1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán việt nam trong giai đoạn hiện nay

96 1,7K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 692,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán - Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động TTCK Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK do chính phủ của các nước thànhlập với mục đích bảo vệ lợi

Trang 1

ĐỀ TÀI: NÂNG CAO VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN

NAY

Trang 2

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

- Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn trung và dài hạnhiệu quả cho nền kinh tế nhằm tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh gópphần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển

- Trong quá trình phát triển, thị trường chứng khoán chịu nhiều tác động

từ các nhân tố của nền kinh tế, do đó thị trường chứng khoán phản ánh mộtcách nhạy bén những biến đổi “sức khỏe” của nền kinh tế, từ đó cho thấynhững chính sách quản lý vĩ mô trên thị trường có tầm ảnh hưởng rất lớn tới

sự bình ổn và phát triển của thị trường

- Quản lý Nhà nước giúp thị trường chứng khoán phát triển ổn định tạo

uy tín cho thị trường, thúc đẩy thị trường đi đúng xu hướng và xu thế hội nhậpquốc tế, từng bước thực sự trở thành một kênh phân phối và huy động vốnhiệu quả cho nền kinh tế nước nhà

- Thị trường chứng khoán Việt Nam sau 10 năm hình thành và phát triển

đã đóng góp rất nhiều trong công cuộc cổ phần hóa các DNNN và huy độngvốn cho nền kinh tế, tuy nhiên trong quá trình phát triển thị trường chứngkhoán Việt Nam vẫn cồn bộc lộ rất nhiều hạn chế và là thị trường non trẻ sovới khu vực và thế giới Đứng trước ngưỡng cửa hội nhập , thị trường chứngkhoán Việt Nam cần không ngừng được củng cố và hoàn thiện về quy mô, cơcấu và cơ chế vận hành, Do đó, để giải quyết từng bước các vấn đề trên việcnâng cao quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán là công việc thiếtyếu

Trang 3

- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước đối với TTCK ViệtNam trong thời gian qua, từ đó đưa ra những kết quả đạt được và những mặtcòn hạn chế.

- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thị trường chứng khoán của một sốnước trên thế giới và đưa ra một số giải pháp để nâng cao vai trò quản lý Nhànước đối với TTCK Việt Nam

3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Nhà nước trong quản lý các hoạtđộng của TTCK Việt Nam giai đoạn hiện nay Vai trò này được biểu hiện cụthể qua các hoạt động quản lý Nhà nước trước sự phát triển không ngừng củathị trường chứng khoán những năm gần đây

- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoántrong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duyvật lịch sử, các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiêncứu:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp tổng hợp nắm bắt thông tin từ các phương tiện thông tinđại chúng

5 Những đóng góp chính của luận văn:

- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về chứng khoán,TTCK và quản lý Nhà nước đối với TTCK

- Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chếcủa thực trạng quản lý Nhà nước đối với TTCK hiện nay, từ đó đề xuất một

số giải pháp nâng cao vai trò quản lý Nhà nước trên các mặt còn hạn chế

- Tìm hiểu cách quản lý Nhà nước đối với TTCK của một số nước trênthế giới từ đó rút kinh nghiệm đưa ra một số bài học đối với Việt Nam

Trang 4

6 Kết cấu luận văn:

Tên đề tài: “Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đượctrình bày trong 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về thị trường chứng khoán và quản

lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán

Chương 2: Thực trạng Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán việt nam, sự cần thiết phải nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với TTCK

Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 5

Chương i:

Những vấn đề chung về thị trường chứng khoán và quản lý nhà

nước đối với thị trường chứng khoán1.1 Những vấn đề cơ bản của thị trường chứng khoán

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK

Những dấu hiệu của một thị trường chứng khoán sơ khai đã xuất hiệnngay từ thời Trung cổ xa xưa Vào thế kỷ XV, ở các thành phố lớn của cácnước phương Tây, trong các phiên chợ, các thương gia thường gặp gỡ tiếpxúc với nhau tại các quán cafe để thương lượng mua bán, trao đổi hàng hóa.Đặc điểm của hoạt động này là các thương gia chỉ trao đổi bằng lời nói vớinhau về các hợp đồng mua bán mà không có sự xuất hiện của bất cứ hànghóa, giấy tờ nào Đến cuối thế kỷ XV, “khu chợ riêng” đã trở thành thị trườnghoạt động thường xuyên với những quy ước xác định cho các cuộc thươnglượng Những quy ước này dần dần trở thành các quy tắc có tính chất bắtbuộc đối với các thành viên tham gia Năm 1453, ở thành phố Bruges (Bỉ),buổi họp đầu tiên đã diễn ra tại một lữ quán của gia đình Vanber Trước lữquán có một bảng hiệu vẽ hình 3 tói da – tượng trưng cho 3 loại giao dịch:giao dịch hàng hóa, giao dịch ngoại tệ, giao dịch chứng khoán động sản Vàonăm 1457, thành phố ở Bruges (Bỉ) mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bịlấp cát nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấnAuvers (Bỉ) Ở đây thị trường phát triển rất nhanh chóng Các thị trường nhvậy cũng được thành lập ở Anh, Pháp, Đức, Mỹ Sau một thời gian hoạt động,thị trường không chứng tỏ khả năng đáp ứng được yêu cầu của 3 loại giaodịch khác nhau nên đã phân ra thành nhiều thị trường khác nhau: thị trườnghàng hóa, thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán, với đặc tính riêngcủa từng thị trường thuận lợi cho giao dịch của người tham gia trong đó

Trang 6

Nh vậy, thị trường chứng khoán được hình thành cùng với thị trườnghàng hóa và thị trường hối đoái.

Quá trình phát triển thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều bước thăngtrầm Thời kỳ huy hoàng nhất là vào những năm 1875-1913, thị trường chứngkhoán phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhưng đếnngày 29/10/1929, ngày được gọi là “ngày thứ năm đen tối”, đây là ngày mởđầu cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán New York, và sau đó lan rộng

ra các thị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản Sau thế chiến thứhai, các thị trường chứng khoán phục hồi, phát triển mạnh Nhưng rồi “cuộckhủng hoảng tài chính” năm 1987, một lần nữa đã làm cho các thị trườngchứng khoán thế giới suy sụp, kiệt quệ Lần này, hậu quả của nó rất lớn vànặng nề hơn cuộc khủng hoảng năm 1929, nhưng chỉ 2 năm sau, thị trườngchứng khoán thế giới lại đi vào ổn định, phát triển và trở thành một định chếtài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những quốc gia cónền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường

1.1.2 Cấu trúc của thị trường chứng khoán

Cấu trúc của thị trường chứng khoán thông thường được xem xét trên 3cách thức cơ bản: theo hàng hoá giao dịch trên thị trường, theo hình thức tổchức thị trường và theo quá trình luân chuyển vốn

1.1.2.1 Theo hàng hoá giao dịch trên thị trường

Theo tiêu thức này ta phân chia thị trường chứng khoán thành thị trườngtrái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường của các công cụ chứng khoánphái sinh

Thị trường trái phiếu: thị trường diễn ra mua bán các công cụ tài chính làtrái phiếu

Thị trường cổ phiếu: thị trường diễn ra mua bán các công cụ tài chính là

cổ phiếu

Thị trường của các công cụ chứng khoán phái sinh: thị trường diễn ra

Trang 7

1.1.2.2 Theo hình thức luân chuyển vốn

Theo hình thức này, thị trường chứng khoán được phân thành thị trường

sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp (thị trường cấp I) là thị trường mua bán các chứngkhoán mới phát hành Mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp sẽ làmtăng vốn cho nhà phát hành

Thị trường thứ cấp (thị trường cấp II) là thị trường giao dịch mua bán,trao đổi những chứng khoán đã được phát hành Mua bán chứng khoán trênthị trường làm tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành trênthị trường cấp I

Mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp về bản chất đây

là mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau:

- Thị trường sơ cấp là cơ sở, tiền đề cho thị trường thứ cấp hoạt động vàphát triển vì đây là nơi cung cấp hàng hóa cho TTCK Nếu không có thịtrường sơ cấp sẽ không có hàng hóa trên thị trường thứ cấp, không có nhiềuloại chứng khoán để thu hút các nhà kinh doanh bỏ vốn đầu tư Ngược lại nếukhông có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp cũng không thể tồn tại vàphát triển được vì khi đó các chứng khoán đã phát hành sẽ không được tiếptục lưu chuyển

- Thị trường thứ cấp tạo điều kiện dễ dàng để chuyển chứng khoán sangtiền mặt hay làm tăng tính lỏng cho chứng khoán Với ý nghĩa này các nhàđầu tư có thể dễ dàng sàng lọc, lựa chọn danh mục đầu tư từ đó vừa giảm rủi

ro đầu tư vừa giảm chi phí cho nhà phát hành trong việc huy động và sử dụngvốn Tăng tính lỏng cho chứng khoán còn làm cho việc chuyển đổi thời hạncủa đồng vốn trở lên nhanh hơn và phân phối hiệu quả hơn

1.1.2.3 Theo hình thức tổ chức của thị trường

Theo cách phân loại này, thị trường chứng khoán được tổ chức thành các

Sở giao dịch, thị trường chứng khoán phi tập trung và thị trường tự do:

Trang 8

Sở giao dịch chứng khoán: là thị trường giao dịch chứng khoán đượcthực hiện tại một địa điểm tập trung Các chứng khoán được niêm yết giaodịch tại SGDCK thông thường là chứng khoán của các công ty lớn, có danhtiếng và đáp ứng được yêu cầu, tiêu chuẩn niêm yết do SGDCK đặt ra.

Thị trường chứng khoán phi tập trung: là thị trường không có trung tâmgiao dịch tập trung, đó là một mạng lưới của các nhà môi giới, tự doanh cùngnhững nhà đầu tư giao dịch mua bán với nhau và thường diễn ra tại quầy (sàngiao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán Thị trường chứngkhoán phi tập trung chịu sự quản lý của Sở giao dịch và Hiệp hội các nhà kinhdoanh chứng khoán

Thị trường tự do: là thị trường giao dịch tất cả các loại cổ phiếu đượcphát hành thông qua việc thương lượng, thỏa thuận trực tiếp giữa bên mua vàbên bán tại bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào

1.1.3 Vai trò tác dụng của thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính tất yếu của nền kinh tếthị trường phát triển Thực tế nền kinh tế ở những quốc gia phát triển trên thếgiới đã khẳng định vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán:

Thứ nhất, thị trường chứng khoán góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh

chóng của nền kinh tế Chức năng cơ bản của TTCK là công cụ huy động vốnđầu tư cho nền kinh tế và tăng tiết kiệm quốc gia thông qua việc phát hành vàluân chuyển chứng khoán có giá Việc mua đi bán lại chứng khoán trênTTCK đã tạo điều kiện di chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn, chuyểnhướng đầu tư từ ngành kém hiệu quả sang ngành khác có hiệu quả hơn từ đógóp phần điều hòa vốn giữa các ngành kinh tế

Thứ hai, thị trường chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công

bằng hơn, thông qua việc buộc các công ty phát hành ra công chúng theo một

tỷ lệ nhất định Điều này làm giải tỏa sự tập trung quyền lực kinh tế vào mộtnhóm nhỏ, tạo sự cạnh tranh công bằng hơn từ đó nâng cao tính hiệu quả

Trang 9

trong đầu tư sản xuất Bên cạnh đó còn làm tăng tầng lớp trung lưu trong xãhội, tăng cường sự giám sát xã hội đối với hoạt động của công ty.

Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện thu hút và kiểm soát vốn

đầu tư nước ngoài Với nguyên tắc công khai, thị trường chứng khoán là nơicác nhà đầu tư có thể theo dõi và nhận định một cách dễ dàng hoạt động củangành, các doanh nghiệp trong nước Ngoài ra, thị trường chứng khoán cònthu hút vốn thông qua mua bán chứng khoán, từ đó tạo môi trường đầu tưthuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài

Thứ tư, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho Chính phủ huy động

các nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát từ đó giúp Chính phủthực hiện các chính sách tiền tệ Thông qua thị trường chứng khoán Chínhphủ có thể vừa huy động được lượng vốn lớn với thời hạn dài để bù đắp thâmhụt Ngân sách vừa có thể quản lý được lạm phát Sở dĩ làm được vậy là vì thịtrường chứng khoán không những tạo tính thanh khoản mà còn tạo ra tính linhhoạt trong việc chuyển hướng đầu tư từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác Vìvậy, thị trường chứng khoán được xem là công cụ đắc lực trong việc huyđộng các nguồn vốn dài hạn

Thứ năm, thị trường chứng khoán là công cụ đánh giá hoạt động kinh

doanh và là phong vũ biểu của nền kinh tế Thị giá chứng khoán được thểhiện thường xuyên trên thị trường phản ánh giá trị phần tài sản Có của doanhnghiệp trên cơ sở đánh giá thực trạng của doanh nghiệp, mức độ đầu tư, trạngthái kinh tế Diễn biến chỉ số chứng khoán phản ánh thông tin đa dạng vànhiều chiều cho nhà đầu tư trước diễn biến của các rủi ro Vì vậy các nhàhoạch định chính sách và quản lý thường thông qua thị trường chứng khoán

để phân tích, dự đoán, đề ra các chính sách điều tiết kinh tế và phương phápquản lý kinh tế thích hợp qua đó tác động tới các hoạt động của nền kinh tếquốc dân

Ngoài những tác động tích cực trên, thị trường chứng khoán cũng cónhững tác động tiêu cực sau:

Trang 10

- Thị trường chứng khoán luôn chứa đựng yếu tố đầu cơ Đầu cơ là yếu

tố có tính toán của những người đầu tư Khi có nhiều người cùng cấu kết vớinhau để đồng thời mua hoặc bán ra một loại chứng khoán nào đó, dẫn tới sựkhan hiếm hay dư thừa chứng khoán một cách giả tạo, làm cho giá chứngkhoán tăng lên hay giảm xuống một cách đột biến gây tác động xấu tới thịtrường

- Hoạt động giao dịch nội gián thường xảy ra trên TTCK Việc nắm bắt

và sử dụng thông tin nội bộ của doanh nghiệp chưa công bố để giao dịchchứng khoán nhằm thu lợi bất chính cho cá nhân mình gọi là giao dịch nộigián Các giao dịch nội gián được xem là phi đạo đức về mặt thương mại vìngười có tin sẽ có lợi thế hơn trong đầu tư Điều này làm nản lòng các nhàđầu tư, làm ảnh hưởng tiêu cực tới tích lũy và đầu tư

- Thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo Songkhi có tin đồn không chính xác hoặc thông tin lệch lạc về hoạt động doanhnghiệp sẽ gây tác động đến tâm lý các nhà đầu tư, dẫn tới thay đổi xu hướngđầu tư làm thị giá chứng khoán biến động, gây thiệt hại cho đại đa số ngườiđầu tư

Nh vậy, vai trò của thị trường chứng khoán thể hiện trên nhiều khía cạnhkhác nhau Song vai trò tích cực hay tiêu cực của thị trường chứng khoán thực

sự phát huy hay bị hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thịtrường

1.1.4 Các chủ thể tham gia trên thị trường

Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể đượcchia thành 3 nhóm sau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư và các tổ chức cóliên quan đến chứng khoán

1.1.4.1 Chủ thể phát hành

Chủ thể phát hành là tổ chức phát hành chứng khoán trên thị trườngchứng khoán Các tổ chức phát hành có thể là: Chính phủ, các doanh nghiệp

Trang 11

Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể chủ yếu phát hành cácchứng khoán nợ nh: Trái phiếu Chính phủ; Trái phiếu địa phương; trái phiếucông trình; tín phiếu kho bạc.

Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty

Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính nh cáctrái phiếu, chứng chỉ quỹ phục vụ cho mục tiêu huy động vốn và phù hợpvới đặc thù hoạt động của họ theo luật định

1.1.4.2 Nhà đầu tư

Trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư có thể được chia thành hai loại:nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức

- Các nhà đầu tư cá nhân

Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình, những người có vốnnhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mụcđích tìm kiếm lợi nhuận

- Các nhà đầu tư có tổ chức

Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bánchứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Thông thường, nhà đầu tư tổchức là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty đầu tư, cáccông ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xãhội khác

1.1.4.3 Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán

- Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động TTCK

Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK do chính phủ của các nước thànhlập với mục đích bảo vệ lợi Ých của người đầu tư và đảm bảo cho thị trườngchứng khoán hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững

Cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán có thể có nhữngtên gọi khác nhau, tuỳ thuộc từng nước và nó được thành lập để thực hiệnchức năng quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán

- Sở giao dịch chứng khoán

Trang 12

Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường chứng khoánthông qua bộ máy tổ chức và hệ thống các quy định, văn bản pháp luật vềgiao dịch chứng khoán trên cơ sở phù hợp với các quy định của luật pháp và

Uỷ ban chứng khoán

- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự quản của cáccông ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứngkhoán, được thành lập với mục đích bảo vệ lợi Ých cho các thành viên và cácnhà đầu tư trên thị trường

- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

Là tổ chức nhận lưu giữ, ký gửi các chứng khoán và tiến hành các nghiệp

vụ thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán Các ngân hàng thươngmại, công ty chứng khoán đáp ứng đủ điều kiện của Uỷ ban chứng khoán sẽthực hiện dịch vụ lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

- Các tổ chức hỗ trợ

Là các tổ chức được thành lập để hỗ trợ, mở rộng và tăng cường cho thịtrường chứng khoán thông qua các hoạt động nh: cho vay tiền để mua cổphiếu và cho vay chứng khoán để bán trong các giao dịch bảo chứng Các tổchức hỗ trợ chứng khoán ở các nước khác nhau có đặc điểm khác nhau, cómột số nước không cho phép thành lập các tổ chức này

- Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm

Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụđánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theonhững điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt pháthành cụ thể Hệ số tín nhiệm có thể biểu hiện bằng các chữ cái hay chữ số, tuỳtheo quy định của từng công ty xếp hạng

Trang 13

1.2 Quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán

1.2.1 Khái niệm

Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhànước lên đối tượng quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng đi đến mục tiêu với kếtquả và hiệu quả cao nhất trong điều kiện môi trường luôn biến động

Nh vậy: “Quản lý Nhà nước đối với TTCK của một quốc gia là sự quản

lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động xây dựng, vận hành và pháttriển của TTCK”

Quá trình hình thành và mức độ phát triển phức tạp, đa dạng của TTCK

và điều kiện cụ thể của mỗi nước dẫn đến sự đa dạng trong cơ chế và mức độquản lý thị trường Trong khi hầu hết các TTCK ở các nước phát triển đượchình thành từ khu vực tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, docác cá nhân đứng ra tổ chức, vận hành và tự quản thì ngược lại, ở các nướcđang phát triển TTCK thường do Chính phủ đứng ra thành lập với những mụcđích cụ thể như hỗ trợ huy động vốn, tư nhân hoá hay thực hiện các mục tiêukinh tế khác của Nhà nước Do vậy, Chính phủ đóng vai trò chính trong việc

tổ chức và quản lý thị trường

1.2.2 Mục tiêu quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán

1.2.2.1 Đảm bảo sự trung thực của thị trường

Tính trung thực của thị trường sẽ tạo tâm lý bình ổn cho các đối tượngtham gia, từ đó ổn định được thị trường Muốn vậy cần phải hạn chế và kiểmsoát được gian lận, phải ngăn chặn các hành vi lừa đảo, lũng đoạn thị trường,thông tin sai sự thật, thông qua việc ban hành các quy định pháp lý mangtính bắt buộc đối với mọi chủ thể tham gia thị trường

1.2.2.2 Đảm bảo sự công bằng

Sự công bằng là một phương tiện để bảo vệ sự cạnh tranh và đảm bảotính trung thực, lành mạnh của thị trường Muốn hoạt động quản lý có hiệuquả cần phải có biện pháp đảm bảo tính công bằng của TTCK Muốn vậy, cầnphải hạn chế độc quyền bằng việc ngăn chặn sự thống trị thị trường của các

Trang 14

thành viên lớn, phải tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhỏ và kém tinh thôngnghiệp vụ đầu tư vào các loại tài sản chính hợp lý với họ và bảo vệ họ khỏicác vi phạm của các thành viên khác có thế lực trên thị trường.

1.2.2.3 Đảm bảo hiệu quả

Hiệu quả hoạt động của TTCK được đánh giá thông qua khả năng huyđộng vốn và phân bổ các nguồn lực tài chính Trong nền kinh tế thị trường,nhu cầu vốn của các chủ thể là rất lớn, đa dạng và liên tục thay đổi Đáp ứngđược nhu cầu này thông qua việc huy động và chuyển hoá có hiệu quả cácnguồn tiết kiệm trong nền kinh tế là đảm bảo hiệu quả hoạt động của TTCK.Muốn đảm bảo tính hiệu quả của thị trường, trước hết chúng ta phải tôn trọngcác quy luật vốn có của nó, sau đó mới sử dụng các công cụ quản lý để tácđộng vào các quy luật tạo nên sự vận hành trơn tru cho thị trường Hiệu quảhoạt động nói cụ thể hơn chính là sù an toàn, ổn định và sự phát triển của thịtrường

Không phải lúc nào các mục tiêu quản lý TTCK cũng dễ dàng thống nhấtvới nhau Khi chú trọng thực hiện mục tiêu công bằng và trung thực thì tínhhiệu quả sẽ bị vi phạm Ngược lại, nếu chú trọng vào tính hiệu quả bằng cáchtạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho các chủ thể tham gia thị trường thì tínhtrung thực rất có thể bị bỏ qua Việc chọn lựa và ưu tiên cho mục tiêu nào làtuỳ thuộc vào chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia ở từng thời điểm cụ thể

1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với TTCK

Quản lý là một hình thức đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩmcủa tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý Ở hầu hếtcác nước đang phát triển, các chủ thể quản lý thị trường chứng khoán có haichức năng chính: duy trì sự hoạt động ổn định của thị trường; tạo điều kiện đểphát triển thị trường, làm cho thị trường có thể cạnh tranh và thích ứng vớimọi thay đổi trong xã hội

Với chức năng ổn định thị trường tức là phải tạo lập một thị trường có kỷ

Trang 15

phép đối tượng nào tham gia thị trường, tiêu chuẩn tham gia gồm những yếu

tố gì, xác định phải quản lý cái gì và giám sát cái gì Với chức năng phát triểnthì các nhà quản lý phải tạo động lực thúc đẩy thị trường Các chức năng nàyđược sử dụng vào hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên trong hoạt động quản lýNhà nước thì các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ.Hoạt động quản lý nhà nước đối với TTCK được cụ thể hoá ở một sốnhiệm vụ sau:

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TTCK; xây dựng chiếnlược, chính sách, kế hoạch hoạt động và phát triển TTCK với từng bước đi cụthế và thích hợp với điều kiện văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí và cácđiều kiện khác

- Cấp, gia hạn, đìng chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việcphát hành, niêm yết, kinh doanh và dịch cụ chứng khoán và thu lệ phí cấpgiấy phép theo quy định của pháp luật

- Tổ chức và quản lý TTGDCK có tổ chức và các tổ chức trung gian, tổchức phụ trợ hoạt động trên TTCK

- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của TTCK nh: cơ quan quản lý Nhànước, SGDCK, TTGDCK, TTLKCK, CtyCK, CtyQLQ…

- Xây dựng sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viên thamgia TTCK để tạo được sự thống nhất trong mọi hoạt động của TTCK

- Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên TTCK nh mua bán gianlận, đầu cơ Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những hoạtđộng tiêu cực trên thị trường

- Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện cáchành vi vi phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạtđộng của thị trường

Trang 16

1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý TTCK

1.2.4.1 Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị và kinh tế

Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong QLNN đối với TTCK Yếu tốkinh tế của TTCK được thể hiện ở chỗ nó được coi nh là một thị trường củacác thị trường Bên cạnh đó, TTCK không chỉ mang lại lợi Ých mang tínhkinh tế mà còn có cả các yếu tố chính trị trong đó Chính vì thế, trong quản lýTTCK, sự kết hợp giữa kinh tế và chính trị là một yêu cầu bắt buộc

1.2.4.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ

Tập trung dân chủ là tập trung điều hành vào một cơ quan quyền lực caonhất Đây là cơ quan vạch ra đường lối, điều lệ, quy chế, phương hướng, mụctiêu tổng quát và đề ra các biện pháp cơ bản, chủ yếu để thực hiện Tính dânchủ trong quản lý thể hiện ở chỗ mọi người có thể tham gia bàn bạc, đónggóp ý kiến để tìm ra các biện pháp khả thi nhất cho quá trình thực hiện

Nếu sự tập trung quyền hạn bị lạm dụng trong quản lý TTCK thì sẽ làmhỏng các chức năng lành mạnh của TTCK Do đó, người làm công tác quản lýcần có sự điều chỉnh mức độ dân chủ tuỳ theo sự phát triển của thị trường với

sự tập trung quyền lực quản lý nhất định

1.2.4.3 Nguyên tắc kết hợp giữa các lợi Ých kinh tế

Trên thực tế luôn có lơi Ých khác nhau giữa chủ thể và khách thể quản

lý, có sự mâu thuẫn giữa lợi Ých cá nhân, lợi Ých tập thể và lợi Ých toàn xãhội Vai trò của công tác quản lý lúc này là phải tìm cách kết hợp, thoả mãncác lợi Ých theo đúng nhu cầu, đảm bảo cho các lợi Ých không đối lập nhau,

hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển Vấn đề này đòi hỏi công tác quản lý phải chútrọng tới từng loại lợi Ých trong từng mặt hoạt động nh đầu tư, huy động vốn,phân chia lợi nhuận, ban hành các quy định về thuế

1.2.4.4 Nguyên tắc hiệu quả

Tiết kiệm là hạn chế chi phí đến mức tối thiểu mà vẫn đem lại hiệu quảtối đa Tiết kiệm là nhằm để giảm thiểu chi phí nhưng chỉ có ý nghĩa khi thực

Trang 17

được đo bằng giá trị, vật phẩm, thời gian tác động, tiết kiệm và hiệu quả luôn

đi với nhau và nó là thước đo để đánh giá kết quả cuối cùng của quản lý.TTCK là mô hình tiêu biểu nhất về tính hiệu quả vì bản thân TTCK đãmang trong nó tính tiết kiệm chi phí và nhằm tới hiệu quả kinh tế cao nhất vìđây là môi trường thuận lợi nhất cho các nguồn vốn từ các nhà đầu tư đượctrực tiếp đưa đến nơi cần vốn Quá trình đầu tư thông qua TTCK được thựchiện với chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao Vì vậy, đảm bảo nguyêntắc này trong TTCK tức là đảm bảo cho TTCK được hoạt động tự nhiên vàphát huy những chức năng vốn có của nó Nguyên tắc này được coi là tiêu chí

áp dụng cho bất kì chính sách nào bởi mỗi chính sách đem lại lợi Ých cũngkèm theo đó là chi phí Nếu chi phí lớn hơn lợi Ých đem lại thì việc áp dụngcác chính sách đó là không có tác dụng

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán

Hoạt động QLNN đối với TTCK chịu tác động của nhiều yếu tố khácnhau, bao gồm:

Các nhân tố kinh tế: quá trình QLNN đối với TTCK chịu ảnh hưởng chiphối của các yếu tố kinh tế như: quy mô kinh tế, trình độ phát triển nền kinhtế,…Sự đa dạng về hình thức tồn tại và tính phức tạp trong hoạt động của cácthành phần kinh tế tham gia TTCK sẽ đặt ra yêu cầu đối với công tác QLNN

là phải có các chính sách, biện pháp phù hợp để dung hoà lợi Ých của cácthành phần này khi khai thác tối đa thế mạnh của họ

Các nhân tố về chính trị và thể chế Nhà nước: thể chế chính trị và đườnglối lãnh đạo của Đảng cầm quyền của một nước chi phối đến mục tiêu,phương hướng xây dựng và phát triển TTCK nước đó Bên cạnh đó, sự ổnđịnh hay bất ổn về mặt chính trị sẽ có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đếnquá trình phát triển của TTCK, từ đó có tác động đến nội dung và biện phápQLNN đối với TTCK

Trang 18

Môi trường pháp lý: công tác QLNN đối với TTCK bị chi phối và phụthuộc vào năng lực hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tưpháp Bên cạnh đó, vấn đề này còn phụ thuộc cả vào tính chặt chẽ, đầy đủ,nhất quán của các quy định pháp luật cũng như ý thức chấp hành pháp luậtcủa các chủ thể tham gia vào nền kinh tế.

- Thực trạng phát triển TTCK: trong mỗi hệ thống quản lý, chủ thể quản

lý sử dụng các công cụ và phương thức quản lý tác động nên đối tượng quản

lý theo mục tiêu đề ra Ngược lại, đối tượng và khách thể của quản lý cũngphản ứng trở lại đối với chủ thể quản lý TTCK là đối tượng QLNN cho nênthực trạng phát triển của TTCK có tác động đến việc ban hành và triển khaicác chính sách quản lý phát triển thị trường này Thực trạng TTCK vừa là cơ

sở để Nhà nước ban hành các chính sách, biện pháp khắc phục những tồn tạicủa TTCK, vừa là căn cứ để Nhà nước đề ra các biện pháp thúc đẩy thị trườngphát triển theo định hướng và mục tiêu đề ra

- Xu thế hội nhập quốc tế: hiện nay thì hội nhập quốc tế đang diễn ra khámạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, trong đó có TTCK.Việc mở cửa TTCK hội nhập quốc tế sẽ đem lại những lợi Ých thiết thực chomột quốc gia, song cũng nảy sinh những rủi ro và thách thức không nhỏ Điềunày tác động đến các chính sách quản lý và phát triển TTCK của các nước.Chính sách QLNN không chỉ phải giải quyết các vấn đề nảy sinh do có sựxuất hiện của các yếu tố quốc tế trên TTCK, mà còn phải tìm ra hướng hộinhập sao cho vừa đảm bảo an toàn, vừa khai thác tốt nhất các lợi Ých mà hộinhập mang lại

- Các nhân tố khác: hoạt động QLNN đối với TTCK còn chịu tác độngbởi các nhân tố khác như: trình độ ứng dụng tin học trong quản lý, truyềnthống bản sắc văn hoá dân tộc, trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộquản lý trong ngành chứng khoán và các ngành có liên quan, lịch sử phát triểnkinh tế và TTCK Trong đó yếu tố lịch sử thường đặt ra các vấn đề về cải

Trang 19

1.3 Các biện pháp nâng cao quản lý Nhà nước đối với TTCK

1.3.1 Biện pháp tuyên truyền, giáo dục

Hầu hết mọi người chưa có nhận thức và hiểu biết về TTCK do đó họcòn dè dặt trong việc đầu tư vào thị trường này Bởi vậy, việc trang bị cho họnhững kiến thức cơ bản về chứng khoán và TTCK để họ có thể hiểu về nhữnglợi Ých của hình thức đầu tư mới mẻ này đem lại, đồng thời trang bị cho họnhững kĩ năng để họ có thể đầu tư một cách hiệu quả nhất, tự chịu tráchnhiệm về các quyết định đầu tư của mình, tự phòng chống được các rủi ro khitham gia trên thị trường Vì thế yếu tố giáo dục, xây dựng tâm lý cho ngườitham gia thị trường là cực kì quan trọng Việc giáo dục bao gồm công tácvạch đường lối chính sách phát triển kinh tế cho phù hợp, đào tạo phổ biếnkiến thức về thị trường, về chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng và thiết lậpnhững chuẩn mực kinh doanh, kế toán, kiểm toán, xếp hạng cho hoạt độngphát hành và bảo lãnh chứng khoán

1.3.2 Biện pháp nâng cao chất lượng văn bản luật pháp

Biện pháp này có tác động trực tiếp và có vai trò lớn nhất trong các biệnpháp quản lý của Chính phủ ở các TTCK mới nổi bởi tại những thị trường nàymọi hoạt động đang đều ở giai đoạn mới hình thành, hơn nữa nhiều khi lại rađời không theo con đường tự nhiên như ở các nước phát triển Nhà nước đóngvai trò chính trong việc điều hành và hướng dẫn thị trường Ngoài ra, cho dù

ở bất kỳ TTCK nào thì hình thức quản lý cơ bản nhất vẫn là luật pháp Do thịtrường đầy tính phức tạp nên luật pháp rõ ràng gần nh là một điều kiện tiênquyết để có một thị trường hoạt động trung thực lành mạnh, ổn định và trongkhuôn khổ Luật pháp về chứng khoán phải được hiểu là cả một hệ thốnggồm Luật Chứng khoán và các luật khác nh Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư

Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống luật pháp không chỉ đơn thuần là việc cho

ra đời Luật Chứng khoán mà còn bao gồm cả việc điều chỉnh và hoàn thiệndần các luật liên quan để tạo môi trường pháp lý đầy đủ cho sự hình thành vàphát triển của thị trường

Trang 20

Trên thực tế, rõ ràng không thể có được một hệ thống luật pháp hoànthiện lý tưởng ngay từ khi TTCK mới hình thành Do dó, biện pháp quản lýhành chính là điều cần thiết để điều chỉnh và xử lý những hành vi có nguy cơhoặc đã gây thiệt hại cho thị trường, đặc biệt đang ở trong giai đoạn đầu mớihình thành thị trường và đang còn thiếu những chuyên gia giỏi về kiểm toán,

kế toán, hệ thống hành pháp thiếu những người có hiểu biết về TTCK

1.3.3 Biện pháp nâng cao năng lực tổ chức quản lý điều hành

Tổ chức là định hình các cơ cấu bộ phận tạo thành, xác lập chức năng,quyền hạn, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của từng bộ phận, đặt các bộ phậntrong quan hệ đối tác phù hợp, trong một tổng thể hoàn chỉnh Thể chế hoá tổchức là quá trình Nhà nước quy định cơ cấu tổ chức, vạch ranh giới cho từngcấp quản lý bằng các văn bản pháp luật, các văn bản quy định chức năng,nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, là những cơ quanQLNN theo lĩnh vực chuyên môn; quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của DNNN hoặc cơ cấu tổ chức của các tập đoàn kinh tế xuyênquốc gia, điều lệ doanh nghiệp, điều lệ công ty

Trong quản lý, sự tác động của tổ chức có ý nghĩa hiệu quả và thiết thực

Nó chỉ cho mọi người, mọi cấp biết trước phải hoạt động theo trật tự quy địnhtrước, nhằm đạt được những chỉ tiêu định trước Mặt khác, tổ chức có thể gâycản trở nếu quy định quá chi tiết, cứng nhắc khiến người thừa hành khôngphát huy được sáng kiến, mất tính linh hoạt, sáng tạo Do đó, bên cạnh côngtác tổ chức phải có sự điều khiển trực tiếp Điều khiển là sự đôn đốc, chỉ đạo

cụ thể nhằm điều chỉnh kịp thời những sai lệch so với mục tiêu đề ra Đó làhình thức tác động tích cực và linh hoạt nhất của biện pháp quản lý Tổ chức

và điều khiển cần được thực hiện phối hợp lẫn nhau trong quá trình quản lý

1.3.4 Biện pháp thanh tra giám sát, cưỡng chế thực thi

Giám sát thị trường là việc tiến hành theo dõi, kiểm tra hoạt động của cácchủ thể tham gia thị trường và các hoạt động giao dịch diễn ra trên thị trường

Trang 21

và phát huy những hành vi lành mạnh đảm bảo giữ vững mục tiêu hoạt độngcủa thị trường Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện phápluật của tổ chức, cá nhân nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo

vệ lợi Ých của các bên liên quan KÕt quả của giám sát sẽ là cơ sở quan trọng

để thanh tra thực hiện việc cưỡng chế các sai phạm nhằm đảm bảo quyền vàlợi Ých của các bên

Nh vậy, đây là biện pháp có ý nghĩa răn đe, giáo dục rất lớn đối với các

tổ chức, cá nhân tham gia thị trường Từ đó tạo ý thức chấp hành pháp luậtcủa các nhà đầu tư khi tham gia, đảm bảo tính trung thực, công bằng và hiệuquả cho thị trường chứng khoán

1.4 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam 1.4.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới

1.4.1.1 Thị trường chứng khoán Mỹ:

Thị trường chứng khoán Mỹ đánh dấu thời điểm ra đời ngày 17/5/1792khi 24 “đầu nậu” tại bến cảng ngồi lại với nhau để ký kết một bản thỏa ướcđầu tiên làm nền tảng cho New York Stock Exchange (NYSE) sau này Đếnnăm 1800, nhóm NYSE này dọn vào địa chỉ số 40 Wall Street đánh dấu sự rađời của Sở giao dịch chứng khoán, năm 1963 thì dọn về địa điểm số 11 WallStreet hiện nay Tiếp sau đó là hàng loạt các SGDCK được hình thành trênkhắp nước Mỹ Thị trường chứng khoán Mỹ hiện nay là một thị trường quantrọng bậc nhất trên thế giới nếu xét trên tổng thể khối lượng tư bản giao dịch

và sự ảnh hưởng to lớn của nó đối với các thị trường chứng khoán khác Điềuđáng chú ý là 2/3 nghiệp vụ giao dịch chứng khoán ở Mỹ được thực hiện trênthị trường phi tập trung, đặc biệt là đối với các hàng hóa là trái phiếu chínhphủ

Thị trường tập trung:

Tại Mỹ có nhiều Sở chứng khoán được hình thành tại nhiều bang nhưChicago, San Francisco, Tuy nhiên khi nói về mức độ ảnh hưởng và tính

Trang 22

quy mô của các Sở thì 2 Sở giao dịch sau được coi là thị trường tập trung điểnhình tại Mỹ:

- Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) là Sở giao dịch lớn nhất

và lâu đời nhất nước Mỹ Thị trường chứng khoán này của Mỹ còn được gọi

là thị trường phố Wall -nơi phôi thai những giao dịch đầu tiên của nước Mỹ

và hiện là trung tâm giao dịch chứng khoán lớn nhất thể giới, quản lý tới hơn80% các giao dịch chứng khoán của Mỹ và kể từ năm 1962 đã trở thành thịtrường chứng khoán quốc gia

- Sở giao dịch chứng khoán Mỹ (American Stock Exchang- AMEX) làthị trường chứng khoán tập trung lớn thứ 2 ở Mỹ và hiện nay có khoảng 1/5

số chứng khoán của Mỹ được mua bán trên thị trường này Cũng tương tựnhư Sở giao dịch chứng khoán New York, AMEX hoạt động theo hệ thốngđấu giá mở và các chuyên gia trên thị trường đóng vai trò quan trọng

Thị trường chứng khoán phi tập trung:

Bên cạnh sự phát triển của thị trường chứng khoán tập trung thì tại Mỹcòn có thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) rất phát triển đó làNASDAQ- National Association of Securities Dealers Automated QuotationSystem Thị trường OTC qua mạng máy tính Nasdaq được thành lập từ năm

1971, là bộ phận lớn nhất của thị trường thứ cấp Mỹ xét về số lượng chứngkhoán giao dịch trên thị trường với trên chục nghìn loại chứng khoán, lớn hơnrất nhiều so với số lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường chứng khoántập trung NYSE Chứng khoán giao dịch trên thị trường này chiếm đa số làcủa các công ty thuộc ngành công nghệ thông tin nh Microsoft, Intel, Dell,v.v Điều đáng nói đây là các công ty sinh sau đẻ muộn mà lại có tốc độ pháttriển vượt bậc qua mặt luôn cả các công ty tiền bối như Disney, Coca cola,Ford, nhưng họ vẫn trung thành với Nasdaq và không cần vào các sàn giaodịch chính thức dù dư điều kiện để gia nhập

Trang 23

Thị trường được vận hành bởi một hệ thống các nhà tạo lập thị trường vàcác nhà môi giới, có hàng nghìn nhà tạo lập thị trường hoạt động tích cực trênNasdaq và trung bình mỗi nhà tạo lập thị trường đảm nhận 8 loại cổ phiếu

Quản lý thị trường:

Tổ chức quản lý thị trường được thành lập sau cuộc khủng hoảng thịtrường chứng khoán năm 1929 Năm 1933, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luậtSecurities Act thành lập bộ phận Securities & Exchange Commission (SEC)nhằm quản lý hoạt động của các thị trường chứng khoán Năm 1934, ra đờiLuật về Sở giao dịch c hứng khoán và tổ chức National Association ofSecurities Dealers (NASD)- Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán quốc gia

Mỹ thành lập nhằm tự quản chế hoạt động của OTC Market ngày một lớnmạnh hơn

Như vậy, tại Mỹ quản lý thị trường chứng khoán theo mô hình giao tráchnhiệm cho các cơ quan chuyên môn thực hiện theo Luật định Cụ thể, thịtrường chứng khoán tập trung chịu sự quản lý của ủy ban chứng khoán Nhànước SEC, còn thị trường phi tập trung chịu sự quản lý 2 cấp ủy ban chứngkhoán Mỹ (SEC) và Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán quốc gia Mỹ(NASD) quản lý trực tiếp

SEC được thành lập để điều chỉnh Luật chứng khoán liên bang, SEC là

cơ quan độc lập, đứng đầu là Chủ tịch và 4 ủy viên Hội đồng do Tổng thống

bổ nhiệm có sự tham khảo và đồng ý của Thượng nghị viện SEC chịu sựgiám sát của Quốc hội, các quy định và quyết định của SEC phải chịu tráchnhiệm trước Tòa Ngân sách hoạt động hàng năm của SEC do Văn phòngQuản lý ngân sách và Quốc hội thông qua SEC chỉ giám sát các thị trườngchứng khoán bao gồm cả thị trường hợp đồng lựa chọn ủy ban giao dịch hànghóa tương lai (CFTC) là cơ quan quản lý riêng, giám sát các hợp đồng tươnglai Đây là đặc điểm của Mỹ về mặt lịch sử để lại SEC không quản lý trựctiếp hoạt động chứng khoán của Ngân hàng thương mại do sự tách biệt Ngânhàng và thị trường chứng khoán ở Mỹ Tất cả các tổ chức hoạt động trong

Trang 24

ngành chứng khoán đều phải báo cáo, đăng ký và chịu sự kiểm tra giám sátcủa SEC.

1.4.1.2 Thị trường chứng khoán Nhật Bản

Nước Nhật được coi là quốc gia có Thị trường chứng khoán ra đời sớmnhất so với các nước ở Châu á khác Năm 1874, TTCK Nhật hình thành lấynguyên mẫu của thị trường chứng khoán London, còng vao thời điểm này vănbản pháp lý đầu tiên của Nhật điều chỉnh về chứng khoán là Pháp lệnh về giaodịch cổ phiếu 1874 ( The Stock Transaction Ordinance of 1874) ra đời môphỏng theo các quy định thị trường giao dịch chứng khoán London Từ cơ sởpháp lý này, Sở giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Nhật được mở tại Tokyo vàOsaka vào năm 1878

Thị trường tập trung:

Hiện nay, Nhật Bản có 8 Sở giao dịch chứng khoán theo thứ tự từ Bắcxuống Nam là Sapporo, Nigata, Tokyo, Nagoya, Kyoto, Osaka, Hiroshima vàFkuoka Trong đó, ba Sở giao dịch chứng khoán Tokyo, Nagoya, Osaka là Sởgiao dịch chứng khoán mang tính “Quốc gia” giao dịch chiếm tới 98% tổnggiá trị giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán Nhật Bản

Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE) là định chế tài chính quan trọngtrong hệ thống kinh tế của Nhật Bản TSE được coi là Sở giao dịch lớn thứhai trên thế giới về doanh số bán, chỉ sau NYSE Trên TSE việc giao dịchmua bán chứng khoán được quy định trên các nguyên tắc cơ bản quan trọngsau: nguyên tắc công khai, nguyên tắc trung gian mua bán, nguyên tắc tậptrung, nguyên tắc đấu giá Hiện nay, cổ phiếu trên TSE vẫn được giao dịchtheo hai phương thức khác nhau: giao dịch tại sàn và thông qua hệ thống máytính

Thị trường phi tập trung:

Tại Nhật có hai thị trường OTC tiêu biểu cùng hoạt động đồng thời đó làthị trường Jasdaq và thị trường J-net

Trang 25

Thị trường Jasdaq hoạt động từ năm 1991 trên cơ sở phát triển thị trườngOTC truyền thống hoạt động từ tháng 2/1963 do Hiệp hội các nhà kinh doanhchứng khoán Nhật Bản (JSDA) quản lý Luật sửa đổi năm 1983 đã đưa thịtrường OTC này vào quỹ đạo quản lý của Nhà nước, cơ chế thương lượng giátay đôi giữa các công ty chứng khoán và giữa công ty chứng khoán với kháchhàng được đổi sang cơ chế đấu giá tập trung qua hệ thống các nhà tạo lập thịtrường Thị trường J-net mới được đưa và hoạt động từ tháng 5/2000, chịu sựquản lý trực tiếp của Sở giao dịch chứng khoán Osaka (OSE), được tổ chứcdành cho các chứng khoán không được niêm yết trên Sở giao dịch nhằm đápứng yêu cầu thời gian và chi phí cho các đối tượng tham gia thị trường, hoạtđộng theo phương thức thương lượng giá Thành viên của OSE, người đầu tư

và trung tâm quản lý được trực tiếp nối mạng với nhau thông qua một mạngđiện tử đa tầng, tạo điều kiện cho các đối tượng này có thể chia sẻ thông tinthị trường

Quản lý thị trường:

Vào năm 1947 Luật chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán( Securities and Exchange Law) được thông qua, Luật này nhanh chóng thaythế cho các quy định khác trước đó Luật được xây dựng nguyên mẫu củaLuật chứng khoán Mỹ 1933 và Luật về Sở giao dịch chứng khoán năm 1934.UBCK Nhật ( Securities and Exchange Commission) được thành lập theo quyđịnh của pháp luật Nhật cũng tương tự nh cơ quan SEC của Mỹ Sở giao dịchchứng khoán theo quy định mới được tổ chức lại và đi vào hoạt động năm1949

Thời kỳ những năm 1998- 1999, Luật chứng khoán thứ hai tại Nhật rađời với hàng loạt những điểm sửa đổi, bổ sung Nhật bãi bỏ UBCK và giaoquyền giám sát giao dịch chứng khoán cho Bộ tài chính ( Ministry ofFinance) Phòng quản lý chứng khoán được thành lập trực thuộc Bộ tài chính.Tới năm 1952, Hội đồng chứng khoán được thành lập chịu trách nhiệm chính

là giám sát hoạt động thị trường chứng khoán và thị trường tương lai, giám sát

Trang 26

những người hành nghề Nh vậy, Nhật Bản duy trì chế độ tự quản có sự giámsát chặt chẽ của Chính phủ

1.4.1.3 Thị trường chứng khoán Hàn Quốc

Thị trường chứng khoán Hàn Quôc ra đời và chính thức đi vào hoạt độngvào năm 1956 cùng với sự khai sinh của SGDCK Deahan- tiền thanh củaSGDCK Hà Quốc Từ đó đến nay, thị trường chứng khoán Hàn Quốc đã trởthành một trong 10 thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới

Thị trường tập trung:

Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (KSE) là một sàn giao dịch duynhất có tổ chức ở Hàn Quốc, có 3 khu vực giao dịch trên Sở: khu vực giaodịch cho cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh Khu vực giaodịch dành cho cổ phiếu được chia thành 2 khu vực: khu vực thức nhất dànhcho các công ty có quy mô lớn, với hơn 80% tổng số cổ phiếu trên thị trường;khu vực thứ hai là địa điểm cho các cổ phiếu mới được niêm yết, hoặc chocác công ty có quy mô vừa và nhỏ được giao dịch

Thị trường phi tập trung:

Thị trường OTC truyền thống của Hàn Quốc được thành lập vào tháng4/1987 nhằm tạo môi trường hoạt động cho các chứng khoán không đượcniêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc, thị trường chịu sự kiểmsoát của Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Hàn Quốc ( KSDA) thànhlập vào năm 1953 Cho tới tháng 4/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định tổchức lại và thúc đẩy phát triển thị trường này bằng việc thành lập thị trườngmạng máy tính điện tử Kosdaq nhằm tạo điều kiện cho các công ty mạo hiểm,công ty công nghệ cao, quỹ tương hỗ và các công ty vừa và nhỏ không đủđiều kiện niêm yết trên thị trường tập trung có thể huy động vốn trực tiếp Thịtrường được xây dựng theo mô hình thị trường Nasdaq, tiến hành giao dịchqua mạng điện tử có sự kiểm soát của trung tâm Các tổ chức niêm yết trên thịtrường Kosdaq phải đáp ứng một số tiêu chuẩn cơ bản như mức vốn điều lệ

Trang 27

tối thiểu, tỷ lệ phát hành ra công chúng, Tuy nhiên, việc đấu giá được thựchiện theo phương thức đấulệnh tập trung tương tự nh Sở giao dịch.

Quản lý thị trường:

Ủy ban chứng khoán Hàn Quốc được thành lập vào năm 1977 (KSEC)chịu sự quản lý của Bộ tài chính, chịu trách nhiệm phát triển và quản lý thịtrường chứng khoán, kiểm soát thị trường và mở rộng hợp tác quốc tế, ủy banchứng khoán này có 9 ủy viên Hội đồng (6 ủy viên do Tổng thống bổ nhiệm

và 3 ủy viên đương nhiên)

1.4.1.4 Thị trường chứng khoán Thái Lan

Thị trường chứng khoán Thái Lan là một trong những thị trường chứngkhoán phát triển nhanh nhất ở khu vực Châu á TTCK Thái Lan ban đầu đượccác công ty tư nhân thành lập vào tháng 7/1962, đến năm 1970 thị trường nàyphải đóng cửa vì Ýt người tham gia và thiếu sự hỗ trợ của Nhà nước Cho tớinăm 1974, Luật giao dịch chứng khoán ra đời và Sở giao dịch chứng khoánđược mở cửa trở lại vào năm 1975

Quản lý thị trường: giai đoạn năm 1962- 1986 , Sở giao dịch Thái Lanchịu sự quản lý và giám sát song trùng của hai cơ quan: Ngân hàng Trungương và Bộ tài chính Năm 1992, ủy ban chứng khoán cơ quan quản lý trựctiếp TTCK Thái Lan được thành lập UBCK Thái Lan trực thuộc Bộ tài chính,UBCK có 6 thành viên đương nhiên, Bộ trưởng Bộ tài chính là Chủ tịch, 4trong 6 thành viên này được Chính phủ bổ nhiệm theo đề cử của Bộ trưởng

Bộ tài chính

Theo Luật chứng khoán năm 1974, tại Thái Lan các công ty chứng khoánmuốn trở thành thành viên của SGDCK phải được Bộ tài chính đồng ý Theoluật về SGDCK, các thành viên phải có khả năng tài chính mạnh, có năng lựcthực hiện các giao dịch chứng khoán và có kinh nghiệm trong các hoạt độnggiao dịch Tháng 4/1991, SGDCK Thái Lan bắt đầu áp dụng hệ thống vi tínhhoàn toàn tự động trong giao dịch Với hệ thống giao dịch tự động này,SGDCK Thái Lan cho phép các công ty chứng khoán thông qua hệ thống vi

Trang 28

tính thực hiện các giao dịch ngay tại văn phòng của họ mà không cần đến trựctiếp Sở giao dịch.

1.4.2 Bài học quản lý thị trường chứng khoán đối với Việt Nam

Thứ nhất, Tùy theo điều kiện cụ thể của nền kinh tế và mức độ phát triển

của thị trường chứng khoán để trong từng giai đoạn cụ thể áp dụng các biệnpháp quản lý phù hợp khác nhau, đặc biệt là việc hoàn thiện môi trường pháp

lý điều chỉnh và sửa đổi theo kịp với những phát sinh và biến động thị trườngchứng khoán

Thứ hai, Cần phối hợp với các thị trường khác như thị trường tiền tệ, thị

trường bảo hiểm, để thực thi các mục tiêu phát triển nền kinh tế, đặc biệtchú ý tới sự đồng bộ trong các văn bản chính sách hướng dẫn phát triển cácthị trường trên

Thứ ba, Tại Việt Nam hiện nay để tạo điều kiện cho quá trình vốn hóa thị

trường, các cơ quan quản lý ngoài việc thúc đẩy thị trường tập trung pháttriển, cần có các biện pháp quản lý hiệu quả thị trường OTC và tạo điều kiệncho thị trường này phát triển nhằm đưa các công ty không có đủ kiều kiệnniêm yết huy động được vốn trên thị trường

Thứ tư, Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm học hỏi kinh nghiệm quản lý

của những thị trường đi trước, áp dụng công nghệ hiện đại trong quá trìnhquản lý, để từ đó đưa ra những biện pháp, chính sách phù hợp thúc đẩy thịtrường phát triển theo kịp các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới

Thứ năm, Phát triển thị trường cần phải thận trọng không phải nghiệp vụ

nào trên thị trường hiện có đều có thể áp dụng tại Việt Nam, ví dụ: trong giaiđoạn hiện nay phát triển loại nghiệp vụ bán khống, các loại hợp đồng tươnglai, vì trình độ quản lý của các cơ quan quản lý cũng như khả năng hiểu biếtcủa đại đa số dân chúng còn hạn chế chưa phù hợp để phổ biến các nghiệp vụtrên, mặc dù các thị trường lớn trên thế giới đã coi đây là những nghiệp vụthông dụng

Trang 29

Thứ sáu, Quá trình vốn hóa thị trường là việc làm cần thiết và quá trình

đó phải giúp nền kinh tế huy động vốn hiệu quả từ đó thúc đẩy tăng trưởngsản xuất, nếu quá trình đó sử dụng sai mục đích sẽ gây ra hậu quả khôn lường,

ví dụ như cuộc khủng hoảng ở Mỹ thời gian vừa qua Thực chất cuộc khủnghoảng cho vay nhà đất ở Mỹ xảy ra trầm trọng là do các tổ chức tín dụng đãchứng khoán hóa các khoản nợ cho vay bất động sản nhờ vậy các tổ chức tíndụng có thể quay vòng được vốn, huy động vốn trở lại và tăng hoạt động chovay dưới chuẩn vào lĩnh vực bất động sản

Thứ bảy, do mức độ ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng trước đây là

rất lớn, và vì thị trường chứng khoán là hàn thử biểu của nền kinh tế Do đó,cần có một bộ phận thực hiện lập, theo dõi, kiểm soát các chỉ số đánh giá mức

độ ảnh hưởng của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế để từ đó đưa racác dự báo và cảnh báo kịp thời từ đó đưa các biện pháp phòng ngừa rủi ro

Kết luận Chương I:

Trong chương 1, luận văn đã tập trung nêu lên những nét khái quát về thịtrường chứng khoán và quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán cụthể luận văn đã trình bày được lịch sử hình thành và phát triển của thị trườngchứng khoán, cấu trúc và vai trò tác dụng của thị trường, các chủ thể tham giathị trường; nêu được các vấn đề cơ bản về quản lý Nhà nước đối với TTCKnhư khái niệm, mục tiêu quản lý, các nguyên tắc quản lý, các nhân tố ảnhhưởng tới hoạt động quản lý Khái quát các biện pháp nâng cao quản lý Nhànước đối với TTCK Nghiên cứu, trình bày kinh nghiệm quản lý TTCK củamột số nước trong khu vực và trên thế giới Trên cơ sở lý luận và kinh nghiệmthực tiễn hoạt động của các nước từ đó đề ra một số bài học kinh nghiệmtrong quản lý TTCK tại Việt Nam

Trang 30

chương ii:

thực trạng hoạt động thị trường chứng khoán việt nam và Sự cần thiết phải nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với ttck 2.1 Thực trạng hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây:

2.1.1 Lịch sử phát triển của TTCK Việt Nam

Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi, ngày 10/7/1998 Chính phủ ký Nghịđịnh 48/CP ban hành về chứng khoán và thị trường chứng khoán chính thứcđánh dấu thời điểm ra đời Thị trường chứng khoán Việt Nam Sau đó cùngngày, Chính phủ ký Quyết định thành lập hai trung tâm giao dịch chứngkhoán tại Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội Thực chất, sự kiện TTCK Việt Nam rađời là có sự chuẩn bị khi mà Chính phủ ký Nghị định 75/CP ngày 28/11/1996thành lập UBCKNN cơ quan trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm chính đốivới TTCK

Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp HCM được thành lập theo Quyếtđịnh số 127/1998/QĐ-TTG ngày 11/7/1998 và chính thức đi vào hoạt độngthực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000 với 02 loại cổ phiếuniêm yết, đây còng được coi là địa điểm đầu tiên tổ chức giao dịch chứngkhoán đủ tiêu chuẩn niêm yết trên thị trường tập trung

Sau 2 năm hoạt động, thị trường phát triển chậm không tạo được tính hấpdẫn đối với các dòng vốn đầu tư nguyên nhân chủ yếu là do lượng cung trênthị trường không dồi dào và đa dạng, các công ty cổ phần chưa thực sự cóthương hiệu lớn Nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa Nghị định144/2003/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP đã giảm bớt vànới lỏng các điều kiện như: giảm vốn điều lệ là trên 5 tỷ đối với phát hành cổphiếu (trước là 10 tỷ), hoạt động kinh doanh liền trước năm đăng ký phải có

Trang 31

Năm 2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức đi vàohoạt động từ ngày 8/3/2005 với hoạt động chính là tổ chức thị trường giaodịch niêm yết, đấu giá cổ phần và đấu thầu trái phiếu, đây cũng được coi làđịa điểm giao dịch tập trung thứ 2 của cả nước Còng trong năm, ngày27/7/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 189/2005/QĐ-TTgthành lập Trung tâm lưu ký chứng khoán độc lập Việc thành lập Trung tâmlưu ký chứng khoán trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam đã cóbước phát triển mạnh mẽ là hoàn toàn phù hợp với các đòi hỏi từ thực tiễn thịtrường, đồng thời cũng phù hợp với khuyến nghị của các tổ chức quốc tế nhưG30, IOSCO, theo đó mỗi thị trường cần có một Trung tâm lưu ký chứngkhoán độc lập Với chức năng chính là hỗ trợ xử lý các hoạt động sau giaodịch, hoạt động của Trung tâm lưu ký chứng khoán đã thực sự giúp giảmthiểu chi phí và nâng cao năng lực xử lý của toàn thị trường nhờ tận dụngđược lợi thế theo quy mô Bên cạnh đó, thông qua việc tái điều chỉnh về chứcnăng giữa các đơn vị là Trung tâm lưu ký, Sở giao dịch chứng khoán vàTrung tâm giao dịch chứng khoán, trong đó khối chức năng hỗ trợ sau giaodịch được tách khỏi khối chức năng giao dịch do Sở giao dịch, Trung tâmgiao dịch chứng khoán đảm trách, cho nên mỗi tổ chức có điều kiện chuyênmôn hóa sâu hơn vào từng lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời phạm vi vàchất lượng dịch vụ cung cấp cũng được nâng lên nhờ hoàn thiện các mặt tổchức hoạt động và quản trị điều hành của từng đơn vị.

Thị trường chứng khoán sau 6 năm hoạt động kể từ khi TTGDCK Tp.HCM chính thức khai trương hoạt động cho thấy thị trường chứng khoán cònnhỏ bé, chưa trở thành một kênh huy động vốn dài hạn có hiệu quả cho đầu tưphát triển, thị trường thiếu vắng các nhà đầu tư có tổ chức như quỹ đầu tư,công ty chứng khoán, nên ảnh hưởng đến tính ổn định của thị trường, chấtlượng hoạt động, cung cấp dịch vụ trên thị trường chứng khoán chưa cao, tínhminh bạch và hiệu quả còn hạn chế Có nhiều nguyên nhân gây lên tình trạngtrên trong đó khuôn khổ pháp lý là một trong những nguyên nhân quan trọng

Trang 32

nhất Văn bản pháp lý cao nhất về chứng khoán và thị trường chứng khoán làNghị định số 144 của Chính phủ đã bộc lộ nhiều hạn chế nh: chưa đầy đủ vàđồng bộ, một số điều chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, Trước tình hìnhtrên, ngày 29/6/2006, Luật chứng khoán đã được Quốc hội khóa XI thông qua

và ngày 12/7/2006 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Luật chứng khoán Luậtchứng khoán là văn bản quy định cao nhất của hệ thống luật điều chỉnh đốivới thị trường chứng khoán Sự ra đời của Luật chứng khoán giúp thị trườnghoàn thiện khung pháp lý khắc phục được những quy định không phù hợp Năm 2007, Luật chứng khoán bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2007.Ngay sau đó để giải quyết những vướng mắc của Luật, .Nghị định14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiếtthi hành một số điều của Luật chứng khoán ra đời Còng trong năm đó, Trungtâm giao dịch chứng khoán Tp HCM đã chính thức được Chính phủ ký Quyếtđịnh số 559/QĐ-TTg ngày 11/5/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch chứngkhoán Tp HCM Ngày 8/8/2007, SGDCK Tp HCM đã chính thức được khaitrương Bốn năm sau đó, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội chuyển đổi và tổchức lại từ Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội theo Quyết định số01/2009/QĐ-TTg ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ

Sự kiện chuyển các Trung tâm giao dịch chứng khoán thành các Sởchứng khoán đánh dấu một tầm cao mới đối với thị trường chứng khoán ViệtNam

Như vậy, với khung pháp lý đầy đủ và trình độ chuyên nghiệp của các Sởgiao dịch thị trường chứng khoán Việt Nam về cơ bản đã được hình thành vàđang từng bước hoàn thiện vươn lên cùng với các thị trường chứng khoán trênthế giới

2.1.2 Thực trạng hoạt động TTCK Việt Nam trong khoảng thời gian qua:

2.1.2.1 Hoạt động đấu giá, đấu thầu qua TTCK:

a Hoạt động đấu giá cổ phần:

Trang 33

Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, cùng với những khókhăn của kinh tế trong nước kéo theo sự sụt giảm của thị trường chứng khoánViệt Nam trong các năm 2008, 2009, 2010 khiến quá trình cổ phần hóa chậmlại Tổng số phiên đấu giá cổ phần tổ chức năm 2009 là 34 phiên, giảm 4phiên so với năm 2008 Tuy nhiên số lượng cổ phần chào bán, số nhà đầu tưtham gia và tỷ lệ thành công của các phiên đấu giá năm 2009 có xu hướng caohơn năm 2008, tổng số lượng cổ phần đưa ra chào bán năm 2009 là khoảng

230 triệu cổ phiếu, số cổ phần bán được là 161,4 triệu cổ phần (tỷ lệ thànhcông đạt 70%, tăng so với năm 2008 chỉ đạt 15,5%) đạt giá trị hơn 2.124 tỷđồng Năm 2010, tổng số lượng cổ phần bán được là 224,2 cổ phần (tỷ lệthành công đạt 53%, giảm so với năm 2009 Các doanh nghiệp đấu giá năm2009-2010 chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô vốn tương đối lớn, sốlượng cổ phần bán đấu giá nhiều (khoảng 80 tỷ đồng/phiên) Nguyên nhânquan trọng dẫn đến thành công của các phiên đấu giá là việc xác định giá khởiđiểm hợp lý hơn, sự phối hợp giữa các doanh nghiệp, đơn vị tư vấn và cácSGDCK chặt chẽ trong việc triển khai tổ chức đấu giá hiệu quả cao

b Hoạt động đấu thầu trái phiếu:

So với năm 2007 và năm 2008, tỷ lệ thành công của các phiên đấu thầutrái phiếu chính phủ bằng đồng nội tệ trong năm 2009 có xu hướng giảmmạnh với giá trị huy động vốn được là 2.599 tỷ VND trên 70.300 tỷ VND giátrị gọi thầu, tỷ lệ thành công chỉ đạt 3,7% Điều đáng lưu ý trong khi tỷ lệthành công của các phiên đấu thầu TPCP bằng đồng nội tệ rất thấp thì ngượclại, tỷ lệ thành công trong hoạt động đấu thầu TPCP bằng ngoại tệ lại khá cao.Năm 2009, SGDCK Hà Nội đã tổ chức thành công 06 phiên đầu thầu bằngngoại tệ (USD), với các kỳ hạn 01, 02, 03 năm Tổng giá trị đăng ký là2.294,1 triệu USD gấp 3,05 lần so với giá trị gọi thầu, trong đó giá trị trúngthầu là 460,11 triệu USD, tỷ lệ thành công 61,34% Số trái phiếu trúng thầuthành công đã được niêm yết và giao dịch trên hệ thống giao dịch

Trang 34

Hoạt động phát hành chứng khoán trong năm qua cũng đã tăng trở lại,đặc biệt trong các tháng cuối năm, tổng giá trị phát hành đạt gần 21.725 tỷđồng, tăng 51% so với năm 2008 Trong đó có rất nhiều ngân hàng thươngmại đã huy động vốn thành công qua TTCK, từ đó đóng góp tích cực cho việcnâng cao năng lực tài chính và yêu cầu hạn mức vốn của NHNN, trên cơ sở

đó phục vụ trở lại cho mục tiêu ngăn ngừa suy giảm kinh tế

Biểu đồ1: Hoạt động huy động vốn qua các năm

C Hoạt động niêm yết chứng khoán:

Năm 2009 được đánh dấu bởi hoạt động niêm yết của rất nhiều doanhnghiệp lớn, tạo nguồn cung dồi dào cho TTCK Việt Nam Rất nhiều tổngcông ty lớn, ngân hàng thương mại cổ phần chọn năm 2009 để chào sàn nh:Ngân hàng thương mại cổ phần Vietcombank (niêm yết 112,3 triệu cổ phiếu),Tập đoàn Bảo Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Eximbank và Tập đoàn

55486

21466 49953

14341 7008 7809

21725

9178 2124

Trang 35

nhưng số lượng công ty niêm yết mới có mức tăng trưởng Ên tượng hơn 40%,

190 công ty lên sàn năm 2010, niêm yết hơn 4,8 tỷ cổ phiếu với giá trị vốnhóa 93.000 tỷ đồng Nh vậy, các doanh nghiệp nằm trong top 10 doanhnghiệp thuộc các ngành dầu khí, ngân hàng, chứng khoán có mức vốn hóa lớnnhất thị trường đã lên sàn thành công, đánh dấu mốc cho sự mở rộng mạnh

mẽ về quy mô vốn của TTCK Việt Nam

Biểu đồ: Số lượng công ty niêm yết giai đoạn 2007- 2010

650

457 338

Số lượng công ty niêm yết trên cả 2 sàn

2.1.2.2 Hoạt động giao dịch chứng khoán trên TTCK:

Năm 2009- 2010 TTCK Việt Nam vẫn chịu tác động từ cuộc khủnghoảng tài chính thế giới và sự sụt giảm của TTCK quốc tế Bên cạnh đó,những khó khăn về kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng cơ bản tới TTCK

Tuy nhiên, năm giữa năm 2009 đánh dấu sự phục hồi mạnh mẽ của thịtrường chứng khoán khi thị trường đạt những mốc kỷ lục về khối lượng cũng

nh giá trị giao dịch

Tới đầu giữa năm 2010 thị trường diễn biến khó khăn và cổ phiếu hầuhết các nhóm ngành đều giảm, kết thúc năm 2010, VN-Index đóng cửa 484,66

Trang 36

điểm, giảm 2%; HNX-Index đóng cửa 114,24 điểm giảm 32,3% so với cuốinăm 2009

a Hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết trên SGDCK Tp HCM

Năm 2009, sự phát triển của thị trường chứng khoán được đánh dấu bướcđột phá về số lượng và giá trị giao dịch Tính thanh khoản của thị trường đượccải thiện rõ rệt, khối lượng và giá trị giao dịch bình quân tăng hơn 200% sovới năm 2008 Khối lượng giao dịch bình quân phiên của cổ phiếu và chứngchỉ quỹ đạt tới 44 triệu cổ phiếu Giá trị giao dịch bình quân đạt 1.712 tỷđồng/phiên Trong tháng 10, khi Vn-Index đạt điểm số cao nhất trong năm thìđồng thời giá trị giao dịch cũng đạt mức kỷ lục 6.008 tỷ đồng/phiên

Việc SGDCK Tp HCM chính thức triển khai giao dịch trực tuyến vàongày 12/1/2009 đã góp phần quan trọng vào việc tăng tính thanh khoản củathị trường Theo đó, lệnh giao dịch của nhà đầu tư được CTCK chuyển thẳngvào hệ thống của SGDCK mà không cần qua đại điện tại sàn Sự nâng cấpgiao dịch này được coi là một bước tiến lớn đối với TTCK Việt Nam, tốc độtruyền lệnh từ CTCK vào SGDCK Tp HCM đạt 220 lệnh/giây so với 8-10giây/lệnh trước đó và không quá 1 giây để nhà đầu tư biết được lệnh đã khớp.Tuy nhiên, bước sang năm 2010 giao dịch triên SGDCK Tp HCM códấu hiệu sụt giảm đáng kể, giá trị giao dịch bình quân trong năm đạt 1.518 tỷđồng/phiên

Biểu đồ Tổng khối lượng và giá trị giao dịch cổ phiếu qua các năm:

Trang 37

Khối lượng giao dịch (1000 CK) Giá trị giao dịch (tỷ đồng)

`

b Hoạt động giao dịch chứng khoán niêm yết trên SGDCK Hà Nội:

Ngày 01/01/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số01/2009/TTg-QĐ chuyển đổi mô hình hoạt động của Trung tâm giao dịchchứng khoán Hà Nội theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước mộtthành viên Ngày 24/6/2009, được sự đồng ý của Chính phủ, Bộ Tài chính vàUBCKNN, SGDCK Hà Nội đã chính thức được ra mắt trên cơ sở chuyển đổi,

tổ chức lại TTGDCK Hà Nội Do khối lượng cổ phiếu niêm yết tăng mạnh và

sự phục hồi của thị trường chứng khoán sau khủng hoảng tài chính thế giới,khối lượng và giá trị giao dịch trong năm 2009 nhảy vọt so với năm 2008.Tổng giá trị giao dịch cả năm đạt 197.357 tỷ đồng, gấp 3,5 lần so với năm

2008 Giá trị giao dịch bình quân phiên ứng với 22.947.543 cổ phiếu đượcgiao dịch

Bước sang năm 2010, hoạt động giao dịch trên SGDCK Hà Nội vẫn diễn

ra sôi động, giá trị giao dịch bình quân trong năm đạt 1.017 tỷ đồng/phiênBiểu đồ Tổng khối lượng và giá trị giao dịch cổ phiếu trên HNX qua các năm:

Trang 38

57122 63803

Khối lượng giao dịch (1000 CK) Giá trị giao dịch (tỷ đồng)

`

c Hoạt động giao dịch chứng khoán trên sàn Upcom:

Thị trường giao dịch cổ phiếu của các công ty đại chúng chưa niêm yết(thị trường Upcom) đã được đưa vào vận hành vào ngày 24/6/2009 tạiSGDCK Hà Nội Chỉ số Upcom Index có xu hướng diễn biến tăng giảm cùngchiều với các chỉ số trên thị trường niêm yết và đang ở mức dưới 100 điểm.Chỉ số mở cửa tại thời điểm ngày 30/12/2009 là 51,58 điểm, đóng cửa tại thờiđiểm 29/12/2010 là 44,9 điểm, nh vậy trong năm 2010 đã mất đi 13% giá trị

Về hàng hóa, năm 2009 đã có 34 công ty đại chúng đăng ký và đưa cổphiếu vào giao dịch trên thị trường Upcom, giá trị vốn hóa của thị trường

2009 là 3.433 tỷ đồng, năm 2010 có hơn 50 công ty, giá trị vốn hóa thị trường

là 8.131 tỷ đồng

Về giao dịch, tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường tính đến ngày30/12/2009 là 39.644.272 cổ phiếu, tương đương với giá trị hơn 548 tỷ đồng,trong đó giá trị giao dịch thỏa thuận điện tử chiếm 90%, giao dịch thỏa thuậnthông thường chiếm 10% Giá trị giao dịch bình quân ngày đạt gần 4,06 tỷđồng/ngày

Trang 39

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài ngày càng tăng Tính đến ngày30/12/2009 tổng khối lượng giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài là 1.078.743

cổ phiếu, tương đương với giá trị gần 29,8 tỷ đồng

2.1.2.3 Thị trường trái phiếu chính phủ chuyên biệt:

Ngày 224/9/2009, UBCKNN đã chính thức đưa hệ thống giao dịch tráiphiếu chính phủ chuyên biệt vào hoạt động tại SGDCK Hà Nội SGDCK HàNội đã kết nạp tổng cộng 30 thành viên giao dịch Trái phiếu Chính phủ, trong

đó 16 CTCK là thành viên thông thường và 14 ngân hàng thương mại là thànhviên đặc biệt

Khi hệ thống trái phiếu chính phủ chuyên biệt đi vào hoạt động, giaodịch trái phiếu tách ra làm hai phương thức là giao dịch thỏa thuận thôngthường (outringt) và giao dịch mua đi bán lại (repo) Với 250 phiên giao dịch,tổng khối lượng trái phiếu giao dịch đạt 882 triệu trái phiếu, trong đó khốilượng giao dịch thông thường chiếm 98,14% và khối lượng giao dịch mua bánlại chỉ chiếm 1,86%

Trong năm 2009, 470 triệu USD trái phiếu chính phủ phát hành bằngngoại tệ cũng được niêm yết và giao dịch Qua 94 phiên giao dịch với 7 loạitrái phiếu, giá trị giao dịch đạt mức 20,4 triệu USD

Nhìn chung, hoạt động giao dịch trái phiếu trong năm 2009- 2010 giảmmạnh so với những năm trước đặc biệt trong những tháng cuối năm Đồngthời, giao dịch mua bán lại cũng chưa được thực hiện nhiều, hoạt động giaodịch vẫn chủ yếu là thỏa thuận thông thường Các giao dịch chủ yếu tập trungvào trái phiếu có thời gian đáo hạn ngắn từ 1-3 năm, trái phiếu kỳ hạn ngắn(dưới 3 năm) chiếm gần 70% tổng giá trị giao dịch thị trường

2.1.3 Hoạt động giao dịch của nhà đầu nước ngoài:

Số lượng nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) tham gia vào thị trườngchứng khoán Việt Nam tiếp tục tăng trong năm 2009- 2010 Tính đến thờiđiểm 31/12/2009, số lượng tài khoản NĐTNN đạt 12.694 tài khoản (tăng 6%

so với năm 2008), trong đó có 12.067 tài khoản cá nhân và 627 tài khoản của

Trang 40

tổ chức Trong năm 2010 số tài khoản tăng lên 1.288 tài khoản tính từ30/11/2009 đến 30/11/2010 (tăng 48% so với năm 2010), trong đó có 287 tàikhoản được cấp mới cho tổ chức và 1.001 tài khoản cho đầu tư cá nhân.

Về giao dịch của NĐTNN trên TTCK Việt Nam:

- Giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ: về cơ bản, trong năm qua giao dịchcủa NĐTNN chủ yếu là mua thuần, đặc biệt trong những tháng 7 và 11 khiTTCK Việt Nam bùng nổ về khối lượng và giá trị giao dịch Tổng giá trị muathuần năm 2009 đạt hơn 3.471 tỷ đồng

- Giao dịch trái phiếu: NĐTNN tiếp tục xu hướng bán ròng nh năm 2008nhưng không bán mạnh nh trong năm 2009 Tổng giá trị bán thuần chỉ ở mức3.191 tỷ đồng, giảm nhiều so với mức 36.168 tỷ đồng của năm 2008

Cùng với diễn biến tăng giảm của thị trường chứng khoán, dòng vốn củaNĐTNN cũng thay đổi nh sau:

- Trong quý I/2009, đây là giai đoạn thị trường đi xuống của TTCK thếgiới, NĐTNN chủ yếu thực hiện rút vốn ra với tổng mức rót ra trong quý I rấtlớn, khoảng 530 triệu USD

- Từ quý II đến nay, khi thị trường bắt đầu đi lên, NĐTNN đã tạm ngừngrút vốn và luồng vốn vào đã bắt đầu quay trở lại và đạt mức xấp xỉ 200 triệuUSD Đặc biệt trong tháng 10 và 11 dòng vốn thuần vào gấp 3 lần so vớinhững tháng đầu năm

Tính đến thời điểm tháng 12/2009, giá trị danh mục đầu tư của NĐTNNtrên TTCK Việt Nam khoảng 6,3 tỷ USD, so với thời điểm 31/12/2008 giá trịdanh mục đầu tư tăng khoảng 1,8 tỷ USD

Trong năm 2010, hiện tượng các Quỹ đầu tư nước ngoài Dragon Capital

bị Ðp thoái vốn sau sự kiện Quỹ Indochina Capital năm 2009 đã gây áp lực vềnguồn cung và phản ánh mức độ ngại rủi ro cũng như độ hấp dẫn của thịtrường Tuy nhiên hiện tương thoái vốn đã không xảy ra và thực tế dòng vốnngoại đã có 1 năm mua ròng kỷ lục, chỉ đứng sau thời kỳ bùng nổ năm 2007

Ngày đăng: 02/11/2014, 06:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lý thuyết tiền tệ ngân hàng_ TS. Tô Kim Ngọc, nhà xuất bản thống kê năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tiền tệ ngân hàng
Tác giả: TS. Tô Kim Ngọc
Nhà XB: nhà xuất bản thống kê
Năm: 2005
18. Các trang Website: http://www.ssc.gov.vn http://www.vse.vn http://www.vsd.vnhttp:// www.hastc.org.vn http://www.hnx.vn http://www.tailieu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.ssc.gov.vnhttp://www.vse.vnhttp://www.vsd.vn
2. Giáo trình thị trường chứng khoán _PGS. TS. Lê Hoàng Nga, , nhà xuất bản thống kê năm 2007 Khác
3. Kiến thức chuyên sâu về chứng khoán và thị trường chứng khoán, tài liệu dịch của Đại học Ngân hàng Tp. HCM Khác
4. Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán_Ủy ban chứng khoán Nhà nước Khác
5. Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế – xã hội hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam_ Ts. Trần Thị Minh Châu, nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2003 Khác
6. Một số vấn đề cần biết về hệ thống thị trường chứng khoán Việt Nam_Gs.Ts Nguyễn Duy Gia, nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2003 Khác
7. Giáo trình quản lý nhà nước về tài chính của Học viện Hành chính quốc gia_PGS. TS. Trần Đình Ty Khác
8. Chuyên đề Tổng quan về thị trường chứng khoán và pháp luật trong kinh doanh chứng khoán ở Việt Nam_MBA Nguyễn Đức Hiển Khác
10. Luật số 62/2010/QH12 ngày 24/11/2010_Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán Khác
11. Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007_ Nghị định của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán Khác
12. Nghị định số 84/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010_ Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ-CP Khác
13. Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010_ Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán Khác
14. Quyết định số 112/2009/QĐ-TTg ngày 11/9/2009_ Quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UBCK Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính Khác
15. Tạp chí Chứng khoán Việt Nam năm 2007, 2008, 2009, 2010 Khác
16. Bản tin Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán TPHCM 2007, 2008, 2009, 2010 Khác
17. Bản tin và các báo cáo của Ủy ban chứng khoán Nhà nước các năm 2007, 2008, 2009, 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức của UBCKNN ở Việt Nam: - nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán việt nam trong giai đoạn hiện nay
Sơ đồ t ổ chức của UBCKNN ở Việt Nam: (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w