1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

WTO và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi trở thành thành viên của WTO

87 670 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Wto và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi trở thành thành viên của wto
Trường học Đại học Ngoại thương
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 383,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

WTO và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi trở thành thành viên của WTO

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay, hội nhập

và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếukhách quan lôi cuốn ngày càng nhiều các nước tham gia, buộc các nướcphải thực hiện chiến lược mở cửa kinh tế nhằm tranh thủ thời cơ, pháthuy lợi thế và vượt qua thách thức thì mới có thể phát triển nhanh nềnkinh tế của quốc gia mình, đóng góp chung vào tăng trưởng kinh tế khuvực và toàn cầu Không một quốc gia nào có thể phát triển được nếukhông tham gia vào quá trình này và Việt Nam cũng không nằm ngoài

xu thế chung này Hiện nay mỗi quốc gia muốn phát triển thì khôngcòn cách nào khác là tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) - Tổ chức thương mại toàn cầu lớn nhất, quan trọng nhất thuhút tới 149 quốc gia thành viên và chi phối đến 95% tổng kim ngạchthương mại thế giới Đây cũng chính là nguyên nhân chi phối trongviệc định hướng cho kế hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam trongnhững năm gần đây Các chính sách mà Nhà nước Việt Nam đưa ra đềuphục vụ cho mục tiêu được là thành viên chính thức của WTO xem đónhư là một con đường tốt nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác

và có điều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mìnhtrong phân công lao động và hợp tác quốc tế

Mặc dù vị thế của Việt Nam khi gia nhập WTO không giống nhưcác nước thành viên khác (ví dụ như nước láng giềng Trung Quốc)nhưng chúng ta có thể rút kinh nghiệm từ những thành công và hạn chếcủa các nước đó để có thể tiến hành tốt nhất tự do hoá thương mại theonhư cam kết từ đó đưa nền kinh tế phát triển một cách hiệu quả và hạn

Trang 2

chế những thua thiệt mà quá trình cạnh tranh không cân sức này manglại.

Chính vì lý do này, mà em chọn đề tài “ WTO và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi trở thành thành viên của WTO ” làm đề tài

nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại thương của mình

1 Bố cục của đề tài

NgoàI phần lời nói đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Khái quát chung về WTO

1.Lịch sử hình thành và phát triển của WTO

2.Điều kiện cần thiết để tham gia WTO

3.Những lợi thế mà WTO mang lại cho các nước thành viên

Chương II Khái quát chung về kinh tế Việt Nam

I.Đặc điểm cơ bản của các ngành kinh tế chủ chốt của Việt namtrước khi gia nhập WTO

II Những tác động từ việc gia nhập WTO

Chương III Những lợi thế của Việt Nam khi gia nhập WTO

I.Lợi thế về thương mại

II Lợi thế về xuất khẩu

III Lợi thế về môi trường đầu tư

VI.Lợi thế về tài chính, ngân hàng

V.Lợi thế về các ngành dịch vụ

Trang 3

MỤC LỤC

Lời nói mở đầu

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ WTO I.Lịch sử hình thành và phát triển của WTO

1.Lịch sử hình thành và phát triển của WTO

2 Chức năng của WTO

3 Mục tiêu của WTO

4 Các nguyên tắc hoạt động của WTO

5 Cơ cấu tổ chức của WTO

II Điều kiện cần thiết để tham gia WTO

III.Những lợi ích mà WTO mang lại cho các nước thành viên

CHƯƠNG II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ VIỆT NAM I.Đặc điểm cơ bản của các ngành kinh tế chủ chốt của Việt Nam trước khi gia nhập WTO

1 Công nghiệp

1.1Ngành dệt may

1.2 Các ngành công nghiệp lắp ráp (điện tử, ô tô, xe máy)

1.3 Công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu

2 Nông nghiệp

Trang 4

II Những tác động từ việc gia nhập WTO

1 Tác động đến kinh tế

2.Tác động đến xã hội

CHƯƠNG III NHỮNG LỢI THẾ CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO

I Lợi thế về thương mại

1 Khái quát thương mại Việt nam trước khi gia nhập WTO

2 Phân tích những điều kiện mà WTO đem lại cho thương mại ViệtNam

2.1 Thương mại tự do giúp giảm chi phí cuộc sống và tăng thu nhập2.2 Kích thích tăng trưởng kinh tế

3.Thực trạng thương mại Việt nam khi tham gia WTO

II/ Lợi thế về xuất khẩu

1.Khái quát xuất khẩu Việt nam trước khi gia nhập WTO

2.Những lợi thế mà WTO mang lại cho xuất khẩu Việt nam

2.1 Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam

2.2 Các định hướng chiến lược trong kỳ hội nhập

III/Lợi thế về môi trường đầu tư

1.Vài nét cơ bản về môi trường kinh doanh của Việt Nam

2.Các yếu tố tạo nên lợi thế của môi trường kinh doanh

2.1 Các định hướng chiến lược trong giai đoạn hội nhập

Trang 5

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ WTO

1 Lịch sử hình thành và phát triển của WTO

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của WTO

Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization – WTO)

ra đời trên cơ sở kế tục tổ chức tiền thân là Hiệp định chung về Thuếquan và Thương mại (The General Agreement on Tariffs anh Trade –GATT) Đây là tổ chức quốc tế duy nhất đề ra những nguyên tắcthương mại giữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO chính

là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và ký kết

Hội nghị Bretton Woods năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chứcThương mại Quốc tế (International Trade Organization – ITO) với mụcđích thiết lập các qui tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước.Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên hợp quốc vềThương mại và việc làm tại Havana tháng 3 năm 1948 Tuy nhiên,Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này Một

Trang 6

số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanhnghiệp Hoa Kỳ lo ngại rằng Tổ chức Thương mại quốc tế có thể được

sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho cácdoanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Lisa Wilkins, 1997)

ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào để điềuchỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại Đó là Hiệp định chung về Thuếquan và Thương mại (GATT)

GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới lần thứ II trong trào lưu hìnhthành hàng loạt cơ chế đa biên nhằm điều tiết các hoạt động hợp táckinh tế quốc tế GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệthống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm mà điển hình làNgân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết đến như làNgân hàng Thế giới (World Bank – WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế(International Monetary Fund – IMF) ngày nay Với ý tưởng hình thànhnhững nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiếtcác lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại hàng hóa, khắc phụctình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển,23 nướcsáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thươngmại và việc làm, dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chứcthương mại Quốc tế (International Trade Oganization –ITO) với tưcách là cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Đồng thời, các nướcnày cùng tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biệnpháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế

từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hoá mậu dịch, mởđường cho kinh tế thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nângcao thu nhập và đời sống của nhân dân của các nước thành viên

Trang 7

Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nóitrên đã được thoả thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại vàviệc làm ở Havana từ tháng 11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một sốquốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập Tổ chứcThương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được.

Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích

lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế

áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượngmậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp địnhchung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lựcvào tháng 1/1948

Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu vềthuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 do thương mại quốc tế khôngngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phánkhông chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các Hiệp định, hìnhthành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng rào phithuế quan, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện phápđầu tư có liên quan đến thương mại, về thương mại hàng nông sản,hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết của

hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung vềThuế quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thoả thuận cónhiều nội dung ký kết mang tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp

Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh (Marốc), kết thúc Hiệp Uruguay,các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệpcủa GATT Theo đó, WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ

Trang 8

thống Liên hợp quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995

Vậy WTO là gì? Có thể hình dung đơn giản về WTO như sau:WTO là nơi đề ra những qui định: Để điều tiết hoạt động thươngmại giữa các quốc gia trên qui mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thếgiới Tính đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2005, WTO có 149 thànhviên

WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm phán:Người ta thường nói, bản thân sự ra đời của WTO là kết quả của cáccuộc đàm phán Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ chức các cuộcđàm phán mới “Tất cả những gì tổ chức này làm được là đều thông quacon đường đàm phán” Có thể nói, WTO chính là diễn đàn để các quốcgia, các thành viên tiến hành thoả thuận, thương lượng, nhân nhượngnhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, đểgiải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên

WTO gồm các qui định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế:

Ra đời với kết quả ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn bản pháp lý,WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viênhoạch định và thực thi chính sách nhằm mở rộng thương mại, tạo thêmviệc làm, tăng thêm thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nướcthành viên Các văn bản pháp lý này bản chất là các “hợp đồng”, theo

đó chính phủ các nước tham gia ký kết công nhận (thông qua việc gianhập và trở thành thành viên của WTO) cam kết duy trì chính sáchthương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận Tuy là do cácchính phủ ký kết nhưng thực chất mục tiêu của các thoả thuận này là

để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng hoá,cung cấp dịch vụ, các nhà nhập khẩu thực hiện hoạt động kinh doanh,

Trang 9

buôn bán của mình.

WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp: Nếu mục tiêu kinh tếcủa WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại hàng hoá,dịch vụ, trao đổi, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh…(gọichung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằmgiải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại phát sinh giữa cácthành viên theo các qui định đã thoả thuận, trên cơ sở các nguyên tắc

cơ bản của công pháp quốc tế và luật lệ của WTO chính là “mục tiêuchính trị” của WTO Mục tiêu cuối cùng của các mục tiêu kinh tế vàmục tiêu chính trị nói trên là nhằm tới “mục tiêu xã hội” của WTO lànhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập chongười dân, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường

1.2 Chức năng của WTO

WTO có 6 chức năng chính:

- WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điềuhành và những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệpđịnh đa biên của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi,quản lý và điều hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên

- WTO là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nướcthành viên về những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổnhững qui định của WTO WTO cũng là diễn đàn cho các cuộc đàmphán tiếp theo giữa các thành viên về những quan hệ thương mại đabiên; đồng thời WTO là một thiết chế để thực thi các kết quả từ việcđàm phán đó hoặc thực thi các quyết định do Hội nghị Bộ trưởng đưara

- WTO sẽ thoả thuận về những qui tắc và thủ tục điều chỉnh việc

Trang 10

giải quyết tranh chấp giữa các thành viên.

- WTO sẽ thi hành Cơ chế rà soát chính sách thương mại (của cácnước thành viên)

- Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển

- Để đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc tạolập các chính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác vớiQuĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới và các cơ quan trựcthuộc của nó

1.3 Mục tiêu của WTO

- Mục tiêu kinh tế: Thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mạihàng hóa và dịch vụ; phát triển bền vững và bảo vệ môi trường; thúcđẩy phát triển thể chế thị trường Những hoạt động này được thực hiệnthông qua việc loại bỏ hàng rào thương mại, nâng cao nhận thức vàhiểu biết của chính phủ, tổ chức và cá nhân về các qui định điều chỉnhquan hệ thương mại quốc tế, xây dựng môi trường pháp lý, thương mại

rõ ràng

- Mục tiêu chính trị: Giải quyết các bất đồng và tranh chấpthương mại giữa các thành viên trong khuôn khổ hệ thống thương mại

đa phương phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế

và luật lệ của tổ chức này; bảo đảm cho các nước đang phát triển, đặcbiệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng lợi ích đích thực

từ sự tăng trưởng của thương mại thế giới, phù hợp với nhu cầu pháttriển kinh tế của các nước và khuyến khích hội nhập ngày càng sâu hơnvào đời sống kinh tế thế giới

- Mục tiêu xã hội: Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm chongười dân của các nước thành viên, đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn

Trang 11

lao động tối thiểu được tôn trọng.

1.4 Các nguyên tắc hoạt động của WTO

- Nguyên tắc không phân biệt đối xử: bao gồm 2 nguyên tắc nhỏ

là dành cho quy chế đối xử quốc gia Quy chế tối huệ quốc có nghĩa làtất cả hàng hoá, dịch vụ và công ty của các thành viên WTO đều đượchưởng một chính sách chung bình đẳng Quy chế đối xử quốc gia làkhông có sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa, dịch vụ và các công ty củanước ngoài trên thị trường trên thị trường nội địa Nguyên tắc khôngphân biệt đối xử cho phép đảm bảo đối xử bình đẳng giữa các thànhviên với nhau trên thị trường cả trong nước và trên thế giới

- Nguyên tắc tiếp cận thị trường: Nguyên tắc này được hiểu trênhai khía cạnh Thứ nhất, các nước thành viên mở cửa thị trường chonhau thông qua việc cắt giảm từng bước, đi tới xoá bỏ hàng rào thuếquan và phi thuế quan Thứ hai, các chính sách và luật lệ thương mạiphải được công bố công khai, kịp thời, minh bạch Cả hai khía cạnhnày đều nhằm tạo ra một môi trường thương mại bình đẳng cho tất cảcác nước thành viên tiếp cận

- Nguyên tắc cạnh tranh công bằng: Nguyên tắc này yêu cầu cácnước chỉ được sử dụng thuế là công cụ duy nhất để bảo hộ Các biệnpháp phi thuế quan (giấy phép, hạn ngạch, hạn chế nhập khẩu, ) đềukhông được sử dụng Các biểu thuế phải được giảm dần trong quá trìnhhội nhập theo thời gian thoả thuận

- Nguyên tắc áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợpcần thiết: Khi thị trường và nền kinh tế của một nước thành viên bịhàng nhập khẩu đe doạ, thì nước đó có quyền khước từ một nghĩa vụnào đó hoặc có hành động khẩn cấp, cần thiết để bảo vệ sản xuất và thị

Trang 12

trường trong nước.

- Nguyên tắc ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và chậmphát triển: Các nước đang phát triển được kéo dài thời gian thực hiệncam kết và mức độ cam kết thấp hơn, phạm vi nhỏ hơn so với các nướcphát triển

Hoạt động của WTO dựa vào 16 hiệp định: Hiệp định về thuếquan và thương mại; Hiệp định về nông nghiệp; Hiệp định về các biệnpháp tự vệ dịch tễ (kiểm dịch động thực vật); Hiệp định về hàng maymặc, hàng dệt; Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại; Hiệpđịnh về đầu tư liên quan đến thương mại; Hiệp định về chống bán phágiá; Hiệp định về định giá hải quan; Hiệp định về kiểm định hàng hoákhi xuất khẩu hàng hóa; Hiệp định về chứng nhận xuất xứ hàng hoá;Hiệp định về thủ tục cấp phép xuất nhập khẩu; Hiệp định về biện phápbảo hộ, trợ giá; Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS); Hiệp định

về sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS); Hiệp định về cácbiện pháp tự vệ; Hiệp định liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp

Trang 13

1.5 Cơ cấu tổ chức của WTO

Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng,

uỷ ban của WTO, ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm giảiquyết tranh chấp và các uỷ ban đặc thù

- Cấp cao nhất: Hội nghị Bộ trưởng – Cơ quan quyền lực cao nhấtcủa WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai năm một lần Hộinghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO Các thành viên này

có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng hạn như Cộngđồng châu Âu) Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối với bất kỳvấn đề trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO

- Cấp thứ hai: Đại hội đồng – Công việc hàng ngày của WTOđược đảm nhiêm bởi 3 cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng giải quyếttranh chấp và Hội đồng rà soát các chính sách Thương mại Tuy tên gọikhác nhau, nhưng thực tế thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau,đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất

cả các nước thành viên Điểm khác nhau giữa chúng là chúng đượcnhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO

Đại hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tạiGeneva, được nhóm họp thường xuyên Đại Hội đồng bao gồm đạidiện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thànhviên và có thẩm quyền quyết định nhân danh Hội nghị bộ trưởng (vốnchỉ nhóm họp hai năm một lần) đối với tất cả các công việc của WTO

Hội đồng giải quyết tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phêchuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban hội thẩm hoặc

Cơ quan phúc thẩm đệ trình Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả cácnước thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương)

Trang 14

Hội đồng rà soát chính sách thương mại được nhóm họp để thựchiện việc rà soát chính sách thương mại của các thành viên theo cơ chế

rà soát chính sách thương mại Đối với những thành viên có tiềm lựckinh tế lớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần Đốivới những thành viên khác, việc rà soát có thể tiến hành cách quãnghơn

- Cấp thứ ba: Các Hội đồng thương mại

Các Hội đồng thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hộiđồng Có ba Hội đồng Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa,Hội đồng thương mại dịch vụ và Hội đồng các khía cạnh của quyền sởhữu trí tuệ liên quan đến Thương mại Mỗi hội đồng đảm trách mộtlĩnh vực riêng Cũng tương tự như Đại Hội đồng, các hội đồng bao gồmđại diện của tất cả các nước thành viên WTO Bên cạnh 3 Hội đồng nàycòn có 6 uỷ ban và cơ quan độc lập khác chịu trách nhiệm báo cáo lênĐại Hội đồng các vấn đề riêng rẽ như thương mại và phát triển, môitrường, các thoả thuận thương mại khu vực, và các vấn đề quản lýkhác Đáng chú ý là trong số này có Nhóm công tác về việc Gia nhậpchịu trách nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO

Hội đồng Thương mại hàng hoá chịu trách nhiệm đối với các hoạtđộng thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại(GATT), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế vềhàng hoá

Hội đồng Thương mại dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạtđộng thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ(GATS), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về dịchvụ

Trang 15

Hội đồng các khía cạnh của Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đếnthương mại chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi củaHiệp định về Các khía cạnh của Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đếnThương mại (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tếkhác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.

- Cấp thứ tư: Các Uỷ ban và Cơ quan

Dưới các Hội đồng trên là các Uỷ ban và cơ quan phụ trách cáclĩnh vực chuyên môn riêng biệt

Dưới Hội đồng thương mại hàng hóa là 11 Uỷ ban, 1 nhóm côngtác và 1 uỷ ban đặc thù

Dưới Hội đồng thương mại dịch vụ là 2 Uỷ ban, 2 nhóm công tác

2 Điều kiện cần thiết để tham gia WTO

Để có thể là thành viên gia của tổ chức thương mại thế giới WTO,các quốc gia phải thực hiện theo các yêu cầu mà tổ chức đặt ra

Trước tiên quốc gia muốn gia nhập phải nộp đơn xin gia nhậpWTO Ban công tác về việc gia nhập của Việt Nam được thành lập.Ban công tác có nhiều thành viên WTO quan tâm đến thị trường củaquốc gia đó

Gửi “Bị Vong lục về chế độ ngoại thương của quốc gia gia nhập”

Trang 16

tới ban thư ký WTO để luân chuyển tới các thành viên của Ban côngtác Bị Vong lục không chỉ giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, cácchính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, màcòn cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách liên quan tới thươngmại hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ.

Quốc gia muốn gia nhập phải làm rõ chính sách thương mại củaquốc gia mình Cung cấp các thông tin khác theo biểu mẫu do WTO quiđịnh về hỗ trợ nông nghiệp, trợ cấp trong công nghiệp, các doanhnghiệp có đặc quyền, các biện pháp đầu tư không phù hợp với qui địnhcủa WTO, thủ tục hải quan, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh dịchtễ

Tiếp theo quốc gia đó phải đưa ra các bản chào ban đầu về mởcửa thị trường hàng hóa và dịch vụ để thăm dò phản ứng của các thànhviên trong tổ chức và tiến hành Đàm phán song phương với tất cả cácthành viên quan tâm tới thị trường của các quốc gia đó

Khi đã hoàn thành Nghị định thư gia nhập có nghĩa là quốc gia đó

có các nghĩa vụ khi trở thành thành viên WTO dựa trên các thoả thuận

đã đạt được sau các cuộc đàm phán song phương, đàm phán đa phương

và tổng hợp các cam kết song phương

3 Những lợi ích mà WTO mang lại cho các nước thành viên

Khi gia nhập vào WTO, hệ thống này mang lại không ít lợi íchcho các nước thành viên

Tuy WTO không thể tuyên bố làm cho tất cả các nước đều bìnhđẳng nhưng WTO thực sự làm giảm bớt một số bất bình đẳng, giúp cácnước nhỏ hơn có nhiều tiếng nói hơn Đồng thời cũng giải thoát chocác nước lớn khỏi sự phức tạp trong việc thoả thuận các hiệp định

Trang 17

thương mại với các đối tác của mình Các quốc gia có được vị thế bìnhđẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thươngmại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tếmới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đấtnước, của doanh nghiệp Các quyết định và hiệp định của WTO đượcthực hiện bằng nhất trí ý kiến Các hiệp định này áp dụng cho mọingười Các nước giàu cũng như các nước nghèo đều có thể bị chất vấnnếu họ vi phạm một hiệp ước, và họ có quyền chất vấn các nước kháctrong qui trình giải quyết tranh chấp của WTO Thiếu một cơ chế đaphương kiểu hệ thống WTO, các nước mạnh hơn sẽ càng được tự dođơn phương áp đặt ý muốn của mình cho các nước yếu hơn Các nướclớn hơn cũng được hưởng những lợi ích tương xứng Các cường quốckinh tế có thể sử dụng diễn đàn duy nhất của WTO để thương lượngvới tất cả hay với hầu hết các đối tác thương mại của họ cùng một lúc.Trên thực tế, có riêng một hệ thống nguyên tắc áp dụng với tất cả cácnước thành viên, điều đó đã đơn giản hoá rất nhiều toàn bộ cơ chếthương mại.

Các nước thành viên được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụcủa nhau với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch

vụ, không bị phân biệt đối xử Hệ thống toàn cầu đã giảm bớt các hàngrào mậu dịch thông qua thương lượng và áp dụng nguyên tắc khôngphân biệt đối xử Kết quả là chi phí sản xuất giảm, giá hàng hoá thànhphẩm và dịch vụ giảm và cuối cùng là chi phí cuộc sống thấp hơn Chođến nay, các hàng rào mậu dịch đã giảm đi rất nhiều so với trước đây.Các hàng rào này còn tiếp tục được giảm và tất cả các quốc gia đều cólợi

Trang 18

WTO cũng tạo cơ hội mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ chocác nước thành viên Hiện nay các quốc gia có thể có được tất cả cáchàng hóa bởi các nước có thể nhập khẩu chúng Nhập khẩu cho phépngười dân có nhiều lựa chọn hơn – cả hàng hoá và dịch vụ lẫn phạm vichất lượng Thậm chí chất lượng của hàng sản xuất nội địa có thể nânglên do chính sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Nhiều lựa chọn hơnkhông đơn giản là vấn đề người tiêu dùng mua hàng thành phẩm củanước ngoài Hàng nhập khẩu còn được sử dụng làm nguyên liệu, linhkiện và thiết bị cho sản xuất trong nước Điều này mở rộng phạm vicủa các thành phẩm và dịch vụ do các nhà sản xuất trong nước làm và

nó làm tăng phạm vị những công nghệ mà họ có thể sử dụng Chẳnghạn, khi thiết bị điện thoại di động trở nên phổ biến, các dịch vụ pháttriển mạnh, thậm chí ngay tại các nước không hề sản xuất thiết bị Đôikhi, sự thành công của một sản phẩm hay dịch vụ nhập khẩu tại thịtrường trong nước cũng có thể khuyến khích các nhà sản xuất trongnước cạnh tranh, làm gia tăng lựa chọn nhãn hàng hoá sẵn có chongười tiêu dùng cũng như tăng phạm vi hàng hoá và dịch vụ sản xuấttrong nước Nếu thương mại cho phép chúng ta nhập khẩu nhiều hơn,

nó cũng cho phép người khác mua nhiều hàng sản xuất của chúng tahơn Nó làm tăng thu nhập của chúng ta, cung cấp cho chúng ta nhữngphương tiện để hưởng sự lựa chọn gia tăng đó

WTO làm tăng thu nhập cho các quốc gia Việc giảm bớt hàng ràothương mại cho phép thương mại tăng trưởng, điều này làm tăng thunhập - cả thu nhập quốc dân và thu nhập cá nhân Dự tính của WTO vềtác động của các thoả thuận thương mại tại vòng đàm phán Uruguay

1994 là thu nhập thế giới có thêm từ 109 tỷ USD đến 510 tỷ USD

Trang 19

Thương mại cũng làm nảy sinh những thách thức khi các nhà sản xuấttrong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu Nhưngthực tế rằng có nguồn thu nhập bổ sung có nghĩa là sẵn có nhiều nguồnlực để các chính phủ tái phân phối lợi nhuận từ những người được lợinhiều nhất, chẳng hạn để giúp các công ty và công nhân thích ứng bằngcách trở nên năng suất và có khả năng cạnh tranh hơn trong lĩnh vực

mà họ đã và đang làm, hoặc bằng cách chuyển sang các hoạt động mới

WTO giúp các quốc gia giải quyết các mâu thuẫn thương mại mộtcách xây dựng Do thương mại tăng lên về mặt khối lượng, số lượngsản phẩm được trao đổi, số lượng các nước và công ty tham gia thươngmại nên có thêm nhiều cơ hội để những tranh chấp thương mại nảysinh Hệ thống WTO giúp giải quyết các tranh chấp này một cách hoàbình và mang tính xây dựng Nếu để mặc chúng thì những tranh chấpnày có thể dẫn đến những xung đột nghiêm trọng Một trong nhữngnguyên tắc của WTO là các thành viên có nghĩa vụ đưa những tranhchấp của mình tới WTO và không được đơn phương giải quyết Khi họđưa các tranh chấp ra giải quyết tại WTO, thủ tục giải quyết của WTO

là tập trung chú ý của họ vào các nguyên tắc, và có lẽ sau đó táithương lượng về các nguyên tắc – chứ không phải là tuyên chiến vớinhau Gần 200 tranh chấp đã được đưa ra giải quyết ở WTO kể từ khi

tổ chức này được thành lập Nếu thiếu một phương tiện giải quyết cáctranh chấp này một cách xây dựng và đồng bộ, một số tranh chấp đã códẫn đến những cuộc xung đột chính trị nghiêm trọng hơn

Thương mại có thể là một động lực mạnh mẽ tạo ra việc làm vàgiảm đói nghèo Mối quan hệ giữa thương mại và sự phát triển là phứctạp Thương mại tự do và ổn định thúc đẩy phát triển kinh tế Nó có

Trang 20

tiềm năng tạo ra việc làm và cũng giúp cho việc xoá đói giảm nghèo vàthường là cả hai Bên được lợi nhiều nhất là nước hạ thấp rào cảnthương mại Nước xuất khẩu vào nước hạ thấp rào cản cũng có lợi,nhưng ít hơn Tuy nhiên, các nhà sản xuất nội địa và công nhân của cácnước hạ thấp rào cản (trước đây được bảo vệ) rõ ràng là phải đối mặtvới sự cạnh tranh mới khi hàng rào thương mại thấp hơn Một số nhàsản xuất nội địa tồn tại được là vì biết tạo ra cho mình khả năng cạnhtranh tốt hơn Một số hội nhập nhanh hơn bằng việc tìm nguồn nhânlực mới Cụ thể, một số nước hội nhập tốt hơn so với các nước khác.

Đó là do những nước này có chính sách hội nhập hiệu quả hơn Nhữngnước không có chính sách hội nhập hiệu quả sẽ bỏ lỡ thời cơ là sự thúcđẩy mà thương mại đem lại cho nền kinh tế WTO giải quyết vấn đềnày bằng một số cách Trong hệ thống thương mại WTO, sự tự do hoáđược thực hiện một cách từ từ tạo điều kiện về mặt thời gian cho cácnước thành viên thực hiện việc điều chỉnh cần thiết Nhiều qui địnhtrong các hiệp định cho phép nước thành viên áp dụng một số biệnpháp tình thế nhằm giảm thiểu các thiệt hại do việc nhập khẩu có thểgây nên Các biện pháp này, tất nhiên, phải tuân theo những qui định

và trình tự hết sức chặt chẽ Đồng thời, sự tự do hoá trong hệ thốngthương mại WTO là kết quả của đàm phán Những nước cảm thấy chưakịp thích ứng với việc mở cửa, có thể phản đối yêu cầu mở cửa đối vớimột số lĩnh vực cụ thể Trong khi thế giới vẫn còn 1,5 tỷ người dânsống trong tình trạng đói nghèo, chính sách tự do hoá thương mại đãgiúp ba tỷ người thoát khỏi cuộc sống đói nghèo kể từ sau chiến tranhthế giới lần thứ 2

Gia nhập vào WTO sẽ giúp các quốc gia tăng cường thu hút đầu

Trang 21

tư nước ngoài Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt,việc trở thành thành viên của WTO sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợihơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Trở thành thành viên củaWTO sẽ thúc đẩy quá trình cải thiện môi trường đầu tư nhằm tăngcường thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triểnkinh tế - xã hội của quốc gia đó.

CHƯƠNG II KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ VIỆT NAM I.Đặc điểm cơ bản của các ngành kinh tế chủ chốt của Việt Nam trước khi gia nhập WTO

Trang 22

Việt Nam đã có khả năng đáp ứng toàn bộ nhu cầu trong nước về cáchàng hoá tiêu dùng thông thường và nhiều loại như tư liệu sản xuấtquan trọng cho nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng và giaothông.

- Có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển tơ lụa tự nhiên

- Có truyền thống sản xuất và đã bước đầu xác lập được vị thếtrên thị trường thế giới, kể cả thị trường khó tính như EU, Mỹ, NhậtBản

Bên cạnh đó, ngành dệt may Việt Nam cũng có những điểm yếukhá cơ bản Đó là:

- Năng lực thiết kế sản phẩm thấp kém, các doanh nghiệp ViệtNam hiện nay chủ yếu thực hiện gia công cho các hãng nước ngoàitheo mẫu mốt do họ cung cấp

- Chưa xây dựng được thương hiệu sản phẩm có uy tín trên thịtrường

- Năng suất lao động thấp kém, giá thành đơn vị sản phẩm cao

- Công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may hết sức yếu kém,nguyên phụ liệu chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài (do phía nướcngoài đặt gia công cung cấp); trang bị kỹ thuật của ngành dệt lạc hậu,

Trang 23

đổi mới công nghệ chậm, không có khả năng sản xuất những loại vải cóchất lượng cao, thay đổi mẫu mã đáp ứng kịp thời yêu cầu của kháchhàng, nhất là những khách hàng cao cấp.

Việc đầu tư vào dệt may kém hiệu quả, gần 8400 tỷ đồng đầu tưvào 220 dự án trong 5 năm qua, song hiệu quả đạt được rất thấp Hầuhết sản lượng các nguyên phụ liệu đầu vào cho ngành dệt may chưa đạt

kế hoạch đặt ra Theo Tổng công ty Dệt may Việt Nam (VINATEX), từđầu năm đến nay đã có 11 dự án đầu tư mới được triển khai với kinhphí 345 tỷ đồng, nâng tổng vốn đầu tư 5 năm qua (2001-2005) lên mức8.373 tỷ đồng Tuy vậy, hiệu quả đầu tư vẫn khá thấp so với yêu cầu.Chẳng hạn, sản lượng bông mới đạt được 56%, vải dệt kim đạt 71,4%,sản phẩm may dệt kim đạt 83% và may dệt thoi đạt 77% so với dựkiến Chỉ có sản lượng sợi toàn bộ là tăng 6% so với yêu cầu đặt ra.Nguyên nhân khiến một số chỉ tiêu không đạt được yêu cầu là công tácđầu tư còn khép kín với từng doanh nghiệp, chưa thể hiện mối liên kếttrong nội bộ và tính chuyên môn hoá theo ngành hàng và sản phẩm

Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt khoảng 4,85 tỷUSD, tuy thấp hơn kế hoạch (5,2 tỷ USD), nhưng vẫn tăng 10% so vớinăm 2004 Thị trường Mỹ vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 2,626 tỷUSD, chiếm 54,1% tổng kim ngạch và tăng 6,1% so với năm 2004.Tiếp đến là thị trường EU đạt khoảng 850 triệu USD, chiếm khoảng17% và tăng 12% Đứng thứ ba là thị trường Nhật Bản với kim ngạchđạt 630 triệu USD, chiếm 13% và tăng 17% Tuy chưa đạt kế hoạch,nhưng kim ngạch xuất khẩu của ngành được coi là khá ấn tượng trongbối cảnh cạnh tranh rất khốc liệt, đặc biệt khi Việt Nam vẫn còn bị ápđặt hạn ngạch của thị trường Mỹ trong khi các nước thành viên WTO

Trang 24

đã được bãi bỏ hạn ngạch từ ngày 1/1/2005.

Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam vẫn chủ yếu thực hiện phươngthức gia công cho các hãng nước ngoài Theo phương thức này, cáchãng nước ngoài đặt gia công sẽ cung cấp mẫu mã sản phẩm và cácnguyên phụ liệu chủ yếu; các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng lao động

và cơ sơ vật chất của mình, tổ chức quá trình sản xuất theo yêu cầu củabên đặt hàng và nhận tiền gia công theo đơn giá và sản lượng đãnghiệm thu Phương thức này thích hợp với điều kiện năng lực kỹthuật, vốn và tiếp cận thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp cònnhiều hạn chế Tuy độ rủi ro trong sản xuất kinh doanh thấp, nhưnghiệu quả kinh tế mà các doanh nghiệp Việt Nam thu được cũng thấpkém, vì các doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu “sức lao động” Chênhlệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu của ngành dệt may rất nhỏ

Biểu: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng dệt may

Đơn vị tính: triệu USD

2000 2001 2002 2003 2004Xuất khẩu 1891,9 1975,9 2732,0 3609,1 4385,6

(Nguồn: Niên giám thống kê 2004)

Trong định hướng chiến lược phát triển công nghiệp trongquá trình công nghệ hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, nhằm phát huy lợithế về nhân lực, ngành công nghiệp dệt may được coi là một trong

Trang 25

những ngành được chú trọng đầu tư phát triển Trong chiến lược tăngtốc của ngành dệt may, Việt Nam đã hết sức chú trọng phát triển cácngành công nghiệp phụ trợ cho dệt may Tuy nhiên, hiệu quả đầu tưchưa đạt được như mong muốn.

1.2 Ngành da giầy

Công nghiệp da giầy có những nét tương đồng với công nghiệpdệt may cả về lợi thế, yếu thế và phương thức xuất khẩu Trong nhữngnăm qua, phát huy về nhân lực và cơ sơ vật chất kỹ thuật hiện có, dagiầy là một trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao,đóng góp lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho ngườilao động Hiện nay, chất lượng giày dép, đồ da của Việt Nam đã đượcthị trường thế giới chấp nhận và xác lập được vị thế trên thị trường.Sản xuất giày dép cũng là lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư nướcngoài, chủ yếu là các nhà đầu tư Hàn Quốc và Đài Loan

Tuy được xếp vào nhóm ngành có kim ngạch xuất khẩu cao,nhưng cũng giống như ngành dệt may, hiệu quả kinh tế trong xuất khẩungành hàng da giầy không cao là do:

- Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu nhận làm gia công chonước ngoài;

- Công nghiệp phụ trợ cho sản xuất da giầy Việt Nam quá yếukém, các nguyên phụ liệu chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài

- Thiếu cán bộ kỹ thuật và khả năng thiết kế mẫu mốt còn rất yếu.Việc xuất khẩu da giầy của Việt Nam thực chất là xuất khẩu laođộng sống

Biểu: Kim ngạch xuất nhập khẩu của ngành hàng da giầy

Đơn vị: triệu USD

Trang 26

2000 2001 2002 2003 2004Xuất khẩu 1471,7 1587,

4

1875,2

2260,5

(Nguồn: Niên giám thống kê 2004)

Cũng như ngành hàng dệt may, việc tiếp tục duy trì ở tỉ lệ caophương thức gia công sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế cao Hơnnữa, cách làm này đặt doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam vào tìnhtrạng phụ thuộc vào các hãng nước ngoài, không có mối quan hệ trựctiếp với thị trường thế giới Việc chuyển sang phương thức tự doanh(các doanh nghiệp mua nguyên phụ liệu và xuất khẩu các sản phẩm sảnxuất ra) là một hướng đi tất yếu Song để thực hiện phương thức này,trong những năm trước mắt các doanh nghiệp công nghiệp trong ngành

da giầy Việt Nam chưa thể đảm bảo được các điều kiện cần thiết (xáclập chỗ đứng trên thị trường, xây dựng thương hiệu riêng, quản lý chấtlượng, vốn lưu động, kỹ năng marketing quốc tế…) Bởi vậy, phươngthức gia công vẫn được xác định là cần thiết, dù rằng hiệu quả kinh tếmang lại không cao Theo Cục xúc tiến thương mại, hiện trên 95%lượng giày dép mà các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoàiđều mang nhãn mác của khách hàng như Nike, Adidas hoặc thươnghiệu của các tập đoàn bán lẻ như Famous Footwear, K, Shoes,… do cácđối tác nước ngoài cung cấp cho các doanh nghiệp theo mẫu thiết kế,hay thậm chí không có nhãn mác gì Đây là kiểu sản xuất mà phần lớnkhách hàng nước ngoài mong muốn sản xuất tại Việt Nam Thực tế cácdoanh nghiệp sản xuất và gia công giày dép đều có đặc điểm chung là

Trang 27

phải đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư nguồn nhân lực cho sản xuất, nhưnglại bỏ qua khâu rất quan trọng là đầu tư cho các khâu thiết kế, tiếp thị,lưu kho, cửa hàng bán lẻ Do vậy, lợi nhuận tiềm năng bị thu hẹp vàphải dựa vào hiệu quả và số lượng của sản xuất Các doanh nghiệp nàykhông tham gia vào khâu thiết kế và phân phối sản phẩm, mà chỉ đónggóp 30% - 50% giá trị sản phẩm trong giai đoạn sản xuất Giá trị đó thểhiện qua việc bán sức lao động của nhân công Các doanh nghiệp nàykhó có thể kiếm thêm lãi bởi chi phí lao động ngày càng có xu hướnggiảm sức cạnh tranh so với các quốc gia khác Nếu phương thức giacông hạn chế được rủi ro thì lợi nhuận thu được cũng bị hạn chế theo.

1.3 Các ngành công nghiệp lắp ráp (điện tử, ô tô, xe máy)

Các ngành này cũng được phát triển trên cơ sở lợi thế về nhân lực

và đón nhận sự chuyển dịch từ các nước công nghiệp phát triển sang.Trong những năm gần đây, sản lượng sản xuất của các ngành này tănglên nhanh chóng

(Nguồn: Niên giám thống kê 2004)

Xét thuần tuý về sản lượng, công nghiệp lắp ráp cơ khí và điện tửViệt Nam có sự gia tăng khá nhanh (trừ sản phẩm radio) và đã thu hútđược lực lượng khá đông đảo lao động, góp phần giải quyết việc làmcho lao động Việt Nam Tuy nhiên, trong sự phát triển của nhóm ngành

Trang 28

- Phần lớn các sản phẩm được lắp ráp dưới dạng CKD, IKD trên

cơ sở các cụm chi tiết nhập khẩu từ nước ngoài

- Phần linh phụ kiện sản xuất trong nước chiếm tỷ trọng nhỏ vàchủ yếu là các loại giản đơn

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớntrong tổng sản lượng sản xuất ra Tỷ lệ sản lượng của các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng sản lượng sản xuất năm 2004 là91,5% ti vi, 89,4% với ô tô và 76% với xe máy

- Trừ một số hàng điện tử và xe máy được xuất khẩu, phần lớncác sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nội địa với các chế độ bảo

hộ sản xuất trong nước, điển hình là với ô tô Là một nước đang trongquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Việt Nam được đánh giá là thịtrường tiêu thụ ô tô có tiềm năng lớn Ngay trong những năm 1990 đã

có 12 dự án liên doanh với nước ngoài trong lĩnh vực lắp ráp ô tô, phầnlớn trong đó là những hãng có danh tiếng trên thế giới như TOYOTA,NISSAN, SUZUKI, MISHUBISHI (Nhật Bản), MERCEDES (Đức),FIAT (Italia), FORD (Mỹ), DEWOO (Hàn Quốc) Sau sự phát triểnrầm rộ của các doanh nghiệp lắp ráp xe máy vào những năm 2000 –

2003, từ những năm 2004 đến nay có xu hướng phát triển các doanhnghiệp lắp ráp ô tô Thủ tướng chính phủ đã từng ban hành Quyết định

số 177/QĐ - TTg phê duyệt qui hoạch ngành ô tô Bộ Công nghiệpcũng ban hành Quyết định số 115/QĐ-BCN về những tiêu chuẩn đốivới doanh nghiệp lắp ráp ô tô Vừa qua, Bộ Công nghiệp đã tiến hànhkiểm tra 36 doanh nghiệp lắp ráp ô tô trong nước, kết quả là chỉ có 10doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quy định, tất cả các dây chuyền đều đượcchuyển giao công nghệ từ Trung Quốc, giá trị đầu tư thấp (chỉ khoảng

Trang 29

500 triệu đồng/dây chuyền) Các doanh nghiệp này tính toán: nhu cầu ô

tô giá rẻ đang rất cao (thay thế 75.000 xe công nông, 32.000 xe buýtquá thời hạn lưu hành ) chỉ cần nhập khẩu dây chuyền trên, sau đónhập linh kiện để lắp ráp và sau 5 năm sẽ hoàn thành khấu hao và bắtđầu thu lãi Với kiểu đầu tư như vậy thì công nghiệp ô tô Việt Namkhông thể trở thành một ngành công nghiệp thực thụ và có khả năngcạnh tranh cao trên thị trường

1.4 Công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu

Trong những năm gần đây, công nghiệp chế biến nông sản ViệtNam có những bước phát triển tích cực Với hàng trăm ngàn cơ sở cóqui mô khác nhau thuộc các thành phần kinh tế, hàng năm công nghiệpchế biến nông sản đã sản xuất nhiều loại hàng hoá phục vụ nhu cầutrong nước và xuất khẩu

Tuy nhiên, chế biến nông sản, trong đó có nông sản xuất khẩuvẫn là ngành công nghiệp nhỏ bé, lạc hậu

Xay xát lúa gạo (dạng chế biến đơn giản): cả nước có hơn 5.000

cơ sở xay sát tập trung với công suất từ 8 – 60 tấn/ca/cơ sở Ở miềnBắc, các cơ sở này được xây dựng từ những năm 1960 đến nay đã cũnát và hoạt động kém hiệu quả Ở miền Nam, các cơ sở xay sát chủ yếu

do tư nhân quản lý với thiết bị lạc hậu Gần đâym, Việt Nam đã đầu tưmột số nhà máy lớn tại đồng bằng sông Cửu Long với thiết bị hiện đạicủa nước ngoài phục vụ xuất khẩu gạo Nhờ đó tỉ lệ gạo phẩm cấp cao(<10% tấm) đạt được trên 55%, tỷ lệ gạo phẩm cấp xấu (>35% tấm)giảm xuống còn 4%

Biểu: Sản lượng một số sản phẩm nông sản chế biến

(Đơn vị: 1.000 tấn)

Trang 30

Chế biến cà phê: có 16 doanh nghiệp, trong đó có 1 doanh nghiệpnhà nước (Tổng công ty Cà phê Việt Nam), 1 doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài, 14 doanh nghiệp ngoài quốc doanh với 50 dây chuyềnchế biến cà phê nhân đạt công suất 100.000 tấn/năm Chế biến cà phêcủa Việt Nam có 2 loại: chế biến cà phê hạt; cà phê rang, xay, hoà tan

Cà phê hạt chủ yếu chế biến bằng phương pháp khô với thiết bị thủ

Trang 31

WB, chỉ có khoảng 2% sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạtloại 1 (R1), còn lại là loại R2 và R3 (cà phê xô) Đó là một trongnhững nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu quả xuất khẩu cà phêViệt Nam Cả nước hiện chỉ có 1 doanh nghiệp chế biến cà phê hoà tanphục vụ nhu cầu trong nước.

Chế biến cao su: Tổng công suất chế biến mủ cao su đạt khoảng250.000 tấn/năm, trong đó của Tổng công ty Cao su là 225.000 tấn.Thiết bị và công nghệ chế biến mủ cao su của Việt Nam hết sức lạc hậunên chỉ có khả năng đáp ứng nhu cầu cấp thấp (để sản xuất săm lốp)với thị trường chủ yếu là Trung Quốc, chưa có đủ khả năng đáp ứngyêu cầu chất lượng cao của các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản.Gần đây, Tổng công ty Cao su đầu tư một số nhà máy chế biến hiện đạihơn, từ đó đã mở rộng khả năng xuất khẩu cao su mủ khô vào các thịtrường tiềm năng này

Chế biến rau quả: Cả nước có 43 doanh nghiệp chế biến rau quảxuất khẩu với tổng công suất chế biến là 150.000 tấn /năm Nhìnchung, thiết bị công nghệ và điều kiện vệ sinh công nghiệp trong chếbiến còn lạc hậu là yếu tố cơ bản hạn chế khả năng khai thác lợi thếcủa nền nông nghiệp nhiệt đới và mở rộng thị trường của công nghiệpchế biến hoa quả xuất khẩu Sản xuất nước hoa quả được coi là nhóm

có tiềm năng phát triển mạnh, nhưng lại phát triển hết sức kém cỏi; cảnước chỉ có 14 cơ sở với công suất thiết kế đạt 34 triệu lít/năm, nhưngmới chỉ sử dụng được 1/3 công suất và cũng gặp nhiều khó khăn trongtiêu thụ sản phẩm sản xuất ra So với ngành công nghiệp trọng điểmkhác, công nghiệp chế biến nông sản vừa nhỏ bé về qui mô, vừa lạchậu về trình độ công nghệ, đơn điệu về sản phẩm sản xuất ra Từ đó, sự

Trang 32

tác động của ngành công nghiệp chế biến nông sản đến sản xuất nôngnghiệp còn nhiều hạn chế, tỉ trọng nông sản chế biến trong tổng sảnlượng sản xuất còn rất thấp (chè: 55%; rau quả:5%; thịt: 1% )

Công nghiệp mía đường: Ngành mía đường được phát triển mạnh

từ khi có Chương trình mía đường (1995) Đến nay, cả nước đã có 44nhà máy đường có năng lực chế biến 12-15 triệu tấn mía/năm và sảnxuất trên 1,2 triệu tấn đường Sự phát triển của ngành này đã có nhữngtác dụng tích cực nhất định đến việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông thôn, xoá đói giảm nghèo ở một số vùng và giảm kim ngạchnhập khẩu đường Tuy nhiên, ngành mía đường Việt Nam còn non yếutrên nhiều mặt: Phần lớn nhà máy có công suất nhỏ (700-1000 tấn mía/ngày), thiết bị lạc hậu, hiệu quả và chất lượng thấp; vùng nguyên liệunhỏ bé, phân tán, chưa được đầu tư cân đối với phát triển công nghiệpchế biến đường, năng suất và chất lượng mía còn thấp

Trang 33

thụ truyền thống nông sản của Việt Nam, như Trung Quốc, ASEAN,Nga và các nước Đông Âu, nông sản Việt Nam cũng đã bước đầu thâmnhập thị trường Trung Đông, EU, Mỹ và châu Phi.

Sản lượng nông sản xuất khẩu có xu hướng tăng rõ rệt Song sứccạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế cònthấp kém, do vậy, hiệu quả xuất khẩu chưa cao, chưa tạo được thế đứngvững chắc trên thị trường

Biểu: Sản lượng một số hàng nông sản xuất khẩu

(Đơn vị tính: 1.000 tấn)Mặt hàng 2000 2001 2002 2003 2004 2005

Trang 34

công nghiệp hoá và chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, diện tíchtrồng lúa có xu hướng giảm, sản lượng lúa tăng lên chủ yếu do tăngnăng suất Với chủ trương ổn định diện tích trồng lúa, sản lượng lúatrong những năm tới vẫn ổn định Đó là điều kiện để Việt Nam bảođảm an ninh lương thực trong nước và duy trì vị thế xuất khẩu lúa gạohàng đầu thế giới.

Chất lượng gạo của Việt Nam ngày càng được cải thiện và nângcao để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường thế giới

Biểu: Phân loại gạo xuất khẩu của Việt Nam (%)

2000 2001 2002 2003Phẩm cấp cao (5-10% tấm) 50,0 31,2 30,6 45,4

Trong những năm vừa qua, giá cả gạo xuất khẩu của Việt Namthường thấp hơn giá gạo quốc tế

2000 2001 2002 2003 2004FOB Bangkok, 5% tấm 207 178 234 199 237

Giá xuất trung bình của

Trang 35

Giá xuất VN qui ra 5%

(Nguồn: FAO)Trong năm 2004-2005, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tănghơn, chênh lệch giá so với Thái Lan đã được thu hẹp hơn Nếu trongnhững năm 1995-2000, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thường thấphơn từ 20-25 USD/tấn, thì hiện nay còn khoảng 5-10 USD/tấn Có 2nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình hình này: Thứ nhất là chất lượng gạocủa Việt Nam thấp hơn, do vậy khó vào những thị trường lớn và đòihỏi chất lượng cao Thứ hai là Việt Nam chưa có hệ thống đối tác tincậy nhiều năm như Thái Lan, khả năng hạn chế về Marketing, nắmthông tin thị trường, giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng

Việt Nam chủ yếu xuất khẩu gạo tẻ thường, trong một vài nămgần đây đã bắt đầu chú ý sản xuất và xuất gạo phẩm cấp cao và gạo đặcsản nhưng sản lượng chưa nhiều

Cà phê: Diện tích và sản lượng cà phê ở Việt Nam trong thời gianqua có sự gia tăng rất nhanh Nếu năm 1990, cả nước mới có 119.300

ha, thì đến năm 2004, diện tích này lên đến 503.200 ha; sản lượng cácnăm tương ứng là 92.000 tấn và 834.600 tấn Tuy nhiên, sự tăng lênquá nhanh về diện tích và sản lượng đã tạo ra sự mất cân đối giữa thực

tế và qui hoạch, giữa sản xuất và chế biến, giá bán thấp, ảnh hưởng xấuđến hiệu quả sản xuất

Đánh giá chung, cà phê Việt Nam có một số ưu thế cạnh tranhkhá cơ bản: điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất cà phê; giá thànhsản xuất thấp vì năng suất cao và giá trị ngày công lao động thấp; đãxác lập được vị thế trên thị trường cà phê thế giới Hiện nay Việt Nam

Trang 36

là nước sản xuất cà phê vối đứng đầu thế giới Bên cạnh đó, khả năngcạnh tranh của cà phê Việt Nam cũng có nhiều mặt hạn chế: chất lượngsản phẩm không ổn định; sản phẩm còn đơn điệu, hầu như chỉ có càphê vối nhân chưa qua chế biến; chưa xây dựng được thương hiệu;phần lớn cà phê được xuất khẩu qua trung gian.

Sản phẩm thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản ở cả 3 loại thuỷvực (nước ngọt, nước lợ, nuôi biển) đều có sự gia tăng nhanh chóng.Nếu năm 2000, tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản là 641.900 ha, thìđến năm 2004 diện tích này đã lên tới 904.900 ha Sản lượng khai thác

và nuôi trồng cũng tăng nhanh Năm 2000, cả nước đạt sản lượng2.250.500 tấn, trong đó sản lượng cá là 1.660.900 tấn, nuôi trồng là589.600 tấn; năm 2004, tổng sản lượng khai thác đạt 3.078.500 tấn,trong đó khai thác là 1.992.900 tấn, nuôi trồng là 1.255.600 tấn Sảnlượng thuỷ sản tăng là kết quả của sự tăng lên của cả 2 ngành khai thác

và nuôi trồng, đặc biệt là tăng sản lượng của ngành nuôi trồng thuỷsản Năm 2004 sản lượng nuôi trồng đã tăng lên gấp 2 lần so với năm

2000 Sự gia tăng sản lượng nhanh chóng đã đưa thủy sản Việt Nam trởthành một trong những nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu thế giới,trong đó thế mạnh gần như độc quyền về tôm sú cỡ lớn Riêng mặthàng cá ba sa, cá tra năm 2004 sản lượng cá nguyên liệu đạt 300.00 tấnngang bằng sản lượng cá nheo của Mỹ và trở thành đối thủ cạnh tranhmạnh với cá rô phi của Trung Quốc Tôm là một trong những mặt hàngthủy sản quan trọng của nước ta hiện nay Sản phẩm tôm thường chiếm40-50% giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Từ những năm 2000 đếnnay, sản lượng tôm sú của Việt Nam đứng hàng đầu trong các nướcxuất khẩu tôm sú Chất lượng tôm nuôi của Việt Nam tốt hơn và ngon

Trang 37

hơn sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực.

Công nghệ đánh bắt và nuôi trồng hiện còn rất nhiều lạc hậu dođược thực hiện ở phạm vi hộ gia đình với qui mô nhỏ, khả năng tàichính yếu, không đủ khả năng đầu tư thâm canh, áp dụng công nghệhiện đại vào sản xuất Tuy công nghệ chế biến thủy sản của Việt Namđang tiếp cận trình độ công nghệ của khu vực và của một số nước tiêntiến trên thế giới, nhưng hiện vẫn còn trên 40% nhà máy chế biến qui

mô nhỏ, máy móc, thiết bị cũ và lạc hậu, chủ yếu là sơ chế Tỷ trọnglao động thủ công trong chế biến thuỷ sản còn rất lớn, năng suất laođộng thấp Những điều này đã ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng,hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm thuỷ sản trên thị trườngquốc tế Về chất lượng một số loại thủy sản của Việt Nam đáp ứngđược yêu cầu về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm của thịtrường thế giới, kể cả những thị trường khó tính như EU, Mỹ và NhậtBản Tuy nhiên, do sự phát triển quá nhanh vượt khỏi tầm kiểm soát đãdẫn đến sự quản lý yếu kém về chất lượng Những năm gần đây, tỷ lệnhiễm dư lượng kháng sinh, hoá chất bị cấm trong cá nuôi khá cao,tình trạng bơm chích tạp chất vào tôm chưa được xử lý một cách triệt

để, khả năng đảm bảo trong xuất xứ nguồn gốc sản phẩm kém do diệntích manh mún, trình độ sản xuất chưa đồng đều Điều này đã ảnhhưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thủy sản chủ lựccủa Việt Nam

II Những tác động từ việc gia nhập WTO

Trong xu thế toàn cầu hoá, khi là thành viên chính thức củaWTO, Việt Nam có những thuận lợi cơ bản để thâm nhập, mở rộng thịtrường, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh công nghiệp hoá và

Trang 38

tăng cường năng lực của nền kinh tế Những cơ hội mới trong pháttriển kinh tế xã hội chỉ có được khi hệ thống luật pháp phù hợp vớithông lệ quốc tế và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranhlành mạnh để mọi loại hình doanh nghiệp được đối xử công bằng trongcác hoạt động thị trường Muốn đón nhận thời cơ, tận dụng điều kiệnthoát khỏi tình trạng bị nước lớn gây sức ép, Việt Nam phải sớm hoànthiện hệ thống luật pháp, cơ chế thị trường, cải cách hành chính vàdoanh nghiệp cho tương đồng với những thể chế toàn cầu Đây chính làtác động mạnh mẽ của WTO đến hoạt động mở cửa thị trường và cảicách chính sách, thể chế luật pháp Hệ thống chính sách minh bạch, ổnđịnh và dễ dự đoán, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuấtkinh doanh, là cơ sở quan trọng để thu hút đầu tư đặc biệt là thu hútđầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực cần mở mang.

1 Tác động đến kinh tế

Đối với ngành kinh tế, việc gia nhập WTO tác động đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ, trong thu hút đầu tư nước ngoài vàxây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Việc xoá bỏ rào cản đối với đầu tư nước ngoài (FDI) sẽ tạo thuận lợicho các nhà đầu tư tham gia vào các ngành công nghiệp, chế biến nôngsản và nhất là dịch vụ có lợi thế Việc điều chỉnh chính sách nhằm xoá

bỏ yêu cầu cân đối thương mại và cân đối ngoại tệ cũng là điều kiệnthuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và các ngành hàng có lợithế xuất khẩu Khi gia nhập WTO, hiệp định TRIPS, một cơ chế hữuhiệu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, có tác dụng kích thích mạnh mẽ việcđầu tư chuyển giao công nghệ và đưa công nghệ cao vào các ngànhkinh tế Thực hiện nghiêm chỉnh những cam kết TRIPS, tôn trọng

Trang 39

quyền sở hữu trí tuệ cũng là giải pháp khuyến khích sáng tạo, khích lệdoanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào hoạt động nghiên cứu phát triển,đặc biệt là ở những ngành hàng đòi hỏi hàm lượng trí tuệ cao, mang lạilợi ích kinh tế lơng Làn sóng đầu tư nước ngoài nếu được gia tăng sẽ

là động lực tích cực để tăng trưởng sản xuất công nghiệp, tăng cườngnghiên cứu, chuyển giao công nghệ, góp phần quan trọng vào nâng caonăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và những sản phẩm ngànhhàng Nước ta mở rộng thị trường khi đại bộ phận các tổ chức sản xuấtkinh doanh là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu nguồn lực đầu tưtrình độ nhân lực thấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém, nhiều lĩnh vựccông nghệ đang còn lạc hậu Sức ép lớn đối với các doanh nghiệp trongnước khi vào WTO là sự cạnh tranh gay gắt Cạnh tranh thị trường nộiđịa càng trở nên gay gắt hơn khi các rào cản thương mại bị cắt giảm,những doanh nghiệp nhỏ, khả năng cạnh tranh yếu kém có nguy cơ phásản hoặc giảm hiệu quả kinh doanh Với tiềm lực hạn chế, doanhnghiệp Việt Nam đang ở thế yếu trong những tranh chấp thương mạiquốc tế, thu hút được đầu tư nước ngoài vào phát triển những ngành cólợi thế phát triển, đòi hỏi trình độ công nghệ cao sẽ là một hướng thúcđẩy nhanh những ngành hàng có lợi thế xuất khẩu để chiếm lĩnh thịtrường toàn cầu Từ thực tiễn nhiều quốc gia, trong thu hút đầu tư nướcngoài, các doanh nghiệp FDI thường mở mang những ngành nghề mới,thực hiện chuyển giao công nghệ và kỹ năng sản xuất kinh doanh cholao động của nước sở tại nhằm thu được lợi nhuận cao Mở mang pháttriển những ngành nghề mới áp dụng công nghệ hiện đại đòi hỏi laođộng có trình độ cao, buộc lực lượng lao động trẻ phải tự học hỏi vươnlên để có việc làm Đây cũng chính là cơ hội để nâng cao trình độ

Trang 40

nguồn nhân lực nước ta khi vào WTO

Đối với ngành nông nghiệp của nước ta thì việc gia nhập WTOcũng mang lại rất nhiều cơ hội Được hưởng ưu đãi của 149 nước thànhviên, mặt hàng nông sản nhiệt đới có thế mạnh của nước ta không bịphân biệt đối xử, có nhiều cơ hội để thâm nhập vào thị trường toàncầu, đặc biệt ở những nước phát triển có nhu cầu cao Ngoài những sảnphẩm có ưu thế đặc thù, cây trồng vụ đông là một thế mạnh khi cácnước ôn đới đang mùa đông giá cần nhiều, nông sản thực phẩm sạch cókhả năng mở rộng cũng là một hướng có nhiều triển vọng xuất khẩu lâudài… Khi gia nhập WTO, ngành nông nghiệp nước ta có thuận lợi hơntrong các tranh chấp, với cam kết không phân biệt đối xử, hàng nôngsản xuất khẩu giá rẻ nước ta có thuận lợi hơn trong các tranh chấp vớicam kết không phân biệt đối xử, hàng nông sản xuất khẩu giá rẻ nước

ta sẽ có cơ hội thâm nhập vào nhiều thị trường Thêm vào đó, ảnhhưởng trong các chương trình nghị sự và quyền đàm phán đa biên củanước thành viên WTO cũng là những thuận lợi để tối đa hoá các lợi íchtrong các vòng đàm phán thương mại Từ chính sách và thể chế phùhợp với thông lệ quốc tế, nông nghiệp nước nhà sẽ có sức thu hút nhiềunhà đầu tư vào lĩnh vực này Ngoài ra, khi vào WTO, Việt Nam cònđược tham gia nhiều hơn vào những chương trình hợp tác khoa họccông nghệ, thu hút đầu tư đổi mới công nghệ, mở mang nhiều ngànhnghề nông thôn, hiện đại hoá công nghiệp chế biến…sẽ tác động lớnđến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn Vớihướng phát triển này, theo ước tính của ngành Lao động thương binh

xã hội, nếu xuất khẩu nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp tăng được31%, 62% và 7% thì việc làm cho lao động nông nghiệp có thể tăng

Ngày đăng: 27/03/2013, 14:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giải pháp các vấn đề về thủ tục gia nhập WTO- NXB Thế giới, Hà Nội Khác
2. Số liệu thống kê tình hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2001-2005 Khác
3. Những đặc điểm cơ bản và xu thế phát triển kinh tế của các nước đang phát triển-Tạp trí những vấn đề kinh tế thế giới( t1-2006) Khác
4. Thông tấn xã Việt Nam, Các vấn đề quốc tế(2/2005) Khác
5. Tìm hiểu tổ chức Thương mại quốc tế WTO-NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Khác
6. Kinh tế Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO-NXB Thế giới, Hà nội Khác
7. Thông tin kinh tế tại Website Bộ thương mại 8. Thông tin tại Website Tổng cục thống kê 9. Thông tin tại Website Bộ Tài chính Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Theo bảng số liệu trên ta có thể thấy được thương mại của Việt nam   trong   những   năm   gần   đây   đã   có   những   bước   chuyển   lớn,   lượng   hàng hoá chúng ta xuất khẩu  sang Hoa  kỳ tăng lên theo  từng năm   với   năm   2000   chúng   ta   chỉ - WTO và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi trở thành thành viên của WTO
heo bảng số liệu trên ta có thể thấy được thương mại của Việt nam trong những năm gần đây đã có những bước chuyển lớn, lượng hàng hoá chúng ta xuất khẩu sang Hoa kỳ tăng lên theo từng năm với năm 2000 chúng ta chỉ (Trang 51)
Chúng ta có thể xem xét qua tình hình xuất khẩu một số mặt hàng   vào   Hoa   kỳ   trong   hai   năm   2000   và   2005 - WTO và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam khi trở thành thành viên của WTO
h úng ta có thể xem xét qua tình hình xuất khẩu một số mặt hàng vào Hoa kỳ trong hai năm 2000 và 2005 (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w