1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện ứng hòa – hà nội

71 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 525 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện tốt công tác an toàn trong ngân hàng thì theo điều 4 Nghị định178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng có quyđịnh cụ thể nguyên tắc bảo đảm ti

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng trong việc phát triểnkinh tế ở Việt Nam - hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huyđộng vốn, sử dụng vốn và cung ứng các dịch vụ trung gian tài chính khác Tuynhiên, hoạt động kinh doanh này luôn tiềm ẩn vô số các rủi ro mà trong đó đặc biệt

là rủi ro tín dụng bởi tín dụng là hoạt động quan trọng mang lại lợi nhuận lớn chocác ngân hàng Chính vì thế, các nhà quản lý ngân hàng đã nghiên cứu rất nhiều đểtìm ra nguyên nhân nhằm đưa ra biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng Và theo tổngkết thì nguyên nhân chính là sự không an toàn về vốn Do vậy, có thể khẳng địnhrằng an toàn về vốn là sự cần thiết để dẫn đến sự phát triển trong hoạt động kinhdoanh của ngân hàng thương mại

Bảo đảm tiền vay đã ra đời như là một trong các biện pháp hữu hiệu đảm bảo

an toàn các khoản cho vay Khi bên đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợcủa mình, ngân hàng sẽ coi bảo đảm tiền vay là nguồn thu hồi khoản nợ đã cho vay.Bảo đảm tiền vay còn giúp cho ngân hàng mở rộng việc tạo lập tín dụng đối vớikhách hàng vì đây là một trong những điều kiện cấp tín dụng Do đó, công tácBĐTV càng được quan tâm đánh giá đúng thì các ngân hàng thương mại sẽ cànghạn chế được rủi ro, thu hồi được nhiều khoản nợ và phát triển tăng sức cạnh tranhtrên thị trường, hội nhập vào nền kinh tế thế giới Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “

Nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huyện Ứng Hòa – Hà Nội” nghiên

cứu trong thời gian thực tập tại ngân hàng để làm chuyên đề tốt nghiệp cuối khóa

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Từ những lý luận cơ bản về bảo đảm tiền vay của NHTM, chuyên đề này sẽphân tích và đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân dẫn đến các mặt hạn chế trongcông tác nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay của Ngân hàng từ năm 2010 đếnnăm 2012

Trang 2

Kết cấu chuyên đề gồm những phần sau:

Lời mở đầu

Chương 1: Lý luận về bảo đảm tiền vay và chất lượng bảo đảm tiền vay của

Ngân hàng thương mại

Chương 2:Thực trạng bảo đảm tiền vay tại NH No&PTNT huyện Ứng

Hòa-Hà Nội

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay tại NH

No&PTNT huyện Ứng Hòa – Hà Nội

Kết luận

Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là nhằm làm rõ 2 vấn đề sau:

Bảo đảm tiền vay vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảmtiền vay của các NHTM

Thực trạng chất lượng bảo đảm tiền vay tại NH No&PTNT huyện Ứng Hòa –

Hà Nội trong 3 năm 2010-2012 để từ đó nêu ra một số các giải pháp khắc phục vàkiến nghị

Trang 3

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY VÀ CHẤT LƯỢNG BẢO ĐẢM

TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 NHTM và hoạt động cho vay của NHTM

1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại

Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triểncủa nền sản xuất hàng hóa Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sựphát triển của NH; đến lượt mình sự phát triển của hệ thống NH trở thành động lựcthúc đẩy kinh tế phát triển Do đó, NH là một loại hình tổ chức quan trọng đối vớinền kinh tế

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới thì ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng

Theo Peter S.Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.''

Theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng Việt Nam định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu

tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác”

NHTM là tổ chức kinh doanh hàng hóa đặc biệt – tiền tệ thực hiện các hoạtđộng cơ bản là huy động vốn, sử dụng vốn và hoạt động dịch vụ tài chính khác Cáchoạt động này tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển tạo ra lợi nhuận và uy tíncho ngân hàng Ngân hàng huy động vốn để thực hiện nhiệm vụ cho vay; cho vay

có hiệu quả thì mới đem lại lợi nhuận xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, nângcao chất lượng dịch vụ…; để huy động vốn từ mọi khách hàng nhiều hơn và đồng

Trang 4

thời muốn hoạt động cho vay và huy động vốn thực hiện tốt thì ngân hàng cũngphải làm tốt hoạt động trung gian cung cấp các dịch vụ cho khách hàng.

1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện cácchức năng của NHTM Hoạt động của NHTM chủ yếu dựa trên nguồn vốn huyđộng còn nguồn vốn tự có của NHTM là rất nhỏ chủ yếu để hạn chế những rủi rocho ngân hàng Chính vì vậy, nghiệp vụ huy động vốn luôn được coi là nghiệp vụkhởi đầu tạo điều kiện và giữ vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạtđộng của ngân hàng Nguồn huy động của ngân hàng rất phong phú bao gồm có:

Tiền gửi thanh toán

Đây là loại tiền gửi không kỳ hạn có lãi suất rất thấp mang tính chất tượngtrưng Mục đích của người gửi tiền là để hưởng các dịch vụ của ngân hàng phục vụcho quá trình thanh toán của mình Loại tiền gửi này tuy có chi phí thấp nhưng chứađựng rủi ro cao, do người gửi có thể rút bất kỳ lúc nào Tỉ lệ tiền gửi thanh toán ởViệt Nam còn thấp rất nhiều so với tỷ lệ chung trên thế giới vì người dân nước tavẫn giữ thói quen sử dụng tiền mặt trong lưu thông

Tiền gửi tiết kiệm

Mục đích của loại tiền gửi này là để hưởng lãi suất Có hai loại tiền gửi tiếtkiệm là: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không có kỳ hạn Các kỳ hạn do sự thoảthuận giữa khách hàng và ngân hàng

Các loại khác

Ngoài hai loại tiền gửi chủ yếu trên ngân hàng còn thực hiện một số hình thứctiền gửi khác như tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ đảm bảo giá trị theo giá vàng, tiếtkiệm tích lũy, tiết kiệm tích lũy thưởng, tiền gửi bậc thang, tiết kiệm bậc thang…Ngân hàng không chỉ huy động vốn bằng tiền gửi mà còn bằng nhiều hìnhthức huy động vốn khác như phát hành chứng khoán, vay trên thị trường tiền tệ, vay

từ tổ chức tín dụng khác, vay từ NHTW… Tuy nhiên, các hình thức này khôngthường xuyên mà chỉ thực hiện trong những trường hợp nhất định bởi chứa đựngtrong đó các ràng buộc và điều kiện

Trang 5

1.1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn

Ngân hàng dùng vốn huy động được cùng với vốn tự có để thực hiện các hoạtđộng kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạonên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng trong đó cho vay là khoản mục tài sảnđem lại thu nhập lớn nhất đồng thời cũng chứa đựng rủi ro nhất

Ngân quỹ

Bao gồm tiền mặt tại quĩ, tiền gửi tại NHNN (dự trữ bắt buộc và tiền gửi đảmbảo khả năng thanh toán), các chứng khoán có tính thanh khoản cao Đây là khoảnmục tài sản không sinh lời hoặc sinh lời thấp song lại có tính thanh khoản cao nhấtđáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên cho khách hàng

Nghiệp vụ cho vay

Đây là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng, nó thường đem lạicho ngân hàng khoản lợi nhuận cao tới 60 – 70% Hoạt động cho vay mang lại lợinhuận cơ bản cho ngân hàng, nhưng đồng thời nó cũng mang lại rủi ro rất cao chonên NH luôn xem xét kỹ lưỡng tới từng món vay và từng đối tượng khách hàng vay

Nghiệp vụ đầu tư

Hoạt động đầu tư của NHTM diễn ra chủ yếu trên thị trường tài chính thôngqua hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường với mụcđích kiếm lời, phân tán rủi ro qua việc đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh

Cho thuê

Là việc NH bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuậnnhất định giữa khách hàng với ngân hàng Khách hàng cũng phải trả cả gốc lẫn lãicho NH sau một khoảng thời gian nhất định

Các hoạt động sử dụng vốn khác

như: uỷ thác, đại lý, kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm, thực hiện các dịch vụ tưvấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như dịch vụ bảo quảnhiện vật quí, giấy tờ có giá, cho thuê két, cầm đồ… theo qui định của NHNN ViệtNam giúp cho NH thu được những khoản lợi nhuận đáng kể

Trang 6

1.1.2.3 Hoạt động trung gian tài chính khác

Ngoài hai nghiệp vụ trên, NH còn thực hiện cung cấp các dịch vụ khác chokhách hàng nhằm thu phí và khuyến khích khách hàng đến với NH Ngày nay, hoạtđộng này ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Các dịch vụ trung gianthường gặp là: dịch vụ chuyển khoản, dịch vụ cung cấp các công cụ thanh toán, dịch

vụ thu hộ - chi hộ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ kiều hối - thu đổi ngoại tệ, dịch vụthuê mua và bảo lãnh, dịch vụ tư vấn thông tin,…

Vai trò của các nghiệp vụ trung gian này là bổ sung thêm vào các nghiệp vụ cơbản, nó tạo giá trị gia tăng và có thể tạo ra sự khác biệt của ngân hàng trong cạnh tranh

1.1.3 Hoạt động cho vay của NHTM

1.1.3.1 Khái niệm

Theo mục 1 - điều 3 - Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay

của Tổ chức tín dụng với khách hàng thì: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.

Như vậy, hoạt động này có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người

sở hữu ( NHTM ) sang khách hàng để sau một thời gian nhất định quay về vớilượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu

Rõ ràng cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng - thực hiệnđiều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhànrỗi huy động từ trong xã hội cho những người thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu về vốnphục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư Cho vay thúc đẩy sự tăngtrưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế Hơn nữa thông quacác khoản cho vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm thông tin về chất lượng tíndụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp cho họ có khả năng nhận thêm các khoảntín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn

Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổngtài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng Tuy nhiên ngân hàng cũngphải đối mặt với rủi ro rất cao khi cho vay nếu không có các biện pháp bảo đảm antoàn cho các khoản vay

Trang 7

1.1.3.2 Nguyên tắc cho vay

Các nguyên tắc cho vay của ngân hàng được quy định cụ thể như sau:

+ Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích

Đây là nguyên tắc cơ bản vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì khách hàngmới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi ích dựkiến để từ đó thu hồi được vốn trả nợ cho ngân hàng Nguyên tắc này cũng hạn chếđược được rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng vốn vay để thực hiệncác hành vi mà pháp luật nghiêm cấm

+ Khách hàng phải cam kết hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn

Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “đi vay đểcho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có lãi.Những nguyên tắc trên đều nhằm đảm bảo an toàn và khả năng sinh lời chohoạt động ngân hàng

1.1.3.3 Qui trình cho vay

+ Khách hàng lập và nộp hồ sơ vay vốn đến ngân hàng

+ Ngân hàng thẩm định hồ sơ vay vốn và quyết định cho vay

+ Ngân hàng xác định các chỉ tiêu cho vay và ký kết hợp đồng tín dụng vớikhách hàng

+ Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp vốn vay

+ Thu nợ và đưa ra các quyết định mới liên quan đến an toàn của các khoảncho vay

1.1.3.4 Phân loại cho vay

Trong nền kinh tế thị trường, họat động cho vay của NHTM rất đa dạng vàphong phú với nhiều hình thức khác nhau Việc áp dụng từng loại cho vay là tùythuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng vàquản lý tín dụng có hiệu quả, phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tếkhác nhau của đối tượng tín dụng Để tránh nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quát vềcác loại hình cho vay, người ta phân loại cho vay theo một số tiêu chí sau:

Trang 8

Căn cứ theo thời gian

Việc phân chia theo thời gian có nghĩa rất quan trọng đối với ngân hàng vìthời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của khoản cho vay cũngnhư khả năng hoàn trả của khách hàng Theo thời gian cho vay chia thành :

Cho vay ngắn hạn : từ 12 tháng trở xuống được sử dụng để bù đắp thiếu hụt

vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và

hộ gia đình

Cho vay trung hạn : từ trên 1 năm đến 5 năm sử dụng chủ yếu để đầu tư mua

sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựngcông trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh

Cho vay dài hạn : thời hạn trên 5 năm đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn như xây

dựng cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn

Căn cứ vào cách thức cho vay

Cho vay trực tiếp là hình thức trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách

hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng

Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian như

nhóm sản xuất, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ Cho vay gián tiếpthường được áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán,cách xa ngân hàng

Căn cứ theo tài sản đảm bảo

TSBĐ các khoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ haibằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất không thu hồi được

Cho vay có BĐ bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo

đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sảncầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bênthứ ba Hình thức này áp dụng đối với những khách hàng không đủ uy tín

Cho vay không có BĐ bằng tài sản là hình thức cho vay không có tài sản bảo

đảm thế chấp, cầm cố hay có sự bảo lãnh của người thứ ba Trong hình thức nàyngười đi vay chủ yếu dựa vào uy tín và mối quan hệ truyền thống của bản thân mìnhvới ngân hàng để được cho vay

Trang 9

Căn cứ vào phương thức cho vay

Cho vay thấu chi

Là hình thức tín dụng ngắn hạn qua đó ngân hàng cho phép người vay đượcchi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định vàtrong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi

Cho vay trực tiếp từng lần

Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các kháchhàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có đủ điều kiện được cấp hạn mứcthấu chi Vốn của ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kìsản xuất Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau

Cho vay theo hạn mức

Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụngduy trì trong một khoảng thời gian nhất định

Cho vay trả góp

Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốnvay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thờihạn cho vay

Cho vay luân chuyển

Nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa Ngân hàng chokhách hàng vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng

1.2 Bảo đảm tiền vay của NHTM

Theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm thì:

Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.

Trang 10

Tài sản bảo đảm do các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền.

Cho vay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu nhưng cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro cho ngân hàng Chẳng hạn do chủ quankhách hàng làm ăn thua lỗ hoặc kém hiệu quả, cố tình chây ì hoặc lừa đảo củakhách hàng…dẫn đến không trả được nợ cho ngân hàng hay do chất lượng cán bộtín dụng yếu kém như không có khả năng đánh giá chất lượng các khoản vay, hoặc

cố tình làm sai qui định để mưu lợi riêng…

Trước khi cho vay các ngân hàng đều thực hiện đầy đủ các khâu thu thậpthông tin, phân tích tình hình hoạt động kinh doanh, đánh giá khả năng trả nợ củakhách hàng…tuy nhiên do tác động của nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan

mà vẫn không thể loại bỏ hoàn toàn các rủi ro mất vốn cho ngân hàng Do vậy, bảođảm tiền vay được sử dụng như là một trong những biện pháp, công cụ để giảm thiểutối đa rủi ro tín dụng và tăng khả năng thu hồi nợ cho ngân hàng

Ngân hàng tùy vào từng đối tượng khách hàng mà dùng tài sản hay uy tín củamột cá nhân, tổ chức để bảo đảm cho một khoản vay Khi bên đi vay không thựchiện đúng nghĩa vụ trả nợ của mình, trong trường hợp cho vay có bảo đảm bằng tàisản, ngân hàng sẽ coi TSBĐ là nguồn thu hồi khoản nợ đã cho vay

1.2.2 Điều kiện xác định là TSBĐ tiền vay

Tùy theo từng loại khách hàng mà ngân hàng thực hiện bảo đảm tiền vay dướihình thức bảo đảm bằng tài sản hoặc bảo đảm không có tài sản Thông thường, đốivới các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cá nhân chưa có uy tín cao muốn vay vốnphải có tài sản bảo đảm Từ góc độ của người cho vay, tài sản bảo đảm phải thể hiệnđược ba đặc trưng sau :

Giá trị của tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị khoản vay

Bảo đảm tiền vay không chỉ là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng mà còn có ýnghĩa nâng cao trách nhiệm của người đi vay đối với nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàngbởi nếu không họ sẽ mất tài sản Nếu giá trị của TSBĐ mà nhỏ hơn nghĩa vụ đượcbảo đảm bao gồm vốn gốc, lãi kể cả lãi quá hạn và các chi phí khác thì khách hàng dễ

Trang 11

có động cơ không trả nợ Điều này sẽ gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng,làm cho hoạt động BĐTV không phát huy được tác dụng và ý nghĩa của nó nữa.

Tài sản bảo đảm phải có sẵn trên thị trường tiêu thụ

Tài sản bảo đảm chỉ dễ xử lý, đem lại nguồn thu cho ngân hàng khi nó có thịtrường tiêu thụ và có tính thanh khoản cao Mức độ thanh khoản cũng có quan hệđến lợi ích của người cho vay Nếu mức độ thanh khoản thấp, tài sản khó bán trênthị trường thì ngân hàng sẽ khó mà chấp nhận cho vay Ngược lại, ngân hàng sẽchấp nhận một tài sản là TSBĐ nếu nó có tính thanh khoản cao, dễ mua bán trên thịtrường Trường hợp TSBĐ có mức độ thanh khoản trung bình ngân hàng vẫn có thểchấp nhận tuy nhiên khi đó phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý

Phải có đầy đủ cơ sở pháp lý để người cho vay có quyền ưu tiên về xử lý tàisản bảo đảm

Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đi vay, người bảo lãnhhoặc thuộc quyền quản lý sử dụng của doanh nghiệp Nhà nước trong trường hợpdoanh nghiệp này đi vay hoặc bảo lãnh Điều này sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng dễdàng thực hiện hành vi chuyển giao, phát mại khi khách hàng không thực hiện đượcnghĩa vụ trả nợ của mình

TSBĐ cũng phải được pháp luật thừa nhận và không thuộc diện cấm giao dịch.Điều này đảm bảo cở sở pháp lý trong việc chuyển giao tài sản từ người đi vay sangngân hàng đồng thời tránh những rắc rối phát sinh khi có sự cố để giúp cho ngânhàng có quyền ưu tiên về xử lý tài sản nhằm thu hồi nợ

1.2.3 Nguyên tắc bảo đảm tiền vay

Cho vay là hoạt động đem lại thu nhập lớn cho ngân hàng Chính vì vậy việc

đề ra các nguyên tắc đảm bảo an toàn trong cho vay không chỉ là trách nhiệm riêngcủa NHTM mà còn là trách nhiệm của Ngân hàng trung ương và các cơ quan quản

lý Để thực hiện tốt công tác an toàn trong ngân hàng thì theo điều 4 Nghị định178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng có quyđịnh cụ thể nguyên tắc bảo đảm tiền vay như sau:

+ Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảmbằng tài sản, cho vay không có bảo đảm theo quy định của Tổng giám đốc về chính

Trang 12

sách khách hàng trong từng thời kỳ, hoặc theo quyết định của Tổng giám đốc trongtừng trường hợp cụ thể và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp tổchức tín dụng nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định củaChính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản cho vay này đượcChính phủ xử lý.

+ Khách hàng vay được tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay không có bảo đảmbằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiện kháchhàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì tổ chức tín dụng có quyền

áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn

+ Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản BĐTV theo thỏa thuận trong hợpđồng tín dụng và quy định của pháp luật có liên quan để thu hồi nợ khi khách hàngvay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ

đã cam kết Trường hợp tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm còn thừa và kháchhàng vay vẫn còn khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn khác thì phải thông báo với kháchhàng vay và sử dụng số tiền này để thanh toán khoản nợ đó

+ Sau khi xử lý TSBĐ tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh vẫnchưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có tráchnhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết

Đây là nguyên tắc thực hiện BĐTV chung nhất để các ngân hàng căn cứ vào

đó mà xây dựng nên các nguyên tắc riêng phù hợp với tình hình hoạt động đườnglối phát triển của ngân hàng mình

1.2.4 Vai trò của bảo đảm tiền vay

Đối với ngân hàng

Thứ nhất, bảo đảm tiền vay giúp cho các ngân hàng hạn chế được rủi ro tín

dụng, đảm bảo an toàn vốn tạo cơ sở cho sự phát triển hoạt động kinh doanh củangân hàng

NHTM kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ Các NHTM hoạt độngtheo nguyên tắc “đi vay để cho vay ” do vậy, khi ngân hàng cho vay quá nhiều màkhông xét đến các rủi ro xảy ra trong đầu tư tín dụng thì có thể sẽ gây ra sự sụp đổcho chính bản thân ngân hàng bởi nếu các khoản tiền gửi không được trả khi có yêu

Trang 13

cầu thì khách hàng sẽ ồ ạt đến rút tiền Trong hoạt động của các NHTM thì rủi ro tíndụng chiếm tỷ trọng lớn nhất Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thấtngoài dự kiến cho ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả,hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi Nó sẽ gây hậu quả xấu đến hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng, làm giảm thu nhập, thiệt hại về tài sản, do đó mà tác động đến toàn

bộ nền kinh tế Có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng nhưng chủ yếu làkhông đảm bảo an toàn về vốn Cho nên việc hoàn thiện cũng như áp dụng linh hoạtcác hình thức bảo đảm tiền vay sẽ là một trong những biện pháp rào chắn hữu hiệunhất do trước khi vay khách hàng phải trải qua rất nhiều khâu kiểm tra mới đượcvay Các khâu kiểm tra đó nhằm tìm hiểu nguyên nhân có thể gây ra khả năngkhông hoàn trả được vốn vay của khách hàng, từ đó đưa ra các biện pháp hạn chế

rủi ro tín dụng

Thứ hai, bảo đảm tiền vay giúp ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn

thu nợ thứ nhất không thực hiện được trong trường hợp cho vay có bảo đảm bằngtài sản

Trong cho vay kinh doanh thì nguồn thu nợ thứ nhất lấy từ doanh thu thực tếđối với cho vay ngắn hạn, từ khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung và dài hạn.Trong cho vay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất là từ thu nhập cá nhân như tiền lương,các khoản thu nhập tài chính (lãi tiền gửi, cổ tức, trái tức), thu nhập khác

Song trong hoạt động kinh doanh có vô số những nguyên nhân dẫn đến nguồnthu nợ thứ nhất không thể thực hiện được, đòi hỏi phải có nguồn bổ sung nếu khôngngân hàng rất dễ gặp phải rủi ro tín dụng Vì vậy, bảo đảm tiền vay đã hạn chế tổnthất cho ngân hàng khi khách hàng vì một lý do nào đó không thanh toán được nợthông qua yêu cầu cần có tài sản bảo đảm cho khoản vay

Thứ ba, bảo đảm tiền vay giúp cho ngân hàng tạo lập và mở rộng việc tạo lập

Trang 14

việc đánh giá khả năng cho vay Bảo đảm tiền vay khi đó sẽ là công cụ để ngânhàng mở rộng thị phần, đưa sản phẩm dịch vụ tiếp cận gần hơn nữa với khách hàng.

Thứ hai, đây là điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay vốn.

BĐTV thể hiện mối quan hệ, trách nhiệm ràng buộc lẫn nhau giữa ngân hàng

và khách hàng để từ đó mà sự tín nhiệm giữa khách hàng với ngân hàng được tănglên Người đi vay khi có được sự tín nhiệm sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện cácgiao dịch với ngân hàng Khi có tài sản bảo đảm thì đó chính là điều

kiện thuận lợi cho khách hàng nào không có đủ năng lực tài chính hay uy tíncao đối với ngân hàng mà vẫn có thể vay vốn sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng,giúp khách hàng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường sức cạnhtranh, hoặc đáp ứng và thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của dân cư

Thứ ba, bảo đảm tiền vay giúp bảo về quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người

gửi tiền

Ngân hàng cho vay chủ yếu dựa trên nguồn huy động tiền gửi Chính vì vậy,trách nhiệm của ngân hàng chính là đảm bảo an toàn cho các khoản cho vay này bởinếu không có các biện pháp BĐTV thu hồi lại nợ thì ngân hàng sẽ không có đủnguồn vốn để trả cho người gửi tiền Điều đó có thể gây ra tình trạng rút tiền hàngloạt, dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng, làm lung lay cả một hệ thống ngân hàng

Do vậy, an toàn là một vấn đề cần xem xét trước tiên đối với mọi khoản vay và

Trang 15

BĐTV không chỉ là biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả mà nó còn gián tiếp bảo

về lợi ích cho người gửi tiền, nâng cao uy tín cho ngân hàng

Đối với nền kinh tế

Thứ nhất, BĐTV đã đem lại hiệu quả kinh tế xã hội, góp phần tạo ra môi

trường kinh doanh tiền tệ ổn định, phát triển lành mạnh trên cơ sở có sự ràng buộctrách nhiệm và chia sẻ rủi ro giữa các bên

Một nền kinh tế muốn phát triển thì phải có một thị trường tài chính nói chung

và một hệ thống ngân hàng nói riêng hoạt động vững mạnh Tuy nhiên hoạt độngkinh doanh của NHTM luôn chứa đựng rất nhiều rủi ro tiềm ẩn tác động tới sự pháttriển của nền kinh tế Bảo đảm tiền vay là một trong những điều kiện thành lập vàthúc đẩy việc tạo lập mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng trong quan hệ vayvốn qua đó hạn chế các rủi ro tín dụng đảm bảo phát triển hoạt động kinh doanh của

cả ngân hàng và các thành phần kinh tế khác

Thứ hai, BĐTV hạn chế tranh chấp bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của

các bên tham gia quan hệ tín dụng với ngân hàng

Theo điều 5 Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền

vay của tổ chức tín dụng quy định: “ Nhà nước bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các bên trong việc bảo đảm tiền vay Không có một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào việc bảo đảm tiền vay và việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của các bên.” Do đó, các tranh chấp bị hạn chế tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt

động cho vay vốn của các ngân hàng thương mại cũng như sự phát triển của nềnkinh tế xã hội

Như vậy, bảo đảm tiền vay đóng vai trò vô cùng quan trọng không những đối

với hoạt động của các ngân hàng thương mại, khách hàng vay vốn mà còn đối vớitoàn bộ nền kinh tế Bảo đảm có ý nghĩa rất lớn trong hạn chế rủi ro tín dụng, đảmbảo an toàn vốn trong hoạt động kinh doanh Việc vận dụng linh hoạt các biện phápbảo đảm tiền vay là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với các NHTM trong việc

mở rộng hoạt động cho vay an toàn cũng như tạo điều kiện cho hoạt động tín dụngphát triển và nâng cao uy tín của ngân hàng

Trang 16

1.2.5 Các hình thức bảo đảm tiền vay

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệpngày càng phong phú và đa dạng Họ cần vay rất nhiều vốn của ngân hàng để mởrộng sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả hoạt động Chính vì vậy, để mở rộngcho vay gắn liền với giảm rủi ro, bảo đảm an toàn vốn đòi hỏi các NHTM phải ápdụng đồng thời nhiều biện pháp bảo đảm tiền vay, chấp nhận nhiều loại tài sản bảođảm và vận dụng các hình thức đó một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện củatừng khách hàng Căn cứ vào năng lực tài chính của khách hàng, tính khả thi, hiệuquả của món vay và khả năng trả nợ mà ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng mộttrong hai nhóm các hình thức bảo đảm tiền vay sau:

+ Bảo đảm tiền vay bằng tài sản

+ Bảo đảm tiền vay không bằng tài sản

Bảo đảm tiền vay bằng tài sản

Theo Nghị định 163/ 2006 / NĐ-CP về giao dịch bảo đảm ban hành ngày29/12/2006 thì các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản gồm có:

+ Cầm cố tài sản của khách hàng vay

Theo điều 326 Bộ luật Dân Sự năm 2005 :

“Cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự ( trả nợ ).”

Theo điều 16 nghị định 163/2006/NĐ-CP ban hành ngày 29/12/2006 thì saukhi nhận chuyển giao tài sản cầm cố, bên nhận cầm cố trực tiếp giữ tài sản hoặc ủyquyền cho người thứ ba giữ tài sản; trường hợp ủy quyền cho người thứ ba giữ tàisản thì bên nhận cầm cố vẫn phải chịu trách nhiệm trước bên cầm cố về việc thựchiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 332 Bộ luật Dân sự và nghĩa vụ khác theothoả thuận với bên cầm cố

Tài sản bảo đảm dùng để cầm cố thì rất đa dạng và phong phú có thể là bấtđộng sản như nhà ở, xưởng sản xuất; hay các động sản như máy móc, thiết bị, vật

tư, hàng hóa, phương tiện vận tải; tài sản hình thành trong tương lai… Lợi tức vàcác quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố, nếu các bên có

Trang 17

thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thìkhoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố.

Mục đích của cầm cố tài sản là đề cao trách nhiệm của bên có nghĩa vụ đối vớiviệc thực hiện hợp đồng cho vay, bảo đảm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ngânhàng đồng thời nó cũng tạo điện điều kiện cho khách hàng vay vốn dễ dàng hơn.Khi cầm cố tài sản để vay, tài sản cầm cố của khách hàng không được tiếp tục sửdụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nữa

Cầm cố thích hợp với những tài sản mà ngân hàng có thể kiểm soát và bảoquản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ tài sản không ảnhhưởng đến quá trình hoạt động của khách hàng vay Ngân hàng yêu cầu cầm cố khixét thấy việc khách hàng nắm giữ TSĐB là không an toàn cho ngân hàng

Khi cấp vốn vay dựa trên bảo đảm bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợppháp, hợp lệ, an toàn của vật cầm cố như quyền sở hữu của khách hàng, khả năngchi trả của người cam kết đối với vật cầm cố, giá trị thị trường khi phát mại… Sửdụng biện pháp bảo đảm tín dụng bằng cầm cố thường an toàn hơn cho ngân hàng

do ngân hàng được phép nắm giữ, quản lý tài sản đó và thường là tài sản mà kháchhàng dễ bán, dễ chuyển nhượng

+ Thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay

Theo điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2005:

“Thế chấp tài sản là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp Các bên có thể thỏa thuận giao cho bên khác giữ tài sản thế chấp.”

Các loại tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật bao gồm nhà ở, côngtrình xây dựng và các tài sản gắn liền với đất; quyền sử dụng đất mà pháp luật vềđất đai quy định được thế chấp; tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải ViệtNam, tàu bay theo quy định của luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trườnghợp được thế chấp và các tài sản khác theo quy định của pháp luật Trong trườnghợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất độngsản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp Trong trường hợp thế chấp một phần

Trang 18

bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ thuộc tài sản thế chấp trừ trường hợpcác bên có thoả thuận khác Hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thếchấp cũng thuộc tài sản thế chấp, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật quyđịnh Trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũngthuộc tài sản thế chấp Tài sản được hình thành trong tương lai, tài sản đang chothuê cũng có thể được dùng để thế chấp.

Phần lớn giá trị tài sản thế chấp lớn hơn giá trị tài sản cầm cố và giá trị củakhoản vay nên đảm bảo bằng thế chấp cho phép người nhận tài trợ vẫn được sửdụng tài sản thế chấp phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là một thuậnlợi tuy nhiên trong quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản làm giảm giá trị đồngthời ngân hàng cũng bị hạn chế việc kiểm soát tài sản nên dẫn đến nhiều rủi ro chongân hàng Chính vì vậy, khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng vật thế chấp, ngân hàngcần phải xem xét kĩ vật thế chấp

+ Đặt cọc, ký cược

Theo điều 358 của Bộ luật dân sự 2005:

“Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí qúy,

đá quý hoặc các vật có giá trị khác (gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.”

Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản Trong trường hợp hợp đồng dân sựđược giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ

đi để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợpđồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu nhận đặt cọc từ chốiviệc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc vàmột khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.Theo điều 359 của Bộ luật dân sự 2005 :

“Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc các vật có giá trị khác (gọi là tài sản) ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.”

Trong trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản kýcược sau khi trừ tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có

Trang 19

quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cượcthuộc về bên cho thuê.

Đây là hình thức thường được áp dụng trong trường hợp ngân hàng cho vaytrả góp, cho vay trung và dài hạn đối với các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh, dịch vụ, đời sống

Điều kiện ngân hàng cho vay dưới hình thức bảo đảm bằng đặt cọc, ký cượctài sản là phải có uy tín, có khả năng tài chính và có các nguồn thu hợp pháp có khảnăng trả nợ đúng hạn, có dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh khả thi, phùhợp với quy định của pháp luật

+ Ký quỹ

Theo điều 360Bộ luật dân sự 2005:

“Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự”.

+ Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba

Theo điều 361 của Bộ luật dân sự 2005:

“Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.

Tài sản mà khách hàng vay, bên bảo lãnh dùng để cầm cố, thế chấp, bảo lãnhvay vốn tại tổ chức tín dụng phải có đủ các điều kiện sau đây:

+ Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quản lý củakhách vay, bên bảo lãnh

+ Đối với giá trị quyền sử đụng đất, phải thuộc quyền sử dụng của khách hàngvay, bên bảo lãnh và được thế chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật về đất đai.+ Đối với tài sản của doanh nghiệp Nhà nước, thì phải là tài sản do Nhà nướcgiao cho doanh nghiệp đó quản lý, sử dụng và được dùng để bảo đảm tiền vay theoquy định của pháp luật về doanh nghiệp Nhà nước

Trang 20

+ Đối với tài sản khác, thì phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay, bênbảo lãnh Trường hợp tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, thìkhách hàng vay, bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản.

+ Tài sản được phép giao dịch

+ Tài sản không có tranh chấp

+ Tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay, bênbảo lãnh phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hanh bảo đảm tiền vay

Bên bảo lãnh phải đảm bảo các điều kiện là có năng lực pháp luật dân sự đốivới pháp nhân hay có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi đối với cánhân Đặc biệt, bên bảo lãnh còn phải có khả năng về vốn và tài sản để có thể trả nợthay cho bên được bảo lãnh nếu như đến hạn thanh toán mà họ không trả được nợcho ngân hàng Bên bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu ngân hàng kiểm tra việc sửdụng vốn vay của khách hàng vay khi cần thiết Quan hệ giữa ngân hàng và bên bảolãnh chấm dứt khi bên bảo lãnh đã trả nợ thay cho bên được bảo lãnh và lúc này bênbảo lãnh sẽ là chủ nợ trực tiếp của khách hàng vay vốn

Bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản:

Ngân hàng không có được quyền ưu tiên trong thanh lý tài sản bảo đảm củakhách hàng để thu hồi nợ do đây là phương thức cho vay vốn của tổ chức tín dụng

mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được cam kết bảo đảm bằng tài sản.Việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản thường được áp dụng đối với nhữngkhách hàng có uy tín, có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả hoặc theochính sách của chính phủ

Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản bao gồm các hình thức sau:

+ Tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản

Các NHTM chủ động lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản khikhách hàng vay vốn ngắn, trung hoặc dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư pháttriển, phương án sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho các khoảncho vay ngân hàng cũng phải có những điều kiện đối với khách hàng vay vốn nhưphải có uy tín trong việc vay trả nợ đúng hạn hay khách hàng có các dự án đầu tư

Trang 21

hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả thi có khả năng trả nợ… Trong trường hợpnày ngân hàng tự quyết định mức cho vay dựa trên mức độ tín nhiệm, tình hình thực

tế sản xuất kinh doanh, khả năng chi trả khoản vay của khách hàng Ngoài ra, còn

có một số trường hợp ngân hàng không được cho vay không có tài sản bảo đảmtheo quy định của pháp luật

+ Tổ chức tín dụng cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ.

TCTD cho vay không có bảo đảm đối với khách hàng vay để thực hiện các dự

án đầu tư thuộc chương trình kinh tế trọng điểm của Nhà nước, chương trình kinh tế

xã hội và đối với một số những khách hàng thuộc diện đối tượng được hưởng cácchính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo quy định tại các văn bản luật.Chính phủ sẽ xử lý tổn thất cho TCTD trong trường hợp khách hàng vay vốnkhông trả được nợ do các biến cố bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh… hay dokhách hàng vay vốn là các tổ chức kinh tế bị giải thể, phá sản do Nhà nước thay đổi

cơ chế chính sách dẫn đến hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn,không trả được nợ

Khách hàng vay vốn phải thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng tín dụng

đã kí kết, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những tổn thất trong việc sửdụng vốn vay mà nguyên nhân là từ phía khách hàng

Ngân hàng phải thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật trong việc xétduyệt khâu cho vay, tổ chức theo dõi riêng các khoản cho vay theo chỉ định củaChính phủ và báo cáo tình hình sử dụng vốn vay, khả năng thu hồi nợ để kịp thời cónhững kiến nghị về biện pháp xử lý khi khách hàng không có khả năng hoàn trảvốn

+ Tổ chức tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội.

Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội như: Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liênhiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam dùng uy tín của mình thực hiện bảo

Trang 22

lãnh vay vốn cho các tổ chức cá nhân, hộ gia đình nghèo để họ có thể sản xuất kinhdoanh ổn định đời sống hay hỗ trợ họ trong lúc khó khăn gặp thiên tai mất mùa…Mức vay tối đa của mỗi cá nhân, hộ gia đình nghèo được tổ chức đoàn thểchính trị - xã hội bảo lãnh bằng tín chấp do NHNN Việt Nam quy định trong từngthời kỳ Đây là hình thức cho vay mang tính xã hội cao tuy nhiên do chủ yếu là cho

hộ nghèo vay vốn nên tỷ suất sinh lời thấp, khả năng trả nợ khó do đó gây ra rủi rolớn cho ngân hàng

1.3 Chất lượng bảo đảm tiền vay của NHTM

1.3.1 Khái niệm

Sự cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các NHTM đều phảinâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh đặc biệt là hoạt động tín dụng do đây làhoạt động đem lại khả năng sinh lời nhiều nhất đồng thời cũng chứa đựng rủi ro lớnnhất Trong đó, vấn đề nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay luôn luôn được đặt rađối với mỗi cán bộ tín dụng trong quá trình cho khách hàng vay vốn Chất lượngbảo đảm tiền vay không chỉ phản ánh chất lượng những tài sản mà ngân hàng chấpnhận làm bảo đảm cho những món vay của khách hàng mà nó còn phản ánh khảnăng thu hồi nợ của các khoản cho vay

Do vậy, có thể nêu ra khái niệm như sau:

“ Chất lượng bảo đảm tiền vay là hiệu quả của việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay để đảm bảo các khoản cho vay của Ngân hàng sẽ được trả đúng hạn và có lãi.”

Trong trường hợp khách hàng vay có bảo đảm bằng tài sản đến hạn thanh toán

mà không trả nợ thì ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi vốn

Do đó có thể nói bảo đảm tiền vay là một yếu tố không những ràng buộc tráchnhiệm trả nợ của khách hàng,bảo đảm khả năng hoàn trả vốn mà còn là nguồn manglại lợi nhuận cho ngân hàng vì giúp ngân hàng hạn chế được các rủi ro xảy ra

1.3.2 Ý nghĩa của chất lượng bảo đảm tiền vay đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Chất lượng bảo đảm tiền vay có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Nếu việc thực

Trang 23

hiện BĐTV không tốt sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ vay, dẫnđến khả năng mất vốn làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng đốivới khách hàng Từ lý do này có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản gây ra tình trạng rúttiền hàng loạt, nguy cơ phá sản của ngân hàng là rất cao Hoạt động của ngân hàngmang tính xã hội nên sự sụp đổ của ngân hàng sẽ tác động lớn đến nền kinh tế Do

đó vấn đề đặt ra là các ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng hoạt động bảo đảmtiền vay bởi nếu chất lượng BĐTV càng cao thì khả năng thu hồi nợ của ngân hàngcàng được bảo đảm từ đó giảm bớt tổn thất cho ngân hàng khi rủi ro tín dụng xẩy ra

Để bảo đảm tiền vay có chất lượng thì đồng thời đi liền với nó là tính hiệu quảcủa hàng loạt các khâu như thẩm định dự án, giám sát quá trình sử dụng vốn củakhách hàng vay,theo dõi tình hình sử dụng và bảo quản các tài sản bảo đảm Chất lượng bảo đảm tiền vay có ý nghĩa rất lớn trong hạn chế rủi ro nhưng quáchú trọng coi bảo đảm là cơ sở quyết định cho vay còn các yếu tố khác lại khôngchú trọng đúng mức sẽ làm giảm chất lượng tín dụng Chính vì vậy, việc quan tâm

và nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay là một đòi hỏi tất yếu khách quan nhằmgiảm thiểu rủi ro, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng phát triển trên cơ sở an toàn,

ổn định cũng như củng cố, nâng cao uy tín, tăng cường sức mạnh cạnh tranh của cácngân hàng thương mại

1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng bảo đảm tiền vay

1.3.3.1 Chỉ tiêu về thu nhập từ hoạt động tín dụng

NHTM hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận Muốn thu được lợi nhuận cao thì NHphải quản lý tốt các khoản mục tài sản nhất là khoản mục cho vay bởi đây là hoạtđộng đem lại thu nhập lớn nhất đồng thời kèm theo đó là rủi ro cao Chất lượng củahoạt động bảo đảm tiền vay thể hiện hiệu quả của việc sử dụng các biện phápBĐTV để thu hồi được cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng Hoạt động BĐTV có chấtlượng thì cũng góp phần tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng.Vì vậy, có thể đánhgiá chất lượng của hoạt động này thông qua những chỉ tiêu đánh giá chất lượng củahoạt động này thông qua những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của một khoản vay

Thu nhập từ hoạt động

Thu nhập từ hoạt động cho vay

Tổng thu nhập

Trang 24

Chỉ tiêu này cho biết thu nhập mà ngân hàng nhận được là bao nhiêu so vớitổng thu nhập Một ngân hàng có tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng trên tổngthu nhập mà càng cao đồng nghĩa với chất lượng của hoạt động tín dụng nói chung

và hoạt động BĐTV nói riêng tốt Tuy nhiên, hiện nay các NHTM đều cố gắng giatăng nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng như thu từ kinh doanh trên thị trường liênngân hàng, những khoản lời thu từ đầu tư trái phiếu, chứng khoán… hơn là thu từtín dụng bởi hoạt động này chứa đựng quá nhiều rủi ro

1.3.3.2 Nhóm chỉ tiêu an toàn

Nợ xấu là những khoản nợ có dấu hiệu hoặc có bằng chứng rõ ràng cho thấy

khách hàng không có khả năng trả nợ đầy đủ và đúng hạn theo cam kết Theo quyđịnh tại điều 7 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN nợ xấu là những khoản nợ nhóm3,4,5

+ Nợ nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn ) bao gồm : Các khoản nợ được tổ chức tíndụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợnày được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.+ Nợ nhóm 4 ( Nợ nghi ngờ ) bao gồm : Các khoản nợ được tổ chức tín dụngđánh giá là khả năng tổn thất cao

+ Nợ nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn ) : Các khoản nợ được tổ chức tín dụngđánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

Tổng dư nợ xấu Tổng dư nợ cho vay

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và / hoặc lãi đã quá hạn Nhóm chỉ tiêu về nợ quá hạn bao gồm một số chỉ tiêu như nợ quá hạn đối với các hình thức bảo đảm trên tổng dư nợ, nợ quá hạn đối với từng hình thức bảo đảm trên tổng dư nợ, nợ quá hạn đối với từng hình thức trên tổng dư nợ quá hạn…

Tỷ lệ nợ quá hạn =

Tổng dư nợ quá hạn Tổng dư nợ cho vay

Trang 25

Các chỉ tiêu về nợ quá hạn và nợ xấu phản ánh mức độ an toàn trong hoạtđộng tín dụng Chỉ tiêu càng cao thì chất lượng BĐTV càng thấp và ngược lại Tỷ lệ

nợ xấu, nợ quá hạn cao chứng tỏ ngân hàng đang gặp khó khăn về việc thu hồi nợcủa khách hàng Tỷ lệ nợ xấu duới 5% được coi là nằm trong giới hạn cho phép nếulớn hơn thì ngân hàng cần phải xem xét rà soát lại kĩ càng các khoản mục đầu tưvốn tín dụng của mình

Tỷ lệ nợ đã xử lý rủi ro =

Nợ khó đòi đã xử lý Tổng dư nợ bình quân

Việc khách hàng không trả nợ đúng hạn , công tác thu hồi nợ khó đòi gặp nhiềukhó khăn sẽ khiến cho ngân hàng phải đối mặt với hàng loạt các rủi ro: chi phí giatăng để tìm nguồn mới chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng

1.3.3.3 Nhóm các chỉ tiêu về mức độ đảm bảo của tài sản

Chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ có tài sản bảo đảm trên tổng dư nợ

Tỷ lệ dư nợ có tài sản bảo đảm

trên tổng dư nợ =

Dư nợ có tài sản bảo đảm

x 100% Tổng dư nợ

Đây là chỉ tiêu cho biết bao nhiêu phần trăm dư nợ của ngân hàng được bảođảm bằng tài sản Các ngân hàng hiện nay thường duy trì tỷ lệ này từ 60% đến 80%.Theo lý thuyết, tỷ lệ này càng cao thì chất lượng bảo đảm tiền vay càng tốt Tuynhiên, ngân hàng cũng cần phải xem xét về chất lượng tài sản bảo đảm Việc chovay của một ngân hàng không chỉ dựa vào tài sản bảo đảm mà còn phải dựa vào tínhkhả thi của phương án sản xuất kinh doanh và tình hình hoạt động của khách hàng

Có như thế thì ngân hàng mới đảm bảo được an toàn các khoản cho vay của mình

Chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ cho vay tín chấp so với dư nợ cho vay có TSBĐ

Tỷ trọng dư nợ cho vay tín

chấp so với dư nợ cho vay

có TSBĐ

= Dư nợ cho vay tín chấp x 100%

Dư nợ cho vay có TSBĐ

Chỉ tiêu này cho biết số dư nợ cho vay tín chấp bằng bao nhiêu phần trăm sovới dư nợ cho vay có đảm bảo bằng tài sản trong đó dư nợ cho vay tín chấp là sốtiền mà ngân hàng hiện đang cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách vay, không cần

Trang 26

có tài sản bảo đảm còn dư nợ cho vay có tài sản bảo đảm là số tiền mà ngân hànghiện đang cho vay có bảo đảm bằng tài sản.

Về mặt lý thuyết, tỷ trọng dư nợ cho vay tín chấp so với dư nợ cho vay có tàisản bảo đảm càng nhỏ sẽ càng đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng, tuynhiên trên thực tế tuỳ thuộc vào chính sách cho vay, đối tượng khách hàng,… màmỗi ngân hàng sẽ lựa chọn dư nợ cho vay tín chấp lớn hơn hay nhỏ hơn dư nợ chovay có tài sản bảo đảm

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng

1.3.4.1 Nhân tố khách quan

Môi trường kinh tế

Khi nền kinh tế có sự biến động, thay đổi thì ngân hàng cũng như các doanhnghiệp khác hoạt động kinh doanh đều chịu ảnh hưởng, đặc biệt là công tác bảođảm tiền vay của ngân hàng vì nó liên quan chặt chẽ đến tài sản của các cá nhân và

tổ chức trong nền kinh tế

Một nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng ổn định, môi trường kinh doanhthuận lợi, nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng là cơ hội rất tốt cho các doanh nghiệpđầu tư mở rộng sản xuất do đó nhu cầu tín dụng ngân hàng trong giai đoạn này làrất cao Ngân hàng cũng dễ dàng cho vay vì khả năng gặp rủi ro mất vốn là rất thấpmặt khác TSBĐ cũng dễ mua bán trên thị trường, có tính thanh khoản cao hơn Dovậy, chất lượng công tác bảo đảm tiền vay nhờ đó cũng tăng lên

Trái lại trong giai đoạn kinh tế trì trệ, đầu tư không mang lại hiệu quả… nhữngbiến động về tỷ giá hoặc biến động về thị trường làm cho chủ đầu tư bị bất ngờ, dẫnđến tình trạng dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khả năng trả nợ chongân hàng đồng thời các tài sản bảo đảm mà ngân hàng nắm giữ có thể sẽ biếnđộng, gây ảnh hưởng bất lợi cho ngân hàng trong việc định giá cũng như xử lý tàisản bảo đảm và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả BĐTV

Môi trường pháp lý

Chính phủ, NHNN và các bộ liên quan ban hành các văn bản pháp luật hỗ trợngân hàng trong việc thực hiện bảo đảm tiền vay Mỗi ngân hàng dựa vào đó mà cócác văn bản qui định thực hiện BĐTV của khách hàng riêng phù hợp với đường lối

Trang 27

phát triển của ngân hàng trong việc sử dụng biện pháp bảo đảm nào, những tài sảnnào được dùng làm TSBĐ… Tùy thuộc vào tình hình kinh tế của mỗi quốc gia, tùytừng giai đoạn phát triển mà các văn bản quy định các điều kiện áp dụng các hìnhthức bảo đảm tiền vay được nới lỏng hay thắt chặt Các văn bản liên quan đến bảođảm tiền vay có sự thống nhất với nhau, hoàn thiện và chặt chẽ sẽ là hành lang pháp

lý an toàn khi cho vay của ngân hàng, giúp ngân hàng phần nào tránh được sự lừađảo khi khách hàng lợi dụng những sơ hở, yếu kém của hệ thống pháp luật

Yếu tố từ phía tài sản bảo đảm

Khi quyết định xử lý tài sản đảm bảo thì mức độ an toàn, thị trường tiêu thụcủa tài sản cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hồi khoản vay cũng như chấtlượng BĐTV Tài sản nào càng có tính thanh khoản cao, càng dễ tiêu thụ thì khi gặprủi ro ngân hàng lại bán được dễ dàng với chi phí thấp, nhờ đó có thể thu hồi vốnnhanh hơn bù đắp cho khoản nợ không thu được từ phía khách hàng

Các yếu tố từ phía khách hàng

Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, sử dụng vốn sai mục đích

Muốn nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay thì ngân hàng cần phải xem xéthiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đến uy tín, năng lựcpháp lý, tài chính của khách hàng Khách hàng có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ củamình thì yêu cầu về hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng mới đạt được

Nếu như khách hàng có năng lực tài chính thấp quản lý yếu kém mà ngânhàng vẫn cho vay thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro rất lớn khi khách hàngkhông có khả năng hoàn trả vốn

Với những khách hàng có đủ tiềm năng về tài chính, doanh nghiệp có trình độquản lý cao và chuyên nghiệp thì việc thu hồi vốn của ngân hàng được đảm bảo hơn

và như vậy BĐTV mới mang lại ý nghĩa

Do vậy, muốn nâng cao chất lượng đảm bảo tiền vay thì việc tìm hiểu xử lýnhững khó khăn trước, trong và sau quá trình cho vay luôn luôn được đặt ra cho mỗi NH

Trang 28

Đạo đức của người đi vay

Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động bảo đảm tiền vay bởinguồn thông tin do khách hàng cung cấp là cơ sở để ngân hàng tiến hành thẩm định,dựa vào đấy để quyết định có cho vay hay không Những thông tin về khách hàng đềuchủ yếu dựa trên sự cung cấp của khách hàng Khi khách hàng đến vay vốn, tâm lýcủa họ là che giấu những thông tin không tốt về mình để mong được ngân hàng chovay Nhiều khách hàng biết rõ TSBĐ không đáp ứng được các điều kiện của ngânhàng thì họ cũng không mong muốn để ngân hàng biết Do đó, nếu ngân hàng khôngkiểm tra được tính chân thật của các thông tin này thì ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro rấtcao đồng nghĩa với việc bảo đảm tiền vay cũng không còn có ý nghĩa nữa

Ngân hàng có thể lâm vào tình trạng có tài sản bảo đảm mà cũng như khôngkhi tài sản thế chấp thực chất đã hết giá trị Ngược lại, cán bộ tín dụng sẽ dễ dànghơn trong việc thẩm định cũng như lựa chọn các hình thức bảo đảm phù hợp gópphần nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay nếu khách hàng cung cấp những thôngtin chính xác và đầy đủ Vì vậy, khi cho vay ngân hàng cần phải xét đến tư cách đạođức cũng như năng lực tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh thì mới có thể đưa

ra các quyết định hợp lý đảm bảo nâng cao chất lượng của hoạt động BĐTV

1.3.4.2 Nhân tố chủ quan

Qui trình bảo đảm tiền vay:

Việc thực hiện BĐTV của khách hàng đều phải trải qua các khâu thẩm định ,định giá, quản lý nếu không thu hồi được nợ thì sẽ xử lý TSBĐ Chất lượng BĐTV

có đảm bảo hay không tùy thuộc vào việc thực hiện tốt các qui định ở từng bước.Bất kỳ một khâu nào trên đây thực hiện không tốt sẽ dẫn đến chất lượng BĐTVkhông tốt

Hoạt động thẩm định khách hàng

Thẩm định là khâu quan trọng nhất quyết định giá trị tài sản bảo đảm mà ngânhàng chấp nhận là bao nhiêu tạo căn cứ cho việc đưa ra quyết định cho các khâutiếp theo: mức cho vay, thời gian, số tiền vay, lãi suất vay và hình thức bảo đảm.Thẩm định nhằm giúp ngân hàng dựa vào các thông tin thực tế thu thập được màtính toán được tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ và những rủi ro khi

Trang 29

không thu hồi được vốn để ra quyết định áp dụng các hình thức bảo đảm tiền vaythích ứng với điều kiện của từng khách hàng

Quá trình này được thực hiện càng cẩn thận và chi tiết bao nhiêu thì khả năngthu hồi cả gốc và lãi khi đến hạn thanh toán càng cao, vốn tín dụng luân chuyểnđược nhanh hơn Ngược lại, nếu khâu thẩm định khách hàng của ngân hàng thựchiện không tốt sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động cho vay cũng như là hoạt độngbảo đảm tiền vay như có những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả ngân hàng lạicho vay không có bảo đảm bằng tài sản thì khả năng xảy ra rủi ro mất vốn là rất cao

Định giá giá trị TSBĐ tiền vay

Tài sản bảo đảm tiền vay phải được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồngbảo đảm để làm cơ sở xác định mức cho vay của ngân hàng Việc định giá phảiđược thực hiện trên cơ sở pháp lý hoặc cơ sở thực tế mà thị trường thì luôn biếnđộng do đó công việc định giá tài sản gặp rất nhiều khó khăn trong việc bảo đảmđược tính khách quan, minh bạch và chính xác

Việc định giá tài sản cao hơn hay thấp hơn giá trị thực tế của tài sản bảo đảmđều ảnh hưởng đến chất lượng bảo đảm tiền vay của ngân hàng Ngân hàng nếuđịnh giá cao hơn giá trị thực tế của tài sản thì sẽ gặp rủi ro khi phải xử lý tài sản bảođảm để thu hồi nợ

Trong thời buổi cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các ngân hàng không ngừngđưa ra các chính sách ưu đãi thu hút khách hàng nên nếu định giá thấp hơn sẽ gâykhó khăn cho khách hàng trong việc tiếp cận vốn vay của ngân hàng, gây tâm lý engại không muốn vay vốn của ngân hàng nữa và họ sẽ chuyển sang ngân hàng khác.Ngược lại, nếu công tác định giá được ngân hàng thực hiện tốt thì sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho ngân hàng trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm để

thu hồi nợ, khách hàng cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với vốn vaycủa ngân hàng

Quản lý TSĐB

Quản lý TSĐB là việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá lại tài sản bảo đảm Nếukhông được quản lý cẩn thận, ngân hàng không kịp thời phát hiện được những sự cố

Trang 30

liên quan thì sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản từ đó gây khó khăn cho ngân hàngtrong việc xử lý nếu không thu hồi được nợ của khách hàng.

Xử lý TSBĐ

Trong trường hợp khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợđược ngân hàng xử lý để thu hồi nợ Việc xử lý tài sản nhanh chóng sẽ giúp ngânhàng thu hồi vốn và đảm bảo an toàn tín dụng cũng như tiết kiệm được thời gian vàchi phí Xử lý TSBĐ cũng có khi gặp khó khăn do vướng mắc trong quá trình thanh

lý hay do lợi ích các bên bị mâu thuẫn không thể giải quyết được phải nhờ đến sựphân giải của toà án thì khi đó khoản nợ có thể không thu hồi được đầy đủ, ngoài rangân hàng còn có thể mất rất nhiều thời gian và chi phí trong các vụ kiện tụng này

Chính sách tín dụng

Bất cứ ngân hàng nào cũng có tiêu chí cho vay nhất định, tiêu chí phân loạinợ… những tiêu chí này chi tiết và hợp lý sẽ tạo nên chuẩn mực cho cán bộ làmviệc, giảm bớt tính chủ quan trong việc ra quyết định cho vay và yêu cầu bảo đảm

Từ đó, nâng cao chất lượng hoạt động cho vay bảo đảm tiền vay Tùy từng thời kỳ,từng giai đoạn khác nhau mà ngân hàng thực hiện các chính sách tín dụng cho phùhợp với những chiến lược và mục tiêu phát triển cụ thể để có thể chủ động tronghoạt động kinh doanh Các đối tượng khách hàng vay vốn là rất lớn và bao gồmnhiều thành phần khác nhau nên ngân hàng phải có những chính sách, chiến lượccho vay của mình để xem nó phù hợp với đối tượng nào hơn và có biện pháp bảođảm tiền vay thích hợp trong từng thời kỳ Khi ngân hàng muốn mở rộng thị phần,đẩy mạnh nghiệp vụ cho vay thì sẽ mở rộng danh mục tài sản đảm bảo và linh hoạthơn trong công tác BĐTV Tuy nhiên nếu chính sách bảo đảm không phù hợp thìcác khoản vay sẽ tiềm ẩn rủi ro rất lớn Ngược lại, khi ngân hàng áp dụng chính sáchtín dụng chặt chẽ thì việc đưa ra những quy định nghiêm ngặt hơn về tài sản bảođảm cũng là một biện pháp hiệu quả

Hệ thống thông tin

Nâng cao chất lượng hoạt động bảo đảm tiền vay đòi hỏi phải có những thôngtin về khách hàng lẫn tài sản đảm bảo một cách đầy đủ, khách quan và chính xác

Trang 31

Thông tin có thể thu thập từ cả nguồn bên trong lẫn bên ngoài Ngân hàng phảixuống tận doanh nghiệp để tìm hiểu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũngnhư trực tiếp đánh giá giá trị TSBĐ Trên cơ sở những thông tin đó cán bộ tín dụngmới có thể đưa ra những quyết định đúng đắn về việc cho vay có hay không cóTSBĐ từ đó có các biện pháp quản lý theo dõi thu hồi nợ, tránh được các rủi ro vàthực hiện BĐTV có ý nghĩa Do đó, thông tin là yếu tố không thể thiếu và quantrọng trong việc ra quyết định cho vay cũng như lựa chọn hình thức BĐTV.

Chất lượng cán bộ tín dụng

Cán bộ tín dụng là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng vay vốn,thẩm định khách hàng để đưa ra các hình thức đảm bảo phù hợp Trình độ của cán

bộ tín dụng là rất quan trọng nó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả cho vay Các cán

bộ tín dụng có nhiệm vụ rà soát, thẩm định thông tin, đánh giá khách hàng, dự án…trước khi ra các quyết định cho vay chính vì vậy một ngân hàng nếu có đội ngũ cán

bộ tín dụng giỏi chuyên môn, có kiến thức và kinh nghiệm, am hiểu pháp luật thì sẽ

có khả năng phân tích, đánh giá về tài sản bảo đảm chính xác hơn và không bịkhách hàng đánh lừa

Ngoài kiến thức và năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cũng là mộtnhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng công tác bảo đảm tiền vay Xã hộingày càng hiện đại, đồng tiền ngày càng chiếm vị trí quan trọng thì con người lạicàng dễ bị ảnh hưởng bởi sức mạnh của đồng tiền nhất là trong hoạt động ngânhàng, thường xuyên tiếp xúc với tiền thì cán bộ tín dụng lại rất dễ nảy sinh lòngtham, họ có thể móc nối với khách hàng để lừa đảo rút tiền ngân hàng Vì vậy, mộtđội ngũ cán bộ ngân hàng vừa giỏi chuyên môn vừa có đạo đức nghề nghiệp sẽmang lại các khoản vay an toàn, nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và chấtlượng hoạt động bảo đảm tiền vay nói riêng

Như vậy, các ngân hàng cần xem xét đến các nhân tố ảnh hưởng để có thể đưa

ra được những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng BĐTV Cónhư vậy mới đảm bảo được chất lượng tín dụng tốt nhất cho ngân hàng góp phầnphát triển, nâng cao uy tín của ngân hàng trong nền kinh tế

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NH No&PTNT

HUYỆN ỨNG HOÀ - HÀ NỘI

2.1 Khái quát về NHNo&PTNT huyện Ứng Hoà

và Phát triển Nông thôn Thành phố Hà Nội, có trụ sở chính tại Thị trấn Vân Đình,Huyện Ứng Hoà, Thành phố Hà Nội

2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ

a Chức năng của chi nhánh NHNo&PTNT

Trực tiếp kinh doanh trên địa bàn theo phân cấp của Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Tổ chức điều hành kinh doanh và kiểm tra, kiểm toán nội bộ theo ủy quyềncủa Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao và lệnh của Tổng giám đốc Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

b Nhiệm vụ của chi nhánh NHNo&PTNT

1 Huy động vốn:

 Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửithanh toán của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước vànước ngoài bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ

Trang 33

Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng và thực hiệncác hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn.

2 Cho vay ngắn, trung, dài hạn bằng đồng Việt Nam đối với các tổ chức kinh

tế, cá nhân hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế theo phân cấp ủy quyền

3 Hướng dẫn khách hàng xây dựng dự án, thẩm định các dự án tín dụng vượtquyền phán quyết, trình NHNo&PTNT cấp trên xét duyệt

4 Kinh doanh các nghiệp vụ ngoại hối khi được Tổng giám đốc Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép

5 Kinh doanh dịch vụ: thu, chi tiền mặt, két sắt, nhận cất giữ các giấy tờ trịgiá được bằng tiền; thẻ thanh toán, nhận ủy thác cho vay của các tổ chức tài chính,tín dụng, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; các dịch vụ khác được Ngânhàng Nhà nước, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định

6 Thực hiện hạch toán kinh doanh và phân phối thu nhập theo quy định củaNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

7 Thực hiện kiểm tra kiểm toán nội bộ việc chấp hành thể lệ, thể chế nghiệp

vụ trong phạm vi địa bàn theo quy định

8 Tổ chức thực hiện việc phân tích kinh tế liên quan đến hoạt động tiền tệ, tíndụng và đề ra kế hoạch kinh doanh phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hộiđịa phương

9 Chấp hành đầy đủ các báo cáo, thống kê theo chế độ quy đinh và theo yêucầu đột xuất của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT cấp trên

10 Thực hiện các nhiệm vụ khác được Giám đốc chi nhánhNHNo&PTNT cấp trên giao

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

NH No&PTNT huyện Ứng Hoà là một NHTM trực thuộc NH No&PTNT HàNội Bộ máy tổ chức được áp dụng theo phương pháp trực tuyến, tức là Ban giámđốc quản lý tất cả các phòng ban, các phòng quản lý về mặt nghiệp vụ và giữa cácphòng có mối liên hệ mật thiết với nhau

Trang 34

Hiện nay, NHNo&PTNT huyện Ứng Hoà có 29 cán bộ công nhân viên(CBCNV), ngoài Ban giám đốc còn 4 phòng ban chức năng là Phòng nghiệp vụkinh doanh, Phòng kế toán - ngân quỹ, Phòng hành chính nhân sự và Phòng giaodịch Hoạt động của Ngân hàng nhìn chung có nhiều thuận lợi, ổn định và có hiệuquả Ban giám đốc gồm 3 người có trách nhiệm lãnh đạo, quản lý đề ra phương án

và chỉ đạo cơ quan thực hiện

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của NH No&PTNT huyện Ứng Hoà

Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tậptrung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội côngbằng,dân chủ, văn minh, tiến tới hòa nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới Đónggóp phần không nhỏ vào sự nghiệp chung đó là hệ thống NHTM với chức năng làtrung gian tài chính, trung gian chu chuyển vốn, là cầu nối giữa các thành phầntrong nền kinh tế lại với nhau

CÁC PHÓ GIÁM ĐỐCGIÁM ĐỐC

P.Nghiệp vụ kinh

doanh

P.Kế toán-Ngân quỹ

P.Hành chính P Giao dịch

Trưởng phòng

Phó phòng

Trưởng phòngPhó phòng

Trang 35

Huyện Ứng Hoà là một huyện ngoại thành nằm phía tây Thành phố Hà Nội, làmột huyện có tiềm năng kinh tế lớn, đa dạng, phong phú cùng với các huyện kháctrong địa bàn thành phố Ngành nghề chính của huyện là sản xuất nông nghiệp,phát triển công nghiệp chăn nuôi gia súc, gia cầm, và phát triển các loại dịch vụ…Ngoài ra, huyện còn có cả các mô hình kinh tế trang trại đang được hình thành vàphát triển Nhìn chung tiềm năng kinh tế của huyện rất lớn tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động của ngân hàng.

NH No&PTNT huyện Ứng Hoà là một NHTM trực thuộc NH No&PTNTThành phố Hà Nội, trụ sở của ngân hàng nằm ở trung tâm thị trấn Vân Đình, bêncạnh các khối cơ quan sự nghiệp chủ chốt của huyện như UBND, HĐND, KBNN,công an huyện, chi cục thuế nên rất thuận tiện cho việc giao dịch giữa ngân hàng

và khách hàng cũng như tình hình an ninh rất đảm bảo

2.1.3.1 Tình hình huy động vốn

NH No&PTNT huyện Ứng Hoà là NHTM đóng trên địa bàn thành phố, nềnkinh tế phát triển phong phú đa dạng, đồng thời có sự cạnh tranh rất lớn từ một sốngân hàng khác trong huyện như Ngân hàng Quốc tế VIB, Ngân hàng Đầu tư vàphát triển, ngân hàng chính sách xã hội và một số NHTM Cổ phần khác hoạt độngtrên địa bàn Họ có thể mạnh hơn NH No&PTNT huyện Ứng Hoà về nhiều mặt nhưnguồn vốn lớn hơn, công nghệ hiện đại hơn, kinh nghiêm kinh doanh….Do đó, đểtồn tại và phát triển đòi hỏi NH No&PTNT huyện Ứng Hoà cần phải có chiến lượcđúng đắn, hợp lý Để đạt được mục tiêu đó, trong những năm gần đây NHNo&PTNT huyện Ứng Hoà đã đa dạng hóa nghiệp vụ kinh doanh, hiện đại hóacông nghệ ngân hàng … nên hoạt động của chi nhánh đã thu hút được đông đảolượng khách hàng, huy động được nguồn vốn, chủ động đầu tư góp phần thúc đẩy

sự phát triển chung nền kinh tế của cả huyện Trong những năm gần đây, uy tín vàhiệu quả hoạt động của ngân hàng ngày càng được nâng cao và khẳng định trên thịtrường tài chính cuả huyện và thành phố

Tính đến 31/12/2012, số dư nguồn vốn đạt 134.849 triệu đồng, tăng so vớinăm 2011 là 23.312 triệu đồng, tỷ lệ tăng 20,9%

Ngày đăng: 02/11/2014, 08:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của NH No&PTNT huyện Ứng Hoà - nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện ứng hòa – hà nội
Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của NH No&PTNT huyện Ứng Hoà (Trang 36)
Bảng 2.2: Dư nợ của NH No&PTNT Huyện Ứng Hòa qua các năm - nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện ứng hòa – hà nội
Bảng 2.2 Dư nợ của NH No&PTNT Huyện Ứng Hòa qua các năm (Trang 39)
Bảng 2.3: Tình hình cho vay của NH No&PTNT Ứng Hoà - nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện ứng hòa – hà nội
Bảng 2.3 Tình hình cho vay của NH No&PTNT Ứng Hoà (Trang 39)
Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh của NH No&PTNT huyện Ứng Hoà - nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện ứng hòa – hà nội
Bảng 2.4 Kết quả kinh doanh của NH No&PTNT huyện Ứng Hoà (Trang 41)
Bảng 2.6: Tình hình bảo đảm tiền vay của NHNo&PTNT huyện Ứng Hoà năm 2012 - nâng cao chất lượng bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện ứng hòa – hà nội
Bảng 2.6 Tình hình bảo đảm tiền vay của NHNo&PTNT huyện Ứng Hoà năm 2012 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w