Mặc dù xác định công nghiệp hỗ trợ là một mắt xích quan trọng trongphát triển kinh tế, gia tăng giá trị sản xuất và thúc đẩy công nghiệp Việt Namtham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưn
Trang 1
MỤC LỤC MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 7
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ 7
1.1.2 Đặc điểm công nghiệp hỗ trợ 11
1.1.3 Vai trò của CNHT trong nền kinh tế quốc dân 12
1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của CNHT 15
1.1.4.1 Nhóm nhân tố về tài nguyên 16
1.1.4.2 Nhóm nhân tố về cơ sở hạ tầng 17
1.1.4.3 Nhóm nhân tố về chính sách 17
1.2 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CNHT 18
1.2.1 Chính sách ưu đãi về thuế 18
1.2.2 Chính sách hỗ trợ tín dụng 19
1.2.3 Chính sách tài chính hỗ trợ đầu tư khoa học công nghệ 19
1.2.4 Chính sách tài chính hỗ trợ về mặt bằng sản xuất 19
1.2.5 Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 20
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính hỗ trợ phát triển CNHT. .20
1.3.1 kinh nghiệm về phát triển CNHT 20
1.3.2 Kết luận tham khảo cho Việt Nam 24
1.3.2.1 Từ phía chính phủ 24
1.3.3.2 Từ phía doanh nghiệp 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 27
Trang 2
2.1 TỔNG QUAN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 27
2.1.1 Khái quát thực trạng nền công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam 27
2.1.2 Thực trạng công nghiệp hỗ trợ phục vụ một số ngành công nghiệp điển hình của Việt Nam 33
2.1.2.1 Ngành công nghiệp hỗ trợ lắp ráp 33
2.1.2.2 Ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may và da-giày 34
2.1.2.3 Ngành công nghiệp hỗ trợ điện tử 37
2.2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 41
2.2.1 Chính sách ưu đãi về thuế 41
2.2.2 Chính sách hỗ trợ tín dụng 46
2.2.3 Chính sách tài chính hỗ trợ mặt bằng sản xuất 48
2.2.4 Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ cho CNHT 51
2.2.5 Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 : 56
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 57
3.1 NHỮNG QUAN ĐIỂM CẦN QUÁN TRIỆT TRONG VIỆC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH 57
3.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội toàn cầu và khu vực 57
3.1.2 Môi trường kinh doanh của Việt Nam 58
3.1.3 Quan điểm cần quán triệt trong quá trình hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam 59
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 63
3.2.2 Một số đề xuất hoàn thiện chính sách tài chính phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam 63
3.2.2.1 Giải pháp tài chính 63
3.2.2.2 Giải pháp phi tài chính 69
Trang 3
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: 71
KẾT LUẬN: 72
Tài liệu tham khảo: 73
Danh mục viết tắt 74
Trang 4
LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài.
Ngày nay, các nhà sản xuất lớn trên thế giới, các tập đoàn công ty đa quốcgia chỉ nắm giữ các hoạt động như nghiên cứu và triển khai, xúc tiến thươngmại, phát triển sản phẩm, còn các công đoạn sản xuất, những phần công việctrước đây vẫn nằm trong dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh, hầu hết được giao chocác doanh nghiệp bên ngoài Như vậy, các sản phẩm công nghiệp không cònđược sản xuất tại một không gian, địa điểm mà được phân chia thành nhiều côngđoạn, ở các địa điểm, các quốc gia khác nhau Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ(CNHT) là cách tiếp cận sản xuất công nghiệp trong bối cảnh mới này
Sau 20 năm đổi mới (1986-2006), công nghiệp Việt Nam đã có nhữngbước phát triển mạnh mẽ, chuyển sang cơ chế thị trường, bước đầu hội nhập vàonền kinh tế khu vực và thế giới Tuy vậy, tỷ lệ giá trị gia tăng trong giá trị sảnxuất công nghiệp đang có dấu hiệu đi xuống Theo Bộ Công Thương, năm 1995,VA/GO toàn ngành công nghiệp là 42.5%, năm 2000 chỉ còn 38.45%, năm 2005còn 29.63%, năm 2007 đạt 26.3%, năm 2010 là 12.3%, năm 2011 chỉ còn6.37% Theo đó, tốc độ tăng giá trị gia tăng (GDP công nghiệp) cũng liên tụcgiảm sút, từ hơn 15%/năm giai đoạn 1995-2000, sang giai đoạn 2001-2005 còn11%, đến năm 2009 chỉ còn 3,9%, năm 2010, tốc độ tăng trưởng 14% ứng vớigiá trị gia tăng là 7.7%, năm 2011,giá trị gia tăng công nghiệp là 13% Có thểnói, công nghiệp vẫn phát triển theo hướng gia công, lắp ráp là chủ yếu Mộttrong những lý do quan trọng của tình trạng suy giảm này là dự yếu kém của cácngành CNHT CNHT giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nói chung cũngnhư ngành công nghiệp nói riêng của các nước phát triển trên thế giới, mỗi quốcgia có những giải pháp khác nhau nhằm phát triển CNHT của họ Chính sáchphát triển CNHT quốc gia cần phải phù hợp với xu hướng toàn cầu và hội nhập
có hiệu quả với đời sống kinh tế quốc tế Cùng với việc nâng cao năng lực sảnxuất, nền CNHT phát triển sẽ là yếu tố mạnh nhất để thu hút và giữ chân các nhà
Trang 5
đầu tư nước ngoài một cách bền vững Như vậy, phát triển CNHT không chỉnhằm mục tiêu gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, mà còn là công cụ quantrọng để VN hội nhập kinh tế quốc tế nhanh chóng
Mặc dù xác định công nghiệp hỗ trợ là một mắt xích quan trọng trongphát triển kinh tế, gia tăng giá trị sản xuất và thúc đẩy công nghiệp Việt Namtham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng các chính sách dành cho công nghiệp
hỗ trợ của nước ta hiện vừa thiếu lại vừa yếu Do đó, Việt Nam cần phải xâydựng một chính sách hợp lý để thúc đẩy phát triển, tạo tiền đề cho phát triển nềnkinh tế nói chung và ngành công nghiệp nước nhà nói riêng Một trong nhữngchính sách quan trọng hỗ trợ thúc đẩy CNHT đó là các chính sách tài chính Trước tình hình trên, đề tài “Hoàn thiện chính sách tài chính thúc đẩy pháttriển CNHT ở Việt Nam” đã được chúng em lựa chọn nghiên cứu
2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Đề tài tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
chính thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ phát triển
- Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách tài chính hỗ trợ công nghiệp hỗtrợ ở Việt Nam
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính phát triển công nghiệp
hỗ trợ Việt Nam
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề lý luận và thực tiễn chính sách tài chính
áp dụng thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: thực trạng công nghiệp hỗ trợ và các chính sách tàichính hỗ trợ thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam
4.Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp thống kê, phươngpháp mô tả, phương pháp phân tích, dự báo,…
Trang 6
5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ lý luận về công nghiệp hỗ trợ vàcác chính sách tài chính, cũng như tác động của các chính sách tài chính đó tới
sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ Đồng thời đề tài cũng đưa ra một số gợi ýcho việc hoàn thiện chính sách tài chính cho công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam
6.Kết cấu của đề tài nghiên cứu:
Chương 1: Tổng quan về CNHT và tác động của chính sách tài chính đối với sựphát triển của CNHT
Chương 2: Thực trạng chính sách tài chính phát triển CNHT ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính thúc đẩy phát triển CNHT
ở Việt Nam
Trang 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ
Công nghiệp hỗ trợ (Supporting Industry) là một khái niệm mới xuất hiện
ở Đông Á, cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp (chủ yếu là hoạt động lắp assembly industry) của Nhật Bản vào các nước ASEAN (chủ yếu ở Thái Lan,Malaysia, Indonexia) giữa thập kỷ 80 và được sử dụng rộng rãi ở Đông Á từ đầuthập kỷ 90 Về mặt nội dung, thuật ngữ “supporting industry” - là một khái niệmđối xứng với “assembly industry” Một bên là “công nghiệp sản xuất phụ tùng,linh kiện” và một bên là “công nghiệp lắp ráp” Bản thân cụm từ “SupportingIndustry” được dịch trực tiếp từ thuật ngữ gốc trong tiếng Nhật là “Suso-no San-gyou” (suso-no nghĩa là chân núi, san-gyou là công nghiệp) Nếu hình dung cấutrúc toàn bộ qui trình sản xuất một sản phẩm như một quả núi, thì các ngànhcông nghiệp hỗ trợ đóng vai trò chân núi, còn “công nghiệp lắp ráp” đóng vai tròđỉnh núi “Chân núi” là những ngành sử dụng tất cả các kỹ thuật gia công cơ bản(đúc, dập, gò, hàn, cắt gọt, khoan đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấnbao bì ) gia công các loại vật liệu từ các loại kim loại, tới cao su, nhựa, gốm, gỗ
ráp-và các loại vật liệu tổng hợp khác, nhằm chế tạo ra các linh kiện, phụ tùng phục
vụ lắp ráp Supporting Industry ở đây được hiểu không bao hàm chế tạo vật liệu
cơ bản (như các loại sắt thép, nguyên vật liệu thô) Cùng một phần chân núi (sảnxuất phụ tùng linh kiện) muốn sản xuất sản phẩm gì, chỉ cần thay đổi phần đỉnh(lắp ráp)
Có thể hình dung vị trí của công nghiệp hỗ trợ trong tổng thể ngành côngnghiệp theo mô hình sau:
Trang 8
Phụ tùng, linh kiện:
Kim loại, nhựa, cao su, điện…
Mạ Gia công cơ khí Khuôn mẫu Xử lý nhiệt
Các công đoạn sản xuất cơ bản
Ôtô Xe máy Đồ gia dụng Đồ điện tử
Các nhà lắp ráp có yêu cầu về linh phụ kiện tương tự nhau
Công nghiệp hỗ trợ
Hình1.1: phạm vi của công nghiệp hỗ trợ
(nguồn: ohno 2004)Hiện nay, ở Nhật Bản, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được hiểu là “mộtnhóm các hoạt động công nghiệp cung ứng các đầu vào trung gian (không phảinguyên vật liệu thô và các sản phẩm hoàn chỉnh) cho các ngành công nghiệp hạnguồn” Nói cách khác, CNHT nằm ở phần giữa của quá trình sản xuất, từthượng nguồn xuống đến hạ nguồn Đặc biệt là CNHT nên dựa vào một số côngđoạn sản xuất nhất định, phục vụ một số ngành công nghiệp nhất định tương đốitương đồng nhau (hình 1.1) Việc tương đồng này làm cho chi phí sản xuấtgiảm, tăng dung lượng thị trường, gia tăng nguồn khách hàng và giúp CNHTphát triển nhanh hơn Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều xác định CNHT theocách này, bằng cách dựa trên các công đoạn sản xuất như dập, đúc, rèn, hàn, giacông cơ khí, khuôn mẫu…và bao gồm các sản phẩm chủ yếu liên quan đến 3
Trang 9Như vậy, có thể thấy rằng công nghiệp hỗ trợ là một khái niệm rộng, cótính chất tương đối Dù có rất nhiều cách định nghĩa, các khái niệm CNHT đều
có các điểm chung như sau:
Thứ nhất, CNHT cung ứng các linh phụ kiện cho mục đích sản xuất sản
phẩm cuối cùng
Thứ hai, các ngành CNHT bao gồm các công đoạn chủ yếu để sản xuất
các linh kiện kim loại, nhựa và cao su, điện và điện tử, nhằm phục vụ một sốngành công nghiệp chế tạo như xe máy, ô tô, điện tử, chế tạo máy móc
Thứ ba, việc cung ứng này chủ yếu được đáp ứng bởi hệ thống doanh
nghiệp nhỏ và vừa có trình độ công nghệ cao, tạo ra những sản phẩm có độchính xác lớn, thực hiện các cam kết hợp đồng với khách hàng một cách chuẩnmực
Thứ tư, khách hàng cuối cùng của các ngành CNHT là nhà lắp ráp, do
vậy, thị trường của CNHT không rộng như sản xuất sản phẩm cho người tiêudùng cuối cùng Thị trường hàng hoá của họ thu hẹp hơn, có những nhóm sảnphẩm nằm ở phần thị trường rất hẹp và chỉ dành cho một số khách hàng nhấtđịnh Đây chính là khó khăn lớn nhất của phát triển CNHT Mặc dù vậy, sản
Trang 10
xuất CNHT lại trở nên hấp dẫn và tương đối ổn định nếu doanh nghiệp phụ trợ
đó tìm được khách hàng dài hạn, hoặc tìm được thị trường “ngách” cho mình
Ở Việt Nam, cụm từ “công nghiệp phụ trợ” bắt đầu được nhắc tới mộtcách tương đối rộng rãi từ năm 2003 Tuy nhiên, thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ”
đã được chính thức hoá để chỉ vấn đề này, lần đầu ở Việt Nam từ năm 2007,trong “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Namđến 2010, tầm nhìn đến 2020” Bộ Công Thương soạn thảo và Thủ tướng phê
duyệt Trong đó, CNHT được định nghĩa:
“Hệ thống công nghiệp hỗ trợ là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm)
và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng… cho khâu lắp ráp cuối cùng”.
Trong bản quy hoạch này, CNHT được phân chia thành hai thành phầnchính, phần cứng liên quan đến sản xuất và phần mềm là hệ thống dịch vụ côngnghiệp và marketing Năm nhóm ngành đã được Chính phủ chỉ định ưu tiên pháttriển CNHT và được hoạch định kế hoạch phát triển cụ thể, đó là: điện tử, cơ khíchế tạo, ô tô, dệt may, da giày
Hình 1.2: Khái niệm CNHT của Việt Nam( Nguồn: Bộ Công nghiệp 2007)
Trang 11
Như vậy, có thể thấy khái niệm của Việt Nam có nét khác biệt so với cáckhái niệm ở các quốc gia khác:
Thứ nhất, CNHT được xác định rộng hơn, từ khâu sản xuất nguyên vật
liệu đến cả các dịch vụ công nghiệp Có thể thấy khái niệm này làm cho cácngành CNHT mở rộng ra rất nhiều, không chỉ bao gồm một số lĩnh vực côngnghiệp,không chỉ tập trung các DNNVV mà cả các doanh nghiệp lớn, và điềunày đồng nghĩa với việc rất khó có thể tạo ra được trọng tâm trong CNHT;
Thứ hai, Các ngành CNHT không xác định trên đặc thù sản phẩm của
ngành sản xuất hỗ trợ (cơ khí chế tạo, nhựa, điện tử…)- phần tạo ra giá trị giatăng lớn mà xác định dựa trên cơ sở của các ngành lắp ráp- có giá trị gia tăngkhông đáng kể
1.1.2 Đặc điểm công nghiệp hỗ trợ
Thứ nhất, CNHT là ngành công nghiệp thâm dụng vốn
Ngành công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi trang bị những máy móc thiết bị hiệnđại, chi phí cao Không giống như những ngành công nghiệp hình thành sảnphẩm cuối cùng, ngành CNHT đòi hỏi sự đầu tư tốn kém về nhân lực chất lượngcao và trang thiết bị yêu cầu hiện đại, đổi mới.Ví dụ, một máy ép nhựa có giá tớihàng trăm nghìn USD và đòi hỏi ít lao động với trình độ cao với chức năng điềukhiển thiết bị, kiểm tra kỹ thuật là chính
Thứ hai, CNHT là ngành công nghiệp có độ phủ rộng, bao quát một phạm vi rộng lớn các lĩnh vực sản xuất.
Sản phẩm của CNHT có mối liên hệ mật thiết với các ngành công nghiệpkhác như công nghiệp lắp ráp, chế tạo,… Một sản phẩm đầu ra cuối cùng baogồm các chi tiết, linh kiện khác nhau- là sản phẩm của nhiều bộ phận, lĩnh vựccủa ngành công nghiệp hỗ trợ Một doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ có thể cungcấp linh kiện cho nhiều loại sản phẩm khác nhau, ví dụ, doanh nghiệp chế biến
đồ nhựa có thể phục vụ cho công nghiệp sản xuất đồ điện, công nghiệp ô tô, xe
Trang 12
máy, đóng tàu,….Vì vậy, yêu cầu của CNHT là sự nghiêm ngặt về công nghệ vàtính chính xác trong tiêu chuẩn kỹ thuật
Thứ ba, CNHT có tính hiệu quả tăng theo quy mô
Chi phí đầu tư ban đầu tương đối lớn do đó quy mô sản xuất phải đủ lớn
để có thể trang trải các chi phí đó Nếu sản xuất với quy mô nhỏ thì khả năngcạnh tranh thấp và khó có thể tồn tại trong điều kiện môi trường kinh doanhkhắc nghiệt hiện nay
1.1.3 Vai trò của CNHT trong nền kinh tế quốc dân.
Thứ nhất, CNHT là nền tảng cho nền kinh tế.
CNHT đảm bảo tính chủ động cho nền kinh tế, việc cung ứng nguyên vậtliệu, linh kiện, bán thành phẩm ngay trong nội địa làm cho nền công nghiệp chủđộng hơn, không bị lệ thuộc vào nước ngoài và sự biến động của kinh tế toàncầu CNHT phát triển đồng nghĩa với việc hạn chế tỷ lệ nhập siêu Phải nhậpkhẩu nguyên liệu và linh kiện cho sản xuất lắp ráp khiến cho hầu hết các nướcđang phát triển lâm vào tình trạng nhập siêu Phát triển CNHT giúp khai thác tối
đa các nguồn lực sẵn có trong nước, giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu , giảmxuất khẩu tài nguyên từ đó ổn định cán cân xuất nhập khẩu, đồng thời hạn chếđược sự biến động của tý giá hối đoái, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩmô
Thứ hai, CNHT là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, hiệu quả hoạt động, tăng sức cạnh tranh và đầy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước.
Mỗi sản phẩm có thể chia thành ba giai đoạn chính: thượng nguồn gồmcác công đoạn nghiên cứu - triển khai, thiết kế, sản xuất các bộ phận linh kiệnchính; trung nguồn là công đoạn lắp ráp, gia công; hạ nguồn là thương hiệu, tiếpthị, xây dựng mạng lưới lưu thông, khai thác và tiếp cận thị trường Các giai
Trang 13
đoạn thượng nguồn và các hạ nguồn là khu vực tạo ra giá trị gia tăng cao Đâychính là công đoạn của các ngành CNHT Như vậy, một quốc gia có thể tạo ragiá trị gia tăng của các sản phẩm công nghiệp khi khu vực thượng nguồn vớinguyên phụ liệu, linh kiện được cung ứng ngay trong nước Chi phí của sảnphẩm giảm do cắt giảm được chi phí lưu kho, vận chuyển, bảo hiểm, tận dụngnhân công ngay trong nước, thay vì nhập khẩu các yếu tố sản xuất làm nâng caonăng lực cạnh tranh của sản phẩm
Trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp trong ngành CNHT có xuhướng chuyên môn hóa vào một công đoạn của quá trình sản xuất đồng thờicũng thực hiện hợp tác với nhau nhằm hoàn thiện và tạo ra sản phẩm hoànchỉnh, sự chuyên sâu vào một lĩnh vực góp phần nâng cao năng suất sản xuất vàhiệu quả hoạt động CNHT tăng trưởng nhanh thúc đẩy toàn bộ ngành côngnghiệp phát triến, tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp trong tổng thể nền kinh
tế, đầy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước
Thứ ba, CNHT phát triển có hiệu quả tạo điều kiện thu hút được đầu tư nước ngoài FDI và tạo tăng trưởng bền vững.
Những vấn đề được các công ty đa quốc gia (MNCs) cân nhắc trước khiquyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó là sự ổn định về chính trị, nhân côngsẵn có với giá rẻ và sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ Vai trò của nhân cônggiá rẻ ngày càng giảm đi bởi trong tổng chi phí tạo ra một sản phẩm thì chi phílao động là rất nhỏ so với chi phí về linh kiện phụ tùng Ví dụ như trong sảnxuất sản phẩm điện gia dụng thì chi phí lao động chỉ chiếm 10% trong đó chi phí
về linh kiện, phụ tùng chiếm tới 70% Nếu như chi tiết linh kiện nhập khẩu từnước ngoài sẽ phải gánh thêm các khoản chi phí vận chuyển, bảo quản và rủi ro
do chậm trễ từ đó làm hạn chế tốc độ tăng trưởng của MNCs đó Muốn thu hútđầu tưu nước ngoài, CNHT phải đi trước một bước, tạo cơ sở hạ tâng để cungcấp sản phẩm đầu vào cần thiết cho công nghiệp lắp ráp, bởi lẽ các tập đoàn, cáccông ty lớn về lắp ráp cũng chỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiên
Trang 14
cứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói gọn trong một công ty haymột nhà máy Điều này đặc biệt đúng trong các ngành sản xuất các loại máymóc, là những ngành đang phát triển mạnh ở Đông Á Các mặt hàng này thường
có hàng trăm hàng ngàn các bộ phận, linh kiện ở nhiều tầng lớp từ giản đơn đếnnhững loại công nghệ cao Đối với các công ty nước ngoài đầu tư vào ngành sảnxuất này thì tỷ lệ nội địa hóa càng cao càng có lợi Trên thực tế, phí tổn về linhkiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian trong những sản phẩm thuộc ngànhnày chiếm trên 70% tổng giá thành do đó khả năng nội địa hóa quyết định đếnthành quả kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, tỷ lệ của chi phí côngnghiệp hỗ trợ càng cao thì môi trường đầu tư cang hấp dẫn Chừng nào CNHTcòn chưa phát triển thì công ty đầu tư nước ngoài còn dè chừng trong việc quyếtđịnh đầu tư , thì tiềm năng phát triển của FDI còn hạn chế
Thứ tư, CNHT là cơ sở thực hiện hội nhập toàn cầu.
Các tập đoàn công nghiệp đa quốc gia ngày càng có vai trò chi phối và cóảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ hệ thống kinh tế thế giới, các quốc gia đang vàkém phát triển cũng không nằm ngoài sự chi phối đó Trong bối cảnh hội nhậptoàn cầu, khi các quan hệ hợp tác được thiết lập, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ sẽ
là một bộ phận hiện hữu trong các sản phẩm của các MNCs Phát triển các sảnphẩm công nghiệp hỗ trợ là cách tốt nhất để các nước đang phát triển nâng caosức mạnh của mình và tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế vì giá trị sản xuấtcủa CNHT sẽ được nằm trong chuỗi giá trị sản xuất công nghiệp của khu vựccũng như toàn cầu
Hội nhập kinh tế quan trọng hơn cả là ở giai đoạn thượng nguồn, đó chính
là giai đoạn nghiên cứu - triển khai, thiết kế, sản xuất các bộ phận linh kiệnchính CNHT là mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu Nếu nhưCNHT không phát triển sẽ làm cho các công ty thực hiện khâu lắp ráp và hoànthiện thành phẩm sẽ bị ngừng trệ, không có sản phẩm đầu ra đồng nghĩa với việckhông có doanh thu, lợi nhuận, không đạt được mục tiêu cuối cùng
Trang 15xử lý rác thải công nghiệp, bảo vệ môi trường.
Cuối cùng, phát triển CNHT là điều kiện đủ đề phát triển các cụm liên kết
ngành, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới công nghệ và phát triểnkinh tế vùng thông qua việc xây dựng mạng lưới các nhà cung ứng sản phẩmđầu vào cho các doanh nghiệp khác
1.1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của CNHT
Sự phát triển của CNHT phụ thuộc vào các nhân tố theo sơ đồ:
Trang 16
Sơ đồ 1.1.4: Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của CNHT
1.1.4.1 Nhóm nhân tố về tài nguyên.
Thứ nhất, nguồn nhân lực có tay nghề cao, trình độ chuyên môn, tính chủ động sáng tạo là những yếu tố cần thiết quyết định tới sự phát triển của CNHT.
CNHT là ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao trong việc sản xuấtcác phụ tùng linh kiện bởi tính chính xác cao của nó, vì thế yếu tố về con ngườirất quan trọng, đây là nhân tố tạo ra những thành tựu trong khoa học công nghệ
và là nhân tố thực hiện, điều khiển mọi quy trình hoạt động trong CNHT
Thứ hai, sự dồi dào về tài nguyên thiên nhiên là nhân tố tích cực thúc đầy
sự phát triển của CNHT
Chính sách
Cơ sở hạ tầngTài nguyên
Ưu đãi và chính sách củachính phủ
Trang 17
Sự phát triển của các công ty đa quốc gia, các tổ chức kinh tế, tài chínhlàm đầy mạnh hoạt động đầu tư nước ngoài nhằm tận dụng những lợi thế sosánh của nước nhận đầu tư về nhân công giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên phongphú từ đó mà giảm được những chi phí cần thiết, tối đa hóa lợi nhuận Hoạtđộng đầu tư nước ngoài phát triển đồng nghĩa với việc các MNCs đó hay chínhcác doanh nghiệp trong nước sẽ có cơ hội mở rộng hoạt động cung ứng các yếu
tố đầu vào như nguyên vật liệu, chi tiết, linh kiện, bán thành phẩm thay vì nhậpkhẩu các yếu tố đó từ nước đầu tư làm gia tăng giá trị cho ngành công nghiệp hỗtrợ
Thứ ba, vị trí địa lý cũng là yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của CNHT.
Vị trí địa lý giúp hình thành các cụm công nghiệp hỗ trợ, liên kết chặt chẽgiữa các khu công nghiệp hỗ trợ mà từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh củaCNHT trong nước Ngoài ra với vị trí địa lý thuận lợi tạo điều kiện dễ dàng choviệc thiết lập các mối quan hệ, các đơn đặt hàng với đối tác, giảm thiểu các chiphí vận chuyển, đi lại
1.1.4.2 Nhóm nhân tố về cơ sở hạ tầng.
Thứ nhất là nhân tố về cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Hệ thống cơ sỏ hạ tâng kỹ thuật bao gồm đường sá, cầu cống, kho tàng,bến bãi, hệ thống dịch vụ ngân hàng, tư vấn, thiết kế và sự phát triển của khoahọc kỹ thuật là yếu tố cần thiết cho tổng thể ngành công nghiệp nói chung vàCNHT nói riêng Các yếu tố trong hệ thống cơ sở hạ tầng giúp các hoạt độngcủa CNHT diễn ra đều đặn, thường xuyên từ đó góp phần làm tăng tỷ trọng củaCNHT trong nền kinh tế
Thứ hai là nhân tố về cơ sở hạ tầng xã hội
Sự ổn định về kinh tế chính trị và các dịch vụ đảm bảo như chăm sóc sứckhỏe, giáo dục y tế cũng có ảnh hưởng tới sự phát triển của CNHT
1.1.4.3 Nhóm nhân tố về chính sách.
Trang 18
Các chính sách ưu đãi và hỗ trợ của chính phủ là yếu tố rất quan trọng cho
sự phát triển của bất cứ ngành nghề nào, bao gồm các chính sách quản lý và điềuhành, chính sách tài chính như các chính sách về thuế, về tín dụng, chính sáchkích cầu, chính sách về hoạt động hỗ trợ kinh phí, hoạt động bảo lãnh, xây dựngcác quỹ phát triển ý tưởng đồi mới công nghệ,chính sách khuyến khích sử dụnglao động, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách phát triển ngànhvùng… Các chính sách tích cực từ phía chính phủ giúp doanh nghiệp có đượcnhiều cơ hội hơn để phát triển, mở rộng quy mô, thị trường, nâng cao năng lựccạnh tranh
1.2 CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CNHT
1.2.1 Chính sách ưu đãi về thuế.
Thứ nhất, chính sách thuế thúc đầy đầu tư phát triển CNHT Ngoài việc
thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ, chính sách
ưu đãi thuế còn tập trung thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp trong nước đầu tưsản xuất vào CNHT thông qua ưu đãi thuế suất nhập khẩu nguyên vật liệu, giảmthuế thu nhập doanh nghiệp Ví dụ ở nước có nền CNHT tương đối phát triểnnhư Thái Lan, nhà nước thực hiện hỗ trợ bằng cách đưa ra các mức thuế suấtnhập khẩu thấp đối với thiết bị điện tử và những bộ phận dùng để sản xuất hàngxuất khẩu hay như ở Malaysia, các chính sách ưu đãi thuế của Malaysia đối vớicác doanh nghiệp trong nước được chia là 3 loại: loại 1 là miễn thuế thu nhậpdoanh nghiệp trong khoảng từ 70% đến 100% thu nhập hợp pháp trong vòng từ
5 tới 10 năm; loại 2 là trợ cấp thuế đầu tư 60% đến 100% chi phí vốn hợp lệtrong vòng 5 đến 10 năm có thể được bù bằng 70% đến 100% thu nhập hợppháp; loại 3 là trợ cấp tái đầu tư: 60% chi phí vốn hợp lệ có thể được bù bằng70% đến 100% thu nhập hợp pháp Nhà đầu tư lần đầu tiên có thể lựa chọn hoặcloại 1 hoặc loại 2
Thứ hai, những chính sách ưu đãi về thuế trong thu hút FDI Thực tế cho
thấy, hầu hết các quốc gia muốn phát triển CNHT đều bằng cách thực hiện các
Trang 19
chính sách thu hút FDI Các chính sách thuế ưu đãi như giảm thuế xuất nhậpkhẩu, tạo lập các khu thương mại tự do từ đó mà việc chuyển dịch vốn và côngnghệ dễ dàng hơn Ví dụ, ở Singapore, thu hút FDI vào những ngành côngnghiệp hỗ trợ bằng cách áp dụng miện thuế trong vòng 5 năm và sau đó đưa ramức thuế suất ưu đãi 10% trong 5 năm tiếp theo, hay ở Malaysia cũng khuyếnkhích thu hút FDI bằng cách đưa ra những chính sách ưu đãi về mặt bằng vàthuế như miễn thuế trong 5 năm đầu hoạt động và sau đó giảm tiếp 30% thuế thunhập doanh nghiệp nếu công ty đặt trụ sở tại Hành lang Đông bán đảo Malaysia
và 15% đối với khu vực khác
1.2.2 Chính sách hỗ trợ tín dụng.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là tiền đề cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, chi phối rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh mà nguồn vố tíndụng vẫn là nguồn vốn cơ bản Do đó, những chính sách tín dụng của chính phủ
có tác dộng tích cực đối với các doanh nghiệp CNHT trong việc huy động vốn
đề thực hiện hoạt dộng sản xuất kinh doanh, thông qua các hình thức bảo lãnhtín dụng, hợp đồng thuê mua tài chính, Nhà nước đứng ra bảo lãnh cho quátrình vay vốn của các doanh nghiệp CNHT được diễn ra thuận lợi hơn, đưa racác chính sách hỗ trợ về lãi suất, cam kết với ngân hàng Nhà nước trong việccho các doanh nghiệp này vay vốn, hay cho phép gia hạn các khoản tín dụngmột các hợp lý nhằm khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
1.2.3 Chính sách tài chính hỗ trợ đầu tư khoa học công nghệ.
Chính phủ nhiều nước đã áp dụng các biện pháp để thúc đầy các doanhnghiệp nhanh chóng đổi mới thiết bị và công nghệ Ngoài các biện pháp giúp đỡnhư tư vấn, cung cấp thông tin kỹ thuật và công nghệ, chính phủ còn hỗ trợ vềthuế, tín dụng, trợ cấp cụ thể để đầu tư trang thiết bị, máy móc, cơ sở hạ tầngkhuyến khích phát triển CNHT Việc hỗ trợ đầu tư khoa học công nghệ có ýnghĩa to lớn trong việc giúp quốc gia đó tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật mà từ đórút ngắn khoảng cách lạc hậu, tăng cường nâng cao chất lượng sản phẩm ngành,
Trang 20có hiệu quả nếu được hưởng các ưu đãi như tiền sử dụng đất, tiền thuê mặt bằng,các ưu tiên trong việc thực hiện phê duyệt, thẩm định dự án.
1.2.5 Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Việc đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực cho CNHT là vô cùng cần thiết.Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích phát triển nguồn nhân lực ởmọi địa phương, xem xét khả năng hỗ trợ doanh nghiệp kinh phí trong việc thuêchuyên gia kỹ thuật nước ngoài trong một số năm đầu; xây dựng mô hình liênkết chặt chẽ giữa các khu công nghiệp hỗ trợ với các viện nghiên cứu nhằm đàotạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện phân luồng, định hướng nghềnghiệp cho đối tượng lao động từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính hỗ trợ phát triển CNHT.
1.3.1 kinh nghiệm về phát triển CNHT.
Thứ nhất, miễn thuế, giảm thuế thúc đầy đầu tư.
Thực hiện hỗ trợ các doanh nghiệp hỗ trợ, Thái Lan đưa ra mức thuế suấtnhập khẩu thấp đối với các thiết bị điện tử và những bộ phận dùng để sản xuấthàng xuất khẩu Chính phủ Thái Lan đưa ra các ưu đãi như miễn thuế đất 8 nămbất kể vị trí, giảm 50% thuế nhập khẩu đối với máy móc nhập khẩu đối với các
Trang 21
dự án nằm ở khu vực bên trong và gần Bangkok, khu vực nông thôn và loại bỏhạn chế vốn đầu tư nước ngoài năm 1996 Đây là yếu tố quan trọng giúp cho nềncông nghiệp Thái Lan có thể cạnh tranh với thị trường quốc tế
Ở Nhật Bản, phát triển công nghiệp hỗ trợ là một trong bốn lĩnh vực ưu tiêncủa chính phủ Từ năm tài khóa 1999, biện pháp khuyến khích thuế cải tiến theochương trình “ giảm thuế cho các chi phí gia tăng đối với nghiên cứu và thửnghiệm” đã bắt đầu có hiệu lực Việc cải tiến đó nhằm khuyến khích để các hãng
tư nhân đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ, theo đó chi phí CNHT trong năm tàikhóa được áp dụng nhiều hơn so với chi phí CNHT trung bình của 3 năm có chiphí CNHT cao nhất trong 5 năm gần nhất thì được miễn thuế 15% cho chi phícủa năm đó
Thứ hai, thực hiện hoãn thuế thông qua việc cho phép khấu hao nhanh tài sản cố định.
Để giúp các doanh nghiệp tăng khả năng tài chính và tạo điều kiện chocác doanh nghiệp đổi mới nhanh tài sản cố định, nhiều nước đã cho phép cácdoanh nghiệp thực hiện khấu hao nhanh tài sản cố định Ở Mỹ, theo cải cáchthuế năm 1986, các hãng được phép khấu hao nhanh so với khấu hao trực tiếp.các nước là thành viên của EU đều được các chính phủ cho phép khấu haonhanh khi tính thuế Ở Hàn Quốc, chính phủ sử dụng các chương trình khấu hao
ưu tiên đối với các loại đầu tư và các loại doanh nghiệp khác nhau như doanhnghiệp sử dụng công nghệ mới, đầu tư cho nghiên cứu và triển khai trong đó códoanh nghiệp sản xuất phầm mềm
Thứ ba, Tăng cường chính sách hỗ trợ tín dụngnhằm giúp doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn.
Ngoài các biện pháp ưu đãi về thuế và tài trợ trực tiếp của chính phủ, hầuhết các nước đều có biện pháp cung ứng tín dụng Ở Mêhicô nhiều chương trình
do Hội đồng KH&CN Quốc gia (CONACYT) quản lý như hỗ trợ hiện đại hóacông nghệ, liên kết và phát triển công nghệ bao gồm cho vay với lãi suất ưu đãi
Trang 22
Ở Ba Lan, Luật ban hành ngày 8/5/1997 về bảo lãnh tín dụng kho bạc Nhà nước,các doanh nghiệp có thể được bảo lãnh tín dụng với điều kiện số tín dụng đượcbảo lãnh dùng để đầu tư vào các giải pháp công nghệ hoặc kỹ thuật mới Ngườibảo lãnh sẽ được thanh toán 60% số tín dụng và 60% lãi suất của số tín dụng
Ở Trung Quốc, các tổ chức tài chính đẩy mạnh các dịch vụ tín dụng chocác doanh nghiệp CNHT, mở rộng các loại hình tín dụng, các phương pháp thếchấp cho tín dụng CNHT Đối với các dự án của doanh nghiệp công nghệ đemlại nhiều lợi ích kinh tế và thay thế nhập khẩu thì được tăng các khoản vay, Nhànước giúp đỡ bằng cách giảm lãi suất cho các khoản vay đó
Ở Hàn Quốc, Chính phủ cho vay dài hạn lãi suất thấp cho CNHT ở khuvực phát triển sản phẩm mới và quy trình công nghệ mới Cho vay với lãi suấtthấp hơn lãi suất thị trường (trừ trường hợp vốn được tài trợ từ quỹ mạo hiểm)các khoản vay phát triển dài hạn Ở Đài Loan, Chính phủ cho các doanh nghiệpvay tín dụng với lãi suất thấp (trong 49% tổng tiền vay) cho các dự án có độ rủi
ro cao
Thứ tư, hỗ trợ tài chính đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ.
Ở Nga để hỗ trợ cho các tổ chức tham gia vào các dự án CNHT quốc tế vàxuất khẩu công nghệ, Bộ Công nghiệp, Khoa học và công nghệ phân bổ cácnguồn lực trong đó có nguồn tài chính hàng năm để có thể tổ chức các hội nghị,hội thảo về chuyển giao công nghệ Ở Ba Lan hợp đồng xuất khẩu kết quảCNHT được bảo lãnh bởi Kho bạc Nhà nước với điều kiện tỷ lệ phần trăm tốithiểu của các thành phần nội địa hóa có trong hàng hóa và dịch vụ là đối tượngxuất khẩu phải bằng 50% giá trị chuyển giao thành phẩm xuất khẩu
Ở Malaysia, Chính phủ áp dụng biện pháp tài chính để thúc đẩy xuất khẩunhư tính gấp đôi các chi phí có liên quan đến việc tìm cơ hội xuất khẩu khi xácđịnh thuế thu nhập doanh nghiệp (các chi phí quảng cáo chào hàng, chi phí thamgia triển lãm…, thực hiện giảm thuế xuất khẩu, thực hiện chương trình tài trợ
Trang 23Ở Canada thành lập Quỹ đối tác Công nghệ Canada (TPC) để phát triển
cơ sở công nghệ và năng lực công nghệ, phát triển cạnh tranh về ứng dụng côngnghệ, đặc biệt DNVVN, với ngân sách ban đầu 150 triệu USD/năm 1996, năm
2001 đã có 300 triệu USD
Ở Thụy Điển, Cơ quan phát triển doanh nghiệp Thụy Điển (NUTEK)cũng tài trợ chương trình CNTT cho các DNVVN Bắt đầu tháng 4/2001 tăngcường khả năng và sử dụng Chiến lược công nghệ trong các DNVVN với tổngkinh phí là 3,2 triệu EUR trong 2 năm Ở Bỉ, Chính phủ tài trợ cho DNVVN ởnhững hoạt động nghiên cứu kinh tế kỹ thuật, chuyển giao công nghệ v.v trong
đó tài trợ 80% chi phí nghiên cứu khả thi để phát triển phần mềm mới Ở HàLan năm 2001, khoản ngân sách dành cho khuyến khích hoạt động NCPT củadoanh nghiệp gần 505 triệu EUR, trong đó dành cho DNVVN chiếm tới 65%
Ở Ấn Độ, để hỗ trợ các doanh nghiệp CNHT phần mềm, Chính phủkhông hỗ trợ toàn phần mà chỉ cung cấp 3/5 quỹ nghiên cứu cho các doanhnghiệp Bộ CNTT bắt buộc một số công ty lớn phải bỏ ra ít nhất 2% doanh thu
để đầu tư cho CNTT, nếu không sẽ bị rút giấy phép Năm 1985, Chính phủ quyđịnh các công ty nước ngoài đầu tư sản xuất máy tính phải có cam kết đóng góp2-5% doanh thu vào quỹ R&D cho CNTT Bên cạnh đó Chính phủ mở rộng đốitượng tài trợ kinh phí R&D, không chỉ doanh nghiệp nhà nước mà bất kỳ doanhnghiệp nào có dự án khả thi và phù hợp với chiến lược CNTT sẽ được tài trợmột phần
Trang 24kể trên, ngay trong giai đoạn đầu tiên phát triển CNHT đã hình thành nhanhchóng cơ quan đầu mối, để hoạch định, thực hiện và quản lý phát triển CNHT.Việt Nam hiện đang thiếu một tổ chức đầu mối về quản lý nhà nước liên quanđến CNHT Do đó các thông tin về năng lực các ngành CNHT không được cậpnhật, các hoạt động hỗ trợ phát triển CNHT không tập trung và thống nhất, chưahuy động được sức mạnh tổng thể của đất nước cho lĩnh vực này Kinh nghiệmcủa quốc tế cho thấy Việt Nam cần phải đổi mới hơn nữa trong các chính sáchphát triển CNHT.
Một là, xác định rõ các ưu tiên về ngành CNHT, sản phẩm CNHT
Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc đã rất thành công khi tập trung ưu tiênphát triển một số ngành CNHT Việt Nam cũng cần có các ưu tiên rõ rệt để cóthể tập trung nguồn lực cũng như định hướng để hấp dẫn doanh nghiệp đầu tư.Các biện pháp khuyến khích mua nguyên liệu đầu vào tại nội địa là hết sức hữuhiệu Theo kinh nghiệm của quốc tế, trong bối cảnh hiện nay có thể khuyếnkhích như: giảm thuế cho các doanh nghiệp lắp ráp có tỉ lệ mua hàng trong nướccao, hỗ trợ ưu đãi các doanh nghiệp FDI sản xuất những phần linh, phụ kiện màViệt Nam chưa tự thực hiện được, ưu đãi các công ty đa quốc gia về đất đai, hạtầng, thuế trong việc kêu gọi các doanh nghiệp vệ tinh của họ vào sản xuất tạiViệt Nam
Trang 25
Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, Việt Nam nên sớm thể chế hoá các quyđịnh liên quan đến liên kết giữa các doanh nghiệp cung ứng với các nhà thầuchính, liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm linh kiện, tạo điều kiện tiền
đề để hệ thống doanh nghiệp dễ dàng hợp tác liên kết sản xuất
Hai là, xoá bỏ khoảng cách giữa chính sách và thực thi chính sách
Từ bài học của các quốc gia như In-đô-nê-xi-a hay Thái Lan, cần có cáchành động và các chế tài nghiêm khắc về việc thực thi sai chính sách Cũng cần
có các khoá đào tạo nhận thức cho cán bộ công chức về sứ mệnh của hệ thốngdoanh nghiệp đối với kinh tế xã hội quốc gia và vai trò trách nhiệm của Chínhphủ, cụ thể là cán bộ công chức trong việc hỗ trợ, tư vấn cho doanh nghiệp pháttriển
1.3.3.2 Từ phía doanh nghiệp
Như tất cả các quốc gia khác trong khu vực, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài chuyên sản xuất linh kiện sẽ là lực lượng sản xuất CNHT chínhtrong thời gian trước mắt ở Việt Nam Trong khoảng 10 năm tới, bên cạnh mụctiêu cung ứng cho các tập đoàn lớn, doanh nghiệp nội địa Việt Nam nên xácđịnh tập trung cung ứng cho hệ thống doanh nghiệp sản xuất linh kiện FDI này,
để bắt đầu tham gia vào việc lắp ráp các cụm linh kiện chi tiết có giá trị và dầndần học hỏi để chuyển giao công nghệ kỹ thuật
Trang 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Chương 1 đã giới thiệu một cách tổng quan về công nghiệp hỗ trợ đi từkhái niệm, đặc điểm, vai trò của CNHT đối với sự phát triển của nền kinh tếquốc gia Đồng thời cũng nêu lên các nhân tố có ảnh hưởng tới sự tăng trưởngcủa CNHT, một trong các nhân tố có ảnh hưởng sâu rộng đó là nhân tố về cácchính sách của chính phủ, mà quan trọng hơn cả đó là các chính sách tài chính.Chương 1 cũng nêu lên những bài học về ưu đãi phát triển CNHT của các quốcgia trên thế giới, nhận diện tầm quan trọng của CNHT trong tổng thể ngànhcông nghiệp giúp các quốc gia đó khẳng định được vị thế của mình trên thế giới
Từ đó bài viết đưa ra những nhận định chung cần quán triệt từ phía Chính phủtới các doanh nghiệp trong nước về tầm quan trọng của CNHT
Cùng với sự hội nhập của Việt Nam trên trường quốc tế như việc gianhậpWTO, AFTA, sự ưu đãi của chính phủ trước hết phải đảm bảo các nguyêntắc khi tham gia vào các sân chơi quốc tế đồng thời cũng quan tâm ưu đãi chocác doanh nghiệp CNHT phát triển cho ngang tầm các nước trong khu vực Đểhiểu rõ hơn về các chính sách tài chính áp dụng trong CNHT và thực trang vềcác chính sách tài chính ở Việt Nam, Chương 2: “Thực trạng chính sách tàichính thúc đẩy CNHT phát triển ở Việt Nam” sẽ làm rõ vấn đề này
Trang 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM
2.1 TỔNG QUAN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Ở VIỆT NAM.
Một trong những mục tiêu phát triển kinh tế quan trọng nhất của nước ta làtrở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Vì vậy, trong những năm gần đây,Việt Nam đã đầu tư không nhỏ để tập trung phát triển một số ngành công nghiệpmũi nhọn như: công nghiệp dệt may, công nghiệp sản xuất ô tô, công nghiệpđiện tử Trong những năm qua, công nghiệp Việt Nam đã đạt được những thànhquả nhất định, như duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong suốt 10năm gần đây, cũng như đã tạo ra được một số ngành công nghiệp có giá trị kimngạch xuất khẩu cao như công nghiệp dệt may Tuy nhiên, ngành công nghiệpViệt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như công nghệ quá lạc hậu, quy mô nhỏ
bé, sức cạnh tranh thấp… Một trong những nguyên nhân chính của tình hình này
là do nước ta chưa phát triển một cách đồng bộ và tương xứng các ngành côngnghiệp hỗ trợ sản xuất linh phụ kiện với các ngành công nghiệp chính
2.1.1 Khái quát thực trạng nền công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam.
Trái ngược với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp nóichung, ở Việt Nam các ngành công nghiệp hỗ trợ gần như mới trong giai đoạnhình thành và còn rất non kém Việt Nam hiện có khoảng 24 ngành, phân ngànhkinh tế- kĩ thuật đều cần đến công nghiệp hỗ trợ, trong đó, có nhiều ngành sảnxuất hàng xuất khẩu Cho tới nay, do việc đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợđòi hòi đầu tư lớn và rủi ro cao nên gần như không có nhà đầu tư nào trong nướccũng như chỉ có rất ít các nhà đầu tư nước ngoài có dự định đầu tư vào lĩnh vựcsản xuất linh, phụ kiện Hầu hết các nhà đầu tư trong và ngoài nước tập trungđầu tư ở những lĩnh vực như lắp ráp, hoàn thiện sản phẩm Điều này khiến cho,
Trang 28
tình trạng mất cân đối giữa công nghiệp và công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam khátrầm trọng Mặc dù về quy mô thì công nghiệp Việt Nam khá nhỏ bé so với thếgiới, nhưng công nghiệp Việt Nam cũng có những sự phát triển nhất định: hàngnăm công nghiệp Việt Nam có giá trị sản xuất chiếm hơn 40% tổng tỷ trọng xuấtkhẩu của cả nước Tuy nhiên, ngành sản xuất linh, phụ kiện ở Việt Nam mới chỉhình thành, nhỏ bé về quy mô và yếu kém về chất lượng Nếu như nhìn vào sốliệu thống kê hàng năm có thể thấy, giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệphàng năm chỉ vào khoảng trên dưới 10%, một tỷ lệ tương đối thấp nếu như sosánh với tỷ lệ giá trị gia tăng khoảng hơn 20% của các nước trong khu vực
Sự nhỏ bé của công nghiệp hỗ trợ Việt Nam thể hiện ở số lượng các doanhnghiệp hỗ trợ rất hạn chế Thông thường, số lượng doanh nghiệp hỗ trợ phải gấp
10 tới 20 lần số lượng các doanh nghiệp lắp ráp, nhưng ở Việt Nam thì tỷ lệ nàychỉ vào khoảng 4 tới 5 lần Ví dụ với ngành nhựa, bình thường với trình độ pháttriển của công nghiệp trong nước hiện tại, số doanh nghiệp sản xuất nhựa phảilên tới hàng nghìn doanh nghiệp, trong khi đó trên thực tế ở Việt Nam chỉ cótầm 200 doanh nghiệp trong lĩnh vực này, đó là chưa tính tới trong 200 doanhnghiệp này thì hầu hết lại chỉ sản xuất hàng hoá tiêu dùng thông thường, rất ítsản phẩm là các chi tiết đủ tiêu chuẩn về độ bền, độ chính xác để lắp ráp máymóc, ô tô, điện tử Hay một ví dụ khác minh hoạ cho số lượng ít ỏi sự hiện diệncủa các doanh nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam là ngành ô tô: theo thống kê của Hiệphội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) thì hiện tại cả nước có 12 liêndoanh lắp ráp ô tô nhưng chỉ có 49 doanh nghiệp cung cấp các phụ tùng ô tô, màhầu hết mới chỉ cung cấp các phụ tùng đơn giản như ốc vít, khung, đèn chứ chưacung cấp các sản phẩm có hàm lượng giá trị cao như động cơ, các bộ phận điềukhiển điện tử… Trong khi đó, Thái Lan có tới 3800 doanh nghiệp sản xuất phụtùng, linh kiện cho ngành ô tô Đồng thời theo thống kê, ở ngành dệt may hiệntại, bên cạnh các xưởng cơ khí của các công ty dệt thuộc Vinatex làm nhiệm vụsửa chữa, thay thế phụ tùng, linh kiện thì chỉ có 4 công ty cơ khí chuyên ngànhsản xuất các phụ tùng, linh kiện và trang thiết bị phục vụ cho ngành Dệt May
Trang 29So với các nước khác trong khu vực, các sản phẩm chế biến xuất khẩu của ViệtNam không quá tinh vi về trình độ công nghệ: tỷ trọng của các sản phẩm côngnghệ vừa và cao trong tổng giá trị gia tăng của các mặt hàng chế biến xuất khẩuchỉ ở mức trên 20% và gần như không thay đổi trong những năm gần đây Cáclĩnh vực công nghệ thấp thâm dụng lao động, chủ yếu là các cụm sản xuất hàngmay mặc thời trang, chiếm tới hơn 70% giá trị gia tăng của ngành công nghiệpchế biến của Việt Nam Thực trạng này còn dẫn tới nguy cơ là các doanh nghiệplắp ráp, sản xuất sản phẩm cuối cùng có thể rút khỏi thị trường do không cónguồn cung linh kiện, phụ tùng tại chỗ.
Trang 30Côngnghệthấp
ThâmdụngTN
Côngnghệcao
Côngnghệvừa
Côngnghệthấp
ThâmdụngTN
(Nguồn: Báo cáo cạnh tranh Việt Nam năm 2010 dựa trên UN Comtrade)
Các cơ sở sản xuất ở Việt Nam sản xuất những sản phẩm cồng kềnh, hàmlượng kĩ thuật kém, chủng loại nghèo nàn không đáp ứng được những nhu cầusản xuất những sản phẩm cuối cùng của ngành công nghiệp do nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam Rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã than phiền khi tìmkiếm sản phẩm hỗ trợ ở Việt Nam Công ty Panasonic Việt Nam, Công ty SanyoViệt Nam chỉ mua được thùng các tông, xốp chèn từ các doanh nghiệp Việt
Trang 31
Nam, công ty Daihatsu khi mới đầu tư vào Việt Nam đã mất hàng tháng trờiròng rã mới tìm được một doanh nghiệp cung cấp linh kiện, phụ tùng đạt yêucầu; còn công ty Canon, mặc dù đã đầu tư gần 300 triệu USD xây dựng các nhàmáy in rất lớn ở Hà Nội và Bắc Ninh, cũng chỉ tìm được 1 nhà cung cấp linhkiện Việt Nam trong số hơn 30 nhà cung cấp phụ tùng khác cho mình Đồngthời công ty cũng đã khảo sát hơn 20 doanh nghiệp sản xuất ốc vít trong nước,nhưng không tìm được loại ốc vít đạt yêu cầu Cách đây vài năm, doanh nghiệpFujitsu khi đầu tư vào Việt Nam cũng đã lặn lội đến hơn 64 doanh nghiệp trongnước chỉ để tìm nhà cung cấp ốc vít đạt tiêu chuẩn và cũng không tìm được.Cũng có thể thấy chất lượng yếu kém của các sản phẩm hỗ trợ Việt Nam qua lời
bộ trưởng Hoàng Trung Hải khi trả lời phỏng vấn: “các doanh nghiệp sản xuấtlinh kiện Việt Nam mới làm được cái ốc xe đạp hình lục lăng, tra 3-4 lần cờ-lêvào mới vừa và khi vặn ra ốc đã biến thành hình tròn” Nói chung, hầu hết hơn90% doanh nghiệp đảm bảo cung cấp linh kiện, phụ tùng đạt yêu cầu là doanhnghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam
Do khó khăn trong việc tìm kiếm đối tác cung cấp các phụ tùng, linh kiệnngay tại các doanh nghiệp Việt Nam nên hầu hết các doanh nghiệp FDI đanghoạt động tại Việt Nam phải nhập các phụ tùng, linh kiện, nguyên vật liệu sơchế từ nước ngoài, làm cho giá thành sản phẩm cuối cùng cao, bị động trong quátrình sản xuất Các doanh nghiệp FDI muốn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa song điềukiện khó khăn không thực hiện được
Tỷ lệ nội địa hóa linh kiện trong các doanh nghiệp ở Việt Nam rất thấp, cótới trên 80% linh kiện dùng trong sản xuất công nghiệp Việt Nam là từ nhậpkhẩu Vì hầu hết các ngành công nghiệp chính ở Việt Nam không có được sự hỗtrợ về sản phẩm hỗ trợ từ các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam, ngoại trừ ngànhsản xuất xe máy và lắp ráp điện tử là có ngành công nghiệp phụ trợ khá pháttriển, như ngành dệt may, cho đến thời điểm này, từ máy móc thiết bị, phụ tùng,hóa chất thuốc nhuộm đến nguyên liệu, phụ liệu đều phải nhập khẩu với tỷ lệlớn: 100% máy móc thiết bị, phụ tùng; 100% xơ sợi hoá học; 90% bông xơ thiên
Trang 32Nhập linh kiện, máymóc,… chiếm 60 – 80%
Theo điều tra về hoạt động của các doanh nghiệp Nhật tại Việt Nam của Tổchức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tiến hành năm 2007 cho thấy cótới 72% các nhà sản xuất Nhật Bản nói rằng họ có kế hoạch tăng tỉ lệ nội địa hóaphụ tùng và linh kiện, nhưng rất khó thực hiện vì hiện nay sản phẩm của ngànhcông nghiệp hỗ trợ của Việt Nam không đúng yêu cầu Tỷ lệ nội địa hoá mới chỉđạt 22,6% về giá trị, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như TháiLan (70%), Malaysia (45%), Indonesia (39%)
Nhìn chung, tình hình này nếu không được cải thiện thì tính hấp dẫn của thịtrường Việt Nam, dù có giá nhân công rẻ, mặt bằng xây dựng ưu tiên, các doanhnghiệp FDI có mặt hoạt động ở Việt Nam cũng có thể sẽ di chuyển nguồn lựcsang đầu tư ở những nước khác, những nước có nền công nghiệp hỗ trợ đáp ứngđược nhu cầu sản xuất của họ
Dưới đây là bức tranh về một số ngành CNHT ở Việt Nam:
2.1.2 Thực trạng công nghiệp hỗ trợ phục vụ một số ngành công nghiệp điển hình của Việt Nam
Trang 33
2.1.2.1 Ngành công nghiệp hỗ trợ lắp ráp
Theo Bộ công thương năm 2009 cả nước có trên 230 doanh nghiệp đangsản xuất linh kiện, phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp rắp xe máy,trong đó có hơn 80 doanh nghiệp ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với sốvốn đầu tư đạt trên 260 triệu USD, hơn ½ trong số đó nếu so sánh về chất lượngthì kém hơn so với Nhật Bản,Thái Lan, Đài Loan Ngoài ra, hệ thống phân phốilinh kiện, phụ tùng, chủng loại sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng của các doanhnghiệp này cũng còn nhiều hạn chế
Đối với lắp ráp ô tô mặc dầu đã có nhiều năm phát triển, nhưng côngnghiệp hỗ trợ cho ngành này được đánh giá là kém phát triển nhất hiện nay với
tỷ lệ nội địa hóa chỉ chiếm từ năm 5-10%
Theo số liệu từ Bộ Công Nghiệp, sau hơn 10 năm phát triển, đến nay,ngành công nghiệp ôtô Việt Nam mới có trên 60 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng
và linh kiện Tổng giá trị tài sản mỗi doanh nghiệp không vượt quá 20 tỷ đồng.Một con số quá thấp so với 385 doanh nghiệp ở Malayxia, và 2500 doanhnghiệp ở Thái lan Trong khi các doanh nghiệp lắp ráp ô tô ở Việt Nam bán rathị trường khoảng 35 loại xe, mỗi xe có khoảng 30.000 chi tiết, thì số lượng cácnhà cung cấp linh kiện ở trong nước còn quá bé nhỏ
Thông thường, một chiếc xe ôtô có từ 20.000 đến 30.000 chi tiết và cầntới hàng nghìn nhà cung cấp linh kiện, nhưng hiện tại ở Việt Nam các công tycung cấp linh kiện quá ít Theo tính toán, để tránh khỏi lắp ráp giản đơn, một
DN ôtô phải cần tối thiểu 20 nhà cung cấp với nhiều loại linh kiện khác nhau
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa doanh nghiệp sản xuất lắp ráp ôtô nào tạiViệt Nam có được 20 nhà cung cấp linh kiện trong nước Ngay cả những liêndoanh ôtô tên tuổi như Toyota, Ford có hệ thống các nhà cung cấp linh kiệnlớn cũng không lôi kéo được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam Trênthực tế, thời gian qua, các doanh nghiệp lắp ráp ôtô chỉ có 2-3 nhà cung cấp linhkiện trong nước
Trang 34
Các công ty trong nước chỉ có thể cung cấp những sản phẩm như ghếngồi, ống dầu, hệ thống điều hòa không khí, bộ lọc dầu, hệ thống phanh, giảmsốc, kính, đèn Ngoài ra, vỏ hoặc ruột bánh xe được cung cấp bởi công ty Cao
su Miền Nam (Casumina) và nhớt từ BP hoặc Castrol Tuy nhiên chủng loạicung cấp trong nước chưa phong phú và chất lượng không cao khi so sánh vớicác nước trong khu vực Đến nay, không có công ty trong nước nào có thể cungcấp phụ tùng nhựa cho ngành ô tô
2.1.2.2 Ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may và da-giày
Đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, dệt may vẫn là một ngànhquan trọng Từ đầu thập niên 90, may mặc trở thành ngành xuất khẩu hàng đầucủa Việt Nam, chiếm khoảng 15% kim ngạch xuất khẩu chung và khoảng 50%kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp Trong những năm 2006-2008, dệt may
là ngành hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ đứng sau dầu thô.Tuy nhiên, từ sau năm 2009, dệt may đã vươn lên vị trí hàng đầu mặc dù tỉ trọngtrong tổng kim ngạch xuất khẩu có giảm nhẹ
Kim ngạch xuất khẩu
% Tổng kim ngạch xuất khẩu
Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam được xếp thứ 6 về giá trị
và đứng thứ 8 về số lượng xuất khẩu vào Hoa kỳ Ngành công nghiệp dệt maycủa Việt Nam cũng là một ngành thu hút vốn đầu FDI khá lớn từ may mặc đếnkéo sợi, dệt, dệt kim…Hầu hết các nước ở khu vực châu Á đều tham gia đầu tưFDI vào ngành này ở Việt Nam như: Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, HànQuốc, Singapore Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI hầu như không có mối liên
hệ liên kết với các doanh nghiệp trong nước ở tất cả các giai đoạn Nói chung,hoạt động liên doanh của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong
Trang 35về của 2 ngành thực sự rất nhỏ so với hàng chục tỷ đồng kim ngạch xuất khẩuhàng năm
Cụ thể, năm 2010, ngành dệt may chỉ chủ động được khoảng 30-40%nguồn nguyên phụ liệu, trong đó vải đáp ứng được 20-30% nhu cầu, bông đápứng được 10%, xơ thì phải nhập khẩu hoàn toàn, chỉ có sợi là ngành dệt maychủ động được gần như hoàn toàn nhhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu
(xuất khẩu khoảng 2 tỷ USD năm 2010) Tỷ lệ nội địa hóa trong ngành dệt may
rất khiêm tốn Sau 8 năm tỷ lệ nội địa hóa nguyên vật liệu chính (sợi và vải) chỉtăng từ 0% đến 3%, những phụ liệu đơn giản như kim chỉ, khuy nút… cũng chỉtăng từ 0% đến 29% Cho nên, số liệu về xuất khẩu có thể rất ấn tượng nhưnglàm giàu cho đất nước không được bao nhiêu
Tình hình trên phản ảnh một thực tế là công nghiệp hỗ trợ trong ngành dệtmay của Việt Nam không phát triển, chất lượng, thời hạn giao hàng còn hạn chế,không hấp dẫn đối với các doanh nghiệp FDI trong ngành dệt may Kể từ khiViệt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO với nhiều chính sách ưu đãi,công nghiệp phụ trợ trong ngành dệt may của Việt Nam đã có những chuyểnbiến bước đầu Một loạt nhà máy kéo sợi, dệt vải, chỉ khâu, khóa kéo, bao bì,nhãn mác, bông tẩm, mếch dính, cúc nhựa ra đời, nhưng nhìn chung quy mô nhỏ
bé, kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu và cũng chỉ làm nhiệm vụ gia công cho nướcngoài, giá trị gia tăng thấp Hiện nay, các sản phẩm xơ sợi tổng hợp đều phảinhập khẩu Các nguyên phụ liệu may mặc thường do khách hàng chỉ định nguồncung cấp từ bên ngoài Toàn bộ thuốc nhuộm, hầu hết chất trợ, hóa chất dệt mayđều phải nhập khẩu, tỷ lệ chất trợ, hóa chất cơ bản trong nước cung cấp cho
Trang 36và trang thiết bị phục vụ cho ngành dệt may như: Công ty cổ phần cơ khí mayGia Lâm, Nam Định, Hưng Yên, Thủ Đức Do năng lực quản lý yếu kém, máymóc thiết bị lạc hậu, hàng năm giá trị sản xuất của nó chưa tới 9 tỷ đồng, tươngđương 4.000 tấn phụ tùng không đáp ứng được nhu cầu Đại đa số phụ tùng,trang thiết bị do các công ty này sản xuất là nhỏ lẻ như: máy trải vải, máy húthơi là, máy san chỉ, máy hút chỉ, máy dập cúc, máy cắt vải, hệ thống chiếu sáng,
hệ thống làm mát và một số phụ tùng như: Tủ đựng hồ sơ, ghế ngồi may chủ yếu
là phục vụ cho ngành may, còn linh kiện phục vụ cho ngành dệt chủ yếu là nhập
từ nước ngoài khoảng 70-80% nhu cầu.
Ngành da giày
Ngành da giày có thể chủ động được 40-50% nguồn nguyên phụ liệu cho
sản xuất Tuy nhiên, chỉ có phụ liệu như đế, vải bạt, chỉ…là ngành chủ độngđược khoảng 50%, còn da thuộc và nguyên liệu giả da, ngành da giày hiện phảinhập khẩu gần như hoàn toàn Ngành da-giày phát triển thiếu sự hỗ trợ của cácngành công nghiệp thuộc da, công nghiệp sản xuất phụ liệu và một số ngành
công nghiệp hỗ trợ khác như hóa chất, cơ khí chế tạo Đa số các doanh nghiệp
sản xuất giày theo phương thức gia công, nên việc cân đối và cung ứng nguyênphụ liệu còn phải tuân theo chỉ định của đối tác nước ngoài Những năm gầnđây, ngành sản xuất giày trong nước phát triển nhanh khiến cho nhu cầu cungứng nguyên phụ liệu sản xuất giày tăng mạnh Một số cơ sở sản xuất nguyênphụ liệu đã ra đời Tuy nhiên, các cơ sở này thường hình thành một cách tự phát
Trang 37
và nhỏ lẻ nên hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm còn hạn chế.Đặc biệt là vấn đề môi trường và an toàn vệ sinh lao động còn gặp nhiều bất cập
2.1.2.3 Ngành công nghiệp hỗ trợ điện tử
Ngành điện tử Việt nam ra đời từ năm 1970 Ban đầu với xuất phát điểm
là lắp ráp thiết bị điện tử dân dụng như ti vi đen trắng, Radio, Radio cassettte,loa Về sau phát triển sản xuất ti vi màu và các phương tiện khác
Từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, bộ mặt củangành công nghiệp điện tử của Việt Nam đã có nhiều thay đổi Nhiều công tyđiện tử của nước ngoài nhìn thấy thị trường đầu tư vào ngành điện tử của ViệtNam có nhiều thuận lợi, hấp dẫn: giá nhân công rẻ, tiềm năng trí tuệ của laođộng Việt Nam nếu được đào tạo bài bản sẽ trở thành nguồn lợi lớn; Việt Namlại nằm trong khu vực có nền kinh tế phát triển năng động, khu vực có nền côngnghiệp điện tử phát triển nhanh, năng động, chính sách Nhà nước cởi mở….Từnhững thuận lợi đó, từ sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thứ 150 củaWTO, các hãng điện tử lớn của các nước như Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan, HànQuốc…lần lượt tìm đường đầu tư vào Việt Nam Các doanh nghiệp FDI thườngchọn các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có hạ tầng cơ sởthuận lợi mà chủ yếu thuộc thành phố HCM, Hà Nội và vùng phụ cận để bố trí
cơ sở sản xuất Nói chung, sự có mặt các công ty điện tử lớn của các nước ởViệt Nam, phần nào đã có tác dụng kích thích sự phát triển của ngành côngnghiệp điện tử nội địa
Tính đến nay, toàn ngành điện tử Việt Nam có khoảng 200 doanh nghiệptrong nước đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các thành phần kinh tế.Tổng số vốn đầu tư hiện nay khoảng 1,6 tỷ USD, trong đó vốn của các doanhnghiệp liên doanh, doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài chiếm trên 90% tổng
số vốn Các doang nghiệp trong nước chiếm 2/3 tổng số doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực điện tử với hơn 60% tổng số lao động, nhưng vốn chỉ chiếm gần6% tổng số vốn đầu tư Trong số các doanh nghiệp điện tử có khoảng ¼ doanh