1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước đối với các tổ chức tín dụng tại việt nam

96 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 494,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giám sát của Ngân hàng Nhà nước nếu không được đổi mới kịp thời và đúnghướng, sẽ khó đạt được mục tiêu đảm bảo sự ổn định, an toàn của hệ thống TCTDtại Việt Nam.Với đề tài: "Hoạt động Th

Trang 1

1.1.1 Khái niệm hoạt động Thanh tra, giám sát đối với các TCTD 4

1.1.1.1 Khái niệm Thanh tra đối với các tổ chức tín dụng 5

1.1.1.2 Khái niệm giám sát đối với các tổ chức tín dụng 6

1.1.1.3 Khái niệm Thanh tra, giám sát tuân thủ.9

1.1.2 Mục đích, nguyên tắc của hoạt động Thanh tra ngân hàng 9

1.1.2.1 Mục đích hoạt động của Thanh tra ngân hàng 10

1.1.2.2 Nguyên tắc hoạt động của Thanh tra ngân hàng 11

1.1.3 Tổ chức, Bộ máy thực hiện chức năng Thanh tra tại Việt Nam 11

1.1.3.1 Vai trò của Thanh tra Ngân hàng 11

1.1.3.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy và nhân sự của Thanh tra Ngân hàng. 13

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa Thanh tra NHNN và Thanh tra chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trong hoạt động Thanh tra, giám sát 15

Trang 2

1.1.3.4 Sự phối hợp giữa Thanh tra ngân hàng và một số Vụ, Cục khác của NHNN trong hoạt động giám sát chung đối với các NHTM 16

1.1.4 Tình hình nhân sự của Thanh tra ngân hàng 16

1.2 Nội dung của hoạt động Thanh tra, giám sát đối với các TCTD 17

1.2.1 Nội dung của hoạt động Thanh tra, giám sát 17

1.2.1.1 Nội dung về mặt định tính 17

1.2.1.2 Nội dung về mặt định lượng 19

1.2.1.3 Kết hợp giữa Thanh tra tại chỗ với giám sát từ xa 21

1.2.2 Quy trình Thanh tra, giám sát tuân thủ đối với các TCTD 21

1.3 Khung pháp lý của hoạt động Thanh tra trên cơ sở rủi ro 22 2.4 Một số mô hình Thanh tra, giám sát của các quốc gia khác 24 KẾT LUẬN CHƯƠNG I 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT

2.1 Thực trạng của các TCTD tại Việt Nam 30

2.1.1 Thực trạng về hoạt động của hệ thống NHTM tại Việt Nam 30

2.1.1.1 Thực trạng về tổ chức của hệ thống NHTM 30

2.1.1.2 Thực trạng về hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM 32

2.1.2 Những sai phạm, tồn tại chính của TCTD được phát hiện qua hoạt động Thanh tra, kiểm tra 2011 36

2.1.2.1 Về quản trị điều hành 36

2.1.1.2 Về hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ của TCTD 37

2.1.1.3.Ý thức tuân thủ của các TCTD 37

Trang 3

2.1.1.4 Chất lượng tín dụng 38

2.2 Thực trạng hoạt động Thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD

tại Việt Nam 39

2.2.1 Về sự chỉ đạo, điều hành công tác Thanh tra, giám sát ngân hàng 39

2.2.2 Hoạt động Thanh tra tại chỗ và việc phối hợp giữa giám sát từ xa với Thanh tra tại chỗ 43

2.2.3 Hoạt động giám sát từ xa tại NHNN 45

2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động Thanh tra của Ngân hàng nhà nước 46

2.3.1 Kết quả đạt được 46

2.3.2.1 Hạn chế của hoạt động Thanh tra Ngân hàng 50 2.3.2.2 Hạn chế của công tác giám sát từ xa: 52 2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động Thanh tra, giám sát các TCTD của NHNN 54

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57 CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 58 3.1 Sự cần thiết cần thiết phải đổi mới hoạt động Thanh tra, giám sát đối với các TCTD tại Việt nam 58

3.3.1 Yêu cầu bảo đảm an toàn, lành mạnh hệ thống các TCTD 58

3.3.2 Yêu cầu nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động Thanh tra, giám sát ngân hàng 59

3.3.3 Yêu cầu thực hiện thông lệ và chuẩn mực quốc tế về Thanh tra, giám sát ngân hàng 59

Trang 4

3.3.4 Yêu cầu gia nhập WTO của Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng tài

chính nói riêng 60

3.2 Phương hướng đổi mới hoạt động Thanh tra của NHNN đối với các TCTD tại Việt Nam 61

3.2.1 Định hướng đổi mới hoạt động Thanh tra ngân hàng 61

3.2.2 Định hướng đổi mới hoạt động Giám sát ngân hàng 63

3.2.3 Định hướng về chính sách 64

3.3 Giải pháp hoàn thiện hoạt động Thanh tra, giám sát của NHNN 66

3.3.1 Chú trọng nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ Thanh tra, giám sát ngân hàng 66

3.3.2 Đổi mới hoạt động và tiêu chí giám sát 67

3.3.2 Đẩy mạnh hợp tác về Thanh tra, giám sát ngân hàng 71

KẾT LUẬN 78

PHỤ LỤC 83

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HĐQT : Hội đồng quản trị

IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế

IAS : Chuẩn mực kế toán quốc tếNHLD : Ngân hàng liên doanh

NHNN : Ngân hàng nhà nước

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phầnNHTMNN : Ngân hàng thương mại Nhà nướcTCTC : Tổ chức tài chính

TCTD : Tổ chức tín dụng

QTDND : Quỹ tín dụng nhân dân

ADB : Ngân hàng phát triển châu Á

WB : Ngân hàng thế giới

Trang 6

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Kết quả tự đánh giá hệ thống Thanh tra ngân hàng theo 25 nguyên

tắc cơ bản của Uỷ ban Basel 83

Phụ lục 2: Thanh tra trên cơ sở rủi ro 87

Phụ lục 3: Mô hình Thanh tra, giám sát ngân hàng tại Malaysia 89

Phụ lục 4:Các tiêu chí giám sát theo CAMELS 89

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, ngành Ngân hàng Việt Nam đã có những cải cáchđáng kể theo xu hướng thị trường và mở cửa khu vực dịch vụ tài chính - ngânhàng trước yêu cầu phát triển kinh tế và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế NgànhNgân hàng, hệ thống các TCTD đã có bước phát triển rất nhanh về qui mô vàphạm vi hoạt động nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Việc các xuhướng thâm nhập sâu rộng hơn vào hoạt động của thị trường phi ngân hàng(chứng khoán và bảo hiểm) càng làm rủi ro đối với các TCTD trở nên đa dạnghơn Sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ ngân hàng đồng hành cùng với cácloại tội phạm mới xuất hiện trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro về tác nghiệp vàcông nghệ trong điều kiện hệ thống quản trị, điều hành kinh doanh của các TCTDcòn những yếu kém đang là nỗi lo lớn của các nhà quản lý ngân hàng Trong bốicảnh đó, Ngân hàng nhà nước Việt Nam với chức năng là cơ quan quản lý Nhànước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đang đứng trước yêu cầu phải đổi mớimạnh mẽ Quá trình đổi mới đặt trọng tâm vào việc hoàn thiện và nâng cao hiệuquả hoạt động Thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với hệ thống cácTCTD Thanh tra, giám sát ngân hàng thật sự là trụ cột để bảo đảm NHNN thựchiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt độngngân hàng, thực hiện mục tiêu an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng Từ đó, tạomôi trường thuận lợi cho ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế Sự an toàn, lànhmạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng góp phần tạo môi trường thuận lợi chocác hoạt động thương mại, đầu tư, tài chính phát triển và thúc đẩy tăng trưởngkinh tế nhanh

Hiện nay, trong khi đối tượng của hoạt động Thanh tra, giám sát là tổ chức

và hoạt động của các TCTD đang biến động từng ngày, thì hoạt động Thanh tra,

Trang 8

giám sát của Ngân hàng Nhà nước nếu không được đổi mới kịp thời và đúnghướng, sẽ khó đạt được mục tiêu đảm bảo sự ổn định, an toàn của hệ thống TCTDtại Việt Nam.

Với đề tài: "Hoạt động Thanh tra, giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam", nhóm nghiên cứu mong muốn sẽ tìm

ra được những giải pháp góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Thanhtra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước cho phù hợp với sự phát triển ngày càngmạnh mẽ của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, đồng thời đáp ứng được yêu cầuhội nhập quốc tế của nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng, tài chính nóiriêng cũng nhu phù hợp với những chuẩn mực về giám sát ngân hàng hiệu quảtheo thông lệ quốc tế

Mục tiêu nghiên cứu

- Khái quát những vấn đề cơ bản về hoạt động Thanh tra, giám sát củaNHNN đối với các TCTD Những bài học kinh nghiệm của các quốc gia về môhình cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các TCTD tại Việt Nam dưới sự điềuhành và kiểm soát của NHNN

- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả hoạt động Thanh tra, giám sátcủa Ngân hàng nhà nước đối với các TCTD tại Việt Nam Nghiên cứu những địnhhướng phát triển hoạt động Thanh tra, giám sát của NHNN và đề ra những kiếnnghị đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước

- Đề xuất những giải pháp góp phần đổi mới hoạt động Thanh tra, giám sátcủa Ngân hàng Nhà nước cho phù hợp với thực tiễn phát triển không ngừng củacác TCTD tại Việt Nam

Trang 9

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động Thanh tra, giám sát của NHNN và hoạtđộng của các TCTD tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Nhóm nghiên cứu tập trung chủ yếu vào hoạt động

Thanh tra giám sát của NHNN đối với các tổ chức tín dụng nước ngoài tại ViệtNam, đặc biệt là trong quá trình hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam nóichung và lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng nói riêng với kinh tế Quốc tế, đồng thờitập trung kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Thanh tra,giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với các TCTD

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu đề tài này là:phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, suy luận logic kết hợp với các phươngpháp tiếp cận hệ thống, phương pháp khảo nghiệm tổng kết thực tiễn, phân tích,tổng hợp, so sánh để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu Việc nghiên cứu theocác phương pháp trên được gắn với thực tiễn hoạt động của cơ quan Thanh tra,giám sát ngân hàng nhà nước Việt nam

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng số liệu, biểu đồ, nội dung chính của đề tài được thể hiện trong 03 chương:Chương 1: Lý luận cơ bản về hoạt động Thanh tra giám sát các tổ chức tín dụng của ngân hàng nhà nước Việt Nam

Chương 2: Thực trạng hoạt động Thanh tra, giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện hoạt động Thanh tra, giám sát của Ngân hàng nhà nước đối với các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT ĐỐI VỚI CÁC TCTD CỦA NHNN VIỆT NAM

1.1 Khái niệm Thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD tại Việt Nam

1.1.1 Khái niệm hoạt động Thanh tra, giám sát đối với các TCTD.

Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ của địaphương, cơ quan, xí nghiệp” Với nghĩa này, Thanh tra là kiểm soát nhằm pháthiện và ngăn chặn những gì trái với quy định Thanh tra thường đi kèm với mộtchủ thể nhất định như đoàn Thanh tra, người làm nhiệm vụ Thanh tra Trong vănbản pháp luật và thực tiễn hoạt động của nước ta, cụm từ “Thanh tra, kiểm tra”được sử dụng để chỉ một hoạt động không thể thiếu của quản lý nhà nước nhằmhướng đối tượng theo những mục tiêu nhất định Thanh tra là một trong ba yếu tốcấu thành của hoạt động quản lý nhà nước, đó là: (i) Ban hành các quyết địnhquản lý, (ii) Tổ chức triển khai, thực hiện các quyết định đã ban hành và (iii)Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý Mặc dù là khâu cuốicùng của quá trình quản lý nhưng Thanh tra đóng vai trò rất quan trọng, và thiếu

nó không thể có quá trình quản lý hoàn chỉnh

Thanh tra góp phần tăng cường pháp chế và kỷ cương xã hội Thông quacông tác Thanh tra, các cơ quan quản lý nhà nước kịp thời phát hiện và ngăn chặncác hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân Thanh tra cung cấp thông tinphản hồi - nhu cầu không thể thiếu trong quá trình quản lý - để cấp có thẩm quyềnnắm bắt được quyết định quản lý đã ban hành đã được thực hiện ra sao, còn phùhợp thực tiễn hay không và cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới như thếnào…

Trên thế giới, Ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia có thể được tổ chứctheo những mô hình khác nhau, nhưng mục tiêu tổng quát chung mà các Ngânhàng trung ương đều hướng tới đó là việc ổn định giá trị đồng tiền cả về đối nội

Trang 11

cũng như đối ngoại; duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, góp phần thúcđẩy tăng trưởng kinh tế.

Để đạt được các mục tiêu trên, Ngân hàng trung ương hoạt động theo cácchức năng chủ yếu như phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lượng tiền cungứng; ngân hàng của các ngân hàng trung gian; ngân hàng của Nhà nước Trong

đó, với chức năng là ngân hàng của Nhà nước, Ngân hàng Trung ương thực hiệnThanh tra, giám sát đối với các Tổ chức tín dụng, coi đây là một trong nhữngcông cụ chủ yếu nhằm bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động theo trật tự phápchế, ổn định, an toàn và hiệu quả

1.1.1.1 Khái niệm Thanh tra đối với các tổ chức tín dụng

Theo Điều 1 Nghị định 91/1999/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanhtra ngân hàng qui định: Thanh tra ngân hàng là Thanh tra nhà nước chuyên ngành

về ngân hàng Thanh tra chuyên ngành là hoạt động Thanh tra của cơ quan quản

lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việcchấp hành pháp luật những qui định về chuyên môn – kỹ thuật, qui tắc quản lýngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý

Qua thực tiễn có thể khái quát hoạt động Thanh tra đối với TCTD là việcNHNN định kỳ hoặc đột xuất cử các nhân viên là các giám sát viên hoặc Thanhtra viên tới làm việc tại TCTD Trên cơ sở xem xét trực tiếp các hoạt động thực tếdiễn ra tại các TCTD và các tài liệu do ngân hàng cung cấp, các giám sát viênhoặc Thanh tra viên sẽ đưa ra những đánh giá, khuyến nghị về từng mặt hoặc toàn

bộ hoạt động của ngân hàng

Hoạt động Thanh tra này còn được gọi là Thanh tra trực tiếp hay là Thanhtra tại chỗ (tại đơn vị) Theo Luật Thanh tra, Thanh tra trực tiếp chỉ thực hiện theohai hình thức đó là Thanh tra theo chương trình kế hoạch và Thanh tra đột xuất

Trang 12

Thanh tra theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kếhoạch đã được phê duyệt Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơquan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu giải quyếtkhiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyềngiao.

- Mục tiêu của hoạt động Thanh tra trực tiếp tại TCTD :

+ Đánh giá toàn bộ hoạt động và điều kiện tài chính của ngân hàng; đánh giámôi trường hoạt động chung của ngân hàng, tập trung vào hệ thống quản lý, hệthống kiểm soát nội bộ, hệ thống quản lý rủi ro

+ Đánh giá mức độ đáng tin cậy của những thông tin, dữ liệu mà ngân hàngcung cấp cho NHNN và cho các yêu cầu công khai thông tin; phát hiện và xử lý

vi phạm; kịp thời đưa ra kiến nghị

+ Tiếp xúc trực tiếp với ban lãnh đạo và nhân viên ngân hàng để có được cáinhìn từ bên trong và sự hiểu biết tốt hơn, thực tế hơn về một ngân hàng cụ thể

1.1.1.2 Khái niệm giám sát đối với các tổ chức tín dụng

Khái niệm giám sát từ xa đối với các TCTD xuất hiện và nghiên cứu tại Mỹvào những năm cuối thập kỷ 70, thời kỳ nhiều ngân hàng Mỹ rơi vào tình trạngkhủng hoảng, sau đó tình trạng tương tự xảy ra tại Tây Ba Nha Qua nghiên cứu,các nhà quản lý ngân hàng phát hiện những hiện tượng không bình thường và dẫnđến tình trạng khủng hoảng nói trên phần lớn đều phát sinh trong thời gian “khoảng trống” giữa hai kỳ Thanh tra tại chỗ Tình trạng này cũng diễn ra khá phổbiến ở các nước trên thế giới đối với ngành ngân hàng Để khắc phục hiện tượngnày, các nhà quản lý đã đưa ra một phương pháp nhằm giám sát từ xa, được ápdụng hầu hết phổ biến với hoạt động Thanh tra của Ngân hàng Trung ương cácnước và trở thành biện pháp nghiệp vụ không thể thiếu trong quá trình Thanh tra,giám sát hoạt động của các TCTD

Trang 13

Ủy ban Basel cũng đã đưa ra 25 nguyên tắc về Thanh tra, giám sát ngânhàng bao gồm khung giám sát từ khâu cấp phép thành lập, tổ chức và hoạt động,quản trị điều hành đến giải thể, phá sản ngân hàng Bản chất của giám sát (gồmThanh tra tại chỗ và giám sát từ xa) hệ thống ngân hàng là thực hiện giám sátnhững nguy cơ rủi ro đối với hệ thống ngân hàng và khả năng khống chế rủi ro.

Do đó, hoạt động giám sát ngân hàng phải tập trung giám sát và quản lý thậntrọng bằng cách cố gắng đánh giá hết được những rủi ro nảy sinh từ các hoạt độngngân hàng

Hoạt động giám sát từ xa được áp dụng vào Việt Nam khoảng năm 1991.Lúc đầu được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp thủ công nên rất chậm, khôngtiến hành theo định kỳ tháng và chất lượng thấp

Tại Điều 1 Quyết định số 398/1999/QĐ-NHNN3 ngày /9/11/1999 quy định:Giám sát từ xa là việc gián tiếp kiểm tra thông qua tổng hợp và phân tích các báocáo để đánh giá các nội dung sau đây của các TCTD: diễn biến về cơ cấu tài sản

Nợ và tài sản có; chất lượng tài sản có; vốn tự có; tình hình thu nhập, chi phí vàkét quả kinh doanh; việc thực hiện qui định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn tronghoạt động của TCTD và các qui định khác của pháp luật; các vấn đề liên quankhác

Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu hoạt động quản lý của NHNN, hoạt độnggiám sát có phạm vi rộng hơn đó là quá trình thu thập, phân tích, đánh giá, xử lýthông tin một cách thường xuyên, liên tục về hoạt động của từng ngân hàng và hệthống ngân hàng, trên cơ sở các thông tin, dữ liệu do các ngân hàng báo cáo vềNHNN và thông qua việc gặp gỡ trực tiếp hoặc trao đổi với ban lãnh đạo, nhânviên ngân hàng, cũng như thông qua các nguồn thông tin khác như phương tiệnthông tin đại chúng, báo cáo kiểm toán độc lập, báo cáo kiểm toán nội bộ củaTCTD…Hoạt động giám sát còn được gọi là giám sát từ xa, giám sát của cơ quanquản lý thông qua thông tin thu được về các TCTD để phân tích

Trang 14

- Mục tiêu của hoạt động giám sát từ xa đối với TCTD

+ Phát hiện, cảnh báo sớm những rủi ro tiềm ẩn đối với từng ngân hàng và

Để Thanh tra, giám sát các TCTD, hầu hết các cơ quan giám sát ngân hàngtrên thế giới đều áp dụng giám sát từ xa và Thanh tra tại chỗ Điều này đượckhẳng định trong các yêu cầu giám sát ngân hàng hiệu quả của Uỷ ban Basel đólà: một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu quả cần bao gồm cả 2 hình thức Thanhtra tại chỗ và giám sát từ xa Tuy nhiên, hoạt động Thanh tra, giám sát đó làThanh tra giám sát tuân thủ hay là Thanh tra giám sát trên cơ sở rủi ro còn phụthuộc vào mỗi nước

Trang 15

1.1.1.3 Khái niệm Thanh tra, giám sát tuân thủ.

Trên thế giới cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động Thanh tra,giám sát trên cơ sở tuân thủ Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các cơ quan giámsát ngân hàng các nước đều sử dụng 2 hình thức đó là giám sát từ xa và Thanh tratại chỗ để thực hiện Thanh tra, giám sát đối với TCTD Hoạt động Thanh tra,giám sát truyền thống (tức là áp dụng trước những năm 1990) đó là Thanh tra,giám sát tuân thủ Có thể hiểu Thanh tra, giám sát tuân thủ là việc tập trung pháthiện, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật có liên quan của đối tượng được Thanhtra, giám sát; coi đây là mục tiêu hàng đầu và cũng là mục tiêu quan trọng nhấtkhi Thanh tra, giám sát các đối tượng này

Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng tàichính hoạt động Thanh tra của các nước đã thay đổi căn bản và thay đổi liên tục.Đối với các nước có thị trường tài chính, tiền tệ phát triển mạnh thì hoạt độngThanh tra, giám sát giám sát trên cơ sở tuân thủ đã được thay đổi từ rất sớm bằnghoạt động Thanh tra giám sát từ xa trên cơ sở rủi ro khi các nước này thực hiệncác chuẩn mực và nguyên tắc Thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả của Uỷ banBasel

1.1.2 Mục đích, nguyên tắc của hoạt động Thanh tra ngân hàng.

Tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngân hàng được căn cứ vào các quyđịnh cơ bản tại Luật Thanh tra, Luật NHNN Việt Nam, Luật các TCTD, Nghịđịnh số 91/1999/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh trangân hàng và Thông tư số 04 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 91/1999/NĐ-CP

Đối tượng của Thanh tra ngân hàng là tổ chức và hoạt động của TCTD; hoạt

động ngân hàng của các tổ chức không phải là TCTD được NHNN cho phép; việcthực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của các cơquan, tổ chức và cá nhân

Trang 16

1.1.2.1 Mục đích hoạt động của Thanh tra ngân hàng

Mục đích hoạt động của Thanh tra ngân hàng là nhằm góp phần bảo đảm antoàn hệ thống các TCTD, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền,phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển antoàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng;duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tíndụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; gópphần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ vàngân hàng

Hoạt động Thanh tra của Thanh tra ngân hàng, trước hết cũng nhằm mụcđích của Thanh tra nói chung là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi viphạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, phápluật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục;phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt độngquản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơquan, tổ chức, cá nhân Mặt khác, vì là Thanh tra chuyên ngành về ngân hàng,nên Thanh tra ngân hàng có mục đích cụ thể, đặc thù của mình Hiện nay, mục

đích hoạt động phổ biến nhất của Thanh tra ngân hàng là: góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các

tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh

vực tiền tệ và ngân hàng (Theo điều 50 Luật NHNN số 46/2010/QH12)

1.1.2.2 Nguyên tắc hoạt động của Thanh tra ngân hàng

Trang 17

Theo điều 51 luật NHNN số 46/2010/QH12, nguyên tắc hoạt động của

Thanh tra ngân hàng là:

- Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chínhxác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạtđộng bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng Thanh tra, giám sátngân hàng

- Kết hợp Thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ

và ngân hàng với Thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng Thanhtra, giám sát ngân hàng

- Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc Thanh tra,giám sát toàn bộ hoạt động của TCTD

- Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo quy định của LuậtNHNN và các quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp có sự khácnhau giữa quy định về Thanh tra, giám sát ngân hàng của Luật NHNN với quyđịnh của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật NHNN

- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trình tự, thủ tục Thanh tra, giámsát ngân hàng

1.1.3 Tổ chức, Bộ máy thực hiện chức năng Thanh tra tại Việt Nam.

1.1.3.1 Vai trò của Thanh tra Ngân hàng

Ổn định tài chính luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, nhất là trong thời kỳkhủng hoảng Với sự hiện diện của những bất ổn không lường trước được trongtương lai thì tăng cường quản trị rủi ro và đề xuất các biện pháp quản trị rủi rohơn bao giờ hết cần phải được đẩy mạnh thường xuyên nhằm thích ứng với môitrường mới Vì vậy, vai trò của các cơ quan Thanh tra, giám sát với vị trí là nhân

Trang 18

tố cốt lõi của quá trình này trở nên cực kỳ quan trọng Trong thời gian qua hoạtđộng Thanh tra của Thanh tra ngân hàng đã có vai trò và hiệu quả lớn trong việcnâng cao hiệu lực quản lý của Ngân hàng nhà nước:

- Hoạt động Thanh tra của Thanh tra ngân hàng đã góp phần giữ vững antoàn hệ thống, phục hồi và phát triển hoạt động của các TCTD Hoạt động Thanhtra cũng đã cung cấp những bài học kinh nghiệm cho phát hiện các ngân hàng cóvấn đề; việc áp dụng các biện pháp xử lý tình huống để duy trì và đảm bảo hoạtđộng của các TCTD trong tầm kiểm soát của NHNN

- Hoạt động Thanh tra cũng đã góp phần đảm bảo quá trình xử lý các ngânhàng có vấn đề được diễn ra bình thường, không gây ra những cơn sốc trong côngchúng Nhờ đó, giữ vững ổn định kinh tế, chính trị của đất nước Đồng thời, đảmbảo chi phí cho quá trình xử lý ngân hàng ở mức thấp nhất, hạn chế tổn thất vậtchất cho ngân sách nhà nước

- Với hoạt động Thanh tra trực tiếp và hệ thống các biện pháp xử lý sauThanh tra, cùng với hoạt động giám sát từ xa đã góp phần nâng cao ý thức chấphành pháp luật của các TCTD; hạn chế và giảm thiểu những sai phạm nghiêmtrọng trong hoạt động quản trị điều hành và hoạt động tác nghiệp tại các TCTD

- Hoạt động Thanh tra, giám sát đã định hướng cho quá trình hoàn thiệnchính sách của NHNN, bao gồm các quy chế, chính sách điều chỉnh hoạt độngcủa các NHTM và các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanhtra ngân hàng

- Hoạt động giám sát từ xa đã xây dựng được một nền móng cơ bản ban đầu

từ những kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin; quy trình lậpbảng biểu và thực tế lập báo cáo phục vụ công tác chỉ đạo và hoạt động Thanh tratại chỗ

Trang 19

Đáng chú ý là hệ thống chỉ tiêu giám sát của chương trình giám sát từ xa,bao gồm các chỉ tiêu trong và ngoài cân đối, đã được nghiên cứu, bổ sung, đổimới một phần, phù hợp hơn với tính chất phức tạp cũng như sự phát triển đa dạngcác loại hình dịch vụ ngân hàng Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu thu thập được, hoạtđộng giám sát cũng đã cung cấp được nhiều loại báo cáo hơn theo yêu cầu củacác cấp quản lý.

Ngoài ra, hoạt động giám sát đã chỉ điểm cho công tác Thanh tra tại chỗ;cung cấp những thông tin ban đầu cho việc xây dựng kế hoạch Thanh tra như lựachọn đối tượng, nội dung Thanh tra

1.1.3.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy và nhân sự của Thanh tra Ngân hàng.

Ngày 30/7/2009, NHNN đã tổ chức công bố thành lập Cơ quan Thanh tra,giám sát ngân hàng theo Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27/5/2009 Cơquan Thanh tra giám sát ngân hàng được thành lập dựa trên cơ sở tổ chức lại 4đơn vị trực thuộc nhà nước bao gồm: Thanh tra, Vụ các ngân hàng, Vụ các TCTDhợp tác và Trung tâm phòng chống rửa tiền Thành lập Cơ quan Thanh tra, giámsát ngân hàng được coi là một công cuộc cải tổ đáng kể của NHNN nhằm tăngcường khả năng Thanh tra, giám sát của hệ thống tài chính ngân hàng Theo quyếtđịnh này, cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng gồm 6 vụ chuyên ngành, Vănphòng và Cục phòng, chống rửa tiền, các Vụ chuyên ngành bao gồm:

(1) Vụ Thanh tra các tổ chức tín dụng trong nước (gọi tắt là Vụ I)

(2) Vụ Thanh tra các tổ chức tín dụng nước ngoài (gọi tắt là Vụ II)

(3) Vụ Thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chốngtham nhũng (gọi tắt là Vụ III)

(4) Vụ Giám sát ngân hàng (gọi tắt là Vụ IV)

(5) Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ V)

(6) Vụ Quản lý cấp phép các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng (gọitắt là Vụ VI)

Trang 20

Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện đầy đủ 4 chức năng theokhuyến cáo của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, đó là: cấp, thu hồi giấyphép ngân hàng; xây dựng các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng;Thanh tra, giám sát; áp dụng chế tài xử lý vi phạm Theo phân cấp hiện tại, cơquan Thanh tra, giám sát thực hiện giám sát tập trung toàn hệ thống TCTD,Thanh tra, giám sát sở giao dịch các TCTD Nhà nước, các TCTD nước ngoài vàliên doanh, các công ty tài chính và cho thuê tài chính và Quỹ tín dụng nhân dânTrung ương; tại NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố thành lập đơn vị Thanh tra,giám sát trực thuộc giám đốc chi nhánh để thực hiện quản lý và Thanh tra, giámsát các TCTD trên địa bàn gồm: các TCTD cổ phần, các quỹ tín dụng nhân dân

cơ sở và tất cả các chi nhánh của TCTD trong nước đóng trên địa bàn tỉnh, thànhphố

Với mô hình tổ chức phân tán như trên (Thanh tra, giám sát chi nhánh thuộcquyền quản lý trực tiếp của giám đốc chi nhánh), hoạt động Thanh tra, giám sátcắt khúc (NHNN Trung ương Thanh tra sở giao dịch TCTD, địa phương Thanhtra chi nhánh của TCTD) không đáp ứng được yêu cầu Thanh tra, giám sát toàn

bộ theo Luật NHNN vì Thanh tra, giám sát toàn bộ phải được tiến hành tập trung,thống nhất đối với ngân hàng mẹ (gồm hội sở chính, các đơn vị trực thuộc hội sởchính, các công ty con có hoạt động ngân hàng thuộc ngân hàng mẹ)

Về mô hình tổ chức theo Luật Thanh tra năm 2010, mỗi bộ chỉ có một tổchức Thanh tra bộ để thực hiện Thanh tra hành chính và Thanh tra chuyên ngành,còn các đơn vị làm chức năng quản lý thuộc bộ “không thành lập cơ quan Thanhtra chuyên ngành độc lập” (Điều 30) mà thực hiện trách nhiệm là cơ quan đượcgiao thực hiện chức năng Thanh tra chuyên ngành (theo mục 6) Việc NHNN vớitính đặc thù cao thực hiện quy định nêu trên của Luật Thanh tra cần được xem xétmột cách thỏa đáng khi NHNN triển khai thực hiện cơ cấu tổ chức theo Điều 7Luật NHNN

Trang 21

Chỉ đạo điều hành hoạt động của hệ thống Thanh tra ngân hàngthực hiện theo cơ chế song trùng lãnh đạo:

+ Thống đốc NHNN chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành việc thực hiệnnhiệm vụ Thanh tra ngân hàng trên phạm vi cả nước

+ Tổng Thanh tra chịu trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn về tổ chức vànghiệp vụ Thanh tra

+ Thanh tra chi nhánh NHNN chịu sự điều hành trực tiếp của Giám đốcNHNN chi nhánh tỉnh, thành phố nhưng chịu chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụThanh tra của Chánh Thanh tra

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa Thanh tra NHNN và Thanh tra chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố trong hoạt động Thanh tra, giám sát

Việc phân công trách nhiệm giữa Thanh tra NHNN và Thanh tra chi nhánhNHNN trong việc giám sát và Thanh tra các TCTD tại Việt Nam thực hiện theoquy định tại Thông tư số 04/2000/TT-NHNN3:

- Thanh tra NHNN thực hiện giám sát và Thanh tra: Hội sở chính, sở giaodịch, các công ty trực thuộc hạch toán độc lập của các TCTD nhà nước; Quỹ tíndụng nhân dân (QTDND) trung ương; ngân hàng liên doanh; chi nhánh ngânhàng nước ngoài tại Việt Nam; hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải

là TCTD do NHNN cấp giấy phép; các đơn vị thuộc trách nhiệm giám sát vàThanh tra của Thanh tra chi nhánh NHNN khi xét thấy cần thiết

- Thanh tra chi nhánh NHNN chịu trách nhiệm giám sát và Thanh tra trênđịa bàn gồm: các chi nhánh, công ty trực thuộc của TCTD nhà nước; TCTD cổphần; QTDND cơ sở; hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác không phải làTCTD được các cấp có thẩm quyền cấp giấy phép (theo uỷ quyền)

Trang 22

Thanh tra chi nhánh chịu sự hướng dẫn về mặt nghiệp vụ của Thanh traNHNN: như được định hướng về nội dung Thanh tra hàng năm; được đào tạonghiệp vụ Thanh tra; tập huấn quy chế, chính sách Tuy nhiên, vì thuộc cơ cấu tổchức của NHNN chi nhánh, nên về mặt tổ chức, nhân sự và các hoạt động Thanhtra, giám sát cụ thể, Thanh tra chi nhánh thực hiện theo sự chỉ đạo trực tiếp củaThanh tra NHNN.

1.1.3.4 Sự phối hợp giữa Thanh tra ngân hàng và một số Vụ, Cục khác của NHNN trong hoạt động giám sát chung đối với các NHTM

Hiện nay, ngoài Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng một số đơn vị thuộcngân hàng nhà nước cũng thực hiện một số hoạt động giám sát đối với các TCTD,như: Vụ phát hành kho quỹ giám sát về hoạt động an toàn kho quỹ của cácTCTD; Vụ quản lý ngoại hối giám sát về những hoạt động liên quan tới ngoại hối

và kinh doanh vàng; Vụ các TCTD hợp tác giám sát quản lý, cấp phép đối với hệthống QTDND; Vụ các ngân hàng giám sát việc cấp phép, chuẩn y tăng vốn,chuẩn y các chức danh Ban điều hành, Hội đồng quản trị, ban kiểm soát…củaTCTD; Vụ Chính sách tiền tệ thực hiện giám sát các TCTD làm dịch vụ Thanhtoán trong việc thực hiện các chế độ về Thanh toán, quản lý giám sát việc pháthành và sử dụng các công cụ Thanh toán không dùng tiền mặt

1.1.4 Tình hình nhân sự của Thanh tra ngân hàng

Hiện nay, toàn hệ thống ngân hàng có khoảng 1200 cán bộ làm công tác Thanh tra, trong đó:

Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng ở Trung Ương là 320 cán

bộ (Có 8 vụ, cục trong đó có 2 Vụ Thanh tra tại chỗ với gần 100 cán bộ)

Thanh tra chi nhánh: 880 cán bộ

Nguồn: Ngân hàng nhà nước

Trang 23

Thực tế hiện nay cán bộ Thanh tra còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụtrước yêu cầu hiện nay Đó là do phương pháp Thanh tra trên cơ sở rủi ro đòi hỏimỗi cán bộ Thanh tra thực sự là một giám đốc quản trị rủi ro đối với các TCTD;

có khả năng đánh giá các loại rủi ro, đánh giá hệ thống quản lý rủi ro, hệ thốngkiểm toán, kiểm soát nội bộ, đánh giá các chính sách, chiến lược Vì vậy, cán bộThanh tra trước hết cần phải hiểu sâu sắc bản chất, nội dung, đặc biệt là những rủi

ro tiềm ẩn trong từng sản phẩm dịch vụ ngân hàng và các nghiệp vụ ngân hàng thìmới có khả năng thực hiện phương pháp Thanh tra trên cơ sở rủi ro trong hoạtđộng Thanh tra, giám sát đối với các TCTD

1.2 Nội dung của hoạt động Thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng

Theo qui định của Nghị định số 91/1999/NĐ-CP ngày 04/9/1999 về tổ chức

và hoạt động của Thanh tra ngân hàng qui định: Thanh tra ngân hàng thực hiệnviệc giám sát thường xuyên và tiến hành các cuộc Thanh tra trực tiếp về tổ chức

và hoạt động của tổ chức tín dụng, về hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác,

về hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng thuộc chức năng quản lý Nhà nướccủa Ngân hàng nhà nước, nhằm phát hiện và ngăn chặn các vi phạm; kiến nghịbiện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

1.2.1 Nội dung của hoạt động Thanh tra, giám sát

Nội dung Thanh tra, giám sát bao gồm những nội dung về mặt định lượng vànội dung về mặt định tính:

1.2.1.1 Nội dung về mặt định tính

a Đánh giá năng lực quản trị, điều hành, dựa trên các tiêu chí:

- Sự phân định trách nhiệm, quyền hạn trong Ban lãnh đạo ngân hàng rõràng, đảm bảo bao quát được toàn bộ hoạt động của TCTD

Trang 24

- Hệ thống và cơ chế điều hành thông tin cho phép Ban lãnh đạo ngân hangcập nhật chính xác, kịp thời toàn bộ hoạt động của tổ chức.

- Sự chủ động của Ban lãnh đạo trong việc thiết lập các giới hạn rủi ro, (đặcbiệt là các rủi ro trọng yếu) phù hợp với quy định của pháp luật; phù hợp vớichiến lược kinh doanh và khả năng chống chịu rủi ro trong từng thời kỳ của ngânhàng

- Năng lực của Ban lãnh đạo trong việc xây dựng, hoạch định mục tiêu,chiến lược kinh doanh; nắm bắt, điều chỉnh và xử lý kịp thời các yếu kém của tổchức do kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập và cơ quan giám sát đưa ra

- Trách nhiệm của lãnh đạo các cấp trong việc ban hành hệ thống các chínhsách, thủ tục, quy trình, nghiệp vụ và việc định kỳ xem xét lại hệ thống này phùhợp với pháp luật hiện hành và điều kiện cụ thể của ngân hàng; đồng thời xâydựng cơ chế đảm bảo đội ngũ nhân viên được phổ biến kịp thời và ý thức đầy đủ

về các quy trình, thủ tục nội bộ có liên quan

- Thái độ, ý thức chấp hành pháp luật của ban lãnh đạo TCTD

b Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của TCTD, dựa trên 5 yếu tố:

- Môi trường kiểm soát : phản ánh thái độ sự quan tâm cũng như tác độngcủa Ban lãnh đạo, nhân viên đối với những vẫn đề liên quan tới hoạt động kiểmsoát nội bộ

- Quy trình đánh giá rủi ro : quy trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát toàn

bộ rủi ro mà tổ chức của hộ phải đương đầu, phù hợp với khả năng chống chịu vàchiến lược kinh doanh của ngân hàng

- Các hoạt động kiểm soát: bao gồm các chính sách và thủ tục nhằm loại bỏ,giảm thiểu rủi ro đã được xác định (chính sách, thủ tục phân tán rủi ro, phòngngừa rủi ro; chính sách, thủ tục trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro )

- Thông tin liên lạc: quy trình nắm bắt và trao đổi thông tin để quản lý vàkiểm soát các hoạt động

Trang 25

- Giám sát: đánh giá chất lượng hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ

theo thời gian, để đảm bảo các hoạt động này được tiến hành như dự kiến và cónhững thay đổi khi cần thiết

c Đánh giá sự phù hợp của hệ thống kế toán:

Các nguyên tắc và phương pháp hạch toán kế toán của ngân hàng đảm bảođúng pháp luật và phản ảnh chính xác toàn bộ các nghiệp vụ, giao dịch kinh tếphát sinh

d Chất lượng nguồn nhân lực:

Đánh giá sự phù hợp của nguồn nhân lực về quy mô, chất lượng trong việcđáp ứng phạm vi, quy mô, nội dung hoạt động của ngân hàng

1.2.1.2 Nội dung về mặt định lượng

a Việc tuân thủ các yêu cầu về vốn

Tại mỗi nước, cơ quan Thanh tra, giám sát có thể đưa ra những yêu cầu vềvốn cụ thể khác nhau, nhưng nhìn chung những yêu cầu này đều dựa trên yêu cầu

về vốn tối thiểu được đưa ra trong Hiệp ước Basel I và II

Các yêu cầu về vốn bao gồm vốn tự có; cơ cấu vốn phù hợp với mức độ rủi

ro đã được lượng hoá của ngân hàng Đối với từng ngân hàng, yêu cầu về vốn cóthể bằng hoặc cao hơn mức yêu cầu tối thiểu theo luật định Các yêu cầu về vốnnhằm đảm bảo ngân hàng có thể bù đắp được rủi ro ở mức độ hợp lý, bảo vệ sự

ổn định và bền vững tài chính của ngân hàng Vì vậy, yêu cầu về vốn phải đượccác ngân hàng tuân thủ thường xuyên, nghiêm ngặt

b Đo lường rủi ro

Đây là việc lượng hoá các rủi ro đã được nhận biết thông qua việc tính toáncác chỉ tiêu và sử dụng các mô hình toán

c Việc tuân thủ các hạn mức, giới hạn trong hoạt động

Đánh giá việc tuân thủ các hạn mức, giới hạn trong hoạt động như giới hạncho vay, bảo lãnh đối với một khách hàng, một nhóm khách hàng hoặc cho vay

Trang 26

liên kết; giới hạn hùn vốn mua cổ phần; mức vốn tự có so với tài sản có rủi ro;khả năng chi trả; trạng thái ngoại hối

d Tính bền vững của các khoản thu nhập

Đánh giá dựa trên việc xem xét một số tiêu thức như: mức thu nhập, baogồm cả xu hướng tăng trưởng và mức độ ổn định; khả năng đảm bảo tốc độ tăngtrưởng vốn từ nguồn lợi nhuận để lại; khả năng bù đắp tổn thất Những đánh giánày cũng bao gồm việc tính toán các chỉ tiêu: thu nhập trước thuế so với tài sản

có bình quân và so với vốn chủ sở hữu; thu nhập tài chính trên tài sản có bìnhquân; chi phí huy động vốn so với tài sản có bình quân; chi phí hoạt động so vớitài sản có bình quân

Trên cơ sở kết quả Thanh tra, giám sát theo các nội dung định tính và địnhlượng như trên, cơ quan Thanh tra, giám sát tiến hành xếp loại hàng năm từngngân hàng dựa trên việc đánh giá 6 yếu tố: tính đầy đủ của vốn - C, chất lượngtài sản có -A, quản lý - M, thu nhập -E, Thanh khoản -L, độ nhảy cảm với rủi rothị trường- S, việc xếp loại này thường được biết dưới cái tên “ Phương pháp xếploại CAMELS “ Việc xếp hạng cho từng yếu tố mặc dù được tiến hành độc lập,nhưng vẫn được xem xét trong mối liên quan với các yếu tố khác Điều này cónghĩa là nếu một yếu tố được xếp hạng quá cao hoặc quá thấp có thể dẫn đến việcđiều chỉnh mức xếp hạng của các yếu tố khác Việc tổng hợp xếp hạng sẽ là kếtquả tổng hợp của việc xếp hạng 6 yếu tố Một ngân hàng có thể được xếp vào 1trong 5 loại, tương ứng với các mức độ yêu cầu giám sát khác nhau: giám sát bìnhthường; giám sát ở mức độ cao hơn; giám sát rất chặt chẽ; giám sát chặt chẽ, đồngthời có các hành động khắc phục yếu kém tức thì

Việc công bố công khai kết quả xếp loại theo phương pháp CAMELS tuỳthuộc quy định của mỗi nước Tại một số nước, việc công bố công khai kết quảxếp loại có thể xem là 1 biện pháp mạnh để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, nhàđầu tư; đồng thời buộc ngân hàng phải luôn nỗ lực tự điều chỉnh nếu muốn khẳngđịnh vị thế của mình

Trang 27

1.2.1.3 Kết hợp giữa Thanh tra tại chỗ với giám sát từ xa

Dù đó là giám sát từ xa hay Thanh tra tại chỗ, mục đích chung đều giốngnhau, đó là giám sát các TCTD và phòng ngừa các rủi ro thông qua việc phát hiệnkịp thời các rủi ro không được quản lý tốt Sự kết hợp giữa chúng chính là để bổtrợ cho nhau giúp hoạt động Thanh tra của Thanh tra ngân hàng đối với cácTCTD đạt kết quả tốt hơn Khi Thanh tra ngân hàng thực hiện phương phápThanh tra trên cơ sở rủi ro, sự kết hợp giữa giám sát từ xa và Thanh tra thể hiện rõnét trong việc lập báo cáo giám sát CAMELS (giám sát từ xa đảm nhiệm các nộidung định lượng; Thanh tra tại chỗ đảm nhiệm nội dung đánh giá định tính) Tạinguyên tắc số 16 của Uỷ ban Basel về Thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quảcũng nêu rõ: Hệ thống Thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả phải kết hợp giữaThanh tra tại chỗ và giám sát từ xa

1.2.2 Quy trình Thanh tra, giám sát tuân thủ đối với các TCTD

Quy trình thực hiện phương pháp Thanh tra, giám sát tuân thủ gồm nhữngbước cơ bản sau:

Bước 1: Xác định những quy định bắt buộc TCTD phải thực hiện.

Ở bước này cần xác định chính xác các quy định mà TCTD phải thực hiện,trong đó lưu ý: (i) TCTD được làm, không được làm gì, (ii) Thời hiệu thi hànhcủa từng quy định Đây là xuất phát điểm quan trọng mà giám sát từ xa, Thanh tratại chỗ phải tuân thủ

Bước 2: Thực hiện đánh giá mức độ tuân thủ các quy định đó của TCTD.

Hành vi của TCTD trong thực hiện quy định của pháp luật phải được đánhgiá cụ thể là đúng theo quy định hay không đúng theo quy định Nếu không đúng(vi phạm) quy định của pháp luật thì ở mức độ nào, xác định nguyên nhân và đó

là hành vi phạm lỗi hay hành vi có dấu hiệu phạm tội của cá nhân, tập thể TCTD

để có hướng xử lý phù hợp

Trang 28

Bước 3: Đưa ra biện pháp xử lý đối với các vi phạm của TCTD (nếu có).

Căn cứ vào kết quả của bước 2 nêu trên, Thanh tra ngân hàng sẽ có biện pháp xử

lý theo quy định của pháp luật Tùy theo mức độ của hành vi phạm lỗi, cá nhân,TCTD có thể bị yêu cầu xử lý nội bộ hoặc xử lý vi phạm hành chính Biện pháp

xử lý hành chính bao gồm; cảnh cáo, phạt tiền, hạn chế hoạt động nghiệp vụ, thuhồi giấy phép Tuỳ thuộc quy định pháp luật của từng nước mà Thanh tra ngânhàng có thẩm quyền xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lýhành chính Nếu hành vi của cá nhân, TCTD được xác định là có dấu hiệu phạmtội thì chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về tốtụng hình sự

Bước 4: Đồng thời với việc đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của TCTD,

Thanh tra ngân hàng phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách,pháp luật để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các biện pháp khắc phục nhưsửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định cho phù hợp, để góp phần nângcao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Các bước của quy trình nêu trên được lặp đi, lặp lại trong suốt quá trình thựchiện giám sát từ xa, Thanh tra tại chỗ của Thanh tra ngân hàng đối với các TCTD

1.3 Khung pháp lý của hoạt động Thanh tra trên cơ sở rủi ro.

Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt Thanh tra, giám sát đối với việc bảođảm an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam nên chính phủ và NHNN đã banhành nhiều cơ chế chính sách điều chỉnh hoạt động này Đó là hệ thống các vănbản pháp luật gồm Luật, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, Quyết định, Quy chế

Sự ra đời của 2 Pháp lệnh về Ngân hàng (năm 1990) đánh dấu bước ngoặttrong tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng, tách bạch rõ ràng giữa chức năngquản lý nhà nước của NHNN và chức năng kinh doanh của các tổ chức tín dụng

Trang 29

(TCTD) thông qua hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp Trong đó, NHNNđóng vai trò là Ngân hàng Trung ương và cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ vàhoạt động ngân hàng; các TCTD thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, ngânhàng và là đối tượng quản lý, Thanh tra, giám sát của NHNN.

Đáng chú ý là sự ra đời của Luật NHNN và Luật các TCTD tháng 12 năm

1997 được xem là bước tiến quan trọng trong hoạt động của ngành ngân hàng.Công tác Thanh tra và giám sát các TCTD đã thể hiện rõ sự thay đổi về cơ chếquản lý của ngành ngân hàng, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Tiếp theo đó ngày 04/09/1999, Chính phủ ban hànhNghị định số 91/1999/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngân hàng

và Thống đốc NHNN ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác Thanh tra,giám sát, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngânhàng Đặc biệt sau Nghị định số 96 ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN Việt Nam và Quyếtđịnh số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan Thanh tra, giámsát ngân hàng trực thuộc NHNN Việt Nam được ban hành thì Cơ quan Thanh tra,giám sát ngân hàng đã được thành lập, đây được xem là bước tiến quan trọngtrong quá trình cải cách cơ cấu tổ chức và hoạt động của NHNN nói chung vàThanh tra ngân hàng nói riêng

Sự ra đời của Luật Thanh tra (năm 2004), Luật NHNN 2010, Luật cácTCTD 2010 đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp

lý cho hoạt động Thanh tra ngân hàng, đưa công tác Thanh tra thực sự là công cụquản lý không thể thiếu được của Nhà nước để bảo đảm việc tuân thủ các chínhsách, pháp luật từ đó tăng cường kỷ cương, pháp chế trong lĩnh vực tiền tệ vàhoạt động ngân hàng

Trang 30

Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng đã tham mưu cho Lãnh đạo NHNN

rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành một số quy định mới phù hợp với diễn biến củahoạt động ngân hàng tại Việt Nam và thông lệ, chuẩn mực quốc tế như: Quy định

về sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD hướng dẫn tổ chức, quản trị, điều hành, vốnđiều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của NHTM;quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với các TCTD; quy định về việc cấp giấyphép thành lập và hoạt động NHTMCP; quy định mới về các tỷ lệ bảo đảm antoàn trong hoạt động của các TCTD

Các chính sách, quy định an toàn và biện pháp thận trọng trong lĩnh vựcngân hàng được ban hành từ trước đến nay đã góp phần nâng cao hiệu quả quản

lý, Thanh tra, giám sát các TCTD Tuy nhiên cơ chế chính sách chưa đáp ứng kịpthời yêu cầu Thanh tra, giám sát ngân hàng hiện đại và thực hiện các thông lệquốc tế về Thanh tra, giám sát ngân hàng Khuôn khổ pháp lý còn thiếu rất nhiềucác quy định mang tính chuyên môn sâu trong hoạt động Thanh tra, giám sát ngânhàng, cụ thể: (i) Chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào đề cập đến quy trìnhThanh tra chuyên ngành về ngân hàng, quy trình Thanh tra, giám sát trên cơ sởrủi ro; (ii) Chưa có quy định về quy trình đánh giá các TCTD theo tiêu chuẩnCAMELS đối với TCTD riêng lẻ; quy trình đánh giá mức độ rủi ro, năng lựcquản lý rủi ro, tình hình tài chính và hoạt động của TCTD; (iii) Chưa có các quyđịnh cụ thể về chuẩn mực kế toán, hạch toán lỗ lãi đối với những nghiệp vụ ngânhàng hàm chứa rủi ro thị trường như nghiệp vụ phái sinh, kinh doanh ngoại tệ vàtrái phiếu

2.4 Một số mô hình Thanh tra, giám sát của các quốc gia khác.

TẠI NHẬT BẢN

Về Thanh tra tại chỗ

Trang 31

Tại Nhật Bản, trên cơ sở chương trình, kế hoạch Thanh tra tổng thể doTổng giám đốc Ban tài chính Chính phủ Nhật Bản ban hành; Cục Thanh tra tại chỗ thuộc FSA có trách nhiệm xây dựng kế hoạch Thanh tra cụ thể cho các đối tượng Thanh tra thuộc đối tượng quản lý Khi kết thúc kiểm tra, Thanh tra tại các

TCTD, bộ phận Thanh tra tại chỗ gửi kết luận Thanh tra cho bộ phận giám sát từ

xa biết và phối hợp xử lý Trong quá trình giám sát và tiếp xúc với các TCTD có vấn đề hoặc gặp rủi ro trong hoạt động, cần gửi kết quả giám sát và tiếp xúc đối với TCTD cho bộ phận Thanh tra tại chỗ biết và phối hợp xử lý

Về giám sát từ xa

Về hoạt động giám sát từ xa:

Hiện hoạt động giám sát từ xa của Nhật Bản rất phát triển và hỗ trợ tích cực cho Thanh tra tại chỗ thông qua việc đưa ra các dấu hiệu cảnh báo sớm với các TCTC có vấn đề và/hoặc gặp rủi ro trong hoạt động trọng tâm, trọng điểm cho Thanh tra tại chỗ qua việc xác định những lĩnh vực và khu vực có rủi ro trong hoạt động của TCTC Bộ phận giám sát tài chính căn cứ vào tỷ lệ vốn tối thiểu theo tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn nội địa để thực hiện giám sát các TCTC Từ

đó, có biện pháp điều chỉnh sớm hoạt động nghiệp vụ đối với các TCTC

Về tiếp xúc với các TCTD:

Tại Nhật Bản, Ban tài chính Chính phủ Nhật Bản (FSA-Finance Service Agency) và Cục tài chính Kinki định kỳ hoặc thường xuyên khi tiếp xúc với Ban lãnh đạo cấp cao của các TCTC thường do bộ phận giám sát từ xa thực hiện (Cục Giám sát từ xa thuộc FSA hoặc Bộ phận giám sát từ xa thuộc Cục Tài chính Kinki)

TẠI SINGAPORE

Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) được thành lập năm 1971, là Ngân hàngTrung ương của Singapore, thực hiện Thanh tra, giám sát hợp nhất đối với khu

Trang 32

vực tài chính, đồng thời chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển Singapore trởthành trung tâm tài chính quốc tế

Mục tiêu của Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro của MAS là nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của các tổ chức tài chính; tăng cường tính minh bạch

và bình đẳng giữa các tổ chức tài chính trong mối quan hệ với khách hàng và đối tác

Khuôn khổ Thanh tra, giám sát:

Giám sát liên tục một TCTC nhằm xác định và chỉ ra những rủi ro tiềm tàng

có thể tác động đến sự an toàn và lành mạnh của một TCTC, hoặc tác động đếntính minh bạch và bình đẳng của các thông lệ thị trường MAS đặt mục tiêu giảmthiểu rủi ro đổ vỡ hoặc những hành vi không thích hợp của TCTC thông qua việctăng cường Thanh tra, giám sát MAS sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro, CRAFT(Common Risk Assessment Framework & Techniques), để đánh giá rủi ro củamột TCTC Sau đó kết hợp việc đánh giá, xếp hạng mức độ tác động và rủi ro vàxem xét xem TCTC nào có mối đe dọa lớn hơn đối với việc đạt được mục tiêuThanh tra, giám sát của MAS Cuối cùng, xác định chiến lược Thanh tra, giám sát

và mức độ Thanh tra, giám sát cần thiết

Tần suất và kỹ thuật Thanh tra:

Nhìn chung, việc Thanh tra, giám sát các TCTC ở nhóm có nguy cơ thấphơn chủ yếu là qua giám sát từ xa và sẽ chỉ có các cuộc Thanh tra tại chỗ theođịnh kỳ MAS trông đợi nhiều vào những kiểm toán viên độc lập sẽ giúp MAShoàn thành công tác Thanh tra, giám sát

- Để thể hiện sự cần thiết phải dự đoán và phản ứng hiệu quả với rủi ro, việcThanh tra, giám sát các TCTC của MAS bao gồm việc đối thoại và trao đổi qualại với TCTC nhằm đạt được sự hiểu biết chi tiết về những rủi ro hiện tại và rủi rotiềm tàng của họ

Trang 33

- Mức độ chuyên sâu của Thanh tra, giám sát là khác nhau đối với mỗi nhómTCTC Sự khác nhau này chủ yếu là về tính thường xuyên của các cuộc Thanh tratại chỗ và tính chất của hoạt động giám sát đối với mỗi TCTC.

Bài học đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của những quốc gia khác cho thấy: an toàn trong hoạt động củacác TCTD chỉ thực sự được đảm bảo khi có sự phối hợp tốt giữa vai trò quản lýNhà nước của cơ quan quản lý nhà nước trong việc ban hành các quy định phápluật, giám sát, kiểm tra, Thanh tra TCTD với nội tại việc thực thi các mặt hoạtđộng của từng TCTD Nghiên cứu việc áp dụng phương pháp Thanh tra, giám sáttrên cơ sở rủi ro tại tại Nhật Bản, Singapore và Malaysia cho thấy:

Thứ nhất, sự cần thiết phải chuyển đổi từ Thanh tra tuân thủ sang Thanh tra

trên cơ sở rủi ro

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế trong lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứngkhoán, bảo hiểm) diễn ra ngày càng nhanh, mạnh mẽ, cả về quy mô và mức độphức tạp, đa dạng của sản phẩm dịch vụ tài chính trên nền tảng công nghệ thôngtin hiện đại, theo đó hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng chứa đựng nhiều rủi

ro Để đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD trong khi nguồn lực Thanh tra, giámsát hạn chế, phương pháp Thanh tra tuân thủ không còn phù hợp nên việc các cơquan Thanh tra, giám sát phải chuyển sang áp dụng phương pháp Thanh tra,giám sát trên cơ sở rủi ro là cần thiết

Thứ hai, để phương pháp Thanh tra, giám sát phát huy hiệu quả cần quan

tâm và làm tốt những vấn đề sau:

- Yếu tố con người: cán bộ Thanh tra, giám sát phải đủ trình độ, kinh nghiệpđáp ứng yêu cầu thực hiện phương pháp (hiểu về rủi ro, quản trị rủi ro, các sảnphẩm tài chính…)

Trang 34

- Hội đồng quản trị, Ban điều hành của TCTD có ý thức về quản trị rủi ro vàxây dựng hệ thống quản trị rủi ro, kiểm toán nội bộ phục vụ cho công tác quản trịcủa TCTD.

- Hệ thống công nghệ thông tin của TCTD và Cơ quan Thanh tra giám sátđược xây dựng và thiết lập trên nền tảng công nghệ hiện đại phục vụ cho công tácquản trị và Thanh tra giám sát

- Hệ thống kiểm toán độc lập đầy đủ năng lực, đáng tin cậy

Thứ ba, cần thực hiện bước thử nghiệm áp dụng Thanh tra, giám sát trên cơ

sở rủi ro; trước đó nên tổ chức đánh giá thực trạng quản trị rủi ro của các đốitượng Thanh tra, giám sát Tuy nhiên, thời gian thử nghiệm không nên kéo dài (1đến 2 năm là hợp lý)

Thứ 4, thiết lập được khuôn khổ Thanh tra, giám sát phù hợp với tình hình

thực tế, điều kiện của Việt Nam, sớm ban hành được Sổ tay Thanh tra, giám sáttrên cơ sở rủi ro; các quy định mang tính nguyên tắc về quản trị rủi ro Các khuônkhổ pháp lý này luôn được nghiên cứu để chỉnh sửa, hoàn thiện

Thứ năm, công tác đào tạo phải được quan tâm thoả đáng, đặc biệt là đào

tạo cho họ kiến thức, kinh nghiệm về rủi ro, quản trị, đánh giá rủi ro, công nghệthông tin; đào tạo cho cả các cấp lãnh đạo của cơ quan Thanh tra, giám sát để tạođược sự đồng thuận, nhất quán chuyển sang thực hiện phương pháp mới

Thứ 6, đẩy mạnh hợp tác với các cơ quan Thanh tra, giám sát nước ngoài đã

chuyển sang thực hiện phương pháp Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro để nắmđược thuận lợi, khó khăn, giải pháp khắc phục khó khăn, từ đó đúc rút ra bài họckinh nghiệm, hạn chế tối đa những sai lầm có thể xảy ra khi chuyển sang thựchiện phương pháp mới

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Chương I chủ yếu cung cấp những khái niệm, những vấn đề lý luận chung

về Thanh tra, giám sát ngân hàng và bài học kinh nghiệm của một số quốc giaphát triển trên thế giới Từ kinh nghiệm quốc tế, để có một hệ thống ngân hàng ổnđịnh thì trước hết cần có những cơ chế ngăn ngừa đúng mức, đặc biệt là cơ quanquản lý, giám sát ngân hàng cần phải có đủ năng lực để giám sát, điều tiết hoạtđộng hệ thống các TCTD khi có những biểu hiện, nguy cơ dẫn đến mất an toàn

Để làm được điều này, cần có những khuôn khổ pháp lý chắc chắn nhằm đảm bảocho Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng có đủ quyền hạn, cơ sở để điều tiếthoạt động của hệ thống ngân hàng ngay cả khi chưa có dấu hiện bất ổn

Hiệu quả của công tác Thanh tra, giám sát các TCTD giữ vai trò quan trọngđối với sức mạnh của một nền kinh tế Nhiệm vụ hàng đầu của Thanh tra ngânhàng là đảm bảo các hoạt động ngân hàng diễn ra an toàn và vững chắc do lĩnhvực ngân hàng chịu tác động rất lớn của rủi ro trong quá trình hoạt động kinhdoanh Đối với bất kỳ quốc gia nào, hệ thống Thanh tra, giám sát ngân hàng vữngmạnh và hiệu qủa cùng với các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp là những yếu tốthen chốt để có được sự ổn định tài chính

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT

CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

2.1 Thực trạng của các TCTD tại Việt Nam

2.1.1 Thực trạng về hoạt động của hệ thống NHTM tại Việt Nam

50

51

52

52

52

Ngân hàng 100% vốn nước

Chi nhánh ngân hàng nước

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viênchính thức của WTO, số lượng NHTM gia tăng khá nhanh Mặc dù số lượng ngân

Trang 37

hàng tương đối lớn nhưng phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở 2 địa bàn kinh

tế trong điểm là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trong đó các TCTD hiện

nay, các NHTMNN và NHTMCP đang dẫn đầu về mạng lưới hoạt động Cácngân hàng 100% vốn nước ngoài hiện nay chỉ chiếm một lượng nhỏ về đầu mốimạng lưới hoạt động nhưng đã thể hiện tham vọng và khả năng phát triển lớn.Hiện 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã có 14 chi nhánh tại các tỉnh, thànhphố lớn trên cả nước và nhu cầu mở rộng mạng lưới của khối này vẫn còn hết sứclớn

b Về quản trị, điều hành

Hiện nay, nhìn chung các NHTM được tổ chức theo mô hình quản trị hiệnđại, trong đó tách bạch rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu, HĐQT, Bankiểm soát và ban điều hành Về cơ bản, các cơ quan quản trị, điều hành, kiểm soátcủa ngân hàng đều đủ về số lượng, chất lượng từng bước được chuẩn hóa, đảmbảo các điều kiện, tiêu chuẩn tối thiểu về đạo đức và trình độ chuyên môn theoquy định của Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về tổ chức và hoạtđộng của NHTM (Nghị định số 59)

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều đã thành lập và vận hành chức năngkiểm toán nội bộ, thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ theo quy định của pháp luật.Hoạt động kiểm toán nội bộ đã được triển khai tập trung vào một số nghiệp vụ,hoạt động có độ rủi ro cao và đã đưa ra các kết luận, khuyến nghị kịp thời

Năng lực quản trị điều hành của các NHTM đã có nhiều chuyển biến tíchcực trong những năm gần đây Nhiều NHTMCP đã có những biến đổi lớn về tưduy trong công tác quản trị, điều hành, mức độ kiến tạo và đầu tư cho bộ máyquản trị Một số ngân hàng như Sacombank, ACB, Techcombank đã quan tâmxây dựng bộ máy quản trị, điều hành tiến gần với thông lệ quốc tế

Trang 38

Tuy nhiên, so với các chuẩn mực quản trị quốc tế và quy định hiện hành củanghị định số 59 cũng như luật các TCTD 2010, năng lực quản trị điều hành củacác NHTM hiện còn hạn chế Mức độ hạn chế có sự khác biệt giữa các loại hìnhNHTM chủ yếu do đặc thù về cơ cấu chủ sở hữu.

2.1.1.2 Thực trạng về hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM

a Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản

Quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Việt Nam trong nhữngnăm qua đã có sự tăng trưởng khá, nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với mứctrung bình trong khu vực Tổng tài sản có đến cuối tháng 10/2011 là 4.713,2nghìn tỷ đồng, tăng 13,5% so với cuối năm 2010 Khối NHTMNN có quy mô lớnnhất nhưng tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với khối NHTMCP Thị phần củaKhối NHTMNN cũng ngày càng giảm (năm 2009 là 47,6%, năm 2010 là 41,3%đến cuối tháng 10/2011 còn 39,0%) Thay vào đó là sự tăng trưởng mạnh mẽ củaKhối NHTMCP với thị phần về tổng tài sản tăng dần qua các năm (năm 2009 là41,2%, năm 2010 là 44,3% và cuối tháng 10/2011 là 45,4%)

b Tốc độ tăng trưởng tín dụng

Tốc độ tăng trưởng hoạt động tín dụng những năm trước trung bình trên35%/năm Tuy nhiên, sang năm 2011, do thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát,

ổn định kinh tế vĩ mô, đến cuối tháng 10/2011, dư nợ của Tổ chức kinh tế và dân

cư là 2.515,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cuối năm 2010

Khối NHTMNN là khối có tăng trưởng tín dụng cao (9,1%) và chiếm tỷtrọng lớn nhất trong hệ thống TCTD (51,3%) Khối NHTMCP tăng trưởng tíndụng (8,9%) và chiếm tỷ trọng là 35,3% trong hệ thống TCTD

c Về huy động vốn

Trang 39

Sau khi Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày07/9/2011 nhằm chấn chỉnh việc thực hiện quy định về mức lãi suất huy độngbằng VNĐ và đồng Đô la Mỹ của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,

và với sự vào cuộc tích cực, xử lý nghiêm minh của NHNN, hiện tượng chạy đua,mặc cả lãi suất huy động vốn say một thời gian dài diễn biến phức tạp, không cònnữa Thị trường về cơ bản đã được lập lại kỷ cương Tuy nhiên, một số ngân hàngđặc biệt là các ngân hàng quy mô nhỏ chưa có thương hiệu còn gặp không ít khókhăn trong việc huy động vốn do dòng tiền gửi tiết kiệm có xu hướng dịchchuyển sang một số kênh đầu tư khác

Đến cuối tháng 10/2011, huy động vốn là 2.819,6 nghìn tỷ đồng, tăng 8,4%

so với cuối năm 2010 (bình quân tháng tăng 0,84%, năm 2010 là 3,1%) Mặc dù,trong năm 2011 huy động vốn gặp nhiều khó khăn nhưng khối NHTMCP vẫn làkhối huy động tăng lớn (10,8%) so với cuối năm 2010 và chiếm tỷ trọng lớn nhất(45,2%) trong hệ thống TCTD

d Hiệu quả hoạt động

- Bên cạnh sự tăng trưởng, hiệu quả của nhiều TCTD, chi nhánh ngân hàngnước ngoài cũng được nâng lên Đến tháng 10/2011, tỷ lệ ROA (Lợi nhuận trướcthuế so với tài sản có) toàn hệ thống đạt 1,02% và ROE đạt 10,4%

Tính đến tháng 10/2011, Khối NHTMNN tỷ lệ ROA, ROE đều cao, bìnhquân đạt 1,02% và 13,05%; đối với khối NHTMCP, mức bình quân của ROA là1,16% và ROE là 6,9%; Khối TCTD nước ngoài, mức bình quân ROA là 0,1% vàROE là 0,82%; Quỹ tín dụng nhân dân mức bình quân ROA là 1,92% và ROE là16,3%

- Về chênh lệch thu chi: có 14 đơn vụ có chênh lệch thu chi lũy lế 10 thángđầu năm 2011 âm, trong đó có 11 đơn vị thuộc nước ngoài và 3 công ty tài chính.Đối với khối nước ngoài, nguyên nhân lỗ là do các chi nhánh Ngân hàng nước

Trang 40

ngoài mới thành lập và hoạt động, do trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cao, chiphí hoạt động lớn, thu không đủ bù chi.

e Về khả năng Thanh khoản

Đến tháng 10/2011, trên cân đối thì hầu hết các TCTD chấp hành tỷ lệ khảnăng chi trả theo quy định Tuy nhiên, trên thực tế còn nhiều TCTD chưa đảmbảo theo yêu cầu Đối với các đơn vị này, NHNN đã yêu cầu TCTD giải trình và

có biện pháp khắc phục

Đến thời điểm hiện nay, số lượng các TCTD vi phạm về tỷ lệ khả năng chitrả đã giảm song vẫn còn một số TCTD vi phạm và vi phạm liên tục nhiều lần.Việc quy định tỷ lệ khả năng chi trả ngày hôm sau (15%) và 7 ngày tiếp theo(100%) và phương pháp tính toán theo thông tư 13 chỉ phù hợp với hoạt động củacác TCTD trong điều kiện bình thường Trong điều kiện thị trường có biến độngbất thường thì quy định trên không còn phù hợp do việc xác định các kỳ hạn củaTài sản nợ và Tài sản có không diễn ra như kế hoạch Chính vì vậy nên trong thờigian gần đây một số TCTD mặc dù duy trì đúng tỷ lệ khả năng chi trả theo quyđịnh của NHNN nhưng thực tế vẫn căng thẳng và thiếu hụt Thanh khoản và phảinhờ đến sự hỗ trợ của NHNN thông qua vay tái cấp vốn

Đối với các TCTD trong nước: Khối các TCTD nhà nước đáp ứng tỷ lệ khảnăng chi trả theo quy định, khối các TCTD cổ phần: 5/37 TCTD có vi phạm vàthực tế hiện có 14/37 TCTD cổ phần yếu kém đã và đang rất khó khăn về Thanhkhoản

Đối với khối nước ngoài: năm 2011, số lượng các đơn vụ thuộc khối nướcngoài vi phạm tỷ lệ khả năng chi trả ngay và khả năng chi trả trong vòng 7 ngàytiếp theo tăng đột biến so với năm 2010 Trong đó chủ yếu vi phạm với VNĐ vàđối tượng chủ yếu là chi nhánh ngân hàng nước ngoài, khoảng thời gian vi phạm

từ tháng 2 đến tháng 6/2011, số lượng các đơn vị vi phạm là 21 đơn vị Mặc dù

Ngày đăng: 02/11/2014, 06:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Công ty Ernst&Young (2004), Khung sổ tay Thanh tra tại chỗ các tổ chức tín dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khung sổ tay Thanh tra tại chỗ các tổ chức tín dụng
Tác giả: Công ty Ernst&Young
Năm: 2004
2. Công ty Ernst&Young (2006), Báo cáo kết quả thực hiện Dự án tự đánh giá Thanh tra ngân hàng theo 25 nguyên tắc cơ bản của Uỷ ban Basel Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Dự án tự đánh giá Thanh tra ngân hàng theo 25 nguyên tắc cơ bản của Uỷ ban Basel
Tác giả: Công ty Ernst&Young
Năm: 2006
5. Chính phủ ( 2005), Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra 6. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (2010), Sổ tay Thanh tra trên cơsở rủi ro Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra"6. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (2010), "Sổ tay Thanh tra trên cơ
Tác giả: Chính phủ ( 2005), Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra 6. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng
Năm: 2010
9. Ngân hàng Nhà nước (2006), Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế về kiểm tra, kiểm soát nội bộ TCTD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế về kiểm tra, kiểm soát nội bộ TCTD
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2006
11. Ngân hàng Nhà nước (2011), Báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành năm 2011 và chương trình công tác năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành năm 2011 và chương trình công tác năm 2012
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2011
13. Thạc sỹ Nguyễn Đăng Hồng (2010), Giải pháp đảm bảo an toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hiện nay, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Ngân hàng nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đảm bảo an toàn hệthống Ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Tác giả: Thạc sỹ Nguyễn Đăng Hồng
Năm: 2010
16. Quốc hội (1997), Luật Ngân hàng Nhà nước 17. Quốc hội (1997), Luật các TCTD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân hàng Nhà nước"17. Quốc hội (1997)
Tác giả: Quốc hội (1997), Luật Ngân hàng Nhà nước 17. Quốc hội
Năm: 1997
21. Quốc hội (2003), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quốc hội (2004), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàngNhà nước Việt Nam" Quốc hội (2004)
Tác giả: Quốc hội (2003), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quốc hội
Năm: 2004
1. Basel Committee (2005), Enhancing Corporate Governance for Banking Organisations, Basel Committee Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enhancing Corporate Governance for Banking Organisations
Tác giả: Basel Committee
Nhà XB: Basel Committee
Năm: 2005
3. Chính phủ (1999), Nghị định số 91/1999/NĐ-CP ngày 04/9/199 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra ngân hàng Khác
4. Chính phủ (2004), Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng Khác
7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo thường niên năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2010 Khác
8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2000), Thông tư số 04/2010/TT- NHNN3 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 91/1999/NĐ-CP của Chính phủ về việc tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngân hàng Khác
10. Ngân hàng Nhà nước (2008), Báo cáo kết quả khảo sát về Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tại Singapore và Malaysia Khác
12. Tạp chí ngân hàng (2005), Số chuyên đề: Tiếp tục đổi mới Thanh tra Ngân hàng Việt Nam Khác
14. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5/2006 về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
15. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng Khác
22. Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (1997), Các nguyên tắc cơ bản trong giám sát ngân hàng hiệu quảTiếng Anh Khác
2. Basel Committee (2006), Core Principles for Effective Banking Supervision, Basel Committee Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số lượng các NHTM từ năm 2007 đến năm 2011 - hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước đối với các tổ chức tín dụng tại việt nam
Bảng 1 Số lượng các NHTM từ năm 2007 đến năm 2011 (Trang 36)
Sơ đồ 1: Quy trình thanh tra trên cơ sở rủi ro - hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước đối với các tổ chức tín dụng tại việt nam
Sơ đồ 1 Quy trình thanh tra trên cơ sở rủi ro (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w