- Các rủi ro bảo hiểm riêng rủi ro loại trừ tương đối: là những rủi roloại trừ tương đối với các điều kiện bảo hiểm tiêu chuẩn, nếu muốnđược bảo hiểm thì phải mua riêng: Rủi ro chiến
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa ngành ngoại thương của nước takhông ngừng mở rộng và phát triển với sự giao lưu, hợp tác buôn bán với cácnước trong và ngoài khu vực Hoạt động xuất nhập khẩu đóng góp một phầnkhông nhỏ trong sự phát triển của nền kinh tế Có vị trí như một chiếc cầu nốiđất liền với các quần đảo lớn nhỏ ở Đông Nam Á, Việt Nam giữ vai trò là
“cửa ngừ” trong giao lưu buôn bán quốc tế bằng đường biển Hơn nữa ngànhHàng hải Việt Nam ngày càng đạt được những bước tiến khả quan, tạo ra chonghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển một thị trường tiềm năng dồi dào Hiện nay,trên thị trường bảo hiểm Việt Nam có khá nhiều doanh nghiệp kinh doanh sảnphẩm bảo hiểm thân tàu biển Tuy nhiên, tại Công ty cổ phần bảo hiểmPetrolimex, bảo hiểm thân tàu biển đã, đang và sẽ trở thành một nghiệp vụchủ yếu Nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm tàu biển,trong thời gian ngắn thực tập tại tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex,
em đã tìm hiểu, nghiên cứu và lựa chọn đề tài:" Giải pháp nhằm tăng cường công tác khai thác bảo hiểm thân tàu Biển tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh sách các từ viếttắt và phụ lục, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về Bảo hiểm thân tầu và khai thác bảo
hiểm thân tàu biển;
Chương 2: Thực trạng khai thác BH thân tàu biển tại công ty cổ phần
BH PJICO giai đoạn 2008 – 2011;
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công tác khai thác bảo hiểm thân
tàu biển tại công ty cổ phần BH PJICO
Trong thời gian thực tập tại phòng bảo hiểm tàu thủy – Công ty cổ phầnbảo hiểm Petrolimex, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ
Trang 2nhân viên trong công ty và sự hướng dẫn chỉ bảo nhiệt tình của cô giáo ThsĐoàn Thu Hương Qua đây, em xin chân thành cảm ơn cô giáo cựng cỏc cán
bộ nhân viên trong công ty, đặc biệt là các cán bộ nhân viên phòng bảo hiểmtàu thủy đã tạo điều kiện để giúp em hoàn thành bài luận văn này
Do thời gian thực tập tại công ty không nhiều, đồng thời bản thõn còn hạnchế trong lý luận cũng như kinh nghiệm thực tế nên luận văn không tránhkhỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cácthầy cô và các cán bộ nhân viên Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex để luậnvăn được hoàn thiện hơn
Trang 3Chương 1:
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU VÀ KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN.
1.1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN.
1.1.1 Các loại tàu biển
Theo điều 11, Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005, tài biển được địnhnghĩa là tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác, chuyên dùng hoạt động trên biển.Tàu biển theo quy định của bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàucông vụ và tàu cá
Tàu biển được phân loại theo khá nhiều tiêu thức như: phạm vi hoạt độngvật liệu đóng tàu, trọng tải tàu, thiết bị đẩy tàu hay tớnh chuyờn biệt của tàu Sau đây sẽ đề cập đến việc phân loại tàu theo phạm vi hoạt động
Theo phạm vi hoạt động, tàu biển bao gồm 4 loại (Quy phạm phân cấp vàđóng tàu biển vỏ thép TCVN 6259-1: 1997)
- Tàu hoạt động ở vùng biển không hạn chế là tàu có khả nănghoạt động ở tất cả các vùng biển thông thường trên thế giới
- Tàu hoạt động ở vùng biển hạn chế I là tàu có khả năng hoạtđộng ở vùng biển hở hạn chế cách xa bờ hoặc nơi trú ẩn khôngquá 200 hải lý với chiều cao súng khụng lớn hơn 8,5m
- Tàu hoạt động ở vùng biển hạn chế II là tàu có khả năng hoạtđộng ở vùng ven biển hạn chế cách xa bờ hoặc nơi trú ẩn khôngquá 500 hải lý với chiều cao song không lớn hơn 6m
- Tàu hoạt động ở vùng biển hạn chế III là tàu có khă năng hoạtđộng ở vùng ven biển hạn chế cách xa bờ hoặc nơi trú ẩn khôngquá 20 hải lý với chiều cao sóng không lớn hơn 3,0m
Trang 41.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm thân tàu.
Bất cứ quốc gia nào muốn thúc đẩy và phát triển kinh tế đều phải có hệthống giao thông thông suốt Hệ thống giao thông của mỗi nước được đánhgiá trên cả ba lĩnh vực: đường thủy, đường bộ và đương không Có thểkhẳng định rằng hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống giao thôngđường thủy và sự phát triển hay không lại phụ thuộc vào điều kiện hoàncảnh của mỗi nước Một trong những điều kiện không thể thiếu khi muốnphát triển giao thông đường thủy là phải có một đội tàu chuyên dùng Lợiích của giao thông đường thủy mà trực tiếp là từ các đội tàu mang lại chocác quốc gia nguồn lợi lớn trong kinh tế quốc phòng v.v… Có thể thấyrằng tàu biển là một phương tiện vận tải quan trọng trong hệ thống giaothông vận tải và là 1 nhân tố khó có thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân.Bởi vì vậy, vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều ưu điểm:
- Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hóa với khối lượng lớn
mà các phương tiện vận tải khác không thể đảm nhận được, chẳng hạnnhư các loại hàng húa siờu trường, siêu trọng
- Việc xây dựng và bảo quản các tuyến đường biển dựa vào cơ sở lợidụng điều kiện tự nhiên của biển, do đó không phải đầu tư nhiều về vốn
và sức lao động Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giáthành vận chuyển bằng đường biển thấp hơn so với các phương tiệnkhác
- Vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển tốt mỗi quan hệ kinh
tế các nước, thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của Nhà nước, gópphần tăng thu ngoại tệ
Trang 5Vì vậy, hoạt động vận chuyển bằng đường biển ngày càng phát triển mạnh
mẽ Tuy nhiên cũng có một số nhược điểm sau:
- Vận chuyển đường biển gặp rất nhiều rủi ro do yếu tố tự nhiên, yếu tố
kĩ thuật, yếu tố con người;
Do yếu tố tự nhiên: Vận chuyển đường biển phụ thuộc rất nhiều
vào điều kiện tự nhiên Thời tiết, khí hậu trên biển ảnh hưởngtrực tiếp đến quá trình vận chuyển bằng đường biển Những rủi
ro do thiên tai bất ngờ như bão, sóng thần, lốc xoáy có thể xảy rabất cứ lúc nào Yếu tố tự nhiên xảy ra không tuân theo bất cứ quyluật nhất định nào Vì vậy, mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càngphát triển và có thể dự báo trước được nhưng rủi ro vẫn có thểxảy ra
Do yếu tố kĩ thuật: Trong hoạt động của mình con người ngày
càng sử dụng nhiều hơn các phương tiện khoa học kĩ thuật hiệnđại Nhưng dù máy móc hiện đại, chính xác đến đâu cũng khôngtránh khỏi trục trặc về kĩ thuật về tàu, kĩ thuật dự báo thời tiết,các tín hiệu điều khiển từ đất liền Từ đó gây ra những tổn thấtcho tàu trong quá trình vận chuyển
Do yếu tố con người: Tàu có thể bị mất trộm, hoặc bị cướp trong
Trang 6Đội tàu biển của Việt Nam tuy không lớn nhưng lại nhỏ bé, cũ, độ tuổicủa các tàu lớn nên khả năng gặp tai nạn, rủi ro là rất lớn, và những vụ tổnthất đó cũng gây ra không ít khó khăn cho các chủ tàu.
Để giỳp cỏc tàu ổn định kinh tế khi không may gặp rủi ro Để tạo cho cácchủ tàu khôi phục và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần thúcđẩy nền kinh tế phát triển và mở rộng quan hệ kinh tế với các nước, góp phầntăng thu nhập cho ngân sách, tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế, hoạt động bảohiểm thân tàu đã ra đời khá sớm Tuy nhiờn mói đến năm 1888 luật bảo hiểmthân tàu biển mới chính thức đi vào cuộc sống Đây là bộ luật bảo hiểm đầutiờn tại London, viết tắt là ITC (Institute Time Clause)
Để hạn chế bớt những nguy cơ có thể xảy ra chớnh cỏc nhà bảo hiểm lạibắt tay vào công cuộc tìm kiếm những phương án tối ưu nhất cho việc đềphòng và hạn chế tổn thất Các tuyến đường biển được nâng cấp, các hướngdẫn chỉ đường, các công trình vì sự an toàn đường biển chính là biện pháphữu hiệu nhất trong đề phòng và hạn chế tổn thất Lợi ích của các cá nhân,từng đơn vị riêng lẻ giờ đây đã mang lại lợi ích cả Xã Hội, cộng đồng Haophí xã hội vì thế được tối thiểu hóa Không chỉ ngăn chặn hay bảo hiểm chonhững tổn thất do thiên tai gây ra, bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểmthân tàu nói riêng còn bảo vệ an toàn cho hành trình của các con tàu trướcnguy cơ đe dọa từ chính con người ( cướp biển, manh nha của thủy thủđoàn )
1.1.3 Rủi ro và tổn thất trong hoạt động hàng hải.
1.1.3.1 Rủi ro hàng hải
- Rủi ro là “khả năng có thể xảy ra một điều gì đú” Trong ngành bảohiểm, rủi ro được hiểu là “khả năng xảy ra một hậu quả xấu từ một sựviệc nhất định”
Trang 7- Rủi ro hàng hải là những rủi ro xảy ra trên biển, của biển, liên quan đếnmột hành trình hàng hải.
Theo lịch sử phát triển của bảo hiểm hàng hải, ban đầu NBH chỉ nhận bảohiểm cho các rủi ro hiểm họa chớnh là: chìm đắm, mắc cạn, đâm va, cháy.Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và các đội tàu có nhiều rủi rophát sinh.Để thu hút khách hàng, NBH ngày càng nhận bảo hiểm thêm chonhiều rủi ro
a) Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro gồm có:
- Thiên tai: là những hiện tượng thiên nhiên gây ra mà con người khôngchi phối được như: bão, lốc, sét đánh, núi lửa phun, biển động, độngđất…
- Tai nạn bất ngờ trên biển: là những tai nạn xảy ra đối với con tàu ởngoài biển mà không lường trước được như: Mắc cạn, chìm đắm, cháy
nổ, hỏa hoạn, mất tích, đâm va với tàu hoặc một vật thể cố định hay diđộng khác không phải là nước…
- Rủi ro do các hành động riêng lẻ của con người như: Chiến tranh, nộichiến, khủng bố hay các hành động vì mục đích chính trị…
- Rủi ro do các nguyên nhân khác, thường là các rủi ro phụ như rủi ro ônhiếm…
b) Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm gồm có:
- Các rủi ro thông thường được bảo hiểm: Là các rủi ro được bảo hiểmmột cách bình thường theo những điều kiện bảo hiểm gốc
Rủi ro chính: là rủi ro thường xuyên xảy ra và phải được bảo hiểm
trong mọi điều kiện bảo hiểm:
Rủi ro mắc cạn (stranding): là hiện tượng tàu đi vào chỗ nướcnông, đáy tàu chạm đáy tàu chạm với đáy biển hoặc nằm trên
Trang 8một chướng ngại vật khác làm cho hành trình của tàu bị giánđoạn và muốn thoát được phải nhờ đến ngoại lực; rủi ro mắc cạnbao gồm cả rủi ro mắc kẹt.
Rủi ro chìm đăm (sinking): là hiện tượng tàu hoặc phương tiệnvận chuyển bị chìm hẳn xuống nước, đáy tàu chạm với đáy biểnlàm cho hành trình bị hủy bỏ
Rủi ro cháy ( Fire): là hiện tượng ô xy hóa hàng hóa hay vật thểkhác trên tàu do có tỏa nhiệt lượng cao:
+) Cháy bình thường: do nguyên nhân từ bên ngoài hay donhững nguyên nhân khách quan như thiên tai, sơ suất của ngườikhông phải của người được bảo hiểm, buộc phải thiêu hủy đểtránh bị địch bắt hoặc tránh lây lan dịch bệnh…
+) Cháy nội tỳ: do bản thân hàng hóa tự bốc cháy mà ngườibảo hiểm chứng minh được là do quá trình bốc xếp hàng hóa lêntàu không thích hợp hoặc do bản chất tự nhiên của hàng hóa Công ty bảo hiểm chỉ bồi thường cháy bình thường
Rủi ro đâm va (Collision): là hiện tượng phương tiện vận chuyểnđâm hoặc va với bất kỳ vật nào ở bên ngoài trừ nước (bao gồm
cả nước đá)
Rủi ro vất hoặc ném xuống biển (Jettision): là hành động vất mộtphần hàng hóa hoặc trang thiết bị của tàu xuống biển nhằm mụcđích cứu tàu và hành trình của tàu
Rủi ro mất tích (missing): là trường hợp tàu không đến đượccảng như quy định của hợp đồng và sau một khoảng thời giannhất định kể từ ngày hành trình bị mất tin tức về tàu và hàng hóatrên tàu
Trang 9+) Pháp: 6 tháng đối với hành trình ngắn và 12 tháng đối vớihành trình dài.
+) Anh và các nước theo luật Anh: thời gian tuyên bố tàu mấttích bằng 3 lần hành trình nhưng không nhỏ hơn 2 tháng vàkhông lớn hơn 6 tháng
+) Việt Nam: thời gian tuyên bố tàu mất tích bằng 3 lần hànhtrình của tàu nhưng không nhỏ hơn 3 tháng
Các rủi ro phụ: là những rủi ro ít xảy ra, chỉ được bảo hiểm trong
các điều kiện bảo hiểm rộng nhất: rách, vỡ, gỉ, bẹp, cong, vênh, hấphơi, mất mựi, lõy bẩn, lây bệnh, va đập vào các hàng hóa khác,hành vi ác ý, trộm cắp, cướp, nước mưa, móc cẩu…
- Các rủi ro bảo hiểm riêng ( rủi ro loại trừ tương đối): là những rủi roloại trừ tương đối với các điều kiện bảo hiểm tiêu chuẩn, nếu muốnđược bảo hiểm thì phải mua riêng:
Rủi ro chiến tranh (War Risk- WA)
Rủi ro đình công (SRCC- strike, riots & civil commodition)
- Rủi ro loại trừ (loại trừ tuyệt đối): là những rủi ro không được bảo hiểmvới bảo hiểm hàng hải trong mọi trường hợp:
Buôn lậu (Contraband)
Lỗi của người được bảo hiểm (Insured’s fault)
Tàu không đủ khả năng đi biển (Unseaworthiness)
Tàu đi chệch hướng (deviation)
Nội tỳ (Inherent Vice)
Ẩn tỳ (Latent Defect)
Mất khả năng tài chính của chủ tàu
Trang 101.1.3.2 Tổn thất
Tổn thất trong bảo hiểm thân tàu biển là những thiệt hại, hư hỏng của contàu được bảo hiểm do rủi ro gây ra
Theo các điều kiện bảo hiểm, tổn thất tàu biển bao gồm các loại sau đây:
Một là, tổn thất toàn bộ Gồm có 2 loại: tổn thất toàn bộ thực tế và tổn thất
+ Tổn thất toàn bộ thực tế là không thể tránh khỏi, hoặc
+ NĐBH bị tước quyền sở hữu con tàu và giá trị ước tính để lấy lại
sẽ vượt quá giá trị của nó khi thu hồi, hoặc
+ Tàu bị tổn thất và giá trị ước tính sửa chữa sẽ vượt quá giá trị của
nó khi sửa chữa
Nếu NBH chấp nhận thông báo từ bỏ tàu của NĐBH có nghĩa là họ chấpnhận TNBH và chính thức chấp nhận xác tàu và trách nhiệm liên quan Sốtiền bồi thường tổn thất toàn bộ ước tính cũng như trường hợp tổn thất toàn
bộ thực tế Trường hợp NBH chưa chính thức chấp nhận thông báo từ bỏ, mọibiện pháp mà họ thực hiện nhằm phòng ngừa, hạn chế tổn thất đều khôngđược coi là dấu hiện chấp nhận từ bỏ
Hai là, tổn thất bộ phận Tổn thất bộ phận về tàu được xét bồi thường
trong trường hợp:
Trang 11- Chi phí đã sửa chữa như: chi phí sửa chữa, chi phí điều tàu, chi phí đàcạn, chi phí thay mới, chi phí công tác vỏ tàu.
- Hư hại chưa sửa chữa (số giảm giá trị hợp lý trị giá thị trường của tàu khiĐBH kết thúc do những tổn hại chưa sửa chữa gây ra)
Ba là, tổn thất chung.
- Dạng hậu quả do hành động tổn thất chung gây ra, là sự hy sinh quyềnlợi của một số ít nhằm đem lại an toàn cho tất cả các quyền lợi có mặttrên hành trình Tổn thất chung được xác định theo 4 nguyên tắc:
+ Phải có nguy cơ đe dọa thực sự cho toàn bộ cuộc hành trình;
+ Phải do hành động hy sinh tự nguyện, cố ý, có dụng ý của người trêntàu
+ Sự hy sinh tài sản và các chi phí bỏ ra phải hợp lý
+ Hành động tổn thất chung phải đem lại an toàn cho tàu và hàng
Ví dụ như: sự hy sinh tổn thất chung của tàu, tiền đóng góp tổn thất chung,chi phí cứu hộ, tiền đóng góp chi phí cứu hộ
Bốn là, các chi phí như chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất; chi phí tố
tụng, khiếu nại, chi phí cứu hộ tàu và tài sản khác…
1.1.4 Nội dung cơ bản của bảo hiểm thân tàu biển.
1.1.4.1 Đối tượng bảo hiểm
Bảo hiểm thân tàu biển có đối tượng bảo hiểm là toàn bộ con tàu bao gồm
vỏ tàu, máy móc, trang thiết bị trên tàu có liên quan đến hoạt động của contàu Như vậy, thực chất bảo hiểm thân tàu biển là bảo hiểm giá trị con tàu đó,bao gồm giá trị vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị
Do đặc điểm hoạt động của tàu biển nên trong bản kê khai hợp đồng bảohiểm thân tàu biển, chủ tàu cần kê khai chi tiết cho các mục:
Trang 12- Tên tàu - Tổng dung tích và trọng tải
Đồng thời chủ tàu phải đảm bảo ba điều kiện quy định:
- Tàu đủ khả năng đi biển,
- Quốc tịch tàu không thay đổi suốt thời gian bảo hiểm,
- Hành trình con tàu phải hợp pháp
Những quy định này phải được giải thích rõ ràng và chủ tàu phải tuân thủđúng quy định Những quy định này có liên quan tơi phạm vi bảo hiểm
Ngoài ra có thể mở rộng để bảo hiểm cho cả phần cước phí, tiền cước thuêtàu, phí tổn điều hành, lời lãi hoặc gia tăng giá trị thân tàu…
1.1.4.2 Các điều khoản và quy tắc bảo hiểm thân tàu biển
Theo Bộ điều khoản bảo hiểm thân tàu do Học hội bảo hiểm Londonsoạn thảo, HĐBH thân tàu biển có thể ký theo một trong những điềukhoản dưới đây:
Một là, điều khoản bảo hiểm thời hạn thân tàu (Institute Time Clause
Hulls - ITC) ITC đầu tiên ra đời vào năm 1888 và đã trải qua 3 lấn sửa đổi,
bổ sung: ITC 1970, ITC 1983, ITC 1995
Hai là, điều khoản bảo hiểm bảo hiểm tiêu chuẩn về tổn thất toàn bộ ITC
– ILO (ITC - Total Loss Only) 01/11/1995;
Ba là, điều khoản bảo hiểm loại trừ tuyệt đối tổn thất bộ phận FOD (Free
of Damage Absolutely);
Trang 13Bốn là, điều khoản bảo hiểm miễn tổn thất riêng FPA (Free from
Particular Average);
Năm là, điều khoản bảo hiểm loại trừ tuyệt đối tổn thất riêng về chuyến
IVC - FPA (Institute Voyage Clause - FPA Absolutely);
Sáu là, điều khoản bảo hiểm rủi ro đóng tàu (Institute Clause for
builder’s risks) 01/ 06/1988;
Bảy là, điều khoản bảo hiểm chiến tranh và đình công (Institute war and
strikes clauses) 01/11/1995;
Tám là, điều khoản bảo hiểm giá trị gia tăng thân tàu;
Chín là, điều khoản bảo hiểm rủi ro ở cảng (Port Risks)
Đối với các tàu hoạt động trong phạm vi vùng biển Việt Nam, quy tắcbảo hiểm đang được áp dụng là “Quy tắc bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm rủi rochiến tranh đối với tàu thuyền hoạt động trong vùng thủy nội địa và vùng biểnViệt Nam”
1.1.4.3 Phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm
Trong các điều khoản bảo hiểm kể trên, điều khoản bảo hiểm thời hạnthân tàu ITC 01/11/1995 là điều khoản được sử dụng phổ biến nhất trong bảohiểm thân tàu biển Mặt khác, ITC 01/11/1995 còn là điều khoản quan trọngchi phối nội dung của nhiều điều khoản thân tàu khỏc Vỡ vậy, nội dung sauđây xin đề cập đến phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm của điều khoản bảohiểm thời hạn thân tàu ITC 01/11/1995
Theo ITC 01/11/1995, những tổn thất, thiệt hại xảy ra cho đối tượng bảohiểm thuộc trách nhiệm của NBH bao gồm:
Tổn thất, thiệt hại của đối tượng bảo hiểm gây ra bởi:
Trang 14 Hiểm họa của biển, sông, hồ hoặc các vùng nước có thể hoạt độngđược bao gồm các sự cố bất ngờ như: chìm đắm, lật, mắc cạn, đâm
va với bất kỳ vật thể gì không kể nước;
Hỏa hoạn, nổ;
Cướp bạo động bởi những người ngoài tàu;
Vứt bỏ xuống biển (vứt bỏ bộ phận hoặc đồ dự trữ của tàu xuốngbiển khi có nguy hiểm đe dọa được bảo hiểm không phụ thuộc vàoviệc vứt bỏ này có được tính vào tổn thất chung hay không);
Cướp biển;
Va chạm với phương tiện chuyên chở bộ, trang bị hay thiết bị bếncảng;
Động đất, núi lửa phun, sét đánh;
Tai nạn khi bốc dỡ hoặc dịch chuyển hàng hóa, nhiên liệu
Tổn thất, thiệt hại của đối tượng bảo hiờm gõy ra bởi cỏc nguyờn nhân sau đây trừ khi do thiếu mẫn cán hợp lý củả NĐBH hoặc người quản lý của họ
Nổ nồ hơi, gãy trục cơ hoặc ẩn tì trong máy móc, thân tàu Thiệthại của phòng máy và các phần khác của tàu do nổ nồi hơi đượcbảo hiểm bất kể nổ nồi hơi do nguyên nhân gì;
Bất cẩn của thuyền trưởng, sỹ quan, thủy thủ hay hoa tiêu;
Bất cẩn của người sửa chữa (dù việc sửa chữa ấy có thuộc tráchnhiệm bảo hiểm hay không), người thuê tàu với điều kiện nhữngngười này không phải NĐBH;
Manh động của thuyền trưởng, sỹ quan, thủy thủ (trừ khi hànhđộng này được thực hiện bởi những người khủng bố);
Va chạm với máy bay, máy bay trực thăng, các vật tương tự haycác vật rơi ra từ đó
Trang 15 Tổn thất, thiệt hại của đối tượng bảo hiểm gây ra từ quyết định của nhà chức trách nhằm đề phòng, hạn chế rủi ro ô nhiễm hay nguy cơ ô nhiễm, với điều kiện là hành động này không phải do thiếu mẫn cán hợp lý của NĐBH trong việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro, nguy cơ ô nhiễm.
3/4 trách nhiệm đâm va của NĐBH phát sinh trong các vụ đâm va giữa tàu được bảo hiểm với tàu khác không quá 3/4 STBH thân tàu.
Chi phí cứu nạn, đóng góp tổn thất chung của tàu được bảo hiểm NBH không chịu trách nhiệm về những tổn thất, thiệt hại hay chi phí
phát sinh do các nguyên nhân sau:
- Hành vi cố ý của NĐBH;
- Cũ kỹ, hao mòn tự nhiên, hư hỏng máy móc thông thường không
phải do hiểm họa được bảo hiểm gây ra;
- Tàu mắc cạn do ảnh hưởng của thủy triều;
- Vi phạm cam kết về lai kéo tàu;
- Vi phạm ngụ ý đảm bảo (tàu không đủ khả năng đi biển, thay đổi
quốc tịch tàu, hành trình tàu bất hợp pháp);
- Vi phạm cam kết về bốc dỡ hàng ngoài biển từ một tàu khác sang
một tàu khác (trừ khi có thỏa thuận khác)
- Chiến tranh, đình công;
- Khủng bố hoặc bất kỳ hành vi nào có tính chất chính trị;
- Rủi ro nguyên tử, nhiễm phóng xạ;
- NĐBH khai báo sai sự thật khi yêu cầu bảo hiểm hay không thông
báo những thay đổi của tàu có thể làm tăng thêm rủi ro;
- Chi phí lương bổng và lương thực của thuyền viên (trừ trường hợp
tổn thất chung);
Trang 16- Chi phí nhằm thu thập thông tin hay tài liệu;
- Chi phí đưa tàu đến nơi sửa chữa;
- Chi phí đánh dấu, thắp sáng, di chuyển xác tàu, thanh thải luồng
lạch theo yêu cầu của người có thẩm quyền;
- Chi phí liên quan đến việc chậm trễ của tàu, hàng hóa;
- Chi phí cạo hà, gõ rỉ, thổi cát, sơn vỏ tàu (trừ trường hợp cạo hà,
gõ rỉ, thổi cát, sơn vỏ tàu phần tổn thất thuộc trách nhiệm bảohiểm);
- Chi phí thay dầu mỡ;
- Chi phí thay thế bộ phận ẩn tì hay khuyết tật ngầm
Hiệu lực bảo hiểm tự động chấm dứt khi:
- HĐBH/ĐBH hết hiệu lực;
- Thay đổi công ty đăng kiểm của tàu hoặc tàu bị đình chỉ, thu hồi
hay mãn hạn cấp của tàu;
- Có sự thay đổi về chủ quyền hay quốc tịch, chuyển quản lý mới
hay cho thuê trên cơ sở tàu trống hoặc trưng thu, trưng dụng tàu
1.1.4.4 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
Bảo hiểm thân tàu biển là một dạng bảo hiểm tài sản nên STBH thân tàuđược xác định dựa trên giá trị của đối tượng bảo hiểm vào thời điểm giao kếtHĐBH, là giá trị thỏa thuận giữa NĐBH và NBH nhưng không vượt quá giátrị bảo hiểm thân tàu
Ngoài ra, STBH đối với các bảo hiểm bổ sung được xác định dựa trênnguyên tắc dưới đây:
- Phần bổ sung về phí tổn điều hành, thù lao quản lý, lời lãi thặng dư haygia tăng giá trị của thân tàu và máy móc: STBH không vượt quá 25% STBHthân tàu
Trang 17- Phần bổ sung về cước phí, tiền cước cho thuê tàu: STBH không vượtquá 25% STBH thân tàu trừ đi STBH về phí tổn điều hành, thù lao quản lý,lời lãi thặng dư hay gia tăng giá trị của thân tàu và máy móc.
- Phần bổ sung về phí bảo hiểm (với điều kiện STBH không vượt quá sốphí bảo hiểm 12 tháng của mọi quyền lợi bảo hiểm): STBH giảm dần theo tỷ
lệ 1/2 mỗi tháng
Phí bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả dựa theo thỏathuận trong HĐBH để nhận được cam kết bồi thường, trả tiền bảo hiểm củaDNBH, được xác định trên cơ sở STBH và tỷ lệ phí bảo hiểm Trong đó, tỷ lệphí có thể được tính bằng một trong những cách sau:
a Người bảo hiểm.
Thực chất NBH chính là các doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệpbảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm
và tái bảo hiểm Trong bảo hiểm thân tàu biển, các công ty bảo hiểm có tráchnhiệm bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm trong trường hợp xảy ratổn thất cho chủ tàu ( NĐBH ) Quyền lợi mà NBH được hưởng chính là mứcphí họ thu được
b Người được bảo hiểm- người tham gia bảo hiểm
Trang 18Bảo hiểm thân tàu biển là nghiệp vụ bảo hiểm về tài sản Vì vậy mà chủsở
hữu con tàu là người tham gia bảo hiểm đồng thời là người được bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm- người được bảo hiểm có thể là chủ tàu, có thể
là chủ hàng, có thể là thuyền trường ( nếu thuyền trưởng cũng có quyền sởhữu con tàu ), có thể là người thuê tàu, có thể là một cá nhân, một tập thể cácchủ sở hữu hoặc một doanh nghiệp
1.2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN.
1.2.1 Vai trò của việc khai thác bảo hiểm thân tàu biển.
Khai thác là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm,
là một trong những khõu cú vai trò quyết định đến sự thành bại của mọinghiệp vụ bảo hiểm và bảo hiểm thân tàu biển cũng không nằm ngoài quy luật
đó Quan điểm trên xuất phát từ những lý do sau đây:
Trước hết, giai đoạn khai thác bảo hiểm là bước đầu tiên để gắn kếtdoanh nghiệp và khách hàng Mọi công việc trong quá trình khai thác như:khai thác viên tiếp xúc, nắm bắt nhu cầu của khách hàng; đàm phán, chào phí;chăm sóc khách hàng… đều có tác dụng thể hiện hình ảnh một DNBH chuyênnghiệp, quyết định có hay không sự hợp tác giữa họ với khách hàng
Hơn nữa, bảo hiểm hoạt động trên luật số lớn Càng nhiều HĐBH được
ký kết đồng nghĩa với việc NBH tập hợp được càng nhiều những người có rủi
ro tương đồng, giúp phân tán hậu quả tài chính đối với mỗi tổn thất xảy ratrong số những người mua bảo hiểm trở nên dễ dàng
Ở khía cạnh khác, nếu công tác khai thác bảo hiểm đạt hiệu quả, tìnhhình tổn thất, thiệt hại xảy ra trong thực tế càng xích lại gần tần suất tổn thất
Trang 19hay chi phí trung bình / tổn thất đã được sử dụng khi tính phí bảo hiểm.Ngược lại, khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm, không có được số lượng người
đủ lớn mua bảo hiểm thì tình hình thực tế rất dễ sai lệch với dự tính của NBH.Ngoài ra, việc thu hút được số lượng lớn người mua bảo hiểm cũn giỳpDNBH tăng hiệu quả kinh tế với một số chi phí, tạo điều kiện giảm phí
Sau cùng, chất lượng khai thác tác động sâu rộng đến hiệu quả công tác
đề phòng, hạn chế tổn thất và giám định, bồi thường tổn thất Ví dụ như việcđỏnh gớa đỳng rủi ro mà đối tượng bảo hiểm có thể gặp phải giúp doanhnghiệp vừa tránh nhận bảo hiểm cho những rủi ro xấu; vừa có những biệnpháp đề phòng, hạn chế tổn thất thích hợp cho từng đối tượng cụ thể; qua đóduy trì tỷ lệ bồi thường và trích lập các quỹ dự phòng ở mức hợp lý Ngượclại, nếu hoạt động nhận xét bảo hiểm bị buông lỏng sẽ dẫn tới những hậu quảnghiêm trọng Đó có thể là tỷ lệ bồi thường cao hơn mức cho phép dẫn tớihiệu quả kinh doanh nghiệp vụ thấp, trích lập dự phòng nghiệp vụ thấp hơnmức cần thiết khiến thiếu hụt nguồn chi trả bồi thường và theo đó khả năngthanh toán với các chủ HĐBH trong các năm tài chính tương lai bị hạn chế.Đặc biệt, trong bảo hiểm thân tàu biển, các tàu tham gia bảo hiểm trên cơ sởgiá trị ghi sổ Khi mà điều kiện kinh tế ngày càng khó khăn, kinh doanh tàukhông hiệu quả, giá trị thực của tàu ngày một thấp đi thì vấn đề trục lợi bảohiểm, rủi ro nhân tài là không thể tránh khỏi
1.2.2 Cỏc kênh khai thác bảo hiểm thân tàu.
1.2.2.1 Hệ thống đại lý chuyên nghiệp
Đây là hệ thống hân phối truyền thống, trong đó đại lý là các tổ chức, cánhân được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền nhằm thực hiện việc giới thiệuchào bán sản phẩm Trong các loại hệ thống phân phối, hệ thống này được coi
Trang 20là khá tốn kém chi phí cho doanh nghiệp bảo hiểm, do doanh nghiệp phải chiphí đào tạo đại lý, trả hoa hồng cao ….
1.2.2.2 Các mạng lưới phân phối kết hợp ( hệ thống phân phối bán
hàng tại điểm )
Đây là hệ thống phân phối dựa trên kênh phân phối của các lĩnh vực kinhdoanh khác như ngõn hàng, bưu điện, cơ quan thuế, hệ thống các cửa hàngbán lẻ Do tận dụng được con người, cơ sở vật chất, nguồn khách hàng củacác lĩnh vực này nên đây là kênh phân phối khá tiết kiệm chi phí cho doanhnghiệp bảo hiểm
1.2.2.3 Các văn phòng bán bảo hiểm
Đây là hệ thống phân phối trong đó nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểmđược trả lương sẽ trực tiếp thực hiện việc bán sản phẩm tại trụ sở chính củadoanh nghiệp hay tại các văn phòng bảo hiểm khu vực, các chi nhỏnh…
1.2.2.4 Môi giới
Môi giới bảo hiểm là tổ chức trung gian đại diện cho khách hàng tìm kiếmcác doanh nghiệp bảo hiểm phù hợp Môi giới được hưởng hoa hồng dodoanh nghiệp bảo hiểm chi trả Phân phối qua môi giới làm tăng uy tín chodoanh nghiệp nhưng có nhược điểm là doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không đượctiếp xúc trực tiếp với khách hàng nếu không có sự đồng ý môi giới
1.2.2.5 Các hệ thống phân phối khác
Ngoài việc sử dụng các hệ thống phân phối như vừa đề cập ở trên, cácdoanh nghiệp bảo hiểm còn cung cấp dịch vụ cho khách hành thông qua gửithư trực tiếp, qua điện thoại qua mạng máy tính (thương mại điện tử), quaviệc quảng cáo trờn cỏc phương tiện thông tin đại chúng: vô tuyến truyềnhình, đài phát thanh, báo, tạp chớ…
Việc sử dụng hệ thống kênh phân phối này giúp doanh nghiệp giảm được một
số chi phí trung gian, do đó tạo điều kiên giảm giá và tăng một số lợi thế cạnh
Trang 21tranh Nhưng hệ thống phân phối này chỉ thành công khi áp dụng với một sốsản phẩm đơn giản, công nghệ phát triển và khách hàng có được thói quenmua sản phẩm
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khai thác bảo hiểm thân tàu biển
Sự phát triển của đội tàu biển và khả năng tài chính của các chủ tàu:
Có thể khẳng định rằng đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công táckhai thác bảo hiểm Doanh nghiệp chỉ có thể bán được sản phẩm của mìnhcho những khách hàng có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm đó Đối với bảo hiểmthân tàu, khi đội tàu biển được gia tăng, càng nhiều tàu được đưa vào khaithác đồng nghĩa với cầu trên thị trường bảo hiểm lớn, là điều kiện thuận lợi đểDNBH đẩy mạnh hoạt động khai thác, tăng doanh thu
Nhưng thực tế là nhu cầu tiêu dùng sản phẩm chỉ là điều kiện cần màchưa phải là điều kiện đủ để tạo nên khách hàng tiềm năng cho doanh nghiệp.Một khách hàng được gọi là có đủ tiềm năng khi họ thực sự cần sản phẩm,dịch vụ, có khả năng thanh toán và sẵn sàng chi trả Trường hợp khả năng tàichính của chủ tàu bị giới hạn có nghĩa là DNBH sẽ không thể cung cấp đượcsản phẩm của mình hoặc với những chủ tàu đang tham gia bảo hiểm thì tìnhtrạng nợ đọng phí là không thể tránh khỏi
Các nhân tố về chất lượng dịch vụ và thương hiệu của doanh nghiệp:
Thời gian giải quyết hồ sơ, xử lý phát sinh; công tác giám định, bồi thườngkhi xảy ra tổn thất, hoạt động chăm sóc khách hàng… là những yếu tố quyếtđịnh chất lượng sản phẩm bảo hiểm, thể hiện hình ảnh DNBH chuyên nghiệpvới khách hàng Đồng thời, không thể phủ nhận rằng uy tín của DNBH lànhân tố tác động không nhỏ tới quyết định mua bảo hiểm của khách hàng Lẽ
tự nhiên là khách hàng cảm thấy yên tâm hơn khi tài sản của họ được bảo
Trang 22hiểm bởi doanh nghiệp có uy tín lâu năm trên thị trường Cùng với nhân tố vềnhu cầu bảo hiểm, đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến kết quả khai thác.
Tổ chức mạng lưới khai thác:
KTV là những người thực hiện nhiệm vụ chuyển giao sản phẩm từDNBH (người bán) đến khách hàng (người mua) Do vậy, nhân tố về số lượngcũng như trình độ chuyên môn của KTV có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả vàhiệu quả khai thác, giúp DNBH chủ động khai thác triệt để thị trường
Các nhân tố kinh tế:
Các nhân tố như sự tăng trưởng hay suy thoái kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãisuất tín dụng… đều có tác động đến công tác khai thác bảo hiểm thân tàu, ảnhhưởng trực tiếp đến sức mua sản phẩm bảo hiểm Một ví dụ tiêu biểu là dưới
sự ảnh hưởng tiêu cực của cuộc suy thoái kinh tế cuối năm 2008, kinh doanhvận tải biển gặp phải rất nhiều khó khăn: không có hoặc không có đủ hàng đểchạy, cước vận tải thấp không đủ trang trải chi phí Giỏ thuê một chiếc tàubiển chứa được 2.500 container tiêu chuẩn là 30.000 USD/ngày, thì nay chỉcòn chưa đến 12.000 USD/ngày; những tàu chở hàng lớn loại Panamax chothuê với mức giá 64.000 USD/ngày, nay còn chưa đầy 11.000 USD/ngày…kéo theo giá tàu liên tục giảm mạnh Do vậy, các công ty bảo hiểm phải đốimặt với rất nhiều yêu cầu giảm STBH thân tàu Tình trạng này còn kéo dàisang năm 2009, trung bình STBH thân tàu đã giảm khoảng 40%, cá biệt cóchủ tàu yêu cầu giảm STBH tới 75% so với năm 2008
Các nhân tố chính trị, pháp lý:
Nhân tố này có tác động mạnh mẽ đến thị trường bảo hiểm nói chung vàbảo hiểm thân tàu nói riêng, có tác dụng hạn chế hoặc khuyến khích thịtrường phát triển Cụ thể là khi Việt Nam ra nhập WTO, những cam kết mở
Trang 23cửa thị trường bảo hiểm như cho phép thành lập công ty bảo hiểm 100% vốnđầu tư nước ngoài và không hạn chế số lượng chi nhánh trong nước, cho phépcông ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ bảo hiểmbắt buộc từ 1/1/2008 đặt ra cho các công ty bảo hiểm Việt Nam không ít thửthách trong khâu khai thác khi phải cạnh tranh với các công ty bảo hiểm, môigiới bảo hiểm nước ngoài, nhất là khi các công ty này lại không quá khắt khetrong vấn đề chào phí do thị trường cạnh tranh.
Các nhân tố tự nhiên:
Các nhân tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, môi trường sinh thỏi… ảnhhưởng đến khả năng xảy ra rủi ro, làm tăng hoặc giảm nhu cầu bảo hiểm Đặcbiệt là với tàu biển, do dặc đặc trưng về môi trường hoạt động, tác động nàycàng rõ nét
1.2.4 Quy trình khai thác bảo hiểm thân tàu biển
Bước 1) Tiếp nhận thông tin
KTV có nhiệm vụ thường xuyên tiếp xúc với khách hàng hoặc cơ quanquản lý, đại lý, môi giới, cộng tác viờn… nhằm kịp thời nắm bắt nhu cầu củakhách hàng và giới thiệu sản phẩm bảo hiểm phù hợp Bên cạnh đó, KTV cầntìm hiểm thêm thông tin về nguồn vốn, năng lực quản lý, khả năng tham giabảo hiểm… của khách hàng
Bước 2) Phân tích, đánh giá rủi ro
- Thông qua số liệu thống kê và thực tiễn hoạt động của khách hàng,KTV tư vấn với bộ phận lãnh đạo về chính sách khách hàng Đồng thời, kếthợp với bộ phận bồi thường tính hiệu quả bảo hiểm các năm để đề xuất điềuchỉnh tỷ lệ phí
Trang 24- KTV hoặc giám định viên trực tiếp kiểm tra tàu, kiểm tra giấy tờ củatàu như: Giấy đăng ký tàu, Giấy chứng nhận khả năng đi biển/khả năng hoạtđộng, Giấy chứng nhận cấp tàu để đánh giá tình trạng tàu.
- Trường hợp yêu cầu kỹ thuật chuyên môn cao, khả năng rủi ro lớn… cóthể yêu cầu trợ giúp của cơ quan chuyên môn, tổ chức nước ngoài Việc tìmkiếm, đánh giá và lựa chọn nhà giám định bên ngoài tuân thủ theo quy trìnhgiám định bồi thường
Bước 3) Xem xét đề nghị bảo hiểm
- Trên cơ sở thông tin khách hàng, báo cáo đánh giá rủi ro, chính sáchkhách hàng để đưa ra tỷ lệ phí bảo hiểm phù hợp
- Kiểm tra tên, dấu, chữ ký… của khách hàng của khách hàng trên Giấyyêu cầu bảo hiểm, đảm bảo tính hợp lệ của Giấy yêu cầu bảo hiểm
- Đối với khách hàng trước đó đã tham gia bảo hiểm tại một chi nhánhkhác hoặc công ty bảo hiểm khỏc thỡ cần có sự phối hợp để có quyết địnhchấp nhận bảo hiểm đúng đắn, tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm
- Trường hợp những dịch vụ đặc biệt có giá trị lớn, tính kỹ thuật phứctạp hoặc trên phân cấp KTV cần đề xuất với lãnh đạo phòng, lãnh đạo công typhương án đàm phán tối ưu
- KTV có thể từ chối nhận bảo hiểm
Bước 4) Đàm phán và chào phí
- Trường hợp phải tham khảo phí bảo hiểm của thị trường tái bảo hiểmthì chỉ chào phí cho khách hàng sau khi đã nhận được thông báo phí của thịtrường tái bảo hiểm Các nội dung cần có trong bản chào phí là: điều kiện bảohiểm, quy tắc bảo hiểm áp dụng, giá trị bảo hiểm, mức khấu trừ, thời hạn bảo
Trang 25- Phớ bảo hiểm đã chào cho khách hàng nhưng chưa được chấp thuận,lãnh đạo phòng và lãnh đạo công ty có thể gặp măt, trao đổi và tính toán lạiphí.
- Trong quá trình đàm phán, các yếu tố liên quan như: quy tắc bảo hiểm,biểu phí, hồ sơ, số liệu về khách hàng, chính sách khách hàng… cần đượcxem xét để đưa ra mức phí phù hợp
Bước 5) Chấp nhận bảo hiểm
- Khi khách hàng chấp nhận bản chào phí, đề nghị khách hàng gửi Giấyyêu cầu bảo hiểm hoàn chỉnh, chính thức cho doanh nghiệp bảo hiểm
- Trường hợp không thể liên lạc được qua fax, yêu cầu khần thiết…KTV có thể nhận thông tin qua điện thoại để cấp đơn Tuy nhiên, khi giao chokhách hàng phải yêu cầu khách hàng ký Giấy yêu cầu bảo hiểm theo cácthông tin đã khai báo qua điện thoại
- Đề nghị khách hàng kê khai rõ tất cả các mục trong GYCBH
Bước 6) Cấp đơn bảo hiểm
Thời hạn tham gia bảo hiểm;
Điều kiện tham gia bảo hiểm
Trang 26- Ngoài ra, cần kiểm tra những thông tin trong Hồ sơ đăng kiểm của tàu,Bản đánh giá rủi ro (nếu có) và những khuyến nghị trong đó.
b) Vào sổ cấp đơn, lấy số đơn bảo hiểm
- Sau khi kiểm tra các chứng từ cần thiết, nếu tàu đủ khả năng hoạt động
an toàn theo quy định thì căn cứ vào Giấy yêu cầu bảo hiểm tiến hành cấpĐBH, lấy số đơn theo thứ tự trong sổ cấp đơn, kiểm tra đơn và sổ cấp đơntheo từng danh mục Sau đó, trình lãnh đạo phòng ký đơn và sổ cấp đơn
- Với những tàu đã qua kiểm tra có khiếm khuyết mà chủ tàu không khắcphục theo đúng yêu cầu kỹ thuật thì khi nhận bảo hiểm phải loại trừ nhữngkhiếm khuyết đó và ghi rõ loại trừ trên ĐBH
c) Tính phí bảo hiểm
- Xác định STBH
- Xác định tỷ lệ phí áp dụng Tỷ lệ phí (%) phụ thuộc vào trọng tải, tìnhtrạng kỹ thuật của tàu, tuổi tàu, vật liệu đóng, thời hạn bảo hiểm, vùng hoạtđộng, trình độ quản lý tàu thuyền của chủ tàu
d) Sửa đổi hoặc hủy đơn bảo hiểm
Sau khi cấp ĐBH, nếu có những thay đổi liên quan tới giá trị bảo hiểm,
phạm vi hoạt động, điều kiện tham gia bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm… thì cấpGiấy sửa đổi bổ sung các điều kiện bảo hiểm cho khách hàng cho phù hợp vớitình hình mới Nếu xét thấy sự thay đổi đó làm tăng trách nhiệm bảo hiểm thìphải thu thờm phớ Hoặc tùy từng trường hợp, có thể hủy ĐBH
Chương 2:
Trang 27THỰC TRẠNG KHAI THÁC BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX
2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm PJICO
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty
Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) là doanh nghiệp cổ phầnđược thành lập theo Giấy phép số 1873/GP-UB ngày 8 tháng 6 năm 1995 doChủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp với thời gian hoạt động là 25năm Vốn điều lệ ban đầu của công ty là 55 tỷ đồng Công ty được cấp Giấychứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm số 06/TC/GCN ngày 27 tháng 5 năm 1995 của Bộ Tài chính Ngày 15 tháng 4 năm
2004, PJICO nhận Giấy phép điều chỉnh số 06/GPĐC12/KDBH của Bộ TàiChính cho phép Công ty bổ sung vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng Ngày 26 tháng
04 năm 2007, PJICO nhận Giấy phép điều chỉnh số 06/ GPDDC19/ KDBHcủa Bộ Tài Chính cho phép công ty bổ sung vốn điều lệ lên 140 tỷ đồng Hiệntại PJICO có vốn điều lệ 710 tỷ đồng PJICO hoạt động theo Luật Kinh doanhBảo hiểm và Điều lệ hoạt động đã được Đại Hội đồng Cổ đông thông qua.Doanh nghiệp được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 15/06/1995 và Đăng ký kinh doanhthay đổi lần 4 số 060256 ngày 21/12/2006, lĩnh vực hoạt động kinh doanhchính của PJICO gồm Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm và đầu
tư tài chính
PJICO là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam (1995), docác tổng công ty lớn như Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) với
tỷ lệ vốn góp 51,18%, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có
tỷ lệ vốn góp trong PJICO là 10,03%, Tổng Công ty Thép Việt Nam (VSC)góp 6,02%, Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare) góp 8,78%,
Trang 28Công ty Vật tư và Thiết bị toàn bộ (Matexim), Công ty Điện tử Hà Nội(Hanel), Công ty Thiết bị an toàn (AT).
Kể từ khi chính thức hoạt động vào tháng, Công ty cổ phần bảo hiểmPJICO đã gặt hái được nhiều thành công thông qua những nỗ lực phát triểnkhông ngừng Chỉ với 55 tỷ đồng vào những ngày đầu thành lập, đến nay vốnđiều lệ của PJICO đã lên đến 710 tỷ đồng với hệ thống hơn 51 chi nhánh,trung tâm, văn phòng giao dịch có mặt khắp 64 tỉnh thành trong cả nước Vớiviệc tăng vốn điều lệ từ 55 tỷ đồng lên 710 tỷ đồng đã khẳng định cam kếtphát triển của Công ty, đảm bảo khả năng hoạt động và cho thấy tiềm năngphát triển mạnh mẽ Hiện nay Công ty cổ phần bảo hiểm PJICO đã trở thànhmột trong những Công ty bảo hiểm Phi nhân thọ lớn trên thị trường bảo hiểmViệt Nam
Khởi đầu với 8 cán bộ công nhân viên, đến nay, PJICO đã có 1.300 cán bộcông nhân viên , trên 3.000 đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp, với 51 chi nhánh,hàng trăm phòng bảo hiểm trải rộng khắp các khu vực Miền Bắc, Miền Trung,Miền Đông Nam Bộ, Miền Tây Nam Bộ phục vụ khách hàng trên toàn quốc.Đội ngũ nhân viên lớn cùng với trình độ chuyên môn cao, có tinh thần tráchnhiệm đạo đức, thấm nhuần văn hóa kinh doanh của Công ty cũng là mộttrong những yếu tố thúc đẩy thành công của PJICO, góp phần thực thi sứmạng cao cả mà Công ty cam kết với khách hàng
Trang 292.1.2 Cơ cấu bộ máy quản lý.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PJICO.
Phó Tổng giám đốc
Phó Tổng giám đốc
Phó Tổng giám đốc
Phòng BH
xe cơ giới Phòng BH con người
Phòng BH tài sản –
kỹ thuật
Phòng BH tàu thủy
Phòng BH hàng hóa
Phòng tái BH
Phòng đầu tư
Phòng dự án
Phòng
BH phi hàng hải
Phòng Tổ chức Phòng Tổng hợp
Phòng CNTT
Phòng QL
& PT đại lý
Phòng Kiểm toán nội bộ
Phòng
TC - KT
Phòng Đào tạo
& QLCL
Các tổng đại
lý & các đại lý
Các chi nhánh
Các văn phòng đại diện
Phòng
TT - PC
Trang 30Có thể nói rằng để đứng vững trên thị trường nhiều biến động và cạnh tranhnhư hiện nay mỗi doanh nghiệp đều phải tự hoàn thiện mình, phải có mỗiquan hệ chặt chẽ giữa các thành viên để cùng thực hiện mục đích chung dưới
sự lãnh đạo của các nhà quản lý
Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan quyết định cao nhất của PJICO Đại hội
đồng cổ đông có nhiệm vụ thông qua các báo cáo của Hội đồng quản trị;thông qua, sửa đổi bổ sung điều lệ; quyết định tăng, giảm vốn điều lệ;thông qua định hướng phát triển trung và dài hạn; bầu, miễn nhiệm, bãinhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và bộ máy tổ chứccông ty
Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý cao nhất, có toàn quyền nhân danh
PJICO quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến mục đích, quyềnlợi của PJICO, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổđông Hội đồng quản trị bao gồm 9 thành viên: 3 cổ đông đại diện cổ đôngPetrolimex, 5 thành viên đại diện 5 cổ đông lớn (Vietcombank, Vinare,VSC, Maxtexim, Hanel), 1 thành viên đại diện cho các thành viên thểnhân
Ban kiểm soát: do Đại hội cổ đông bầu ra có chức năng kiểm tra tính hợp
lý, hợp pháp trong hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị; hoạt độngđiều hành của Tổng giám đốc; kiểm tra việc chấp hành điều lệ và nghịquyết của Đại hội cổ đông Ban kiểm soát của PJICO có 5 thành viên
Ban tổng giám đốc: Tổng giám đốc PJICO do Hội đồng quản trị bổ nhiệm,
chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông về quản lýđiều hành hoạt động kinh doanh của công ty Ban Tổng giám đốc điềuhành PJICO gồm 4 thành viên: 1 Tổng giám đốc, 3 Phó Tổng giám đốc
Trang 312.1.3 Ngành nghề kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh:
- Kinh doanh trực tiếp bảo hiểm phi nhân thọ
- Kinh doanh tái bảo hiểm
- Đầu tư tài chính
Hiện nay, PJICO đã triển khai hơn 80 sản phẩm bảo hiểm và chiếm lĩnh thịtrường trong nhiều lĩnh vực Các nghiệp vụ chính là: bảo hiểm xe cơ giới, bảohiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủtàu, bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản - kỹ thuật, bảo hiểm trách nhiệmchung, …Ngoài ra, PJICO cũng phát triển hoạt động kinh doanh trong nhiềulĩnh vực khác Ví dụ như:
- Nhận và nhượng tái liên quan đến các nghiệp vụ bảo hiểm kể trên;
- Hoạt động đầu tư vốn (theo Luật kinh doanh bảo hiểm ngày09/12/2000);
- Cung cấp các dịch vụ: giám định, điều tra, tính toán phân bố tổn thất;đại lý giám định, xét giải quyết bồi thường và đòi người thứ ba;
- Cho thuê văn phòng;
- Dịch vụ mua bán, sửa chữa, cứu hộ và kinh doanh phụ tùng ô tô;
- Mua bán, bảo dưỡng xe có động cơ và mô tô, xe máy, phụ tùng cho xe
có động cơ, xăng, dầu, mỡ;
Trang 322.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian qua.
Trải qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển, vượt qua nhiều khó khăn,thách thức, PJICO đã gặt hái được những thành công to lớn về nhiều mặt Thểhiện trên những khía cạnh sau:
Một là, PJICO có số vốn điều lệ ban đầu là 55 tỷ đồng với 7 cổ đông
sáng lập đăng ký góp 80,5% số vốn (trong đó, Tổng công ty Xăng dầu ViệtNam Petrolimex góp 51%) Đến nay, để phù hợp với quy định của Pháp luật
và việc mở rộng quy mô kinh doanh, vốn điều lệ của PJICO được nâng lênmức 710 tỷ đồng, các Qũy dự phòng nghiệp vụ đạt 684 tỷ đồng
Hai là, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong 15 năm qua của
công ty đạt khoảng 38%, cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của toàn thịtrường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam cùng thời kỳ PJICO hiện là công ty
có doanh thu đứng thứ 4 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, cung cấp hầuhết các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho thị trường Việt Nam (trừ bảohiểm hàng không, bảo hiểm vệ tinh và bảo hiểm dầu khí) Năm 2011, doanhthu của PJICO đạt trên 1.928 tỷ đồng - gấp hơn 100 lần so với doanh thu 14 tỷđồng của năm đầu tiên thành lập 1995
Ba là, công tác đầu tư tài chính, tái bảo hiểm đạt được kết quả khá tốt.
PJICO đã đầu tư vào hầu hết các loại hình: góp vốn liên doanh, mua cổ phần,tiền gửi, bất động sản… Trong đó, danh mục đầu tư có nguồn thu nhập cốđịnh như tiền gửi ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất
Công ty đã thực hiện tái tục thành công chương trình tái bảo hiểm năm 2011cho 4 nhóm nghiệp vụ chính: hàng hải, hỏa hoạn, kỹ thuật và hỗn hợp Bêncạnh đó, công ty cũng thu xếp mới thành công chương trình tái bảo hiểm vượtmức bồi thường năm 2011 cho nghiệp vụ xe cơ giới Đồng thời, củng cố, phát
Trang 33triển quan hệ chặt chẽ và lâu dài với các công ty bảo hiểm lớn trên thế giớinhư CCR, Munich Re, Korean Re, ACR, Best Re, Malaysian Re …
Bốn là, khởi đầu với 8 cán bộ công nhân viên, đến nay, PJICO đã có
1.300 cán bộ công nhân viên, trên 3.000 đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp, với
51 chi nhánh, hàng trăm phòng bảo hiểm phục vụ khách hàng trên toàn quốc
Năm là, Với kết quả hoạt động kinh doanh xuất sắc, công ty đã được
Nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng III năm 2000, Huy chươnglao động hạng II năm 2011, Giải thưởng Sao đỏ năm 2003, Giải thưởng Saovàng Đất Việt năm 2003, 2004 và 2010, Danh hiệu thương hiệu mạnh ViệtNam năm 2006 – 2011, Nằm trong top “ 20 nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam’ vàđặc biệt là được xếp trong danh sách TOP 200 Thương hiệu Việt Nam
2.2 Những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành khai thác bảo hiểm thân tàu biển.
2.2.1 Thuận lợi
Sau gần 20 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tạiViệt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng, đóng gópđáng kể cho việc giảm thiểu rủi ro trong sản xuất kinh doanh và đời sống xãhội, cải thiện môi trường đầu tư, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước,góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội
Về phía công ty cổ phần bảo hiểm PETROLIMEX có nhiều thuận lợi trongviệc triển khai nghiệp vụ này:
Các yếu tố khách quan:
Thứ nhất, những thuận lợi chung cho tất cả các DNBH trên thị trường
đang triển khai nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu biển là sự hội nhập không ngừng
và sâu rộng của kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới mà hiệu