Giải pháp để phảt triển hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Vào tháng 07/2002 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên lớn nhất của
tổ chức thương mại thế giới WTO, điều này mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội mới song cũng không ít thách thức đặc biệt cho các ngành có tính cạnh tranh cao Đóng vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tầm ảnh hưởng lớn đến các ngành nghề khác của nền kinh tế, ngành hàng không dân dụng Việt Nam mà đi đầu là Tổng công ty hàng không Việt Nam (VNA) cũng không nằm ngoài quy luật
đó So với các hãng hàng không khác trong khu vực và trên thế giới thì VNA là một hãng hàng không còn non trẻ về tuổi đời và tuổi nghề nhưng từ khi thành lập đến nay với sự nỗ lực của toàn bộ Tổng công ty, VNA đã từng bước khẳng định được uy tín của mình trên thị trường, khẳng định là một hãng hàng không trẻ và năng động
Vận tải hành khách là mảng kinh doanh chủ yếu và mang lại nhiều lợi nhuân cho VNA Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày một nâng cao,
sử dụng dịch vụ hàng không làm phương tiện đi lại không còn là vấn đề xa xỉ đối với một bộ phận người dân Hơn thế nữa, tham gia tổ chức thương mại thế giới và nhiều tổ chức khu vực cũng như quốc tế khác đồng nghĩa với việc tăng cường giao lưu kinh tế, văn hóa và du lịch, vì thế cũng kéo theo sự gia tăng trong nhu cầu sử dụng dịch vụ vận tải hành khách của VNA Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp và gặp nhiều khó khăn trong thời gian vừa qua cũng như đứng trước những sự cạnh tranh gay gắt trong mảng khai thác vận tải hành khách bằng đường hàng không nên VNA nói chung và vận tải hành khách của VNA nói riêng đang đứng trước không
ít khó khăn và thách thức
Để không bị tụt hậu đủ sức cạnh tranh với các hãng hàng không trên thế giới, Vietnam Airlines cần có những chiến lược kinh doanh đúng đắn, xác định rõ mục tiêu của mình cũng như hoàn thiện bộ máy quản lý và trình độ nguồn nhân lực và
Trang 2tăng cường hợp tác, liên minh, liên kết, đưa ra các giải pháp hợp lý và kịp thời nhằm phát triển hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines.
Với mong muốn tìm hiểu tình hình hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines để thấy được những thành tựu doanh nghiệp đã đạt được và những tồn tại đang kìm hãm sự phát triển của hoạt động vận tải hành khách, từ đó
có những giải pháp cụ thể để giúp Vietnam Airlines ngày một phát triển bền vững;
nên em đã chọn đề tài “Giải pháp để phảt triển hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines” cho đề tài nghiên cứu khoá luận của mình.
2.Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là đưa ra các giải pháp để phát triển hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong việc nghiên cứu tình hình kinh doanh của Vietnam Airlines và các bài học kinh nghiệm của các hãng hàng không trên thế giới trong khoảng thời gian 2000- 2007
3.Phương pháp nghiên cứu:
Xuyên suốt khoá luận, tác giả dùng phương pháp diễn giải, qui nạp, phương pháp phân tích và phương pháp so sánh để nghiên cứu đội tượng khoá luận
4.Kết cấu, bố cục của đề tài:
Nội dung chủ yếu của khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề khái quát về hoạt động vận tải hành khách bằng
đường hàng không
Chương 2: Thực trạng hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines
Chương 3: Giải pháp để phát triển hoạt động vận tải hành khách của VietNam
Airlines
Trong quá trình làm khoá luận có những hạn chế về mặt thời gian, về nguồn tài liệu nghiên cứu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em mong nhận được sự đóng góp chân thành từ độc giả để đề tài khoá luận này được hoàn thịên hơn
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành khoá luận này.
Trang 4Chương I: Một số vấn đề khái quát về hoạt động vận tải hành khách bằng
đường hàng không 1.1.Khái niệm và đặc điểm của vận tải hành khách bằng đường hàng không
1.1.1.Khái niệm
Hiểu theo nghĩa rộng thì vận tải hàng không là sự kết hợp các yếu tố về kinh
tế và kỹ thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách hiệu quả nhất Cũng là một ngành sản xuất vật chất nên vận tải hàng không cũng có sản phẩm riêng của mình là việc di chuyển hành khách, hàng hoá, hành lý và bưu kiện
từ nơi này đến nơi khác thông qua phương tịên vận chuyển bằng máy bay Sản phẩm vận tải hàng không có đặc thù rất cơ bản Không giống như sản phẩm của các ngành sản xuất khác, vận tải hàng không không có hình dạng, kích thước, màu sắc
cụ thể mà quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời nên không thể dự trữ sản phẩm được Vì thế để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá đòi hỏi
các hãng hàng không phải dự trữ năng lực vận chuyển Như vậy Vận tải hàng không là hình thức chuyên chở hàng hoá và hành khách trong không gian bằng máy bay nhằm đạt được mục đích kinh tế nhất định Từ đó, có thể rút ra khái niệm vận tải hành khách bằng đường hàng không là việc chuyên chở hành khách từ nơi này đến nơi khác bằng máy bay nhằm đạt được mục đích kinh tế nhất định.
1.1.2.Đặc điểm
Vận tải hàng không nói chung và vận tải hành khách bằng đường hàng không nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế và ngày càng phát triển mạnh mẽ Lượng khách sử dụng phương tiện đi lại bằng máy bay tăng vọt trong những năm qua So với các phương tiện vận chuyển khác, vận tải hành khách bằng đường hàng không có những đặc điểm khác biệt hẳn:
+ Tuyến đường trong vận tải hàng không là không trung và hầu như là đường thẳng, không phải tốn kém trong việc đầu tư xây dựng tuyến đường như vận tải đường bộ và đường sắt, không phục thuộc vào vị trí địa lý, địa hình nhưng lại phụ
Trang 5thuộc vào điều kiện khí hậu của từng vùng.
+ Tốc độ vận tải hàng không cao hơn hẳn các loại phương tiện vận tải khác: Cùng một khối lượng hàng hoá, một quãng đường vận chuyển nhưng nếu sử dụng vận chuyển bằng máy bay chỉ mất 1 giờ thì với quãng đường ấy sẽ phải mất 27 giờ nếu vận chuyển bằng đường biển và 8 giờ nếu vận chuyển bằng ô tô hay tàu hoả
+ Vận tải hàng không được coi là an toàn nhất trong các loại hình phương tiện vận tải bởi vì vận tải hàng không phải sử dụng công nghệ cao và phải luôn cải tiến và áp dụng những công nghệ tiên tiến của thế giới Đối tượng vận chuyển của vận tải hàng không là người và hàng hoá thường là hàng hoá quý hiếm, có giá trị cao nên trong các chuyến bay từ phi hành gia đến tiếp viên phục vụ đều phải tuân thủ những quy tắc nghiêm ngặt về an toàn, không được phép để xẩy ra một sai sót
+ Vận tải hàng không đòi hỏi một nguồn vốn khổng lồ để đầu tư cho việc mua sắm máy bay, trang thiết bị, đào tạo đội ngũ phi công và xây dựng sân bay, hệ thống dịch vụ Vì thế, vận tải hàng không thường rất phát triển ở các quốc gia lớn, đặc biệt là ở Mỹ và các nước Châu Âu nhưng lại là vấn đề khó khăn cho các quốc gia đang và kém phát triển, trong đó có Việt Nam
Như vậy, qua những đặc điểm riêng biệt của vận tải hàng không chúng ta có thể thấy rõ vận tải hàng không có những ưu điểm nổi trội hơn so với các loại hình vận tải khác như là tốc độ vận chuyển nhanh, rút ngắn được thời gian vận chuyển
Trang 6tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá trên thế giới, song vận tải hàng không cũng có những hạn chế không thể tránh được.
1.2.Vai trò và tác dụng của vận tải hành khách bằng đường hàng không trong
nền kinh tế quốc dân
Mặc dù vận tải hàng không Việt Nam xuất phát điểm ở một mức thấp và trải qua một quá trình phát triển chưa lâu nhưng cùng với các loại hình vận tải khác vận tải hàng không nói chung và vận tải hành khách bằng đường hàng không nói riêng đã đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội đất nước cũng như mở rộng mối giao lưu văn hoá chính trị Vận tải hàng không tham gia vào tất cả các quan hệ kinh tế, giao lưu văn hoá, du lịch và quá trình hội nhập của tất cả các quốc gia trên thế giới:
+ Vận tải hàng không góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc dân và mối quan
hệ kinh tế quốc tế phát triển:
Không một quốc gia nào khép cánh cửa đất nước mình, không giao lưu,
mở rộng quan hệ về mọi mặt với các quốc gia khác mà lại có thể phát triển một cách bền vững được Điều đó có nghĩa là muốn nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao không còn cách nào khác là quốc gia đó phải tiến hành hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới để có thể học hỏi, đúc rút cũng như thừa hưởng những kinh nghiệm, những tiến bộ về khoa học kỹ thuật hay những nét văn hoá đẹp của các nước trên thế giới Để đẩy nhanh quá trình hội nhập đó một trong những điều kiện cần của mỗi quốc gia là phải phát triển mạng lưới vận tải hàng không bởi lẽ vận tải hàng không là loại hình vận tải có khả năng kết nối nhiều khu vực trong nội bộ quốc gia, trong châu lục và toàn thế giới mà các loại phương tiện vận tải khác không thể thực hiện được Một khi các hãng hàng hàng không thực hiện mở rộng tuyến đường bay là đồng nghĩa với việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế rộng rãi hơn
Vận tải hàng không được xem như một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền kinh tế của một quốc gia cũng như toàn thế giới Thứ nhất, vận tải hàng
Trang 7không là một mắt xích quan trọng trong việc liên kết các phương thức vận tải khác với nhau tạo nên mô hình vận chuyển vận tải đa phương thức rất hiệu quả, khai thác tối đa ưu điểm của từng loại hình vận tải cũng như giúp giảm thiểu chi phí và rút ngắn thời gian vận chuyển đưa lại lợi nhuận kinh tế lớn nhất Thứ hai, vận tải hàng không có khả năng liên kết các trung tâm kinh tế lớn lại với nhau Như thế có thể khẳng định vận tải hàng không nói chung và vận tải hành khách bằng đường hàng không nói riêng là hệ thống huyết mạch của các hoạt động kinh tế quốc tế.
Ngoài ra, vận tải hàng không góp phần thúc đẩy các ngành khác phát triển, hỗ trợ một số ngành quan trọng và then chốt của nền kinh tế như phục vụ ngành dầu khí, ngành bưu chính viễn thông và ngành du lịch, góp phần tạo công ăn việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Những năm gần đây, ngành dịch vụ du lịch của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, nhiều hình thức
du lịch được khai thác, nhiều nhà hàng, khách sạn mọc lên và nhiều cửa hàng bán
đồ lưu niệm phục vụ khách du lịch được mở đã thu hút một lượng lớn người lao động trong cả nước, đặc biệt là những vùng miền có nhiều danh lam thắng cảnh của
cả nước Có được sự đổi mới và phát triển đó chúng ta không thể phủ nhận vai trò đóng góp của ngành vận tải hàng không Việt Nam mà tiêu biểu là Vietnam Airlines Hàng năm lượng khách du lịch nước ngoài sử dụng dịch vụ của Vietnam Airlines tăng nhanh, trong năm 2005 có 6584 hành khách quốc tế đến Việt Nam bằng phương tiện máy bay, chiếm 80,34% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam bằng các phương tiện khác nhau.(Theo Điều tra chỉ tiêu khách du lịch
Trang 8chung và vận tải hành khách bằng đường hàng không nói riêng có tác động đến tình trạng cán cân thanh toán của một quốc gia.
Trong nền kinh tế Vịêt Nam hiện nay, vận tải hàng không được xem là một trong những ngành phát triển mạnh mẽ và năng động nhất Tốc độ phát triển của vận tải hàng không đạt ở mức cao, trung bình 44,2% trong giai đoạn 1991 -1996 Doanh thu từ hoạt động kinh vận tải hàng không đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước và là nguồn thu ngoại tệ dồi dào cho quốc gia Năm 1998, VNA nộp ngân sách nhà nước đạt 981 tỷ đồng và năm 2002 đạt 1.062 tỷ đồng (tăng 10,8% so với năm 1998, hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch) Trong 5 năm (từ 2001-2006), thị trường hàng không Việt Nam liên tục phát triển Không chỉ số lượng hành khách mà con số hàng hoá VNA vận chuyển cũng tăng lên theo từng năm Năm 2000, VNA vận chuyển gần 46 ngàn tấn hàng hoá; năm 2001: hơn 49 ngàn tấn, doanh thu 708 tỷ đồng Đến năm 2006, VNA vận chuyển gần 105 ngàn tấn, doanh thu gần 1.800 tỷ đồng Trung bình, doanh thu từ vận tải hàng hoá chiếm trên
10 % tổng doanh thu của VNA 5 năm qua, sản lượng hàng hoá VNA chuyên chở tăng hơn 2 lần, doanh thu gần gấp 3 lần
Bằng nguồn thu từ việc bán vé máy bay cho khách nước ngoài trong các chuyến bay nội địa và các dịch vụ thương mại kèm theo như các dịch vụ du lịch, tiêu dùng cho việc ăn uống, khách sạn và đi lại trở thành một khoản thuận lợi trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế (Theo số lượng của Tổng cục Thống kê thì năm 2005 lượng hành khách du lịch quốc tế đến Việt Nam bằng đường hàng không là 6,8 triệu người, trong tổng số 1287,6 triệu hành khách sử dụng các phương tiện vận chuyển khác nhau và đạt chỉ số phát triển 123,6%) Thêm vào đó
là nguồn thu từ kim ngạch xuất khẩu với việc chuyên chở hàng hoá xuất khẩu với hàng chục tấn hàng hoá mỗi năm Nguồn thu đó đóng vai trò cân bằng nguồn chi thanh toán cho các hãng hàng không nước ngoài và sự chi tiêu của người đi du lịch nước ngoài, và cũng là nguồn thu quan trọng để đầu tư mua sắm các trang thiết bị
kỹ thuật phục vụ cho vận tải hàng không
Trang 9+ Vận tải hàng không góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá
xã hội.
Với những ưu điểm của đặc thù ngành, vận tải hàng không đã góp phần đáp ứng nhu cầu kinh tế - xã hội, giao lưu văn hoá – xã hội trong nội bộ quốc gia từ đồng bằng đến vùng núi, hải đảo xa xôi cũng như trong môi trường quốc tế Với hệ thống sân bay bố trí hầu khắp trên khắp đất nước, đặc biệt ở những vùng xa xôi, vận tải hàng không góp phần trong việc vận chuyển hàng hoá, sách báo, đồ viện trợ
và khách du lịch tới đây nhằm phát triển kinh tế và giao lưu văn hoá, góp phần rút ngắn trình độ phát triển giữa những vùng trung tâm và vùng sâu vùng xa của đất nước nhằm đạt được sự tăng trưởng đồng đều và bền vững trong cả nước Vận tải hàng không Việt Nam đang cố gắng phổ biến hoá loại hình vận tải của mình trong đời sống nhân dân nhằm phục vụ nhu cầu đi lại và giao lưu giữa các vùng trong đất nước cũng như giao lưu với bè bạn năm châu
Xuất phát điểm của ngành vận tải hàng không là thuộc lực lượng vũ trang nên một vai trò rất quan trọng của vận tải hàng không là giữ vững an ninh quốc phòng cho đất nước
Qua những phân tích trên ta có thể thấy rõ vai trò to lớn của vận tải hàng không nói chung và vận tải hành khách bằng đường hàng không nói riêng trong tất
cả mọi mặt của cuộc sống từ kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, du lịch đến an ninh quốc phòng Đảng và Nhà nước cũng như các cấp, các ngành có liên quan phải nhận thức được và phát huy tối đa vai trò quan trọng của vận tải hàng không trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, đưa nước ta đi lên ngang tầm với thế giới
1.3 Vận tải hàng không Việt Nam trong quá trình toàn cầu hoá.
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và
trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v trên quy
mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hoá thương mại hay "tự do
Trang 10thương mại" nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá
Có thể nhận biết toàn cầu hoá thông qua một số xu hướng, hầu hết các xu hướng đó bắt đầu từ Chiến tranh thế giới lần thứ 2 Trong số đó có lưu thông quốc tế ngày càng tăng đối với hàng hoá, tiền tệ, thông tin và người; cùng với việc phát triển các công nghệ, tổ chức, hệ thống luật lệ và cơ sở hạ tầng cho việc lưu thông này Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một số xu hướng như sau:
Gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế
thế giới
Gia tăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ
như Internet, các các vệ tinh liên lạc và điện thoại
Gia tăng trao đổi văn hoá quốc tế, chẳng hạn như việc xuất khẩu các văn hoá
phẩm như phim ảnh hay sách báo
Làm mờ đi ý niệm chủ quyền quốc gia và biên giới quốc gia thông qua các
hiệp ước quốc tế dẫn đến việc thành lập các tổ chức như WTO và OPEC
Gia tăng việc đi lại và du lịch quốc tế
Phát triển các hệ thống tài chính quốc tế
Gia tăng thị phần thế giới của các tập đoàn đa quốc gia
Gia tăng vai trò của các tổ chức quốc tế như WTO, WIPO, IMF chuyên xử lý
các giao dịch quốc tế …
Trong những năm gần đây quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng hơn bao giờ hết Hàng năm lượng hàng hoá trao đổi giữa các quốc gia
Trang 11tăng nhanh gấp đôi tổng sản phẩm quốc nội, thị trường tài chính hoạt động sôi nổi liên tục 24/24 giờ , các công ty đa quốc gia được thành lập khắp nơi trên thế giới tạo ra sự giao lưu trong quan hệ kinh tế, văn hoá và xã hội từ những quốc gia phát triển nhất đến những quốc gia đang và kém phát triển Thêm vào đó công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão, điển hình là mạng Internet với những tính năng của mình đã kết nối con người xa nhau hàng triệu dặm xích lại gần nhau và cung cấp một lượng thông tin khổng lồ tới bất kỳ đâu trong một khoảng thời gian ngắn nhất Trong không khí toàn cầu hoá đó ngành vận tải đang ngày càng phát triển với việc áp dụng nhiều công nghệ cao đã góp phần vào quá trình toàn cầu hoá bằng việc chuyên chở một khối lượng lớn hàng hoá trên khắp thế giới cũng như đưa con người từ các quốc gia khác nhau, màu da khác nhau và văn hoá khác nhau đến lại gần nhau Với những ưu điểm hơn hẳn các loại hình vận tải khác, vận tải hàng không cho phép đi lại dễ dàng hơn Hành tinh dường như đang nhỏ lại và thu gọn trong một ngôi “ làng toàn cầu” mà chỉ một thời gian ngắn ngủi con người có ở
xa vạn dặm cũng có thể gặp được nhau
Trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, toàn cầu hoá thể hiện rõ trong việc thành lập các tổ chức kinh tế, chính trị và văn hoá xã hội mang tính toàn cầu và khu vực như tổ chức thương mại thế giới WTO, diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dương APEC và vô số các tổ chức khu vực khác Cũng hoà chung không khí toàn cầu hoá đó, vận tải hàng không trên toàn thế giới nói chung và trong từng khu vực nói riêng cũng liên kết, hợp tác với nhau trong việc khai thác mảng bẩu trời thế giới thông qua các tổ chức như ICAO(International Civil Aviation Organisation - Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế cấp chính phủ), IATA(International Airtransport Association - Hiệp hội hàng không dân dụng quốc tế) và AAPA(Association of Assia Paccific Airlines - Hiệp hội vận tải hàng không Châu Á),….Toàn cầu hoá tạo ra một môi trường cạnh tranh thông thoáng hơn nhưng vô cùng khốc liệt cho tất cả các ngành kinh tế và không ngoại trừ ngành vận tải hàng không Vận tải hàng không Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn và
Trang 12thách thức không nhỏ.
Trong không khí toàn cầu hoá và hội nhập trên toàn thế giới, muốn phát triển nhanh và bền vững Việt Nam không thể đứng yên mà phải ra sức tìm kiếm, nắm bắt và chủ động mở rộng quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực Với chủ trương, đường lối tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các quốc gia trên nhiều lĩnh vực trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau, Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế mang tính quốc tế và khu vực mà tiêu biểu là việc trở thành thành viên của tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới - tổ chức thương mại thế giới WTO Cũng nằm trong chủ trương, đường lối đó của Đảng và Nhà nước, ngành vận tải hàng không Việt Nam cũng thực hiện lộ trình toàn cầu hoá của mình bằng việc tham gia vào các tổ chức của ngành như Hợp tác tiểu vùng CLMV giữa bốn nước là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam về hợp tác hàng không tiểu vùng Campuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam; Hợp tác ASEAN với kế hoạch hành động EASEAN trong giao thông vận tải và bưu điện với “Chính sách vận tải hàng không trong ASEAN”; Hợp tác APEC; Hợp tác WTO
Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào hợp tác CLMV và hợp tác WTO:
+ Tiểu vùng hợp tác vận tải hàng không CLMV được thành lập năm 1998 theo sáng kiến của Việt Nam, nước đăng cai hội nghị lần thứ 1 và thứ 2 tại Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh, nhằm tập trung hợp tác vận tải hàng không giữa các nước CLMV để hỗ trợ ngành vận tải hàng không của các nước phát triển Trong thời gian qua kể từ ngày ký thoả thuận chính thức thiết lập Hợp tác Tiểu vùng CLMV về vận tải hàng không, trên cơ sở 4 nguyên tắc “hợp tác – giúp đỡ - đồng thuận và kiên trì thực hiện mục tiêu chung”, sự hợp tác này đã đem lại hiệu quả đáng kể trong hoạt động vận tải hàng không của 4 quốc gia Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam
+ Hợp tác WTO:
GATS là hiệp định của WTO được công bố ngày 15/12/1993 do 124 nước thành viên ký ngày 15/4/1994 bao gồm các nguyên tắc được áp dụng vô điều
Trang 13kiện(không phụ thuộc vào quá trình đàm phán) và các biện pháp áp dụng có điều kiện (chủ yếu dựa trên các cam kết là kết quả đàm phán của mỗi nước) Các cma kết về dịch vụ được thể hiện trong Biểu cam kết cụ thể về thương mại và dịch vụ (Gọi tắt là biểu cam kết dịch vụ) Trong hiệp định GATS có một phụ lục về vận tải hàng không, trong đó chỉ điều chỉnh các loại hình dịch vụ như dịch vụ sửa chữa và bảo trì máy bay, dịch vụ tiếp thị vận tải hàng không và dịch vụ đặt giữ chỗ qua mạng
Hiện nay, một phần lớn ngành vận tải hàng không - gồm quyền không lưu
và các dịch vụ đi kèm quyền không lưu- đang nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của GATS Tuy vậy, GATS cũng quy định rằng các nước thành viên phải xem xét tình hình này Quá trình xem xét đã được bắt đầu từ năm 2000 nhằm xác định xem liệu
có nên đưa thêm một số dịch vụ vận tải hàng không khác vào phạm vi điều chỉnh của GATS hay không Quá trình này có thể sẽ chuyển thành một cuộc đàm phán thực chất và dẫn tới sửa đổi GATS bởi vì phạm vi điều chỉnh của GATS sẽ được
mở rộng ra một số ngành dịch vụ mới và danh mục cam kết của mỗi quốc gia sẽ được bổ sung thêm một số cam kết cụ thể về các ngành dịch vụ mới này
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam thực hiện việc mở dần từng cánh cửa ngành vận tải hàng không và cam kết với mức độ vừa phải
Trong lĩnh vực dịch vụ vận tải hàng không, các hãng hàng không nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ bán và tiếp thị sản phẩm hàng không tại Việt Nam thông qua văn phòng bán vé của mình hoặc các đại lý tại Việt Nam Đối với dịch
vụ đặt, giữ chỗ bằng máy tính, Việt Nam không hạn chế, ngoại trừ nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải sử dụng mạng viễn thông công cộng dưới sự quản lý của nhà chức trách viễn thông Việt Nam Đối với dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa máy bay, kể từ khi gia nhập, Việt Nam cho phép thành lập liên doanh, trong đó phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 51%
Thực tế từ khi ra đời đến nay, vận tải hàng không đã có những đóng góp
Trang 14đáng kể và khẳng định được vai trò không thể thiếu của mình trong việc phát triển nền kinh tế nói chung và sự nghiệp toàn cầu hóa nói riêng
1.4.Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển trong hoạt động vận tải hành khách bằng đường hàng không tại Việt Nam
1.4.1 Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Nhóm những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp là những nhân tố khách quan không nằm trong nội tại doanh nghiệp Có những nhân tố doanh nghiệp có thể kiểm soát được nhưng ngược lại có những nhân tố hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp Hoạt động vận tải hành khách bằng đường hàng không chịu ảnh hưởng của những nhân tố sau:
1.4.1.1 Môi trường pháp lý, kinh tế và chính trị
Môi trường pháp lý, kinh tế và chính trị của một quốc gia ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển của các doanh nghiệp, cụ thể là ảnh hưởng đến đường lối chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đó Nếu một quốc gia có môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập thì khó có thể hoà nhập, tham gia vào các tổ chức kinh tế, văn hoá xã hội Khi được trở thành một thành viên của bất kỳ tổ chức nào thì mỗi quốc gia phải đáp ứng được những yêu cầu của tổ chức đó đề ra Tiêu biểu
là việc Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì một trong những yêu cầu đặt ra là Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Như thế nếu hệ thống pháp luật Việt Nam chưa được thế giới công nhận thì sẽ hạn chế trong việc giao lưu buôn bán giữa Việt Nam và các nước khác Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp tới ngành hàng không Việt Nam, cụ thể là lĩnh vực vận tải hàng hoá và vận tải hành khách
Môi trường chính trị cũng ảnh hưởng nhiều tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Được xem là quốc gia có nền chính trị ổn định so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới nên Việt Nam là điểm dừng chân an toàn
và tin cậy của các nhà đầu tư trên thế giới Đây cũng là cơ hội tốt để phát triển
Trang 15ngành vận tải hàng không về vận chuyển hành khách và hàng hoá quốc tế đặc biệt trong bối cảnh ngành hàng không dân dụng Việt Nam đang rất cần vốn để đầu tư
cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động vận tải hàng không Ngày nay, các nhà đầu tư cũng như các khách du lịch bốn phương thường có xu hướng tìm đến những quốc gia có tình trạng chính trị ổn định cũng như họ thích được khám phá những vùng đất mới nổi - Việt Nam là một trong những vùng đất ấy Như thế, thu hút đầu tư càng nhiều thì năng lực sản xuất càng mạnh, đối tác làm ăn càng nhiều, do đó thúc đầy việc xuất khẩu hàng hóa kéo theo sự phát triển trong vận tải hàng hoá của ngành hàng không Kinh tế phát triển, ngành du lịch nở rộ kéo theo sự phát triển trong vận tải hành khách bằng đường hàng không
1.4.1.2 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Đối với một ngành còn non trẻ và có xuất phát điểm thấp như ngành hàng không thì sự hỗ trợ của nhà nước giữ vai trò quan trọng, là chất xúc tác giúp cho ngành hàng không dân dụng Việt Nam phát triển kịp với các hàng hàng không trên thế giới
Chính sách hỗ trợ của nhà nước có thể được thể hiện bằng việc thực hiện chính sách cắt giảm thuế hoặc áp dụng mức thuế ưu đãi cho doanh nghiệp; hỗ trợ
về vốn cho doanh nghiệp trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ cho việc sản xuất kinh doanh; thực hiện đa phương hoá đa dạng hóa, mở rộng quan hệ với các quốc gia trên thế giới tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển thị trường tiêu thụ; tạo môi trường pháp lý thông thoáng và thuận lợi, môi trường chính trị ổn đinh, an toàn để thu hút đối tác đầu tư, mở rộng sản xuất; có chính sách đúng đắn và hợp lý trong việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho doanh nghiệp
1.4.1.3.Đối thủ cạnh tranh
Người ta vẫn nói rằng không có cạnh tranh thì con người không thể phát triển được Đúng như vậy, chúng ta sẽ không biết được mình đang ở đâu trên con đường mình đang đi, mình đã làm được những gì và mình làm như thế đã là tối ưu
Trang 16chưa hay còn người khác có thể làm tốt hơn như thế? Chúng ta sẽ không thể biết được điều đó nếu như không có ai để cạnh tranh Vấn đề cốt lõi là mình phải xác định được đối thủ của mình là ai và tìm được phương pháp cạnh tranh đúng đắn, có như thế mới ngày một phát triển được Điều này đặc biệt quan trọng trong kinh doanh Cạnh tranh được xem như là vấn đề tất yếu trong kinh doanh.
Không nằm ngoài quy luật đó, trên thị trường khai thác vận tải hàng
không hiện nay, đặc biệt là vận tải hành khách bằng đường hàng không đang tồn tại những sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt Điều đó đòi hỏi các hãng hàng không phải nắm bắt rõ đối thủ của mình và kịp thời đưa ra những chiến lược kinh doanh kịp thời và phù hợp
1.4.2.Những nhân tố bên trong doanh nghiệp
Nhóm những nhân tố bên trong doanh nghiệp là những nhân tố thuộc về nội bộ doanh nghiệp đó và doanh nghiệp có thể kiểm soát được Điều này cho thấy các doanh nghiệp muốn nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần củng cố, nâng cao nội lực những nhân tố tạo nên thế mạnh của doanh nghiệp, đồng thời hạn chế hay khắc phục những nhân tố làm yếu đi sự phát triển của doanh nghiệp đó
1.4.2.1.Năng lực tài chính
Khả năng tài chính của doanh nghiệp thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó trên thị trường Năng lực tài chính ở đây được hiểu là quy mô nguồn tài chính của DN Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt thì sẽ dễ dàng hơn trong việc vay thêm vốn cũng như thu hút thêm sự đầu tư; nhờ đó DN có thể đầu tư thêm máy móc, thiết bị sản xuất và công nghệ cao góp phần mở rộng kinh doanh sản xuất hơn nữa
Với đặc thù ngành nghề kinh doanh đòi hỏi nhiều vốn như vận tải hàng không thì năng lực tài chính lại càng thể hiện rõ hơn tầm quan trọng Cho tới nay, có thể nói VNA đang giữ thế độc quyền trong việc khai thác mảng thị trường hàng không tại Việt Nam và được sự hỗ trợ của nhà nước về vốn, nhưng trong thời gian tới đây điều này sẽ dần dần bị xóa bỏ khi Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức
Trang 17thương mại thế giới WTO Do đó, VNA sẽ sớm phải tự lực về tài chính cho nhu cầu hoạt động và phát triển của mình Điều này đã đặt ra không ít khó khăn thách thức cho VNA trong thời gian tới.
1.4.2.2.Cơ sở hạ tầng
Hầu như không một doanh nghiệp kinh doanh sản xuất nào lại không cần đến yếu tố cơ sở hạ tầng; có doanh nghiệp thì cơ sở hạ tầng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng tài sản của doanh nghiệp nhưng ngược lại có những doanh nghiệp thì phần lớn tài sản lại là cơ sở hạ tầng, ví dụ như ngành hàng không dân dụng Vận tải hàng không đòi hỏi một lượng vốn lớn đầu tư cho cơ sở hạ tầng như mạng lưới sân bay, đội bay, trang thiết bị phục vụ sân bay,…
Là quốc gia đang phát triển nên tiềm lực kinh tế của Việt Nam còn kém xa so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Việt Nam mới thực hiện việc chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường trong thời gian chưa lâu nên không tránh khỏi những khó khăn Hiện nay, Đảng và Nhà nước vẫn ưu tiên phát triển nông nghiệp lên hàng đầu nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhưng Đảng và Nhà nước cũng chủ trương phát triển ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành hàng không vì các nhà lãnh đạo nhận thấy vai trò mũi nhọn của ngành này trong nền kinh tế quốc dân Nhưng khó khăn đặt ra là nhu cầu vốn cho ngành hàng không lớn mà khả năng tài chính eo hẹp nên việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều hạn chế
Cơ sở hạ tầng của vận tải hàng không bao gồm những nhân tố sau:
Trang 18+ Sân bay:
Càng ngày lượng sân bay được xây dựng để đáp ứng nhu cầu mở rộng mạng đường bay và nhu cầu đi lại của người dân càng tăng cao Tính đến cuối năm 2004, trên thế giới có 80 sân bay của 45 hãng khác nhau được xếp hạng lớn nhất với lợi nhuận ròng là 3.123,6 triệu USD doanh thu chiếm 10% doanh thu
Tuy các hãng hàng không của Mỹ và Châu Âu vẫn luôn đi đầu trong việc tăng trưởng nhưng các hãng hàng không Châu Á lại đạt tốc độ cao trong việc tăng lượng khách và hàng hoá Các quốc gia Châu Á đang chi hàng tỷ đô la cho việc xây dựng và nâng cấp các sân bay trong khu vực để đáp ứng sự gia tăng về lượng hành khách và hàng hoá
1.4.2.4.Chiến lược kinh doanh
Bất cứ doanh nghiệp nào muốn phát triển bền vững thì đều phải đề ra chiến lược kinh doanh cho riêng mình, bao gồm chiến lược kinh doanh dài hạn và chiến lược kinh doanh ngắn hạn
Thị truờng vận tải hàng không là thị trường có tiềm năng khai thác lớn nhưng tính cạnh tranh ngày một trở nên gay gắt hơn Đối với VNA, những năm qua gần như đây là thị trường của riêng mình nhưng thế mạnh này đang dần có xu hướng bị xoá bỏ, nhiều hãng hàng không quốc tế và một số hãng hàng không nội địa đang có những chiến lược cạnh tranh gay gắt trong việc khai thác mảng thị trường không trung này Trong hoàn cảnh đó, hãng hàng không nào trang bị cho
Trang 19mình một mạng lưới phân phối rộng khắp, mạng dịch vụ hoàn chỉnh, chất lượng và đạt tiêu chuẩn cao thì sẽ hứa hẹn nhiều thành công trong cuộc chiến này Tuy nhiên, muốn tồn tài và phát triển, cũng như đủ sức cạnh tranh thì bất kỳ một doanh nghiệp nào, đặc biệt là VNA cần phải hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanh lâu dài, có căn cứ khoa học và có tính thực tiễn.
1.4.2.5.Năng lực quản lý
Nếu một doanh nghiệp được đầu tư với mộ nguồn vốn lớn, được trang bị một công nghệ kỹ thuật cao, đội ngũ công nhân lành nghề, nói chung tất cả đều hoàn hảo để có thể bắt tay vào việc kinh doanh sản xuất Nhưng chỉ sau một thời gian hoạt động doanh nghiệp đó đã lâm vào tình trạng khủng hoảng và có nguy cơ phá sản Lý do đưa ra để giải thích cho tình trạng trên là năng lực quản lý của những người đứng đầu quá kém; họ không hoạch định được những chiến lược kinh doanh cụ thể và phù hợp cho doanh nghiệp mình, họ không xác định được đối thủ của mình cũng như những chiêu bài kinh doanh của đối thể để đưa ra những phương án có thể cạnh tranh hiệu quả; họ không nắm bắt kịp thời sự thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng để đáp ứng một cách hiệu quả nhất Như vậy ta có thể thấy rõ năng lực quản lý đóng vai trò rất quan trọng trong sự thành công của một doanh nghiệp
Đối những ngành nghề kinh doanh phức tạp và đòi hỏi trình độ công nghệ cao như vận tải hàng không thì năng lực quản lý là nhân tố quan trọng để phát triển hoạt động vận tải hàng không nói chung và vận tải hành khách nói riêng và cũng được thể hiện khá rõ qua những hoạt động và kết quả đạt được trong kinh doanh vận tải hàng không
1.4.2.6.Trình độ nguồn nhân lực
Nhân lực là nguồn lực không thể thiếu trong bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào từ trình độ kỹ thuật thấp tới trình độ kỹ thuật cao Thông thường chúng ta có thể thấy rõ trong mỗi doanh nghiệp nguồn nhân lực thường được phân
ra hai cấp là cấp quản lý và đội ngũ công nhân viên
Trang 20Giống như vị thuyền trưởng chèo lái con tàu vượt đại dương bao la cập bến được
an toàn cần phải có một bề dày kinh nghiệm, am hiểu về tàu và biển, một sự quyết đoán; nhà quản lý doanh nghiệp phải có trình độ quản lý cao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh, có khả năng phân tích và có mối quan hệ đối ngoại tốt thì mới có thể đưa doanh nghiệp mình phát triển và đứng vững trên thương trường khốc liệt
Đội ngũ quản lý là những người đưa ra các ý tưởng chíên lược kinh doanh, các phương pháp hoạt động nhưng người trực tiếp áp dụng những ý tưởng, chiến lược vào thực tiễn một cách hiệu quả là đội ngũ công nhân viên Vì thế, một
ý tưởng, một chiến lược kinh doanh có hoàn hảo đến đâu đi nữa nhưng những người thực hiện nó không đủ trình độ tay nghề, kỹ năng làm việc, ý thức trách nhiệm, sự sáng tạo trong công việc thì những ý tưởng, chiến lược kinh doanh ấy cũng trở nên vô giá trị
Đặc biệt trong mảng kinh doanh vận tải hàng không với công nghệ kỹ thuật cao cũng như đòi hỏi những yêu cầu khắt khe khác thì năng lực quản lý cũng như trình độ nguồn nhân lực lại càng đòi hỏi ở mức cao hơn, theo tiêu chuẩn quốc
tế thì mới có khả năng đủ sức cạnh tranh
1.4.2.7.Sản phẩm:
Sản phẩm là kết quả đạt được sau những quá trình sản xuất, kinh doanh gian khổ, đồng thời nó thể hiện năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó cũng như sự thành công của doanh nghiệp thông qua sự tiếp nhận của khách hàng đối với sản phẩm Như vậy sản phẩm có tính quyết định đến thành bại của doanh nghiệp Việc đánh giá sản phẩm của doanh nghiệp thể hiện qua những mặt sau:
+ Chất lượng sản phẩm:
Có thể nói chất lượng sản phẩm là công cụ đầu tiên và quan trọng để thắng đối thủ cạnh tranh Đặc biệt là trong thời buổi hiện nay khi mà hàng hoá tràn ngập khắp mọi nơi, có xuất xứ từ mọi nơi trên thế giới; cùng một công dụng nhưng mỗi nhà sản xuất, mỗi quốc gia chế tạo ra những kiểu dáng, màu sắc khác nhau gây khó khăn cho khách hàng trong việc lựa chọn mặt hàng phù hợp Lúc đó khách hàng sẽ
Trang 21có xu hướng tìm đến những mặt hàng có chất lượng tốt, đảm bảo cho mục đích sử dụng cũng như sức khoẻ của bản thân họ Vấn đề chất lượng sản phẩm lại đặc biệt quan trọng trong ngành kinh doanh sản phẩm dịch vụ như vận tải hàng không, nó thể hiện ở việc người tiêu dùng cảm thấy thật sự thoải mái khi họ được phục vụ ân cần, chu đáo và xứng đáng với chi phí họ bỏ ra.
+ Chi phí và giá thành sản phẩm:
Lại xét đến khía cạnh nếu như cùng một loại sản phẩm do hai doanh nghiệp khác nhau sản xuất, cung cấp với chất lượng được xem là ngang nhau thì khách hàng sẽ có xu hướng lựa chọn tiêu dùng sản phẩm có giá rẻ hơn Vì vậy, giá cả của sản phẩm cũng ảnh hưởng không nhỏ trong tiến trình phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên việc xây dựng chính sách giá cả của doanh nghiệp lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cung cầu của thị trường, thị hiếu của khách hàng,… và quan trọng
là giá thành cấu thành nên sản phẩm đó Giá thành sản phẩm thể hiện liệu doanh nghiệp đó đã sử dụng, phân bổ chi phí hợp lý cho quá trình sản xuất, cung cấp sản phẩm chưa, liệu doanh nghiệp đã lựa chọn được nhà cung cấp với nguyên vật liệu tốt mà giá thành hợp lý chưa và liệu công tác phân phân phối sản phẩm đã tối ưư nhất, tốn ít chi phí nhất chưa? Để thực hiện được điều này đòi hỏi năng lực quản lý cao của những nhà lãnh đạo
Như chúng ta biết chi phí phục vụ cho vận tải hàng không rất cao do đặc thù của ngành là sử dụng máy móc công nghệ cao cũng như chi phí đạo tạo phi công và đội ngũ nhân viên cao Vì vậy, các nhà hoạch định chiến lược của vận tải hàng không cần phải tính toán hợp lý giá vé để có thể kinh doanh hiệu quả, đạt được lợi nhuận và đồng thời có thể cạnh tranh về giá được với các hãng hàng không khác
+ Chủng loại sản phẩm:
Hiện nay đời sống người dân ngày một nâng cao, người ta không còn ăn no mặc ấm nữa mà giờ đây họ đã có xu hướng ăn ngon mặc đẹp và có yêu cầu cao hơn đối với sản phẩm, dịch vụ Khách hàng không chỉ dừng lại ở những sản phẩm đơn điệu nữa mà phải có sự đa dạng hoá chủng loại sản phẩm, sản phẩm càng độc đáo
Trang 22càng thu hút người mua hơn Mỗi một sản phẩm khi được tung ra thị trường đều có một vòng đời nhất định và vòng đời đó bị rút ngắn khi có sự cạnh tranh xẩy ra giữa các doanh nghiệp với nhau Chính vì thế, doanh nghiệp cần áp dụng các biện pháp
để kéo dài vòng đời sản phẩm như thường xuyên cải tiển mọi mặt của sản phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng, liên tiếp tung ra những sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ
Cạnh tranh trong thị trường vận tải hàng không ngày càng khốc liệt và các hãng hàng không liên tiếp đưa ra những chiến lược kinh doanh với việc đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ vận tải hàng không và đổi mới những sản phẩm dịch vụ hàng không hiện có đã đặt ngành vận tải hàng không trước những thách thức lớn, đòi hỏi các nhà lãnh đạo cần có những bước đi đúng đắn trong việc đưa ra những sản phẩm, dịch vụ mới có những giải pháp phù hợp cho những sản phẩm, dịch vụ
cũ để có thể cạnh tranh ngang sức ngang tài với các hãng hàng không khác
Chương II Thực trạng hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines 2.1.Khái quát về hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines
2.1.1.Lịch sử ra đời và phát triển của Vietnam Airlines
Khởi đầu từ năm 1956 với đội ngũ máy bay chỉ gồm 5 chiếc, Vietnam Airlines đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trước khi trở thành như ngày nay Với tên gọi là Hàng không dân dụng Việt Nam, Vietnam Airlines bắt đầu bay với
tư cách một hãng hàng không độc lập ngay sau khi tiếp quản sân bay Gia Lâm Qua hơn 48 năm, Vietnam Airlines đã trải qua nhiều thay đổi và không ngừng phát triển, mở rộng và cải thiện dịch vụ để trở thành một hãng hàng không đạt tiêu chuẩn quốc tế
Năm 1976, Vietnam Airlines đổi tên thành Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam Cũng trong năm đó VNA bắt đầu đi vào hoạt động thường xuyên, chuyên chở 21.000 hành khách trong đó 7.000 hành khách trên chuyến bay quốc tế
và 3.000 tấn hàng hoá
Năm 1993, Vietnam Airlines đổi tên thành Hãng Hàng không Quốc gia Việt
Trang 23Nam Năm 1995, Tổng công ty hàng không Việt Nam được thành lập với tư cách là một tập đoàn kinh doanh vận tải hàng không có quy mô lớn của nhà nước Tổng công ty có chức năng nhiệm vụ kinh doanh, dịch vụ, phục vụ về vận tải hàng không đối với hành khách, hàng hóa ở trong nước và nước ngoài, trong đó có xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, xây dựng, tạo nguồn vốn, thuê và mua sắm tầu bay, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị, xuất nhập khẩu vật tư thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Tổng công ty; liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài Từ đó đến nay, VNA đã đạt được
sự tăng trưởng vững chắc trong kinh doanh vận chuyển hành khách và các loại hình dịch vụ khác
Tiếp tục vươn tới tương lai, Vietnam Airlines đã xây dựng những định hướng lớn cho sự phát triển của mình Đó là xây dựng Tổng công ty Hàng không Việt Nam trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh, phát huy vai trò của một đơn vị kinh tế kỹ thuật hiện đại, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng Trên cơ sở lấy kinh doanh vận tải hàng không làm cơ bản đồng thời đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, nhanh chóng hiện đại hóa, làm chủ công nghệ mới, nâng cao vị thế, xây dựng Vietnam Airlines trở thành một hãng hàng không có tầm cỡ, có bản sắc, là một trong những hãng hàng đầu của khu vực về chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh
Trong 3 năm trở lại đây, Vietnam Airlines không ngừng phát triển mạng bay
và tiếp tục mở thêm nhiều đường bay mới quốc tế và nội địa Hiện nay, VNA khai thác và hợp tác đến 18 thành phố trong nước và 38 thành phố trên thế giới ở châu
Âu, châu Á, châu Úc và Bắc Mỹ
Năm 2006, Vietnam Airlines đã vận chuyển được gần 6,8 triệu hành khách trong đó có gần 3,1 triệu khách trên các chuyến bay quốc tế, và 3,7 triệu khách trên các chuyến bay nội địa Ngoài ra, Vietnam Airlines cũng chuyên chở được khoảng
106 nghìn tấn hàng hoá
Trang 24Để làm cho sản phẩm của Vietnam Airlines đa dạng, phong phú và tiện lợi hơn đối với hành khách, VNA đã liên danh liên kết với nhiều đối tác trên thế giới thông qua các hợp tác liên doanh; liên danh trao đổi chỗ và các hợp đồng trao đổi; chia chặng đặc biệt
2.1.2.Các loại hình sản phẩm và dịch vụ vận tải hành khách của Vietnam Airlines
Hiện nay, phạm vi kinh doanh của Tổng công ty Hàng không Việt Nam bao gồm những lĩnh vực sau: Kinh doanh, dịch vụ và phục vụ vận tải hàng không đồng
bộ đối với hành khách, hàng hóa ở trong nước và nước ngoài Bên cạnh đó, Tổng công ty Hàng không Việt Nam còn kinh doanh một số ngành nghề khác như: Xăng dầu, các dịch vụ thương mại tại các cảng hàng không, dịch vụ ủy thác xuất – nhập khẩu, các dịch vụ thương mại tổng hợp, vận tải mặt đất, nhựa cao cấp, in, khảo sát thiết kế, xây dựng công trình, cung ứng lao động chuyên ngành
Sản phẩm vận tải hành khách của VNA bao gồm vận tải hành khách nội địa
và vận tải hành khách quốc tế Điểm đến của VNA như sau:
Nội địa: Buôn Ma Thuột, Đà Nẵng, Điện Biên, Đà Lạt, Hà Nội, Hải Phòng, Huế,
Nha Trang, Phú Quốc, Vinh, Côn Đảo, Chu Lai, Quy Nhơn, Tuy Hoà, TP Hồ Chí Minh, Plâycu, Cà Mau
Đông Dương: Phnôm Pênh – Campuchia, Siêm Riệp- Campuchia, Viên
Chăn – Lào, Luông Phờ Ra Băng - Lào
Úc: Menbơn – Xitni
Châu Âu: Pari – Pháp, Phờ Răng Phuốc - Đức, Matxcơva – Nga,
Đông Bắc Á: Hồng Kông - Hồng Kông, Đài Bắc – Đài Loan, Cao Hùng –
Đài Loan, Fu ku o ka - Nhật Bản, Ô-sa-ka - Nhật Bản, Na-gôi-a - Nhật Bản, Quảng Châu – Trung Quốc, Côn Minh – Trung Quốc, Bắc Kinh – Trung Quốc, Xê-un – Hàn Quốc, Pu-san – Hàn Quốc, Tô-ky-o - Nhật Bản
Trang 25Đông Nam Á: Băng Kốc – Thái Lan, Kua-la-lăm-pơ – Malayxia, Ja-cac-ta –
Indonexia, Singapore – Singapore, Manila – Philipin
Bắc Mỹ: Atlanta - Mỹ, Denver - Mỹ, Washington - Mỹ, Newyork - Mỹ,
Miami - Mỹ, Chi-ca-go - Mỹ, Boston - Mỹ, Dallas Fort Worth - Mỹ, Houston - Mỹ, Losangeles - Mỹ, Oklohama - Mỹ, San Francisco - Mỹ
Lịch bay của VNA hiện nay khá hợp lý và không có vấn đề gì quá nổi cộm Bất cập lớn nhất và cũng là nguy hại lớn nhất đối với sản phẩm lịch bay của VNA
là việc không ổn định trong khai thác, chậm huỷ chuyến bay xẩy ra thường xuyên gây ảnh hưởng đến tâm lý của khách hang và uy tín của VNA trên mọi thị trường VNA nên bố trí hợp lý lịch bay đi Châu Âu và xen kẽ ngày bay giữa các đường bay
đi CDG và FRA Nếu có thể thì tăng thêm chuyến đi FRA vì đây là điểm hút đi toàn châu Âu
2.2.Thực trạng hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines
2.2.1.Tình hình hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines trong những năm gần đây
Trong hơn mười năm qua, thị trường vận tải hàng không có rất nhiều biến động phức tạp do phải chịu ảnh hưởng nặng nề của hàng loạt biến cố trên toàn thế giới, như khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á (1997-1998), khủng bố 11/09/2001 tại Mỹ, hai lần chiến tranh vùng vịnh (năm 1991 và năm 2003), đại dịch SARS và gần đây nhất là dịch cúm gia cầm và chiến tranh ở Irắc Trong bối cảnh đó, do kiên trì thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra, VNA đã vững vàng vượt qua khó khăn, tận dụng mọi cơ hội và phát huy nội lực, từng bước xây dựng VNA từ một hãng hàng không nhỏ bé thành hãng hàng không trẻ, năng động, có bản sắc và uy tín trong khu vực Trong 10 năm liền VNA vẫn duy trì được mức tăng trưởng bình quân là 12,5% cao gấp rưỡi mức tăng GDP của Việt Nam (từ 7-9%) Vận chuyển hành khách tăng từ 1,1 triệu lượt hành khách năm 1993 lên 4 triệu hành khách năm 2003; tổng doanh thu giai đoạn 1993-2003 là 75.442 tỷ
Trang 26đồng, tăng bình quân 23%/năm; thị phần vận chuyển quốc tế tăng 37% lên 42-44%; đội máy bay không ngừng được tăng cường và hiện nay thuộc hàng trẻ và hiện đại nhất thế giới.
2.2.1.1.Tình hình hoạt động vận tải hành khách quốc tế
Đối tượng vận chuyển chính của vận tải hành khách quốc tế của VNA là thương nhân, khách du lịch, thăm thân nhân, Việt Kiều, các nhà đầu tư, khách dự hội thảo, hội nghị, tham gia thi đấu thể thao tại Việt Nam Khách du lịch thường đi theo mùa và đi theo nhóm lớn và chủ yếu là từ các quốc gia trong khu vực như Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Singapore và các quốc gia khác như Mỹ, Canada, Pháp,…Khách quốc tế đến Việt Nam thường đi đến những trung tâm kinh tế-văn hoá- chính trị hoặc các địa danh du lịch của cả nước như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang nên các tuyến bay đến những địa điểm này thường rất đông khách quốc tế
Tỷ lệ đối tượng hành khách của VNA như sau:
- Khách thương mại: 60%
- Khách du lịch: 20%
- Khách thăm thân nhân, Việt Kiều: 10%
- Khách đi máy bay với mục đích khác: 10%
Cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực(1997-1998) hồi phục đã tạo điều kiện cho vận tải hàng không khu vực nói chung và vận tải hàng không của Việt Nam nói riêng tăng trưởng nhanh chóng trong năm 1999 Tổng số hành khách quốc tế đi và đến Việt Nam đạt gần 2.6 triệu hành khách tăng 12% so với năm 1998 Khách du lịch từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam đến Campuchia và Lào tăng nhanh chóng, ngược lại khách thương gia từ các nước này đến Việt Nam cũng theo chiều hướng tăng
Tổng số khách giữa Nhật Bản và Việt Nam tăng 11%, Đài Loan và Việt Nam tăng 20%, Hàn Quốc - Việt Nam tăng 30%, Việt Nam – Trung Quốc tăng 73%, Mỹ
- Việt Nam tăng 20%
Trang 27Do tình hình chính trị ,an ninh ổn định nên lượng khách vận chuyển trên đường bay Đông Dương tăng nhanh, tốc độ tăng đạt 19%, đạt 130.746 lượt khách Khách
bổ trợ chủ yếu từ các nước Đông Bắc Á, tăng 28% đến 30% trong khi khách đi và đến Việt Nam từ các nước Đông Dương chỉ tăng 2% Lượng khách giữa Việt Nam
và các nước Tây Âu tiếp tục tăng trưởng khoảng 6% trong khi lượng khách giữa Việt Nam và Đông Âu giảm mạnh, đặc biệt lượng khách giữa Việt Nam – Nga giảm 30%
Vietnam Airlines tăng trưởng tốt với số lượng hành khách tăng 37% mỗi năm cho đến 1997 khi cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á và những yếu tố tiêu cực khác làm giảm hiệu quả kinh doanh của hãng Tuy vậy, hãng vẫn có lợi nhuận trong suốt cuộc khủng hoảng Trong hai năm 1996 và 1997, hãng thông báo lợi nhuận hơn
100 triệu USD mỗi năm Năm 1998, lợi nhuận giảm xuống chỉ còn khoảng 7 triệu USD Lợi nhuận tăng lên 59 triệu USD vào năm 1999
Giai đoạn 2000-2004 lượng khách chuyên chở của VNA tăng lên đáng kể: Sau
vụ tấn công 11 tháng 9 vào Hoa Kỳ, trong lúc nhiều hãng hàng không phải vật lộn, thu nhập từ vận tải hành khách của Vietnam Airlines lại tăng đột ngột Hãng đã vận chuyển hơn 4 triệu hành khách trong năm 2002, tăng 18% so với năm trước Vận chuyển hàng hóa tăng 20% trong cùng thời kì đó Và kết quả là năm 2002, lợi nhuận của hãng tăng lên 35,77 triệu USD Bất chấp sự bùng phát của dịch SARS, hãng thông báo lợi nhuận 26,2 triệu USD trong năm 2003 Mặc dù gặp nhiều khó khăn như dịch cúm gia cầm, giá xăng dầu trên thị trường thế giới tăng cao 9 tháng đầu năm 2004, VA đã thực hiên trên 37.980 chuyến bay an toàn, vận chuyển 3.693.670 hành khách với tổng doanh thu đạt 12.137,5 tỷ đồng, hoàn thành 81,3%
kế hoạch năm, tăng gần 4.000 tỷ so với cùng kỳ năm 2003
Đến đầu năm 2003, do ảnh hưởng của chiến tranh Irắc và Trung Đông, nạn dich SARS nên kết quả hoạt động của ngành hàng không trên thế giới, đặc biệt là các hãng hàng không trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương không cao IATA cho
Trang 28biết, đại dịch SARS đã làm giảm 30% lượng khách chuyên chở của các hãng hàng không Châu Âu và Châu Á Tuy vậy, vào cuối năm 2003 – giai đoạn hậu SARS- nhiều hãng hàng không trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã có dấu hiệu phục hồi và phát triển trở lại.
Hãng hàng không Singapore có hệ số sử dụng ghế đạt 79,3% trong tháng 1/2004 tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức lợi nhuận tăng hơn 2 lần trong hai tháng cuối năm 2003 so với cùng kỳ năm trước
Hãng hàng không Australia vào tháng 1/2004 vận chuyển hành khách của hãng tăng 3,8% đạt 606.000 lượt hành khách, hệ số sử dụng ghế tăng 5,9% so với cùng
Trang 29Trong 6 tháng đầu năm 2007, thị trường vận tải hàng không tiếp tục tăng trưởng cao (tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2006) Tuy nhiên, môi trường kinh doanh vận tải còn nhiều nhiều khó khăn như: Giá thuê máy bay và giá xăng dầu, nhiên liệu bay tăng cao; dịch cúm gia cầm bùng phát trở lại tại nhiều tỉnh và thành phố của Việt Nam, tình trạng quá tải khách sạn và giá thuê phòng tăng cao tại các thành phố lớn trong mùa du lịch và lễ hội đã làm suy giảm đáng kể lượng khách quốc tế vào Việt Nam trong quí II /2007 Bên cạnh đó sự cạnh tranh giữa các hãng hàng không trở nên găy gắt hơn bao giờ hết v.v Với sự điều hành linh hoạt của Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc TCT cùng sự nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên, hoạt động sản xuất kinh doanh của TCT trong 6 tháng đầu năm 2007 tiếp tục phát triển ổn định và đạt được những kết quả khả quan trên nhiều lĩnh vực hoạt động, duy trì được sự tăng trưởng trên thị trường vận tải hàng không nội địa và quốc tế.Trong 6 tháng đầu năm, Vietnam Airlines thực hiện 31.140 chuyến bay an toàn; vận chuyển 3.831.376 lượt hành khách, đạt 49,8% kế hoạch năm và tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó khách nội địa là 2.225.457 người, tăng 23,9% so với cùng kỳ 2006, khách quốc tế 1.605.919 người, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2006.
Hệ số sử dụng ghế bình quân 6 tháng đầu năm đạt 74,3%, tăng 1, 5 điểm so với cùng kỳ 2006; trong đó: hệ số sử dụng ghế nội địa là 84,9%, hệ số sử dụng ghế quốc tế là 71%.Bình quân mỗi ngày vận chuyển 20.452 lượt khách /ngày
Trong 6 tháng đầu năm, hệ số các chuyến bay đúng giờ đạt 85,5% Công tác dịch vụ tiếp tục được cải thiện, một số chính sách về dịch vụ và công tác phục vụ tại các sân bay được điều chỉnh đã kịp thời giải quyết những phát sinh trong dây chuyền phục vụ hành khách Những trường hợp chậm và huỷ chuyến được giải quyết theo đúng qui định
2.2.1.2.Tình hình hoạt động vận tải hành khách nội địa
Trang 30Thị trường nội địa đóng vai trò rất quan trọng đối với vận tải hành khách của VNA nói riêng và của toàn bộ hoạt động của VNA nói chung Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao, sử dụng máy bay làm phương tiện đi lại không còn là vấn đề quá xa xỉ đối với một số bộ phận người dân Việt Nam nên mức tăng trưởng của thị trường hàng không nội địa tăng đều đặn hàng năm Trong 6 tháng đầu năm 2006 thị trường nội địa đóng góp 18,5 vạn khách, chiếm 54,7% lượng hành khách có thu nhập của VNA Tuy nhiên, trong những năm gần đây khách hàng không còn duy nhất một sự lựa chọn là VNA nữa
mà đã có thêm đối thủ cạnh tranh đáng gờm là Pacific Airlines trên các trục đường bay nội địa HAN-SNG, HAN/SNG/DAD Vì thế để cạnh tranh với một hãng hàng không áp dụng mức giá rẻ hơn của mình, VNA cũng đã hạ mức giá vé, đặc biệt là trong những chuyến bay buổi tối, mức giá chỉ bằng 2/3 mức giá ban đầu đưa ra
Hành khách Việt Nam trên các tuyến bay nội địa được mô tả như sau:
Trên các chuyến bay giá bình thường trên trục bay nội địa, phần lớn khách đi lại với mục đích kinh doanh công vụ hoặc hội nghị hội thảo (là nhóm Business) Họ lựa chọn đi máy bay vì tiết kiệm được thời gian và có người đi mua vé hộ 2/3 số hành khách đi lại trên chuyến bay giá bình thường thường có tần suất đi lại khá lớn trên hành trình trục nội địa, lên tới 5 chuyến một năm và hầu như họ chỉ lựa chọn máy bay làm phương tiện đi lại trên hành trình này
Các chuyến bay giá rẻ của VNA lại được ưu tiên sử dụng bới nhóm khách leisure và Education Những người này thường giành thời gian cho chuyến đi khá lâu, thường là trên 3 ngày Lý do họ lựa chọn phương tiện máy bay cũng là để tiết kiệm thời gian nhưng phần lớn họ phải tự đi mua vé cho mình Tần suất đi lại của những hành khách trên chuyến bay giá rẻ cũng khá cao (chỉ có 7% đi 1 chuyến/ năm) tuy vẫn ít hơn hành khách đi trên các chuyến bay giá vé bình thường
Bảng 2: Vận tải hành khách nội địa của VNA giai đoạn 1998- 2003
Trang 31nội địa
Nguồn: Bản tin – TCTHKVN/ số 81-10-2003
Bảng 3: Kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2001 – 2005
Lợi nhuận trước thuế 3.130 tỷ đồng (tăng 7,1%/năm)
Tỷ suất lợi nhuận 2001: đạt 17,3%, 2004: đạt 14,2%,
Tổng thị trường 5 tháng đầu năm
khách(tăng hơn 15%)
Tổng khách 5 tháng đầu năm
khách(tăng >15%, 105%kế hoạch)Khách nội địa 285.000 khách
(100%)
Khách quốc tếKhách nội địa
1,28 triệu khách (43,6% thị phần)
Trang 322.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động vận tải hành khách của Vietnam Airlines
2.2.2.1.Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
a)Môi trường pháp lý, kinh tế, chính trị
Đứng trước sự thay đổi về nhiều mặt của đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh vận tải hàng không nói chung và kinh doanh vận tải hành khách nói riêng VNA cần có những thay đổi phù hợp cũng như những bước đi đứng đắn thì mới có khả năng phát triển bền vững
Hiện nay Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thông qua những cải cách về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính, xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế Việc trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ đưa
VN thành một quốc gia mở cửa về thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư
Để phù hợp với yêu cầu cạnh tranh WTO đặt ra là phải hoạn thiện hệ thống pháp lý, mới đây Cục hàng không dân dụng đã hoàn thành dự thảo Nghị định kinh doanh vận
tải hàng không và hoạt động hàng không nói chung, hứa hẹn sẽ "mở hết cỡ" hành
lang pháp lý cho các hãng hàng không tư nhân được phép thành lập cũng như mở cửa cho các hãng hàng không trong khu vực và trên thế giới vào khai thác thị trường Việt Nam mạnh mẽ hơn.Tại dự thảo Luật, Nhà nước còn công bố chủ trương có những khuyến khích đặc biệt để các hãng đầu tư, khai thác đường bay ở những vùng kinh tế - xã hội khó khăn, tạo động lực thúc đẩy kinh tế các vùng này phát triển, nhất là lĩnh vực du lịch Và nhiều đại biểu còn nhấn mạnh phải có chế tài mạnh và
rõ rang hơn nữa đối với sự độc quyền của VNA hiện nay Như vậy, VNA đang đứng trước những thách thức và cạnh tranh lớn trong tương lai
Tại Việt Nam, cùng với chi phí nhiên liệu leo thang, mới đây Bộ Tài Chính lại điều chỉnh các loại thuế dịch vụ 5/6 loại thuế dịch vụ tăng giá đã gây bất lợi cho VNA Cũng theo quyết định điều chỉnh giá thuế dịch vụ này, các hãng hàng không nước ngoài được giảm 25% giá ở đường bay quốc tế để bằng mức áp dụng cho hãng
Trang 33hàng không Việt Nam bay quốc tế
Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có môi trường an toàn và ổn định nhất thế giới, vì thế trong những năm gần đây Viêt Nam đã trở thành điểm đến
lý tưởng của nhiều nhà đầu tư và du khách quốc tế Vì thế kéo theo sự phát triển trong vận tải hành khách của VNA Hàng năm lượng khách đến Viêt Nam qua đường hàng không đều tăng nhanh
b) Chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Như ta đã biết, xuất phát điểm của VNA rất thấp và phụ thuộc nhiều vào sự
hỗ trợ của Nhà nước về vốn Nhưng từ năm 1994 Chính phủ đã dừng việc hậu thuẫn về tài chính, và mọi hoạt động của VNA đều dựa vào nguồn vốn tự có Đây thực sự là một khó khăn lớn cho VNA, đặc biệt là sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ các hãng hàng không lớn và mạnh về tài chính trong khu vực và trên thế giới như Singapore Airlines, Thai Airways International, Air France,…Trong khi đó ngành dịch vụ vận tải hàng không đòi hỏi một nguồn vốn lớn để đầu tư cho đội bay, mạng lưới sân bay và hoạt động đào tạo phi công, đội ngũ công nhân viện phục vụ bay Như vậy hiện tại VNA phải có những biện pháp kịp thời và hợp lý để tạo được nguồn vốn phục vụ cho khả năng kinh doanh của mình
Nhưng mặt khác, nhà nước cũng có những chính sách khác để hỗ trợ hoạt động cho vận tải hàng không của nước nhà Thủ tướng chính phủ đã đề ra chỉ thị số
22/2005/CT-TTg Về xây dựng các giải pháp giảm chi phí đầu vào, tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vận tải hàng không và hàng hải.
Thời gian qua, mặc dù có nhiều sự kiện xảy ra trên thế giới như sự kiện ngày
11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, dịch SARS đầu năm 2003 tại nhiều nước trên thế giới
đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và ngành hàng không, hàng hải nói riêng, nhưng hoạt động của các doanh nghiệp vận tải trong hai ngành hàng không và hàng hải vẫn giữ nhịp độ tăng trưởng đều qua các năm Các con số thống kê cho thấy các doanh nghiệp trong hai ngành hàng không, hàng hải đã nỗ lực duy trì kinh doanh
ổn định và có lợi nhuận Giai đoạn 2001-2004, các doanh nghiệp vận chuyển hàng
Trang 34không Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,7%/năm về hành khách và 18,7% /năm về hàng hoá, bưu kiệnCó được kết quả đáng kể trên trước hết là do các
cơ quan quản lý Nhà nước đã kịp thời ban hành cơ chế, chính sách điều hành vĩ mô phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi và kích thích sự phát triển của các doanh nghiệp vận tải hàng không, hàng hải, đặc biệt là do sự cố gắng phát huy tính sáng tạo và đưa ra những giải pháp tích cực để thực hiện có hiệu quả kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành hàng không
Tuy nhiên, kết quả hoạt động của các doanh nghiệp vận tải hàng không chưa vững chắc, còn chịu nhiều tác động của các yếu tố bên ngoài Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế còn yếu, thị phần quốc tế chiếm lĩnh chưa cao, thị trường nội địa nhỏ nhưng cạnh tranh hết sức gay gắt Bên cạnh đó, sức thu hút của các cảng hàng không đối với hoạt động quốc tế còn bị hạn chế do mức phí và lệ phí hàng không còn tương đối cao so với các nước trong khu vực.Việt Nam đã, đang và sẽ chủ động hội nhập quốc tế để phát huy và tận dụng những
ưu thế sẵn có trong thương mại quốc tế như giá nhân công rẻ, vị trí địa lý thuận lợi, khí hậu đa dạng Các doanh nghiệp vận tải hàng không cần tăng cường sức cạnh tranh của mình hơn nữa trước những yêu cầu và thách thức của quá trình hội nhập quốc tế và khu vực, để góp phần chủ động, tích cực trong quá trình giao lưu thương mại quốc tế giữa Việt Nam với các nước Trước mắt, cần nhanh chóng tìm các giải pháp nhằm giảm chi phí đầu vào để góp phần tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp vận tải hàng không Trong chỉ thị này, thủ tướng chính phủ đã đề ra những nội dung cụ thể mà việc xây dựng các giải pháp và lộ trình giảm chi phí đầu vào, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hàng không phải bám sát vào như tăng năng suất vận tải, giảm chi phí để giảm giá thành đi đôi với nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm; phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư các trang thiết
bị, phương tiện hiện đại; nâng cao năng lực quản trị kinh doanh để có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp các nước trong khu vực và quốc tế; giữ vững thị trường vận tải nội địa Và để thực hiện thành công những nội dung trên, thủ
Trang 35tướng chính phủ đã đề ra những công việc cụ thể cho các bộ, các ngành như bộ Giao thông vận tải, bộ Kế hoạch và đầu tư, tổng công ty hàng không Việt Nam.
c) Đối thủ cạnh tranh
Hiện nay, vấn đề đối thủ cạnh tranh là vấn đề lớn của VNA Tại thị trường trong nước lẫn thị trường quốc tế vận tải hành khách bằng đường hàng không của VNA đang phải đối đầu với nhiều đối thủ trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là những hãng hàng không giá rẻ
Gần đây Việt Nam trở thành thị trường mới thu hút sự tham gia của các hãng hàng không quốc tế, trong đó có nhiều hãng hàng không lớn của Mỹ và Châu Âu Với sự tham gia của các hãng hàng không quốc tế vốn nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh lại mạnh về tiềm lực tài chính đã làm cho cuộc cạnh tranh tại khu vực tại khu vực này diễn ra quyết liệt Hầu hết các hãng hàng không nước ngoài đang thực hiện các chuyến bay đi/đến Việt Nam mới hoặc tăng tần suất bay Chưa hết, các hãng còn thực hiện các chương trình giảm giá vé Hành khách càng có nhiều cơ hội lựa chọn bay với bất kỳ hãng nào và vào bất cứ lúc nào Chưa bao giờ tại Việt Nam giá vé trên chặng khứ hồi tp Hồ Chí Minh - Hồng Kông lại thấp như hịên nay, giá chỉ trên dưới 150USD Ngoài 2 hãng hàng không đã từng tham gia vào đường bay này là VNA và Cathay Paciffic, hiện có thêm hai hãng HK nữa là Paciffic Airlines và United Airlines
VNA đang chịu sự cạnh tranh lớn cuả các hãng hàng không giá rẻ…… So với các hãng hàng không truyền thống thì các hàng hàng không giá rẻ có những ưu điểm vượt trội như cung cấp mức giá rất thấp nếu khách hàng mua vé sớm; đơn giản hoá thủ tục hành khách bằng việc không đặt giữ chỗ, không phân bổ số ghế; với đường bay ngắn nối thẳng giữa hai điểm nên có thể khai thác đội bay của mình với tuần suất cao; việc sử dụng sân bay phụ giúp các hãng này mất ít thời gian trong vấn đề hạ và cất cánh; đặc biệt là các hãng hàng không giá rẻ sử dụng vé điện
tử nên vừa thuận tiện cho khách hàng, giá vé lại rất rẻ Trong khi đó các hãng hàng không truyền thống như VNA lại có nhiều mức giá khá đắt, chỉ thu hút được đối
Trang 36tượng có thu nhập cao Các hãng hàng không giá rẻ đều áp dụng chính sách giá chỉ bằng một nửa hoặc hai phần ba giá vé của những hãng bay truyền thống có cùng đường bay Không phải chỉ đưa ra mức giá làm các Hãng hàng không truyền thống lao đao, thỉnh thoảng hàng không giá rẻ lại còn "ra chiêu" khuyến mãi cực kỳ ấn tượng Chẳng hạn như "tuyệt chiêu" của Air Asia (Malaysia) và Tiger Airways (Singapore) mới đây: chỉ với 1 USD, thậm chí 49 cent, hành khách ở Singapore có thể đáp chuyến bay đến Bangkok,Thái Lan Đây được xem là những chuyến bay có giá rẻ nhất thế giới từ trước đến nay Thưởng thức cuộc hành trình xuyên đại dương với giá 1USD, có lẽ cũng thú vị chẳng kém gì được thử cảm giác mạnh trên những tàu lượn siêu tốc ở những khu vui chơi giải trí Disneyland mà chỉ riêng tiền vé thôi đã mất vài chục đô la.
2.2.2.2.Những nhân tố bên trong doanh nghiệp
a) Năng lực tài chính
Vấn đề tài chính đang là vấn đề khá hóc búa của VNA khi mà sự đầu tư cho hoạt động vận tải hành khách đòi hỏi một lượng vốn lớn Hiện nay nhà nước đang dần xoá bỏ sự can thiệp của mình vào hoạt động hang không nên VNA đã, đang và
sẽ phải tự huy động nguồn vốn cần thiết để hoạt động Vừa qua ngân hang xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (Exim bank) đã đồng ý bảo lãnh tín dụng cho dự án mua 04 chiếc máy bay Boeing 787-8 của VNA với tổng số cam kết tới 410 triệu USD Đây
là cam kết sơ bộ đầu tiên của Exim bank cho thế hệ máy bay mới B 787 (Dream liner)
VNA và ngân hàng Calyon ( Ngân hàng Calyon được hợp nhất bởi hai ngân hàng Pháp là Cre’dit Agricole Indosuez và ngân hàng thương mại và đầu tư Cre’dit Lyonnais) đã cùng nhau ký hợp đồng tài trợ vốn cho dự án mua 10 chiếc máy bay A321 của VNA vào ngày 14/12/2006 Đây là bước tiếp theo trong quá trình thực hiện hợp đồng mua 10 máy bay A321 đã được VNA và Airbus Indusries ký kết vào cuối năm 2004, một trong hai dự án mua máy bay đã được Chính phủ Việt Nam phê duyệt đầu tư trong giai đoạn 2006 – 2010 Tổng mức đầu tư của dự án tính trên
Trang 37800 triệu USD tính theo giá công bố Đây là hợp đồng tài trợ vốn tín dụng thứ hai
do các tổ chức tín dụng xuất khẩu Châu Âu tài trợ cho VNA gồm Coface (Pháp), ACGD (Anh), HERMES (Đức) với các điều kiện bảo lãnh tốt nhất: thời hạn bảo lãnh 12 năm, số tiền bảo lãnh lên tới 85% và phí bảo lãnh ở mức thấp nhất
b) Cơ sở hạ tầng: Đội bay, mạng đường bay, sân bay
Đội bay của VNA được đánh giá là đội bay trẻ và hiện đại nhất thế giới hiện nay Khởi đầu từ năm 1956 với đội ngũ máy bay chỉ có 5 chiếc nhưng trong thời gian qua đội bay của VNA không ngừng được tăng trưởng Hiện tại VNA đang khai thác 45 tàu bay bao gồm:
ĐỘI BAY
Loại máy bay Số lượng Tổng số
ghế
Ghế hạng thương nhân
Ghế hạng phổ thông
Trang 38Tải trọng vận chuyển hàng hóa/chuyến bay: 2.5 tons
Tương đương với thể tích là: 15 m³
A300
Range (w/max passengers): 3,650 - 4,850km
Tải trọng vận chuyển hàng hóa/chuyến bay: 13 tons
Tương đương với thể tích là: 78 m³
A330
Range (w/max passengers): 10,500 km
Tải trọng vận chuyển hàng hóa/chuyến bay 15 tons
Tương đương với thể tích là: 90 m³
Boeing 777-200ER
Range (w/max passengers): 14316 Km
Tải trọng vận chuyển hàng hóa/chuyến bay 13 - 17 tons
Tương đương với thể tích là: 78 - 102 m³
Và dự tính đến năm 2015 đội bay của VNA sẽ là 86 chiếc và đến năm 2020
sẽ là 110 chiếc
Đến nay, các cảng hàng không - sân bay quốc tế như Tân Sơn Nhất, Nội Bài,
Trang 39Đà Nẵng với hệ thống phục vụ kỹ thuật bay đảm bảo cho việc cất/hạ cánh của các máy bay cỡ lớn như B747, B777, A320, A321, IL86, IL76 và các loại tương đương Chỉ tính riêng việc xây dựng, sửa chữa, kéo dài để các đường cất/hạ cánh
đủ điều kiện cho các máy bay hiện đại với trọng tải hàng trăm tấm, sải cảnh dài và rộng, trong điều kiện của Việt Nam vừa qua đã cho thấy những cố gắng vượt bậc của các nhà xây dựng công trình hàng không Từ chỗ thi công bằng tay, nay chúng
ta đã tiến lên thi công xây dựng các đường cất/hạ cánh, đường lăn, sân đỗ bằng các thiết bị tiên tiến
Mạng đường bay nội địa của Vietnam Airlines và các hãng hàng không trong nước đã không ngừng được mở rộng, nối liền nhiều vùng của đất nước, tạo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, bảo đảm an ninh quốc phòng Khả năng tiếp nhận các máy bay hạng lớn của một số sân bay địa phương đã làm thay đôỉ cơ bản tình hình kinh tế khu vực Có được những kết quả đó không thể không kể đến công lao to lớn của đội ngũ những người xây dựng công trình hàng không.Cùng với sự tăng trưởng của thị trường vận tải hàng hóa hàng không quốc tế tại Việt Nam, mạng đường bay của Vietnam Airlines tới các thành phố trên thế giới không ngừng
mở rộng Hiện tại, Vietnam Airlines bay trực tiếp tới 23 thành phố lớn tại Châu Á,
Úc và Châu Âu Sử dụng những đường bay thẳng của Vietnam Airlines khách hàng
sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí
Sau năm 1975, với sự trợ giúp quý báu của UNDP, ICAO, Hàng không Việt Nam đã triển khai nhiều dự án như VIE 78/002, VIE 84/004, VIE 84/005, VIE 89/016 với tổng kinh phí lên đến khoảng 20 triệu USD để từng bước hiện đại hoá ngành quản lý không lưu Chúng ta đã giành lại FIR thành phố Hồ Chí Minh, nâng cấp dịch vụ quản lý bay trên cả hai FIR (thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội),
và đã có đầu tư lớn cho các công trình xây dựng phục vụ ngành quản lý bay Hàng loạt công trình hàng không lớn, hiện đại đã được xây dựng Các công trình: ACC thành phố Hồ Chí Minh, ACC Hà Nội, 3 APP (Đà Nẵng, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh), các đài dẫn đường vô tuyến vạn hướng siêu cao tần số và đo cự ly
Trang 40(VOR/DME), các trạm vệ tinh mặt đất, các trạm phát, trạm thu là những công trình hàng không phục vụ chuyên ngành quản lý bay được xây dựng trải dài theo các sân bay, các địa phương trong toàn quốc Theo đánh giá của ICAO thì đến nay công tác dịch vụ quản lý bay của Việt Nam đã ngang tầm với các nước trong khu vực và đạt mức tiên tiến của thế giới Đó là những bước tiến vượt bậc, trong đó có đóng góp lớn của công tác xây dựng công trình hàng không.
Trong lĩnh vực bảo dưỡng, sửa chữa: Hangar sửa chữa máy bay của xí
nghiệp máy bay A76 là một công trình xây dựng mới lần đầu tiên được thực hiện
ở Việt Nam Hangar có tổng diện tích sử dụng 9.500 m2, trên tổng diện tích xây dựng 12.192 m2 Hangar có khả năng đảm bảo phục vụ cùng một lúc cho một trong các loại máy bay B777, B767, B747 và hai trong số các máy bay A320, A321 và F70 Công trình này do Việt Nam tự thiết kế và thi công Hangar của Xí nghiệp máy bay A75 cũng là một công trình có quy mô và công suất lớn Hiện nay
Xí nghiệp đang lập dự án để xin đầu tư xây dựng hangar lớn hơn, có khả năng chứa các máy bay thân rộng loại B777, A320 và tương đương trở lên Ngoài tính đặc thù có độ rộng, chiều cao quá khổ mà ta đã biết, hangar còn chứa đựng cả tính phức tạp của dây chuyền sản xuất hiện đại và phần mềm quản lý bằng hệ thống máy tính Những công trình quy mô, tầm cỡ như vậy là một trong những nhân tố quan trọng để Xí nghiệp A76 có khả năng bảo dưỡng máy bay A320, A321, F70 tới 4C-check, thực hiện bảo dưỡng ngoại trường cho ATR72, B767, B777 và Xí nghiệp A75 có khả năng bảo dưỡng ATR72 tới 8C-check, thực hiện bảo dưỡng mức A cho B767, B777, thực hiện bảo dưỡng ngoại trường cho A320, A321 và F70
Ngoài việc bảo trì, sửa chữa cho máy bay của Việt Nam, các xí nghiệp máy bay cần phấn đấu để có thể bảo trì, sửa chữa cho máy bay của các nước bay qua, bay đến Việt Nam Để có thể làm được như vậy, ngoài việc phải đưa hàng ngàn lượt kỹ sư, thợ máy đi học tập, chuyển loại máy bay ở nước ngoài để có chứng chỉ quốc tế, việc tăng cường cơ sở vật chất là điều không thể coi nhẹ