1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các phương pháp phát triển kinh tế vùng miền núi Bắc miền trung

163 348 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Phương Pháp Phát Triển Kinh Tế Vùng Miền Núi Bắc Miền Trung
Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 6,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp phát triển kinh tế vùng miền núi Bắc miền trung

Trang 1

HOG VIEN CHINH TRI QUỐC BIA HỖ CHÍ MINH

TỔNG QUAN KHOA HỌC

Di TAI CAP BO NAM 2005

ĐỀ 'TÀI

CAC GIAI PHAP PHAT TRIEN KINH TE VUNG

MIEN NUI BAC MIEN TRUNG

(QUA KHAO SAT CAC TINH QUANG BINH, QUANG TRI,

THUA THIEN- HUE)

CO QUAN CHU TAL : HOC VIEN CHINH THỊ KHU VỤC II

CHU NHIEM DE TAI : THS TRAN BINH CHIN

THUKY DE TAL : CW THÂN THY MINH AN

Trang 2

MUC LUC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: PHAT TRIEN KINH TE VUNG MIEN NÚI-

MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN 6

CAC TINH BAC MIEN TRUNG

1.1 Vai trò và vị trí của vùng miền núi trong sự nghiệp

phát triển đất nước

1.9 Một số nhân tố tác động đến sự phát triển kinh tế- xã

hội khu vực miên núi Bắc miễn Trung

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG MIỄN

NÚI BẮC MIỄN TRUNG

2.9.4 Phát triển kinh tế trang trại- một mô hình sản xuất

day trién vong trong su nghiép phat triển kinh tế- xã

hội của vùng miễn núi Bắc miễn Trung

2.2.5 Ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất

nông- lâm nghiệp, thúc day kinh tế- xã hội phát triển

2.2.6 Phát triển kết cấu hạ tầng- nhân tố có tính tiền đề để

phát triển kinh tế miền núi các tỉnh Bắc miền Trung

Trang 3

CHUGNG 3: CAC GIAI PHAP PHAT TRIEN KINH TE

VUNG MIEN NUI BAC MIEN TRUNG

8.1 Quan điểm định hướng phát triển kinh tế vùng

miền núi bắc miền Trung

3.2.2.2 Déy manh phat triển nông- lâm nghiệp

3.2.2.3 Tăng cường vin déu tu

3.9.2.4 Xây dựng uà phát triển mô hình sản xuất phù hợp

vdi điêu biện nên bình tê nông- lâm nghiệp uùng

xà ae

miền núi

3.2.2.5 Đẩy mạnh phút triển kết cấu bạ tầng kỹ thuật

phục uụ hiệu quả sự nghiệp phát triển binh tế của Uùng

3.2.2.6 Đẩy mạnh quá trình úng dụng các tiến bộ bỹ

thuật uào sẵn xuất nông nghiệp

3.9.3.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

3.2.2.8 Đẩy mạnh phát triển thương mai dich vit va du

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài:

Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW Đảng (khóa IX) nhấn mạnh

"Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế- xã hội các vùng dân tộc thiểu số và

miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng,

xóa đói giảm nghèo để đến năm 2010, các vàng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%" Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, phản ánh những nhu cầu cấp bách từ

thực trạng kinh tế- xã hội của khu vực miền núi, nơi gắn liền với sự cư trú

và sinh sống của đại đa số người dân tộc thiểu số Việt Nam, cần phải gấp

rút có các chính sách phát triển mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa để đưa đời

sống đồng bào các dân tộc thiểu số số nói riêng, khu vực miền núi nói

chung, đi lên theo kịp yêu cầu của sự nghiệp đỗi mới, phát triển nền kinh tế thị trường đỉnh hướng xã hội chủ nghĩa đang đặt ra Đồng thời nó cũng cho thấy, thực trạng thấp kém về kinh tế- xã hội của khu vực miền núi nước ta

nói chung, trong đó có các khu vực miền núi Bắc miền Trung nói riêng, là

đáng lo ngại

Đối với khu vực miễn núi của các tỉnh Bắc miền Trung, đây là một địa ban chién lược của đất nước, là nơi hậu cứ vững chắc của các phòng trào chống giặc ngoại xâm, là vành đai thiên nhiên và môi trường sống của hàng triệu người dân trong khu vực; đồng thời cũng là nơi có nguồn tài nguyên

phong phú và đa dạng có thể phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã

hội của vùng, nếu như biết khai thác và sử dụng tốt Song những tiềm năng

đó hiện đang, hoặc là chưa biết cách khai thác sử dụng, hoặc là khai thác

sử dụng một cách thái quá, nhiều khi mang tính tàn phá, đã làm cho nơi đây không thể tận dụng được một cách hiệu quả các tiềm năng sẵn có để kết hợp được một cách nhuần nhuyễn với các yếu tế ngoại lực (như sự quan

tâm đầu tư của Dáng và Nhà nước, sự hỗ trợ từ các chương trình phát triển của các tổ chức quốc tế ) nhằm phục vụ tốt nhất cho sự đi lên của các vùng

này Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi và địa hình bị chia cắt mạnh

bởi hệ thống sông núi, cùng với điểm xuất phát của nền kinh tế còn rất

Trang 5

thấp, hơn nữa các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế- xã hội dành

riêng cho miễn núi khi vận dụng vào thực tế còn nhiều bất cập, tính khả thi

không cao, có lúc không phù hợp, vì vậy đã không khai thác và sử dụng có

hiệu quả các tiềm năng, không tận dụng được những cơ hội phát triển, nên

tình hình kinh tế- xã hội của khu vực này đến nay vẫn còn rất khó khăn,

nhiều nơi cái đói, cái nghèo vẫn còn đeo bám trong đời sống nhân dân Chính vì vậy, sau hơn 30 năm thống nhất nước nhà, đến nay kinh tế- xã hội của khu vực miễn núi Bắc miễn Trung vẫn còn đang ở mức rất thấp, lạc hậu; phương thức sản xuất tự nhiên vẫn còn in đậm ở các vùng núi cao, sâu, vùng xa; nét hoang sơ trong đời sống xã hội, trong hoạt động sản xuất vẫn còn hiển hiện ở một số dân tộc (như người Rục, người Chứt,

người A Rem của khu vực này) đã làm cho sự nghiệp xây dựng và phát

triển các vùng này rất khó theo kịp đà phát triển chung của sự nghiệp đổi

mới đất nước hiện nay

Thu nhập quốc dân (GDPX⁄người mới đạt xấp xỉỈ 2,7 triệu đồng/năm

(2004), trong đó miễn núi tỉnh Quảng Bình 2,83 triệu đồng /ngườinăm, miền núi Quảng Trị 2,58 triệu đồng/người/năm, miền núi Thừa Thiên- Huế 2,86 triệu đồng/người/năm Một số dân tộc như người Chứt, người Rục mức

thu nhập này thấp hơn nhiều), trong khi đó ở các vùng đồng bằng, thành

phố thu nhập bình quân của khu vực đã đạt trên 5 triệu đổng/ người/ năm,

như Đà Nẵng đã đạt xấp xỉ 1.000USD/người (2005) Hộ nghèo, đói hiện đang chiếm một tỷ lệ rất cao ở các vùng miền núi cao, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa,.có xã chiếm trên 90%, có bản 100% số hộ nghèo, đới Sự yếu

kém của nên kinh tế cùng với những khó khăn của điều kiện tự nhiên, xã

hội đang đặt ra cho vùng đất này hàng loạt vấn đề trên con đường phát triển và hội nhập, nhất là trước sự nghiệp day mạnh công nghiệp hóa, hiện

đại hóa hiện nay Con đường nào để khu vực miền núi bắc miền Trung đi

lên và hội nhập cùng miền xuôi, giảm dần khoảng cách tụt hậu, nhanh chóng xóa đói, giảm nghèo, thúc đây kinh tế tăng trưởng nhanh đang là

những vấn để đặt ra hết sức cấp thiết đối với những ai thực sự quan tâm

đến vùng đất này

Cùng với sự thấp kém về kinh tế- xã hội, điều kiện phát triển cho vùng cũng gặp rất nhiều khó khăn Ảnh hưởng bởi sự khắc nghiệt của điều

} Đối với 2 tộc người Chứt và Rục, hiện nay hoạt động kinh tế của họ chủ yếu là tự cấp, tự túc, chủ yếu hái lượm Gần đây

lãnh đạo các tỉnh có chú ý đưa họ về ở định canh, định cư, nhằm tạo điều kiện cho họ phát triển đời sống của cộng đẳng, song

do quen với núi rằng tự do hàng bao lâu, nên da số lại bỏ vào rửng sâu tiếp tục cuộc sống tự nhiền

Trang 6

kiện tự nhiên, sự tàn phá nặng nề do chiến tranh, nhất là sự trì tré kéo dài

trong phát triển kinh tế của những năm 1975- 1990, làm cho tiềm lực kinh

tế của vùng đã thấp kém lại càng thấp kém hơn so với các vàng khác trong

cả nước Sự thấp kém về kinh tế, lạc hậu về dân trí, làm cho khả năng mở

trong giao lưu với bên ngồi bị hạn chế, các tập tục lạc hậu chậm được thay

đổi, tập quán sản xuất theo kiểu truyền thống mang đậm tính tự nhiên, tự cấp, tự túc đeo bám dai dẳng ở nhiều bản làng của đồng bảo các đân tộc thiểu số, nhất là các vùng sâu, vùng biên giới Tư duy kinh tế, nhất là tư

duy về kinh tế thị trường cịn rất xa vời đối với nhiều người G một số vùng

đồng bào dân tộc thiểu số đến nay hái lượm vẫn cịn đang là hoạt động kinh

tế chủ yếu để mưu sinh (một số vùng của các xã Trọng Hĩa, Dân Hĩa- huyện Minh Hĩa, Quảng Bình) Những hạn chế và khĩ khăn đĩ đang cản trở bước đi lên của một vùng đất đẩy tiềm năng, hạn chế tầm vươn xa để

nhanh chĩng tiến tới hịa nhập vào cuộc sống hiện đại, văn minh dang van

hành trong giai đoạn đây mạnh sự nghiệp cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa đất nước hiện nay Cùng với những tình trạng trên, tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt (riêng vùng miền núi tỉnh Thừa

Thiên- Huế đến tháng 6 năm 2005 vẫn cịn 35% số hộ thiếu đất sản xuất, 12% số hộ chưa cĩ đất ở và thiếu đất ở, 42% số hộ ở nhà tạm, 30% số hộ

phải dùng nước suối hoặc nước mưa cho sinh hoạt!) của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng là những vấn đề lớn đang đặt ra nhiều mối quan tâm cho các cấp lãnh đạo Đẳng và chính quyền trong khu vực

Xuất phát từ những vấn đề vừa nêu trên, dé gĩp phần tìm kiếm câu trả lời cho con đường đi lên của khu vực các huyện miền núi bắc miền

Trung, trong kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 2005-2006, chúng tơi đăng

ký thực hiện đề tài Các giải pháp phát triển kinh tê óng miền núi

bắc miền Trung (qua khảo sát các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị,

Thita Thién- Hué)

9 Tình hình nghiên cứu:

Nghiên cứu về kinh tế- xã hội miền núi là vấn đề đã và đang đặt ra

ở tất cả các cấp chính quyền cĩ địa hình miền núi, các ngành trong cả nước, đây là một chủ trương lớn của Dáng và Nhà nước ta, do vậy, là một

vấn đề luơn được đặt ra

! UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế- Ban Dân tộc, Báo cáo sơ kết cơng tác dân tộc uà miền núi 6 tháng

dâu năm 2005, Huế, 25-6-2005

Trang 7

Dưới góc độ vĩ mô, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, khảo sát tình hình phát triển kinh tế- xã hội khu vực miền núi, cung cấp những luận cứ cho Đảng và Nhà nước để ban hành các chủ trương, chính sách, biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội miễn núi của cả nước Các Chương trình 135, Chương trình trồng 5 triệu hecta rừng, chương

trình phát triển kinh tế miễn núi trong những năm qua đã có nhiều tác

động đến sự phát triển của khu vực miễn núi, tạo ra được nhiều cơ sở thực tiễn cho Đảng và Nhà nước đề ra các chính sách phát triển tiếp theo cho khu vực này

Riêng đối với các tỉnh bắc miễn Trung, ngoài việc lãnh đạo các tỉnh

thực hiện và vận dụng các chủ trương chính sách trên, đến nay tất cả các tỉnh đều có quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế- xã hội khu vực các

huyện miền núi của từng tỉnh, qua đó cho thấy, đây là một tham vọng

lớn, đòi hỏi tốn rất nhiều thời gian và công sức, vốn liếng mới có thể thực

hiện được Các quy hoạch đó vừa nói lên quyết tâm của các tỉnh trong

việc giảm dẫn để tiến đến xóa bỏ tình trạng yếu kém trong phát triển

kinh tế của miền núi, đẩy nhanh việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo,

nâng cao mức sống cư dân, đưa các huyện miền núi nhanh chóng hội nhập cùng các huyện miễn đẳng bằng- những nơi có điều kiện phát triển

kinh tế- xã hội thuận lợi hơn Mặc dù vậy, sự gắn kết giữa các biện pháp,

cách thức thực hiện còn nhiều vấn để cần xem xét một cách thực tế hơn

Ví dụ như, khi đề cập đến vấn đề phát triển vùng, việc hình thành các

vùng chuyên canh trong nêng nghiệp, các địa phương mới chú ý đến quá trình sản xuất mà ít chú ý đến đầu ra của quá trình này, làm cho các đề án

vừa thực hiện xong đã bị đình trệ, có khi phá sản; hay như, việc phát triển

các cơ sở sản xuất chế biến hàng nông sản lại ít chú ý đến việc xây dựng

vùng nguyên liệu có tính ỗn định lâu đài, đã gây khó khăn rất lớn cho các nhà máy khi đi vào sản xuất, và rất nhiều vấn đề khác trong sự bất cập giữa chủ trương, chính sách và tính thực thi trong thực tế đang nổi lên Bên cạnh đó, các kế hoạch khai thác và phát triển hiện đang triển khai mang

năng yếu tế khai thác, mức đầu tư để khai thác một cách bền vững ít được

quan tâm, làm cho quá trình khai thác và phát triển khu vực này trong

thời gian qua đã tác động tiêu cực đến kết cấu bền vững của hệ sinh thái,

môi trường, ảnh hưởng xấu đến các kết cấu đời sống xã hội của cư dân Trong các kế hoạch phát triển, nhiều chỉ tiêu để ra còn mang tính hình

Trang 8

thức, nhằm tạo ra một phong trào hơn là những mục tiêu của các kế hoạch,

không phản ánh đúng thực tế điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội mang tính

đặc thù của từng vùng Chính vì vậy, nhiều chủ trương, chương trình phát

triển kinh tế- xã hội cho các huyện miền núi chưa thực sự phủ hợp lòng dân, chưa thực sự là các "cần câu" giúp người nông đân ở những vùng này làm kinh tế để phát triển đời sống cho chính bản thân mình và cộng đồng Cùng với lãnh đạo các tỉnh, trong giới khoa học cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế- xã hội vùng miễn núi các tỉnh Quảng

Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế Trong đó nổi bậc là các công trình

sau: "Điêu tra đánh giá các dự án bình tế- xã hội uùng gò đôi của các tỉnh

Quảng Bình, Quảng Trị, Thùa Thiên- Huế" của tác giả Lê Quang Minh

(1996); "Quan điểm giải pháp và chính sách phát triển vùng gò đổi bắc Trung Bộ" của tác giả Nguyễn Thành Bang (1996); "Cơ sở khoa học xây

dựng mô hình phát triển binh t nông- lâm nghiệp uùng gò déi ba tinh

Quảng Bình, Quảng Trị, Thùa Thiên- Huế" của tác giả Trần Đình Lý (1995); "Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên uà bảo uệ môi trường uùng Bình- Trị Thiên" do nhà xuất bản Bộ Nông nghiệp ấn hành năm 1996;

“Co sé khoa học cho định hướng quy hoạch cây công nghiệp dài ngày, góp phân bảo uệ môi sinh ở uùng trung du Quảng Trị uà Thủa Thiên- Huế" do Nhà xuất bắn Nông nghiệp ấn hành năm 1996 Bên cạnh đó, các tỉnh Bắc Trung Bộ cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học để thu thập ý kiến của các nhà khoa học trên cả nước về tìm kiếm các giải pháp phát

triển kinh tế- xã hội cho vùng Nổi bậc nhất là các cuộc hội thảo như: "Xây

dựng đề án phát triển kinh tế- xã hội uùng gò đôi bắc Trung Bộ", do Viện

Chiến lược phát triển tổ chức tại Hà Tỉnh 28 tháng 8-1996

Trong các công trình nghiên cứu về kinh tế- xã hội các tỉnh Bắc miền Trung nổi bật nhất là cuốn sách "Phát triển binh tế vung go déi khu vic Bắc miền Trung" do GS Đặng Ngọc Dinh chi biên, được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1999 đã đánh giá một cách tương đối

toàn điện điều kiện kinh tế- xã hội vùng gò đồi các tỉnh từ Thanh Hoá đến

Thừa Thiên- Huế những năm trước 1997 Tác phẩm đã phân tích khá rõ điều kiện tự nhiên, các yếu tố văn hóa và điều kiện phát triển trên nền

đất gò đồi của các tỉnh từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên- Huế Song công

trình này chỉ mới dừng lại ở chỗ giới thiệu những nét có tính đặc trưng bê

ngoài của các quá trình, chưa đi sâu phân tích một cách hệ thống mối

tương quan giữa các thành tố nội tại trong mối quan hệ tác động qua lại

9

Trang 9

để tạo nên thực trạng kinh tế- xã hội khu vực Hơn nữa, khi nghiên cứu

thực trạng khu vực, tác phẩm ít chú ý đến những nhân tố có tính cơ sở của vùng là đặc điểm kinh tế- văn hóa- xã hội và con người, đặc biệt là trình

độ đân trí thấp kém và chiến lược đầu tư phát triển vùng của Đảng và Nhà nước đối với khu vực một cách sâu sắc Đây là những nhân tố có tính quyết định đến sự phát triển của mỗi một khu vực Các nhận định của tác phẩm mang nặng tính chất kỹ thuật hơn là khái quát mang tẩm chính sách, nên khi soi xét vào thực tiễn, các giải pháp đưa ra thiếu tính khả

thi Bên cạnh đó, do nghiên cứu trong điều kiện kinh tế- xã hội những

năm trước 1997 nên có nhiều vấn đề được nêu ra không còn phủ hợp, nhất

là sau khi thực hiện các chương trình 120, 135, 134 Mặc dù vậy, tác phẩm cũng đã giới thiệu một cách khái quát những nét chung nhất thực trạng khu vực vùng gò đôi (đây là những uùng dất có độ cao dưới 300m so UỐI mực nước biển), đó là những cứ liệu quan trọng để nhóm để tài khi thực biện nghiên cứu, kế thừa và phát triển cho công trình này

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu đưới nhiều góc độ khác nhau

về kinh tế- xã hội của vùng, nhưng một công trình có tính khái quát để giới

thiệu những kết quả nghiên cứu có tính định hướng cho phát triển kinh tế

của khu vực đang là một vấn đề bỏ ngỏ Do vậy, khu vực miễn núi các tỉnh bắc miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế) đang cần có một công trình nghiên cứu toàn điện hơn về thực trạng tình hình kinh tế-

xã hội, trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp nhằm khai thác và phát triển

có hiệu quả các tiềm năng sẵn có, tận dụng những điều kiện ngoại vi có thé

có, nhằm đưa kinh tế ở nơi đây ngày càng đi lên nhanh chóng hơn Điều này cho thấy, việc nghiên cứu để tìm kiếm các giải pháp nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế vùng miền núi bắc miền Trung là một vấn để cần

_ Nghiên cứu, khảo sát thực trạng tình hình kinh tế- xã hội khu vực

miền núi Bắc miền trung, trên cơ sở đó phân tích các mặt mạnh, các lợi thé,

Trang 10

các mặt yếu kém cũng như hạn chế, để làm cơ sở cho việc xây dựng các giải

pháp phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của khu vực này

(tỉnh Quảng Bình), Hướng Hoá, Đakrông (tỉnh Quảng TrỤ, A Lưới, Nam

Đông (tỉnh Thừa Thiên- Huế), các vùng miễn núi khác của các tỉnh trên chỉ

nghiên cứu nhằm làm rõ hơn các vấn đề được đề tài nêu ra

Về nội dung nghiên cứu: đề tài nghiên cứu về thực trạng kinh tế- xã

hội, các vấn đề chính trị, truyền thống, các vấn dé quan hệ dân tộc chỉ

nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các nhận định được nêu ra

ã Phương pháp nghiên cứu:

Ngoài phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin

là phương pháp nghiên cứu cơ bản, đề tài sử dụng các phương pháp có tính nghiệp vụ cụ thể sau: tổng hợp- phân tích, thống kê, lịch sử, điều tra

xã hội học

6 Ý nghiã thực tiễn của đề tài:

Thành công của đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị cho các cấp chính quyền trong khu vực cũng như những nhà nghiên cứu quan tâm đến tình hình kinh tế- xã hội các huyện miễn núi bắc miễn Trung hiện nay

7 Kết cầu nội dung của đề tài:

Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Phát triển kinh tế vùng miễn núi - một số vấn đề lý luận

và thực tiễn ở các tỉnh bắc miễn Trung

Chương 2: Thực trạng kinh tế- xã hội các vùng miễn núi Bắc miền Trung

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu tạo điều kiện phát triển kinh

tế- xã hội vùng miền múi bắc miễn Trung

Sau đây là kết quả nghiên cứu của đề tài

Trang 11

Chung 1

PHÁT TRIÊN KINH TẾ VUNG MIEN NUI-

MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN

G CAC TINH BAC MIEN TRUNG

1 1 VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA VÙNG MIỄN NÚI TRONG SỰ

NGHIỆP PHÁT TRIÊN ĐÂT NƯỚC

1.1.1 Vị trí chiến lược và tầm quan trọng của vùng miền núi

đối với sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước

Vùng núi là nơi khổi nguồn của hệ thống sông suối cung cấp nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, đồng thời đây cũng là nơi chứa

đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, phục vụ đắc lực cho việc khai phá vì mục đích quốc kế đân sinh của con người Miền núi không

những là nơi cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên đồi đào cho sự sống,

mà nó còn là cơ sổ, hậu cứ vững chắc cho mọi cuộc kháng chiến dân tộc ta Ngay từ ngàn xưa ông cha ta đã biết dựa núi rừng để sống, để tổn tại, đễ

lập nghiệp, để chiến đấu dựng nước và giữ nước Lịch sử dân tộc đã để lại

cho chúng ta ngày nay biết bao trang sử hào hùng, mà trong đó, thế mạnh của địa bàn hiểm trở và nguồn tài nguyên phong phú của núi rừng, trổ

thành nguồn dự trữ chiến lược cho các cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm của dân tộc Trong sự nghiệp đấu tranh chống lại 2 kẻ thù hùng

mạnh nhất của thế kỷ 20, lại thêm một lần nữa, núi rừng hiểm trở lại trở thành những căn cứ địa vững chắc bảo vệ, chỗ che, nuôi nấng quân đội và nhân dân ta đánh thắng thực đân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Con đường Hà Chí Minh huyền thoại trên dãy Trường Sơn đã đưa hàng ngàn

chiến sĩ bộ đội, hạng vạn tấn quân trang, quân dụng chỉ viện cho đại thắng mùa xuân năm 1975, trong đó chiến địch Hồ Chí Minh là tiêu điểm; những chiến thắng Việt Bắc, Điện Biên thời chống Pháp, Khe Sanh, Đồng Lê,

Thượng Đức, Tây Nguyên thời chống Mỹ đã đi vào lịch sử dân tộc, là

Trang 12

những bản anh hùng ca bất điệt, phản ánh sức sống mãnh liệt, tinh than ngoan cường của cả một dân tộc không chịu khuất phục trước mọi kể thù Phải nói rằng, trong lịch sử dân tộc Việt Nam đến ngày nay, mọi sự phát trién đi lên đều có sự hiện điện của những đóng góp to lớn từ vàng miễn núi

mang lại

Ngày nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò và vị trí miền núi lại càng thêm quan trọng Trong điều kiện thực tế về trình độ và tiềm lực

của nên kinh tế Việt Nam, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ

các vùng miền núi có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó không chỉ là một nguồn vốn đặc biệt quan trọng, mà còn là các vùng kinh tế hàng hóa cung cấp nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị cho nên kinh tế Hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc khai thác, chế biến tử các vùng miền núi hàng năm lên đến hàng

tỷ USD là một khoản thu tài chính rất lớn cho nền kinh tế, góp phần

nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu,

chậm phát triển

Đối với các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, vai trò và

vị trí của các huyện miễn núi trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội từng tỉnh rất quan trọng Nhận thức được tâm quan trọng đó, lãnh đạo các

tỉnh đã ban hành các nghị quyết chuyên để về phát triển kinh tế- xã hội

cho vùng, nhất là vùng đồng bào đân tộc thiểu số Việc triển khai thực hiện các nghị quyết trên trong thực tế đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong

đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội vàng miền núi, nhiều địa phương đã thoát

được nạ đói, đời sống người dan từng bước được cải thiện

Nhờ sự quan tâm đầu tư phát triển cho vùng miền núi ngày càng nhiều hơn đã tạo điều kiện cho kinh tế các khu vực này ngày cảng phát triển nhanh chóng hơn, tiềm lực kinh tế ngày càng được củng cố, khả năng khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng hiệu quả

hơn, là một bước tiến đáng khích lệ trong quá trình xây đựng và phát triển

kinh tế- xã hội miền núi nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.1.2 Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế- xã hội

vùng miền núi

Nhận thức rõ được tâm quan trọng và vị trí đặc biệt của vùng miền

núi đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, việc phát triên kinh

13

Trang 13

tế-xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tỉnh thần cho cư dân các dân tộc trên địa bàn là một trong những nhiệm vụ quan trọng luôn

được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thi III

của Dáng đã để ra nội dung cự thể hóa chính sách dân tộc hiện nay là ra sức giúp đỡ các dân tộc miền núi phát triển binh tẾ uà uăn hóa, lam cho

miền mút tiễn bịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiễn bịp dân tộc đa số, thực

hiện bình đẳng uà doàn kết uững chắc giữa các dân tộc đễ cùng tiễn lên chủ

nghĩa xế hội Hội nghị lần thứ 8 (khóa HD Ban chấp hành Trung ương

nhấn mạnh thêm vị trí quan trọng của miền núi trong tình hình đất nước lúc bấy giờ, cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển sản xuất lương thực và cây công nghiệp, mở rộng chăn nuôi và khai thác lâm sản, phát triển công nghiệp và nghề thủ công ở miền núi; Hội nghị cũng đã

đề ra cuộc vận động đồng bào miền xuôi tham gia phát triển kinh tế miễn

núi, nhằm phân bố hợp lý lực lượng lao động, phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, tăng cường sức mạnh kinh tế trong cả nước?

Tại Hội nghị lần thứ năm Trung ương (7-1961), khi bàn về vấn đề

phát triển nông nghiệp và nông thôn miền núi trong kế hoạch 5 năm lần

thứ nhất (1961- 1965) đã chỉ rõ, "hướng phát triển nông nghiệp miền núi là

giải quyết lương thực, đặc biệt phát triển mạnh chăn nuôi gia súc, phát triển các loại cây công nghiệp uà cây ăn quỏ, phát triển uiệc trồng rừng uà khai thác rừng" "biên nền binh tế uỗn tự cắp dân trở thành một nền bình

tế phát triển toàn diện uà có nhiều sản phẩm hàng hóa Phát triển nông nghiệp miền núi, phải uừa chú ý uùng thấp, uửa chú ý đặc biệt uùng cao, có

kế hoạch thích bợp cho từng uàng"?, Ngày 23 tháng 2 năm 1963, Bộ Chính

trị đã ra Nghị quyết 71-NQ/TW về vấn đề phát triển nông nghiệp miền núi, khi nêu phương hướng phát triển nông nghiệp miền núi, Nghị quyết đã chỉ

rõ, "Tính chất uùng của miền núi rắt phúc tạp, không những có uùng thấp,

uùng giữa, uùng cao, mà ngay trong mỗi uùng đó tình hình khí hậu, đất

đai, tập quan va kỹ thuật cạnh tác, thành phân dân tộc cũng khác nhau rat

nhiều Trong khi lãnh dạo nông nghiệp ở miền núi, cần phải chú ý dẫn sự khác nhau từng ving đó uè phải đặc biệt chú ý dẫn uiệc chấp hành dúng

1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đẳng Toàn tập, t.25, Nxb CTQG, H, 2003, tr.29

? Đăng cộng sẵn Việt Nam, Văn kiện Đẳng Toàn tập, t.25, Nxb CTQG, H, 2003, tr.31

3 Đẳng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Dáng Toàn tap, t.22, Nxb CTQG, H, 2002, tr.429,

Trang 14

chính sách dodn bất dân tộc" Để triển khai thực hiện tốt các nghị quyết trên, ngày 15 tháng 4 năm 1963, Ban Bí thư ra Thông tri 115-TT/TW về việc củng cố hợp tác xã nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp miền núi, Thông tri nêu rõ, oì tình hình miền núi có nhiều điểm khác hon

miền xuôi, đặc diém 6 méi uùng lại cũng không giống nhau, cho nên không

thê áp dụng giống như miền xuôi được”

Đối với công tác giáo dục, một trong những công tác đặc biệt quan

trọng nhằm nâng cao dân trí, nâng cao nhận thức cho người dân, làm cơ sổ

để nhân đân tiếp cận, lĩnh hội các tiến bộ khoa học- kỹ thuật, công nghệ

phục vụ sự nghiệp phát triển cho đồng bào các dân tộc miền núi, Chỉ thị 84-

CT/TW (3/9/1964) của Ban Bí thư nêu rõ, thành tích giáo dục "có ý nghĩa rét quan trong déi vdi viée xdy dung va phát triển đội ngũ giai cấp công

nhân, củng cô chính quyền nhân dân các dân tộc, dối uới uiệc củng có hợp

tác xd va cải tiễn kỹ thuật, ddy manh sdn xudt, xdy dung đời sông miền núi, góp phần tích cực uào uiệc phát triển miền núi uề mọi mặt, làm cho miền

núi mau chóng tiễn bịp miền xuôi Chỉ thị cũng khẳng định: "các cấp ủy

Đảng cần nắm lấy công tác giáo dục, làm cho sự nghiệp giáo dục gắn chất uồi những nhiệm uụ chính trị 0à binh tế miền núi, phát triển thích hop vdi

những đặc điểm miền nút"^ Xác định được sự khác biệt, tính đặc thù của tình hình kinh tế- xã hội vùng miễn núi để từ đó xác định tính không đồng

nhất trong các biện pháp, cách thức tiến hành xây dựng và phát triển kinh

tế giữa các vùng miền núi và miền xuôi cũng như tính chất phát triển có tính riêng biệt cu8áả từng vùng là một trong những quan điểm sáng suốt của Dảng ta đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội miền

núi Điều đó cho thấy, vấn đề phát triển kinh tế- xã hội ở vùng miền núi

cũng phải có những cơ sở riêng, cách làm và các bước tiến hành riêng, không thể rập khuôn như các vùng miền khác Đây là một vấn đề hệ trọng cần phải nghiên cứu, tìm tòi con đường đi lên phù hợp với điều kiện đặc thù của vùng

Sau Nghị quyết 71-NQ/TW (khoá TID của Bộ chính trị, các nghị quyết

Trung ương 6 (khóa VD, Nghị quyết 22 (1989), Quyết định 72 (1990), Chỉ

! Đẳng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đăng Toàn tập, t.24, Nxb CTQG, H, 2003, tr.123-124

? Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đáng Toàn tập, t.24, Nxb CTQG, H, 2003, tr.531

3 Đẳng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, t.25, Nxb CTQG, H, 2003, tr.215

* Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đăng Toản tập, t.25, Nxb ƠTQG, H, 2003, tr.221

Trang 15

thị 525/TTg (1993), Chi thi 393/TTg (1996), Quyết định 133/CP, Quyết định

135/CP (1998), Quyết định 134/CP (2004) đã xác định phương hướng phát

triển kinh tế- xã hội vùng miễn núi trong giai đoạn mới với tư tưởng chủ đạo là, xây dựng cơ cấu kinh tế miền núi theo hướng phát triển kinh tế : hàng hóa, liên kết chặt chẽ với các vùng đồng bằng, ra sức phát huy thế

mạnh vùng, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tỉnh thần của đồng bào các đân tộc sinh sống ở miền núi, đưa miền núi thoát khỏi nghèo nàn, lạc

hậu và chậm phát triển để hòa nhập chung cùng sự phát triển của đất nước trong sự nghiệp đổi mới, góp phần giữ gìn an toàn trật tự xã hội và an ninh

quốc gia Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 7 khóa [X nhấn mạnh,

tu tiên đầu tu phat triển kinh tế- xã hội các uùng dân tộc thiểu số uà miền

núi, trước hất tập trung uào phát triển giao thông uà cơ số họ tầng, xóa đói giảm nghèo để dắn năm 2010, các vung dân tộc uà miền núi cơ bẩn không

còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10% Đây là một chủ trương lớn của

Đảng và Nhà nước ta, phản ánh những đòi hỏi cấp bách từ thực trạng thấp kém về kinh tế- xã hội của khu vực miễn núi- vùng đồng bào dân tộc thiểu

số nước ta nói chung, trong đó có các huyện miền núi Bắc miễn Trung nói riêng, là đáng lo ngại Vì vậy, vấn đề tìm kiếm các giải pháp phát triển kinh tế vùng miền núi đang đặt ra những đòi hỏi cấp bách cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý cần phải có những tìm tòi, sáng tạo, xây dựng cho được những hướng đi thích

hợp nhằm khai thác một cách hiệu quả các tiềm năng nội tại của vùng, huy

động một cách tốt nhất các nguồn lực cả bên trong lẫn bên ngoài, nhằm nhanh chóng đưa kinh tế- xã hội miễn núi phát triển, rút dần khoảng cách tụt hậu so với vùng xuôi

Riêng các tỉnh miền núi Bắc miền Trung, ngoài việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đẳng bộ các tỉnh đã ban hành các nghị quyết chuyên để nhằm tập trung sức lực dé day manh su nghiép phát triển kinh tế- xã hội vùng miền núi của từng tỉnh, nhằm khắc phục

dan tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, tình trạng thấp kém về văn hóa, dân

trí, đưa kinh tế- xã hội vùng miền núi tiến gần với các vùng đẳng bằng, đô

thị và mở rộng giao lưu phát triển với bên ngoài

Ở Thừa Thiên- Huế, từ năm 2001 Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số

07-NQ/TU ngày 23/11/2001 của ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác và

chính sách đối với đồng bào các đân tộc thiểu số ở Thừa Thiên- Huế Nghị

Trang 16

quyết nêu rõ: "Phát huy truyền thông đoàn kết, tương trợ của các dân tộc, tập trung mọi nguồn lực uà khai thác lợi thễ, phát triển két cau hạ tầng,

thay đổi phương thúc canh tác, củng cô uững chắc định canh, định cư, thúc

đây nhanh xóa đói giảm nghèo, én dinh vd cải thiện dời sống, sức khỏe của

déng bào dân tộc thiêu số; xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng uà

phát huy bản sắc uăn hóa tắt đẹp của các dân tộc, xóa bỏ nhanh sự cách biệt giữa các uùng uà sự phân hóa giau nghèo"), Để thực hiện mục tiêu trên, cùng với việc thực biện Chương trình 135 về phát triển kết cấu hạ tang

nông thôn, miền núi của Chính phủ, tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung sức lực xây dựng các kế hoạch và chương trình hành động thiết thực

để đây mạnh phát triển kinh tế- xã hội ở vùng Nỗi bật nhất là các để án

thử nghiệm về phát triển các mô hình kinh tế nông- lâm kết hợp với chăn

nuôi ở 2 huyện Nam Đông và A Lưới Các đề án đó đã bước đâu xác định được hướng đi lên cho kinh tế ở vùng miễn núi, đó là phải kết hợp việc thực

hiện các mô hình kinh tế lồng ghép với việc đào tạo văn hóa nâng cao dân

trí, để người dân các dân tộc, đặc biệt là dân tộc thiểu số có điều kiện tiếp

thu các kiến thức về văn hóa, khoa học, công nghệ, nhất là các tiến bộ kỹ

thuật vận dụng vào sản xuất nông nghiệp Việc triển khai các để án phát triển vùng dân tộc thiểu số bước đầu đã mang lại hiệu quả rõ rệt, đời sống

kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân vùng có dự án được nâng lên Các

tập tục lạc hậu dần được xóa bỏ, mở ra nhiều điều kiện đề đưa các tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào đời sống thuận lợi hơn Các điển hình về sản xuất

giỏi bắt đầu xuất hiện ở các địa phương như mô hình sản xuất lúa 45 tạ/ha/

vụ ở Hương Hữu (Nam Đông), mô hình kinh tế trên 40 triệu đổng/ ha/năm

ö các xã A Dót, Ago, Hồng Thượng, A Roàng (A Lưới) các điển hình đó đã khơi đậy những tiềm năng vốn còn ẩn chứa trong dân chúng, khuyến khích

họ ngày càng tiến gần hơn đến với phương pháp sản xuất hiện đại, từ bỏ dan các tập quán sản xuất lạc hậu theo kiểu đết, phát, chặt, tỉa, ảnh hưởng đến môi trường và sự an toàn về rừng

Ở Quảng Trị, tại Hội nghị lần thứ tám, Ban chấp hành Dáng bộ tỉnh

(khóa XI, đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01- 7- 2002 và phát

triển kinh té- xã hội miền Tây dẫn năm 2010 Nghị quyết đã xác định miền

Tây "là địa bàn trọng yếu uề quốc phòng, an ninh", có nhiều điều kiện dé

! Tỉnh dy Thia Thién- Hué, Cde nghj quyét cla Tinh uy khéa XI (nhiệm ky 2001- 2005), Vin phòng Tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế, tháng 6-2005, tr.46

Trang 17

"giao lưu, liên kết khai thác tiềm năng, thế mạnh uùng", song "do đặc điểm

địa hình miền núi, nên mật độ dân cư thưa thót uà phân bỗ không dầu, mặt

bằng dân trí thấp; một bộ phận dân cư tập quán canh tác lạc hậu, phổ biên

tự cung, tự cấp" nên việc tập trung phát triển khu vực này, nhằm không

ngừng nâng cao đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân các dân tộc

trong vùng là một yêu câu khách quan trong quá trình day manh céng

nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà Để thực hiện được điều đó, cần phải

"Xây dựng cd cấu binh tế nông- lâm- công nghiệp va dich oụ, thực hiện chuyển địch cơ cấu binh té theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền nông nghiệp da dạng, mỗ rộng những uùng chuyên canh cây công

nghiệp gắn uới chế biên Không ngừng củi thiện đời sống uật chất uà tỉnh

thần của nhân dân, đắm bảo an nỉnh chính trị, trật tự an toàn xã hội"

12 MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SU PHAT TRIEN

KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC MIỄN NÚI BẮC MIỄN TRUNG

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

- Khí hậu

Khí hậu vùng núi Bắc miễn Trung thuộc về miễn khí hậu Đông Trường Sơn nằm trong vùng ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa

điển hình, hàng năm có hai mùa mưa, nắng khá rõ rệt: mùa mưa ẩm bắt

đầu từ tháng 8 và kéo dài đến tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau? Do lượng

mưa lớn, trung bình khoảng 3500- 4000mm/năm lại tập trung trong một

khoảng thời gian ngắn, nên vào mùa mưa các con sông, con suối trở nên rất hung đữ, gây ra tình trạng lũ quét, sat 16 ở nhiều nơi? Sự khắc nghiệt của thời tiết ở đây càng thể hiện rõ nét hơn khi hằng năm khu vực còn chịu ảnh hưởng của các đợt gió Lào vào các tháng 5 đến tháng

8, thời tiết khô nóng, ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ, hoạt động sản xuất của cư dân (xem bảng 1) Theo báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Quảng Trị, thiệt hại của các đợt gió Lào hàng năm, riêng về vật chất đã

' Tỉnh ủy Quảng Trị, Các nghị quyết của cúa Ban chấp hành Dang bộ tính 20Ö1- 2004, Đông Hà,

tháng 01-2005, tr.215,218

2 Luong mua trung binh 6 khu vue mién núi nơi đây hàng năm 3500-4000mm, riêng tháng 10, 11 chiếm trên 50% tổng lượng mưa trong năm Các khu vực như Minh Hoá (Quảng Bình), Hướng Hoá (Quảng Trị), Nam Đông (Thừa Thiên- Huế) lượng mưa trên 4ð00mm/năm, có năm trên 5000mm

3 Tháng 2- 2006 vừa qua ở vùng núi Cam Lộ, Quảng Trị đã xáy ra hiện tượng sạt lở núi làm cho

gan 30 hộ nông dân phải mất nhà cửa, tài sẵn, thiệt hại lên đến hàng trăm triệu đẳng

Trang 18

lên đến hàng tỷ đồng, đấy là chưa kế đến sức khoẻ của con người sống

trong vùng bị ảnh hưởng

Bảng 1: Tình hình khí hậu thời tiết vùng miễn núi bắc miễn Trung

Lượng mưa trung bình (mm) 4978 | 3320 | 3679 | 2779 | 3819

Số ngày có mưa (ngày) 225 213 188 176 178

Sự khắc nghiệt và dữ đội của điều kiện khí hậu, thời tiết đã ảnh

hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế của người đân trong vùng, nhất là trong điều kiện sản xuất nông nghiệp đang là nghề chủ yếu ở nơi đây

Thực tế này đang đặt ra cho khu vực miễn núi Bắc miền Trung rất nhiều

vấn đề liên quan đến việc day mạnh ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp cũng như các hoạt động kinh tế khác của vùng Để

phát triển nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại việc đưa tiến

bộ kỹ thuật vào sản xuất nông- lâm nghiệp đang là nhu cầu cấp thiết, được lãnh đạo và nhân dân các dân tộc trong khu vực quan tâm

- Địa hình

Miền núi các tỉnh Bắc miễn Trung là những nơi có độ cao từ 300m trở lên so với mặt nước biển, đặc trưng nổi bật của vùng này là có địa hình nằm gọn ở sườn và đốc đứng của dãy Trường Sơn, hiểm trở, đồi đốc

quanh co, hẹp Sông ngòi nơi đây thường ngắn, độ đốc cao, chạy theo

hướng Tây Đông rồi để ra hướng Đông; mật độ sông ngòi dày, chia cắt đải đất hẹp có bể ngang từ 42 km- 100 km ra nhiễu chỗ, nên vào mùa mưa lũ tràn về nhanh chóng, nhưng sau lũ lại là khô hạn kéo dài Do tính chất

địa hình như vậy nên diện tích các khu đất bằng phẳng rất hiếm và hẹp,

thường nằm kẹp giữa hai dãy núi, được hình thành bởi phủ sa các sông

suối, có khả năng trồng trọt các loại cây nông nghiệp như lúa nước, ngô, lạc , nhưng năng suất thường bấp bênh, do bị lũ quét hoặc khô hạn thất thường Ngoài đặc điểm chung trên, vùng này còn có một số điểm khác

biệt: đó là sự phân cắt đột ngột của địa hình bởi các đốc núi đá dựng

đứng, tạo những hang động hoang dã, những thác, sông dốc, rồi xoải ra

Trang 19

các vùng bán sơn địa đổi núi thấp, có cấu tạo địa hình là đá cuội kết, cát

kết và riolit

Song cũng chính địa hình này đã tạo ra cho miền núi Bắc miền

Trung một số vùng có nhiều tiểm năng về lâm nghiệp, về phát triển cây

công nghiệp như cà phê, cao su ở vùng đất đỏ bazan, mặc dù không bằng

các khu vực ở Tây Nguyên hay Đông Nam Bộ; có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi các loại gia súc móng guốc, trồng cỏ chăn nuôi gia súc Tài

nguyên thiên nhiên khá phong phú với nhiễu loại gỗ quý, nhiều loại động vật quý hiếm, nhiều lâm thể sản có giá trị công nghiệp chế biến và xuất

khẩu, nếu được khai thác và sử dụng hợp lý sẽ là điều kiện thuận lợi góp

phần phát triển kinh tế trên địa bàn các tỉnh nói chung và miễn núi nói

riêng

- Diện tích, dân số

Toàn vùng' có điện tích 17.851,76 km?, chiếm 38,16% diện tích tự

nhiện của tỉnh, được phân bố trên 102 xã và 7 thị trấn thuộc 6 huyện Trong đó, miền núi Quảng Bình có 2 huyện Minh Hoá (19 xế, 1 thị trắn) và

Tuyên Hoá (7ð xd, 1 thị trắn) với điện tích 2.374,07 km?, chiếm ð0, 2% điện tích tự nhiên của tỉnh; Quảng Trị có 2 huyện Hướng Hod (20 xd, 2 thị trắn)

và Đakrông (13 xố, 1 thị trấn) có điện tích 2.559 km”, chiếm 31,78% điện

tích tự nhiên của tỉnh; Thừa Thiên Huế có 2 huyện Nam Đông (10 xã, 1 thị

tran) va A Ludi (20 xã, 1 thị trắn) có điện tích 1.879,54 km”, chiếm 37,19%

diện tích tự nhiên của tỉnh!,

Đến năm 2005 đân số toàn vùng có 283.083 người, chiếm gần 12% dan

số toàn vùng, trong đó Quảng Bình có 122.946 người (chiếm 14,83%),

Quảng Trị có 98.445 người (chiếm 15,75%), Thừa Thiên- Huế có 61.692

người (chiếm 5,46%), người Kinh chiếm khoảng 76% tổng dân số trong

vùng

- Đất đai

Mặc dù không được bằng như các vùng khác như Đông- Nam Bộ,

Tây Nguyên, nhưng đất đai vẫn được xem là một thế mạnh đáng kể nhất

* Như đã xác định trong phạm vi nghiên cứu, khu vực miền núi trong đối tượng nghiên cứu của để tài này chỉ tập trung ở 6 huyện miền núi của 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, do

vậy số liệu này là thống kê từ 6 huyện đó

1 Nguồn: Niên giám thống kê năm 2004 của các tỉnh

Trang 20

` ACIS ath [ra ah far an a, ged

của vùng, đây là điều kiện đê mở mang sản xuất nông nghiép, phat trién

` A : k ~ aS aN Z+ ý 2 z Ầ

toàn diện kinh tế- xã hội của khu vực miễn núi bắc miễn Trung Có thé

fy ad, tye Tra

nêu một sô loại đât có tính nôi bật sau:

+ Đất nâu đỏ phát triển trên nền đá bazan là một loại đất quý có rất nhiều ở vùng tây của huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị, đây là loại đất

có tầng phân hóa dày, màu đỏ thấm, cấu trúc hạt to, độ tơi xốp cao, rất

thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cả

phê

+ Đất nâu đỏ phát triển trên nền đá vôi, đây là loại đất tốt giàu

mùn, cầu trúc tốt, có phản ứng chua vừa phải và thích hợp với các loại

cây nông nghiệp Loại đất này tuy có điện tích không lớn nhưng lại có rải

rác hầu hết ở các huyện miễn núi của khu vực

+ Đất nâu vàng (Xanthic Eerrasols) được hình thành trên do khí hậu nhiệt đơi ẩm mưa nhiều đã làm phân hóa các loại đá macma bazơ và

trung tính, đá vôi, đá bazan Tuy thích hợp với nhiều loại cây trỗng như

hỗ tiêu, cây ăn quả, nhưng do tầng đất mỏng, dễ rửa trôi do tác động của con người và thời tiết nên việc bảo vệ nó trong quá trình sản xuất

luôn được đặt ra hết sức cần trọng Loại đất này có nhiều ở các huyện

Tuyên Hóa, Hướng Hóa tỉnh Quảng Bình

+ Đất mùn đỏ trên núi (Humie Ferrasols), đây là loại đất Ferralit

phát triển trên nền đá macma bazơ, trung tính và đá vôi 6 dé cao tử 700

đến 900m trong điều kiện mưa âm nhiễu, do đó đất rất giàu mùn (trên

B%), nhất là tầng đất mặt Đất có nhiều ở vùng cao các huyện Nam Đông

(Thừa Thiên- Huế), Hướng Hóa, Đakrông (Quảng Trị)

Trên nền đất ấy, mỗi một địa phương có thể phát triển những loại

cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu, thể nhưỡng, nhằm tận

dụng những ưu thế, bạn chế những ảnh hưởng tiêu cực do tự nhiên

mang lại Có thể thấy hoạt động sản xuất dựa trên nền của tài nguyên đất đai ở các địa phương như sau

+ Đối uới miền núi tỉnh Quảng Binh

Do có khí hậu tương đối khô nóng, địa hình lại bị chia cắt, độ đốc

lớn nên cây trồng ở đây chủ yếu là cao su, đâu tằm, hê tiêu Sản phẩm cây công nghiệp đài ngày chủ yếu là nguyên liệu chưa qua chế biến, giá tri-gia tăng hạn chế và khối lượng sản xuất nhỏ Để mở mang phát triển,

Trang 21

đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn và đặc biệt là cần xác định, én dinh thi

trường để có các giải pháp tổ chức đầu tư phát triển phủ hợp Hiện nay, cây công nghiệp dài ngày ở miền núi là 7.944,2 ha Cây lâm nghiệp thích hợp có thông, bạch đàn, keo Sản phẩm nỗi bật nổi bật của vùng là nhựa thông và mủ cao su Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày được mở rộng nhờ chuyển một phần diện tích cây lượng thực kém hiệu quả sang trồng các loại cây lạc, đậu, ớt, vừng với hơn 5.000 ha Cây ăn quả có giá trị cao

tăng nhanh trong những năm gần đây như vải thiểu, xoài ghép, hằng xiêm, nhãn, quýt với điện tích lên đến 1.143 ha, tăng 977 ha so với năm

1990 Tuy nhiên, trong vùng vẫn trồng các giống cây bản địa như cam, chanh, bưởi, mít Đến nay các giống cây này phần lớn đã thoái hoá, năng

suất chất lượng và giá trị thương phẩm thấp

+ Vùng núi tỉnh Quảng Trị Có thể phân thành hai vùng có sự khác

nhau tương đối rõ rệt Phía Tây Trường Sơn, đất đai màu mỡ thích hợp với

cây công nghiệp như cao su, cà phê, chè và cây ăn quả như chuối, chanh, mãng cầu, hồng xiêm Phía đông đất xấu, chưa đưa vào sử dụng nhiều, đang thử nghiệm trồng các cây công nghiệp như cao su, mía, lạc, cây ăn quả Trong vùng, cây lâm nghiệp thích hợp là thông, keo, bạch đàn Nông nghiệp được coi là ngành kinh tế chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của

miễn núi Quảng Trị, thu hút trên 90% lao động của vùng Đặc biệt vùng đồng bào đân tộc thiểu số, cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp chiếm gần

100%, chủ yếu là ngành trồng trọt các loại cây lương thực Qua sản xuất

đã xác định được các loại cây công nghiệp như cà phê, chè, tiêu, cao su, sắn cao sản là các loại cây chủ lực, thế mạnh trong vùng

+ Vùng núi tỉnh Thừa Thiên Huế Địa hình có độ đắc cao, nhìn chung

đất đai ở vùng miền núi tỉnh Thừa Thiên- Huế đất xấu hơn so với các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị G đây cây công nghiệp thích hợp là cao su, lạc Nếu hệ thống thuỷ lợi tốt sẽ cho phép phát triển một số vùng trồng mía tập trung Cây ăn quả thích hợp là cam, quýt Cây lương thực có sắn, ngô, khoai Cây lâm nghiệp có tre, luỗng, thông, keo và bạch đàn khá phát triển

Đến năm 2005, điện tích đất trồng lúa khoảng 2700ha, chủ yếu ở A Lưới với

khoảng 1900ha, song năng suất lúa của A Lưới rất thấp

- Tai nguyên rừng

Những năm đầu thế kỷ XX đại bộ phận đất đai vùng núi Bắc miền

Trung được bao phủ bởi rừng, đặc trưng là kiểu rừng xanh âm nhiệt đói

Trang 22

với nhiều loại gỗ quý như lim, sén, táu, vàng tâm, gụ Thế nhưng từ năm

1945 đến nay, bên cạnh bị chiến tranh tàn phá nặng nề, việc khai thác

bừa bãi của con người, đặc biệt là việc chặt phá rừng để lấy đất tring cây lương thực làm cho rừng miền núi Bắc miền Trung bị suy kiệt một cách

nhanh chóng Nhiều khu rừng tự nhiên có giá trị ở vùng núi Bắc miễn

Trung đã biến mất, thay vào đó là các trảng cây bụi hay trắng có chịu hạn hoặc các thám rừng trồng đơn loài như bạch đàn, thông, keo hoa vàng, keo nứa, cao su Do rừng bị tàn phá quá nặng nề đã gây nên nhiều

hậu quả như: đất đai bị xói mòn rửa trôi canxi, magiê, nên đất khá chua, hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp (đất có hàm lượng chất hữu cơ nhỏ

hơn 3% chiếm tối trên 90% diện tích đất trắng, đôi nút trọc), sông hồ bị ô

nhiễm, nguồn nước ngầm bị giảm sút do khai thác quá mức nên càng nhanh chóng cạn kiệt, tần suất bão, lũ lụt tăng lên, nắng hạn liên tiếp

xây ra gay gắt

- Tai nguyên khoáng san

Khoáng sản vùng núi Bắc miền Trung tương đối phong phú và da dạng về chúng loại nhưng phân tán, manh mún, trữ lượng nhỏ, khó khăn cho khai thác công nghiệp Chỉ có các loại khoáng vật: cát, titan, đá hoa,

đá vôi, cao lanh, nước khoáng là có trữ lượng tương đối lớn, có thể khai

thác công nghiệp thuận lợi, nhất là đá vôi ở phía bắc huyện Tuyên Hóa

có trữ lượng lớn thuận lợi cho việc phát triển ngành sản xuất xi măng

(Ciment)

1.9.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội

1.2.2.1 Đặc điểm kinh tê

Đặc điểm nổi bật nhất trong hoạt động kinh tế ở khu vực là sự đan xen nhiều trình độ sản xuất trong cùng một khu vực Sự đan xen đó thể hiện qua cơ sở phát triển của từng cộng đồng các tộc người, phát triển nhất là người Kinh, với hoạt động sản xuất đang tiếp cận dân theo

phương thức hiện đại Đời sống và các hoạt động kinh tế của bà con các

dân tộc thiểu số đến nay còn rất thấp kém, đốt rừng làm nương rẫy, săn bắt, hái lượm cùng với sản xuất nông nghiệp là những hoạt động kinh tế chủ yếu, vẫn còn một số nhóm cư đân hái lượm, săn bắt các sản phẩm từ

tự nhiên là con đường mưu sinh duy nhất

Nền kinh tế nông nghiệp nương rẫy lạc hậu, sản xuất mang tính tự

nhiên, tự cung tự cấp, phương thức sản xuất nỗi bật là canh tác nương

Trang 23

rẫy, săn bắt và hái lượm đang tồn tại ở rất nhiều vàng đồng bào dân tộc

thiểu số, nhất là các vùng sâu, vùng xa Do canh tác dựa vào thiên nhiên nên sau một vài năm đất đai bạc màu, năng suất giảm dần, buộc người dân phải khai phá đất rừng mới, tiếp tục sống cuộc sống du canh, du cư Riêng đối với người dân tộc thiểu số có một số đặc điểm nổi trội như sau:

- Hình thức canh tác là phát, đốt, chọc, tỉa với những công cụ thô sơ

như đao phát, rìu chặt, gậy chọc lỗ Đa số đồng bào du canh, đốt rừng làm nương rẫy theo chu trình sử dụng vài ba năm Năng suất lao động thấp và bấp bênh Săn bắt vẫn là một hoạt động đáng kể từ xa xưa mãi cho tới những năm 70 của thế kỷ XX Tuy nhiên, vẫn có một số bộ phận dân cư biết sử dụng những triển đất ẩm thấp ở ven suối, ven sông để làm ruộng nước Lợn, gà, đê được nuôi bằng hình thức thả rông

- Phân công lao động chưa phát triển, có tính chất tự nhiên theo giới

tính Các ngành nghề thủ công nghèo nàn, ít phát triển Thời gian lao dộng nhàn rỗi của ba con dân tộc thiểu số là rất lớn (khoảng 60%/năm)

- Các hoạt động trao đổi nông- lâm- thể sản đã có từ khá lâu giữa các bộ phận người đân tộc thiểu số với người Kinh đồng bằng, nhưng chỉ

giới hạn trong phạm vi đem các nông- lâm sản khai thác được từ rừng và

một Ít nông sản bán cho những thương nhân để đổi lấy nhu yếu phẩm và vật dụng phục vụ đời sống Vì thế việc hình thành chợ và các trung tâm buôn bán ở vùng đẳng bào dân tộc thiểu số thường chủ yếu là tự phát Mặc dù Nhà nước đã đầu tư rất lớn cho chương trình định canh định

cư nhưng do nhiều nguyên nhân, đến nay hiện tượng du canh, du cư vẫn

còn tiếp điễn ở một số tộc người Nền nông nghiệp độc canh, tự cung tự cấp còn quá nhỏ bé, lạc hậu vẫn còn kéo đài đai dẫng ở nhiều nơi Nguyên nhân của tình trạng này là do trình độ văn hóa, đân trí thấp kém, hiểu biết về kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất thâm canh thiếu, sản xuất nông

nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên

Trang 24

khoảng 24% Dân tộc thiểu số gồm có các nhóm như người Chứt (gồm các nhóm Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liéng, Tu Vang, Pa Léng, Xo Lang, Tơ

Hụng, Chà Cùi, Tắc Cùi, Umo, Xà Lá Vàng) nhưng ở đây chỉ tập trung

các nhóm Sách, Mày, Rục, Arem, Mã Liằng là chủ yếu Dân tộc Bru-Vân

Kiều (gồm các nhóm: Vân Kiểu, Khia, Ma Coong, Tri Dan téc Ta Oi, Pa

Ñô, Pa Hi (Ba hi), Co tu (gim cdc nhóm: Ca Tu, Cao, Hạ, Phương, Ca

Tang) Bên cạnh đó một số người thuộc cdc dan Thỏ, Thái, Mường, Lào cũng đã đến cư trú trong những năm gần đây

Rết quả các công trình nghiên cứu về cư đân vùng miền núi các tỉnh

bắc miền Trung cho thấy, tuy số dân các dân tộc thiểu số không đông nhưng địa bàn cư trú lại rất rộng, chiếm trên 80% điện tích trong vùng

Đặc biệt ở Quảng Bình, dân tộc thuộc nhóm người Chứt mới phát hiện cách đây 5-6 năm, lúc đó đang ở trong hang đá, mặc dù đã đưa về định canh, định cư nhưng họ không chịu ở, thích trở lại ở trong hang đá, đời sống của

những nhóm người này rất thấp, 100% thuộc đạng đói, nghèo Nhìn tổng

thể, trong cư trú, sự đan xen giữa nhiều thành phần dân tộc trong một khu vực địa lý ngày càng chiếm ưu thế Người Kinh thường chiếm số đông ở các khu vực thị trấn, gần các đường giao thông

Sự có mặt ngày càng đông người Kinh trên các vàng đất này góp phần

tích cực vào sự nghiệp thúc đẩy kinh tế- xã hội- văn hóa vùng miễn núi phát triển, đưa nền kinh tế mang tính chất tự nhiên, tự cung, tự cấp vốn có

từ ngàn đời bước dẫn vào quỹ đạo của nền kinh tế hàng hóa

* Về uăn hóa

Một nét có tính nỗi bật giữa nhân tố làng vùng núi ở đây là tính mở ngày càng thể hiện rõ nét hơn ở các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Hệ thống cấu trúc làng nước theo một diện mạo mở, tính nội làng của các thiết chế cộng đồng rất thấp và nỗi trội lên tính khu vực của văn hóa làng'!

Trong quan hệ giao tiếp của người dân các dân tộc thiểu số vùng núi

Bắc miễn Trung nễi bật là thái độ cổi mở, rộng rãi, dễ tin người, quý trọng khách và sống rất thật thà Khách của một người là khách của cả nhà, cả

làng và mọi ứng xử đều tổ ra thân thiện, đặc biệt đồng bào các dân tộc thiểu số rất coi trọng lòng tốt và chữ tín Nếu trong làng có người nghèo

! Dựa theo kết quả công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khác Thái, công bố tại cuộc hội thảo

"Bảo tần và phát huy văn hóa truyền thống Quảng Binh", Ding Héi, 1995"

Trang 25

khé, mọi người đều phải có trách nhiệm giúp đỡ vượt qua hoạn nạn, không

chấp nhận việc đi ăn xin Điều này thé hiện tính cộng đồng cao, tỉnh thần

đoàn kết, tương thân tương ái của đồng bào miễn núi, truyền thống tốt đẹp

này cân phải được giữ gìn và phát huy, nhất là trong công tác tự giúp nhau

để xoá đói, giảm nghèo hiện nay

Có thể khái quát một số nét có tính đặc trưng chung nhất của văn hóa người dân vàng miễn núi Bắc miền Trung như sau

- Đứng trước thiên nhiên đa dạng và ngày càng trở nên khắc nghiệt,

họ vẫn luôn tĩnh tại trước mọi biến đổi, không hối hả, chụp giật như ở các vùng khác

- Thường thụ động trước xung đột lợi ích trong nội bộ cộng đồng, tính cộng đồng cố kết rất chặt chẽ giữa các quần thé dan cư, coi sự nghèo đói là không chỉ riêng ai mà là của cả một cộng đồng Chính vì vậy, trước những xung đột lợi ích họ thường lùi xa để tự vệ và đến khi không lài được nữa thi

bỗ đi nơi khác

- Rất coi trọng các chuẩn mực truyền thống của dân tộc như: nhân ái,

vị tha, kính già, yêu trễ

- Nhìn chung đa số họ nghèo nhưng rất ít khi bị đói (do nhu câu đời sống đơn giản, có thể hái, lượm là có cái ăn), rất coi trọng lẽ phải, vì vậy họ thường coi trọng chủ nghĩa bình quân trong các quan hệ ứng xử, đặc biệt

luôn muốn giữ thể điện của mình trước cộng đồng, làng bản Không thích đi làm thuê (ở một số nơi xem làm thuê là tôi muốn, là hạ cắp), nếu hoàn cảnh

bắt buộc đi làm thuê thì thường đi đến các địa phương xa để làm thuê

Những đặc tính trên đang ngày một dẫn thay đổi do sự phát triển kinh tế- xã hội, văn hóa, khoa học và kỹ thuật, nhất là sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa người Kinh với các dân tộc bản địa Hơn nữa sự phát triển

mạnh mẽ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện, bưu chính

viễn thông trong những năm 2000 đến nay, đã làm cho một bộ phận người

dân tộc thiểu số bản địa ở gần các khu vực có đông người Kinh, thay đỗi nhanh chóng Một số người trong họ đã biết làm kinh tế hàng hóa, biết tìm cách làm giàu Đó là những hạt nhân có thể góp phần bắn phá một cách

công hiệu vào các hủ tục, tập quán lạc bậu của người dân bản địa; đồng thời

nó cũng có thể làm cho các nét đặc trưng của con người sống trong khu vực

dẫn thay đổi theo cho phù hợp với điều kiện mới

Trang 26

* Vé trinh dé dan tri

Dân trí và học vấn thấp là một trong những rào cản lớn nhất trong

sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội tại vùng dân tộc thiểu sế miễn núi

So với mặt bằng dân trí vùng đồng bằng, dân trí vùng dân tộc thiểu số còn rất thấp, tỷ lệ người mù chữ và tái mù chữ còn khá cao, trẻ em trong

độ tuổi đến trường thất học trên 40% (phần lớn các em chỉ học đến hết

bậc tiểu học và không học tiếp)

Phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan còn phố biến, lễ hội ăn

uống linh đình trong cưới hỏi, ma chay vẫn còn tổn tại ở một số nơi Các

hủ tục lạc hậu ràng buộc con người, kìm hãm trí tuệ con người, làm cho

con người đễ an bài và chấp nhận thực tại, không thích thay đổi, chưa có

ý chí vươn lên để tiếp thu cái mới Đó chính là căn nguyên sâu xa kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, là nguyên nhân của kinh tế-

xã hội chậm phát triển Đây là những đặc điểm cần phải chú ý để trong quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế- xã hội ving dan tộc, cần đưa sự nghiệp phát triển văn hoá- giáo dục phải đi trước một bước,

mở đường cho phát triển kinh tế Chỉ khi nào trình độ dân trí được nâng

lên, phong tục tập quán, tâm lý xã hội cũ được thay đổi mới hình thành ý

thức công dân của mỗi người dân, tạo ra tiền đề cần thiết cho sự phát

triển

Nhận thức về thế giới của các dân tộc thiểu số vùng núi Bắc miền

Trung được thể hiện thông qua quan niém van vat hitu linh, những thần núi, thần sông, thần cây, thần mặt trời, thần lúa, thần số mệnh được

tôn thờ trong nhà, ngoài rừng với mục đích cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, cuộc sống bình yên và hạnh phúc Quan hệ giữa người với người được giải quyết thông qua các luật tục bao gồm một hệ

thống những điều cấm ky có liên quan đến đời sống sinh hoạt, giao tiếp Những quy định thuộc các lĩnh vực tín ngưỡng, tang ma, cưới xin, tễ chức làng, bản, trật tự trị an và các hoạt động sản xuất được người dân thừa nhận và coi là những phong tục tập quán Tỉnh thần cố kết cộng đồng thể hiện qua tục trả nợ máu, tục cà lơ (kết nghĩa anh em), khi ốm đau họ chỉ

biết mời thầy mo dùng phép ma thuật để chữa trị Lễ cúng bái nặng nề

với hàng chục lợn, gà rất tốn kém, chiếm rất nhiều thời gian và công việc

kiếm sống của bà con, nên đời sống đã khó khăn lại càng khó khăn hơn

Trang 27

* Vé té chite xd hội

Kết cấu tổ chức xã hội ở đây được biểu hiện qua khu cư trú, nguồn nước, khu canh tác, khu săn bắt, chăn nuôi, khu rừng cấm (rừng ma), khu rừng đặt miếu thờ Đối với các dân tộc thiểu số, đặc trưng của làng,

bản thường được bố trí theo hình tròn, hình tứ giác hay hình chữ U hoặc chạy đài theo triển sông, suối Nhà ở là nhà sàn, kỹ thuật xây dựng đơn

giản và được làm bằng các vật liệu lấy từ rừng Họ có đặc điểm sống theo đồng tộc và quây tụ thành các làng bản, do vậy ý nghĩa đồng tộc và vai trò già làng, trưởng bản là hết sức quan trọng, tiếng nói của những người này thể hiện quyển lực nhất định, chỉ phối sự hợp tác hay không và mức

độ hợp tác của người dân bản địa đối với một chủ trương, chính sách của

Đảng và Nhà nước cũng như việc truyền thụ tiến bộ khoa học- kỹ thuật, công nghệ vào trong cộng đồng của họ

Xã hội các dân tộc thiểu số vùng núi Bắc miền Trung chưa phát

triển tới mức phân hoá giai cấp nhưng sự phân hoá giàu nghèo đã được

thể hiện khá rõ Tổ chức gia đình thuộc hình thái gia đình phụ quyển,

người đàn ông già nhất thường là chủ, khi chủ gia đình chết thì quyền

hành và tài sản giao lại cho người con trai cả, các con gái không được chia tài sản Điều này cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phân công lao động ở vùng đồng bào miễn núi, giữa nam và nữ, người đàn ông

trong gia đình có vai trò và tiếng nói rất quan trọng, nhưng công việc

kiếm sống lại phần lớn phụ thuộc vào người phụ nữ, do vậy, năng suất và

hiệu quả lao động thường không cao, đời sống bấp bênh

Tất cả những yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội như vừa nêu

trên đã tác động vừa gián tiếp, vừa trực tiếp đến tỉnh hình phát triển kinh tế- xã hội của vàng núi Bắc miễn Trung, đấy cũng là những gợi suy

dé lựa chọn con đường, hình thức, bước đi và các giải pháp cụ thể phát

triển một vùng kinh tế sinh thái đặc thù đang đặt ra nhiều thách thức trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của vùng

1.9.3 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đôi với khu vực

Nhờ sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực vượt bậc của nhân dân trong cả nước, hơn thập niên qua tình hình kinh tế- xã hội vùng miễn núi- dân tộc cả nước nói chung và miền núi Bắc miền Trung nói riêng đã có nhiều chuyên biến rõ rệt Nhiều chủ trương, chính sách,

Trang 28

biện pháp nhằm thúc day nhanh téc dé phat triển sản xuất, ôn định và nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc của Đảng và Nhà nước đã được Đảng, chính quyền các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế sớm xây dựng thành các kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc miễển núi và đang thực sự đi vào cuộc sống của người dân

nơi đây

Trong khoảng từ năm 1990 trở lại đây, trên địa bàn vủng núi Bắc

miền Trung đã triển khai nhiều dự án bằng các nguồn kinh phí khác nhau, nguồn vốn hỗ trợ trong nước và tử nước ngoài Như Chương trình

327, Chương trình định canh định cư, Chương trình đi dân xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá miễn núi, Chương trình 120, Chương trình

135, Chương trình 134, Chính sách trợ giá, trợ cước Các dự án có nguồn

vốn đầu tư nước ngoài như Dự án PAM, Dự án phủ xanh đất trống, đổi

núi trọc, các Dự án của NGO (các tổ chức phi chính phủ) và một số dự án nhỏ do các nước, các tế chức khác nhau tài trợ như: Dự án an toàn lương

thực, Dự án ICCO Hà Lan, Dự án ARCD, Dự án Giảm nghèo miễn

Trung

Riêng đối với chương trình định canh định cư, Thường vụ Tỉnh uỷ

Quảng Trị đã có Chỉ thị 13- CT/TV ngày 9-8-1990 về một số nhiệm vụ cơ

bản về kinh tế- xã hội miền núi Tiếp đó, các nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ đã để ra nhiệm vụ định canh, định cư cho đồng bào các

dân tộc thiểu số Tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2000 đã thực hiện Quyết

định số 138/2000/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ về hợp nhất các dự

án định canh, định cư, dự án xây dựng trung tâm cụm xã, chính sách hé

trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn, dự án đào tạo cán bộ xã, bản làng vào chương trình 135 Năm 2002 tỉnh đã đầu tư 7 dự án; năm 2003:

13 dự án tại 2 huyện Nam Đông và A Lưới với tổng kinh phí 3.433 triệu

đồng nhằm khai hoang mở rộng điện tích, cung cấp cây giống, hỗ trợ

phân bón, hỗ trợ lập vườn, cải tạo vườn tạp, hỗ trợ bò lai sind, lợn, gia cam

Các chương trình, đự án đó đã tạo ra những cơ sở ban đầu hết sức

quan trọng cho miễn núi các tỉnh bắc miền Trung phát triển kinh tế- xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tỉnh thần cho nhân dân Đấy cũng là những tiền đề cơ bản để nhân dân các dân tộc trong khu vực

tạo dựng cho mình những điều kiện cần thiết nhất cho sự nghiệp phát

Trang 29

triển kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tỉnh thần ngày một cao hơn

1.2.4 Ứng dụng các tiễn bộ khoa học, kỹ thuật vào phát triển kinh tế- xã hội ở vùng núi Bắc miền Trung ngày càng được quan

tâm một cách thiết thực hơn

Khoa học- kỹ thuật và công nghệ là yếu tố quyết định đến việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các lợi thế vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và những thế mạnh của vùng núi cả nước nói chung và Bắc miền Trung nói

riêng

Cho đến nay, các cơ sổ nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công

nghệ ở vùng núi Bắc miễn Trung đã áp dụng một số tiến bộ khoa học- kỹ thuật phục vụ sản xuất của đồng bào như: trung tâm khuyến nông các

tỉnh đã đưa các loại giống mới có năng suất cao như ngô Biossed, ngô lai

(LVN 10, LS6), lạc sen lai, đậu xanh, lúa tạp giao, lúa lai bắc ưu 64 ;

các loại cây công nghiệp có hiệu quả kinh tế, đầu tư về vật nuôi như lợn giống, liều tinh lợn ngoại, bò đực giếng F1, bò lai Sind, gà thả vườn

Song song với đầu tư về giống cây trồng, vật nuôi, trung tâm khuyến nông của các tỉnh còn thực hiện nhiều mô hình về chuyển giao kỹ thuật

về trồng trọt và chăn nuôi

Tuy vậy, sự hạn chế về trình độ dân trí phần nào làm cho việc

chuyển giao các tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào khu vực này còn gặp nhiều khó khăn Do thói quen canh tác truyền thống chưa thay đổi đã

không khuyến khích người dân chủ động tiếp cận với các tiến bộ khoa

học- kỹ thuật mới Việc chuyển giao khoa học- kỹ thuật, công nghệ mới

cho các vùng núi, vàng đồng bào dân tộc thiểu số thường khó khăn và tến kém hơn rất nhiều lần so với vùng đồng bằng, trung du bởi dân cư thưa thớt, địa hình tự nhiên không bằng phẳng, giao thông đi lại khó khăn

1.2.5 Tinh thần cân cù, chịu khó, một tế chất hết sức cần thiết cho công cuộc phát triển

Nói đến người đân miền núi bắc miền Trung là ai cũng nghĩ ngay đến những con người có chí khí quật cường, tỉnh thần chịu khó, tấm lòng

kiên trung theo Đảng, theo Bác Hồ đấu tranh vì độc lập tự do cho Tổ

quốc Dù cho cuộc sống đang ngày một đổi thay theo hướng hiện đại, du

Trang 30

cho một số giá trị truyền thống tốt đẹp có thể bị mai một cùng sự phát triển của kinh tế thị trường, nhưng ở trong tiềm thức của con người miễn

núi bắc miễn Trung vẫn luôn hiện hữu những gì đã trải qua, những gì họ

đã chiến đấu, hy sinh để giành được Trong chiến tranh, gian khể là thế,

hy sinh là thế, nhưng người dan cdc dan tộc sống trên địa bàn này vẫn

luôn bám đất, bám làng để nuôi nắng bộ đội, để chiến đấu đến thắng lợi

hoản toản

Với những con người đã được thử thách qua khắc nghiệt của thiên

tai, địch hoạ triển miên, trong sự nghiệp phát triển kinh tế, một lần nữa tỉnh thần ngoan cường, cần củ, chịu khó ngày nào lại được phát huy, vấn

để còn lại là các cấp lãnh đạo cần phải tìm ra cho người đân nơi đây một

con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tại của họ, thì các tố

chất tốt đẹp đó sẽ biến thành sức mạnh nội lực, khắc phục được những

bạn chế do điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội để lại, vươn lên

1,2.6 Tiềm năng du lịch

Vùng núi Bắc miền Trung là nơi cư ngụ của nhiễu dân tộc bản địa, đây là nơi lưu giữ nhiều thành tố văn hóa truyền thống lâu đời thuần

Việt của các dân tộc Việt Nam anh em Có thể nói rằng, tiềm năng du

lịch lớn nhất của khu vực là tài sản của thiên nhiên, kế đến mới là

những nét văn hóa truyền thống tử ngàn đời được lưu giữ, truyền bá của

các dân tộc thiểu số đến ngày nay Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng

rừng núi vốn một thời được coi là "thâm sơn cùng cốc" này một không gian núi rừng đầy bí An, với những đòng sông con suối khi nhìn thấy vừa như ngỡ ngàn, vừa như hoang dại Trong điều kiện cuộc sống hiện đại,

những tiện nghỉ vật chất xa hoa nơi đô thị đang làm cho con người ngày càng thêm bị xơ cứng bởi những tác phẩm ' công nghiệp, thì những cánh rừng, những đòng sông, con suối vừa hoang vu, vửa kỳ vĩ, vừa nên

thơ nhưng cũng đầy bí hiểm là sự thôi thúc để tìm hiểu, thưởng ngoạn, khám phá và thư giãn Trong sự khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết, sự nghèo nàn có phần hơi keo kiệt của thế giới tự nhiên, vùng miễn núi Bắc miễn Trung vẫn đang ấn chứa nhiều điều kỳ bí, lôi cuốn, vì vậy nó luôn

là một trong những điều kiện để lãnh đạo và nhân dân trong vùng tận dụng khai thác phục vụ sự nghiệp xây đựng và phát triển kinh tế cho mình

31

Trang 31

2 Ậ a” a £ z eye 2 AS ey * : `

Có thê nêu một số nét có tính nổi trội của tiềm năng du lịch ving

như sau

1.2.6.1 Dỉi sản tự nhiên

- Đường Trường Sơn- đường Hà Chí Minh huyền thoại

- Rừng Quốc gia Bạch Mã ở tỉnh Thừa Thiên- Huế Rừng cách thành

phố Huế khoảng 50km về phía nam Với tổng diện tích rừng là 22.031ha

và những tài nguyên sinh vật phong phú, là sức hấp dẫn đặc biệt đối với

du khách yêu thích du lịch sinh thái và nghiên cứu Dặc điểm khí hậu ở

đây gần giống Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, nhưng vì Bạch Mã ở gần biển nên

nhiệt độ mùa đông không bao giờ dưới 4°C và nhiệt độ cao nhất vào mùa

hè không vượt qua 26°C

- Khu danh thắng Đakrông Quảng Trị Khu danh thắng Đakrông là tên gọi chung cho một khu vực có khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, trữ tình của vùng núi phía tây Quảng Trị Ở đó có sông Đakrông xinh đẹp ấn dấu trong mình những huyền thoại đầy chất sử thi và nhân văn, có cầu Đalkrông duyên dáng giữa ngút ngàn trời mây, sông nước, núi rừng và có

mỏ nước khoáng tự nhiên quý giá Nơi đây là điểm nút quan trọng của Đường mòn Hồ Chí Minh và Đường 9- đường xuyên Á qua cửa khẩu quốc

tế Lao Bảo- Đen Sa Vẫn

- Của khẩu Lao Bdo Quảng Trị Của khẩu Lao Bảo nằm ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Đây là một cửa khẩu quan trọng giữa Việt Nam và Lào, gần nơi có nhà tù Lao Bảo của Pháp xây để giam giữ các chiến sĩ cách mạng Lao Bảo cách thị xã Đông Hà khoảng 80 km, ngay cạnh sông Sêpôn Chợ Lao Bảo cách cửa khẩu biên giới khoảng 2 km Nhiều hàng hóa của Thái Lan mang từ Lào sang được buôn bán ở đây

Chợ ở đây tương đối sẩm uất, hàng hóa phong phú Lao Bảo cách Thái

Lan 950 km Từ năm 1993, Lao Bảo trổ thành một cửa khẩu quốc tế

quan trọng về thương mại và du lịch giữa Lào, Thái Lan với các tỉnh miễn Trung Việt Nam

- Ring Ri Linh Ru Linh là một khu rừng tiêu biểu cho rừng rậm

nhiệt đới, nằm ở địa phận huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Tham thực

vật ở Rú Lịnh thuộc kiểu rừng khép kín, xanh tốt quanh năm với số

lượng và chủng loại phong phú có nguồn gốc chủ yếu từ khu hệ thực vật

đệ tam Việt Bắc- Hoa Nam với khoảng 200 loại, trong đó có 72 loại họ gỗ

Trang 32

với các loại gỗ quý hiếm Động vat kha da dang, cé trén 13 loai thu va 60 loại chim quý Đây là nơi du lịch sinh thái lý tưởng

- Động Phong Nha Động Phong Nha nằm ở vùng núi đá vôi Kẻ

Bảng, thuộc xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, cách thị xã

Đẳng Hới 50 km về phía tây bắc Từ Đồng Hới, đi ô tô đến xã Sơn Trạch,

sau đó đi thuyền trên sông Son, khoảng 30 phút thì đến động

Động Phong Nha có chiều dai 13.000m gồm 14 hang do con sông ngầm hòa tan đá vôi tạo thành Các hang động có chiều cao từ 10 đến 40m, ngay cửa hang có nhiều nhủ đá rủ xuống giống như hình những cái răng Càng vào sâu bên trong, cảnh trí tự nhiên càng huyền ảo

Tháng 4 năm 1997, một cuộc hội thảo khoa học về đi tích danh

thắng Phong Nha- Xuân Sơn được tổ chức tại Quảng Bình Kết quả nghiên cứu khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất: Hang nước đài nhất; Cửa hang cao và rộng nhất; Bãi cát và đá rộng đẹp nhất; Hồ ngầm đẹp nhất; Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất; Dòng sông ngầm dài nhất

Việt Nam (13.969m); Hang khô rộng và đẹp nhất

Điều đặc biệt lý thú là tại khu đi tích Phong Nha- Kẻ Bàng có cả

một khu rừng nguyên sinh đang tổn tại nhiều loại động thực vật quý hiếm như vượn bạc má, cá chép tím, rùa vàng, và có cây chò hàng ngàn năm tuổi Bởi những nét đặc sắc như vậy, động Phong Nha đã và sẽ là

một điểm du lịch nỗi tiếng của Việt Nam

- Khu vite Bai Dinh va khu uực Đôi 37 Khu vực này nằm 6 huyện

Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, có địa hình rất đa dạng và thú vị, tại đây có

Bãi Dinh, Đồi 37, Hang Dơi, Hang Tiên, Cholo, Cổng Trời trên đường

12 rất thuận lợi cho việc khai thác du lịch

- Suối nước bhoáng Bang Đây là nguồn nước khoáng quí hiếm có

nhiệt độ sôi khoảng 105°C, ở cách thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Binh

60km về phía tây

Ngoài những khu sinh thái tự nhiên nỗi tiếng nêu trên, rải rác cũng

còn có các hang động, núi, sông, suối, danh thắng khác

1.2.6.3 Di sản lịch sử- uăn hóa

- Hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra và Khe Sanh

33

Trang 33

Hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra nằm trên địa phận tỉnh Quảng Tri Hàng rào điện tử nổi tiếng trong cuộc xâm lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam và đã mang chính tên tác giả của nó Bộ trưởng Quốc phòng Mắc- na-ma-ra Mỹ thiết lập ra hàng rào điện tử này nhằm kiểm soát và ngăn cần sự chỉ viện từ Bắc vào Nam của quân dân Việt Nam Toàn bộ tuyến hàng rào đều có các máy thu tiếng động Mỗi khi có tiếng chân người,

tiếng động cơ, các máy thu tiếng động này lập tức báo về trung tâm Sau

khi nhận được tín biệu, máy bay sẽ đến oanh kích Suốt trong 24/ 24 giờ, máy móc và thiết bị đều làm việc Hàng rao còn được trải mìn trên một

vủng dải 200 km, rộng 5 km Chỉ phí cho hàng rào khoảng 800 triệu USD/năm

Khe Sanh thuộc huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị, đây là một

thung lũng mỗi chiều ngang, dọc chưa đến 10 km, bốn bể là núi rừng

trùng điệp, có một dòng khe tên là Khe Sanh chảy qua Trong những

năm 1966- 1967 đây là một cứ điểm quan trọng bậc nhất của Mỹ ở miền

Trung, một tuyến phòng thủ được coi là bất khả xâm phạm Các cứ điểm

bao quanh Khe Sanh gồm có ba cụm: Cứ điểm Tà Cơn có sân bay đã

chiến; cứ điểm Làng Vậy ở phía tây nam Tà Cơn; cứ điểm Hướng Hóa ở

phía Đông Làng Vậy

Đây là nơi để các thế hệ thanh- thiếu niên cũng như nhân dân cả nước tìm đến để ôn lại và hun đúc truyền thống truyền thống đấu tranh

quất cường của nhân dân ta thời chống Mỹ, đồng thời cũng là nơi thu hút khách nước ngoài, nhất là cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt

Nam

- Tìm hiểu những nét uăn hóa hoang sở đặc sắc của các tộc người

bdn dia như Pa Có, Tả Ôi ở A Lưới Cách thành phố Huế khoảng 70 km

tính theo quốc lộ số 49, du khách đến với A Lưới, ngoài tham quan nghiên cứu những cánh rừng nhiệt đói, còn có cơ hội tìm hiểu phong tục, tập quán và các nếp sinh hoạt độc đáo của đồng bào Pa Cô, Tà Ôi Sự hấp dẫn của điểm du lịch A Lưới còn được tăng lên gấp bội khi đi thăm ải tích đường mòn Hề Chí Minh, con đường đã đi vào huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam với những địa

danh A So, Suối Máu, Đôi Thit Bam

34

Trang 34

Các đân tộc bản địa A Lưới còn nỗi tiếng về nghề đệt, nhất là kỹ xảo dệt vải đặc biệt mà không có ở bất cứ nơi nào trên thế giới bằng cách lỗng các hạt cườm vào đồng thời với lúc dệt vải, đã làm cho nhiều du khách nước ngoài và những nhà nghiên cứu nghệ thuật thực sự kinh ngạc

Kho tang văn hóa, văn nghệ dân gian đa dang, thể hiện ở đây có nhiều loại nhạc cụ như trống, thanh la, cổng, chiêng núm, khên, kèn, đàn ống,

đàn Amam, nhị, đàn mài, lồ ô, sáo 6 lỗ, v.v Các dân tộc bản địa còn có

nhiều truyện cỗ truyền miệng với nhiều để tài khác nhau, có những làn điệu mang nét bản sắc văn hóa độc đáo riêng biệt như điệu hát "Oát" là loại hát đối giao duyên nam nữ của người Tà Ôi, ngoài ra còn có làn điệu

Prdoak là hát vui trong sinh nhật, Adang Kon là hát ru trẻ con; hát Sim là

hình thức hát đối nam nữ của người Bru- Vân Kiều; làn điệu dân ca Kà-

Tum, Kà- Lềnh của người Chứt, v.v Mặt khác, từng tộc người còn có

những nghà dệt thủ công riêng biệt với những đường viền hoa vần sắc sảo,

độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc địa phương

Với những đi sản tự nhiên, lịch sử- văn hóa như trên đã tạo cho khu

vực miễn núi Bắc miền Trung có tiềm năng du lịch rất lớn Trong điều kiện hiện nay, hệ thống giao thông liên vùng đã được thông suốt, nếu các

tỉnh trong khu vực biết cách khai thác hiệu quả tiềm năng này, du lịch

sẽ là một thế mạnh kinh tế của vùng

Các điều kiện đặc điểm trên, dưới nhiều góc độ khác nhau đang là

những nhân tô hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp tác động dến tình hình phát triển kinh tế- xã hội của uùng Để tận dụng được những ưu thế uà khắc

phục những hơn chế của nó, nhằm phục 0uụ một cách hiệu quả cho công cuộc xây dựng ua phát triển kinh tế, lãnh đạo uà nhân đân các dân tộc uùng miền núi Bắc miền Trung cần phải nỗ lực hơn nữa, cần có những

chính sách, phương án khai thác một cách hiệu quỏ, tiết kiệm, nhằm

không ngừng phát huy những tiềm năng, biến tiềm năng thực sự trỏ

thành súc mạnh nội lực trong công cuộc phát triển binh tế, xóa đói nghỏo, tiễn nhanh lên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa

35

Trang 35

CHƯƠNG 2 _

THỰC TRẠNG KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG MIỄN NÚI BẮC MIỄN TRUNG

2.1 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT

Nhìn một cách tổng quát nền kinh tế miền núi Bắc miền Trung hiện đang là một nền kinh tế tiểu nông khép kín, phương thức canh tác lạc hậu

Hoạt động kinh tế theo kiểu hái, lượm, đốt, chặt, chọc, tỉa vẫn còn hiện hữu

ở một bộ phận người dân tộc thiểu số

Đời sống hiện tại của đại bộ phận cư dân trong vùng miễn núi Bắc miền Trung rất thấp Sự chênh lệch về thu nhập giữa miền núi và đồng

bằng ngày càng lớn, có nơi như Quảng Trị khoảng cách đó đã lên trên 20

lan’ Mét số nơi như xã Trọng Hóa, Dân Hóa huyện Minh Hóa tỉnh Quảng

Bình, thu nhập bình quân đầu người đân tộc thiểu số đến năm 2005 chưa đến 60 nghìn đẳng/người/tháng

Đời sống nhân dân ở miền núi Bắc miền Trung sau hơn 30 năm giải

phóng, mặc dù đã được cải thiện nhiều, nhưng số nghèo đói vẫn còn cao

Nếu tính theo tiêu chí cũ, tình trạng đói nghèo của khu vực năm 2005 có một sự giảm xuống đáng kế (Quảng Bình còn 27,4%, tỉnh Thừa Thiên-Huế

30,7%, tỉnh Quảng Trị còn 21,2%), riêng hộ đồng bào dân tộc thiểu số của

khu vực còn 39,33%, giảm 24,42% so với năm 2000 Song tính theo tiêu chí

mới, tình trạng đói nghèo ở khu vực đang là hiện tượng đáng lo ngại Đến

tháng 6 năm 2005, vùng miền núi tỉnh Thừa Thiên- Huế vẫn còn ð1,82% số

hộ nghèo đói, riêng huyện A Lưới có đến 62,62% số hộ nằm trong tình trạng nghèo đói, trong đó hộ đói là 1160 hộ, chiếm 22,6% tổng hộ hộ nghèo đói của huyện? Một điều đáng lo nhất đối với khu vực là trong khi công cuộc

xóa đói gảm nghèo được diễn ra thuận lợi ở nhiều nơi, thì một số thôn, bản

của miền núi Bắc miền Trung đã xuất hiện tình trạng tái nghèo ở một số

hệ Tỉnh trạng này do nhiều nguyên nhân, những chủ yếu nhất là do tình

1 Báo cáo của Ban dân tộc miễn núi tỉnh Quảng Trị, 12-9- 2005

? UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế- Ban Dân tộc, Báo cáo sơ hết công tác dân tộc 0à miền núi 6 tháng

dẫu năm 200, Huế, 25-6-2005

36

Trang 36

trạng đại dịch cúm gia cầm, lổ mềm, lóng móng ở gia súc và dịch bệnh ở một số loại cây công nghiệp chủ lực như hề tiêu, các loại cây ăn quả đã

làm cho nhiều hộ nông dân vừa thoát nghèo lại rơi vào phá sản Đây là một vấn đề lớn các tỉnh cần quan tâm để có hướng quy hoạch sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện kinh tắ- xã hội của vùng

Bảng 2: Một số chỉ tiêu bình tắ- xã hội cơ bản của 6 huyện miền núi 3

tỉnh Bình- Trị- Thiên (năm 2004)

Chỉ tiêu Q.Bình | Q.Trị | TT- Huế Dién tich (Km?)! 2.559,5 | 2.374 | 1.879,5 Dân số (người)? 122.946 | 98.445 | 61.692 liêng dân tộc thiểu số (%) 10,5 40 40,9 GDP/người/bình quân toàn tỉnh @riệu đẳng) | 4,582 | 4,472 4,928 GDP/người/ riêng miền núi*(triệu đồng) 2,83 2,58 2,86

Từ khi thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phương thức sản xuất và canh tác đời sống, hoạt động kinh tế của người dân

vùng miễn núi Bắc miền Trung, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số đã

từng bước thay đổi Từ tập quán canh tác cũ, đến nay đồng bào dân tộc

thiểu số đã biết dùng cày, bừa với trâu, bò kéo Từ trồng, tỉa quảng canh

trên đất có độ dốc cao, dễ xói mòn, nay người dân đã chú trọng sản xuất

trên đất bằng phẳng, cố định, biết thâm canh, xen canh, sử dụng giống lúa mới, bón phân, dùng thuốc trừ sâu, đa dạng hoá cây trồng trên từng

diện tích canh tác, chăn nuôi các loại gia súc, gia câm đạt hiệu quả kinh

tế khá cao theo mô hình VAC, VACR

Tuy vậy, sự biến chuyển đó quá chậm chạp làm cho nhiều người nhận thấy hình như người dân nơi đây không muốn có sự thay đổi Sự níu kéo những giá trị truyền thống, những tập tục lạc hậu mang tính thiếu chọn lọc đã làm cho sự nghiệp phát triển của vùng ngày cảng tụt

hậu xa hơn so với các vùng khác của đất nước Trong khi nhiều miễn núi

khác như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đời sống vật chất, văn hóa, tỉnh

thần của đồng bào các dân tộc thiểu số có nhiều thay đổi theo hướng tiến

dan đến cuộc sống hiện đại, văn minh, thì ở khu vực miễn nui Bắc miễn

! Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê năm 2004 của 6 huyện miền núi 3 tính Bình- Trị- Thiên

? Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê năm 2004 của 6 huyện miễn núi 3 tỉnh Bình- Trị- Thiên

3 Nguồn: Niên giám thống kê năm 2004 của các tỉnh,

* Nguôn: Tổng hợp từ niên giám thống kê năm 2004 của 6 huyện miền núi 3 tỉnh Bình- Trị- Thiên

37

Trang 37

Trung phương thức hoạt động kinh tế vẫn còn mang đậm yếu tế tự

nhiên, tự cấp tự túc, một phương thức vốn có từ hàng ngàn năm trước

Su tén tại quá lâu phương thức hoạt động kinh tế theo kiểu này đang

kìm hãm các nhân tố phát triển của vùng, nhất là đối với vùng đồng bào

don hết được bom đạn còn sót lại thì việc khai hoang lấy đủ đất sản xuất

cho người dân sẽ không thể thực hiện được

Do đó, phát triển kinh tế- xã hội cho khu vực miền núi để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tỉnh thần của người dân khu

vực các huyện miễn núi nói chung, trong đó người đân tộc thiểu số nói riêng

có một vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát

triên nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đất nước hiện

nay Nó vừa là điều kiện cơ bản để én định khu vực, vờa là sự đền đáp cho

những hy sinh, mất mát mà người dân nơi đây đã chịu đựng qua 2 cuộc cuộc kháng chiến chống đề quốc Pháp và Mỹ xâm lược, đồng thời đó cũng là

ý nguyện của Đảng và nhân dân ta

2.32 PHÁT TRIỀN KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG MIỄN NUI BAC

MIEN TRUNG - THUC TRANG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.2.1 Tình hình thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế- xã hội ở vùng

2.2.1.1 Thực hiện chính sách định canh, định cw dé tao diéu

kién cho đồng bào các dân tộc ẫn định đời sống uà phát triển

Thực hiện chủ trương của Đảng về nhiệm vụ định canh, định cư,

én định cuộc sống cho nhân dân, các địa phương đã triển khai các chương

Trang 38

trình định canh định cư cho đồng bào các đân tộc thiểu số và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân tộc

Tai tinh Quang Binh, trong 8 năm từ năm 1990 đến 1998, 11 dự án

định canh định cư cho 11 xã vùng cao đã được triển khai, thực hiện hỗ

trợ cho 5 tộc người đặc biệt khó khăn Từ 1993 đến 1998 đã tiến hành

đỉnh canh định cư cho 5.453 hộ với 29.292 nhân khẩu Gắn liền với công

tác định canh, định cư, các công trình như trạm xá, trường học ở các xã vùng xa xôi hẻo lánh, vùng đồng bào đân tộc thiểu số được xây đựng và

tiến hành việc giao đất, giao rừng cho người đân chăm sóc, bảo vệ, tạo điều kiện nâng cao thu nhập, việc làm cho người lao động Đến năm 2005

đồng bào đã nhận bảo vệ 12.000 ha rừng, trông mới hơn 900 ha rừng các loại Thông qua công tác bảo vệ, chăm sóc và trằng rừng, thu nhập của

người dân tăng lên đáng kể, thúc đây quá trình bảo vệ, tái tạo vốn rừng ngày càng tốt hơn Công tác định canh định cư gắn với chính sách trợ giúp các tộc người khó khăn (Rục, Arem, Mã Liằng, Mày, Ma Coong) là

những tộc người trước đây có nguy cơ suy giảm đân số, nay đã từng bước

én định và tiến bộ Nhiều bản làng, đồng bào đã bước đầu ý thức được

định canh, định cư và ngày càng thích nghỉ với cách sản xuất mới Bộ

mặt nông thôn miễn núi ngày càng khởi sắc

G Quảng Trị, đến năm 2005 đã tiến hành định canh, định cư cho 9.589 người déng bào các dân tộc thiểu số; trong đó Vân Kiểu: 7.634, Tà

ôi (Pa cô): 1.955 hộ với 77.739 nhân khẩu Đến năm 2002 đã định canh định cư cho 8.899 hộ chiếm 92,8% Nhờ có các dự án định canh, định cư đồng bào các dân tộc thiểu số đã trồng: 1.520,83 ha rừng, chăm sóc

5.079,68 ha, bảo vệ rừng: 4.196,6 ha, khoanh nuôi rừng: 80 ha, trằng cây công nghiệp: 179 ha, lập vườn hộ gia đình 313 ha Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đã đầu tư hơn 16 tỷ đồng để xây dựng 127 giếng nước, 9 km

đường điện, 12 công trình thuỷ lợi, 16,65 km đường giao thông, trạm xá

142,2 m?, nha làm việc: 101m”, trường học 1629,3 m?, đãn dân 1.479 hô

Riêng huyện Hướng Hoá đến nay đã tiến hành định cư cho 100% số thôn

bản và định canh cho 90% số hộ, ổn định sản xuất và đời sống cho đẳng bào các dân tộc thiểu số, bạn chế một phần tình trạng du canh, du cư và

39

Trang 39

khai phá rừng làm rẫy! Ở huyện Đakrông đã định canh, định cư cho 836

hộ, chiếm 43,74%

Đến năm 2005, Thừa Thiên Huế đã căn bản định canh, định cư cho

đồng bào các dân tộc thiểu số Tình trạng thiếu đất sản xuất bước đầu được khắc phục một phần, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt

Xuất hiện nhiều hộ làm kinh tế giỏi theo mô hình VACR (vườn, ao cá,

chăn nuôi, vườn rửng)

Nhờ định canh, định cư, kinh tế miễn núi dân tộc có chuyển biến đáng kế Thể hiện qua các mặt như sau:

- Nông nghiệp ở khu uực miền núi đã có bước phát triển một bát, lấy

sản xuất lương thực làm trọng tâm, coi trọng có cấu mùa uụ, cd cấu giắng, dưa giỗng môi có năng suất cao thay thê các giỗng cũ có năng suất

thấp, tổng sản lượng lương thực không ngừng gia tăng

Ở Quảng Bình, nếu như năm 1990, tổng sản lượng lương thực là 20.181 tấn thì năm 2001 lên đến 34.601 tấn, bình quân hàng năm tăng 5,3% Nhờ chủ động hệ thống tưới tiêu, phòng trử địch bệnh, mở rộng

diện tích nên năng suất và sẵn lượng không ngừng gia tăng Năm 1990 điện tích lúa nước ở miền núi là 5.850 ha, năng suất bình quân 2,36 tấn/

ha, đến năm 2005 diện tích lúa nước là 7.045 ha, năng suất bình quân

3,26 tấn/ ha, trong khi đó năng suất bình quân của cả năm 2001 là 4,10 tấn/ ha Ở Quảng Trị, đã khai hoang và đưa vào canh tác 9.650 ha đất

tréng cây lương thực, trong đó, ruộng nước 1.500 ha Vì vậy, sản lượng lương thực quy thóc bình quân đạt 175 kg/ năm, riêng thóc đạt 96 kg/

năm Ở Thừa Thiên- Huế, nhờ chuyển đổi canh tác và ứng dụng giếng

mới vào sản xuất, năng suất lúa và ngô lai ở vùng miền núi tăng rõ rệt

Năm 2003, năng suất lúa nước bình quân dat 35 dén 45 ta/ha; lac: 15

tạ/ha Xã có năng suất lúa nước bình quân khá cao như Hương Hữu

(Nam Đông): 45 tạ/ha#wu; huyện A Lưới đạt năng suất lúa nước bình

quân 38- 40 ta/ha/vu, riêng xã A Dớt đạt 40 tạ/ha/vụ, xã A Go, Hồng

Thuong: 42- 45 ta/ha/vy.Nhé thuc hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

chuyển đổi cây trồng vật nuôi nên đời sống của nhân dân một số vùng ở miễn núi được cải thiện rõ rệt

{

! Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ huyện Hướng Hoá khoá XII tại Đại hội Đẳng bộ huyện lần

thứ XIV nhiệm kỳ 2006- 2010

40

Trang 40

- Nhờ dịnh canh, định cư, đồng bào các dân tộc thiểu số trổ thành

người chủ thực sự của núi rừng, tham gia bảo uệ uà trồng rừng nên uiệc phá rừng làm rẫy giảm hẳn

Từ năm 1990 đến nay, sản xuất lâm nghiệp đã thay đổi dần cơ cấu

từ khai thác là chủ yếu sang bảo vệ, làm giàu vốn rừng nhằm duy tri, bảo tôn tài nguyên Để khôi phục lại vến rừng bị giảm sút, từ năm 1990

đến năm 2004, bằng nhiều nguồn vốn: vốn vay, viện trợ quốc tế, vốn ngân sách cấp thông qua các chương trình, dự án, vốn tích luỹ từ nguồn

thu thuế tài nguyên rừng, các tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để trồng

rừng Với các nguồn vốn trên, điện tích trồng rừng ở vùng miễn núi ngày

cảng mở rộng Nhờ vậy, các địa phương đã từng bước én định sản xuất và đời sống cho đồng bảo các dân tộc thiêu số

Sản xuất lâm nghiệp phát triển đúng hướng, coi trọng việc xây dựng

và phát triển vốn rừng, giảm khai thác, đẩy mạnh phong trào làm vườn rừng Thông qua công tác bảo vệ và trồng rừng, nông dân miễn núi có thu nhập đáng kể, giải quyết được một phần công ăn việc làm cho một bộ phận dân cư, bước đầu gắn khoanh nuôi bảo vệ rừng với trồng rừng, góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình tái tạo vốn rừng Việc thực hiện

chính sách giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyển sử dụng đất

lâm nghiệp đã có tác đụng tích cực gắn chặt lợi ích của người dân với

nghề rừng, khai thác ngày càng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên rừng và

đất rừng

- Mạng lưới binh doanh phục uụ miễn núi được tổ chức lại một cách

phù hợp hơn, hình thành các đơn 0ị thưởng mại phục 0ụ như Công ty thương mại miền núi, Công ty thưởng mại tổng hợp

Đối với vùng miễn núi, để phục vụ tết hơn cho nhu cầu của sản xuất

và đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, thương nghiệp quốc doanh

có vai trò rất lớn Vì vậy, các tỉnh đã chú ý phát triển mạng lưới thương

nghiệp Từ năm 1994 đến nay, ngoài các công ty thương mại miễn núi, công ty thương mại tổng hợp, còn có sự tham gia cung ứng hàng hoá cho miễn núi của nhiều đơn vị như: Công ty sách- thiết bị trường học, Công

ty dược phẩm, Công ty giống cây trằng Các đơn vị kinh doanh đã cung

ứng các mặt hàng thiết yếu, hàng trợ cước, trợ giá theo văn bản số 7464/

KTTH ngày 30- 12- 1995 của Chính phủ

Ngày đăng: 27/03/2013, 13:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w