1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng thị trường UPCOM lên thành OTC thực sự ở Việt Nam

62 647 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Thị Trường Upcom Lên Thành Otc Thực Sự Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM
Chuyên ngành Khoa Học Kinh Tế
Thể loại Công Trình Dự Thi Giải Thưởng Nghiên Cứu Khoa Học Sinh Viên
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 517,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng thị trường UPCOM lên thành OTC thực sự ở Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

Trang 2

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

o Lý do chọn đề tài

Với số lượng chứng khoán đăng ký giao dịch lớn, doanh số giao dịch cao, phương thức thanh toán linh hoạt, thị trường giao dịch qua quầy (Over the Counter Market - OTC) là một thể chế bậc cao của thị trường chứng khoán Ở Việt Nam, sự ra đời của thị trường UPCoM là một khởi đầu cho sự phát triển thị trường OTC Bài nghiên cứu phân tích và đưa ra các giải pháp để phát triển UPCoM, tạo tiền đề xây dựng OTC ở

Việt Nam hiện nay

o Mục tiêu nghiên cứu

Phát triển thị trường UPCoM, tạo tiền đề xây dựng OTC ở Việt Nam

o Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu sách báo, tài liệu tham khảo, Internet

Sử dụng số liệu thống kê đã có sẵn trên Internet

o Nội dung nghiên cứu

Thị trường UPCoM ở Việt Nam, khó khăn, thuận lợi

Giải pháp phát triển UPCoM, xây dựng thị trường OTC ở Việt Nam

o Đóng góp của đề tài

Tạo nền tảng về cơ sở lý luận Có cái nhìn bao quát về thực trạng thị trường UPCoM

Từ đó có giải pháp khắc phục nhược điểm, tạo tiền đề cho việc xây dựng thị trường OTC sau này

o Hướng phát triển của đề tài

Hoàn thiện thêm về mặt cơ sở lý luận, để đề tài trở thành nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho việc áp dụng sau này

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lý luận chung về thị trường OTC và thị trường UPCoM: 5

1.1 Khái quát thị trường OTC các nước trên thế giới: 7

1.1.1 Thị trường OTC của Mỹ: 7

1.1.2 Thị trường OTC của Nhật Bản: 10

1.1.3 Thị trường OTC Hàn Quốc: 10

1.2 Khái quát về thị trường UPCoM tại Việt Nam: 11

2 Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam qua các năm 14

2.1 Khái quát tình hình hoạt động của Thị trường chứng khoán Việt Nam .14

2.1.1 Sự ra đời các sở giao dịch chứng khoán 14

2.1.2 Quy mô niêm yết tại các sở giao dịch .15

2.1.3 Quy mô hoạt động: 16

2.2 Tình hình hoạt động thị trường phi tập trung ở Việt Nam 20

2.2.1 Quy mô thị trường 20

2.2.2 Đặc điểm: 21

2.3 Thực trạng hoạt động của thị trường UPCoM: 22

2.3.1 Tình hình hoạt động 22

2.3.2 Những đóng góp của thị trường UPCoM 35

2.3.2.1 Thị trường UPCoM tạo sự an toàn hơn trong giao dịch 35

2.3.2.2 Quy định minh bạch giá trên thị trường UPCoM bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư 36 2.3.2.3 UPCoM tạo bước đệm để doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn 37

2.3.3 Những hạn chế và thiếu sót của thị trường UPCoM: 38

2.3.3.1 Hàng hóa trên thị trường UPCoM chưa đa dạng, thanh khoản thấp 38

2.3.3.2 Những quy định đối với UPCoM chưa tạo được cơ chế linh hoạt trong giao dịch - vốn là một đặc trưng hấp dẫn nhất của thị trường tự do 40

2.3.3.3 Hạn chế khác 42

3 Giải pháp phát triển Thị trường UpCoM thành OTC thực sự ở Việt Nam 43

Trang 4

3.1 Biện pháp xây dựng cải thiện thị trường UpCoM 43

3.1.1 Thu hút thêm các doanh nghiệp tham gia UpCoM 43

3.1.1.1 Mở rộng thị trường giao dịch xuống các công ty chứng khoán 43

3.1.1.2 Nâng cấp kĩ thuật công nghệ 43

3.1.2 Thu hút thêm nhà đầu tư tham gia UpCoM 44

3.1.2.1 Tăng biên độ giao động giá: 44

3.1.2.2 Tăng tính thanh khoản bằng cách thực hiện thanh toán T+1 hoặc T+2 45 3.1.2.3 Các thông tin trên thị trường UpCoM phải được minh bạch hóa 46

3.1.2.4 Cần có cơ chế nghiêm ngặt hơn 46

3.1.3 Cần có các nhà tổ chức và tạo lập thị trường 46

3.1.4 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về Thị trường chứng khoán Việt Nam 47

3.2 Các biện pháp xây dựng thị trường UPCoM lên thành thị trường OTC chính thức tại Việt Nam: 48

3.2.1 Các nhà tổ chức và tạo lập thị trường 48

3.2.2 Hệ thống kế toán và những yêu cầu kiểm toán thể hiện đúng sức khoẻ của doanh nghiệp 48

3.2.3 Tổ chức đánh giá và xếp loại mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp 49

3.2.4 Văn hoá công khai và minh bạch trong hoạt động của các doanh nghiệp51 3.2 Các biện pháp xây dựng thị trường OTC tại Việt Nam: 51

3.2.1 Các nhà tổ chức và tạo lập thị trường 51

3.2.2 Hệ thống kế toán và những yêu cầu kiểm toán thể hiện đúng sức khoẻ của doanh nghiệp 53

3.2.3 Tổ chức đánh giá và xếp loại mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp 53

3.2.4 Văn hoá công khai và minh bạch trong hoạt động của các doanh nghiệp55 3.2.5 Cơ chế giao dịch hấp dẫn: 56

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Với tư cách là phương thức khơi thông dòng vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thị trường chứng khoán đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế Thị trường chứng khoán tạo điều kiện để sử dụng vốn có hiệu quả hơn đối với cả người có tiền đầu tư và người vay tiền để đầu tư Bên cạnh đó, Thị trường chứng khoán tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa, cải cách kinh tế thông qua việc phát hành chứng khoán ra nước ngoài Thị trường chứng khoán rất nhạy cảm đối với các hoạt động kinh tế, là thước đo hiệu quả các hoạt động kinh tế và được ví như phong vũ biểu của nền kinh tế, cung cấp thông tin để Chính phủ điều chỉnh và định hướng phát triển kinh tế kịp thời

Từ thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán ở Việt Nam và tầm quan trọng của thị trường chứng khoán đối với hoạt động nền kinh tế, vấn đề đặt ra là cần phải có giải pháp để hoàn thiện và phát triển Thị trường chứng khoán ở Việt Nam phù hợp các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, từng bước hội nhập với thị trường tài chính khu vực và thế giới Hiện nay, một trong những giải pháp trước mắt để hoàn thiện thị trường chứng khoán ở Việt Nam là cần phải từng bước đưa thị trường UPCoM lên thành OTC thực sự Đó cũng là nội dung mà nhóm nghiên cứu tìm hiểu và trình bày trong đề tài này

Trang 6

1 Lý luận chung về thị trường OTC và thị trường UPCoM:

Thị trường OTC hay còn gọi là thị trường phi tập trung, là thị trường được tổ chức không dựa vào một mặt bằng giao dịch cố định như thị trường sàn giao dịch (thị trường giao dịch tập trung), mà dựa vào một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng thông qua sự trợ giúp của các phương tiện thông tin Thị trường OTC không có một không gian giao dịch tập trung Thị trường này thường được các công ty chứng khoán cùng nhau duy trì, việc giao dịch và thông tin được dựa vào hệ thống điện thoại và Internet với sự trợ giúp của các thiết bị đầu cuối

Tính thanh khoản của các loại chứng khoán trên thị trường OTC thường thấp hơn thị trường giao dịch tập trung, chứa đựng nhiều rủi ro hơn, song cũng có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn

Một số đặc trưng cơ bản:

- Nhà đầu tư và tổ chức của các nhà đầu tư: việc tham gia thị trường OTC rất đơn giản Tuy nhiên, hoạt động của các nhà đầu tư trên thị trường không phải là độc lập, mà thường lập thành các nhóm, hội, diễn đàn để trao đổi thông tin với nhau

- Hàng hoá của thị trường: là các loại cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần, có triển vọng phát triển, chuẩn bị niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung hoặc có những lợi thế thương mại riêng biệt

- Việc mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC được thực hiện theo phương thức

“thuận mua, vừa bán” mà không bị bất cứ một lực bên ngoài nào (giới hạn giá, lượng

cổ phiếu…) tác động Nói chung, cơ chế mua - bán các loại chứng khoán trên thị trường OTC theo cơ chế thị trường

- Phương thức mua bán, giao dịch:

+ Bên mua và bên bán trực tiếp gặp nhau để thương lượng, quyết định việc mua

- bán chứng khoán Đây là phương thức phổ biến hiện nay tại Việt Nam

+ Bên mua và bên bán có thể giao dịch thông qua các nhà môi giới chứng khoán Hiện nay, phương thức này ít phổ biến hơn, nhưng xu hướng phát triển của thị trường

Trang 7

thì trong tương lai, phương thức này sẽ chiếm ưu thế hơn so với phương thức trực tiếp mua - bán

- Thu thập thông tin của các loại cổ phiếu: để mua chứng khoán trên thị trường OTC, NĐT thường tìm kiếm thông tin từ các nguồn như:

+ Thông tin từ các báo cáo tài chính : nhìn chung, các công ty cổ phần chưa niêm yết không có báo cáo tài chính được kiểm toán Do những mục đích khác nhau

mà doanh nghiệp có nhiều hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính Mặt khác, việc

có được một bản báo cáo tài chính của doanh nghiệp đối với một người bình thường là điều không hề đơn giản, nhất là trong điều kiện mà ngay bản thân doanh nghiệp không biết thông tin nào nên công bố, thông tin nào không nên Do đó, việc thu thập thông tin từ doanh nghiệp qua con đường chính thức khá khó khăn, nếu nhà đầu tư không có những mối liên hệ nhất định với công ty đó

+ Thu thập thông tin qua các cơ quan chức năng: Theo quy định, doanh nghiệp phải báo cáo tình hình hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư) Tuy nhiên, việc tuân thủ quy định này của các doanh nghiệp không thực sự nghiêm túc hoặc các thông tin cũng rất chung chung Và các cơ quan chức năng cũng không có tránh nhiệm và nghĩa vụ công bố các thông tin của doanh nghiệp Vì vậy, việc có được thông tin từ các cơ quan này gần như là bất khả thi đối với nhà đầu tư Ngoài ra, còn có một tổ chức lưu trữ thông tin về các doanh nghiệp, đó là Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung tâm này lưu trữ thông tin

cơ bản của các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, tính cập nhật của các thông tin này không cao

+ Thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng: khi không thể thu thập thông tin về doanh nghiệp từ các đầu mối thông tin nêu trên, nhà đầu tư có thể thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, nhược điểm của nguồn dữ liệu này là rời rạc, độ tin cậy không cao

+ Thu thập thông tin từ các nguồn khác: thông tin từ những hội, nhóm kinh doanh chứng khoán, thông tin không chính thức từ bên trong doanh nghiệp… Nhìn chung, các nguồn thông tin nêu trên không đủ căn cứ vững chắc và không chính xác

Trang 8

để nhà đầu tư ra quyết định Nhưng trong thực tế, các chứng khoán vẫn được mua bán, chuyển nhượng, thậm chí, tại những thời điểm cao trào, nhiều loại chứng khoán được mua bán, chuyển nhượng rất sôi động

1.1 Khái quát thị trường OTC các nước trên thế giới:

1.1.1 Thị trường OTC của Mỹ:

Thị trường giao dịch qua quầy (OTC - Over the Counter): ở thị trường OTC bạn

có thể thấy hàng nghìn cổ phiếu được bán chủ yếu là cổ phiếu của các công ty mới và nhỏ Thị trường OTC lớn nhất là NASDAQ (National Association of Securities

Dealers Automated Quotation) Những hoạt động kinh doanh trên OTC không phải thông qua những địa điểm trung tâm mà thông qua điện thoại và hệ thống định giá bằng máy tính

Điểm khác biệt rõ ràng giữa thị trường giao dịch tập trung và thị trường OTC là giá cổ phiếu tăng giảm Thị trường giao dịch tập trung là thị trường bán đấu giá Cung

và cầu tạo nên giá của chứng khoán Cổ phiếu được bán cho người trả cao nhất và được mua với giá thấp nhất OTC là thị trường thương lượng: Giá cả được thương lượng giữa người mua và người bán Giá chứng khoán của OTC có thể thay đổi từ nhà tạo thị trường này đến nhà tạo thị trường khác ( Nhà tạo thị trường là một hãng sở hữu một số lượng cổ phiếu đáng kể được bán trên thị trường)

Tên thị trường này được sinh ra bởi những người mua, bán cổ phiếu qua mạng Ngày nay, giao dịch trên OTC thông qua một mạng máy tính được gọi là NMS

Cổ phiếu niêm yết trên NASDAQ phân chia thành hai loại:

♣ Thị trường NASDAQ quốc gia, bao gồm hơn 3,500 công ty lớn hơn và giao dịch năng động hơn

♣ Thị trường Smallcap NASDAQ, bao gồm hơn 1,300 công ty với sự phát triển thấp hơn

OTC và NASDAQ: Đôi khi những thuật ngữ này có thể hoán đổi cho nhau

NASDAQ, nguyên văn là National Association of Securities Dealers Automated Quotation System là một sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ Đây là sàn giao dịch

Trang 9

điện tử lớn nhất tại Hoa Kỳ hiện nay Với khoảng 3.200 giao dịch hàng ngày tại sàn, NASDAQ hiện là sàn giao dịch lớn nhất thế giới

Sàn này được lập năm 1971 bởi (tạm dịch) Hiệp hội Quốc gia các Nhà buôn Chứng khoán

Điều kiện để được niêm yết trên NASDAQ:

• Niêm Yết trên Thị Trường NASDAQ

• Tài sản hữu hình thuần tối thiểu: $US 6 Triệu

• Lợi tức sau thuế: $US 1 Triệu, hoặc

• Tài sản hữu hình thuần: $US 75 Triệu

• Thu nhập: $US 75 Triệu

• Giá trị thị trường: $US 75 Triệu

• Giá bán cổ phần tối thiểu: $US 5

• Số cổ đông: 400

• Vốn cổ đông: $US 15 Triệu

• Giá thị trường công cộng: $US 8 Triệu

• Market Makers: 3

• Quá trình hoạt động: không bắt buộc

Khi được mở ra vào năm 1971, Thị trường cổ phiếu Nasdaq là thị trường cổ phiếu điện tử đầu tiên trên thế giới Ngày nay, hàng chục thị trường trên khắp thế giới đều hoạt động thông qua các màn hình, bao gồm các thị trường ở London, Paris, Tokyo và Hồng Kông Các giao dịch trên thị trường Nasdaq được thực hiện thông qua một thị trường mở, qua một hệ thống các nhà kinh doanh đa chức năng và qua rất nhiều nhà tạo lập thị trường (market maker) cạnh tranh với nhau nhằm giành được các giao dịch của từng loại cổ phiếu Đó là một điểm tương phản với hệ thống được áp

Trang 10

dụng trong các thị trường truyền thống, nơi mà các lệnh đặt mua và đặt bán đối với một loại cổ phiếu nào đó phải được thực hiện thông qua một chuyên gia duy nhất Và bởi vì có rất nhiều nhà tạo lập thị trường nên cùng một lúc có thể thực hiện được nhiều giao dịch hơn

Thị trường Nasdaq đang cố gắng xây dựng một mạng giao dịch toàn cầu, tập trung vào việc báo cáo các giao dịch theo thời gian thực

- Kể từ năm 1992, các chứng khoán chuyển sang được giao dịch vào buổi sáng sớm, đó là lúc thị trường London mở cửa

- Đến năm 1997, ECN tên đầy đủ là mạng giao tiếp điện tử (electronic

communication network) được áp dụng, cho phép các nhà tạo lập thị trường và các tổ chức trên khắp thế giới có thể đấu giá kín với nhau (ẩn danh) Mạng này sẽ kiểm tra các cặp lệnh khớp nhau việc khớp lệnh này có thể thực hiện một cách nhanh chóng Nếu không thấy cặp lệnh nào khớp nhau, giá chào bán và giá chào mua sẽ được công

bố trên thị trường Đọc bảng Thông tin Thị trường của Nasdaq Các cổ phiếu Nasdaq được giao dịch nhiều nhất và khối lượng lớn nhất sẽ được liệt kê trong Bảng Kết quả Thị trường Quốc gia Nasdaq và được phát hành trong mỗi ngày giao dịch Bảng này

có định dạng tương tự như danh sách các cổ phiếu sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) và sàn giao dịch chứng khoán Mỹ (AMEX) Nhưng các ký hiệu giao dịch trong danh sách của NASDAQ có 4 hoặc 5 chữ cái, khác với danh sách của Thị trường NYSE và AMEX, chỉ có 1 đến 3 chữ cái Đây là do rất nhiều công ty niêm yết trên Nasdaq là các công ty nhỏ, hoặc công ty mới xuất hiện, những công ty này

thường muốn đầu tư lại tiền lãi thu được vào hoạt động kinh doanh, ngày càng ít công

ty trả cổ tức cho cổ đông

Ký hiệu giao dịch Tất cả các chứng khoán đều được thể hiện bằng các ký hiệu giao dịch - đó là những chữ viết tắt từ 1 đến 5 chữ cái, (ví dụ: cổ phiếu Lycos (LCOS) ) được dùng để nhận dạng một loại cổ phiếu nào đó trên thị trường mà cổ phiếu đó được giao dịch, và trên các bảng biểu và báo giá cổ phiếu Được phát triển ngay từ lúc đầu vào thế kỷ 19, những ký hiệu chỉ có một chữ cái là đặc biệt có danh tiếng bởi vì

đó là ký hiệu được đặt ra cho những cổ phiếu được giao dịch nhiều nhất Ngày nay,

Trang 11

các ký hiệu giao dịch được chỉ định theo tính sẵn có của cổ phiếu Không có ký hiệu nào là giống nhau thậm chí kể cả ở những thị trường khác nhau

1.1.2 Thị trường OTC của Nhật Bản:

Bên cạnh các Sở giao dịch chứng khoán, tại Nhật Bản còn có các thị trường chứng khoán phi tập trung, tiêu biểu đó là Nhật Bản có hai thị trường OTC cùng hoạt động đồng thời, đó là thị trường Jasdaq và thị trường J-net

Thị trường Jasdaq, hoạt động từ năm 1991 trên cơ sở phát triển thị trường OTC truyền thống hoạt động từ tháng 2/1963 do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Nhật Bản (JSDA) quản lý Luật chứng khoán sửa đổi năm 1983 đã đưa thị trường OTC này vào quỹ đạo quản lý của Nhà nước, cơ chế thương lượng giá tay đôi giữa các công ty chứng khoán và giữa công ty chứng khoán với khách hàng được đổi sang

cơ chế đấu giá tập trung qua hệ thống các nhà tạo lập thị trường Hiện nay trên thị trường Jasdaq, có 449 công ty làm vai trò tạo lập thị trường

Thị trường J-net mới được đưa vào hoạt động từ tháng 5 năm 2000, chịu sự quản

lý trực tiếp của Sở giao dịch chứng khoán Osaka (OSE), được tổ chức dành cho các chứng khoán không được niêm yết trên sở giao dịch nhằm đáp ứng yêu cầu thời gian

và chi phí cho các đối tượng tham gia thị trường, hoạt động theo phương thức thương lượng giá Thành viên của OSE, người đầu tư và trung tâm quản lý được trực tiếp nối mạng với nhau thông qua một mạng điện tử đa tầng, tạo điều kiện cho các đối tượng này có thể chia sẻ thông tin thị trường

1.1.3 Thị trường OTC Hàn Quốc:

Thị truờng OTC truyền thống của Hàn Quốc được thành lập tháng 04/1987 nhằm tạo môi trường hạot động cho các chứng khoán không đựoc niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (KSE), thị trường chịu sự kiểm soát của Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc (KSDA) thành lập năm 1953

Tháng 04/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định tổ chức lại và thúc đẩy phát triển thị trường này bằng việc thành lập thị trường mạng máy tính điện tử (Kosdaq – Korean Securities Dealers Automated Quotation) nhằm tạo điều kiện cho các công ty

Trang 12

mạo hiểm, công ty công nghệ cao, quỹ tương hỗ và các công ty vừa và nhỏ không đủ tiêu chuẩn niêm yết trên thị trường tập trung có thể huy động vốn trực tiếp Thị trường được xây dựng theo mô hình thị trường Nasdaq, tiến hành giao dịch qua mạng điện tử

có sự kiểm soát của trung tâm Các tổ chức niêm yết trên thị trường Kosdaq phải đáp ứng một số tiêu chuẩn cơ bản như mức vốn điều lệ tối thiểu, tỷ lệ phát hành ra công chúng Tuy nhiên, việc đấu giá được thực hiện theo phương thức đấu lệnh tập trung tương tự như Sở giao dịch

1.2 Khái quát về thị trường UPCoM tại Việt Nam:

- Thoả thuận thông thường: là hình thức giao dịch trong đó bên mua, bên bán

tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch và được đại diện giao dịch nhập thông tin vào hệ thống đăng ký giao dịch để xác nhận giao dịch này

• Thời gian giao dịch

Giao dịch thoả thuận:

- Đợt 1 từ 10h00’ đến 11h30’

Trang 13

- Đợt 2 từ 13h30’ đến 15h00’

Vào tất cả các ngày trong tuần từ Thứ 2 đến Thứ 6 trong tuần trừ các ngày nghỉ theo Qui định của Luật Lao động

• Đơn vị yết giá

- Đối với cổ phiếu:100 đồng

- Đối với trái phiếu: không quy định

• Đơn vị giao dịch

Khối lượng giao dịch tối thiểu là mười (10) cổ phiếu hoặc mười (10) trái phiếu

• Mệnh giá chứng khoán

- Mệnh giá cổ phiếu: 10.000 đồng (mười nghìn đồng)/cổ phiếu

- Mệnh giá trái phiếu: 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng)/trái phiếu

• Biên độ dao động

- Đối với giao dịch cổ phiếu là ± 10% Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đối với cổ phiếu được thực hiện theo quy định của trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội theo từng thời kỳ, được Uỷ ban Chứng khoán thay đổi theo tình hình thị trường

- Không áp dụng biên độ dao động giá đối với các giao dịch trái phiếu

• Hiệu lực của lệnh

Lệnh chào mua, chào bán thỏa thuận điện tử có hiệu lực kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống đăng ký giao dịch cho đến khi kết thúc thời gian giao dịch trên hệ thống đăng ký giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị sửa hoặc huỷ bỏ

• Các loại lệnh áp dụng

- Lệnh mua/bán theo phương thức Thoả thuận điện tử;

- Lệnh mua/bán theo phương thức Thoả thuận thông thường

Trang 14

• Hủy và sửa lệnh

- Sửa và huỷ lệnh về giá, khối lượng chỉ có hiệu lực đối với lệnh giao dịch gốc chưa được thực hiện

- Giao dịch thoả thuận đã thực hiện không được phép huỷ

• Giá tham chiếu

- Giá tham chiếu của cổ phiếu đang giao dịch là bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch gần nhất

- Đối với các cổ phiếu mới đăng ký giao dịch, trong ngày giao dịch đầu tiên, trung tâm giao dịch chứng khoán chỉ nhận lệnh giao dịch thỏa thuận điện tử và không áp dụng biên độ dao động giá Nếu trong ngày giao dịch đầu tiên không có giá thực hiện thì giá tham chiếu sẽ được xác định trong ngày giao dịch kế tiếp cho đến khi giá giao dịch được xác lập trên hệ thống

- Trường hợp giao dịch cổ phiếu không hưởng cổ tức và các quyền kèm theo, giá tham chiếu tại ngày không hưởng quyền được xác định theo nguyên tắc lấy giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch gần nhất điều chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận hoặc giá trị các quyền kèm theo

- Trường hợp tách, gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại ngày giao dịch trở lại được xác định theo nguyên tắc lấy giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch thoả thuận điện tử của ngày có giao dịch trước ngày tách, gộp điều chỉnh theo tỷ lệ tách, gộp cổ phiếu

• Thời hạn thanh toán bù trừ: T + 3

• Xử lý lệnh sai trong giờ giao dịch

- Nếu phát hiện ra sai sót lệnh so với lệnh gốc chưa khớp trong giờ giao dịch, Đại diện giao dịch từ xa và Cán bộ Kiểm soát Môi giới sẽ phối hợp với trung tâm đấu giá

chứng khoán Hà Nội tiến hành huỷ lệnh sai và đặt lại lệnh theo lệnh gốc của nhà đầu

Trang 15

- Nếu phát hiện ra sai sót lệnh so với lệnh gốc đã khớp trong giờ giao dịch, công ty chứng khoán sẽ tiến hành thoả thuận với các đối tác và thực hiện việc sửa lệnh theo đúng qui trình sửa lệnh của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

• Xử lý lệnh sau giờ giao dịch

- Trường hợp phát hiện lệnh sai sau giờ giao dịch hoặc không thoải thuận thành công với đối tác, Bên gây ra sai sót sẽ phải bồi thường thiệt hại cho thành viên đối ứng

• Bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi giao dịch

Hai bên tự thoả thuận nhưng không vượt quá 10% (mười) giá trị của giao dịch lỗi

2 Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam qua các năm

2.1 Khái quát tình hình hoạt động của Thị trường chứng khoán Việt Nam

2.1.1 Sự ra đời các sở giao dịch chứng khoán

Tính đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động được gần mười năm Qua gần một thập kỷ, thị trường chứng khoán Việt Nam đã ghi những dấu ấn tích cực trong chặng đường phát triển kinh tế sau 35 năm đất nước thống nhất đất nước, góp phần quan trọng vào sự phát triển thị trường vốn Việt Nam

Sau hơn 3 năm chuẩn bị về khuôn khổ pháp lý, hàng hóa, tổ chức trung gian, cơ

sở vật chất, ngày 20/7/2000, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSTC) đã được thành lập và đi vào hoạt động, đánh dấu sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam Đây là bước đi rất quan trọng trong đời sống kinh tế -

xã hội của đất nước, thể hiện sự hội nhập tất yếu của nền kinh tế Việt Nam với thế giới Với sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo ra một kênh huy động và luân chuyển vốn mới phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là sản phẩm góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngày 11/5/2007, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đổi tên thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)

Trang 16

Ngày 8/3/2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) được

thành lập và đi vào hoạt động Đây là bước đi quan trọng trong việc xây dựng thành

công thị trường sơ cấp, phục vụ có hiệu quả hoạt động phát hành cổ phiếu và trái

phiếu; tổ chức thành công các thị trường giao dịch thứ cấp hiện đại, công bằng và

minh bạch Đến ngày 24/6/2009, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đổi tên

thành Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX)

Ngày 24/6/2009, thị trường UPCoM - sàn giao dịch cổ phiếu của các công ty

đại chúng chưa niêm yết đã được đi vào hoạt động

2.1.2 Quy mô niêm yết tại các sở giao dịch

Bảng 1: Quy mô niêm yết thị trường tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

42.405.017.750.000

167.676.000.000.000

7.683.512.950

000

www.hnx.vn

Trang 17

Bảng 2: Quy mô niêm yết thị trường tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố

Hồ Chí Minh (HOSE) ngày 01/06/2010

2.1.3 Quy mô hoạt động:

Từ quy mô nhỏ bé ban đầu với hai công ty niêm yết (REE và SAM) có vốn điều

lệ tổng cộng khoảng 270 tỷ đồng thì đến ngày 02/06/2010, Thị trường chứng khoán

Việt Nam đã có 531 mã chứng khoán được niêm yết Đảo qua hai Sở Giao dịch chứng khoán, có thể thấy, số lượng Doanh nghiệp nộp hồ sơ xin niêm yết vẫn không ngừng

Trang 18

28.300 tài khoản giao dịch Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so với năm 2004, huy động được 44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần 1%

• Giai đoạn 2006: Sự phát triển đột phá của Thị trường chứng khoán

Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển “đột phá”, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịch sôi động Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-buê

Sự bừng dậy của thị trường non trẻ này đang ngày càng "hút hồn"các nhà đầu tư trong và ngoài nước Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán Việt Nam non trẻ này đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không bao giờ có lại được với khối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm Năm 2006, Thị trường chứng khoán Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số VN-Index tại sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh (HOSTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giao dịch Hà Nội (HASTC) tăng 152,4%

Thị trường chứng khoán Việt Nam 2006: VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP) giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường

• Giai đoạn 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ

Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường.VN-Index đạt đỉnh 1.170,67 điểm HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao động mạnh Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, HASTC-Index dừng ở mức 323,55 điểm, như vậy sau

Trang 19

1 năm hoạt động VN-Index đạt được mức tăng trưởng là 23,3%; HASTC-Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lập vào cuối năm 2006

Thị trường chứng khoán qua một năm hoạt động cũng ghi lại dấu ấn cho những giai đoạn thăng trầm nhất định khi thị trường trải qua những biến động trồi sụt thất thường: giai đoạn thị trường bùng nổ trong 3 tháng đầu năm, thị trường bắt đầu hạ nhiệt và điều chỉnh mạnh vào 5 tháng giữa năm, tiếp đến là một đợt phục hồi trước khi

đi vào thoái trào trong 4 tháng cuối năm

• Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, Thị trường Việt

Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh

Lần đầu tiên chỉ số giá chứng khoán giảm gần 70% trong một năm Năm 2008,

diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam xấu nhất trong suốt hơn tám năm hoạt động Chỉ số giá chứng khoán của cả hai sàn giảm mạnh, đặc biệt HASTC-Index ở dưới mức 100 điểm vào ngày 27/11 So với thời điểm đầu năm 2008, HASTC-Index

và VN-Index giảm tương ứng 67,2% và 66,9%

• Giai đoạn 2009: Năm tăng trưởng bất ngờ và ấn tượng

Tính từ ngày 01/01/2009 đến 31/12/2009 thì VN-Index đã tăng thêm 171,96 điểm từ 312,49 điểm lên đến 494,77 điểm tương đương với mức tăng là 58% so với năm 2008

Theo Bộ tài chính, mức vốn hóa của Thị trường chứng khoán Việt Nam đầu tháng 12 vào khoảng 669 nghìn tỷ đồng, tương đươgn 55% GDP cả năm 2008 So với cuối năm 2008 (225 nghìn tỷ đồng), mức vốn hóa đã tăng gấp 3 lần

Tính trong cả năm 2009, giá trị giao dịch toàn thị trường trên HOSE là 423.299

tỷ đồng và trên HNX là 197.524 tỷ đồng

Trang 20

Bảng 3: Quy mô giao dịch của thị trường chứng khoán 4 năm gần đây

(Trích Báo cáo tổng kết thị trường chứng khoán 2009 và dự báo năm 2010 – Công ty

cổ phần chứng khoán Âu Việt ngày 04/01/2010)

• Kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2010:

Diễn biến thị trường chứng khoán quí 1/2010 phản ánh tình hình tương tự như những năm trước, đó là thời kỳ nghỉ ngơi kéo dài, các doanh nghiệp đang quyết toán năm 2009 và xây dựng kế hoạch cho năm 2010 Ngoài ra, Thị trường chứng khoán quí

1 năm nay còn chịu tác động của những yếu tố khác Cụ thể là, ngoại trừ GDP quí 1 tăng 5,83% so cùng kỳ năm 2009, hầu hết các chỉ số kinh tế vĩ mô khác đạt thấp, tổng thu ngân sách nhà nước chỉ đạt 20% dự toán năm Vì thế, Thị trường chứng khoán

2006 2007 2008 2009 Khối lượng

CP (triệu)

538,5 1.817 2.978 10.432

Giá trị tỷ VNĐ

Trang 21

Việt Nam nhìn chung là đứng yên nếu không nói là giảm so với cuối năm 2009, điều này trái ngược với xu thế vận động trên Thị trường chứng khoán toàn cầu

Trong thời gian tới, Thị trường chứng khoán thế giới tiếp tục tăng do triển vọng phục hồi kinh tế toàn cầu, nhất là nền kinh tế Mỹ làm tăng thêm sự lạc quan về tốc độ phục hồi kinh tế Do đó, Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ tiếp tục nhận được sự

hỗ trợ tích cực của đà phục hồi này Mặc dù sẽ còn có nhiều thách thức trước mắt nhưng năm 2010 được dự đoán sẽ là năm hứa hẹn nhiều triển vọng cho thị trường chứng khoán Việt Nam

2.2 Tình hình hoạt động thị trường phi tập trung ở Việt Nam

Ở Việt nam, Luật công ty ra đời vào năm 1990 Kể từ thời điểm này, các công

ty cổ phần bắt đầu được thành lập và hoạt động Nhưng sau đó 10 năm, trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Việt nam mới đi vào hoạt động Sau 5 năm khai trương, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2005, mới có 26 công ty chính thức niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Hay nói cách khác, thị trường chứng khoán Việt Nam ở thời điểm này chỉ phục vụ cho 26 công ty Nhưng ngoài, 26 công ty nêu trên, còn hàng nghìn cổ phiếu của các công ty khác được giao dịch trên thị trường phi tập trung

2.2.1 Quy mô thị trường

Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê về thực trạng doanh nghiệp năm 2001-2003, tính đến cuối năm 2002, cả nước có 2.829 công ty cổ phần Trong đó 557 công ty nhà nước được cổ phần hoá, 2.272 công ty cổ phần không có vốn nhà nước Tổng vốn tự có của các doanh nghiệp này là 20.937 tỷ đồng, gấp 20 lần tổng vốn điều

lệ và 10 lần vốn hoá của các công ty niên yết tại thời điểm đó Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2005, cả nước có gần 2000 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá và trên

3000 công ty cổ phần

Theo kế hoạch, giai đoạn 2008 - 2010 sẽ thực hiện cổ phần hóa 948 doanh nghiệp Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, mới chỉ có khoảng 80 doanh nghiệp được cổ phần hóa trong năm 2008, còn lại 868 doanh nghiệp sẽ phải cổ phần hóa trong 2 năm

2009 và 2010 Như vậy, kế hoạch sắp xếp cổ phần hóa doanh nghiệp mà Chính phủ

Trang 22

đưa ra các năm gần đây đều không hoàn thành Nếu như năm 2007 chỉ có 116 doanh nghiệp được cổ phần trong khi kế hoạch là 600 (đạt 19.3%) thì 2008 là 80 trong khi kế hoạch là 262 (30.1%) Liên tiếp 2 năm không hoàn thành kế hoạch thì việc phải cổ phần hóa 868 doanh nghiệp trong 2 năm 2009 và 2010 là điều được cho là không khả thi, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Tổng vốn điều lệ của các công ty này hơn hơn rất nhiều lần khối lượng vốn hoá trên thị trường chính thức Đây chính là nguồn cung của thị trường phi tập trung

+ Không có thông tin rõ ràng về hoạt động kinh doanh của công ty phát hành

cổ phiếu

+ Các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu vô tội vạ ra công chúng, phát hành

cổ phiếu giả,

+ Không có biên độ giá

+Thổi phồng lớn hơn giá trị thực của cổ phiếu nhiều lần

+ Không có các cơ quan chức năng theo dõi, kiểm tra, chế tài Nhà đầu tư sẽ gặp rủi ro mất tiền, mất hàng, bị lừa đảo…mà không hề được pháp luật bảo vệ

- Số công ty đại chúng chưa niêm yết là rất lớn

+ Không phải cổ phiếu của tất cả các công ty cổ phần đều được mua bán, trao đổi thường xuyên mà chỉ có một ít trong số đó được giao dịch Có những loại cổ

Trang 23

phiếu gần như không bao giờ được giao dịch, nhưng có những loại cổ phiếu tuy chưa được niêm yết trên thị trường chính thức trên sàn, nhưng chúng được giao dịch rất sôi động

+ Năm 2008, trong 963 tập đoàn công ty và ngân hàng đăng kí là công ty đại chúng với Ủy ban chứng khoán Nhà nước, mới chỉ có 361 công ty chính thức niêm yết

và giao dịch trên thị trường chứng khoán, hơn 3600 doanh nghiệp còn lại đang giao dịch cổ phiếu trên thị trường tự do

Rõ ràng với một thị trường tự do với quy mô quá lơn như vậy thì nhà nước đã tìm nhiều cách khác nhau để thu hẹp thị trường tự do và một trong số đó là thành lập Thị trường UpCoM là thị trường cho các công ty đại chúng chưa niêm yết

Thị trường phi tập trung ở Việt Nam đang tồn tại là một thực thể khách quan Chỉ

có thể nói rằng hoạt động của thị trường này còn manh mún, rời rạc, tổ chức của thị trường này chưa được chặt chẽ, chưa có người tạo lập và dẫn dắt thị trường chứ không thể nói là Việt nam chưa có thị trường OTC và Việt nam đang đặt mục tiêu xây dựng đến năm 2010 sẽ có thị trường này như một số người thường nói

2.3 Thực trạng hoạt động của thị trường UPCoM:

2.3.1 Tình hình hoạt động

Ngày 24.6.2009, sàn giao dịch dành cho công ty đại chúng chưa niêm yết chính thức hoạt động với mục tiêu từng bước đưa vào kiểm soát thị trường chứng khoán tự

do

Ra đời từ tháng 6-2009, với 10 doanh nghiệp niêm yết, đến nay thị trường

UPCoM đã thu hút được 76 doanh nghiệp Mặc dù chưa sôi động, nhưng sàn UPCoM được đánh giá là "sân chơi an toàn" giúp nhà đầu tư tránh được rủi ro trên thị trường giao dịch tự do…

Bên cạnh thị trường tập trung do Nhà nước quản lý được tổ chức tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, giao dịch trên thị trường OTC hiện vẫn diễn ra khá phổ biến với quy mô lớn Nguồn hàng hóa trên thị trường này là cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, công ty cổ phần do các tổ chức

Trang 24

kinh doanh và đầu tư tư nhân thành lập Thị trường OTC thực tế là thị trường "chợ đen"

Trên thị trường này, giao dịch tự phát, không được thanh toán tập trung, cổ phiếu không được lưu ký, việc mua bán thông qua các nhà môi giới tự do, không được cấp phép nên có nhiều yếu tố rủi ro mà tổ chức phát hành, công ty chứng khoán tổ chức hoạt động giao dịch trên không chịu trách nhiệm với nhà đầu tư Do vậy, khi thị

trường UPCoM hoạt động, nhiều nhà đầu tư khá hồ hởi, bởi những giao dịch cổ phiếu của các doanh nghiệp chưa niêm yết được quản lý chặt chẽ Trên thị trường này, nhà đầu tư có thể mua, bán các loại cổ phiếu của các công ty đại chúng chưa niêm yết hoặc hủy niêm yết trên HOSE và HNX Sàn UPCoM là môi trường giao dịch công bằng, minh bạch, an toàn giảm rủi ro cho nhà đầu tư, tăng khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp Với thị trường UPCoM, nhà đầu tư giao dịch tại công ty chứng khoán theo phương thức thỏa thuận Kết quả giao dịch được chuyển qua hệ thống UPCoM để chuyển đến trung tâm lưu ký chứng khoán thực hiện thanh toán

Theo lãnh đạo HNX, thị trường UPCoM đã góp phần đạt mục tiêu thu hẹp thị trường tự do, mở rộng thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức và quản lý của Nhà nước

- Sau 6 tháng chính thức đi vào hoạt động, thị trường UPCoM đã đón nhận 30 thành viên tham gia niêm yết với tổng giá trị đăng ký giao dịch 2.950 tỷ đồng và mức vốn hóa đạt 3.800 tỷ đồng

Trong bối cảnh kinh tế đang dần phục hồi, thị trường này được đánh giá sẽ có những bước phát triển mạnh

Trong thời gian tới, các công ty đã đăng ký lưu ký tập trung sẽ có kế hoạch đăng

ký niêm yết trên HNX hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường UPCoM Tuy nhiên, mới chỉ có khoảng 40% công ty trong tổng số hơn 1.000 công ty đại chúng có kế hoạch niêm yết Khi số lượng công ty đại chúng tham gia thị trường này tăng lên, chắc chắn đây là một thị trường giàu tiềm năng

- Tính đến hết tháng 2-2010, sàn UPCoM đã có 43 doanh nghiệp niêm yết, với tổng khối lượng đăng ký hơn 634 triệu cổ phiếu; tổng khối lượng giao dịch toàn thị

Trang 25

trường đạt hơn 50 triệu cổ phiếu, giá trị hơn 691 tỷ đồng Sự ra đời của thị trường

UPCoM cùng với việc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước công bố lộ trình đưa cổ phiếu

của công ty đại chúng chưa niêm yết vào đăng ký tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán

cũng là động lực khiến nhiều doanh nghiệp quyết định lựa chọn phương án niêm yết,

đưa số lượng công ty niêm yết tại hai sở giao dịch chứng khoán tăng lên 461 công ty

- Sau gần một năm giao dịch, tính đến 19-6-2010 số lượng cổ phiếu niêm yết trên

NT

Công ty Cổ phần Đầu tư Châu Á - Thái Bình Dương

26/10/2009 500,000,000,000

Trang 26

Mã CK Ngành Tên viết tắt Tên doanh nghiệp Ngày niêm

yết Vốn điều lệ

khoáng

BECAMEX BMC

Công ty Cổ phần Khoáng sản Becamex

Công ty Cổ phần Cafico Việt Nam 24/06/2009 16,291,200,000

Công ty Cổ phần Thủy điện Miền Trung

1,200,000,000

Trang 27

Mã CK Ngành Tên viết tắt Tên doanh nghiệp Ngày niêm

yết Vốn điều lệ

CLS Dịch vụ tài

Công ty Cổ phần Chứng khoán Chợ Lớn

21,812,090,000

DAP Thiết bị điện

& điện tử DOPACK

Trang 28

Mã CK Ngành Tên viết tắt Tên doanh nghiệp Ngày niêm

Trang 29

Mã CK Ngành Tên viết tắt Tên doanh nghiệp Ngày niêm

Trang 30

Mã CK Ngành Tên viết tắt Tên doanh nghiệp Ngày niêm

Công ty Cổ phần

Trang 31

Mã CK Ngành Tên viết tắt Tên doanh nghiệp Ngày niêm

Công ty Cổ phần Cảng dịch vụ Dầu khí Đình Vũ

Công ty Cổ phần May Xuất khẩu Phan Thiết

04/01/2010 15,165,400,000

Ngày đăng: 27/03/2013, 12:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Quy mô niêm yết thị trường tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố - Xây dựng thị trường UPCOM lên thành OTC thực sự ở Việt Nam
Bảng 2 Quy mô niêm yết thị trường tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố (Trang 17)
Đồ thị 1: Khối lượng và giá trị giao dịch trên thị trường UPCoM 2009-2010 - Xây dựng thị trường UPCOM lên thành OTC thực sự ở Việt Nam
th ị 1: Khối lượng và giá trị giao dịch trên thị trường UPCoM 2009-2010 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w