Một số kiến nghị nhằm phát triển hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi nhánh Hà Nội...54 3.3.1.Kiến nghị với Chính Phủ...55...
Trang 1Trường Đại Học Thương Mại Khoa:Tài Chính Ngân Hàng
Sinh Viên Thực Hiện:Nguyễn Anh Tuấn
Lớp:K45H2
Mã Sinh Viên:09D180137
Trang 2Giảng Viên Hướng Dẫn:GS.TS Đinh Văn Sơn
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt của mình tới thầy giáo GS-TS Đinh Văn Sơn- Hiệu Trưởng trường Đại học Thương Mại Hà Nội- Người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận này
Em cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới bố mẹ, các anh em, bạn bè cùng một số cán bộ trong các viện nghiên cứu, các ngân hàng- những người đã luôn động viên, cung cấp thông tin hỗ trợ em để khoá luận được hoàn chỉnh
Khoá luận viết về một đề tài khá rộng nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
Sinh Viên
Nguyễn Anh Tuấn
Trang 3Mục Lục
Danh mục các bảng và biểu đồ 5
Danh mục các ký hiệu 6
Lời nói đầu 7
Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM 9
1.1.Khái quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM 9
1.1.1.Khái niệm về kinh doanh ngoại hối 9
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM 10
1.2.Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thương mại 11
1.2.1.Nghiệp vụ giao ngay 11
1.2.2 Nghiệp vụ kỳ hạn 13
1.2.3 Nghiệp vụ hoán đổi 15
1.2.4.Nghiệp vụ tương lai 18
1.2.5 Nghiệp vụ quyền chọn 19
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM 21
1.3.1.Nhân tố khách quan 21
1.3.2 Nhân tố chủ quan 23
Chương 2.Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long 25
Trang 42.1.Giới thiệu khái quát về ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi
nhánh Hà Nội 25
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Ngân Hàng Phát Triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long 25
2.1.2 Khái quát về chi nhánh Hà Nội 25
2.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi nhánh Hà Nội 29
2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 29
2.2.2.Phương pháp xác định tỷ giá 30
2.2.3.Trạng thái ngoại tệ của chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010- 2012 30
2.2.4 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối tại chi nhánh Hà Nội 32
2.2.5 Kết quả kinh doanh ngoại hối tại Chi nhánh giai đoạn 2010-2012 35
2.3 Phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi nhánh Hà Nội 37
2.3.1.Những thành tựu đạt được 37
2.3.2.Những tồn tại và nguyên nhân 39
Chương 3.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long 43
3.1 Định hướng hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi nhánh Hà Nội 43
3.2 Giải pháp phát triển hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi nhánh Hà Nội 45
3.2.1 Nhóm giải pháp về phía ngân hàng MHB 45
3.2.2 Nhóm giải pháp về phía NHNN 54
3.3 Một số kiến nghị nhằm phát triển hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi nhánh Hà Nội 54
3.3.1.Kiến nghị với Chính Phủ 55
Trang 53.3.2.Kiến nghị với NHNN 56
3.3.3 Kiến nghị với ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long 58
Kết luận 60
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của chi nhánh MHB Hà Nội 26
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp kết quả kinh doanh của Chi nhánh (2010-2012) 27Biểu đồ 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010-2012 27
Bảng 2.2 Trạng thái ngoại tệ của Chi nhánh – giai đoạn (2010-2011) 31Biểu đồ 2.2 Doanh số mua bán ngoại tệ giai đoạn 2010-2012 32Bảng 2.3 Giao dịch ngoại tệ của chi nhánh giai đoạn 2010-2012 33
Bảng 2.4 Tỷ trọng nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ giai đoạn 2010-2012 33Bảng 2.5 Kết quả kinh doanh ngoại hối giai đoạn 2010-2012 35
Biểu đồ 2.3 Lợi nhuận từ hoạt động KDNH giai đoạn 2010-2012 35Bảng 2.6 Tỷ trọng lợi nhuận về KDNH trong tổng lợi nhuận 36
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
MHB : Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTM : Ngân hàng thương mại
KDNH : Kinh doanh ngoại hối
FOREX :Thị trường ngoại hối
TTQT : Thanh toán quốc tế
TTTM : Tài trợ thương mại
TGHĐ : Tỷ giá hối đoái
Trang 7Lời nói đầu
và ngày càng trở nên có ý nghĩa đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, thương mại xuất nhập khẩu và đầu tư của đất nước
Nếu như trước đây nguồn thu chủ yếu của các NHTM là thu từ hoạt động tín dụng (chiếm 80% - 90% tổng thu nhập của ngân hàng) thì ngày nay những nguồn thu từ các hoạt động phi truyền thống – cụ thể là hoạt động kinh doanh ngoại hối – đang dần trở thành nguồn thu quan trọng đối với mỗi ngân hàng Kinh doanh ngoại hối không chỉ đóng góp vào thu nhập của ngân hàng mà còn góp phần bổ trợ cho các dịch vụ khác và góp phần đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh nhằm tăng quy mô, tăng khả năng cạnh tranh cũng như phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trên cơ sở nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề và qua quá trình thực tập tại Ngân Hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long em đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu:
“Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long”
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của MHB, khoá luận phân tích, đánh giá và đối chiếu với thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại hối của MHB; từ đó rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế
và nguyên nhân của chúng, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của MHB
Trang 83- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khoá luận tập trung nghiên cứu:
-Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của MHB
-Thực trạng kinh doanh ngoại hối của MHB
-Giải pháp đẩy mạnh và tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của MHB
Phạm vi về không gian:Nghiên cứu tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi nhánh Hà Nội-Phòng giao dịch Kim Mã
Phạm vi về thời gian: Hoạt động kinh doanh ngoại hối của MHB từ năm 2010 tới nay
4- Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung, khoá luận đặc biệt chú ý sử dụng một số phương pháp như khảo sát, thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, diễn dịch- quy nạp để xử lý các
số liệu Ngoài ra, khoá luận còn sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, biểu đồ để làm tăng thêm tích trực quan của khoá luận
5- Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, khoá luận bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM
Chương 2:Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân
hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long.
Trang 9Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM
1.1. Khái quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM
1.1.1.Khái niệm về kinh doanh ngoại hối
1.1.1.1. Ngoại hối:
Ngoại hối (Foreign Exchange) bao gồm các phương tiện tiền tệ được sử dụng trong thanh toán quốc tế Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm:
- Ngoại tệ: Là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các nước khác
và Quyền rút vốn đặc biệt) Ngoại tệ có thể hiểu là tiền xu, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền
- Các giấy tờ có giá trị ghi bằng ngoại tệ, như séc thương mại, chấp phiếu ngân hàng,
kỳ phiếu, hối phiếu, trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác
- Vàng tiêu chuẩn quốc tế: Đây là vàng được sử dụng với vai trò là tiền trong thanh toán quốc tế
- Đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ
Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trên thực tế người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ, còn các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ không được giao dịch trực tiếp trên thị trường ngoại hối; do vai trò tiền tệ của vàng giảm đáng kể nên khi nói đến thị trường ngoại hối người ta thường hiểu đó là thị trường mua bán ngoại tệ Trong khóa luận, các khái niệm ngoại hối trùng với ngoại tệ và thị trường ngoại hối trùng với thị trường ngoại tệ
1.1.1.2. Kinh doanh ngoại hối:
Khi các NHTM đứng ra làm trung gian mua bán, trao đổi các đồng tiền với nhau thì người ta nói các NHTM này tiến hành hoạt động KDNT Vậy KDNT là gì?
Trang 10Kinh doanh ngoại tệ là việc mua, bán, vay, gửi các loại ngoại tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối nhu cầu về ngoại tệ cho các ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất của các đồng tiền khác nhau.
Trong xu thế hội nhập và phát triển thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, việc tham gia ngoại tệ trong quan hệ kinh tế quốc tế là điều tất yếu Hơn thế nữa cùng với sự phát triển của kinh tế là sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, nên việc cung ứng sản phẩm mới (trong đó có hoạt động KDNH) là cách tốt nhất để các ngân hàng nâng cao vị thế của mình, chiến thắng các đối thủ trong cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối cũng có ý nghĩa trong việc nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.Nó giúp Việt Nam thực hiện được những quan hệ đối ngoại với các quốc gia khác nhau trên thế giới mà không phải khó khăn khi sử dụng những đồng tiền khác nhau
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM.
Tỷ giá hối đoái và khối lượng giao dịch ngoại hối.
Khối lượng giao dịch là số lượng mua bán ngoại hối của ngân hàng diễn ra hàng ngày,tháng, quý hay năm
Trong rổ tiền tệ thì USD được dùng làm đồng tiền chuẩn trong giao dịch và USD cũng là đồng ngoại tệ được giao dịch nhiều nhất trên thị trường tiền tệ Khi thị trường tiền tệ có sự biến động về tỷ giá hối đoái thì sẽ ảnh hưởng đến khối lượng giao dịch trên thị trường Điều này cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng và của khách hàng vì khó lường trước được biến động tỷ giá nên sẽ khó dự báo được giao dịch trên thị trường sẽ xảy ra theo chiều hướng nào Nếu tỷ giá hối đoái trên thị trường cao hơn giá trần của Ngân hàng Nhà nước đưa ra sẽ làm cho khối lượng giao dịch hối đoái trong ngân hàng
ít lại, vì ngân hàng sẽ không dám mua vượt qua giới hạn giá mà Ngân hàng Nhà nước quy định Nguồn vốn của ngân hàng sẽ chậm thanh khoản gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh Trường hợp nếu tỷ giá của loại ngoại tệ này (USD) tăng lên cao sẽ dẫn đến khối lượng giao dịch về USD tăng lên gây khó khăn cho ngân hàng vì thiếu nguồn USD bán cho khách hàng
Doanh thu và lợi nhuận từ việc mua bán ngoại hối.
Trang 11Doanh thu ngoại hối là luồng tiền có được khi ngân hàng mua bán ngoại tệ trên thị trường.
Lợi nhuận là số tiền có được từ doanh thu sau khi trừ đi chi phí, tính toán lãi lỗ từ việc kinh doanh ngoại hối
Sau khi tổng kết giao dịch theo quý, kết quả lợi nhuận cao hay thấp sẽ đánh giá được hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng
Tính thanh khoản của ngoại tệ.
Tính thanh khoản của ngoại tệ được hiểu là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của các khoản nợ, các khoản phải thu bằng ngoại tệ của ngân hàng
Đối với hoạt động kinh doanh ngoại hối thì chỉ tiêu thanh khoản là chỉ tiêu quan trọng nhất
để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng
Trong giao dịch hối đoái thì ngoại tệ luôn mang tính thanh khoản cao Tuy nhiên, khi có sự biến động mạnh theo chiều hướng tiêu cực về tỷ giá hối đoái của một số loại ngoại tệ trong
rổ tiền tệ thì loại ngoại tệ này sẽ mang tính thanh khoản thấp gây khó khăn trong việc điều chỉnh nguồn vốn hoạt động của ngân hàng
Chức năng của việc giao dịch hối đoái là đa dạng nguồn thu cho ngân hàng đồng thời giải quyết kịp thời nhu cầu về vốn của các bộ phận trong ngân hàng
Các ngân hàng có nhiều chi nhánh, mỗi chi nhánh có nhiệm vụ và chức năng riêng nên nhu cầu về vốn cũng khác nhau như chi nhánh này cần mua USD, chi nhánh khác lại cần mua EUR,…Giao dịch hối đoái sẽ đóng vai trò trong hoạt động bảo đảm nguồn vốn hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch và các chi nhánh
1.2.Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thương mại
1.2.1.Nghiệp vụ giao ngay
Kinh doanh giao ngay được thống nhất trên thị trường quốc tế chỉ bao gồm việc mua bán các đồng tiền khác nhau trên tài khoản ngân hàng và các bên mua bán tiến hành thanh toán ngay sau khi đã thoả thuận Giao dịch giao ngay là nghiệp vụ trong đó việc thanh toán được thực hiện trong vòng hai ngày làm việc kể từ ngày ký kết hợp đồng Trong đó, tỷ giá giao ngay được xác định theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng
Trang 12Nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ cơ sở vì tỷ giá áp dụng cho các hợp đồng giao ngay được hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng và các hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và tài chính quốc tế… đòi hỏi các quốc gia phải thực hiện thanh toán quốc tế, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia theo tỷ lệ nhất định.
Theo nghĩa rộng, thị trường giao ngay gồm: thị trường bán buôn (Interbank) và thị trường bán lẻ (với khách hàng phi ngân hàng) nhưng doanh số giao dịch chủ yếu trên Interbank chiếm đa số nên người ta còn gọi nó là thị trường liên ngân hàng
Thị trường giao ngay là thị trường phi tập trung (không giao dịch trên sở giao dịch), các thành viên bao gồm các NHTM, các công ty tài chính lớn, những nhà môi giới ngoại tệ
và cả NHTW Trong đó, các NHTM đóng vai trò chủ chốt, NHTW tham gia thị trường nhằm thay đổi tỷ giá hối đoái hoặc thực hiện các chuyển đổi cho chính phủ
Tỷ giá được hình thành trên Interbank là tỷ giá bán buôn, đây là tỷ giá giao dịch giữa các ngân hàng Tỷ giá mà ngân hàng áp dụng cho khách hàng của mình gọi là tỷ giá bán lẻ, được hình thành trên cơ sở của Interbank So với tỷ giá bán buôn thì Spread của tỷ giá bán
lẻ là rộng hơn, như vậy, ngân hàng đã mua của khách hàng rẻ hơn và bán cho khách hàng đắt hơn Spread của thị trường bán lẻ phụ thuộc vào số lượng giao dịch Các ngân hàng không nhất thiết tham gia trên Interbank đặc biệt là các giao dịch nhỏ Tuy nhiên, tỷ giá bán lẻ của ngân hàng vẫn được dựa trên tỷ giá liên ngân hàng do các NHTM có thể cập nhật tỷ giá với nhau thông qua hệ thống nối mạng vi tính, điện thoại, telex và hệ thống SWIFT
Tại Mỹ cũng như hầu hết các nước khác, thị trường giao ngay có hai cấp Cấp thứ nhất là thị trường liên ngân hàng trực tiếp giữa các ngân hàng, đây là thị trường tập trung, liên tục, đấu giá mở và giao dịch hai chiều Cấp thứ hai là thị trường liên ngân hàng gián tiếp thông qua môi giới, đây là thị trường bán tập trung, liên tục đặt lệnh có giới hạn thông qua phương thức đấu giá một chiều
Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng hợp đồng giao ngay thì ngân hàng rất dễ gặp phải rủi ro tỉ giá Bởi thực tế, để kinh doanh ngoại tệ có lãi nhà kinh doanh phải tạo ra trạng thái ngoại
tệ mở và tỉ giá phải biến động Để kinh doanh có lãi và tránh rủi ro tỉ giá, nhà kinh doanh
Trang 13phải tạo ra trạng thái ngoại tệ theo hướng biến động của tỉ giá sao có lợi cho mình nhất Song tỉ giá lại luôn biến động thất thường và không giới hạn khiến cho cơ hội kinh doanh kiếm lãi của họ trở nên hấp dẫn hơn, nhưng đi kèm đó rủi ro cũng không thể lường trước được.
1.2.2 Nghiệp vụ kỳ hạn
a. Khái niệm
Giao dịch ngoại hối kỳ hạn là giao dịch có ngày giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay
Từ khái niệm cho thấy, ngày giá trị của các giao dịch kỳ hạn có thể là bất kỳ ngày nào kể
từ ngày làm việc thứ ba sau ngày ký kết hợp đồng cho đến vài năm trong tương lai
Hợp đồng kỳ hạn là một công cụ tài chính để mua hoặc để bán một số lượng tiền nhất định, tại một tỉ giá nhất định, tại một thời điểm xác định trong tương lai
Giao dịch kỳ hạn không diễn ra tại sở giao dịch, mà giống như giao dịch giao ngay, đây là thị trường phi tập trung của các ngân hàng và của các nhà môi giới được liên kết với nhau bằng điện thoại, Telex, vi tính và hệ thống SWIFT Bộ phận liên ngân hàng của thị trường kỳ hạn hoạt động liên tục thông qua đấu giá mở hai chiều giữa các thành viên tham gia
b. Tỷ giá kỳ hạn
Là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay
Tỷ giá kỳ hạn được tính dựa trên các cơ sở:
• Tỷ giá giao ngay (tỷ giá của các đồng tiền giao dịch tại thời điểm ký kết hợp đồng kỳ hạn)
• Mức lãi suất của các đồng tiền tham gia giao dịch
Công thức tổng quát xác định tỷ giá kỳ hạn:
( + R t )
t R R
S + S
=
F
C
T C
1
−
Trong đó:
Trang 14F: Tỷ giá kỳ hạn.
S: Tỷ giá giao ngay
RT: Mức lãi suất %/năm của đồng tiền định giá
RC: Mức lãi suất %/năm của đồng tiền yết giá
t: Thời hạn tính theo ngày
Trong thực tế kinh doanh trên thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, lãi suất của mỗi đồng tiền và tỷ giá giao ngay đều được yết hai chiều Dựa vào những tiêu thức này người ta tính được tỷ giá kỳ hạn mua vào (Forward Bid Rate - FB) và tỷ giá kỳ hạn bán ra (Forward Offer Rate – FΟ):
• Tỷ giá kỳ hạn mua vào (FB) là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua kỳ hạn đồng tiền yết giá
• Tỷ giả kỳ hạn bán ra (FO) là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán kỳ hạn đồng tiền yết giá
c. Điểm kỳ hạn
Điểm kỳ hạn là chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay Điểm kỳ hạn được xác định bởi công thức: P = F – S
Trong đó: P là điểm kỳ hạn (Point)
Đồng thời ta cũng rút ra được công thức điểm kỳ hạn như sau:
t R +
t R
R S
=
P
C
C T
Trang 15• Trường hợp P<0 khi RT<RC: điểm kỳ hạn là một số âm và được trừ khỏi tỷ giá giao ngay nên gọi là điểm kỳ hạn khấu trừ Trong trường hợp có điểm kỳ hạn khấu trừ thì tỷ giá kỳ hạn nhỏ hơn tỷ giá giao ngay, nghĩa là đồng tiền định giá sẽ lên giá kỳ hạn và đồng tiền yết giá sẽ giảm giá kỳ hạn Như vậy, căn cứ vào lãi suất của hai đồng tiền, chúng ta cũng biết được rằng đồng tiền có lãi suất thấp sẽ lên giá kỳ hạn và đồng tiền có lãi suất cao sẽ giảm giá kỳ hạn.
• Trường hợp P = 0 khi RT = RC: điểm kỳ hạn bằng không, do đó, tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay bằng nhau
Ngày nay, giao dịch ngoại hối kỳ hạn đã phát triển rất nhanh và đóng vai trò quan trọng trên thị trường ngoại hối Bởi vì giao dịch kỳ hạn rất hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với công ty khi tham gia xuất khẩu, vay nợ nước ngoài hay thực hiện các đầu tư quốc tế Thị trường kỳ hạn còn là nơi hoạt động tích cực của các nhà đầu cơ để kiếm lời, nên càng khiến cho thị trường hoạt động hiệu quả
1.2.3 Nghiệp vụ hoán đổi
a. Khái niệm và đặc điểm
Giao dịch hoán đổi là việc đồng thời mua và bán một đồng tiền nhất định, trong đó, ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau
Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi:
• Hợp đồng mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định được ký kết đồng thời tại ngày hôm
nay Nếu không có thỏa thuận nào khác, thì khi nói mua một đồng tiền có nghĩa là ngân
hàng yết giá mua vào đồng tiền yết giá; và bán một đồng tiền có nghĩa là ngân hàng yết giá bán ra đồng tiền yết giá.
• Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này là bằng nhau trong cả hai vế (vế mua và vế bán) của hợp đồng hoán đổi
• Ngày giá trị của hợp đồng mua vào và ngày giá trị của hợp đồng bán ra là khác nhau
• Căn cứ vào ngày giá trị, thì giao dịch hoán đổi gồm hai loại Forward – Forward
và Spot – Forward, trong thực tế giao dịch Forward – Forward ít được sử dụng, nên trong
đề tài này chúng ta chỉ nghiên cứu giao dịch hoán đổi dạng Spot – Forward
b. Tỷ giá hoán đổi
Trang 16Tỷ giá hoán đổi (Swap Rates) là điểm kỳ hạn tại đó, ngân hàng yết giá sẵn sàng hoán đổi đồng tiền nhất định thông qua giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn Như vậy, thực chất của điểm Swap chính là điểm kỳ hạn nên có thể viết: Swap Rate = Tỷ giá kỳ hạn - Tỷ giá giao ngay
Rõ ràng là, nếu xét về bản chất thì “tỷ giá hoán đổi” không phải là tỷ giá đích thực
mà chỉ đơn thuần là chênh lệch giữa các tỷ giá Tuy nhiên, thuật ngữ “tỷ giá hoán đổi” được dùng phổ biến trong thực tế, vì vậy, có thể sử dụng thuật ngữ “tỷ giá hoán đổi” để phản ánh chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay
Trong thực tế, tỷ giá kỳ hạn trong các giao dịch hoán đổi được yết theo kiểu Swap, còn trong các giao dịch kỳ hạn một chiều được yết theo kiểu Outright
Yết giá theo kiểu Outright: là cách yết trực tiếp tiến hành giao dịch kỳ hạn mà không cần tính toán thêm
Yết giá theo kiểu Swap: là cách yết giá theo điểm Swap (chính là điểm kỳ hạn, là biến động tỷ giá giao ngay tự định) Để biết được tỷ giá vế kỳ hạn phải lấy tỷ giá giao ngay (là tỷ giá trung bình của tỷ giá giao ngay mua vào và bán ra) cộng thêm điểm kỳ hạn gia tăng hoặc trừ đi điểm kỳ hạn khấu trừ
Trong một cặp tỷ giá hoán đổi, nếu tỷ giá hoán đổi đứng trước (tỷ giá hoán đổi mua vào) lớn hơn tỷ giá hoán đổi đứng sau (tỷ giá hoán đổi bán ra) thì đồng tiền yết giá sẽ có điểm kỳ hạn khấu trừ Ngân hàng yết giá sẵn sàng mua kì hạn tại tỷ giá giao ngay trừ đi tỷ
lệ hoán đổi mua vào và sẵn sàng bán ra kỳ hạn tại mức tỷ giá giao ngay trừ đi tỷ lệ hoán đổi bán ra
Nếu tỷ giá hoán đổi đứng trước (tỷ giá hoán đổi mua vào) nhỏ hơn tỷ giá hoán đổi đứng sau (tỷ giá hoán đổi bán ra) thì đồng tiền yết giá sẽ có điểm kỳ hạn gia tăng Ngân hàng yết giá sẵn sàng bán kì hạn tại mức tỷ giá giao ngay cộng với tỷ lệ hoán đổi bán ra và mua kỳ hạn tại mức tỷ giá giao ngay cộng với tỷ lệ hoán đổi mua vào
Trong giao dịch hoán đổi, các nhà kinh doanh ngoại tệ thường tận dụng cơ hội khi tỷ giá hoán đổi được yết không thống nhất với tỷ giá giao ngay và lãi suất hiện hành trên thị trường để kinh doanh chênh lệch lãi suất mà không chịu rủi ro tỷ giá Điều này thường xảy
ra khi ngân hàng trung ương của các nước đột ngột thay đổi lãi suất chiết khấu, làm cho lãi suất thị trường đột ngột thay đổi trong khi các yếu tố khác chưa kịp thay đổi
Trang 17Giao dịch hoán đổi ngoại tệ cũng là một công cụ hữu hiệu trong việc phòng ngừa rủi
ro của ngân hàng Với vai trò là nhà tạo lập thị trường, ngân hàng thường sở hữu rất nhiều hợp đồng bằng các đồng tiền khác nhau và có các ngày giá trị khác nhau Tại một số ngày
có ngày giá trị và với một số đồng tiền nhất định, ngân hàng có thể có trạng thái trường về ngoại tệ (ngân hàng đã cam kết mua vào nhiều hơn là bán ra) Tại các ngày giá trị và các đồng tiền khác, ngân hàng lại ở trạng thái đoản về ngoại tệ (ngân hàng đã cam kết bán ra nhiều hơn mua vào) Các giao dịch ngoại tệ giúp ngân hàng giảm được rủi ro tỷ giá
Đối với các khoản đi vay quốc tế, giao dịch hoán đổi được sử dụng khi người đi vay không có thu nhập bằng ngoại tệ để hoàn trả nhưng lại không muốn chịu rủi ro tỷ giá Ví dụ: Một nhà đầu tư của Việt Nam muốn đi vay USD, anh ta có thể tiến hành các bước sau:
- Vay USD Libor
- Ký một hợp đồng hoán đổi, trong đó bán giao ngay số USD vay được để nhận VND theo tỷ giá giao ngay và mua kỳ hạn khoản gốc và lãi phải trả bằng USD theo tỷ giá kỳ hạn
Bằng cách này anh ta có thể phải chịu lãi suất thấp hơn so với việc đi vay bằng VND
mà lại không phải chịu rủi ro tỷ giá Có thể thấy, trong trường hợp này số lượng bán giao ngay và mua kỳ hạn là khác nhau do đó cần được thoả thuận trước trong hợp đồng
Giao dịch hoán đổi cũng là một công cụ hết sức hiệu quả giúp các nhà kinh doanh XNK có thể biết trước trạng thái luồng tiền từ đó chủ động trong từng thương vụ Đó là khi một hợp đồng hoán đổi giúp những nhà kinh doanh XNK kéo dài hay rút ngắn trạng thái tiền tệ trong trường hợp họ đã ký những hợp đồng kỳ hạn để bảo hiểm cho các khoản thu xuất khẩu hay khoản chi nhập khẩu nhưng thực tế họ lại được thanh toán hay phải thanh toán sớm hơn
1.2.4.Nghiệp vụ tương lai
a. Khái niệm
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận về việc bán một tài sản trong tương lai tại một mức giá cố định, nghĩa là giá cả được thoả thuận ngày hôm nay nhưng việc giao nhận tài sản và thanh toán xảy ra vào một thời điểm trong tương lai Những hợp đồng như vậy được giao dịch trên nhiều sở giao dịch khác nhau trên phạm vi toàn thế giới Sở giao dịch lớn
Trang 18nhất và nổi tiếng nhất là sở giao dịch Chicago, ngoài ra còn có nhiều sở giao dịch khác ở các thành phố khác nhau như Newyork, London, Paris, Singapore, Osaka và Sydney.
b. Đặc điểm
• Giao dịch ngoại tệ tương lai được thực hiện trên cơ sở những hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và thông qua sở giao dịch tiền tệ tương lai (sở giao dịch) Do đó, giao dịch tương lai không phải thỏa thuận giữa các cá nhân mà luôn có một bên tham gia là Sở giao dịch
• Các hợp đồng tương lai chỉ tồn tại một số ít ngày giá trị nhất định, Tại sở giao dịch Chicago chỉ có 4 ngày giá trị, đó là: vào ngày thứ 4 của tuần thứ ba trong các tháng 3, 6, 9,
12 Hợp đồng tương lai có thể chấm dứt bất cứ lúc nào bằng việc ký kết một hợp đồng tương lai đối nghịch (hợp đồng có cùng số lượng tiền tệ và ngày giá trị nhưng theo chiều ngược lại) Vì vậy, sau khi đã mua hay đã bán, thì các hợp đồng tương lai ít khi được duy trì đến ngày đáo hạn Và nhằm tạo ra điều kiện đồng nhất giữa các hợp đồng, thì đối với ngoại tệ, các hợp đồng tương lai có một số lượng nhất định, ví dụ đối với GBP là 62500GBP mỗi hợp đồng, đối với CAD là 100000CAD…
• Trong hợp đồng tương lai cả người bán và người mua phải có một khoản ký quỹ và phải trả các phí giao dịch Khoản ký quỹ ban đầu thông thường có giá trị bằng 4% giá trị hợp đồng và được duy trì trên tài khoản mở tại nhà môi giới và nhà môi giới lại phải mở tại nhà thanh toán bù trừ của sở giao dịch Nếu như số dư trên tài khoản ký quỹ giảm xuống dưới mức quy định, thông thường là 75% mức ký quỹ ban đầu, nếu những người nắm giữ hợp đồng tương lai không bổ sung đủ mức ký quỹ ban đầu trong vòng hai ngày làm việc thì Sở giao dịch sẽ tự động thanh lý hợp đồng Trường hợp nếu giá thị trường của hợp đồng tăng lên thì phần tăng thêm sẽ được ghi có vào tài khoản ký quỹ và người nắm giữ hợp đồng tương lai có thể rút ra để sử dụng Như vậy khoản ký quỹ của các bên tham gia hợp đồng tương lai được điều chỉnh hàng ngày và quá trình điều chỉnh này được gọi là “điều chỉnh giá trị hợp đồng theo điều kiện thị trường” (Market to market)
Các hợp đồng tương lai thường được dùng vào mục đích phòng ngừa rủi ro Với hợp đồng tương lai mua bán ngoại tệ được thỏa thuận giữa các bên mua, bán vào thời điểm hợp đồng đến hạn là cố định do đó các bên có thể tránh được những ảnh hưởng của sự lên xuống của tỷ giá trong tương lai Điều này rất có ý nghĩa với nhà kinh doanh trong bối cảnh tý giá biến động liên tục khó dự báo
Ngoài ra, hợp đồng tương lai cũng được sử dụng vào mục đích đầu cơ kiếm lợi nhuận thông qua sự dự đoán về tỷ giá trong tương lai
Trang 191.2.5 Nghiệp vụ quyền chọn
Hợp đồng giao dịch kỳ hạn và giao dịch tương lai có đặc điểm là buộc những nhà tham gia hợp đồng phải thực hiện tại thời điểm đến hạn Nhưng với hợp đồng quyền chọn thì người mua hợp đồng có quyền ngưng nghĩa vụ thực hiện nếu như tỷ giá quyền chọn bất lợi
a Khái niệm
Hợp đồng quyền chọn tiền tệ là một công cụ tài chính, cho phép người mua hợp đồng
có quyền (chứ không phải nghĩa vụ) mua hoặc bán một đồng tiền này với một đồng tiền khác tại tỷ giá cố định đã thoả thuận trước, trong một khoảng thời gian nhất định
Tuy nhiên, để dành được quyền chọn, thì người mua quyền mua hay mua quyền bán phải trả một khoản phí cho người bán
b. Các bên tham gia giao dịch quyền chọn tiền tệ
Trong mỗi hợp đồng quyền chọn đều có hai đối tác tham gia: đó là người bán hợp đồng và người mua hợp đồng
Mua một hợp đồng quyền chọn có thể là: mua quyền chọn bán hay mua quyền chọn mua Người mua hợp đồng sau khi trả phí mua quyền chọn, luôn quan tâm đến quyền tiến hành giao dịch nếu thấy có lợi hoặc là quyền không tiến hành giao dịch nếu thấy bất lợi Rủi ro của người mua quyền chọn chỉ giới hạn ở số tiền phải trả cho quyền đó (option money)
Bán một hợp đồng quyền chọn có thể là: bán quyền chọn bán hay bán quyền chọn mua Người bán hợp đồng, sau khi đã thu phí bán quyền chọn có nghĩa vụ luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch tại mức tỷ giá đã thoả thuận, nếu người mua thực hiện quyền chọn Người bán chịu rủi ro không hạn mức khi tỷ giá biến động không thuận lợi với mình
Như vậy, hợp đồng quyền chọn là một công cụ đảm bảo tỷ giá thực sự cho các nhà kinh doanh XNK, các nhà đầu tư tham gia vào thị trường quyền chọn, ngoài các ngân hàng các nhà XNK còn có các tổ chức kinh tế có ngoại tệ trên tài khoản, muốn tăng thu nhập bằng việc thu các lệ phí quyền và chấp nhận làm đối tác thụ động, hay các hãng đầu cơ tham dự với mục đích thu lợi nhuận chênh lệch
c. Tỷ giá quyền chọn
Trang 20Trong giao dịch quyền chọn tiền tệ, tỷ giá áp dụng gọi là tỷ giá quyền chọn Nếu như
tỷ giá trong các hợp đồng giao ngay, kỳ hạn hay tương lai là tỷ giá được hình thành trên cơ
sở cung cầu hay các thông số có sẵn trên thị trường, thì trong các hợp đồng quyền chọn không hoàn toàn như vậy, mà các “tỷ giá quyền chọn”, ngoài yếu tố cung cầu, còn phụ thuộc chủ yếu vào mức phí quyền chọn cao hay thấp Mức phí của hợp đồng quyền chọn phải là một mức phí phù hợp sao cho đủ bù đắp rủi ro về tỷ giá xét từ góc độ người bán và phải phù hợp không quá đắt xét từ góc độ người mua Tỷ giá quyền chọn càng có lợi cho người mua hợp đồng thì phí quyền chọn càng cao và ngược lại Vì vậy, tỷ giá quyền chọn
có thể cao hơn hoặc thấp hơn đáng kể so với các tỷ giá trong các giao dịch giao ngay, kỳ hạn hay hoán đổi
Các hợp đồng quyền chọn cũng thường được sử dụng để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, vì cũng giống như các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi hay tương lai, hợp đồng quyền chọn cho phép thực hiện mua bán tại mức giá đã thỏa thuận trước nên các bên tham gia có thể tránh được tổn thất do sự biến động của tỷ giá
Ngoài ra giao dịch quyền chọn cũng được sử dụng nhằm mục đích đầu cơ Trong trường hợp này thì hợp đồng quyền chọn có ưu thế hơn so với các hợp đồng khác Vì người mua có quyền tiến hành giao dịch nếu thấy có lợi cho mình và không tiến hành giao dịch nếu thấy tỷ giá biến động bất lợi
Tóm lại, việc nghiên cứu về 5 loại giao dịch trên thị trường ngoại tệ giúp ta có thể nắm vững những đặc điểm và ưu thế của từng loại giao dịch để từ đó lựa chọn loại giao dịch phù hợp cho hoạt động kinh doanh của mình Và để 5 loại giao dịch này có thể tồn tại
và phát triển thì yếu tố quan trọng đó là cần có một thị trường ngoại tệ sôi động và hiệu quả hơn nữa Tuy nhiên, không phải bất kỳ một quốc gia nào cũng có mặt đầy đủ 5 loại giao dịch trên bởi lẽ mỗi quốc gia đều có môi trường kinh doanh khác nhau, song có thể khẳng định rằng khi thị trường ngoại tệ càng phát triển hơn nữa thì các giao dịch này càng được thực hiện phổ biến, đến lượt nó, các giao dịch phát triển rộng rãi sẽ là động lực thúc đẩy thị trường ngoại tệ hoàn thiện hơn nữa.
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM
Trang 211.3.1.Nhân tố khách quan
Đó là các nhân tố nằm ngoài sự quản lý của ngân hàng nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động KDNH của ngân hàng Bởi sự thay đổi của nó có thể tạo nên những cơ hội hay những tổn thất khó lường đối với hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng
a. Môi trường pháp lý
Yếu tố pháp lý trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ bao gồm: Chính sách quản lý ngoại hối quốc gia, chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá
• Chính sách quản lý ngoại hối quốc gia
Đây là khuôn khổ pháp lý buộc các tổ chức KDNH trong đó có NHTM phải tuân theo Những quy định về mở tài khoản ngoại tệ của người cư trú và người không cư trú, quy định về giao dịch vãng lai (Current transactions), các quy định về giao dịch vốn (Capital transactions) sẽ quyết định đến hoạt động trôi chảy, đến tính thanh khoản của thị trường ngoại tệ trong nước Hơn nữa, nó quyết định đến tính thông suốt hay biệt lập của thị trường ngoại tệ trong nước với thị trường ngoại tệ quốc tế Nó cũng tác động tới sự phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại, các giao dịch ngoại thương và sự hợp tác quốc tế, từ đó
có thể tác động tích cực hay cản trở hoạt động KDNH của ngân hàng Những quy định này không được quá lỏng lẻo nhưng nếu quá khắt khe, cứng nhắc sẽ làm hạn chế hoạt động kinh tế đối ngoại, các giao dịch ngoại thương và hợp tác quốc tế
Bên cạnh đó, chính sách quản lý ngoại hối quốc gia cũng có những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động KDNH của ngân hàng Đó là những quy định về cấp phép hoạt động, về phạm vi kinh doanh ngoại tệ, về duy trì trạng thái ngoại tệ và đặc biệt
là những quy định về việc xác định và công bố tỷ giá
Đặc biệt, một chính sách quản lý ngoại hối đúng đắn và phù hợp với điều kiện của từng quốc gia trong mỗi thời kỳ sẽ đóng vai trò là đòn bẩy khuyến khích phát triển ngoại thương hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài qua đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM
• Chính sách tỷ giá
Trang 22Chính sách tỷ giá theo nghĩa rộng là chính sách mà chính phủ đưa ra với đại diện là NHTW về chế độ tỷ giá được áp dụng ( hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công
cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết, phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia
Chính sách tỷ giá theo nghĩa hẹp là hoạt động của NHTW thông qua cơ chế điều hành tỷ giá và hệ thống các công cụ để can thiệp nhằm đạt được một mức tỷ giá nhất định,
để tỷ giá tác động tích cực tới hoạt động XNK hàng hoá và dịch vụ quốc gia Do đó, với một chính sách tỷ giá đúng đắn hoạt động xuất nhập khẩu quốc gia sẽ được cải thiện, làm tăng cung cầu ngoại tệ đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Theo đó, hoạt động KDNH, TTQT, dịch vụ chuyển tiền của ngân hàng ngày càng phát triển hơn, kéo theo đó là
sự tăng tính thanh khoản của thị trường Thêm vào đó, khi doanh số hoạt động XNK tăng, nhu cầu phòng tránh rủi ro cho các khoản thu chi bằng ngoại tệ cũng tăng lên, vì vậy mà các giao dịch trên FOREX sôi động hơn, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các NHTM
• Chính sách lãi suất
Đây là một công cụ của chính sách tiền tệ do NHTW xây dựng và quản lý Vì giữa lãi suất và tỷ giá có mối quan hệ với nhau nên thay đổi của lãi suất nhanh chóng ảnh hưởng đến tỷ giá, do đó sẽ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng
Khi lãi suất thị trường thay đổi, thị trường sẽ trở nên mất cân bằng, quy luật ngang giá bị phá vỡ làm cho các hoạt động đầu cơ vào cuộc Các luồng tiền bỏ chạy khỏi đồng tiền có lãi suất thấp làm cho đồng tiền này giảm giá Đồng tiền này giảm giá, đồng tiền kia tăng giá làm tỷ giá giữa hai đồng tiền thay đổi
Các NHTW sử dụng lãi suất như một công cụ hữu hiệu để điều chỉnh nền kinh tế Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, NHTW sẽ tăng lãi suất để hạn chế đầu tư Ngược lại, khi nền kinh tế trì trệ, NHTW lại hạ lãi suất để kích thích đầu tư, vực dậy nền kinh tế Chính vì vậy, chính sách tiền tệ của NHTW luôn làm lãi suất thay đổi và tác động làm cho
tỷ giá E thay đổi, kéo theo sự ảnh hưởng của hoạt động KDNH của NHTM
b. Môi trường kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế nói chung và nền kinh doanh đối ngoại nói riêng là một yếu tố vĩ mô, có tác động chiến lược tới hoạt động kinh doanh ngoại hối của NHTM về
Trang 23quy mô, phạm vi và hiệu quả kinh doanh Môi trường kinh tế xấu sẽ khiến ngân hàng phải đối mặt với những biến động tiêu cực của tỷ giá, lãi suất và số lượng khách hàng của ngân hàng do nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ và mua bán ngoại tệ của ngân hàng giảm Đây là một khó khăn lớn, một thiệt hại mà NHTM phải gánh chịu và khắc phục Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển thì những vấn đề về tỷ giá, lãi suất, an ninh, chính trị… cũng diễn biến ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động kinh tế đối ngoại, làm gia tăng kim ngạch XNK và hoạt động đầu tư quốc tế, gia tăng nhu cầu mua bán ngoại
tệ, tài trợ XNK đồng thời hoạt động phòng ngừa rủi ro tỷ giá theo đó cũng tăng lên
c. Sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng và thị trường ngoại hối
Mỗi nước có một thị trường ngoại hối phát triển khác nhau nên hoạt động KDNH của ngân hàng cũng sẽ phát triển khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển chung của TTNH Hệ thống ngân hàng cũng như thị trường tài chính càng hoạt động hiệu quả thì sẽ giúp ngân hàng nắm bắt được thông tin và tránh được sự mất cân bằng thị trường Hơn thế nữa, hệ thống ngân hàng càng hoàn thiện, phát triển thì càng thu hút thêm nhiều thành viên tham gia bởi vì khi đó các nhu cầu kinh doanh kiếm lời và phòng ngừa rủi ro cho hoạt động kinh doanh của họ bằng các công cụ phái sinh được đáp ứng tốt nhất
1.3.2 Nhân tố chủ quan
a. Nguồn nội lực của ngân hàng
Nguồn nội lực của ngân hàng thì rất nhiều, nhưng yếu tố quan trọng và ảnh hưởng nhiều nhất phải kể đến là nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng
• Nguồn nhân lực
Trong bất kỳ hoạt động nào con người luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu, đặc biệt là trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động KDNH nói riêng Đây là lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ KDNH, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, khả năng phân tích thị trường, sự nhanh nhạy sắc bén trong việc thực hiện các giao dịch ngoại tệ và bản lĩnh nghề nghiệp để đưa ra chiến lược kinh doanh một cách chính xác kịp thời, tránh bỏ lỡ những cơ hội kiếm lời trong kinh doanh
• Cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ
Trang 24Đây là một trong những yếu tố không thể thiếu của ngân hàng để phát triển hoạt động KDNH Trong thời kỳ công nghệ thông tin phát triển như vũ bão như hiện nay, hoạt động KDNH đòi hỏi cần có một hệ thống máy móc hiện đại, tiên tiến Hệ thống máy móc không chỉ giúp cán bộ kinh doanh tiếp cận thị trường một cách nhanh chóng, để tận dụng được những cơ hội và tránh được những rủi ro do thiếu thông tin Hơn nữa, với hệ thống máy móc hiện đại, thì quá trình tiến hành giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng được rút ngắn hơn và thuận lợi hơn, do đó mà ngân hàng thu hút được khách hàng nhiều hơn.
b. Chiến lược phát triển KDNH tại mỗi ngân hàng
Để hoạt động KDNH của ngân hàng được hiệu quả, mỗi ngân hàng phải có một chiến lược phát triển riêng phù hợp với khả năng cũng như mục tiêu chính sách, chương trình hoạt động cũng như phân bổ các nguồn lực một cách hợp lí, nhằm đạt mục tiêu riêng cũng như hoàn thành mục tiêu chung của ngân hàng.
Chương 2.Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
2.1.Giới thiệu khái quát về ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long-Chi nhánh Hà Nội
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Ngân Hàng Phát Triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long
Tên đầy đủ:Ngân hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tên gọi tắt:MHB
Địa Chỉ: 09 Võ Văn Tần, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
Loại hình :Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần
Tel: (848) 39302501 - Fax: (848) 39302506
Email: webmaster@mhb.com.vn
Trang 25Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) được thành lập năm 1997 theo quyết định 769/TTg của Thủ tướng Chính phủ; chính thức đi vào hoạt động từ năm
1998 với mục tiêu ban đầu là huy động vốn, cho vay hỗ trợ sắp xếp, chỉnh trang lại khu dân cư, quy hoạch và xây dựng các khu đô thị mới để cải thiện điều kiện về nhà ở cho nhân dân Đến năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 160/2001/QĐ-TTg phê duyệt đề án tái cơ cấu MHB nhằm xây dựng MHB thành một ngân hàng thương mại hoạt động đa năng, đóng vai trò chủ đạo trong cho vay phát triển nhà ở, xây dựng kết cấu hạ tầng, hoạt động an toàn, hiệu quả MHB cung cấp đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ tài chính của một ngân hàng hiện đại Cho đến nay, MHB đã nhận được sự tín nhiệm rất lớn từ khách hàng
2.1.2 Khái quát về chi nhánh Hà Nội
Tên đơn vị: MHB Chi Nhánh Hà Nội
Địa Chỉ:56 Nguyễn Du , Q.Hai Bà Trưng, Hà Nội
Loại hình đơn vị: Chi Nhánh
Chi nhánh Hà Nội là nơi huy động và cung ứng vốn cùng các sản phẩm, dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại, tiện ích
2.1.2.1 Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của chi nhánh Hà Nội
Thực hiện huy động vốn bằng VNĐ và ngoại tệ từ dân cư và các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế dưới nhiều hình thức
Cho vay ngắn hạn trung và dài hạn bằng VNĐ và đồng ngoại tệ, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tớ có giá
Đại lý ủy thác cấp vốn, cho vay từ nguồn hỗ trợ phát triển chính thức của Chính phủ, các nước và tổ chức tài chính tín dụng nước ngoài đối với các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam
Đầu tư dưới hình thức hùn vốn liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc dịch vụ thanh toán, bao thanh toán và bảo lãnh
2.1.2.2 Mô hình tổ chức của chi nhánh MHB Hà Nội
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của chi nhánh MHB Hà Nội
Trang 26Phòng Giám Đốc
Phòng Doanh
Nghiệp Phòng Cá Nhân Phòng Kế Toán - Tài Chính Phòng Hỗ Trợ Kinh Doanh
Phòng Phó Giám Đốc 1 Giám Đốc 2 Phòng Phó
(Nguồn:Dữ liệu chi nhánh MHB Hà Nội)
2.1.2.3.Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh MHB Hà Nội
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh của Chi Nhánh (2010-2012)
Đơn vị tính: Tỷ VNĐ
Chỉ tiêu
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Chênh lệch 2011/2010
Chênh lệch 2012/2011
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ
%
Số tiền Tỷ lệ
% Tổng thu nhập 211,385 332,106 885,117 120,721 57,1 553,011 166,5
Tổng chi phí 183,593 282,341 827,909 98,748 53,7 545,568 193,2
Nguồn: Báo cáo tổng kết kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh MHB Hà Nội(2010-2012)
Trang 27Biểu đồ 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn
(2010-2012)-Qua bảng số liệu ta thấy hoạt động kinh doanh của Chi nhánh đều có lãi qua các năm Mức thu nhập của Chi nhánh tăng trưởng mạnh, cụ thể: Thu nhập năm 2010 là 211,385 tỷ đồng, năm 2011 thu nhập đạt 332,106 tỷ đồng tăng 120,721 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 57,1% so với năm 2010 Năm 2012 thu nhập là 885,117 tỷ đồng tăng 553,011 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 166,5% so với năm 2011
Về chi phí thì cụ thể: chi phí năm 2010 là 183,593 tỷ đồng, năm 2011 là 282,341 tỷ đồng tăng lên 98,748 tỷ đồng tương ứng với mức tăng là 53,7% so với năm 2010 Năm
2012 chi phí lên tới 827,909 tỷ đồng tăng lên 545,568 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 193,2% so với năm 2011
Nhìn vào biểu đồ ta thấy lợi nhuận của ngân hàng đều tăng qua các năm Cụ thể lợi nhuận năm 2010 đạt 27,793 tỷ đồng, năm 2011 đạt lợi nhuận 49,765 tỷ đồng tăng lên 21,973 tỷ đồng tỷ lệ tăng 79,1% so với năm 2010 Năm 2012 đạt lợi nhuận 57,208 tỷ đồng tăng lên 7,443 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 14,9% so với năm 2011
Sở dĩ lợi nhuận của ngân hàng tăng qua các năm đặc biệt là năm 2011 tăng 79,1% nguyên nhân là do ngân hàng đã nâng cao các hoạt động dịch vụ cho khách hàng và thu hút ngày càng nhiều khách hàng lớn có uy tín làm cho hoạt động tín dụng thu từ lãi cho vay của ngân hàng ngày càng tăng cao làm cho tổng thu nhập của ngân hàng cũng tăng lên theo, vì khoản thu từ cho vay là khoản thu luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu nhập của ngân hàng Bên cạnh đó còn có các khoản thu như thu phí bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ…và các khoản thu khác nhưng các khoản thu này không đáng kể Song song với thu nhập thì chi phí đến cuối năm 2012 cũng tăng lên khá cao điều này là do sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng nhằm thu hút khách hàng huy động vốn, ngân hàng cũng đã tăng lãi suất huy động vốn cao, có những thời gian Chi nhánh phải nhận lãi suất điều hoà vượt kế hoạch chịu phạt 150 % lãi suất nhận vốn để có nguồn cho vay đảm bảo uy tín trong việc thực hiện hợp đồng cấp tín dụng đã ký với khách hàng và mở thêm phòng giao dịch cũng như cung cấp trang thiết bị kỹ thuật…
Đánh giá chung:
Trong năm 2012 khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra gay gắt nhất là khủng hoảng nợ công ở Châu Âu có nhiều biến động khó lường, tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn
Trang 28cầu Trong điều kiện đó, chính phủ các nước bắt buộc thắt lưng buộc bụng, và Việt Nam cũng không ngoại lệ Các chính sách thắt chặt tiền tệ (giảm cung tiền, giảm chi tiêu chính phủ) vẫn được duy trì Sự khó khăn về nguồn vốn là điều không tránh khỏi vì vậy các ngân hàng đã đưa lãi suất huy động lên cao, và một khi đầu vào tăng mạnh thì đầu ra – lãi suất cho vay không thể giảm Lãi suất cho vay cao khiến càng ít doanh nghiệp vay vốn, làm cản trở đến việc kinh doanh của ngân hàng, khả năng hoàn trả nợ bị giảm sút, việc thu hồi nợ khó khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng rủi ro của các ngân hàng, các ngân hàng trở nên dè dặt trong việc cho vay vốn, tiền không được mang ra sử dụng lưu thông trở thành những khoản tiền vô ích, làm tăng chi phí cho ngân hàng.
2.2 Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
2.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
2.2.1.1.Phương pháp thu thập dữ liệu
-Thu thập dữ liệu sơ cấp:Sử dụng phiếu điều tra để đánh giá các nhân tố tác động làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối.Từ đó phát huy các nhân tố tác động tích cực và khắc phục các nhân tố có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối
-Thu thập dữ liệu thứ cấp:
+Thông tin bên trong là thông tin thu thập bên trong ngân hàng bao gồm:các ẩn phẩm,website của ngân hàng,báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm gần đây,báo cáo về tình hình kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng
+Thông tin bên ngoài là thông tin bên ngoài ngân hàng bao gồm:sách báo,tài liệu,các tạp chí của ngành ngân hàng,thông tin từ các tổ chức tín dụng,hiệp hội ngành
2.2.1.2.Phương pháp xử lý dữ liệu
Sử dụng phương pháp thống kê đơn giản,so sánh rồi phân tích những dữ liệu đó.Cụ thể:
+Đối với dữ liệu thứ cấp:Dùng phương pháp bảng biểu,đồ thị,thống kê mô tả và so sánh.Các dữ liệu đó tập hợp đối chiếu và so sánh giữa các năm với nhau thông qua hệ thống bảng biểu,đồ thị nhằm tìm ra hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối tại MHB
Trang 29+Đối với dữ liệu sơ cấp:Dùng phương pháp bảng biểu,đồ thị phân tích tỷ lệ từng lựa chọn khác nhau với mỗi câu hỏi đặt ra và xem xét lại trên cơ sở quan sát thực tiễn tại phòng giao dịch trong quá trình thực tập.
• Đối với Đô la Mỹ: Không được vượt quá biên độ ± 1% (Một phần trăm) so với tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất trước đó do Ngân hàng Nhà nước công bố
• Đối với các ngoại tệ khác: Do Tổng giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng được phép giao dịch hối đoái xác định
• Chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán do Tổng giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng được phép giao dịch hối đoái xác định
Ngoài ra, Chi nhánh còn căn cứ vào nhiều yếu tố khác như chiến lược KD, chiến lược cạnh tranh của ngân hàng… để vừa có thể thu hút được lượng ngoại tệ chảy vào, vừa đảm bảo được lượng ngoại tệ đáp ứng nhu cầu thanh toán XNK
2.2.3.Trạng thái ngoại tệ của chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010- 2012
Giai đoạn 2010-2012 là một giai đoạn đầy sóng gió với những diễn biến khó lường của nền kinh tế, là giai đoạn của khủng hoảng và suy thoái kinh tế, với sự đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng ở Mỹ có thể kể tới như ngân hàng California National bank – ngân hàng lớn thứ tư tại Mỹ và ngân hàng đầu tư lớn thứ tư của phố Wall là Lehman Brothers, làm cho giá cả của các đồng tiền biến động mạnh, nhất là USD Bên cạnh đó, thiên tai xảy ra thường xuyên và dịch bệnh (cúm A H1N1) xảy ra trên phạm vi toàn thế giới, những bất ổn
về chính trị ở Trung Đông, giá vàng tăng, giá xăng dầu tăng….Tất cả đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế, đến kim ngạch XNK… kéo theo là trạng thái ngoại tệ chung của các
Trang 30ngân hàng qua các năm cũng thường xuyên biến động Trạng thái ngoại tệ của chi nhánh
Hà Nội cũng không nằm ngoài sự biến động đó Trạng thái ngoại tệ của chi nhánh được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2: Trạng thái ngoại tệ của chi nhánh Hà Nội – giai đoạn (2010-2012)
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động TTQT và KDNT các năm (2010-2012)
Nhìn vào bảng số liệu về trạng thái ngoại tệ của chi nhánh Hà Nội qua các năm cho thấy, cả doanh số mua và doanh số bán năm sau đều tăng so với năm trước, đặc biệt là năm
2012 và đây là một dấu hiệu đáng mừng Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến hoạt động XNK của nước ta gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là trong năm
2010 nền kinh tế tiếp nhận những khó khăn từ 2009 chuyển sang, kinh tế đình trệ và phải
kế đến là hoạt động XNK, vì thế doanh số mua bán ngoại tệ năm 2010 tăng với tốc độ thấp hơn nhiều so với những năm còn lại Từ năm 2011, kinh tế thế giới bắt đầu hồi phục, hoạt động XNK của các doanh nghiệp bắt đầu ổn định hơn, do đó doanh số mua bán ngoại tệ tăng lên đáng kể
Trạng thái ngoại tệ trong 3 năm 2010, 2011 và năm 2012 đều trạng thái ngoại tệ trường điều đó có nghĩa là: doanh số mua vào nhiều hơn doanh số bán ra Hoạt động KDNH của ngân hàng trong những năm qua luôn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng,
kể cả những thời điểm khan hiếm ngoại tệ Năm 2010 là một năm đầy biến động của thị trường ngoại hối, khi mà tỷ giá USD luôn tăng kịch trần trong biên độ cho phép của NHNN, các DN nhập khẩu gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn cung USD
để thanh toán các hợp đồng nhập khẩu Vì thế việc thực hiện mục tiêu thu hút ngoại tệ chảy vào để đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hoá nhập khẩu của khách hàng và các nhu cầu về ngoại tệ khác nhằm thu phí dịch vụ, thực sự khá khó khăn đối với ngân hàng Song, với nỗ lực của mình, Chi nhánh luôn đảm bảo nguồn cung USD để thanh toán cho khách hàng