1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự báo tình hình những năm đầu của thế kỷ 21 để làm cơ sở xây dựng kế hoạch định hướng phát triển thủ đô đến năm 2010

66 593 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dự báo tình hình những năm đầu của thế kỷ 21 để làm cơ sở xây dựng kế hoạch định hướng phát triển thủ đô đến năm 2010
Tác giả TS. Vũ Trọng Lâm, PGS.TS. Ngụ Doón Vịnh, PGS.TS. Nguyễn Xuõn Thắng, TS. Lưu Đức Hải, TS. Chu Đức Dũng, TS. Hoàng Xuõn Nghĩa
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 569,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự báo tình hình những năm đầu của thế kỷ 21 để làm cơ sở xây dựng kế hoạch định hướng phát triển thủ đô đến năm 2010

Trang 1

CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA:

6 TS Vò Träng L©m, Phã Văn phòng Thành uỷ Hà Nội

6 TS Hoàng Xuân Nghĩa, Phó Trưởng phòng, Viện Nghiên

cứu phát triển KT – XH Hà Nội

5777

24/4/2006

Hµ Néi - 2004

Trang 2

CHUYấN ĐỀ:

DỰ BÁO TèNH HèNH NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ

KỶ XXI ĐỂ LÀM CƠ SỞ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỦ Đễ ĐẾN NĂM 2010

PHẦN I: DỰ BÁO TèNH HèNH quốc tế, khu vực đến năm

2010 và tác động của nó đến tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam nói chung, Thủ đô Hà Nội nói riêng

I Bối cảnh quốc tế và khu vực đến năm 2010

Về các xu hướng lớn trong sự phát triển của thế giới kể từ đầu thập kỷ

1990, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và các nghiên cứu gần

đây đã chỉ rõ:

(1) Khoa học và công nghệ tiếp tục sẽ có những bước nhảy vọt, kinh

tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất;

(2) Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực;

Dưới đõy, chuyờn đề sẽ phõn tớch cỏc đặc điểm mới của bối cảnh

quốc tế và khu vực từ nay đến năm 2010:

Trang 3

1 Các mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển mạnh

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã diễn ra mạnh mẽ trong gần hai thập kỷ qua và đã có tác động sâu rộng tới đời sống kinh tế toàn cầu Cuộc cách mạng này dựa trên các trụ cột chính là công nghệ tin học, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ hàng không vũ trụ Trên tất cả các trụ cột này, mặc dù các đổi mới công nghệ đã diễn ra với tốc độ hết sức nhanh chóng, song tiềm năng phát triển còn rất lớn Một

đặc điểm quan trọng khác của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ này là các lĩnh vực công nghệ đã phát triển trong sự tương tác lẫn nhau mạnh mẽ, tăng mạnh việc áp dụng các bước tiến công nghệ của nhau Nhiều dự báo hiện nay thống nhất ở đánh giá cho rằng, trong mười năm tới, sẽ diễn ra hàng loạt các đột phá trong các ngành công nghệ mũi nhọn

Tuy nhiên, trong xu thế này cũng sẽ có một số vấn đề nảy sinh liên quan đến tính nhân văn của công nghệ, tính bảo mật, tội phạm liên quan đến công nghệ mới song nhìn chung có thể coi đó chỉ là những trở ngại nhỏ so với xu thế lớn của phát triển công nghệ Sự chao đảo, bất ổn của thị trường chứng khoán công nghệ cao ở các nền kinh tế phát triển trong mấy năm gần

đây cũng đã làm xuất hiện tâm lý hoài nghi về triển vọng của sự phát triển khoa học - công nghệ Trên thực tế, sự chao đảo, bất ổn đó chủ yếu là do hai nhân tố chính: sự đầu tư quá mức vào các ngành công nghệ cao, tình hình an ninh quốc tế trở nên bất ổn do sự nổi lên của chủ nghĩa khủng bố cũng như cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố Tuy nhiên, khoa học - công nghệ vẫn không ngừng được phát triển như là con đường tất yếu, phù hợp với lôgic phát triển của nhân loại Phát triển khoa học - công nghệ còn được coi

là lối thoát cấp thiết và hữu hiệu trong bối cảnh bất ổn kinh tế - chính trị toàn cầu

Nhiều đánh giá cho rằng tới năm 2020, các nước phát triển hiện nay

sẽ chuyển mạnh sang kinh tế tri thức Hiện nay, ở các nước này, vai trò của tri thức, công nghệ đã cao hơn vai trò của các yếu tố cơ bản của nền kinh tế hữu hình (hay nền kinh tế công nghiệp) như vốn, lao động giá rẻ, tài nguyên

tự nhiên, và trở thành lực lượng sản xuất quan trọng nhất Công nghệ cao

đang trở thành ngành chủ đạo trong cơ cấu nền kinh tế, đồng thời thâm nhập nhanh chóng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, làm cho trình độ và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng cao Kinh tế tri thức đã được coi là giai đoạn mới trong tiến bộ kinh tế của loài người, trong đó nhân tố tri thức, trí tuệ trở thành lực lược sản xuất hàng đầu Diện mạo của nền kinh tế thế giới sẽ thay đổi một cách căn bản Thúc đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển kinh tế tri thức đang là một chiến lược then chốt của các nước

phát triển hiện nay, với các hướng chính sách lớn là: đổi mới tư duy, phát

Trang 4

triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đề cao tinh thần kinh doanh,

đẩy mạnh công tác nghiên cứu và triển khai khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, cải cách kinh tế và xã hội theo hướng tự do hoá và mở cửa hơn Các nền kinh tế phát triển trong thập kỷ tới sẽ tiếp tục giữ vai trò đi

đầu và chi phối sự phát triển kinh tế thế giới, là động lực cho sự tăng trưởng của các nền kinh tế khác

Tiềm lực tri thức, công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến tiền đồ phát triển của mỗi quốc gia Đối với các nước đang phát triển, quá trình công nghiệp hoá nhìn chung chưa hoàn thành Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ở các nước phát triển đang làm gia tăng khoảng cách về trình độ công nghệ giữa các nước này với các nước đang phát triển Công nghệ đang

là một công cụ quan trọng của các nước phát triển trong việc chi phối các nước đang phát triển

Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các nước đang phát triển đang có những cơ hội và điều kiện khách quan để "rút ngắn" khoảng cách về trình độ công nghệ giữa họ với các nước phát triển, do có những lợi thế phát triển của các nước đi sau Đó là lợi thế

về vốn, về thị trường, về công nghệ và về kinh nghiệm phát triển ấn Độ là một ví dụ khá điển hình về việc tiếp nhận tri thức công nghệ của thế giới để phát triển mạnh lĩnh vực công nghệ thông tin và nhanh chóng trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu phần mềm có hạng trên thế giới Chính phủ ấn Độ

đang đặt ưu tiên phát triển công nghệ sinh học, công nghệ tin học và chế tạo dược phẩm, là những lĩnh vực năng động nhất hiện nay trên thế giới Trung Quốc cũng đã hiện đại hoá công nghệ với nhịp độ cao, bằng cách coi trọng các ngành công nghệ cao, lấy công nghệ thông tin là chủ đạo, hướng vào cải tạo các ngành truyền thống nhằm phát huy sức mạnh của toàn bộ nền kinh

tế quốc dân Tuy phương thức thực hiện có khác nhau, cả hai nước này đều

có điểm chung là đẩy nhanh hiện đại hoá công nghệ trong nước nhờ tiếp thu công nghệ và vốn nước ngoài Thành công này là một động lực quan trọng giúp hai nước này duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua

2 Những chiều hướng mới trong xu thế toàn cầu hoá

Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã và đang diễn ra mạnh mẽ dưới tác

động của cách mạng khoa học - công nghệ Hệ thống kinh tế thế giới, mặc

dù được đẩy mạnh bằng tiến trình tự do hoá nhằm hướng tới một hệ thống kinh tế đa phương, không phân biệt đối xử trên thực tế vẫn là một hệ thống thiếu công bằng, dựa nhiều vào các tương quan sức mạnh Vai trò dẫn dắt, chi phối của hệ thống kinh tế thế giới trong vòng mười năm tới vẫn thuộc về

Trang 5

các nước phát triển nhất, đứng đầu là Mỹ Vì vậy, mọi sáng kiến thúc đẩy tiến trình tự do hoá và toàn cầu hoá rốt cuộc vẫn mang lại nhiều lợi ích hơn cho các nước phát triển

Đặc biệt sau cuộc chiến tranh Irắc, Mỹ đã nổi lên như một siêu cường duy nhất, bất chấp công pháp quốc tế, đã can dự và dính lúi vào mọi diễn biến của tình thình thế giới, cả về chính trị - quân sự và kinh tế - xã hội Từ thực tế này, trong khuôn khổ WTO, vòng đàm phán Đôha khó có thể kết thúc vào năm 2005 do các nước bất đồng về thời hạn và lĩnh vực tự do hoá

Đối phó với tình trạng này là sự nổi lên của xu hướng ký kết các hiệp định tự

do thương mại song phương FTA song phương và khu vực đang diễn ra phổ

biến và rộng khắp, ở hầu hết mọi khu vực trên thế giới Mỹ là nước đi đầu với việc chuyển mạnh từ lập trường chỉ ủng hộ cơ chế đa phương sang ủng

hộ cả cơ chế song phương trong tự do hoá thương mại Bởi vì theo họ, vòng

đàm phán mới trong khuôn khổ WTO tiến triển chậm chạp trong khi Mỹ cần mở rộng thị trường, chống thâm hụt thương mại và duy trì lợi thế cạnh tranh, thậm chí áp đặt những điều kiện có thể bảo đảm địa vị lãnh đạo của

Mỹ trong hệ thống thương mại thế giới Do đó, Mỹ đã áp dụng các sách lược khác nhau đối với hai bên bờ Đại Tây Dương và Thái Bình Dương Mỹ

đọ sức với EU trong đàm phán đa phương, nhưng với khu vực APEC và châu Phi lại là sự cổ vũ, thiết lập các FTA với Mỹ Bắt đầu đột phá với Singapore, Chi Lê và úc, Mỹ mở rộng sự đàm phán sang các nước khác, trong đó có

ASEAN Từ "Sáng kiến vì một ASEAN năng động", Mỹ đang khởi đầu cho

loạt đàm phán với Philippin, Thái Lan, Malayxia, thậm chí đẩy mạnh BTA với Lào trong nỗ lực cuối cùng là để xây dựng một mạng lưới các FTA song phương với ASEAN chứ không phải với toàn ASEAN với tư cách là một

định chế khu vực, như Trung Quốc đã ký kết khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA) hoặc như những xúc tiến FTA giữa Nhật Bản, Hàn Quốc với ASEAN hiện nay EU và Nhật Bản cũng đã có những điều chỉnh chiến lược theo hướng này Xu hướng này đẩy nhanh các tính toán tay

đôi giữa các nước, do vậy đang làm phần nào yếu đi các nỗ lực liên kết đa phương cũng như vai trò của các định chế đa phương trong quan hệ kinh tế quốc tế Dù được cắt nghĩa thế nào thì các luật chơi trong cuộc chơi toàn cầu cũng đã có những thay đổi Hầu như các nước đều không muốn mình là kẻ ngoài cuộc nên đã tích cực tham gia đàm phán và ký kết các FTA song phương Đó không những là các FTA giữa một định chế FTA khu vực với các quốc gia bên ngoài mà còn là giữa các quốc gia vốn là thành viên của một FTA Thậm chí nhiều nước đã tham gia ký kết FTA song phương với nhiều nước cùng một lức Nói cách khác, xu hướng liên kết kinh tế quốc tế

Trang 6

trên nhiều tuyến, nhiều cấp độ, nhiều hình thức đang đồng thời diễn ra, đan xen nhau một cách hết sức phức tạp

Cũng cần nhấn mạnh rằng, đặc điểm mới này không phải là sự đi ngược của tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu, bởi vì, về nguyên tắc, WTO không loại trừ khả năng một quốc gia thành viên có thể tham gia vào một định chế kinh tế khác, miễn là điều đó không đi ngược lại các nguyên tắc của hệ thống thương mại đa phương Tuy nhiên, kết quả khá rõ ràng của

xu hướng này là sự hình thành một mạng lưới dày đặc các quan hệ kinh tế song phương giữa các nước, trong đó các nước, đặc biệt là các nước phát triển, đều có chiến lược trở thành các điểm trung tâm của mạng lưới, có sức

ảnh hưởng mạnh đến các nước khác cũng như ảnh hưởng đến luật chơi toàn cầu

Sự cạnh tranh giữa các nước trong thực hiện chiến lược này chắc chắn

sẽ có tác động tái kết cấu các khối liên kết kinh tế khu vực hiện có cũng như hình thành các liên kết kinh tế khu vực mới Điều đáng chú ý là chính các nước phát triển là các nước ủng hộ tích cực nhất cho các đàm phán FTA song phương, trong khi những nước đi sau, trình độ phát triển thấp hơn, thường có thái độ dè dặt hơn Các nước tiếp nhận FTA song phương trong nhóm nước đang phát triển phần lớn là các nền kinh tế mới nổi, tham gia tích cực vào tiến trình tự do hoá và tỏ ra tin tưởng hơn vào kết quả của tiến trình này Hiện nay, FTA song phương rất được các nước phát triển hưởng ứng vì họ cho rằng đây là sự thoả thuận tay đôi nên dễ làm, có thể áp đặt

được một số điều kiện mà trong đàm phán đa phương thường gặp nhiều khó khăn và không phải chỉ bắt đầu chủ yếu bằng thương mại mà còn là để mở rộng đầu tư, thị trường và nhiều mục tiêu khác Nói cách khác, lợi ích của FTA song phương dĩ nhiên sẽ dành cho cả đôi bên song người có lợi thường

là các nước phát triển hơn và nhất là các nền kinh tế có độ mở cửa thị trường lớn hơn Theo đó, những nước mà các nền kinh tế vẫn còn áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật trong bảo hộ thương mại sẽ ít lợi hơn và gặp khó khăn hơn trong đàm phán Ví dụ, khó khăn trong đàm phán FTA giữa Thái Lan

và úc thể hiện trên các vấn đề sau: một là, kiểm dịch động vật và thực vật

mà phía úc đòi hỏi phải đạt yêu cầu của một nước công nghiệp phát triển;

hai là, úc không chấp nhận quy định về xuất xứ hàng hoá của AFTA 40%

từ các nước ASEAN và ba là, mở cửa thị trường dịch vụ không có giới hạn

cho úc

Hơn nữa, các FTA song phương, cho dù như nhiều phân tích đã khẳng

định là đều không đi ngược với tiến trình tự do hoá và các nguyên tắc WTO, vẫn là sự phân biệt đối xử bởi lẽ sự cam kết theo những cách khác nhau với

Trang 7

từng nước khác nhau đương nhiên sẽ tạo ra những sự khác biệt và sự lựa chọn ký kết chỉ với nước này mà không phải với nước kia, sẽ tạo ra sự bất

đồng trong quan hệ giữa các nước trong một thế giới mà các quốc gia, khu vực đã phụ thuộc lẫn nhau khá chặt chẽ Hơn nữa, với việc tiếp cận ký kết các FTA song phương cho đến nay chỉ đặt ra với các nước là thành viên WTO, trên thực tế, đã đặt các nước chưa phải là thành viên WTO ra ngoài cuộc chơi

Để tồn tại trong cân bằng tương quan sức mạnh giữa các nước lớn, các nước đang phát triển cần có đối sách thích hợp ASEAN đang có chiến lược tiến tới xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN với mục tiêu hướng tới một khu vực kinh tế hội nhập sâu hơn vào năm 2010, trong đó chú trọng xây dựng một khu vực di chuyển tự do về hàng hoá, dịch vụ, lao động có kỹ năng, vốn Tuy nhiên, việc các FTA trong nội khối ASEAN hoặc giữa từng nước ASEAN với bên ngoài được ký kết, liệu có thể làm giảm sự hăng hái

và tập trung nỗ lực vào liên kết toàn ASEAN? Việc Singapore và Thái Lan

đưa ra "nguyên tắc 2+X" như là nguyên tắc bổ sung cho "nguyên tắc 10-X"

và nguyên tắc đồng thuận nhằm đẩy mạnh sự hội nhập sâu hơn của ASEAN trong khuôn khổ Cộng đồng kinh tế ASEAN có vẻ phù hợp hơn với xu hướng giải quyết tay đôi hiện nay, song liệu điều đó có đe doạ đến sức mạnh của ASEAN như một thực thể khu vực?

Diễn biến mới này chứng tỏ xu thế toàn cầu hoá kinh tế vẫn đang tiến triển mạnh mẽ, song dưới các hình thái phức tạp hơn và đang đặt ra những thách thức mới cho các nước đang phát triển núi chung, Việt Nam núi riờng, trong chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế

3 Xu thế tăng cường cải cách thế chế kinh tế

Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, tiến trình nghiên cứu và đổi mới công nghệ, triển khai ứng dụng rộng rãi các công nghệ mới, các nước phát triển đã và đang tiến hành đồng thời đổi mới

tư duy và đặc biệt là cải cách thể chế kinh tế (theo nghĩa rộng, bao gồm cả việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế) Hai

tiến trình này bổ sung cho nhau, làm tiền đề cho nhau, tác động thúc đẩy nhau Sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại đòi hỏi đổi mới tư duy, cải cách thể chế kinh tế nhằm tạo ra một môi trường khuyến kích đổi mới và sáng tạo; ngược lại, đổi mới tư duy và cải cách thể chế kinh tế đòi hỏi sự hậu thuẫn của tiến bộ khoa học và công nghệ

Điều đáng lưu ý ở đây là, trong thời gian qua, các nước phát triển phát triển đã có nhiều bước tiến về thể chế kinh tế theo các hướng:

Trang 8

+ Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý, phát triển và hoàn thiện các thị trường, đặc biệt là các thị trường phi hàng hoá vật chất, hoàn thiện các công cụ điều tiết của chính phủ Hệ thống pháp luật tại các nước này đã phát triển sâu sắc và chặt chẽ hơn, đồng thời trong sáng và minh bạch hơn Cùng với tiến trình này là trình độ nhận thức pháp luật của các các viên chức cũng như các công dân được nâng cao

+ Xác định lại vai trò kinh tế của nhà nước, tiến hành phân cấp, phân quyền cho các địa phương, chia sẻ trách nhiệm điều tiết kinh tế cho các hiệp hội dân sự Quan hệ giữa nhà nước và thị trường, doanh nghiệp đã được đổi mới, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh

Nếu phân quyền đã là một truyền thống trong các nước có thể chế liên bang như Mỹ, Đức, thì tại nhiều nước khác như Pháp, Nhật phân quyền hoá là biện pháp được thực thi trong một hai thập niên qua, với nội dung chính là chia sẻ trách nhiệm điều tiết và phát triển kinh tế giữa nhà nước trung ương với các cộng đồng địa phương (ở mọi cấp) Cùng với phân quyền trách nhiệm, phân quyền về tài chính cũng đã đã được tiến hành Các nước này đang hướng tới một sự phân quyền hoá "thực sự", hàm chứa những thay đổi triệt để vai trò nhà nước: Vấn đề là nhà nước hợp tác với những tổ chức công khác có quyền hạn của riêng mình chứ không phải được uỷ nhiệm, trong mối quan hệ không phải là theo trật tự trên dưới Phân quyền

điều tiết kinh tế giúp cho các địa phương phát huy tính năng động sáng tạo của mình Nguyên tắc đó lại càng đúng trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu

đầy biến động và phức tạp hiện nay Một nguyên tắc khá vững chắc là: các cấp hành chính nhỏ hơn và thấp hơn có ưu thế nhất định so với các cấp lớn hơn và cao hơn trong điều tiết kinh tế do họ hiểu rõ hơn tình hình và nhu cầu của địa phương, đề ra chính sách phát triển kinh tế phù hợp hơn với các đặc

điểm địa phương, có khả năng phản ứng nhanh hơn, linh hoạt hơn trước những thay đổi của môi trường, thực thi các chính sách dễ dàng hơn do khả năng đồng thuận lớn hơn, do họ gần gũi với các công dân hơn nên dễ lãnh

đạo hơn

Chia sẻ trách nhiệm điều tiết kinh tế cho các hiệp hội dân sự là một

xu hướng nhằm tăng hiệu quả của vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước,

được nhiều nước phát triển chú ý Các hình thức thể chế hiệp hội (hiệp hội nghề nghiệp - kỹ nghệ, hiệp hội thương mại, hiệp hội giới chủ, các công

đoàn ) có nguồn gốc lâu đời trong lịch sử Các hiệp hội này thường thảo ra các quy tắc tự điều tiết Đây là thể chế trung gian vận hành trong lĩnh vực kinh tế, nhưng lại thực thi một chức năng chính trị đặc biệt là thúc đẩy sự hợp tác (tự nguyện) giữa các tác nhân kinh tế Sự hợp tác với các hiệp hội

Trang 9

thể hiện: nhà nước thừa nhận và trao cho các hiệp hội quyền được tự quản trong một lĩnh vực nhất định, tôn trọng tính độc lập về hợp đồng giữa các bên (như thang lương, các quyền lợi của người lao động đối với các công

đoàn) Về mặt kinh tế, các thể chế này có thể tạo được những cân bằng hiệu quả hơn so với phương thức chỉ huy của nhà nước Đặc biệt, trong tình hình

có những tình hình bất trắc đặc biệt, thì các cơ cấu điều tiết này có thể làm giảm nhẹ chi phí so với điều tiết vĩ mô của nhà nước Mặt khác, nhà nước vẫn cần có những quy định để tránh nguy cơ các tổ chức này trở nên cực

đoan, đi ngược lại các lợi ích chung của xã hội Nhưng ngay cả trong các trường hợp đó, sự hợp tác giữa nhà nước và các hiệp hội vẫn là điều kiện

then chốt để tìm giải pháp

+ Làm trong sạch và dân chủ hoá bộ máy nhà nước, trước hết thông qua minh bạch và công khai hoá, thực hiện "chính phủ điện tử", tăng cường

sự giám sát xã hội của xã hội đối với các cơ quan công quyền

+ Cải cách và hiện đại hoá thể chế doanh nghiệp, bao gồm chế độ sở hữu, hình thức tổ chức doanh nghiệp và cơ chế quản lý doanh nghiệp Trên thế giới đã và đang diễn ra một cuộc cách mạng thực sự trong quản lý kinh doanh của doanh nghiệp: tổ chức lại doanh nghiệp đồng thời theo hai hướng

là sáp nhập và chia nhỏ; triển khai các hình thức liên kết đa dạng và năng

động giữa các doanh nghiệp, nhất là trong liên kết nghiên cứu và triển khai công nghệ; cơ chế liên kết mới giữa thị trường cổ phiếu, doanh nghiệp đầu tư rủi ro và doanh nghiệp nhỏ công nghệ cao Mặt khác, sau vụ bê bối tài chính và phá sản của một loạt các công ty lớn trong các năm gần đây, các nước phát triển đã có những quy định mới nhằm tăng cường kỷ luật của các thị trường chứng khoán, tăng cường công tác kế toán, kiểm toán công ty theo hướng minh bạch hoá, dân chủ hoá, tăng cường trách nhiệm cá nhân

+ Bên cạnh nỗ lực thích ứng các thể chế quốc gia với các thể chế toàn cầu, các nước phát triển cũng đã có nhiều thành công trong việc hợp tác điều tiết kinh tế Các thể chế, cơ chế hợp tác giữa các nước này đã ngày càng đa dạng và thiết thực hơn điều đó hỗ trợ các nước này rất nhiều trong giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế, tranh chấp kinh tế, cũng như trong việc

đề xuất các đối sách chung đối với các nước đang phát triển

Các cải cách đó, mặc dù mức độ khác nhau nhất định giữa các nước,

đã nâng cao đáng kể hiệu lực và hiệu quả của nhà nước trong điều hành sự phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Hơn nữa, mặc dù đã đạt được trình độ khá triển cao và khá ổn định của hệ thống thể chế kinh tế, các nước phát triển hiện nay vẫn đang tìm kiếm, thử nghiệm các hình thức, cơ chế mới nhằm hướng tới các mục tiêu thân thiện với thị

Trang 10

trường, giải phóng sức sản xuất, hiệu quả cao (ít tốn kém cho nền kinh tế), dân chủ hoá

Như vậy, bên cạnh chênh lệch về công nghệ, giữa các nước phát triển

và đang phát triển còn đang diễn ra sự chênh lệch về thể chế kinh tế Trong khi đó, ngày nay, thể chế kinh tế được coi là một nguồn lực quan trọng

trong phát triển kinh tế Sức hấp dẫn đầu tư của một nước phụ thuộc nhiều vào nguồn lực này Ngược lại, sự yếu kém về thể chế kinh tế của một nước

có thể đe doạ các nguyên tắc của xã hội (pháp quyền, dân chủ, nhân quyền, công bằng xã hội ), cản trở phát triển kinh tế (làm xấu đi môi trường kinh doanh, cản trở đầu tư trong nước lẫn quốc tế) và làm mất ổn định các thiết chế dân chủ

Đồng thời, cũng cần lưu ý rằng, giữa các nước phát triển cũng có, và luôn tồn tại, những sự khác biệt lớn về thể chế Sự khác biệt này bắt rễ sâu trong truyền thống văn hoá xã hội và được nuôi dưỡng trong lịch sử phát triển hiện đại của từng nước, hình thành nên các văn hoá kinh doanh khá

đặc thù và do vậy, cải cách thể chế thường rất khó khăn Đặc trưng cơ bản hiện nay của nền kinh tế Nhật Bản vẫn là cơ cấu hai tầng (tính nhị nguyên), tính khép kín tương đối so với thế giới bên ngoài, còn tại các nước EU thì, mặc dù đã có một số cải cách, tính cứng nhắc của thị trường lao động, thị trường tài chính chậm phát triển (trong tương quan với Mỹ), mức độ bảo hộ xã hội cao vẫn là các đặc điểm cơ bản Một công trình nghiên cứu gần đây của OECD đã đi đến kết luận rằng, sự khác biệt thể chế là nhân tố chính giải thích tính kém năng động tương đối của Nhật Bản và EU so với Mỹ trong thập kỷ qua

Hội nhập kinh tế quốc tế cũng là quá trình hội nhập về thể chế kinh

tế Thể chế kinh tế cũng đang là một "điểm nóng" trong quan hệ quốc tế nói

chung và quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng Cạnh tranh thể chế kinh tế đang

diễn ra không chỉ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển mà còn cả giữa các nước phát triển Đặc biệt, các nước lớn đang lợi dụng vấn đề này phục vụ cho các lợi ích của mình, thông qua: các sức ép về "tính minh bạch", đưa ra các điều kiện cho việc công nhận nền kinh tế thị trường, các yêu cầu về kiểm toán Trong bối cảnh đó, hầu hết cách nước đều phải tiến hành những cải cách về thể chế kinh tế

Tính đa dạng của thể chế phải chăng là một điểm mà các nước đang phát triển cần chú ý nghiên cứu và có phản ứng phù hợp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong các thập kỷ tới ? Trong chiến lược cải cách thể chế của mỗi nước, điều quan trọng trước hết là phân biệt đâu là chênh lệch thể chế, đâu là khác biệt thể chế để từ đó có chiến lược cải cách thích hợp

Trang 11

Cũng cần lưu ý rằng, cải cách thể chế luôn là khâu khó khăn nhất trong tiến trình cải cách của mọi quốc gia

4 Các sắc thái mới trong xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển

Hoà bình, hợp tác và phát triển hiện nay vẫn là dòng chính, song từng lúc có thể bị đứt đoạn bởi các làn sóng khủng bố quốc tế và các cuộc chiến chống khủng bố Sau sự kiện 11/9 và các cuộc chiến tranh Afganistan, Irắc, tình hình an ninh chính trị quốc tế đã chuyển biến theo chiều hướng bất lợi cho sự phát triển Sự hiện diện của chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức phản ánh các cuộc xung đột về tôn giáo, văn hoá, sắc tộc và đương nhiên

đằng sau đó là các xung đột lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn xuyên quốc gia, giữa các nhóm nước phát triển và đang phát triển Một khi tình hình an ninh chính trị - xã hội bị đe doạ, niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư

sẽ giảm sút, dẫn đến suy giảm hoạt động kinh tế Kể từ sau sự kiện 11/9 đến nay, kinh tế thế giới ở trong tình trạng tăng trưởng không cao, thậm chí tiếp tục yếu ớt ở một số nước, mặc dù các chính phủ tại hàng loạt nước đã đưa ra các chính sách kích cầu khá mạnh mẽ (trong đó đáng chú ý là giảm lãi suất tới mức thấp kỷ lực trong nhiều thập kỷ qua và giảm thuế) Đó là chưa kể các giảm sút kinh tế có tính chu kỳ, hiệu ứng của các căn bệnh toàn cầu (như dịch SARS) đang đặt môi trường phát triển bền vững của thế giới trước một loạt vấn đề phải giải quyết và đương nhiên phải có sự nỗ lực chung toàn cầu mới có thể ngăn chặn được

Đáng chú ý là hiện nay đang có một xu hướng gia tăng sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, khởi đầu bằng cuộc tấn công vào Irắc do Mỹ phát

động Trong bối cảnh bất ổn đó của tình hình thế giới, lối thoát của một nước không phải là hạn chế hội nhập kinh tế quốc tế, mà là ngược lại Kinh nghiệm cho thấy, các nền kinh tế hội nhập quốc tế cao sẽ có khả năng chống

đỡ tốt hơn với các cú sốc bên ngoài Đương nhiên, tình thế hiện nay sẽ khá khác biệt giữa các nước Xây dựng thể chế và đường lối, chính sách hợp lý

sẽ là cứu cánh cho mọi nước trong việc giảm thiểu các mối bất ổn, thậm chí

có thể tận dụng sự ổn định hơn của nước mình để thu hút đầu tư nước ngoài

và phát triển kinh tế

6 Dự báo triển vọng phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Khu vực châu á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động, song tình hình đã diễn ra rất phức tạp, khó lường Các tiến trình hợp tác đã biến chuyển trên nhiều tuyến theo hướng vừa hội nhập, vừa tranh giành ảnh hưởng tại khu vực này theo các tiếp cận lợi ích đơn biệt của từng quốc gia

Trung quốc sau khi gia nhập WTO đã đi trước một bước so với Nhật Bản và Hàn Quốc khi ký kết hiệp định khung về Khu vực mậu dịch tự do

Trang 12

ASEAN - Trung Quốc, khiến cho động thái hội nhập của ASEAN đang có những sắc diện mới ASEAN đang tìm cách để vượt qua sức ép này nhằm khắc phục tình trạng giảm niềm tin, ít hấp dẫn về đầu tư, thương mại và nâng cao khả năng cạnh tranh với tính cách là một chỉnh thể khu vực Sự hướng mạnh các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc đang là một bất lợi đối với các nước ASEAN, nhất là các nước thuộc tầng kém phát triển trong ASEAN - những nước đang rất cần các nguồn lực bên ngoài để

hỗ trợ cho tăng trưởng và phát triển (năm 2002, FDI vào Trung Quốc đứng

đầu thế giới với 52 tỷ USD và năm 2003, mặc dù bị hiệu ứng bệnh SARS, FDI vào Trung Quốc vẫn đạt 43 tỷ USD) Song, Trung Quốc cũng có thể là một "nhân tố" gây sức ép cạnh tranh, thúc đẩy các nước ASEAN đổi mới và cải cách Điều quan trọng hơn có thế thấy là trong vòng 10 năm tới, Trung Quốc sẽ trở thành một tâm điểm phát triển của thế giới và từ vai trò của một nước lớn, đang trỗi dậy, họ đã và đang gia tăng vai trò dẫn đầu khu vực và

sẽ có những bước đi lớn nhằm đóng vai trò dẫn đầu và chi phối sự phát triển thế giới như Mỹ và các nước phát triển khác Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua của Trung Quốc đang kéo theo sự tăng mạnh nhu cầu tiêu thụ năng lượng vượt quá khả năng tự bảo đảm của nước này cũng đang

đặt ra một dầu hỏi đối với sự thay đổi chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Với việc chuyển sang lập trường song phương, khu vực, phát triển mạng lưới FTA Mỹ hiện đang nỗ lực gia tăng ảnh hưởng kinh tế và chính trị sâu hơn tại khu vực châu á - Thái Bình Dương Trong bối cảnh đó, litrong thực hiện chiến lược vừa vừa kìm chế đối với Trung Quốc và các nước phát triển

Các hiệp định tự do thương lại song phương ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Nhật Bản đang được xúc tiến và nếu như quá trình này diễn ra

đúng tiến độ thì liệu ASEAN có thể bị thay đổi vị trí ưu tiên trong tính toán chiến lược địa chính trị của các nước bên ngoài? Đó là chưa kể đến việc trong nội bộ ASEAN, mặc dù đã ký thoả thuận về Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), một số nước, nhất là các nước phát triển hơn như Xingapo, Thái Lan đang có khuynh hướng "vượt trước" về tự do hoá thương mại Các nước này đang đẩy mạnh tiến tình ký kết các hiệp định tự do thương mại song phương với các nước bên ngoài và thậm chí với nhau Theo đó, nguyên tắc "đồng thuận" và nguyên tắc ASEAN-X có thể sẽ là không đủ để

đáp ứng các yêu cầu của tiến trình hội nhập mới của ASEAN Hơn nữa, triển vọng hội nhập sâu hơn của ASEAN vẫn đang có nguy cơ ít hiệu quả và rất

có thể bị "hoà tan" trong một Đông á một khi ý tưởng về khu vực mậu dịch

tự do toàn Đông á đã manh nha, sẽ được thúc đẩy Do vậy, nếu không có

Trang 13

các phản ứng chính sách thích hợp, ASEAN và các nước thành viên có thể bị mất đi tính chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế

Cũng tại Đông á, các nước đang buộc phải tính đến nguy cơ xung đột hạt nhân ở Bắc Triều Tiên, vấn đề Philipin, Thái Lan trở thành "đồng minh ngoài NATO" của Mỹ - những động thái tiềm ẩn những bất ổn về an ninh chính trị trong khu vực

Tóm lại: Bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay được đặc trưng nổi bật bởi

sự tiến triển nhanh của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Trong bối cảnh kinh tế đó, nét đặc trưng cơ bản là chuyển đổi, cải cách toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị Chính vì vậy, triển vọng tình hình thế giới sẽ có nhiều biến động, khó lường, chứ không phải là sự vận động tịnh tiến Trong bối cảnh phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước sâu sắc như hiện nay, tính dễ tổn thương, rủi ro của sự phát triển kinh tế ở các nước sẽ tăng lên

II Tác động của bối cảnh quốc tế tới tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam núi chung, Hà Nội núi riờng đến 2010

Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và thường xuyên trước các thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu vực Các tác động của bối cảnh quốc tế đến phát triển kinh tế của Việt Nam

sẽ tỏc động trực tiếp và sõu sắc tới Hà Nội - với tư cỏch là Thủ đụ của cả nước Vậy các tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực đến phát triển kinh

tế của Việt Nam sẽ diễn ra như thế nào?

1 Các tác động tích cực

+ Chiều hướng cải cách và điều chỉnh đường lối, chính sách mạnh mẽ của các nước trên thế giới đã và đang tạo một áp lực ngày càng lớn đối với công cuộc đổi mới kinh tế của cả nước cũng như của Thủ đụ Hà Nội Đây

có thể coi là tác động tích cực hàng đầu của bối cảnh quốc tế hiện nay Hơn lúc nào hết, hiện nay, Hà Nội đang đứng trước một sự lựa chọn quyết định giữa tích cực cải cách và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hoặc là sẽ sa vào nguy cơ tụt hậu kinh tế Mặt khác, bối cảnh quốc tế phức tạp hiện nay cũng khẳng định tầm quan trọng của cường thịnh kinh tế đối với việc bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia Các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc,

ấn Độ thời gian qua đã đạt được những thành công đáng khích lệ nhờ cải cách và hội nhập cũng sẽ hỗ trợ cho quyết tâm cải cách và hội nhập của cả

Trang 14

nước và của Thủ đụ, đồng thời cung cấp những kinh nghiệm rất đỏng tham khảo

+ Bối cảnh quốc tế và khu vực không chỉ tạo sức ép, mà còn đồng thời

đưa lại cơ hội thuận lợi cho Hà Nội phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế

Mặc dù trên thế giới và trong khu vực sẽ còn có những cuộc xung đột

và chiến tranh cục bộ, nhưng triển vọng kinh tế thế giới nói chung là hoà bình và phát triển Quan hệ quốc tế có xu hướng được cơ cấu lại theo hướng dân chủ hơn, với sự hình thành các khu vực lớn hợp tác và cạnh tranh với nhau, cho phép Việt Nam núi chung, Hà Nội núi riờng, thông qua các định chế đa phương và khu vực để tạo thế và lực, có nhiều sự lựa chọn đối tác, phát huy ý thức độc lập tự chủ, tránh được tình trạng lệ thuộc vào sức ép của từng nước lớn riêng biệt Chỳng ta có thể vận dụng linh hoạt bài toán "cân bằng lợi ích" trong quan hệ với các nước lớn, trước hết là Mỹ, EU, Nhật Bản

và Trung quốc, để tạo thế là lực cho mình trong phát triển kinh tế và bảo vệ

an ninh quốc gia

+ Cùng với việc thực hiện các cam kết mạnh mẽ về tự do hoá thương mại, thông qua hội nhập, Hà Nội có điều kiện thực hiện tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho chỳng ta tiếp cận các nguồn vốn, công nghệ hiện đại, tiếp cận các thị trường quốc tế, lựa chọn mô hình phát triển phù hợp nhằm phát huy tốt nội lực và tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài

+ Hội nhập kinh tế quốc tế còn giúp Hà Nội có thêm cơ hội thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế, cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật Các quá trình hình thành và hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường có điều kiện được đẩy mạnh vì bối cảnh quốc tế và khu vực thường xuyên thay đổi Do đó, môi trường pháp lý, các nguyên tắc thị trường

được điều chỉnh theo các tiêu chí quốc tế

(2) Những mất cân bằng ngân sách Liên bang và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế của Mỹ hiện đang ở mức cao, chính sách đồng đô-la yếu

Trang 15

của Mỹ từ năm 2003 đang làm cho dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn cầu kém vững chắc

(3) Nguy cơ tái bùng nổ của các căn bệnh toàn cầu, như bệnh SARS, Tất cả những sự kiện này đang làm giảm sút niềm tin của các nhà

đầu tư và người tiêu dùng, và theo đó, nền kinh tế thế giới tuy đã bắt đầu phục hồi song sẽ chưa vững chắc trong những năm tiếp theo

Trong tình hình đó, một nền kinh tế hướng về xuất khẩu và dựa một phần đáng kể vào FDI sẽ chắc chắn gặp khó khăn trong vấn đề tìm kiếm, mở rộng thị trường và khai thác các nguồn lực quốc tế Có thể nói, nếu môi trường quốc tế tiếp tục bất ổn, chúng ta khó có thể tăng trưởng nhanh, bền vững để đáp ứng yêu cầu phát triển rút ngắn như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Đại hội lần thứ XIII Đảng bộ Thành phố đã đề ra

- Các xu hướng liên kết kinh tế trên nhiều tuyến, nhiều cấp độ trên thế giới và đặc biệt trong khu vực đang tạo ra nhiều thách thức cho tiến trình hội nhập chung của ASEAN Các hiệp định tự do thương mại song phương đang

được coi là bước đi quan trọng của hầu hết các nước ngoài khu vực với các nước ASEAN, hoặc giữa các nước ASEAN với nhau Vấn đề đặt ra là tỏng những trường hợp đó, nếu chúng ta chỉ chú trọng vào các hội nhập đa phương (vốn là bước đi khôn ngoan của các nước đang phát triển để tránh bị các nước phát triển chèn ép) thì liệu chúng ta có mất đi lợi thế và bị đứng ngoài các tính toán song phương đã trở nên hết sức phổ biến hay không?

Điều có thể thấy rõ là, do những động thái này, sức ép cạnh tranh đang dồn

đẩy lên vai các nước nghèo trong ASEAN Hà Nội sẽ gặp khó khăn trong cạnh tranh xuất khẩu Hơn nữa, với việc gia nhập WTO và ký kết CAFTA, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hướng mạnh vào Trung Quốc và theo đó, dòng FDI vào Hà Nội không mạnh như trước (mặc dù đã và đang cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư) và điều này sẽ gây khó khăn cho sự tăng trưởng và ổn định của Việt Nam núi chung, Hà Nội núi riờng

- Hệ thống kinh tế thế giới, như đã nêu ở trên, vẫn là một hệ thống có một số mặt chưa công bằng Trong tiến trình dỡ bỏ các rào cản thuế quan, phi thuế quan, áp dụng quy chế đối xử quốc gia, các nước phát triển sẽ tiến tới phải gỡ bỏ mọi ưu đãi giành cho các nước đang phát triển như hạn ngạch, GSP và các ưu đãi khác Vẫn biết, đối với các nền kinh tế có khả năng cạnh tranh, việc dỡ bỏ này là hết sức quan trọng và cần thiết cho sự phát triển của họ Song với các nước kém phát triển thì tình hình lại khác Lâu nay, để xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển, họ phải dựa chủ yếu vào các ưu đãi đó và việc phải đối mặt với sự dỡ bỏ này trong thời tương

đối gian ngắn sẽ là một thách thức vô cùng lớn cho hoạt động xuất khẩu nói

Trang 16

riêng và cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung Đây là một tác động mà chúng ta buộc phải sẵn sàng chuẩn bị sớm để tránh những cú sốc không

đáng có trong nền kinh tế

- Các tầng lớp dễ bị tổn thương trong xã hội luôn là những nhóm bất lợi trong toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, phải thấy được các đổ vỡ, bất ổn từ trong các khía cạnh xã hội của sự phát triển, nhất là các

cú sốc bên ngoài, rất dễ xấy ra trong hệ thống kinh tế thế giới hiện nay, sẽ tác động mạnh đến các nhóm "yếu thế", đặc biệt là khu vực nông nghiệp và nông thôn, các vùng sâu, vùng xa Điều đó cũng có nghĩa là, việc thiết định các chính sách xã hội, chính sách quản lý sự phát triển ở các địa phương luôn phải tính đến các thay đổi thường xuyên của bối cảnh quốc tế và khu vực

- Việt Nam có lợi thế là tăng trưởng và phát triển trong môi trường chính trị - xã hội ổn định Tuy vậy, những bất ổn của khu vực với những

động thái: vấn đề hạt nhân ở Bắc Triều tiên, Philippin và Thái Lan trở thành

đồng minh ngoài NATO của Mỹ, các bất ổn về tôn giáo, sắc tộc ở một số nước trong khu vực sẽ có tác động nhất định đến sự phát triển kinh tế ở Hà Nội, với tư cỏch là Thủ đụ của một nước là thành viên ASEAN và là một quốc gia khu vực Đông Nam á Cần lưu ý rằng, gần 70% đầu tư vào Hà Nội

là đến từ các nước trong khu vực Đụng và Đông Nam á, do vậy các tác

động nói trên cần được đặc biệt chú ý

Trang 17

PHẦN II: DỰ BÁO TèNH HèNH TRONG NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỦ Đễ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2010

I DỰ BÁO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CẢ NƯỚC ĐẾN 2010, TẦM NHèN ĐẾN 2020

Thành tựu nổi bật của quá trình phát triển KT-XH Việt Nam những năm qua đã được nờu rừ trong báo cáo "Chiến lược phát triển KT-XH 2001-

2010" tại Đại hội IX của Đảng như sau: "Nền kinh tế có bước phát triển mới

về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; thế và lực của đất nước hơn hẳn 10 năm trước, khả năng độc lập tự chủ được nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá" Một số thành tựu cụ thể là:

- Kinh tế đã đạt được tốc độ tăng trưởng ở mức cao và liên tục: Tổng

sản phẩn trong nước (GDP) tăng trung bình giai đoạn 1996-2002 khoảng 7% Trong đó, công nghiệp, xây dựng tăng 10,4%, nông lâm ngư nghiệp tăng 4,2%, dịch vụ tăng 5,9% Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế tăng từ 22% năm 1995 lên 27% năm 2000 và đạt tới gần 30% năm 2002

- Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch theo hướng tiến bộ: Cơ cấu

giá trị gia tăng (GDP) theo ngành có thay đổi đáng kể theo hướng tiến bộ với sự tăng lên của các ngành công nghiệp và sự giảm tương đối ngành nông nghiệp, cụ thể: nông nghiệp giảm từ 38,74% năm 1990 xuống còn 30,3% vào năm 2000 và 22,9% năm 2002, tương ứng công nghiệp và xây dựng tăng từ 22,67% lên 32,8% và 38,55%…

- Thực hiện thành công chính sách "mở cửa" và hội nhập: Việt Nam

đã mở rộng quan hệ với hầu khắp các nước trên thế giới, tạo ra vị thế mới trong quan hệ quốc tế và trên thị trường thế giới Độ mở của nền kinh tế Việt Nam khá lớn, đạt 103,9% năm 2002 Giá trị xuất nhập khẩu đạt 16,7 tỷ USD năm 2002

- Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt: Thu

nhập bình quân đầu người/thàng của hộ gia đình tăng nhanh Tỷ lệ đói, nghèo (TCVN) giảm nhanh, từ 30% số hộ năm 1990 xuống gần 10% năm

2002 Mỗi năm giải quyết việc làm cho 1,3 đến 1,4 triệu lao động Tuổi thọ bình quân tăng từ 65 năm 1990 lên 69 tuổi năm 2002 Sự nghiệp giáo dục, y

tế, văn hoá cũng được cải thiện khá nhiều

Kế thừa những thành tựu tăng trưởng trong quá khứ, trong tương lai nền kinh tế-xã hội của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng với tốc độ nhanh và ổn

Trang 18

định Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ta mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 10 năm 2001-2010 và tầm

nhìn đến 2020 là: "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao

rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để

đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao"1..Mục tiêu tổng quát của chiến lược nêu trên được cụ thể hoá thành một số mục tiêu như sau:2

Mục tiêu phát triển kinh tế x∙ hội:

1 GDP tăng trưởng hàng năm đạt khoảng trên 7% cho giai đoạn 2010; Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt 30% GDP năm 2010 và 35% năm 2020; Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm xuống còn 14% năm 2010

2001-và 9% năm 2020; tỷ trọng công nghiệp tăng tương ứng lên 42% 2001-và 45%; dịch vụ tăng lên 44% và 46%

2 Xuất khẩu tăng gấp hơn hai lần tốc độ tăng GDP, đạt 80 tỷ USD năm

2010 và 580 tỷ USD năm 2020 Đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất;

3 Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Nâng cao rõ rệt hiệu quả

và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế

4 Năm 2010, tốc độ tăng dân số là 1,07%, ổn định dân số khoảng 88-89 triệu năm 2010 (trong đó, khu vực nông thôn chiếm 67%) và năm 2020 dân số khoảng 95-96 triệu (khu vực nông thôn chiếm 57%)

5 Năng lực nội sinh về khoa học công nghệ đủ khả năng ứng dụng các công nghệ hiện đại, tiếp cận trình độ thế giới Nâng tỷ lệ người lao động

được đào tạo nghề lên 40% v.v;

Mục tiêu về chất lượng cuộc sống:

1 Xoá đói và tình trạng nghèo cùng cực Tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 2,3% năm

2010 và 0,85% năm 2020

2 Phổ cập giáo dục tiểu học cho mọi người

3 Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 33% xuống còn 20-25%;

4 Tăng tuổi thọ từ 68 lên 70-75 tuổi;

1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, trang 159

2 Dự bỏo chi tiết, xem biểu ở phần Phụ lục

Trang 19

5 Tăng tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch từ 65% lên 80%;

6 Tăng độ che phủ rừng từ 28% lên 40%

Mục tiêu cho các ngành cụ thể:

1 Công nghiệp và xây dựng: Tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp

(kể cả xây dựng) bình quân giai đoạn 2001-2010 khoảng 9%, giai

đoạn 2011-2020 khoảng 9,4% Đến năm 2010, GDP công nghiệp chiếm khoảng 42%, sử dụng khoảng 23 - 24% lao động xã hội, và năm 2020 chiếm khoảng 45% GDP và sử dụng khoảng 30% lao động xã hội Giá trị xuất khẩu công nghiệp sẽ chiếm 70-75% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Bảo đảm cung cấp và an toàn năng lượng (điện, dầu khí, than), đáp ứng nhu cầu về thép xây dựng, phân lân, một phần phân đạm Cơ khí chế tạo đáp ứng 40% nhu cầu trong nước

Tỷ lệ nội địa hoá trong sản xuất xe cơ giới, máy và thiết bị đạt 60 - 70%, công nghiệp điện tử, thông tin trở thành ngành mũi nhọn, chế biến hầu hết nông sản xuất khẩu, công nghiệp hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu trong nước và tăng nhanh xuất khẩu

2 Nông, lâm, ngư nghiệp: Giá trị gia tăng nông nghiệp (kể cả thuỷ sản,

lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm 3,5 - 4,0% Đến năm 2010, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 40 triệu tấn Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP khoảng 14% năm 2010 và 9% năm 2020, tỷ trọng ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng lên khoảng 25% Thuỷ sản đạt sản lượng 3,0-3,5 triệu tấn (trong đó khoảng 1/3 là sản phẩm nuôi trồng) Bảo vệ 10 triệu ha rừng tự nhiên, hoàn thành chương trình trồng 5 triệu ha rừng Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản đạt 9 - 10 tỷ USD, trong đó thuỷ sản khoảng 3,5

tỷ USD

3 Các ngành dịch vụ: Giá trị gia tăng ngành dịch vụ đạt tốc độ tăng

trưởng bình quân 7-8%/năm trong giai đoạn 2001-2010 và 8-9% giai

đoạn 2011-2020 Năm 2010 ngành dịch vụ chiếm trên 44% GDP, sử dụng khoảng 26 - 27% tổng số lao động xã hội, năm 2020 ngành dịch

vụ chiếm tới trên 50% GDP và sử dụng trên 30% lao động xã hội

II dự báo tác động của sự phát triển kt - xh của cả nước và một số vùng KINH TẾ tới sự phát triển của thủ đô Hà Nội

2.1 Kinh tế - xã hội cả nước và hầu hết các địa phương sẽ tiếp tục

phỏt triển nhanh đòi hỏi Hà Nội có tốc độ tăng trưởng nhanh

Trang 20

hơn, thể hiện rõ vai trò động lực, đi đầu trong nhiều lĩnh vực KT

- XH:

Từ nay đến năm 2010 nền kinh tế - xã hội cả nước và các địa phương

sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh với tốc độ trên 7% Cụ thể:

Đối với cả nước, dự báo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm

của cả nước đạt trên 7% cho giai đoạn 2001-2010, trong đó công nghiệp và xây dựng tăng công nghiệp bình quân khoảng 9%, nông nghiệp 3,5-4%, dịch vụ 7-8% Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt 30% GDP năm 2010 và 35% năm 2020 Xuất khẩu tăng trung bình trên 14%/năm;

Đối với vùng ĐBSH, dự báo mức tăng tổng sản phẩm (GDP) của vùng

khoảng 10-11%/năm thời kỳ 2003-2010 Trong đó công nghiệp tăng khoảng 13-14%; dịch vụ 11%, nông nghiệp khoảng 4-4,5%;

Đối với vùng KTTĐ Bắc Bộ, dự báo tốc độ tăng trưởng GDP bình

quân hàng năm của thời kỳ 2006-2010 là 10,25% bằng khoảng 1,3 lần mức tăng trưởng bình quân chung của cả nước

sự phát triển của Hà Nội phải đạt được một số mục tiêu cơ bản như sau:

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Hà Nội phải đạt 12% cho giai đoạn 2006-2010, tương đương với thành phố Hồ Chí Minh

11-và gấp từ 1,46-1,73 lần tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước Trong

đó, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp nhanh hơn khoảng 1,7- 1,9 lần, của dịch vụ khoảng 1,6-1,8 lần

- Hà Nội phải là địa phương thu hút được nhiều lao động cú trỡnh độ cao nhất vào các ngành công nghiệp và dịch vụ

- Hà Nội phải là địa phương có xuất khẩu công nghiệp và dịch vụ nhiều hơn, và nhanh hơn so với cả nước

Trang 21

Như vậy, các tư tưởng, mục tiêu của chiến lược phát triển của cả

nước, của vùng ĐBSH và vùng KTTĐ phía Bắc phải được thể hiện trong chiến lược phát triển Thủ đô Hà Nội, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với mức độ cao hơn, chất lượng lớn hơn, tốc độ tăng cao hơn

2.2 Chủ trương tiếp tục chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng

các ngành trong cơ cấu kinh tế của cả nước và của các tỉnh vùng

ĐBSH sẽ tác động toàn diện, sâu sắc đến chuyển dịch cơ cấu kinh

tế của Hà Nội

Dự báo đến năm 2010 và 2020:

Cơ cấu kinh tế của cả nước sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng

dần tỷ trọng của dịch vụ và công nghiệp Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm xuống còn 14% năm 2010 và 9% năm 2020; tỷ trọng công nghiệp tăng tương ứng lên 42% và 45%; dịch vụ tăng lên 44% và 46%

Cơ cấu kinh tế của các vùng cũng chuyển dịch theo hướng tăng dần

các ngành, các sản phẩm chủ lực đóng góp nhiều vào GDP quốc gia Riêng Vùng ĐBSH và vùng KTTĐ phớa Bắc, 2 vùng có liên quan nhiều nhất đến

Hà Nội, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010 như sau:

(i) Vùng ĐBSH, năm 2010 các ngành phi nông nghiệp của vùng

ĐBSH chiếm khoảng 90% trong tổng GDP, các sản phẩm chủ lực đóng góp 60-65% GDP, độ mở của nền kinh tế đạt trên 90% Cơ cấu kinh tế của vùng năm 2010 là cơ cấu hiện đại với các ngành mũi nhọn có khả năng đột phá,

có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, quốc tế;

(ii) Vùng KTTĐ phớa Bắc, đến năm 2010 ngành công nghiệp và dịch

vụ sẽ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của vùng, từ khoảng 89% năm 2002 lên 94-95% năm 2010 (công nghiệp khoảng 44-45%, dịch

vụ khoảng 50-51%) và 96-97% vào năm 2020 (công nghiệp khoảng 47%, dịch vụ 50-51%) Tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp tăng từ 44% năm 2000 lên 57% năm 2005 và 65% năm 2010 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng số việc làm có năng suất cao, tiêu hao

46-ít năng lượng hơn, sử dụng đất có hiệu quả hơn trên cơ sở phát triển các ngành công nghệ cao và sản xuất các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao

Sau đây sẽ trình bày xu thế chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng cơ cấu trong các ngành cụ thể của cả nước và của các vùng KTTĐ phớa Bắc và ĐBSH qua đó rút ra những vấn đề cần thiết cho sự phát triển của

Hà Nội:

Trang 22

2.2.1 Dự báo xu thế chuyển dịch và nâng cao chất lượng cơ cấu trong

công nghiệp bằng cách phát triển các ngành sản xuất chủ lực

Đến năm 2010, cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp của cả nước và các vùng (ĐBSH và KTTĐBB) sẽ chuyển dịch theo các định hướng cơ bản sau:

(a) ưu tiên phát triển các ngành sản xuất công nghiệp chủ lực (mũi nhọn) là chủ trương xuyên suốt trong phát triển công nghiệp Việt Nam và vùng

ĐBSH, vùng KTTĐ phớa Bắc

Thực hiện chủ trương này, công nghiệp cả nước và vùng KTTĐ phớa Bắc

và ĐBSH sẽ ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp phần mềm, thiết bị tin học, tự động hoá (sản xuất các thiết bị tự động, rôbốt…) vật liệu từ tính cao cấp, vật liệu kỹ thuật cao (cách nhiệt, chịu mài mòn), sứ polyme cách điện, polyme dẫn điện, vật liệu mới, vật liệu composit, polyme tổng hợp ; sản xuất thép (các sản phẩm thép hợp kim, thép tấm, thép lá, thép chế tạo); công nghiệp cơ khí chế tạo đáp ứng nhu cầu chế biến nông sản thực phẩm và sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp v.v…

(b) Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp sử dụng lao động có trình

độ cao, các sản phẩm có sức cạnh tranh để xuất khẩu Chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ để tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, đảm bảo thắng lợi trong hội nhập

Thực hiện chủ trương này, công nghiệp vùng KTTĐBB và ĐBSH sẽ coi trọng phát triển các ngành dệt may, giày da, các ngành cơ khí chế tạo thiết

bị và phù tùng như các thiết bị cho sản xuất ô tô, xe máy, sản xuất thiết bị điện, linh kiện điện tử, sản xuất động cơ nổ, động cơ điện (nhất là động cơ điện công suất lớn)

(c) Tiếp tục cải tạo, nâng cấp công nghiệp cơ khí để về lâu dài, đủ sức trang

bị cho nền kinh tế quốc dân và xuất khẩu

Thực hiện chủ trương này, vùng ĐBSH và vùng KTTĐBB sẽ tiếp tục phát triển ngành cơ khí chế tạo (máy công cụ, máy xây dựng, động cơ, sản phẩm điện lạnh, máy bơm nước, sản phẩm cơ khí chế tạo vật liệu và thiết bị

điện); cơ khí đóng và sửa chữa phương tiện vận tải (công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thuyền, tàu, toa tàu hoả hiện đại, xe ô tô chở khách chất lượng cao, sản xuất thiết bị bốc dỡ hàng hoá có sức nâng lớn), thiết bị chế biến nông, thuỷ sản ; thiết bị cho công nghiệp sản xuất vật liệu xi măng, cho sản xuất sản phẩm gốm sứ các loại, vật liệu nội thất và vật liệu lợp; thiết bị cho công nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ sản; thiết bị cho công nghiệp dược phẩm, công nghiệp may mặc, dệt và da, giầy

Trang 23

(d) Phát triển các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao Chuyển dịch dần công nghiệp lên dọc tuyến hành lang đường 18 tại những khu vực gò đồi, đất xấu để giảm sử dụng đất tốt dành cho sản xuất nông nghiệp và tránh sự tập trung công nghiệp quá mức vào các đô thị, khu dân cư ở vùng đồng bằng

Thực hiện chủ trương này, vùng ĐBSH và vùng KTTĐBB sẽ:

(1) Đẩy nhanh việc xây dựng theo quy hoạch và đưa vào hoạt động khu công nghệ cao Hoà Lạc Hình thành một vài khu dành cho những cơ sở nghiên cứu cải tiến công nghệ phục vụ các cơ sở sản xuất trong các KCN, KCX;

(2) Tập trung sức tạo mặt bằng thuận lợi thu hút đầu tư để lấp đầy các khu công nghiệp hiện có Trước mắt, thu hút đầu tư để lấp đầy các KCN, KCX, khu công nghệ cao dọc các trục quốc lộ 1, 5, 21;

(3) Chuẩn bị điều kiện để phát triển một số KCN hoặc điểm công nghiệp dọc trục quốc lộ 18 với các ngành chủ yếu là công nghiệp nặng; công nghiệp chế biến nông, thuỷ sản; công nghiệp thực phẩm; công nghiệp hàng tiêu dùng;

(4) Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp nhỏ, vừa, các làng nghề truyền thống ở khu vực nông thôn ở tất cả các tỉnh trên cơ sở bảo vệ môi trường sinh thái Quan tâm đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, nhất là làng nghề truyền thống và làng có nghề phục vụ xuất khẩu

2.2.2 Dự báo xu thế chuyển dịch và nâng cao chất lượng cơ cấu ngành

Thực hiện chủ trương này, đối với vùng ĐBSH và vùng KTTĐ phớa

Bắc: Ngành dịch vụ tài chính ngân hàng sẽ xây dựng hệ thống ngân hàng

hiện đại, hình thành tập đoàn tài chính;

Dịch vụ viễn thông sẽ phát triển ở trình độ cao, hiện đại, đảm bảo dịch vụ

thông tin rộng khắp và kịp thời, đảm bảo thông suốt liên lạc quốc tế;

Trang 24

Dịch vụ vận tải hàng hải: khuyến khích đổi mới tàu, nhất là đội tàu lớn Ưu

tiên đầu tư phát triển mạnh những dịch vụ hàng hải quốc tế, xuất khẩu thuyền viên;

Dịch vụ hàng không: hoàn thành việc hiện đại hoá các sân bay hiện có, tiến

tới xây dựng sân bay quốc tế mới đạt trình độ quốc tế và phục vụ quy mô vận tải lớn;

Dịch vụ xây dựng: thực hiện chính sách hiện đại hoá công nghệ công nghiệp

xây dựng để đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài;

Dịch vụ chuyển giao công nghệ: Xây dựng trung tâm khoa học công nghệ

tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế, thực hiện chuyển giao công nghệ rộng khắp,…

(b) Phát triển du lịch toàn diện và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn với các sản phẩm tiêu biểu là du lịch biển, núi, danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng và lễ hội văn hoá truyền thống

Để thực hiện chủ trương này, vùng ĐBSH và vùng KTTĐ phớa Bắc sẽ phát triển mạnh du lịch gắn liền với việc bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, khu bảo tồn thiên nhiên Chú trọng phát triển tuyến du lịch trọng

điểm Hà Nội - Hải Phòng- Hạ Long; Hà Nội - Sa Pa; Hà Nội-Sầm Sơn-Cửa Lò; Hà Nội-Tam Đảo (Vĩnh Phúc); du lịch sông Hồng: Hà Nội và các khu vực phụ cận Đồng thời chú ý phát triển các tuyến du lịch nội vùng, liên vùng và quốc tế

Tập trung đầu tư phát triển vào khu du lịch tổng hợp quốc gia và khu du lịch chuyên đề như: Khu du lịch tổng hợp biển đảo Hạ Long – Cát Bà - Vân

Đồn, khu du lịch văn hoá - lịch sử Cổ Loa, Khu du lịch văn hoá, môi trường Hương Sơn, Khu du lịch sinh thái Ba Vì, Suối Hai làm hạt nhân phát triển du lịch cho cả vùng Gắn du lịch giữa các tỉnh, thành phố trong vùng với các vùng khác Nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hoá các loại hình du lịch

2.2.3 Dự báo xu thế chuyển dịch và nâng cao chất lượng cơ cấu ngành

nông, lâm, ngư nghiệp

Đến năm 2010, cơ cấu nội bộ ngành nông lâm ngư nghiệp của cả nước và các vùng (ĐBSH và KTTĐ phớa Bắc) sẽ chuyển dịch theo các định hướng cơ bản sau:

(a) Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng sản xuất các hàng hoá chất

lượng, năng suất và hiệu quả cao gắn với phát triển các làng nghề

Trang 25

Đối với ĐBSH, cần đảm bảo cho người nông dân có tỷ lệ nông sản hàng hoá tương ứng 60%(1) đảm bảo giá trị sản xuất của các ngành phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng khoảng trên 70% trong nông thôn (hiện nay khoảng 40%) Kéo theo đó, dân số nông thôn đến năm 2010 còn khoảng 50-60% Thực hiện đổi mới phân công lao động, trong đó chỉ khoảng 30- 40% lao động làm nông nghiệp (khoảng 2,7- 3 triệu lao động), còn lại làm phi nông nghiệp, dịch vụ

(b) Chuyển mạnh cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, sinh thái với công nghệ cao và công nghệ sinh học

Đối với ĐBSH, cần hình thành các vùng sản xuất lúa, rau, chăn nuôi lợn,

bò sữa, gia cầm, hoa, cây cảnh theo hướng phát triển có quy mô thích hợp

và chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và cung cấp sản phẩm sạch cho nhân dân (nhất là cho đô thị và khu công nghiệp) trên cơ sở đa dạng các loại hình sản xuất, trang trại, hộ gia đình, phát triển mạnh kinh tế hợp tác và hợp tác xã; mở rộng liên kết giữa các thành phần kinh tế Các cây trồng, con vật nuôi chủ lực của vùng ĐBSH tiêu biểu là lúa chất lượng cao, rau thực phẩm cao cấp; hoa, cây cảnh, cây ăn quả, giống cây, con, lợn siêu nạc, bò kiêm dụng thịt và sữa, vịt siêu trứng và vịt thịt chất lượng cao

(c) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, thuỷ sản, giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt; phát triển ngành nghề nông thôn để chuyển một số lao động nông nghiệp sang các ngành sản xuất phi nông nghiệp

Đối với ĐBSH:

(1) Phát triển lương thực: Sản lượng lượng thực của vùng đến 2010 đạt

7,5-8 triệu tấn, riêng lúa khoảng 7 triệu tấn ổn định diên tích lúa như hiện nay (khoảng 7,5-7,6 triệu ha) thông qua việc thâm canh , sử dụng các giống lúa lai cho năng suất cao và giống lúa chất lượng cao, đưa vụ đông dần trở thành vụ chính Đầu tư xây dựng vùng lúa chất lượng cao, đi đôi với phát triển công nghiệp chế biến lúa gạo cung cấp cho các thành phố và xuất khẩu khoảng 30 vạn ha, sản lượng 2 triệu tấn Phát triển cây ngô lai, ngô chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phát triển chăn nuôi Diện tích ngô năm 2010 đạt 14,6 vạn ha;

(1)

Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới với mức GDP/người tương đương khoảng 800-1000 USD,

Trang 26

(2) Phát triển cây công nghiệp: Đối với cây chè, chỉ giữ quy mô như

hiện nay; nghiên cứu xây dựng thêm nhà máy chè tinh chế để tăng giá trị của chè xuất khẩu và nội địa Khôi phục diện tích dâu tằm đã bị mai một,

đến năm 2010 dự kiến 1 vạn ha dâu tằm, sản lượng 800 tấn; sản phẩm tơ tầm chủ yếu để xuất khẩu;

(3) Phát triển mạnh cây ăn qủa, rau, hoa, cây cảnh phục vụ nhu cầu

trong nước và xuất khẩu Riêng cây ăn quả năm 2010 diện tích khoảng 7 vạn ha, trong đó nhãn, vải khoảng 3,3 vạn ha Phát triển mạnh rau quả và nấm, đáp ứng nhu cầu của đô thị và xuất khẩu Hướng vào rau quả sạch, cao cấp; các sản phẩm xuất khẩu như nhãn, vải, dứa, cà chua, tập trung ở Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Ninh Bình; phát triển nấm ở tất cả các tỉnh trồng lúa; rau cao cấp và hoa ở các huyện, xã ven đô thị lớn;

(4) Chăn nuôi: hình thành các trang trại chăn nuôi nái, thịt gia súc, gia

cầm quy mô lớn, tỷ suất hàng hoá cao, cung ứng sản phẩm cho các đô thị, khu công nghiệp trong vùng và xuất khẩu Phát triển nhanh chăn nuôi lợn siêu nạc và lợn con xuất khẩu, mở rộng chăn nuôi bò sữa nơi có điều kiện Xây dựng các tiểu vùng và doanh nghiệp chăn nuôi an toàn dịch Đến năm

2010 chăn nuôi trong vùng đạt:, 740 nghìn bò (có 25 nghìn bò sữa), 160 nghìn trâu, 7 triệu lợn, 100 triệu con gia cầm Xây dựng các xí nghiệp chăn nuôi tập trung ở Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Bò sữa phát triển ở ngoại thành Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nam, Hưng Yên ;

(5) Phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt và nước lợ, đặc biệt trong

các vùng bãi triều và 8 vùng bãi bồi ven biển (Hải Phòng 3, Thái Bình 2, Nam Định 2, Ninh Bình 1) Năm 2010, chuyển dịch cơ cấu ruộng trũng, đưa diện tích nuôi trồng đạt 17 vạn ha và đưa năng suất nuôi trồng thuỷ sản bình quân lên trên 2 tấn/ha, sản lượng đạt 38 vạn tấn Phát triển mạnh đánh bắt hải sản xa bờ, sản lượng đến năm 2010 đạt khoảng 74 nghìn tấn Xuất khẩu thuỷ sản năm 2010 đạt khoảng 200 triệu USD;

(6) Lâm nghiệp: Hướng vào khai thác có hiệu quả vùng đồi, hình thành

các khu rừng ven biển, các dải cây xanh ven các thành phố lớn, bảo tồn danh thắng và các vườn rừng quốc gia Giữ ổn định đất lâm nghiệp đến năm

2010 khoảng 400 nghìn ha, trồng rừng 1 vạn ha, kết hợp phát triển du lịch sinh thái

Với các chủ trương chuyển dịch cơ cấu và và nâng cao chất lượng cơ cấu

của cả nước và vùng ĐBSH, KTTĐ phớa Bắc như trên, Thủ đô Hà Nội phải

là địa phương thực hiện rõ nhất, nhanh nhất sự chuyển dich cơ cấu kinh tế,

và đặc biệt phải là nơi thể hiện rõ nhất sự nâng cao chất lượng của các

Trang 27

ngành trong cơ cấu kinh tế Các chủ trương chuyển dịch và nâng cao chất

lượng cơ cấu ngành công nghiệp, dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp như trên sẽ tác động đối với Hà Nội trên một số mặt chính sau:

- Hà Nội sẽ là địa phương quan trọng nhất thực hiện phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn, các ngành sử dụng lao động kỹ thuật cao và mang lại nhiều giá trị gia tăng của cả nước và của vùng KTTĐ phớa Bắc Các ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực sẽ phát triển mạnh ở Hà Nội là các ngành công nghiệp phần mềm, thiết bị tin học, tự động hoá (sản xuất các thiết bị tự động, rôbốt…) vật liệu từ tính cao cấp, vật liệu kỹ thuật cao (cách nhiệt, chịu mài mòn), sứ polyme cách điện, polyme dẫn điện, vật liệu mới, vật liệu composit, polyme tổng hợp ; công nghiệp cơ khí chế tạo

đáp ứng nhu cầu chế biến nông sản thực phẩm và sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp v.v… Các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp khác quy mô vừa và nhỏ sẽ được dịch chuyển ra các tỉnh lân cận

- Hà Nội sẽ hình thành các trung tâm công nghiệp phần mềm - tin học, các khu công nghiệp chất lượng cao, các trung tâm dịch vụ tổng hợp nhằm tạo ra bộ mặt mới cho công nghiệp và dịch vụ của cả nước, vùng

- Tiếp tục thúc đẩy vai trò trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của Thủ đô Hà Nội để đảm nhận chức năng dịch vụ thương mại và trung tâm

du lịch của cả khu vực phía Bắc và cả nước

2.3 Bước chuyển động đáng kể của khoa học và công nghệ của cả

nước và vùng ĐBSH đặt ra những nhiệm vụ to lớn cho Hà Nội

Chủ trương phát triển khoa học và công nghệ là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Chủ trương này cụ thể đến năm 2010 như sau:

(a) Sắp xếp lại và phát triển có hiệu quả hệ thống các cơ sở đào tạo và

nghiên cứu khoa học công nghệ (KH&CN) đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đối với các hướng khoa học công nghệ ưu tiên: điện tử

- tin học, sinh học, nguyên vật liệu

Thực hiện chủ trương này cần:

(1) Hình thành cho được những trường đại học, viện, trung tâm nghiên cứu khoa học đầu ngành có ý nghĩa khu vực và quốc tế; gắn chặt nghiên cứu với đào tạo, sản xuất kinh doanh và mang ý nghĩa trọng điểm của cả nước; (2) Hình thành được một mạng luới thông tin KH&CN hiện đại ở một số ngành quan trọng đủ sức đáp ứng nhu cầu thông tin của các tổ chức nghiên cứu - triển khai, các trường đại học, các doanh nghiệp và các cơ quan hoạch

định chính sách;

Trang 28

(3) Hình thành một mạng lưới các tổ chức tư vấn, hỗ trợ khuyến công, nông, lâm, ngư để chuyển giao công nghệ đa dạng, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ và khu vực nông nghiệp - nông thôn trong và ngoài vùng

(b) Xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mạnh; đủ

sức nghiên cứu, sáng chế công nghệ và tiếp thu sáng tạo công nghệ tiến tiến của nước ngoài đáp ứng nhu cầu của quá trình phát triển Phấn đấu

vào năm 2010 đạt chỉ tiêu có đạt 20-25 cán bộ/1000 dân đối với cả nước

và 50 cán bộ trên 1000 dân đối với vùng ĐBSH

(c) Đổi mới nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới để phát triển nhanh

kinh tế-xã hội của các địa phương và toàn vùng Trước hết là đối với lĩnh

vực giống cây trồng, vật nuôi; công nghệ chế biến thực phẩm, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa

Chủ trương trên liên quan toàn diện, trực tiếp đến Hà Nội bởi vì hầu hết năng lực công nghệ của cả nước và của toàn miền Bắc tập trung ở Hà Nội Thủ đụ Hà Nội phải thể hiện trong kế hoạch phát triển của mình vai trò quyết định trong việc nghiên cứu - triển khai (R & D), truyền bá công nghệ cho vùng phía Bắc, đặc biệt là cho khu vực nông thôn nơi tập trung đến 75% dân số

2.4 Chiến lược phát triển đô thị rải đều trên các vùng lãnh thổ có tác

động giảm bớt các áp lực ngành nghề, lao động, thất nghiệp cho

Hà Nội

Nhằm tạo nền tảng cho phát triển kinh tế, những năm tới chúng ta kiên quyết không thực hiện đô thị hoá theo quy mô hành chính mà phải thực thi chiến lược bố trí mạng lưới đô thị trên phạm vi cả nước một cách có hiệu quả và có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Hướng phát triển hệ thống đô thị là:

(a) Hiện đại hoá các đô thị lớn và các hành lang kinh tế lớn dọc theo các tuyến quốc lộ Liên quan nhiều đến Hà Nội là các đô thị dọc các quốc lộ 5,18 21 ;

(b) Hình thành các điểm đô thị kiểu thị trấn, thị tứ làm hạt nhân chuyển một bộ phận đáng kể nông dân thành thị dân và góp phần hiện đại hóa nông thôn

Chủ trương trên có tác động đến Hà Nội trên một số mặt sau:

Trang 29

- Quy hoạch phát triển thành phố Hà Nội tương xứng vai trò vị trí

là Thủ đô của Nước CHXHCN Việt Nam Phát triển Hà Nội với không gian

mở theo hướng Bắc và Tây Bắc, Tây và Tây Nam; hướng phát triển lâu dài

về phía Tây- Tây Nam, gắn kết với chuỗi đô thị tiếp giáp như Miếu Môn- Xuân Mai- Hoà Lạc- Sơn Tây,Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Hà Đông, Phủ Lý tạo thành chùm đô thị hạt nhân

- Đưa bớt công nghiệp ra xa nội thành gắn với việc hình thành các khu đô thị vệ tinh, khu đô thị mới như các khu Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, Bồ Đề (Gia Lâm), Yên Viên, Linh Đàm Đến năm 2010 có số dân nội thành khoảng 2,5 triệu người

- Nghiên cứu chỉnh trị sông Hồng, hoàn thành phương án và tổ chức thực hiện quy hoạch khai thác hai bên sông Hồng Tiến hành xây dựng cầu Nhật Tân, Thượng Cát, Thanh Trì và đường vành đai 4, 5

- Xây dựng một số tuyến hành lang kinh tế quan trọng dọc theo các tuyến quốc lộ 18, 21, 5, Trung Kính - Hoà Lạc trên cơ sở phát triển hợp

lý các KCN và các trung tâm thương mại, du lịch

2.5 Việc tiếp tục duy trì và phát triển ba vùng kinh tế trọng điểm

(miền Bắc, miền Trung, miền Nam) có tác động định hướng quan trọng cho phát triển Hà Nội

Đặc điểm nổi bật của ba vùng KTTĐ là:

(1) Ba vùng KTTĐ có tiềm năng phát triển to lớn Là đầu mối giao thương bằng cả đường biển, đường sắt và đường hàng không của cả nước; có một số khoáng sản quan trọng như trữ lượng than đá chiếm 98% cả nước, trữ lượng đá vôi 55%, sét chịu lửa 90%, sét xí măng 60%, vùng biển gần bờ của cả 3 vùng KTTĐ có dầu khí, chiếm 80% trữ lượng về dầu và 70% trữ lượng khí đốt;

(2) Tại ba vùng KTTĐ đã hình thành hệ thống đô thị phát triển, tạo cục diện mới cho tăng trưởng và giao thương quốc tế;

(3) Tại ba vùng trọng điểm đã hình thành công nghiệp lớn và tiêu biểu của cả nước, tập trung hầu hết đội ngũ công nhân công nghiệp có trình độ và

kỹ năng cao;

(4) Ba vùng KTTĐ là nơi tập trung hầu như toàn bộ tiềm lực khoa học

và công nghệ của đất nước với 443 cơ sở nghiên cứu khoa học, chiếm 96%

số cơ sở khoa học cả nước; khoảng 256 cơ sở đào tạo, trong đó có 103 trường đại học chiếm 58% số trường đại học của cả nước; 78 trường dạy nghề chiếm 43% tổng số trường dạy nghề cả nước…

Trang 30

Với những lợi thế nổi trội như trên, trong những năm qua ba vùng KTTĐ đã đạt được một số thành tựu quan trọng sau:

(1) Ba vùng KTTĐ có tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) cao nhất, có ý nghĩa tạo động lực cho phát triển của cả nước;

(2) Cơ cấu kinh tế của vùng đã được chuyển dịch nhanh hơn so nhiều vùng khác theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã tạo ra nhiều sản phẩm chủ lực cho phát triển chung của cả nước;

(3) Mạng lưới kết cấu hạ tầng đã được tăng cường đáng kể (cả số lượng và chất lượng) về cơ bản có thể đáp ứng yêu cầu hợp tác, phát triển ở mức cao hơn trước rất nhiều;

(4) Ba vùng KTTĐ có các đô thị lớn, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng không chỉ là các trung tâm chính trị, kinh tế mà còn là các trung tâm khoa học kỹ thuật cung cấp dịch vụ cho các vùng và hội nhập quốc tế;

(5) Ba vùng KTTĐ đã thu hút được khối lượng lớn vốn đầu tư, nhất là

đầu tư nước ngoài và đã hình thành nhiều Khu công nghiệp (KCN) và Khu chế xuất (KCX) và nhiều công trình công nghiệp quan trọng; tạo ra bước bứt phá đáng kể cho cả nước trong hội nhập kinh tế quốc tế;

(6) Ba vùng KTTĐ đã có nhiều sáng tạo trong quá trình vận dụng cơ chế chính sách của Nhà nước, tương đối năng động nên đã tạo ra sức phát triển mạnh hơn so với các vùng khác trong cả nước

Với các đặc điểm nổi bật như trên, phát huy những thành tựu đã đạt

được, Nhà nước chủ trương tiếp tục duy trì và phát triển ba vùng KTTĐ

Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII và lần thứ IX của Đảng đều nờu rừ mục

tiêu xây dựng ba vùng KTTĐ: trở thành những vùng kinh tế phát triển năng

động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và cao hơn các vùng khác trong cả nước, đi đầu trong một số lĩnh vực quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo động lực cho quá trình phát triển của cả nước, liên kết chặt chẽ giữa các vùng KTTĐ với các vùng khác, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của cả nước trong thời kỳ đẩy mạnh

sự nghiệp CNH, HĐH

Một số mục tiêu cụ thể của ba vùng trọng điểm đến năm 2010

(1) Tốc độ tăng trưởng chung của ba vùng KTTĐ từ 2004 đến 2010 đạt bình quân 10-11% gấp 1,4-1,5 lần tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước

Đến năm 2010 tỷ trọng các vùng KTTĐ so với cả nước về GDP khoảng 58%, công nghiệp 75%, dịch vụ 54%

Trang 31

(2) Cơ cấu kinh tế chuyển đổi mạnh theo hướng CNH, HĐH, nông nghiệp

đến 2010 còn 4,7%, công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 95,3% (lúc

đó cả nước: nông nghiệp còn 16-17%, công nghiệp và dịch vụ 83-84%) Hình thành các ngành, lĩnh vực đột phá

(3) Xuất khẩu tăng bình quân khoảng 20-25%/năm ở thời kỳ 2004-2010, chiếm khoảng 70% tổng giá trị xuất khẩu cả nước

(4) Đảm bảo 100% dân đô thị được dùng nước máy, 90% dân số nông thôn

được dùng nước sạch; 100% số hộ gia đình nông thôn có hố xí hợp vệ sinh; dân đi lại dễ dàng và được chăm sóc sức khỏe tốt, được đi học và

có học vấn cao hơn

(5) Phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ đi học của nhà trẻ đạt 25%, tỷ lệ đi học mẫu giáo đạt 80%, trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo đạt 98% Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm non xuống dưới 5% Đến năm

2010 huy động 99% số dân trong nhóm tuổi 6-10 tuổi ra học tiểu học, 95% số dân trong nhóm 11-14 tuổi ra học Trung học cơ sở và 55% số dân trong nhóm 15-17 tuổi ra học Trung học phổ thông Đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở tất cả các tỉnh trong ba vùng KTTĐ vào năm 2006 Thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học ở 4 thành phố: Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng vào năm 2007

(6) Thực hiện thật tốt chủ trương cải tạo thể chất dân cư; giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong ba vùng KTTĐ còn dưới 2% vào năm 2010

Tác động của chủ trương này là rất lớn đối với Hà Nội Hà Nội nằm trong vùng KTTĐ phớa Bắc sẽ phải cùng với thành phố Hồ Chí Minh (nằm trong vùng KTTĐ phớa Nam) là những địa phương chủ lực trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển của các vùng trọng điểm, do vậy, tất cả các mục tiêu KT - XH của Hà Nội đến 2010 đều phải cao hơn của các vùng trong

điểm Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn vì các mục tiêu của các vùng trọng

điểm vốn đã khá cao

III Tác động của việc Việt Nam tham gia các tổ chức, hiệp định quốc tế tới thủ đô hà nội

Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là

đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những năm qua Các mốc thời gian quan trọng đánh dấu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là: Năm 1994 Việt Nam đã trở thành quan sát viên của GATT và đến đầu năm 1995 Việt Nam đã chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO (từ đó đến nay đã có 7 vòng đàm phán và hy vọng vào năm 2005

Việt Nam sẽ trở thành thành viên chính thức của WTO); Cũng trong năm

Trang 32

1995, Việt Nam gia nhập và trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN; Cuối năm 1998 Việt Nam, cùng Nga và Pê-ru được kết nạp làm thành viên APEC tại Hội nghị Cấp cao APEC tại Vancouver, Ca-na-đa; Năm 2000 Việt Nam

và Hoa Kỳ ký Hiệp định thương mại,

Hội nhập kinh tế quốc tế tác động rất mạnh mẽ đến đến mọi mặt của

đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam Tuy nhiên, dưới đõy chỉ trình bày một số xu thế quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đối với sự phát triển của Hà Nội đến 2010:

3.1 Thị trường xuất khẩu hàng công nghiệp ngày càng được mở rộng hơn

Việc tham gia vào AFTA, tham gia hiệp định Việt Mỹ hàng hóa của các nhóm ngành công nghiệp xuất khẩu sang các nước ASEAN và Mỹ được hưởng mức thuế suất ưu đãi CEPT và mức thuế tối huệ quốc của Mỹ, điều này có nghĩa là khả năng cạnh tranh (về giá) của các hàng công nghiệp Việt Nam tại thị trường ASEAN và Mỹ cũng sẽ tăng lên đáng kể Từ nay đến

năm sau 2010, do tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường

sẽ có những thay đổi vô cùng to lớn, tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Sự thay đổi của thị trường diễn ra

trên các mặt sau:

(1) Thị trường trở thành vấn đề toàn cầu, phạm vi thị trường sẽ được

mở rộng ra toàn thế giới, không còn bị giới hạn trong phạm vi khu vực hay biên giới quốc gia;

(2) Quy mô thị trường sẽ ngày càng phát triển nhanh, mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, có nghĩa là nhu cầu sẽ ngày càng lớn hơn về quy mô, phong phú hơn về chủng loại và chất lượng;

(3) Nếu như hiện nay giữa hai khu vực thị trường trong nước và ngoài nước, thị trường trong nước có vai trò quyết định và là cơ sở để mở rộng, khai thông thị trường ngoài nước thì trong tương lai thị trường trong nước và ngoài nước sẽ trở thành “ một khối”, ranh giới giữa hai khu vực thị trường này sẽ ngày càng mờ nhạt, trong đó thị trường bên ngoài sẽ trở nên ngày càng quan trọng hơn

Xu hướng này có tác động rất thuận lợi cho Hà Nội Thị trường là nhân tố quan trọng bậc nhất cho phát triển Sự quan trọng của nó thể hiện ở chỗ nếu không có thị trường thì nền sản xuất trở nên vô nghĩa cho dù có đủ vốn, công nghệ, tài nguyên, lao động Ngược lại, nơi nào có thị thường nếu có chính sách đúng thì có thể có các dòng vốn, công nghệ, lao động chuyển dịch đến nơi đó để kết hợp với nhau sản xuất ra sản phẩm cung cấp

Trang 33

cho thị trường đó Thị trường ngày càng mở rộng là thuận lợi cơ bản cho các doanh nghiệp Hà Nội có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, gia tăng xuất khẩu

Sự thay đổi của yếu tố thị trường sẽ tạo ra những thuận lợi (là cơ bản) cho các doanh nghiệp Thủ đô, tuy nhiên nó cũng đặt ra một thách thức sống còn, đó là: các doanh nghiệp Hà Nội sẽ không còn khu vực thị trường nội

địa theo kiểu của riêng ta, một khu vực mà nhờ các chính sách bảo hộ đã trở thành khu vực thị trường độc quyền của nhiều ngành, sản phẩm trong những năm qua

3.2 Chi phí nguyên liệu, vật tư, máy móc nhập khẩu có xu hướng giảm

Các doanh nghiệp sản xuất trong nước của các ngành công nghiệp nhờ hội nhập được hưởng lợi thế nhập khẩu vật tư nguyên liệu, máy móc, thiết bị từ các nước ASEAN và Mỹ với mức thuế nhập khẩu thấp, điều này góp phần làm giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, do vậy khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp sẽ được nâng cao hơn;

Tuy nhiên, xu thế này tác động không lớn lắm đối với các ngành

công nghiệp của Hà Nội Thực tế là, chi phí nguyên nhiên vật liệu cho các

nhóm sản phẩm của hầu hết các ngành công nghiệp của Hà Nội (dệt, may,

da giầy, sản phẩm thép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm hoá chất, hàng điện tử ) đều có tỷ lệ giá trị nguyên liệu trong giá thành sản phẩm trên 70% và phần lớn nguồn nguyên liệu này lại không phải do sản xuất trong nước cung cấp mà do nhập khẩu Trong những năm qua giá nguyên liệu, bán thành phẩm nhập khẩu khá cao (những năm qua chỉ số tăng giá nguyên liệu nhập khẩu tăng trung bình hàng năm từ 7 đến 15%/năm) và dự báo sẽ ngày càng cao hơn trong những năm tới và tốc độ tăng giá còn nhanh hơn tốc độ giảm thuế nhập khẩu Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu bên ngoài thì sức cạnh tranh hoặc sẽ giảm dần hoặc không ổn định

3.3 Nguồn đầu tư FDI vào các ngành công nghiệp có xu hướng tăng

Tiến trình hội nhập và tham gia các hiệp định, tổ chức quốc tế có tác dụng thuận lợi trong việc thu hút FDI vào các ngành công nghiệp Đặc biệt với chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) các doanh nghiệp công nghiệp trong nước có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn và công nghệ sản xuất và quản lý mới, tiến tiến, tăng cường và mở rộng năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước lẫn trên thị trường khu vực và quốc tế Hiện nay, một số nước ASEAN như Singapore, Philippine, Malaysia, Thái

Ngày đăng: 27/03/2013, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung −ơng khoá IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung −ơng khoá IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
4. Thành uỷ Hà Nội, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIII Đảng bộ thành phố Hà Nội, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIII Đảng bộ thành phố Hà Nội
5. Các công trình, đề tài, tài liệu nghiên cứu của Viện Chiến l−ợc phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu t− Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình, đề tài, tài liệu nghiên cứu của Viện Chiến l−ợc phát triển
7. Trung tâm Khoa học Xã hội và NVQG, T− duy phát triển hiện đại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T− duy phát triển hiện đại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
8. Võ Đại L−ợc (chủ biên), Bối cảnh quốc tế và những xu h−ớng điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế ở một số n−ớc lớn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh quốc tế và những xu h−ớng điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế ở một số n−ớc lớn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
9. Nguyễn Xuân Thắng (chủ biên), Một số xu h−ớng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu h−ớng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
10. Nguyễn Xuân Thắng, Bối cảnh quốc tế, khu vực và tác động đến an ninh kinh tế Việt Nam, tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới, số 3(95) 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh quốc tế, khu vực và tác động đến an ninh kinh tế Việt Nam
11. Tô Xuân Dân, Vũ Trong Lâm (chủ biên), Cơ chế chính sách đặc thù phát triển Thủ đô Hà Nội - Một số định hướng cơ bản, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Néi, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế chính sách đặc thù phát triển Thủ đô Hà Nội - Một số định h−ớng cơ bản
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
12. Vũ Trọng Lâm (chủ biên), Kinh tế tri thức ở Việt Nam - Quan điểm và giải pháp phát triển, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức ở Việt Nam - Quan điểm và giải pháp phát triển
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
13. Lưu Ngọc Trịnh (chủ biên), Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức ở mọt số n−ớc trên thế giới hiện nay, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức ở mọt số n−ớc trên thế giới hiện nay
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
14. Viện Kinh tế Thế giới, Thuyết kinh tế mới và "chu kỳ mới" của nền kinh tế Mỹ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chu kỳ mới
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 15-NQ/TƯ của Bộ Chính trị (khoá VIII) về phướng hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô trong thời kỳ 2001-2010 Khác
1. Cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển mạnh 2. Những chiều h−ớng mới trong xu thế toàn cầu hoá Khác
2. Các thách thức mới 12 12 13 Phần II: Dự báo tình hình trong n−ớc tácđộng đến sự phát triển của thủ đô hà nội đến n¨m 2010I. Dự báo sự phát triển của cả nước đến 2010, tầm nhìn đến 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w