Để thực hiện chức năng trung gian tài chính này, ngân hàng huy động vốn tiền tệ trong nền kinh tế để đầu tư vào các dự án, trên cơ sở phân tích, đánh giá thẩm địnhđầu tư đối với dự án đó
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Thực tế và lý thuyết kinh tế học chỉ ra rằng, đầu tư luôn là động lực quan trọngcủa sự phát triển và tăng trưởng kinh tế Trên góc độ vi mô, khi tiến hành các hoạtđộng đầu tư, từng chủ đầu tư cần phải xem xét kĩ nên đầu tư vào đâu, phương thức đầu
tư như thế nào để có thể đạt được hiệu quả cao nhất từ dự án Công tác thẩm định sẽgiải quyết những vấn đề này và tồn tại độc lập, bổ trợ, giúp cho việc đầu tư được đúnghướng góp phần mang lại hiệu quả cho từng dự án Xét trên toàn bộ nền kinh tế, nếumọi dự án đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao thì toàn bộ nguồn vốn đầu tư xãhội cũng sẽ được sử dụng hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là tăng trưởng kinh tế bềnvững
Trong nền kinh tế thị trường, tiền tệ khu vực ngân hàng thương mại (NHTM) cóvai trò vô cùng quan trọng, là kênh dẫn vốn từ khu vực tiết kiệm (S) đến khu vực đầu
tư (I) Để thực hiện chức năng trung gian tài chính này, ngân hàng huy động vốn tiền
tệ trong nền kinh tế để đầu tư vào các dự án, trên cơ sở phân tích, đánh giá (thẩm địnhđầu tư) đối với dự án đó, doanh nghiệp đó Và như vậy, việc thẩm định dự án có vaitrò quan trọng đối với hiệu quả đầu tư không chỉ trên phương diện vi mô (NHTM) màcòn cả trên phương diện vĩ mô (toàn bộ nền kinh tế)
Đối với Việt Nam, mét quốc gia vẫn được coi là vừa mới thoát ra khỏi ngưỡngđói nghèo (với GDP bình quân đầu người năm 2009 đạt 1024 USD) và đang phấn đấuđạt được các mục tiêu thiên niên kỷ thì nhu cầu vốn đầu tư của toàn xã hội là rất lớn
và đặc biệt quan trọng Thúc đẩy đầu tư hơn nữa trong thời gian tới có thể giúp ViệtNam cải thiện mức sống của dân cư, duy trì tăng trưởng kinh tế liên tục để đưa Việtnam trở thành một nước cơ bản là công nghiệp phát triển vào năm 2020 Đặc biệt,trong điều kiện hiện nay, tăng cường đầu tư hiệu quả góp phần chống suy giảm kinh tế
do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, hiệuquả đầu tư toàn xã hội vẫn còn rất thấp, biểu hiện của sự kém hiệu quả là hệ số ICORtrong những năm gần đây rất cao (8 lần, so với những năm cuối thập kỷ 90 chỉ là 3-4lần)
Tại các NHTM, công tác thẩm định dự án đã được được coi trọng hơn và bài bảnhơn trước kia rất nhiều Tuy nhiên, những năm gần đây, hiệu quả của hoạt động chovay chưa cao, nợ xấu, nợ quá hạn còn nhiều, tín dụng tập trung khá lớn vào các doanhnghiệp nhà nước Sức Ðp lợi nhuận cũng đặt các NHTM phải cho vay nhiều hơn hoặc
có tư tưởng cạnh tranh nên đã hạ thấp điều kiện tín dụng Tình trạng tín dụng tăngtrưởng mạnh trong vài năm gần đây cho thấy khuynh hướng này (năm 2007 tín dụng
Trang 2tăng 54% so với 2006 và năm 2009 tín dụng tăng 38% so với 2008) Các NHTM cókhi phải huy động bằng mọi giá nên đã tạo ra cuộc đua lãi suất đáng quan ngại vàonăm 2008
Từ bài học của cuộc khủng hoảng tín dụng bùng nổ ở Mỹ năm 2007-2008 và bốicảnh của hệ thống NHTM Việt Nam như trên, rõ ràng công tác thẩm định dự án tại cácNHTM Việt Nam cần phải được quan tâm, cải thiện ngay từ thời điểm này và liên tụccho những năm tới Thực hiện tốt công tác này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả củavốn đầu tư, giảm thiểu rủi ro cho họat động của Ngân hàng, mà trên hết là góp phầntăng trưởng vĩ mô và bình ổn thị trường tiền tệ
Nhận thức được vấn đề như trên và sau một thời gian được tiếp xúc với hoạt độngthẩm định dự án đầu tư của Ngân hàng TMCP Kiên Long, tác giả nhận thấy công tácthẩm định đã được Ngân hàng dần quan tâm và chú trọng, tuy nhiên vẫn còn một sốnhững những hạn chế cần được nghiên cứu để khắc phục
Trong bối cảnh đó, tác giả chọn đề tài: “Giải pháp hoàn thiện và nâng cao công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Kiên Long - chi nhánh
Hà Nội ” Mục đích nghiên cứu của tác giả là nhằm đóng góp những lý luận và thực tế
về công tác thẩm định tại Ngân hàng, qua đó cung cấp những giải pháp nhằm nâng caohiệu quả của công tác thẩm định tại Ngân hàng TMCP Kiên Long nói riêng và toàn bộ
hệ thống NHTM Việt Nam nói chung
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo,…, luận văn gồm 3 chương:
Chương I : Lý luận chung về thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các NHTM Chương II : Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại NH TMCP Kiên Long.
Chương III : Giải pháp nâng cao và hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án
đầu tư tại NH TMCP Kiên Long.
Trang 3CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Thẩm định tài chính dự án đầu tư là công việc rất phức tạp, khối lượng công việcnhiều, liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau, là công việc đòi hỏi tính chính xác cao
Do vậy, khi đi sâu tìm hiểu công tác này chúng ta cần phải trang bị một số các kiến thức
cơ bản về những khía cạnh liên quan trực tiếp đến nó Chương 1 của luận văn sẽ cungcấp một cái nhìn tổng quan nhất về tín dụng ngân hàng, đầu tư và dù án đầu tư Trên cơ
sở đó, sẽ giới thiệu chung về quy trình thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM Việt Nam
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Đầu tư và tăng cường hoạt động đầu tư luôn là một yêu cầu cấp thiết của bất kỳmột nền kinh tế phát triển nào Thế nhưng, muốn có hoạt động đầu tư thì phải có đủcác nguồn lực cần thiết, và đặc biệt là phải có đủ vốn Vì vậy, để có cơ sở nghiên cứusâu về vấn đề này, chúng ta cần hiểu một cách khái quát về tín dụng ngân hàng và dự
- Tín dụng là quan hệ vay mượn dùa trên nguyên tắc hoàn trả
- Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hay hiện vật dùatrên nguyên tắc có hoàn trả
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữusang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượnggiá trị ban đầu
- Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổchức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dông trong một thời gian nhấtđịnh trên nguyên tắc hoàn trả
Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng bảnchất của tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đi vay và một bên
là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi
Đối với mét NHTM, tín dụng là chức năng cơ bản của ngân hàng, là một trongnhững nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng Tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau: “Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dông phản ánh một giao dịch về tài sản
Trang 4(tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên
đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên chovay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoảthuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vaykhi đến hạn thanh toán”
Về các hình thức của tín dụng ngân hàng thì có nhiều tiêu thức khác nhau để phânchia tín dụng ngân hàng Dưới đây là một số cách phân chia phổ biến mà Ngân hàngthường sử dụng khi phân tích và đánh giá:
Theo thêi hạn tín dụng:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung
sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, và nó còn có thể được vay chonhững tiêu dùng cá nhân
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm Loại hình tíndụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới
kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có trên 5 năm Loại tín dụng này đượcdùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, cáccông trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất,…
Tín dông trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phầnvốn lưu động
Theo mục đích sử dụng vốn:
Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được phân chia rất đa dạng và phongphó:
- Cho vay bất động sản
- Cho vay thương mại và công nghiệp
- Cho vay cá nhân
- Cho vay thuê mua
- Cho vay khác
Trong đó các khoản cho vay thuê mua và cho vay khác chủ yếu bao gồm nhữngkhoản cho vay đối với các tổ chức tài chính, cho vay ngân sách và chuyển nhượng cácloại chứng khoán
Theo đối tượng sử dụng: Theo tiêu thức này, tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng lưu động: Loại hình tín dụng này được cấp phát để hình thành vốnlưu động của các tổ chức kinh tế, như cho vay để dự trữ hành hoá đối với xí nghiệpthương nghiệp; bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời,… Riêng loại hình tín dụng để
bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời lại được chia làm 2 loại: cho vay để dự trự
Trang 5hàng hoá – chi phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thứcchiết khấu kỳ phiếu Thời hạn cho vay là ngắn hạn.
- Tín dụng vốn cố định: Là loại hình tín dụng được cấp phát để hình thành tàisản cố định Loại này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổimới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dụng các công trình mới,… Thời hạn cho vay đốivới loại này là trung và dài hạn
Phân loại theo đồng tiền: Theo tiêu thức này thì TDNH được chia làm 2 loại:
- Tín dông theo VNĐ: Hình thức này thường được dùng trong các hoạt độngđầu tư, kinh doanh và giao dịch với các bạn hàng trong nước
- Tín dông theo ngoại tệ (thường quy đổi ra USD hoặc VNĐ): Thường được
sử dụng để nhập khẩu hàng hoá, trả nợ bạn hàng nước ngoài, nhập khẩu máy móc thiết
bị, các hoạt động kinh tế đối ngoại, kinh doanh ngoại tệ,… Hình thức tín dụng nàychịu ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá cũng như chính sách kinh tế đối ngoại củachính phủ
Phân loại tín dụng theo thành phần kinh tế: được phân chia ra làm hai loại
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
1.1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả nhất đối với các doanhnghiệp trong nền kinh tế Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoádịch vụ của mình, các doanh nghiệp luôn có xu hướng là cần vốn để đầu tư máy móc,thiết bị, đổi mới công nghệ hay mở rộng sản xuất kinh doanh, và vấn đề thiếu vốn tạmthời để đầu tư cho các nhu cầu này thường xuyên xảy ra đối với các doanh nghiệp.Trong các trường hợp thiếu vốn, các doanh nghiệp sẽ phải tiến hành huy động từ cácnguồn có thể, và một trong những nguồn đó là doanh nghiệp đi vay của các ngân hàng.Ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu đó trên cơ sở Hợp đồng tín dụng sau khi được hai bênthoả thuận cho phù hợp nhu cầu, mục đích của mỗi bên và theo đúng quy định củaPháp luật Khi nhận được vốn vay, doanh nghiệp sẽ có thể nâng cao hiệu quả sản xuất,tăng sức cạnh tranh trên thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có hiệu quả, và từ đó doanh nghiệp có thể thu hồi vốn và trả nợ cho ngân hàng
Không những vậy, tín dụng ngân hàng còn thoả mãn các nhu cầu tiết kiệm và mởrộng đầu tư của nền kinh tế Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn đóng góp một phầnkhông nhỏ trong việc tăng trưởng và ổn định nền kinh tế Tín dụng tài trợ cho nền kinh
tế tăng gần 25% mỗi năm và được phân bổ một cách phù hợp cho cả khu vực kinh tếquốc doanh cũng như khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Đây là mức tăng trưởng hợp
Trang 6lý, do đó góp phần làm giảm áp lực gia tăng tổng phương tiện thanh toán, hạn chế cácyếu tố gây lạm phát, làm giảm gánh nặng trong công tác điều tiết nền kinh tế vĩ mô củaChính phủ trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ Tín dụng ngân hàng tập trung phục vụ cóhiệu quả các chương trình kinh tế lớn của Chính phủ như cho vay thu mua lương thực,phục vụ xuất khẩu, cho vay phát triển kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,… Đặcbiệt, đối với những dự án đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, pháttriển một số ngành nghề mòi nhọn, tín dụng ngân hàng luôn có sự tham gia không nhỏ
và đôi khi còn là nhà tài trợ chính cho những dự án này
Tín dụng ngân hàng với chức năng chủ yếu là đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng.Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu của NHTM, nã quyết địnhtrực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, vàhoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận nhiều nhất cho mét NHTM trong quá trình hoạtđộng kinh doanh của mình Trong nền kinh tế thị trường, NHTM đóng một vai tròquan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, là trung gian chuyển vốn giữa ngườithừa vốn sang người thiếu vốn, là cầu nối nhanh chóng giữa những chủ đầu tư vànhững nhu cầu đầu tư trong quá trình hoạt động kinh doanh Ngay từ buổi đầu, hoạtđộng của NHTM đã tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay để đápứng nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong quá trình sản xuất -kinh doanh, hoặc nhu cầu tiêu dùng của cá nhân Trong quá trình phát triển khôngngừng của nền kinh tế, mặc dù môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi, nhiềuphương pháp, công cụ kinh doanh mới xuất hiện nhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn làhoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của NHTM Hoạt độngcho vay thường chiếm hơn 70% tổng tài sản có và tỷ trọng huy động vốn tiền gửithường chiếm trên 60% tổng tài sản có của các NHTM Lợi nhuận thu được từ hoạtđộng tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao hơn, ở các nước phát triển là 60% trên tổnglợi nhuận của ngân hàng ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này chiếmkhoảng 60 - 70% trên tổng lợi nhuận của ngân hàng
Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn là công cụ để Nhà nước điều tiết khối lượngtiền tệ lưu thông trong nền kinh tế Nhà nước thông qua Ngân hàng Trung ương sẽthực hiện các chính sách tiền tệ của mình bằng quan hệ tín dụng với các NHTM Ngânhàng Trung ương dùa vào kế hoạch tăng lượng tiền cung ứng trong năm để xác địnhlượng tiền cần phát hành vào lưu thông với quy mô là bao nhiêu, bằng hình thức nào.Thông thường thì Ngân hàng Trung ương sẽ thực hiện kế hoạch đó bằng cách choNHTM vay và thông qua hoạt động tín dụng của các NHTM, lượng tiền này sẽ đượcđưa vào lưu thông Như vậy, Ngân hàng Trung ương đã thực hiện chính sách tiền tệ đểkiểm soát và tác động vào tổng lượng tiền cung ứng để đạt được các mục tiêu của
Trang 7chính sách tiền tệ, kiểm soát được những biến động trên thị trường và đồng thời có thểnhanh chóng phòng ngõa những rủi ro có thể xảy ra, gây ảnh hưởng xấu tới nền kinhtế.
1.1.2 Đầu tư và dự án đầu tư, những yêu cầu khi xem xét dự án đầu tư
1.1.2.1 Đầu tư và dự án đầu tư
a) Đầu tư:
Thuật ngữ đầu tư có thể được hiểu đồng nghĩa với sự bỏ ra, sù hy sinh cái gì đó
để tác động đến kết quả trong tương lai Các nhà kinh tế học vĩ mô lại cho rằng: “Đầu
tư là đưa thêm một phần sản phẩm cuối cùng vào kho tài sản vật chất sinh ra thu nhậpcủa quốc gia hay thay thế các tài sản vật chất đã hao mòn” Tuy nhiên, theo địnhnghĩa chung nhất, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực trong một thời gian dài nhằmmục đích thu về lợi nhuận hoặc các lợi Ých kinh tế xã hội
Dưới góc độ nào đi nữa thì mọi hoạt động đầu tư đều phải sử dụng các nguồnlực ban đầu Các nguồn lực này được sử dụng theo mục đích của chủ đầu tư để tạomới, mở rộng hoặc nâng cao chất lượng hiện có của các tài sản tài chính (tiền vốn…),tài sản vật chất (như nhà máy, đường xá…), tài sản trí tuệ (như trình độ văn hoá,chuyên môn…) và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Mục đích của công cuộc đầu
tư là thu được những kết quả nhất định lớn hơn so với nguồn lực đã bỏ ra
Hoạt động đầu tư được tiến hành trong mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tếquốc dân, nó không chỉ bó hẹp trong đầu tư tài sản vật chất và sức lao động mà còntham gia cả đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, với nhiều hình thức đa dạng vàphong phó
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Trang 8 Giai đoạn 2: Giai đoạn đầu tư.
Sau khi ra Quyết định đầu tư, cụng việc tiếp theo là cụ thể hoỏ nguồn vốn, hỡnhthành vốn đầu tư và triển khai dự ỏn đầu tư
Giai đoạn 3: Giai đoạn đi vào hoạt động.
Đõy là giai đoạn đưa dự ỏn đầu tư vào vận hành để sản xuất sản phẩm và đưa ratiờu thụ trờn thị trường
Dự ỏn đầu tư cú một vai trũ rất quan trọng trong bất cứ hoạt động đầu tư nào,điều này được thể hiện:
- Dự ỏn đầu tư là cơ sở để quyết định bỏ vốn ra đầu tư Thụng qua dự ỏn đầu
tư, nhà đầu tư sẽ quyết định cú bỏ vốn ra đầu tư hay khụng và từ số vốn mỡnh bỏ ra với
dự ỏn đầu tư này sẽ đem lại hiệu quả, lợi ích như thế nào?
- Dự ỏn là cơ sở lập kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dừi, đụn đốc và kiểm traquỏ trỡnh thực hiện đầu tư Trong suốt quỏ trỡnh thực hiện đầu tư, thụng qua dự ỏn nhàđầu tư cú thể tự bố trớ kế hoạch, tiến độ thực hiện dự ỏn đồng thời tổ chức kiểm tra,đụn đốc, theo dừi quỏ trỡnh thực hiện đầu tư
- Dự ỏn là cơ sở để thuyết phục cỏc tổ chức tớn dụng xem xột tài trợ cho dự ỏn.Cỏc tổ chức tớn dụng, ngõn hàng thụng qua việc xem xột, thẩm định dự ỏn đầu tư đểđỏnh giỏ hiệu quả của dự ỏn, là lói hay lỗ để từ đú đưa ra quyết định tài trợ vốn chonhà đầu tư hay khụng
- Dự ỏn là cơ sở để thuyết phục cỏc cơ quan quản lý Nhà nước xem xột cấpgiấy phộp đầu tư Điều này được xem xột trờn cơ sở dự ỏn cú hiệu quả kinh tế cao,khụng vi phạm quy định phỏp luật, khụng ảnh hưởng xấu đến mụi trường, đến xó hội
và qua đú sẽ đưa ra quyết định cho phộp đầu tư hay khụng
- Dự ỏn là một trong những cơ sở phỏp lý để xem xột giải quyết cỏc tranh chấpphỏt sinh trong quỏ trỡnh liờn doanh thực hiện đầu tư
1.1.2.2 Những yờu cầu khi xem xột dự ỏn đầu tư
Lắp đặt máy móc, thiết bị
Vận hành chạy thử
Trang 9Để có được một dự án đầu tư có tính thuyết phục và thu hót các bên tham gia,
dự án đó phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Dự án phải có tính khoa học Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của dự ánđầu tư Đảm bảo yêu cầu này sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai và thực hiện thành công
dự án Tính khoa học của dự án được thể hiện: về số liệu thông tin phải đảm bảo trungthực, chính xác; về phương pháp lý giải: các nội dung của dự án không được tồn tạiđộc lập, riêng rẽ mà chúng luôn nằm trong một thể thống nhất; về phương pháp tínhtoán phải đơn giản, chính xác,…
- Dự án phải có tính pháp lý, tức là dự án phải phản ánh quyền lợi quốc giatrong dự án Nói một cách khác đi là dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợpvới chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Dự án phải có tính thực tiễn Tính thực tiễn vủa dự án đầu tư thể hiện ở chỗ, nó
có khả năng ứng dụng và triển khai trong thực tế Mỗi dự án thuộc một ngành nghề cụ thể,
có những thông số, tính toán và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cụ thể, cho nên các nội dung,các khía cạnh phân tích của dự án đầu tư không thể được nghiên cứu một cách chungchung mà phải dùa trên những căn cứ hợp lý, tức là dự án phải được xây dùng trong điềukiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, về thị trường vốn và các chỉ tiêu khác
- Dự án phải có tính thống nhất Các dự án phải biểu hiện sự thống nhất về lợiÝch giữa các bên tham gia và có liên quan đến dự án Để các bên đối tác có quyết địnhtham gia dự án, các ngân hàng và tổ chức tài chính quyết định tài trợ hay cho vay vốnvới các dự án, và muốn được cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy phép đầu tư thìviệc xây dựng dự án từ các bước tiến hành đến nội dung, hình thức, cách trình bày dự
án cần phải tuân thủ theo những quy định chung mang tính quốc tế
- Dự án phải có tính dự báo Trong nhiều trường hợp, những nội dung, nhữngtính toán về quy mô sản xuất, chi phí, giá cả, lợi nhuận,… trong dù án chỉ có tính chất
dự trù do thực tế xảy ra khác xa với dự kiến ban đầu trong dự án Vì vậy, dự án phải cótính dự báo, tuy nhiên, những dự báo này phải dùa trên những căn cứ khoa học, trungthực và khách quan nhằm giảm thiểu rủi ro, hạn chế độ bất định trong dự án
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.2.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
a Khái niệm:
Các dự án đầu tư sau khi được soạn thảo và thiết kế xong dù được nghiên cứu
Trang 10tính toán rất kỹ lưỡng và chi tiết thì chỉ mới qua bước khởi đầu Để đánh giá tính hợp
lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và ra quyết định dự án có được thực hiện haykhông thì phải có một quá trình xem xét kiểm tra, đánh giá một cách độc lập và táchbiệt với quá trình soạn thảo dự án Quá trình đó gọi là thẩm định dự án Có rất nhiềuquan điểm khác nhau về thẩm định tuỳ theo tính chất của công cuộc đầu tư và chủ thể
có thẩm quyền thẩm định, song đứng trên góc độ tổng quát có thể định nghĩa như sau: Thẩm định dự án đầu tư là quá trình một cơ quan chức năng (Nhà nước hoặc tưnhân) thẩm tra, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện về các mặt pháp
lý, các nội dung cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả, tính khả thi, tính hiện thực của dự án,
để quyết định đầu tư hoặc cấp giấy phép về đầu tư hay quy định về đầu tư…
b Ý nghĩa:
Thẩm định dự án đầu tư là một công việc quan trọng, nó đề cập đến tất cả nhữngvấn đề của bản thân dự án, và quan trọng hơn, qua quá trình thẩm định, dự án sẽ đượctìm hiểu một cách sâu rộng hơn, chuyên môn hơn Thẩm định dự án có những ý nghĩa
vô cùng quan trọng sau đây:
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư, với những kết quả thu được là một trongnhững cơ sở quan trọng để có quyết định bỏ vốn đầu tư được đúng đắn
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư, có cơ sở để kiểm tra việc sử dụng vốnđảm bảo đúng mục đích và an toàn vốn
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư với những kinh nghiệm và kiến thức củamình sẽ bổ sung thêm những giải pháp góp phần nâng cao tính khả thi của dự án
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư có cơ sở tương đối vững chắc để xác địnhkết quả đầu tư, thời gian hoàn vốn và trả nợ từ dự án của chủ đầu tư
- Thông qua thẩm định dự án đầu tư sẽ rót ra được những kinh nghiệm để tiếnhành thẩm định các dự án đầu tư sau tốt hơn
1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư
Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng quyết định sự tăng trưởng và phát triển của cácthành phần kinh tế cũng như nền kinh tế quốc dân Nhưng hoạt động đầu tư sẽ không thểtiến hành được khi không có vốn hay không đủ vốn Một câu hỏi được đặt ra là: "Vốnlấy từ đâu?" Ngoài nguồn vốn tự có của mình, các nhà đầu tư thường kêu gọi sự tài trợ
từ bên ngoài mà trong đó chủ yếu là nguồn vốn vay của ngân hàng Tuy nhiên, ngânhàng sẽ không đồng ý cho vay nếu không biết rằng vốn vay có được sử dụng an toàn vàhiệu quả hay không Do đó, không chỉ riêng các nhà đầu tư, mà cả ngân hàng và các cơquan hữu quan cũng phải tiến hành thẩm định dự án đầu tư tức là đi sâu xem xét, nghiêncứu đánh giá hàng loạt các vấn đề trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đưa ra một quyết
Trang 11định đúng đắn.
a Đối với nhà đầu tư:
Sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp là nhờ vào kế hoạch sản xuất kinh doanhđúng đắn, mà các kế hoạch này lại được thực hiện bởi các dự án Với tư cách là chủ dự án
và là bên lập dự án, chủ đầu tư biết khá rõ và tương đối tỷ mỷ dự án đầu tư của mình, nắmđược những điểm mạnh cũng như điểm yếu, những khó khăn thách thức trong quá trìnhthực hiện dự án của mình Trên thực tế, khi đưa ra một quyết định đầu tư, chủ đầu tư thườngxây dựng và tính toán các phương án khác nhau Điều đó có nghĩa là có nhiều dự án khácnhau được đưa ra nhưng không phải dễ dàng gì trong việc lùa chọn dự án này, loại bỏ dự ánkia vì nhiều khi khả năng thu thập, nắm bắt những thông tin mới của chủ dự án bị hạn chếnhất là đối với các xu hướng kinh tế, chính trị, xã hội mới và điều này sẽ làm nguy cơ rủi rotăng cao và làm giảm tính chính xác trong phán đoán của họ Thông qua việc thẩm định dự
án đầu tư sẽ giúp nhà đầu tư lùa chọn được dự án đầu tư tối ưu và thích hợp nhất với nănglực của mình
b Đối với các ngân hàng:
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện việc nhận tiền gửi và chovay Trong quá trình cho vay, không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đượcngân hàng đáp ứng, ngân hàng chỉ cho vay khi đã biết chắc chắn vốn vay được sửdụng đúng mục đích, mang lại lợi Ých cho cả doanh nghiệp và ngân hàng Muốn vậy,ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và nép cho ngân hàng dự án đầu tư của họ.Trên cơ sở đó, cùng với các nguồn thông tin khác ngân hàng sẽ tiến hành tổng hợp vàthẩm định dự án của chủ đầu tư một cách khách quan hơn Việc thẩm định dự án đầu
tư còn là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền vay, thòi gian cho vay, mức thu nợ hợp
lý, thời điểm bỏ vốn cho dù án và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả trong tương lai
Tóm lại, đối với mọi ngân hàng, công tác thẩm định dự án đầu tư là rất quantrọng, nó giúp cho ngân hàng ra quyết định có bỏ vốn đầu tư hay không? Nếu đầu tưthì đầu tư như thế nào? Mức độ bỏ vốn là bao nhiêu? Điều này sẽ giúp ngân hàng đạtđược những chỉ tiêu về an toàn và hiệu quả trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn
và nợ khó đòi, hạn chế những rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng
c Đối với nền kinh tế:
Đầu tư luôn được coi là động lực phát triển nói chung và sự phát triển kinh tếnói riêng của mỗi quốc gia Nhưng vấn đề quan trọng đặt ra là đầu tư như thế nàocho có hiệu quả, bằng không tác động của đầu tư không hợp lý là rất nguy hại và gây
Trang 12ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Hiệu quả ở đây không đơn thuần là hiệu quả kinh tế
mà nó bao hàm cả các hiệu quả về mặt xã hội như vấn đề giải quyết công ăn việclàm, tăng thu ngân sách, tăng khả năng cạnh tranh trong và ngoài nước, đặc biệt làvấn đề đảm bảo môi trường sinh thái Ngoài ra, dự án được chọn đầu tư còn phải phùhợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương mà dự
án này thực hiện và phải hoàn toàn tuân thủ các quy chế quản lý kinh tế, quản lý đầu
tư xây dựng và các quy chế quản lý khác của Nhà nước
1.2.3 Các yêu cầu trong thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định được tiến hành với tất cả các dự án thuộc mọi nguồn vốn, của mọithành phần kinh tế Tuy nhiên, yêu cầu về nội dung thẩm định có khác nhau về mức độ
và chi tiết giữa các dự án, tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất của dự án, nguồn vốn đượchuy động và chủ thể có thẩm quyền thẩm định Tuy vậy, dù đứng trên góc độ nào đichăng nữa, để có kết quả thẩm định có sức thuyết phục thì chủ thể có thẩm quyền thẩmđịnh phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nắm vững hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của ngành, của địaphương và các quy chế luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và xây dựng củanhà nước
- Hiểu biết về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án, tình hình vàtrình độ kinh tế chung của đất nước, của địa phương, của ngành, của thế giới Nắmvững tình hình sản xuất kinh doanh, các số liệu tài chính của doanh nghiệp, các quan
hệ tài chính - tín dụng của doanh nghiệp hoặc của chủ đầu tư với các doanh nghiệpkhác hoặc chủ đầu tư khác, với các ngân hàng…
- Biết khai thác các số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nhgiệp hoặcchủ đầu tư, các thông tin liên quan đến giá cả, thị trường để phân tích hoạt động chungcủa doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư, từ đó có thêm căn cứ vững chắc để quyết định đầutư
- Biết xác định và kiểm tra được các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật quan trọng của dự
án, đồng thời thường xuyên thu thập, đúc kết, xây dựng các chỉ tiêu định mức kinh tế
-kỹ thuật tổng hợp trong và ngoài nước để phục vụ cho việc thẩm định
- Đánh giá khách quan, khoa học và toàn diện về nội dung của dự án, có sự phốihợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia trong và ngoài ngành cóliên quan cả trong và ngoài nước
- Thẩm định kịp thời, tham gia ý kiến ngay từ khi nhận được hồ sơ dự án
- Thường xuyên hoàn thiện quy trình thẩm định, phối hợp phát huy được trí tuệtập thể, tránh gây phiền hà
Trang 131.2.4 Các phương pháp thẩm định dự án đầu tư
Dự án đầu tư sẽ được thẩm định đầy đủ và chính xác khi có phương pháp thẩmđịnh khoa học kết hợp với các kinh nghiệm quản lý thực tiễn và nguồn thông tin đángtin cậy Việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhautrong quá trình thẩm định, tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu đối với dự án Sau đây lànhững phương pháp thẩm định thường gặp nhất
a Phương pháp so sánh các chỉ tiêu:
Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếucủa dự án được so sánh bởi các dự án đã và đang xây dựng, đang hoạt động Phươngpháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:
- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do nhà nước quyđịnh hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được
- Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệquốc gia, quốc tế
- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đang đòi hỏi
- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư…
- Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiềnlương, chi phí quản lý… của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuật chính thứchoạc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế
- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư
- Các định mức tài chính doanh nghiệp phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo hiệnhành của nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại
- Các chỉ tiêu mới phát sinh…
Trong việc sử dụng các phương pháp so sánh cần lưu ý các chỉ tiêu dùng để tiếnhành so sánh cần phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể củatừng dự án và doanh nghiệp Cần hết sức tranh thủ ý kiến của các cơ quan chuyênmôn, chuyên gia (kể cả thông tin trái ngược) Tránh khuynh hướng so sánh máy móc,cứng nhắc, dập khuôn
Trang 14- Thẩm định chi tiết: là việc xem xét một cách khách quan, khoa học, chi tiếttừng nội dung cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi, tính hiệu quả, tính hiện thựccủa dự án trên các khía cạnh pháp lý, thị trường, kỹ thuật công nghệ, môi trường, kinhtế… phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ phát triểnkinh tế xã hội của đất nước.
Trong giai đoạn thẩm định chi tiết, cần đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ý haysửa đổi bổ xung hoặc không thể chấp nhận được Khi tiến hành thẩm định chi tiết sẽphát hiện được các sai sót, kết luận rót ra từ nội dung trước có thể bác bỏ toàn bộ dự án
mà không cần đi vào thẩm định các nội dung còn lại của dự án
c Phương pháp phân tích độ nhạy:
Phương pháp này thường dùng để kiểm tra tính vững chắc về hiệu quả tài chínhcủa dự án Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có thẩyxảy ra trong tương lai đối với dự án rồi khảo sát tác động của những yếu tố đó đếnhiệu quả đầu tư và khả năng hoà vốn của dự án
Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc là tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể
ở đây, ta nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quả của dự
án để xem xét Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường hợp có nhiều bấttrắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc, có độ an toàn cao Trongtrường hợp ngược lại thì cần phải xem xét lại khả năng phát sinh bất trắc đề xuất kiếnnghị các biện pháp hữu hiệu để khắc phục hay hạn chế
d Phương pháp dự báo:
Cơ sở của phương pháp này là dùng số liệu dự báo, điều tra thống kê để kiểm tracung cầu của sản phẩm dự án trên thị trường, giá cả và chất lượng của công nghệ, thiết
bị, nguyên liệu… ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính khả thi của dự án
e Phương pháp triệt tiêu rủi ro:
Dự án là một tập hợp các yếu tố dự kiến trong tương lai, từ khi thực hiện dự ánđến khi đi vào khai thác, hoàn vốn thường rất dài, do đó có nhiều rủi ro phát sinh ngoài
ý muốn chủ quan Để đảm bảo tính vững chắc của dự án, người ta thường dự đoán một
số rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp kinh tế hoặc hành chính thích hợp, hạn chế thấpnhất các tác động của rủi ro hoặc phân tán rủi ro cho các đối tác có liên quan đến dựán
Một số loại rủi ro bắt buộc phải có biện pháp xử lý như: đấu thầu, bảo hiểm xâydựng, bảo lãnh hợp đồng Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro quen thuộc nhất làbảo lãnh của ngân hàng, bảo lãnh của doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và uy tín, thếchấp tài sản Để tránh tình trạng thế chấp tài sản nhiều lần khi vay vốn nên thành lập
Cơ quan đăng ký quốc gia về giao dịch bảo đảm
Trang 151.2.5 Một số rủi ro chủ yếu trong thẩm định dự án
Một số dự án đầu tư, từ khâu chuẩn bị đến thực hiện đầu tư đi vào sản xuất có thểxảy ra nhiều loại rủi ro khác nhau, có thể là do nguyên nhân chủ quan cũng có thể là
do nguyên nhân khách quan Việc tính toán khả năng tài chính của dự án như đã giớithiệu ở trên chỉ đúng trong trường hợp dự án không bị ảnh hưởng bởi một loại các rủi
ro có thể xảy ra Vì vậy, việc đánh giá, phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là rấtquan trọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến cũng như chủ động
có biện pháp phòng ngõa, giảm thiểu Dưới đây là một số rủi ro chủ yếu:
a Rủi ro về cơ chế chính sách:
Rủi ro này được xem là gồm tất cả những bất ổn về tài chính và chính sách củanơi hoặc địa điểm xây dựng dự án, bao gồm: các sắc thuế mới, hạn chế và chuyển tiền,quốc hữu hoá, tư hữu hoá hay các luật nghị quyết, nghị định và các chế tài khác có liênquan đến dòng tiền của dự án
Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng nhiều cách:
- Khi thẩm định dự án, phải xem xét mức độ tuân thủ của dự án (theo hồ sơ dựán), để đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh các luật và quy định hiện hành có liên quantới dự án
- Những bảo lãnh cụ thể về cung cấp ngoại hối sẽ góp phần hạn chế ảnh hưởngtiêu cực tới dự án
- Chủ đầu tư nên có những hợp đồng ưu đãi riêng quy định về vấn đề này
- Bảo hiểm tín dụng, xuất khẩu…
b Rủi ro về tiến độ xây dựng, hoàn tất:
Rủi ro này được xem là việc hoàn tất dự án không đúng thời hạn, không phù hợpvới các tiêu chuẩn và thông số thực hiện Loại rủi ro này nằm ngoài khả năng điềuchỉnh, kiểm soát của ngân hàng, tuy nhiên nó có thể giảm thiểu bằng cách đề xuất vớichủ đầu tư thực hiện các biện pháp sau:
- Lùa chọn nhà thầu xây dựng uy tín, có sức mạnh tài chính và kinh nghiệm
- Thực hiện nghiêm túc việc bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh chất lượngcông trình
- Giám sát chặt chẽ trong quá trình xây dựng
- Hỗ trợ của cấp có thẩm quyền, dự phòng về tài chính của khoa học trongtrường hợp vượt dự toán
- Quy định rõ trách nhiệm, vấn đề đền bù, giải toả mặt bằng
- Hợp đồng giá cố định hoặc chìa khoá trao tay với sự phân chia rõ ràng nghĩa
vụ của mỗi bên
Trang 16c Rủi ro thị trường, thanh toán, thu nhập:
Rủi ro này bao gồm: Thị trường không chấp nhận hoặc không đủ cầu đối với sảnphẩm, dịch vụ đầu ra của dự án; do sức Ðp cạnh tranh, giá bán sản phẩm không đủ để
bù đắp lại các khoản chi phí của dự án;…
Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:
- Nghiên cứu thị trường, đánh giá phân tích thị trường, thị phần cẩn thận
- Dự kiến cung cầu thận trọng, không nên có những dự báo quá lạc quan
- Phân tích khả năng thanh toán, thiện ý, hành vi của người tiêu dùng
- Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với bên có khả năng về tàichính
- Hỗ trợ bao tiêu sản phẩm của Chính phủ
- Khả năng linh hoạt của cơ cấu sản phẩm, dịch vụ đầu ra
d Rủi ro về nguồn cung cấp:
Đây là rủi ro khi dự án không có được nguồn nguyên liệu (đầu vào) với số lượng,
giá cả và chất lượng như dự kiến để vận hành dự án, tạo dòng tiền ổn định, đảm bảokhả năng trả nợ vốn vay để đầu tư
Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:
- Trong quá trình xem xét dự án, cán bộ thẩm định phải nghiên cứu, đánh giácẩn trọng các báo cáo về chất lượng, trữ lượng nguyên nhiên liệu vật liệu đầu vàotrong hồ sơ dự án Đưa ra những nhận định ngay từ ban đầu trong tính toán, xác địnhhiệu quả tài chính của dự án
- Nghiên cứu sự cạnh tranh giữa các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu
- Linh hoạt về thời gian và số lượng nguyên nhiên vật liệu mua vào
- Những thoả thuận với cơ chế chuyển qua tới người sử dụng cuối cùng
- Những hợp đồng cung cấp nguyên nhiên vật liệu đầu vào dài hạn với nhàcung cấp có uy tín
e Rủi ro về kỹ thuật:
Đây là những rủi ro về việc dự án không thể vận hành và bảo trì ở mức độ phùhợp với các thông số thiết kế ban đầu Loại rủi ro này, chủ đầu tư có thể giảm thiểuthông qua thực hiện một số biện pháp sau:
- Sử dụng công nghệ đã được kiểm chứng
- Bộ phận vận hành dự án phải được đào tạo tốt, có kinh nghiệm
- Có thể ký hợp đồng vận hành và bảo trì với những điều khoản khuyến khích
và phạt vi phạm rõ ràng
Trang 17- Bảo hiểm các sự kiện bất khả kháng tự nhiên như lụt lội, động đất, chiến tranh…
- Kiểm soát ngân sách và kế hoạch vận hành
- Quyền thay thế người vận hành do không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
f Rủi ro về môi trường, xã hội:
Rủi ro này thể hiện những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường vàngười dân xung quanh
Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng một số biện pháp sau:
- Báo cáo đánh giá tác động của môi trường phải khách quan và toàn diện,được cấp có thẩm quyền chấp nhận bằng văn bản
- Nên có sự tham gia của các bên liên quan như cơ quan quản lý môi trường vàchính quyền địa phương, từ khi bắt đầu triển khai dự án
- Tuân thủ các quy định về môi trường
g Rủi ro về kinh tế vĩ mô:
Đây là những rủi ro phát sinh từ môi trường kinh tế vĩ mô, bao gồm tỷ giá hốiđoái, lạm phát, lãi suất…
Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:
- Phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô cơ bản
- Sử dụng các công cụ thị trường như hoán đổi và tự bảo hiểm
- Bảo vệ trong các hợp đồng như chỉ số hoá, giá cả leo thang, bất khả kháng…
- Đảm bảo của Nhà nước về phá giá tiền tệ và cung cấp ngoại hối (nếu được) Trên đây là những nội dung căn bản trong bất cứ một quá trình thẩm định dự ánđầu tư nào Có thể nói, thẩm định dự án đầu tư là một công việc hết sức phức tạp, nóđòi hỏi phải luôn hoàn thiện qua thực tế chứ không phải chỉ dừng lại ở lý thuyết Vìvậy, việc không ngừng nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư đối vớicác ngân hàng là điều rất cần thiết để giảm thiểu rủi ro, phát huy hiệu quả hoạt độngcủa mình một cách tối đa…
Trong công tác thẩm định của Ngân hàng, việc thẩm định tài chính của dự án đầu
tư là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với bất kỳ một dự án nào Nhữngphân tích, đánh giá về mặt tài chính sẽ giúp người thẩm định tìm hiểu về dự án một cáchtoàn diện hơn, sâu rộng hơn, có được những đánh giá chính xác hơn đối với dự án đó.Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các Ngânhàng Thương mại trong phần sau để có được cái nhìn bao quát hơn về vấn đề này
1.3 CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Quy trình thẩm định dự án đầu tư tại các NHTM
Trang 18Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đánhgiá, xem xét, phân tích các chi phí và lợi Ých tài chính dự toán của dự án Lợi Ých tàichính dự toán của dự án được xem xét thông qua các dòng tiền thu và dòng tiền chi dựtoán Thông qua lợi Ých tài chính dự toán và qua các chỉ tiêu tài chính để ngân hàngquyết định cho vay hay bác bỏ cho vay Thông thường NHTM thẩm định tài chính dự
án theo quy trình sau:
Trang 19Sơ đồ 1: Quy trỡnh chung về thẩm định dự ỏn đầu tư tại cỏc NHTM
Để thực hiện được cụng tỏc thẩm định về mặt tài chớnh một cỏch chuẩn xỏc vàchặt chẽ, cú tớnh thuyết phục cao, cỏc ngõn hàng thương mại phải xỏc định được nguồnthụng tin dựng để phõn tớch Thụng tin bao gồm:
- Thụng tin hành chớnh: Nắm bắt được hiệu quả tài chớnh dự ỏn (khả năng thu,chi, trả nợ, nguồn trả…) để đưa ra cỏc kết luận tài chớnh…
- Thụng tin phi tài chớnh: Bao gồm cỏc thụng tin về tờn doanh nghiệp, vănphũng đại diện, ban giỏm đốc, số giấy phộp đăng ký, cơ cấu vốn phỏp định, tàikhoản…
Nếu thẩm định dự ỏn một cỏch nghiờm tỳc đỳng thủ tục và biện phỏp thỡ quyếtđịnh đầu tư, tài trợ hợp lý của ngõn hàng sẽ đảm bảo tăng lợi nhuận cho ngõn hàng,trỏnh rủi ro, đảm bảo hiệu quả trong đầu tư kinh doanh
1.3.2 Nội dung thẩm định tài chớnh dự ỏn đầu tư tại cỏc NHTM
a Xỏc định tổng vốn đầu tư:
Đõy là một nội dung quan trọng đầu tiờn cần xem xột khi tiến hành phõn tớch tàichớnh dự ỏn Tổng mức vốn đầu tư của dự ỏn bao gồm toàn bộ số vốn cần thiết để thiếtlập và đưa dự ỏn vào hoạt động, tớnh toỏn chớnh xỏc tổng mức vốn đầu tư cú ý nghĩarất quan trọng đối với tớnh khả thi của dự ỏn Nếu vốn đầu tư quỏ thấp thỡ dự ỏn khụng
Phân tích, dự báo
về nhu cầu thị tr ờng
Phân tích, đánh giá về nhu cầu sản xuất
Phân tích kế hoạch tài chính
Phân tích kế hoạch thu chi hàng
năm
Tính dòng tiền ra, vào hàng năm
của doanh nghiệp
Thẩm định hiệu quả tài chính
Chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu
cho vay
Trang 20thực hiện được và ngược lại, nếu dự tính quá cao thì sẽ không phản ánh chính xác hiệuquả tài chính của dự án Tổng mức vốn này được chia ra làm hai loại là vốn cố định vàvốn lưu động ban đầu (chỉ tính cho mét chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên).
Vốn cố định:
Vốn cố định bao gồm những chi phí sau đây:
- Chi phí chuẩn bị: là những chi phí trước khi thực hiện dự án (chi phí trướcvận hành) Chi phí này không trực tiếp tạo ra tài sản cố định nhưng là chi phí gián tiếphoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mụctiêu đầu tư Chi phí này bao gồm:
Chi phí cho điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án
Chi phí cho tư vấn, thiết kế, chi phí cho quản lý dự án
Chi phí đào tạo, huấn luyện…
Các chi phí này khó có thể tính toán chính xác được Bởi vậy, cần phải được xemxét đầy đủ các khoản mục để dự trù cho chính xác
- Chi phí cho xây lắp và mua sắm thiết bị: bao gồm các khoản mục sau
Chi phí chuẩn bị mặt bằng xây dựng
Giá trị nhà xưởng và kết cấu hạ tầng sẵn có
Chi phí xây dựng mới hoặc cải tạo nhà xưởng hoặc cấu trúc hạ tầng
Chi phí về máy móc thiết bị (bao gồm cả lắp đặt và chạy thử), phươngtiện vận tải
Các chi phí khác…
Vốn lưu động ban đầu:
Vốn lưu động ban đầu bao gồm các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầucho mét chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên, nhằm đảm bảo cho dù án có thể đi vàohoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật đã dự kiến Nó bao gồm:
- Vốn sản xuất: chi phí nguyên vật liệu, điện, nước, nhiên liệu, phụ tùng…
- Vốn lưu thông: sản phẩm dở dang, tồn kho, hàng hoá bán chịu, vốn bằngtiền…
Vốn dự phòng:
Tổng mức vốn đầu tư dự tính của dự án cần được xem xét theo từng giai đoạn củaquá trình thực hiện đầu tư và được xác định rõ bằng tiền Việt, ngoại tệ, bằng hiện vậthoặc bằng các tài sản khác…
b Xác định nguồn vốn, cơ cấu vốn, sự đảm bảo của nguồn vốn tài trợ cho dù
án và tiến độ bỏ vốn:
Đối với một dự án thì các nguồn tài trợ cho dù án có thể do ngân sách cấp phát,ngân hàng cho vay, góp vốn cổ phần, vốn liên doanh do các bên liên doanh góp, vốn
Trang 21tự có hoặc vốn huy động từ các nguồn khác Để đảm bảo cho tiến độ thực hiện đầu tưcủa dự án, vừa để tránh ứ đọng vốn, các nguồn tài trợ nên được xem xét không chỉ vềmặt số lượng mà còn cả về thời điểm được tài trợ Các nguồn vốn dự kiến này phảiđược đảm bảo chắc chắn, sự đảm bảo này phải có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế.Chẳng hạn nếu nguồn tài trợ này bằng văn bản sau khi các cơ quan này đã ký vào hồ
sơ thẩm định dự án Nếu là vốn góp cổ phần hoặc liên doanh phải có sù cam kết vềtiến độ và số lượng vốn góp của các cổ động hoặc các bên liên doanh được ghi trongđiều lệ liên doanh Nếu là vốn tự có thì phải có bản giải trình về tình hình hoạt độngsản xuất kinh doanh của cơ sở 3 năm trước đây và hiện tại chứng tỏ cơ sở đã, đang và
sẽ tiếp tục hoạt động có hiệu quả, có tích luỹ và do đó đảm bảo có vốn để thực hiện dựán
Tiếp đó, phải so sánh nhu cầu về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho dù án từcác nguồn về số lượng và tiến độ Nếu khả năng lớn hơn hoặc bằng nhu cầu thì dự ánđược chấp nhận Nếu khả năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm quy mô của dự án, xemxét lại khía cạnh kỹ thuật để đảm bảo tính đồng bé trong việc giảm quy mô của dự án Sau khi đã xác định được các nguồn tài trợ cho dù án thì cần xác định cơ cấunguồn vốn cho dù án Điều này có nghĩa là tính toán tỷ lệ từng nguồn chiếm trong tổngmức vốn đầu tư dự kiến Trên cơ sở nhu cầu vốn, tiến độ thực hiện của các công việcđầu tư (trong phần phân tích kỹ thuật) và cơ cấu nguồn vốn, lập tiến độ huy động vốnhàng năm đối với từng nguồn cụ thể Tiến độ huy động vốn phải tính tới lượng tiềncần thiết thực tế phải huy động hàng năm trong trường hợp có biến động giá cả hoặclạm phát
c Xác định chi phí sản xuất và giá thành:
Sau khi đã xác định được nguồn vốn cho dù án, ngân hàng tiếp tục xác định tổngchi phí sản xuất và giá thành của sản phẩm dự kiến Tổng doanh thu bao gồm cho phísản xuất và chi phí ngoài sản xuất Chi phí sản xuất bao gồm các loại chi phí vật chất,chi phí nhân công, chi phí quản lý, chi phí sử dụng vốn và khấu hao TSCĐ Chi phíngoài sản xuất bao gồm các loại như chi phí quảng cáo, chi phí dự phòng lưu thôngsản phẩm và các chi phí khác… Ngân hàng cần xác định giá thành của từng loại sảnphẩm, đánh giá các khoản mục chi phí tạo nên giá thành sản phẩm cao hay thấp, cóhợp lý hay không, so sánh với giá thành sản phẩm của các loại sản phẩm tương tự trênthị trường và từ đó rót ra những kết luận cụ thể Để tính giá thành sản phẩm cần căn cứvào tổng mức chi phí, mức chênh lệch giá, xác định được các hao hụt ngoài dự kiến đểtiến hành phân bổ cho số lượng thành phẩm một cách hợp lý Khi đó trong quá trìnhthẩm định cần chú ý tới toàn bộ chi phí để sản xuất sản phẩm, các loại khấu hao (hữuhình và vô hình), kiểm tra chi phí nhân công, phân bổ các chi phí lãi vay ngân hành,
Trang 22tính toán lại các mức thuế phải nép, tránh thừa thiếu hay áp dụng sai mức thuế.
d Xác định doanh thu và lợi nhuận của dự án:
Doanh thu của dự án là tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ thu được trong năm dựkiến Doanh thu của dự án được xác định trên cơ sở chi phí sản xuất giá bán buôn sảnphẩm dịch vụ của dự án Cần chú ý tới các chỉ tiêu tổng sản lượng, tổng doanh thu, lợinhuận trước thuế, công suất hoạt động… Doanh thu cần được xác định rõ từng nguồn
dự kiến theo năm Thông thường trong những năm đầu, hoạt động doanh thu đạt thấphơn những năm sau (50 – 60%) doanh thu khi ổn định
Lợi nhuận của dự án là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí sản xuất các sảnphẩm Lợi nhuận của dự án mà người thẩm định quan tâm bao gồm lợi nhuận gộp, lợinhuận ròng trước thuế, lợi nhuận ròng sau thuế…
e Xác định dòng tiền dự kiến NCF (Net Cash Flow):
Dòng tiền ròng của dự án được xác định theo công thức sau:
NCF = B - C Trong đó, khoản thu trong kỳ (ký hiệu là B): đã có thể là doanh thu thuần của
các năm trong kỳ, giá trị thanh lý tài sản cố định ở các thời điểm trung gian (khi cáctài sản này hêt tuổi thọ quy định) và ở cuối đời dự án
Các khoản chi trong kỳ (ký hiệu là C): nã có thể là chi phí vốn đầu tư ban đầu để
tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động ở thời điểm đầu và tạo ra tài sản cố định ở cácthời điểm trung gian, chi phí hàng năm của dự án (chi phí này không bao gồm khấuhao)…
f Tính toán chỉ tiêu chi phí sử dụng vốn của dự án:
Để tính được các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, đặc biệt là những chỉ tiêu hiệu quảtài chính có liên quan đến tỷ suất chiết khấu, ta cần tính được chi phí sử dụng vốn bìnhquân
Trong đó:
I k: là số vốn đầu tư của nguồn thứ k
r k: là lãi suất tương ứng của nguồn đó
m: là số nguồn vốn huy động được cho dù án
Tỷ suất chiết khấu r sẽ được dùng trong thẩm định tài chính dự án.
Trang 23g Xác định các chỉ tiêu phân tích tài chính dự án:
Trên thực tế có khá nhiều chỉ tiêu đánh giá dự án về mặt tài chính, song các chỉ tiêuphổ biến và cơ bản nhất thường được dùng trong thẩm định tài chính dự án gồm có:
Giá trị hiện tại của thu nhập thuần NPV (Net Present Value):
NPV là thu nhập ròng có được do thực hiện dự án tính ở thời điểm hiện tại Chỉtiêu NPV cho phép ta đánh giá được một cách đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự án Thunhập thuần của dự án là thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các khoản chi phí của cả đời
dự án Với ý nghĩa như vậy, NPV được xem như là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánhgiá và lùa chọn dự án NPV được tính theo công thức sau:
NPV = Co + PV.
Trong đó:
NPV là giá trị hiện tại ròng
C o là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, Co mang dấu âm (do là khoản đầu tư)
PV là giá trị hiện tại của các luồng tiền dự tính mà dự án mang lại trong thời
gian hữu Ých của nã
PV được tính theo công thức sau:
(1 +r) (1+r) (1+r) 2 (1+r) 3 (1+r) t
Trong đó: C t là các luồng tiền dự tính dự án mang lại ở các năm t
r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án
- Đánh giá dự án theo chỉ tiêu này đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc sau: + Chỉ chấp nhận các dự án có NPV > = 0
+ Nếu lùa chọn dự án trong một tập hợp các dự án được chọn là dự án cóNPV lớn nhất
- Chỉ tiêu NPV có các hạn chế sau:
+ Không thấy được lợi Ých thu được từ một đồng vốn đầu tư
+ Phô thuộc vào cách lùa chọn tỷ suất chiết khấu
+ Không áp dụng được trực tiếp để so sánh, lùa chọn các dự án có vòng đờihay vốn đầu tư khác nhau
Hệ số hoàn vốn nội bộ IRR (Internal Rate of Returns):
Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu đểtính chuyển các khoản thu và các khoản chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại,
Trang 24thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi, hay nói cách khác là giá trị hiện tại của thu nhậpthuần của dự án sẽ bằng không Đây là một chỉ tiêu cơ bản trong phân tích tài chính
dự án Nó cho biết mức lãi suất mà dự án có thể đạt được Dự án được lùa chọn khi
IRR da lớn hơn mức lãi suất thấp nhất có thể chấp nhận được Nó chủ yếu được tính
trên cơ sở kinh nghiệm của người chủ đầu tư hoặc ngân hàng thẩm định IRR da đượctính theo công thức:
Trong đó: B i: Luồng tiền dự kiến năm i
C i: Chi phí năm i
r : Tỷ suất chiết khấu của dự án
- Ưu điểm: Có thể tính toán được mà không cần số liệu về tỷ suất chiết khấu
- Nhược điểm: không xác định được IRR trong trường hợp dòng tiền bị biến
dạng, thay đổi nhiều lần từ (-) sang (+) hoặc ngược lại, vì có rất nhiều đáp số khácnhau
Thời gian hoàn vốn PP (Pay-back Period):
Thời gian hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi
đủ số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra Nó chính là khoảng thời gian cần thiết để hoàn trả
số vốn đầu tư ban đầu bằng các khoản lợi nhuận thuần hoặc tổng lợi nhuận thuần vàkhấu hao thu hồi hàng năm
Thời gian hoàn vốn có thể được tính theo hai cách: Thời gian hoàn vốn giảnđơn (không triết khấu) và thời gian hoàn vốn có chiết khấu
Thời gian hoàn vốn giản đơn:
Chỉ tiêu này cho phép tính toán nhanh nhưng không xét đến thời giá của đồngtiền nên không mang nhiều ý nghĩa thực tiễn
(Trong đó: T: là thời gian hoàn vốn chưa tính đến yếu tố thời gian của tiền.)
Thời gian hoàn vốn có chiết khấu:
(Trong đó: T là khoảng thời gian hoàn vốn có chiết khấu.)
- Ưu điểm: Mang tính thực tế cao, là căn cứ để ra quyết định đầu tư, giảm thiểu
Trang 25rủi ro vì dữ kiện trong những năm đầu của dự án bao giê cũng đạt độ tin cậy cao hơn.
- Nhược điểm: Không cho biết thu nhập lớn hay nhá sau kỳ hoàn vốn, trong thực
tế đây cũng là mối quan tâm lớn của nhà đầu tư Có những dự án thời gian đầu manglại thu nhập rất thấp nhưng triển vọng về lâu dài lại có thể tốt đẹp
Điểm hòa vốn của dự án (Break-Even Point):
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các khoản chiphí bỏ ra Tại điểm hoà vốn, tổng doanh thu bằng tổng chi phí, do đó tại đây dự ánchưa có lãi nhưng cũng không bị lỗ Bởi vậy, chỉ tiêu này cho biết khối lượng sảnphẩm hoặc mức doanh thu (do bán sản phẩm đó) thấp nhất cần phải đạt được của dự
án để đảm bảo bù đắp được chi phí bỏ ra Điểm hoà vốn có thể được biểu hiện bằngchỉ tiêu hiện vật (sản lượng tại điểm hoà vốn) hoặc chỉ tiêu giá trị (doanh thu tại điểmhoà vốn) Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặcdoanh thu của dự án tại điểm hoà vốn thì dự án có lãi, ngược lại nếu thấp hơn thì dự án
bị lỗ Do đó, chỉ tiêu điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an toàn của dự án càngcao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn
Số lần quay vòng của vốn lưu động:
Trong đó: O i : Doanh thu thuần bình quân năm (kỳ nghiên cứu)
W ci : Vốn lưu động bình quân năm (kỳ nghiên cứu)
Nếu L = [L]: dự án có số quay vòng vốn tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt động của dựán
L > [L]: dự án không đạt hiệu quả hoạt động, cần được sửa đổi
Trong đó [L] là số vòng quay vốn lưu động bình quân năm cho phép
Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư:
Trong đó:
W ipv : Lợi nhuận thuần thu được năm thứ i theo mặt bằng giá trị khi các
kết quả đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng
I vo : Tổng vốn đầu tư thực hiện ước tính đến thời điểm các kết quả đầu tư
bắt đầu phát huy tác dụng
Trường hợp RR i = [RR i], dù án có tỷ suất sinh lời vốn đầu tư càng lớn thì hiệu quả
tài chính dự án càng cao RR i < [RR i], dù án đầu tư không đạt hiệu quả cần được sửa
Trang 26đổi bổ sung Trong đó [RR i] là tỷ suất sinh lời vốn đầu tư cho phép.
Trên đây là một số chỉ tiêu thường được sử dụng trong phân tích, đánh giá hiệuquả tài chính dự án Tuỳ theo yêu cầu hay tình huống cụ thể mà người thẩm định còn
có thể lùa chọn rất nhiều các chỉ tiêu khác nữa nhằm đưa ra đánh giá tổng quan hơn (ví
dụ như tỷ suất sinh lời của vốn tự có, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư tính cho toàn bộcông cuộc đầu tư…)
1.3.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của NHTM
a Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư:
Như chúng ta đã biết hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Thương mại là nhậntiền gửi và cho vay, trong đó cho vay là hoạt động tạo nên lợi nhuận chủ yếu cho ngânhàng Vì vậy phương châm hoạt động an toàn hiệu quả luôn được các NHTM đặt lênhàng đầu Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay tình trạng nợ quá hạn, nợ khó đòi… đãtrở thành vấn đề bức xúc không chỉ cho mỗi ngân hàng mà còn cho toàn xã hội
Chất lượng thẩm định tài chính dự án được đánh giá thông qua việc tính toán vàxác định nhiều loại chỉ tiêu khác nhau Vì vậy, chất lượng thẩm định tài chính dự ánmuốn có được sự phản ánh trung thực, chính xác thì phải nghiên cứu rõ nội dung, ýnghĩa, nguyên tắc sử dụng, ưu điểm, nhược điểm… của các chỉ tiêu
Chất lượng là một khái niệm trừu tượng, không dễ dàng để có thể định lượngmột các chính xác Do đó, chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư cũng là mộtkhái niệm trừu tượng, không thể định lượng, tuỳ từng đối tượng, và tuỳ từng giác độkhác nhau mà chất lượng thẩm định được đánh giá khác nhau
Thẩm định dự án được coi là có chất lượng khi qua quá trình xem xét đánh giá,cũng như phân tích các dữ liệu dùa trên hồ sơ của chủ dự án trình lên, Ngân hàngThương mại có thể phát hiện ra được những điểm chưa phù hợp mà chủ đầu tư khôngphát hiện ra hay cố tình không phát hiện ra Từ đó, có thể thuyết phục chủ đầu tư có kếhoạch thay đổi dự án của mình cho phù hợp Cùng với việc đưa ra quyết định hợp lý,chính xác, ngân hàng sẽ chỉ tài trợ cho những dự án khả thi và có khả năng đảm bảo antoàn vốn tài trợ của ngân hàng
Chất lượng thẩm định dự án đầu tư là một trong những yếu tố có tính quyết địnhđối với chất lượng tín dụng Vậy, để hoạt động thẩm định tài chính dự án đạt chất lượngcao thì cần phải chú ý đến những nhân tố ảnh hưởng
b Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư:
Nhân tố chủ quan:
Trang 27Nhân tố chủ quan là những nhân tố nội tại bên trong chi phối, ảnh hưởng tới kếtquả thẩm định tài chính dự án của ngân hàng Nhân tố chủ quan bao gồm:
Nhân tố thông tin:
Thông tin là cơ sở cho phân tích đánh giá, là nguyên liệu cho quá trình tácnghiệp của cán bộ thẩm định Muốn có kết quả thẩm định chính xác cao độ thì phải cóđược thông tin, số liệu đầy đủ, chính xác trên nhiều góc độ khác nhau Để có đượcnguồn thông tin cần thiết cho dù án, ngân hàng có thể dùa vào các thông tin do chủ đầu
tư cung cấp hoặc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến vấn đềcần đánh giá và tiến hành sắp xếp thông tin, sử dụng các phương pháp xử lý thông tinmột cách thích hợp theo nội dung của quy trình thẩm định
Hiện nay để có được thông tin về khách hàng của mình không khó đối với ngânhàng nhưng làm sao để có những thông tin chính xác mới là vấn đề ngân hàng phảiquan tâm Thông thường để thuận lợi cho việc đi vay, dự án mà chủ đầu tư đưa đếnNgân hàng đều khả thi và mang tính chủ quan của người lập, các báo cáo tài chính củadoanh nghiệp đều cho thấy tình hình tài chính là lành mạnh Nếu Ngân hàng chỉ dùavào các thông tin này thì kết quả thẩm định sẽ không phản ánh đúng thực chất hiệuquả của dự án Như vậy, việc thiết lập hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác luôn đượcđặt ra như một nhu cầu cấp bách đối với công tác thẩm định dự án, thiết lập được một
hệ thống thông tin như vậy sẽ giúp cho Ngân hàng rất nhiều trong việc nâng cao chấtlượng thẩm định tài chính dự án đầu tư
Nhân tố tiêu chuẩn thẩm định:
Trên cơ sở nguồn thông tin có được về dự án, việc lùa chọn tiêu chuẩn để đánhgiá hiệu quả tài chính của dự án là điều rất quan trọng Đặc biệt, việc tính đến giá trịthời gian của tiền trong các tiêu chuẩn thẩm định là không thể thiếu được Bởi vì, trongnhiều dự án, nếu không tính đến giá trị thời gian của tiền thì dự án khả thi có hiệu quảnhưng nếu tính đến giá trị thời gian thời gian của tiền thì dự án không có hiệu quả vềmặt tài chính Bên cạnh đó, việc dự tính một tỷ lệ chiết khấu hợp lý cũng ảnh hưởngquan trọng tới các kết quả thẩm định tài chính
Ngoài ra, việc lùa chọn các chỉ tiêu phân tích tài chính phù hợp với điều kiệncủa từng dự án cũng rất quan trọng Nếu lùa chọn được các chỉ tiêu vừa đảm bảo tínhchính xác, kết hợp được mặt mạnh của các chỉ tiêu vừa phù hợp với tình hình thực tếcủa mỗi quốc gia, khu vực, mỗi dự án cũng như điều kiện cụ thể của ngân hàng thìchất lượng thẩm định tài chính dự án sẽ cao hơn
Trang 28Tuy nhiên, tất cả mọi khoa học công nghệ dù hiện đại, tiên tiến đến đâu thì cũngđều do con người phát minh, chế tạo ra Con người là khởi nguồn của mọi vấn đề, vìthế khi nhắc đến thông tin và tiêu chuẩn thẩm định là nhân tố ảnh hưởng tới chất lượngthẩm định thì không thể quên nhân tố con người.
Nhân tè con người:
Con người là nhân tố có ảnh hưởng nhất tới quyết định chất lượng thẩm định tàichính dự án Bởi lẽ con người là chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện hoạt động tàichính theo các phương pháp kỹ thuật của mình Và xoay quanh vấn đề con người thì
có rất nhiều như kiến thức chuyên môn, năng lực thẩm định, phẩm chất đạo đức củacán bộ thẩm định
Ngân hàng với tư cách là người cho vay, đồng thời là người phân tích tín dụngnên sẽ phải chịu trách nhiệm chính về chất lượng các khoản tín dụng Tuy nhiên khôngmột ngân hàng nào mong muốn đương đầu với các khoản nợ quá hạn, nợ khó đòi, vìvậy ngân hàng phải tổ chức công tác thẩm định một cách chính xác, chặt chẽ Điều đó
có nghĩa là ngân hàng phải có đội ngò cán bộ thẩm định có kiến thức sâu rộng vềnghiệp vụ, am hiểu lĩnh vực cho vay, đầu tư, và các vấn đề liên quan đến dự án, đếnhoạt động của doanh nghiệp
Tổ chức, điều hành:
Công tác thẩm định tài chính dự án được tổ chức một cách khoa học chặt chẽ sẽphát huy được sức mạnh tổng hợp, liên kết được các cá nhân, bộ phận trong toàn ngânhàng, sử dụng hợp lý có hiệu quả trang thiết bị Việc sắp xếp, phân bổ chức năng,nhiệm vụ cho mỗi cá nhân, loại bỏ được các rủi ro đạo đức và rút ngắn thời gian thẩmđịnh Nhân tố này ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng thẩm định Như vậy, tổ chứcthẩm định dự án khoa học sẽ góp phần khai thác tối đa mọi nguồn lực của ngân hàng,
từ đó nâng cao rất nhiều chất lượng thẩm định tài chính dự án
Trang thiết bị, kĩ thuật:
Các thiết bị hiện đại ngày nay đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác thẩm định tàichính dự án Sự phát triển của máy tính hiện đại và việc ứng dụng các phần mềmchuyên dụng giúp ngân hàng thu thập được thông tin và tính toán các chỉ tiêu nhanhchóng, chính xác hơn, từ đó, rút ngắn được thời gian thẩm định tài chính dự án Đồngthời chất lượng thẩm định tài chính dự án ngày càng được nâng cao hơn
Trang 29Ngoài các nhân tố trên, một số yếu tố khác của ngân hàng như chiến lược, địnhhương hoạt động, cơ chế chính sách, năng lực quản lý của ban lãnh đạo… còng ảnhhưởng lớn đến chất lượng thẩm định tài chính dự án.
xã hội, về thị trường luôn biến động phức tạp, khó lường, các rủi ro thiên tai ngân hàngkhông thể dự doán trước được mà vẫn quyết định cho vay Tất cả những lý do trên sẽảnh hưởng tới dự án, mà nghiêm trọng hơn là nó tạo ra các khoản vay quá hạn, khó đòithậm chí không thu hồi được
Nói tóm lại, để công tác thẩm định đạt được mục tiêu nó phụ thuộc rất nhiều vàocác yếu tố tác động Đó là những yếu tố thuộc về bản thân ngân hàng, thuộc về phíadoanh nghiệp, phía Nhà nước và các cơ quan, chính quyền địa phương, các ngành cáccấp
Có thể nói, Chương 1 của luận văn đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về tíndụng ngân hàng, về đầu tư cũng như công tác thẩm định dự án đầu tư trong cácNHTM Mặc dù mới chỉ dừng lại ở phương diện lý thuyết, song nội dung chương đãđóng góp một khối lượng kiến thức không nhỏ làm nền tảng để chúng ta có thể tiếp tụctìm hiểu thực trạng của công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP KiênLong
Trang 30CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG.
Trong chương 1, luận văn đã trình bày những cơ sở lý luận về công tác thẩmđịnh tài chính dự án đầu tư và tìm hiểu về quy trình chung của công tác này tại cácNHTM Từ cách nhìn khái quát đó, chương 2 của luận văn sẽ đi sâu phân tích côngtác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Kiên Long để thấy đượctầm quan trọng của công tác này đối với hoạt động tín dụng trong Ngân hàng Đâycũng là cơ sở để chúng ta có thể đánh giá được những ưu điểm và những mặt cònhạn chế trong công tác thẩm định của Kienlong Bank nói riêng và của các NHTMViệt Nam nói chung
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG VÀ CHI NHÁNH KIENLONG BANK HÀ NỘI
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kiên Long (Kienlong Bank) được thành lậptheo giấy phép hoạt động số 0056/NN -GP ngày 18/09/1995 do Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam cấp và giấy phép thành lập số 1115/GP -UB ngày 02/10/1995 do ủy bannhân dân tỉnh Kiên Giang cấp, chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 25/10/1995 tạiKiên Giang Qua 14 năm hoạt động, Kienlong Bank đã trở thành một Ngân hàngThương mại Cổ phần phát triển mạnh, bền vững và tạo niềm tin của khách hàng Từmột ngân hàng hoạt động cho vay tín dụng tại các vùng nông thôn đồng bằng sôngCửu Long với số vốn điều lệ là 1,2 tỷ đồng tại thời điểm năm 1995, đến nay Ngânhàng Kiên Long đã hoàn tất việc tăng vốn điều lệ lên 1000 tỷ đồng, điều này nói lên sự
Trang 31phát triển ổn định và bền vững của Ngân hàng Kiên Long Theo lé trình đề ra đến cuốinăm 2010, Kienlong Bank sẽ có vốn điều lệ trên 3000 tỷ đồng.
Hiện nay, Kienlong Bank đã có mạng lưới hoạt động tại các vùng trọng điểmtrong cả nước với 43 chi nhánh và phòng giao dịch Phấn đấu đến năm 2010 sẽ có 100chi nhánh và phòng giao dịch trong cả nước
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Kiên Long Hà Nội được thành lập và chính thức đivào hoạt động từ ngày 5/6/2007 theo quyết định của Hội đồng quản trị Ngân hàngKiên Long, là một trong những chi nhánh của ngân hàng hoạt động theo mô hình giaodịch một cửa với quy trình nghiệp vụ ngân hàng hiện đại và công nghệ tiên tiến theođúng mục tiêu hiện đại hóa Ngân hàng Việt Nam hiện nay
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
Thực hiện huy động và quản lý nguồn vốn ngắn hạn, trung và dài hạn thông quacác sản phẩm, dịch vụ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu, tiết kiệm…đối với các pháp nhân,các cá nhân trong nước và ngoài nước bằng tiền gửi đồng Việt Nam và ngoại tệ theoquy định của Ngân hàng Nhà nước
Tổ chức thực hiện công tác hoạch toán kế toán tại chi nhánh theo đúng chế độcủa Nhà nước
Thực hiện cho vay và quản lý các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằngtiền đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn theoquy định
Tổ chức thực hiện công tác thanh toán trong Chi nhánh, trong hệ thống KienlongBank và với các Ngân hàng khác theo đúng chế độ của NHNN và quy định của KienlongBank
Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê theo đúng quy định của NHNN
và của Kienlong Bank
Thực hiện nghiệp vô kho quỹ, chấp hành tốt các chế độ quản lý tiền tệ, kho quỹ theoquy định Bảo quản các chứng từ có giá, giấy tờ thế chấp, cầm cố…, bảo quản kho quỹ antoàn tuyệt đối Thực hiện nghiệp vụ thu chi tiền tệ ( tiền mặt, ngân phiếu thanh toán, ngoại tệ)chính xác
Thường xuyên nghiên cứu cải tiến nghiệp vụ, đề xuất các sản phẩm, dịch vụngân hàng phù hợp với địa bàn hoạt động, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào quy trìnhnghiệp vụ và quản lý ngân hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ
Trang 322.1.3 Thực trạng hoạt động của Kienlong Bank trong những năm gần đây
Có thể nói, năm 2008 được đánh giá là một năm đầy khó khăn, thử thách đối vớicác Ngân hàng Thương mại Việt Nam khi những bất ổn của nền kinh tế thế giới cũngnhư những diễn biến phức tạp của nền kinh tế - xã hội trong nước đã ảnh hưởng trựctiếp đến thị trường tài chính Vượt lên những khó khăn đó, Ngân hàng Kiên Long đãluôn chủ động và vươn lên để hoàn thành vượt mức kế hoạch do Đại hội đồng Cổđông thường niên đề ra Kết quả Ngân hàng thể hiện qua các chỉ số tăng trưởng đầy Êntượng:
Trang 33Bảng 1: Báo cáo kết quả tài chính Kienlong Bank.
( Đơn vị: n v : ị: tri u ệu đồng) đồng) ng)
(Nguồn: Phòng hành chính -tổng hợp) Nhận xét:
Thông qua bảng báo cáo kết quả tài chính của ngân hàng qua các năm, ta thấy hầuhết các chỉ số của năm 2007 đều tăng vượt trội so với năm 2006 Trong đó, tổng tàisản đạt 2.200 tỷ đồng, tăng 166% so với năm 2006 Vốn chủ sở hữu tăng gần gấp đôi,các nguồn huy động từ các tồ chức kinh tế và dân cư trong năm 2007đạt 1.528 tỷđồng Lợi nhuận trước thuế đạt 74,8 tỷ đồng, tăng 49,6 tỷ đồng so với năm 2006 Tỷ lệ
nợ xấu được kiềm chế ở mức thấp 1,27%
Bước sang năm 2008, tổng tài sản đạt 2.939 tỷ đồng, tăng 33,54% so với năm
2007 Vốn điều lệ tăng từ 580 tỷ đồng lên 1000 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế đạt 50,6
tỷ đồng, đạt 115% kế hoạch chỉ tiêu đề ra trong năm 2007
Các hoạt động huy động, tín dụng tăng trưởng năm sau luôn cao hơn so với nămtrước Huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư trong năm 2008 đạt 1.845 tỷ đồng,tăng 20,66% so với năm 2007 Trong đó, số dư tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ đạt 1.543
tỷ đồng, tăng 90,95% so với cuối tháng 12 năm 2007 và đạt 106,37% so với kế hoạch
đề ra Dư nợ tín dụng đạt 2.195 tỷ đồng, hoàn thành 115% kế hoạch năm 2008, tăng62% so với thực hiện năm 2007
Trang 34Các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác như: doanh số chuyển tiền nhanh, kinhdoanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế… đều tăng trưởng khả quan và ngày càng thu hótthêm khách hàng sử dụng các dịch vụ này Ngoài ra, Ngân hàng vẫn đảm bảo chấtlượng hoạt động nhờ việc chú trọng quản trị rủi ro, duy trì cơ cấu tín dụng an toàn vàhiệu quả, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,66%, thấp hơn mức cho phép của Ngânhàng Nhà nước.
a Công tác huy động vốn:
Tổng huy động vốn tính đến hết 31/12/2008 đạt trên 1.846 tỷ đồng, tăng 318 tỷđồng so với năm 2007 (tỷ lệ tăng là 20,74%), chiếm tỷ trọng 63% trong tổng nguồnvốn Trong đó, tiền gửi tổ chức kinh tế và dân cư đạt 1.652 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng90% trên tổng nguồn vốn
Trong huy động vốn, Ngân hàng luôn chú trọng khai thác nguồn vốn tại chỗ, bằngcác giải pháp huy động vốn hiệu quả và phù hợp với tình hình cụ thể Đồng thời Ngânhàng luôn chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ, chính vì thế mà mối quan hệ giữaNgân hàng và khách hàng ngày càng được củng cố và hoàn thiện Từ đó, nguồn vốnhuy động tiền gửi dân cư không ngừng tăng trưởng qua các năm, tốc độ tăng trưởngbình quân hàng năm trên 92% (2006 - 2008)
Biểu đồ 1: Số dư vốn huy động qua các năm (đơn vị: tỷ đồng)
(Nguồn: Phòng hành chính - tổng hợp)
b Hoạt dộng cho vay:
Tổng dư nợ cho vay tính đến 31/12/2008 đạt 2.195 tỷ đồng, tăng 843 tỷ đồng sovới năm 2007 (tỷ lệ tăng 62,41%), nâng mức tăng trưởng bình quân hàng năm (giaiđoạn 2006 - 2008) đạt trên 90% Nợ xấu luôn được kiềm chế ở tỷ lệ thấp Doanh sè
Trang 35cho vay năm 2008 đạt trên 3000 tỷ đồng (tăng 939 tỷ đồng so với năm 2007), phục vụcho nhu cầu vay vốn của trên 150 ngàn lượt hộ vay.
Với phương châm hoạt động an toàn và hiệu quả, ngoài việc mở rộng hoạt độngtín dụng, Ngân hàng Kiên Long còn chú trọng đến mở rộng đối tượng cho vay nhằm
đa dạng hóa danh mục sản phẩm tín dụng; cho vay sản xuất nông nghiệp, cho vay sảnxuất kinh doanh, cho vay phục vụ đời sống, cho vay cá nhân, doanh nghiệp, cho vayliên kết…
Biểu đồ 2: Dư nợ cho vay giai đoạn 2006 - 2008 (đơn vị: tỷ đồng)
602
1352
2195
0 500
Ngoài ra, trong quý IV năm 2008 Ngân hàng Kiên Long phát triển các sản phẩmdịch vụ mới như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối Tuy tỷ trọng thu nhập từcác loại hình dịch vụ chưa cao, nhưng tốc độ tăng trưởng thu nhập từ dịch vụ hàngnăm là khá cao (trên 40%) Điều này giúp cho Ngân hàng vừa nâng dần tỷ trọng thunhập từ dịch vụ, vừa giúp Ngân hàng có điều kiện tiếp cận với công nghệ Ngân hànghiện đại
Trang 36B ng 2: Ch tiêu m t s ho t ảng 2: Chỉ tiêu một số hoạt động dịch vụ năm 2008 ỉ tiêu một số hoạt động dịch vụ năm 2008 ột số hoạt động dịch vụ năm 2008 ố hoạt động dịch vụ năm 2008 ạt động dịch vụ năm 2008 đột số hoạt động dịch vụ năm 2008 ng d ch v n m 2008 ịch vụ năm 2008 ụ năm 2008 ăm 2008.
2 Chi trả kiều hối 3 triệu USD
3 Thu đổi ngoại tệ 6,4 triệu USD
4 Thanh toán thẻ, séc 0,035 triệu USD
(Nguồn: Phòng hành chính -tổng hợp) Nhận xét chung:
Với vị thế là một Ngân hàng TMCP mới mở rộng hoạt động ra khu vực đô thịnên Kienlong Bank luôn ý thức tốt trong việc đảm bảo mức độ an toàn của nguồn vốn,điều này thể hiện rõ khi Ngân hàng được xếp vào nhóm có mức độ an toàn vốn khá doduy trì một tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao trong tổng nguồn vốn Đồng thời, việc các NHTMlớn thắt chặt tín dụng cũng là cơ hội để Kienlong Bank đạt mức tăng trưởng tín dụngkhá cao trong năm 2008 (tăng 62%) Tuy nhiên, xét về quy mô tài sản và thị phần huyđộng thì lại khá khiêm tốn Bên cạnh đó, công tác quản trị điều hành và thu thập cácnguồn thông tin còn yếu kém nên đã khiến Ngân hàng gặp không Ýt khó khăn trongviệc cạnh tranh với các NH TMCP đã có thương hiệu (như: Ngân hàng ACB,Techcombank, Sacombank,…) và các NHTM quốc doanh
Hiện nay, Kienlong Bank vẫn còn nằm trong nhóm các NHTM phải có kế hoạchtăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng vào cuối năm 2010 Do đó áp lực hoàn thành chỉ tiêu
đề ra là rất lớn, đặc biệt là trong thời kì kinh tế đang trên đà suy thoái như hiện nay Nhìn chung, bên cạnh những cố gắng thì thực tế Kienlong Bank vẫn còn là mộtngân hàng nhỏ, chưa thực sự có thương hiệu trên thị trường Sản phẩm dịch vụ củangân hàng còn kém đa dạng và nguồn thu nhập chính phụ thuộc đến 90% vào hoạtđộng tín dụng…Do vậy, để có thể cạnh tranh với các NHTM lớn thì Kienlong Bankcần phải có một chiến lược phát triển hợp lý với những mục tiêu cụ thể, mà trước mắt
là phải hoàn thành chỉ tiêu tăng vốn điều lệ của Ngân hàng Nhà Nước
2.2 THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG
2.2.1 Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án tại Kienlong Bank
2.2.1.1 Những căn cứ để tiến hành công tác thẩm định
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào thì điều quan trọng là phải xác định được
cơ sở để tiến hành hoạt động đó là gì? đối với hoạt động thẩm định của ngân hàng
Trang 37cũng vậy, khi thẩm định cán bộ thẩm định thường phân tích dùa trên những căn cứ từ
hồ sơ xin vay mà chủ dự án gửi lên ngân hàng, hồ sơ xin vay bao gồm:
- Luận chứng kinh tế kỹ thuật
- Các báo cáo tài chính
- Các tài liệu khác có liên quan…
Dùa vào thông tin từ nguồn trên cộng với những thông tin mà ngân hàng khaithác được, cán bộ thẩm định tiến hành kiểm tra toàn bộ các thông tin mà chủ đầu tưcung cấp (bao gồm các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hìnhtài chính, thông tin về dự án, các yếu tố đảm bảo tiền vay) xem có hợp lý và đáng tincậy hay không
2.2.1.2 Quy trình thẩm định tín dụng của Kienlong Bank
Sơ đồ 2: Quy trình thẩm định tín dụng tại chi nhánh.
Trang 38Trách nhiệm Bước Quá trình Chứng từ/ tài liệu liên quan
- Giấy giới thiệu xác minh ( BM hiện hành)
- CMND hoặc thẻ nhân viên
- Biên bản họp Ban Tín dụng Chi nhánh
- Quy trình tái thẩm định doanh nghiệp tại phòng tín dụng
- Phiếu kiểm tra hồ sơ tín dụng (BM.TĐ.06)
- Thông báo kết quả cấp tín dụng (BM.TĐ.07)
Trang 39- Nguồn khách hàng từ tiếp thị.
- Nguồn khách hàng tự đến Ngân hàng
Bước 2: Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ khách hàng
- Phỏng vấn sơ bộ về các nhu cầu khách hàng: mục đích, phương án kinhdoanh, dự án đầu tư, tài sản đảm bảo,…
- Thu thập các thông tin về khách hàng: tên, điện thoại, địa chỉ, các chứng từthể hiện nhu cầu,…
- Tư vấn, hướng dẫn khách hàng chuẩn bị các chứng từ cần cung cấp cho ngânhàng theo danh mục (BM.TĐ.01)
- Biên nhận danh mục hồ sơ khách hàng (BM.TĐ.02)
- Nhập thông tin khách hàng vào bảng theo dõi hồ sơ khách hàng (BM.TĐ.03)
Bước 3: Phân công hồ sơ cho nhân viên tín dụng
- Trên cơ sở cân đối hồ sơ nhân viên tín dụng đang quản lý, giải quyết, nhucầu của khách hàng và năng lực của nhân viên tín dụng Trưởng phòng dịch vụ kháchhàng sẽ phân công hồ sơ cho phù hợp, nhân viên tín dụng ký nhận hồ sơ tín dụng trên
sổ giao nhận hồ sơ tín dụng
Bước 4: Đánh giá sơ bộ xác minh thực tế khách hàng
- Dùa vào các chứng từ khách hàng cung cấp, nhân viên tín dụng đánh giá sơ
bộ về tính pháp lý, tình hình kinh doanh, tình hình tài chính, nhu cầu của khách hàng,tài sản đảm bảo, quá trình giao dịch của khách hàng tại Kienlongbank và các tổ chứctín dụng khác( nếu có) để chuẩn bị các nội dung làm việc với khách hàng cho phù hợp
- Liên hệ, xác lập các cuộc hẹn với khách hàng và đề nghị khách hàng chuẩn
bị các chứng từ cần bổ sung
- Xác minh thực tế:
Tính pháp lý
Tình hình hoạt động, quy mô, tình hình kho bãi, tình trạng máy móc thiết
bị, cơ cấu tổ chức quản lý,…
Đánh giá nhu cầu cấp tín dụng của khách hàng
Tài sản đảm bảo
Xác minh mối quan hệ của khách hàng với khách hàng khác đang quan hệvới ngân hàng để qua đó xác minh nhóm các khách hàng có liên quan theo qui địnhcủa Ngân hàng Nhà nước
Bước 5: Tổng hợp thông tin khách hàng
- Kiểm tra, rà soát và thu thập đầy đủ các chứng từ pháp lý, tình hình hoạtđộng, tài chính, phương án kinh doanh, dự án đầu tư, tài sản đảm bảo của khách hàng
- Tham khảo thông tin về sản phẩm, thị trường, dự báo của thị trường về sảnphẩm kinh doanh của khách hàng và các đơn vị cạnh tranh của khách hàng
Trang 40- Đánh giá tình hình quan hệ, dư nợ, tài sản đảm bảo cảu khách hàng tại các tổchức tín dụng khác và Kienlong Bank (nếu có).
- Chấm điểm tín dụng tự động
- Đưa toàn bộ các thông tin thu thập qua công tác xác minh thực tế và cácthông tin vào tờ trình thẩm định
Bước 6: Nhận xét, đề xuất:
- Các rủi ro khi cấp tín dụng và các nhận xét khác (nếu có)
- ý kiến đề xuất cụ thể, rõ ràng: Hình thức cấp tín dụng, số tiền, thời hạn, phân
kỳ trả nợ…
- Các đề xuất khác để hạn chế rủi ro khi cấp tín dụng
- Trong trường hợp việc đề xuất không phù hợp với các quy định, quy chế hiệnhành, nhân viên tín dụng phải nêu rõ lý do đề xuất cấp tín dụng vượt các quy định, quychế hiện hành
Bước 7: Tham mưu:
- Trưởng phòng dịch vụ khách hàng xem xét tờ trình thẩm định của nhân viêntín dụng Trên cơ sở đó, trưởng phòng dịch vụ khách hàng đề xuất các ý kiến thammưu lên các cấp có thẩm quyền
Bước 8: Phê duyệt và đề xuất:
- Nếu mức cấp tín dụng thuộc thẩm quyền của Giám đốc/Ban tín dụng chinhánh thì họ sẽ xem xét tờ trình thẩm định, ý kiến đề xuất của nhân viên tín dụng, ýkiến tham mưu của trưởng phòng dịch vụ khách hàng và ra quyết định cấp tín dụnghoặc không cấp tín dụng theo thẩm quyền
- Nếu mức cấp tín dụng vượt thẩm quyền của Giám đốc/Ban tín dụng chinhánh thì họ sẽ xem xét tờ trình thẩm định, ý kiến đề xuất của nhân viên tín dụng, ýkiến tham mưu của trưởng phòng dịch vụ khách hàng và đề xuất ý kiến cấp tín dụnglên Ban Tổng Giám đốc (Hồ sơ chuyển về hội sở qua quy trình tái thẩm định doanhnghiệp tại Phòng tín dụng)
Bước 9: Kiểm soát lại hồ sơ và thông báo cho khách hàng:
- Sau khi có ý kiến phê duyệt của cấp có thẩm quyền, Phòng dịch vụ kháchhàng chuyển toàn bộ hồ sơ sang Phòng quản lý tín dụng để kiểm soát lại hồ sơ tíndụng, lập phiếu kiểm tra hồ sơ tín dụng (BM.TĐ.06) và lập thông báo trình Ban Giámđốc chi nhánh, phát hành thông báo về việc cấp phát tín dụng cho khách hàng(BM.TĐ.07)
B ng 3: H s l u ảng 2: Chỉ tiêu một số hoạt động dịch vụ năm 2008 ồ sơ lưu ơ lưu ưu.