khách quan nói chung Sự phủ định ở trong hiện thực khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng phép biện chứng duy vật không có ý nói đến bất kỳ sự phủ định nào,

mà chỉ chỉ nói đến sựphủ định làm tiền đề tạo điều kiện cho sự phát triển, cho sự xuất hiện cái mới, cái cao hơn và hoàn thiện hơn cái cũ hoặc quá trình trước đó.

Trong sự thay thế, chuyển hoá giữa các sự vật, hiện tượng có sự phủ định không làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển như nghiền nát một hạt thóc, xéo chết một con sâu, hoặc tác hại của

thiên nhiên đối với con nguời và sinh vật nói chung Đó là sự phủ định thông thường (do sự tác động bên ngoài hoặc do ngẫu nhiên) không do nguyên nhân bên trong các sự vật, hiện tượng và

nó không bao hàm yếu tố kế thừa để khẳng định khuynh hướng tất yếu của sự phát triển

b Phủ định biện chứng

Phủ định biện chứng là sự phủ định tự thân Đó là sự phủ định do việc giải quyết những mâu

thuẫn bên trong các sự vật và hiện tượng làm xuất hiện cái mới Ví dụ: Sự thay đổi, chuyển hóa giữa các hình thức phản ánh của vật chất theo một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp như: từ phản ánh vô cơ - hữu cơ - từ phản ánh tâm lý ở động vật đến sự xuất hiện ý thức con người

Phủ định biện chứng có hai đặc điểm:

Tính khách quan Sự xuất hiện cái mới trong phủ định biện chứng đều là kết quả của quá trình

giải quyết những mâu thuẫn bên trong các sự vật và hiện tượng theo những qui luật khách quan vốn có của nó, độc lập với ý thức Ví dụ: Sự xuất hiện các học thuyết khoa học ngày càng phát triển cao hơn, đều là kết quả của quá trình phủ định trong sự hoàn thiện khả năng nhận thức của con người về hiện thực khách quan

Tính kế thừa Sự xuất hiện cái mới trong phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, đoạn tuyệt với cái cũ, mà là cái mới xuất hiện trên cơ sở cái cũ, bao hàm tính kế thừa với cái

cũ Yếu tố kế thừa của cái mới đối với cái cũ, không phải là sự kế thừa tất cả nguyên vẹn, mà chỉ

kế thừa những mặt tích cực nhất của cái cũ và nó cũng đã thay đổi cho phù hợp với cái mới, tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của cái mới Bởi vì, xét về thực chất phát triển là sự biến đổi

mà giai đoạn sau còn bảo tồn tất cả những gì tích cực đã được tạo ra ở giai đoạn trước

Đối lập với phép biện chứng những người theo quan điểm siêu hình coi phủ định chỉ là sự thay đổi

đơn giản, hoặc phủ định hoàn toàn loại bỏ cái cũ, không có tác dụng gì trong quá trình hình thành cái mới (phủ định sạch trơn) Điều đó, dẫn đến tính chất máy móc, đơn giản, phiến diện khi phân tích bản chất về sự phủ định

2 Bản chất phủ định của phủ định

Trang 16

Trong sự vận động và phát triển mang tính chất vô tận của thế giới, đều thông qua phủ định biện chứng, cái mới phủ định cái cũ và cái mới này lại bị cái mới sau phủ định, tạo nên những chu kỳ vận động nhất định ở trong hiện thực khách quan Có thể nói, chu kỳ vận động của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan, kể cả ý thức của con người đều thông qua các hình thức vận động cơ bản của vật chất Chính vì vậy, có những chu kỳ cơ học, hoá học, vật lý, sinh học, xã hội…dưới nhiều hình thức khác nhau.

Trong các sự vật, hiện tượng luôn bao gồm hai mặt, mặt khẳng định và mặt phủ định Hai mặt này vừa thể hiện khẳng định sự tồn tại, nhưng đồng thời lại bao hàm khả năng sự biến đổi và chuyển hóa Từ khẳng định đến phủ định và phủ định cái phủ định, đó là quá trình xuất hiện cái mới dường như quay lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn Thực chất của quá trình này là phủ định cái phủ định có tính chu kỳ nằm trong quá trình sự vận động và phát triển của các sự vật và hiện tượng

Trong một chu kỳ vận đông của các sự vật, hiện tượng, phủ định của phủ định là sự phủ định lần

thứ nhất tạo ra mặt đối lập của cái ban đầu (trong một chu kỳ), sự phủ định lần thứ hai (hoặc nhiều hơn) lại tái hiện lại những đặc điểm cơ bản của cái ban đầu nhưng cao và hoàn thiện hơn cái ban đầu Đó là quá trình phủ định của phủ định, cái mới xuất hiện với tính cách là tổng hợp tất

cả các yếu tố tích cực đã được phát triển từ trước thông qua những chu kỳ vận động nhất định của hiện thực khách quan nói chung

Ví dụ: gieo trồng một hạt thóc (lúa) sự phủ định lần thứ nhất tạo thành cây lúa, phủ định lần thứ hai là sự xuất hiện những hạt lúa mới; những hạt lúa mới là kết quả của chu kỳ sinh học, nếu nó

kế thừa những mặt tích cực đã được phát triển từ trước của hạt lúa cũ thì nó có khả năng thích ứng với môi trường đã biến đổi và cho năng suất cao hơn…

Nghiên cứu chu kỳ vận động và phát triển của xã hội, thì chúng ta cũng bắt đầu từ xã hội nguyên thủy Đó là xã hội đầu tiên, tự thân nó bao gồm những đặc điểm cơ bản như: sở hữu công cộng

về tư liệu sản xuất, là xã hội không có giai cấp, nhà nước… xã hội nguyên thủy bị phủ định bởi xã hội chiếm hữu nô lệ Đây là sự phủ định lần thứ nhất tạo ra những mặt đối lập so với xã hội nguyên thủy Đó là sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sự xuất hiện giai cấp và nước… xã hội phong kiến phủ định xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội tư bản phủ định xã hội phong kiến… chủ nghĩa cộng sản phủ định xã hội tư bản với khả năng tái hiện lại những đặc điểm cơ bản của xã hội nguyên thủy Đó là sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, xóa bỏ giai cấp và nhà nước…nhưng những đặc điểm chung đó không đồng nhất với xã hội nguyên thủy, mà nó cao và hoàn thiện hơn xã hội nguyên thủy

Sự phát triển của sự vật, thông qua nhiều lần phủ định biện chứng, tạo thành khuynh hướng phát

triển tất yếu của sự vật và hiện tượng từ thấp đến cao một cách vô tận theo đuờng xoáy ốc.

Đường xoáy ốc được thể hiện tính chất biện chứng của sự phát triển như: Tính kế thừa, tính lặp lại, tính phát triển, mỗi vòng xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao.

3 Ý nghĩa

Ngày đăng: 02/11/2014, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w