Bộ phận dân cư gửi tiền thường xuyên và trong thời hạn lâu hơn, song doanh nghiệp lại gửi tiền với lượng tiền lớn hơn nhiều vì vậy nếu chỉ chú trọng đến một bộ phận khách hàng mà hoạt độ
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hệ : CHÌNH QUY
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để trang bị những hành trang cần thiết trước khi ra trường và bước vào cuộc sống thì bất kỳ sinh viên nào cũng cần trải qua quá trình thực tập Thông qua quá trình thực tập giúp sinh viên nắm vững hơn những lý thuyết đã được học và hiểu sâu sắc hơn thực tế hoạt động của đơn vị Nhận thức được điều trên, được sự đồng ý của nhà trường trong thời gian qua em đã được phòng giao dịch Đào Tấn – Chi nhánh Hà Nội – Ngân hàng TMCP An Bình tiếp nhận đi thực tập
Quá trình thực tập sẽ giúp chúng em khắng định lại những gì đã học tập nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết, giúp em thấy những điểm giống nhau và khác nhau giữa lý thuyết và thực tế để từ đó vận dụng những lý luận cần thiết vào thực tế
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu cùng với việc được xem xét, tìm hiểu, quan sát tình hình thực tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình - Chi nhánh Hà Nội – Phòng giao dịch Đào Tấn trong thời gian thực tập vừa qua Đặc biệt với sự giúp
đỡ, tạo điều kiện của ban lãnh đạo ngân hàng, các cô chú, anh chị ở các phòng ban đã giúp em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Em xin gửi lời cám ơn tới thầy giáo hướng dẫn PGS.Ts.Phan Trọng Phức cùng các thầy cô giáo trường Đại học Đại Nam - những người đã cung cấp cơ sở kiến thức
về kinh tế và xã hội, người đã trực tiếp hướng dẫn để em có thể hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này
Tuy nhiên do không có nhiều thời gian thực tập và trình độ kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chế nên bản khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự nhận xét góp ý của các thầy cô giáo để em hoàn thiện bản báo cáo này tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4KÍ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
ABBANK Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
Trang 5Uy tín ngân hàng và số lượng vốn bị rút trước hạn 12
Mức độ đa dạng hoá của các hình thức huy động vốn 12
Nhìn vào biểu đồ và bảng trên ta có thể thấy rõ tỷ lệ vốn huy động từ dân cư ngày càng tăng nhanh và tỷ lệ vốn bộ phận doanh nghiệp ngày càng giảm Trong 3 năm vừa qua, phòng giao dịch Đào Tấn đã làm rất tốt công tác huy động vốn, đặc biệt là bộ phận dân cư với các chính sách, dịch vụ và các gói ưu đãi cho khách hàng cá nhân, nhận được sự tín nhiệm từ khách hàng cá nhân (năm 2012 tăng 22% so với 2010, và tăng 7% so với 2011) Số lượng khách hàng cá nhân cũng tăng từ 1211 lên 1784 người trong năm 2011 và năm 2012 tăng 1131 người so với năm 2011 Tuy nhiên, do đặc điểm kinh doanh cũng như tác động của nền kinh tế mà các doanh nghiệp có xu hướng ít dự trữ tiền tại ngân hàng hơn Năm 2012, tiền gửi doanh nghiệp giảm 7%, lượng khách hàng tăng cả năm không nhiều (tăng thêm 57 đơn vị) Do vậy, phòng giao dịch Đào Tấn cần xem xét chú trọng đến các khách hàng doanh nghiệp, cần có các chính sách chăm sóc khách hàng tốt hơn để tăng quy mô vốn ở bộ phận này Khách hàng doanh nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tăng lượng vốn của ngân hàng Bộ phận dân cư gửi tiền thường xuyên và trong thời hạn lâu hơn, song doanh nghiệp lại gửi tiền với lượng tiền lớn hơn nhiều vì vậy nếu chỉ chú trọng đến một bộ phận khách hàng mà hoạt động huy động ở bộ phận kia không hiệu quả thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không hiệu quả, không đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng, nguồn huy động không phong phú 33
Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn 34
Xét về thời hạn nguồn tiền gửi, tiền gửi có kỳ hạn luôn cao hơn tiền gửi không kỳ hạn Năm 2010, tiền gửi có kỳ hạn chiếm 75% (46,453 tỷ) trong khi tiền gửi không kỳ hạn là 25% (15,168 tỷ) Sang năm 2011 mặc dù khối lượng tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn đã tăng nhưng do tiền gửi có kỳ hạn tăng với quy mô lớn hơn đạt 83% ( 144,368 tỷ) cho nên tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn giảm xuống còn 17% (30,501 tỷ) Đến năm 2012, cơ cấu này lại có sự thay đổi khi tiền gửi có kỳ hạn chiếm 87% tổng vốn huy động ( 262,321 tỷ) trong khi tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn chiếm 13% (38,91 tỷ) 34
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn 34
Biểu đồ 2.6: Biến động tình hình huy động vốn từ doanh nghiệp 40
Đơn vị: Tỷ đồng 40
Trang 7
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
Mức thuận lợi và lợi ích của khách hàng gửi tiền 11
Mức thuận lợi và lợi ích của khách hàng gửi tiền 11
Uy tín ngân hàng và số lượng vốn bị rút trước hạn 12
Uy tín ngân hàng và số lượng vốn bị rút trước hạn 12
Mức độ đa dạng hoá của các hình thức huy động vốn 12
Mức độ đa dạng hoá của các hình thức huy động vốn 12
Nhìn vào biểu đồ và bảng trên ta có thể thấy rõ tỷ lệ vốn huy động từ dân cư ngày càng tăng nhanh và tỷ lệ vốn bộ phận doanh nghiệp ngày càng giảm Trong 3 năm vừa qua, phòng giao dịch Đào Tấn đã làm rất tốt công tác huy động vốn, đặc biệt là bộ phận dân cư với các chính sách, dịch vụ và các gói ưu đãi cho khách hàng cá nhân, nhận được sự tín nhiệm từ khách hàng cá nhân (năm 2012 tăng 22% so với 2010, và tăng 7% so với 2011) Số lượng khách hàng cá nhân cũng tăng từ 1211 lên 1784 người trong năm 2011 và năm 2012 tăng 1131 người so với năm 2011 Tuy nhiên, do đặc điểm kinh doanh cũng như tác động của nền kinh tế mà các doanh nghiệp có xu hướng ít dự trữ tiền tại ngân hàng hơn Năm 2012, tiền gửi doanh nghiệp giảm 7%, lượng khách hàng tăng cả năm không nhiều (tăng thêm 57 đơn vị) Do vậy, phòng giao dịch Đào Tấn cần xem xét chú trọng đến các khách hàng doanh nghiệp, cần có các chính sách chăm sóc khách hàng tốt hơn để tăng quy mô vốn ở bộ phận này Khách hàng doanh nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tăng lượng vốn của ngân hàng Bộ phận dân cư gửi tiền thường xuyên và trong thời hạn lâu hơn, song doanh nghiệp lại gửi tiền với lượng tiền lớn hơn nhiều vì vậy nếu chỉ chú trọng đến một bộ phận khách hàng mà hoạt động huy động ở bộ phận kia không hiệu quả thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng không hiệu quả, không đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng, nguồn huy động không phong phú 33
Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn 34
Xét về thời hạn nguồn tiền gửi, tiền gửi có kỳ hạn luôn cao hơn tiền gửi không kỳ hạn Năm 2010, tiền gửi có kỳ hạn chiếm 75% (46,453 tỷ) trong khi tiền gửi không kỳ hạn là 25% (15,168 tỷ) Sang năm 2011 mặc dù khối lượng tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn đã tăng nhưng do tiền gửi có kỳ hạn tăng với quy mô lớn hơn đạt 83% ( 144,368 tỷ) cho nên tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn giảm xuống còn 17% (30,501 tỷ) Đến năm 2012, cơ cấu này lại có sự thay đổi khi tiền gửi có kỳ hạn chiếm 87% tổng vốn huy động ( 262,321 tỷ) trong khi tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn chiếm 13% (38,91 tỷ) 34
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn 34
Biểu đồ 2.6: Biến động tình hình huy động vốn từ doanh nghiệp 40
Đơn vị: Tỷ đồng 40
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Biến động lợi nhuận của PGD Đào Tấn Error: Reference source not found Biểu đồ 2.2: Huy động vốn PGD Đào Tấn 2010 – 2012 Error: Reference source not
found Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn huy động theo đối tượng gửi tiền Error: Reference source
not found Biểu đồ 2.4: Cơ cấu huy động vốn theo kỳ hạn Error: Reference source not found Biểu đồ 2.5: Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền gửi.Error: Reference source not found Biểu đồ 2.6: Biến động tình hình huy động vốn từ doanh nghiệp Error: Reference
Trang 8source not foundBiểu đồ 2.7: Biến động tình hình huy động vốn từ dân cư Error: Reference source not
found
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của việc lựa chọn đề tài
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính lớn nhất trong nền kinh tế Đối với các tổ chức này, huy động vốn là hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng, không huy động được lượng vốn đủ lớn, các ngân hàng rất khó mở rộng tín dụng cũng như phát triển các hoạt động khác Trong điều kiện kinh tế Việt nam đang hội nhập ngân hàng thương mại càng cần vốn để duy trì và nâng cao vị thế trên thị trường Trên thực tế lượng vốn các NHTM huy động được chưa đủ lớn để đáp ứng nhu cầu phát triển, mặt khác không ít ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng mất cân đối giữa các loại vốn Tăng cường vốn trở thành vấn đề rất cấp bách với các ngân hàng thương mại hiện nay Phòng giao dịch Đào Tấn là một trong những phòng giao dịch thuộc chi nhánh Hà Nội của NHTM cổ phẩn An Bình hoạt động trong môi trường cạnh tranh mới nên còn gặp rất nhiều khó khăn Hoạt động huy động vốn của phòng dù đã có được những thành công nhất định nhưng vẫn còn những hạn chế, tình hình huy động vốn của PGD Đào Tấn qua các năm không ổn định do sự bất ổn của nền kinh tế gây ra bên cạnh những hình thức huy động chưa thực sự đa đạng Nếu không tăng cường huy động vốn thì phòng giao dịch Đào Tấn sẽ rất khó phát triển và cạnh tranh trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng như hiện nay
Xuất phát từ nhận định trên, đề tài “Giải pháp tăng cường huy động vốn tiền gửi
của Ngân hàng TMCP An Bình - chi nhánh Hà Nội – PGD Đào Tấn” được em lựa
chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát tình hình kinh doanh những năm gần đây của PGD Đào Tấn – Chi nhánh Hà Nội – Ngân hàng TMCP An Bình
- Phân tích thực trạng công tác huy động vốn tiền gửi tại PGD Đào Tấn
- Một số đề xuất, giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng
3 Kết cấu báo cáo thực tập
Chương 1: Nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi tại ngân hàng thương mại.
Chương 2: Nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi PGD Đào Tấn – Chi nhánh Hà Nội – Ngân hàng TMCP An Bình.
Chương 3: Giải pháp tăng cường nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi tại PGD Đào Tấn và một số kiến nghị, đề xuất.
Trang 10CHƯƠNG 1: NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Nghiệp vụ huy động vốn tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Các ngân hàng
có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Trong đó, cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng
trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp Ngân hàng là các tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt
là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế (Theo Peter S Rose – Giáo trình
Quản trị Ngân hàng thương mại)
Ở Việt Nam hiện nay, theo luật các Tổ chức tín dụng (Luật TCTD 2010), Ngân
hàng thương mại được định nghĩa là: “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng
được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận.”
1.1.2 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Để có thể duy trì và mở rộng hoạt động kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng bên cạnh nguồn vốn tự có thì phải huy động vốn từ các nguồn khác nhau Các ngân hàng thương mại có thể huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác thông qua các công cụ như: mở tài khoản tiền gửi, tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiền gửi sử dụng séc và sử dụng thẻ thanh toán Đây chính là hình thức huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước
- Vay vốn của ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng khác
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động cấp tín dụng
Là một trong các hoạt động chính và quan trọng nhất của ngân hàng NHTM được
cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà nước như: bao thanh toán tài trợ nhập khẩu, tài trợ xuất khẩu, cho vay thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay dự án và cho vay theo hạn mức dự phòng, Trong đó, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn
Trang 11nhất, đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng.
Hoạt động đầu tư
Hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu thanh khoản và
đa dạng hoá tài sản của ngân hàng Ngân hàng thường nắm giữ đa dạng các chứng khoán như chứng khoán chính phủ, chứng khoán của các ngân hàng khác và chứng khoán công ty Các chứng khoán ngân hàng nắm giữ thường được chia làm hai loại:
- Các chứng khoán kém thanh khoản được giữ với mục đích đầu tư, có đội rủi ro cao và thường được mong đợi có tỷ lệ sinh lời cao
- Các chứng khoán thanh khoản cao được nắm giữ như một tài sản đệm cho ngân quỹ, có khả năng sinh lời cao hơn tiền mặt và khi cần có thể bán để chi trả Chứng khoán ngắn hạn của chính phủ thường được xếp hàng đầu trong danh mục các chứng khoán thanh khoản cao của ngân hàng Bên cạnh đó, một số giấy nợ kỳ hạn ngắn của các tổ chức tín dụng hoặc các công ty tài chính uy tín cũng là khoản đầu tư ưa thích của ngân hàng Các chứng khoán công ty với mức độ rủi ro cao cũng được các ngân hàng nắm giữ với mục đích thu lợi, nắm quyền kiểm soát
1.1.2.3 Các hoạt động khác
- Góp vốn mua cổ phần: Các ngân hàng thương mại được sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh
- Quản lý ngân quỹ: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân Nhờ đó, ngân hàng thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, các ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện kinh doanh ngoại hối; uỷ thác và nhận uỷ thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản; vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác, đại lý; cung ứng các dịch vụ bảo hiểm, tư vấn tài chính, bảo quản vật quý giá,…
1.1.3 Huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động cho vay, đầu tư hoặc các dịch vụ kinh doanh khác nhằm đạt được mục tiêu khác nhau Biểu hiện của vốn trong kinh doanh ngân hàng chủ yếu là tiền
Thực chất, vốn của ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư Nói cách khác, họ
Trang 12chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho ngân hàng, để ngân hàng trả cho họ một khoản thu nhập.
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.1.3.2 Phân loại vốn của ngân hàng thương mại
a Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các chủ sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng Vì đây là là nguồn vốn ổn định, nên một mặt ngân hàng chủ động sử dụng nó vào mục đích kinh doanh của mình, mặt khác lại được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng và duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp rủi ro tín dụng Vốn tự có của ngân hàng thương mại được hình thành bởi vốn điều lệ ( vốn pháp định ) ,vốn tự bổ sung ( quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ , quỹ dự phòng bù đắp rủi
ro, quỹ khen thưởng…)
b Nguồn tiền gửi và nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi
Vốn huy động là một trong những nguồn vốn quan trọng trong kết cấu vốn của ngân hàng thương mại Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả Bản chất của vốn huy động là các tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi
họ có nhu cầu rút vốn
Vốn huy động có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Nó cũng là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh Thông thường vốn huy động chiếm tỷ trọng trên 90% tổng nguồn vốn Do đó hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng hiệu quả thì tổng nguồn vốn của ngân hàng sẽ tăng, là tiền đề để tiến hành hoạt động sử dụng vốn
Huy động vốn là một nghiệp vụ chủ chốt, không thể thiếu được của các ngân hàng nói chung và của phòng giao dịch Đào Tấn nói riêng, bởi nguồn vốn chính của một ngân hàng là nguồn vốn huy động Hơn nữa, huy động vốn không phải là một nghiệp
vụ độc lập mà nó gắn liền với các nghiệp vụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian khác như thanh toán, chuyển tiền của ngân hàng thương mại
Ngân hàng phải luôn đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào đáp ứng nhu cầu của khách hàng đến vay vốn và đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình phát triển của đất nước Bên cạnh đó, huy động vốn phải dựa trên cơ sở xác định thị trường đầu ra, lĩnh
Trang 13vực đầu tư có hiệu quả hay không, lãi suất ra sao.
Đặc biệt huy động vốn tiền gửi là nguồn huy chủ yếu và ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của ngân hàng Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn nhưng chưa đến hạn thanh toán Sự thay đổi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân hàng Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn tiền của ngân hàng Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng phải đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau:
Huy động vốn dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền gửi với thời gian xác định Nguyên tắc tiến hành khoản tiền gửi này là người gửi chỉ được rút tiền khi đến thời hạn như đã thoả thuận có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm, 5 năm Khi gửi tiền tiết kiệm kỳ hạn, ngân hàng sẽ phát hành cho người gửi tiền một sổ tiết kiệm tương ứng với số tiền, kỳ hạn, và lãi suất, Theo quy định, ngân hàng có quyền từ chối việc rút tiền trước thời hạn của người gửi tiền Tuy nhiên, hiện tại quy định này đã được nới lỏng: các ngân hàng cho phép người gửi tiền được rút ra trước hạn nhưng phải báo trước cho ngân hàng một khoảng thời gian nhất định, nếu không báo trước người gửi sẽ không được hưởng lãi suất hoặc rất thấp Thậm chí các ngân hàng còn cung cấp cho người gửi tiền gói sản phẩm tiền gửi rút gốc linh hoạt, theo đó người gửi sẽ được đăng ký một kỳ rút gốc trước hạn bất kỳ
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là khoản tiền gửi mà người gửi có thể gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngân hàng Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi này nhưng rất thấp Gửi tiền dạng này nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền
và dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời gian ngắn đồng thời đươc hưởng một chút lãi Mục đích của khách hàng đối với loại tiền này là hưởng những tiện ích trong thanh toán khi có nhu cầu chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng
Huy động vốn dưới hình thức tiền gửi thanh toán
Đây là khoản tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ Người gửi có thể gửi thêm tiền hoặc rút tiền ra khỏi tài khoản bất cứ lúc nào Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu Lãi suất
Trang 14của tiền gửi thanh toán thấp, thậm chí khách hàng không được hưởng lãi Nhưng bù vào đó, khách hàng được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng với mức phí thấp Với loại tiền gửi này, người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi mà chủ yếu nhằm sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Thông thường với tài khoản tiền gửi thanh toán thông thường, người gửi chỉ có thể chi tối đa số tiền có trong tài khoản của mình nhưng với nhiều trường hợp người gửi muốn thanh toán nhiều hơn số tiền trong tài khoản nhưng chưa kịp nộp thêm tiền vào tài khoản thì sẽ xảy ra khó khăn Thực tế này đặt ra cho ngân hàng yêu cầu kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay, kết quả là tài khoản thấu chi ra đời Ngoài ra, ngân hàng còn nâng lãi suất này nhằm cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác.
c Nguồn tiền vay và nghiệp vụ huy động tiền vay
Nguồn vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng thương mại với ngân hàng trung ương hay với tổ chức tín dụng khác Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tạm thời có ngân hàng thừa vốn, trong khi đó có ngân hàng lại thiếu vốn làm phát sinh nhu cầu đi vay và cho vay lẫn nhau Thị trường vay mượn giữa các ngân hàng gọi là thị trường liên ngân hàng hay thị trường II Ngân hàng đi vay nhằm các mục đích:
- Bổ sung vốn khả dụng để kinh doanh
- Đáp ứng yêu cầu thanh khoản hàng ngày
- Đáp ứng yêu cầu dự trữ bắt buộc theo quy định
- Đáp ứng nhu cầu thanh toán
Vay chiết khấu hay tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng trung ương cho ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái chiết khấu (tái cấp vốn) Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng trung ương nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng Các hình thức tái cấp vốn bao gồm:
-Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá: Là hình thức ngân hàng thương mại đem giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán đến ngân hàng trung ương cầm cố xin vay vốn ngắn hạn Thời hạn vay phải ngắn hơn thời hạn còn lại của giấy tờ có giá và
số tiền vay chỉ trong giới hạn một tỷ lệ % nhất định so với giá trị của giấy tờ có giá Khi đến hạn, nếu ngân hàng thương mại không hoàn trả thì ngân hàng trung ương có thể xiết nợ các giấy tờ có giá Theo Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng nhà nước xem xét, quyết định cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng trong các trường hợp tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, đe doạ sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tín dụng có nguy cơ mất khả năng chi trả do sự cố nghiêm trọng khác
-Chiết khấu giấy tờ có giá: Là việc ngân hàng trung ương chiết khấu lại (tái chiết khấu) các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán đã được ngân hàng thương mại chiết
Trang 15khấu trước đó Chiết khấu được hiểu là hành vi mua đứt (miễn truy đòi) có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các giấy tờ có giá trước khi đến hạn thanh toán
Để được NHTW tái chiết khấu, các giấy tờ có giá phải chưa đáo hạn, người phát hành phải có uy tín Bao gồm: tín phiếu kho bạc, trái phiếu, một số giấy tờ có giá do các NHTM uy tín lớn phát hành Tái chiết khẩu của ngân hàng trung ương làm cho dự trữ thứ cấp (giấy tờ có giá) của ngân hàng thương mại giảm xuống, đồng thời làm dự trữ
sơ cấp (tiền mặt) tăng lên, đáp ứng kịp thời vốn cho ngân hàng thương mại
Mục đích cho vay của ngân hàng trung ương với ngân hàng thương mại là: thực thi chính sách tiền tệ, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng Chi phí của nguồn vốn này cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương: giả sử khi ngân hàng trung ương muốn tăng mức cung ứng tiền thì ngân hàng trung ương sẽ giảm mức lãi suất chiết khấu từ đó sẽ kích thích các ngân hàng thương mại vay ngân hàng trung ương nhiều hơn do đó tăng khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế thúc đẩy kinh
tế phát triển và ngược lại
Vay các tổ chức tín dụng khác
Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể vay tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt
dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ ngân hàng Nhà nước Vì thế, chi phí của nguồn vốn này thường cao và thời gian sử dụng thường ngắn Quá trình vay mượn cũng rất đơn giản Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý Khoản vay có thể không cần đảm bảo, hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc Các hình thức cho vay chủ yếu là: vay qua đêm, vay kỳ hạn
d Các nguồn khác:
Uỷ thác đầu tư
Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát…Các hoạt động này tạo nên nguồn uỷ thác trong các NHTM Cùng với sự phát triển các mối quan hệ đa phương, rất nhiều các tổ chức kinh tế xã hội
có cùng mục tiêu phát triển như ngân hàng, các nguồn tài chính của các tổ chức này đã
sử dụng mạng lưới ngân hàng như kênh dẫn vốn tới các mục tiêu Kết quả là hình thành nguồn uỷ thác, gia tăng vốn của ngân hàng
Trang 16 Huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá
Ngày nay trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu được Các ngân hàng thương mại cạnh tranh nhau về lãi suất huy động đến lãi suất cho vay Trong lĩnh vực huy động vốn các ngân hàng thương mại phải luôn luôn tìm các biện pháp để có thể huy động được đủ nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn của mình Các ngân hàng thương mại không chỉ sử dụng các công cụ truyền thống để huy động vốn mà còn đưa ra các các công cụ mới có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu vốn của mình và kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu ngân hàng đã ra đời Kỳ phiếu và trái phiếu là giấy tờ có giá xác nhận khoản nợ của ngân hàng với người nắm giữ Kỳ phiếu được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3, 6 12 tháng Trái phiếu thường có kỳ hạn lớn hơn 1 năm
Các giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành có tính thanh khoản cao, chúng có thể chuyển hoá dễ dàng ra tiền thông qua việc mua bán trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại các ngân hàng Để có thể mua bán được trên thị trường vốn, thì các giấy tờ có giá phải được chuẩn hoá về mệnh giá, thời hạn, ngày phát hành và ngày đáo hạn Do các giấy tờ có giá được hưởng lãi suất hấp dẫn lại có độ thanh khoản cao, nên ngân hàng
có thể huy động được nhanh chóng một lượng vốn lớn thông qua phát hành giấy tờ có giá, đồng thời có thể chủ động sử dụng nguồn vốn này vào mục đích đã đặt ra Phát hành giấy tờ có giá thường được thực hiện khi ngân hàng đã cam kết tài trợ cho những
dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân ngắn, hay thiếu hụt nguồn vốn sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trong toàn hệ thống Do đó, việc phát hành giấy tờ
có giá của ngân hàng thường được thực hiện theo đợt
Việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu có ưu thế: giúp ngân hàng huy động được đúng
số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao do ngân hàng phải trả lãi cao hơn các hình thức huy động truyền thống Thêm vào đó, không phải ngân hàng nào cũng
dễ dàng phát hành giấy tờ có giá Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này; họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh bởi Ngân hàng Đầu tư Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp Ngân hàng phải nghiên cứu thị trường
để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ…cũng cần phải được quan tâm
1.1.4 Nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại
1.1.4.1 Các hình thức huy động vốn qua tiền gửi tại ngân hàng thương mại
a Huy động vốn từ tiền gửi của dân cư
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng ( các khoản
Trang 17tiết kiệm ) Trong điều kiện có khả năng tiếp cận được với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện mục tiêu an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu an toàn Nhằm thu hút được ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng khuyến khích người dân thay đổi thói quen giữ tiền mặt tại nhà bằng cách
mở rộng mạng lưới huy động vốn, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn
b Huy động vốn từ tiền gửi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
Nhiều khoản thu bằng tiền của doangh nghiệp và tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một thời gian xác định Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp Để đáp ứng nhu cầu tăng thu cho người gửi tiền ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng với loại tiền gửi này Nếu cần chi tiêu, người gửi phải rút tiền ra Tuy không thuận lợi bằng tiền gửi thanh toán nhưng tiền gửi có kỳ hạn lãi được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo kỳ hạn gửi tiền
1.1.4.2 Vai trò của vốn tiền gửi đối với ngân hàng thương mại
Vốn tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại, nó là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng Vốn huy động là nguồn lực chính để ngân hàng tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh của mình Bởi vì nó không chỉ lớn về quy mô mà còn đa dạng về thời hạn và so với các nguồn khác thì nó
có nhiều ưu điểm hơn hẳn Xét về vốn tự có của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng rất nhỏ
so với nhu cầu kinh doanh của ngân hàng Hơn nữa việc tăng vốn tự có là không dễ vì vốn tự có được hình thành chủ yếu từ lợi nhuận và đóng góp của chủ sở hữu Với các ngân hàng thương mại cổ phần thì có thể phát hành cổ phiếu để tăng vốn nhưng lại đối mặt với ngu cơ giảm cổ tức của cổ đông do hiệu ứng pha loãng Xét về phần vốn vay
từ ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại khác thì chỉ đáp ứng được một lượng vốn nhỏ, bị giới hạn về cả quy mô và thời hạn, chịu ràng buộc về các quy định của ngân hàng nhà nước, và đây chỉ là nguồn vốn vay nhằm giải quyết tạm thời thiếu hụt vốn khả dụng trong thời gian ngắn chứ không thể đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh của ngân hàng
Đối với ngân hàng thương mại, cho vay là một hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao Khi huy động được càng nhiều vốn tiền gửi, ngân hàng sẽ
mở rộng được khả năng cho vay hơn, tín dụng cũng tăng trưởng hơn, tính thanh khoản tăng, chính vì vậy sẽ đem lại một nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng, tăng sự phát triển và ổn định của ngân hàng
1.2 Hiệu quả huy động vốn tiền gửi đối với ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm hiệu quả huy động vốn tiền gửi của NHTM
Trang 18Bất kỳ hoạt động nào của mình, con người đều quan tâm đến hiệu quả Điều này có nghĩa với một lượng chi phí nhất định , con người đều mong muốn có một kết quả lớn nhất , đáp ứng nhu cầu cao nhất của con người hoặc muốn tạo ra một khối lượng sản phẩm cho trước.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác đang phải đối mặt với các cuộc cạnh tranh khốc liệt Bất kỳ biến động nào dù nhỏ hay lớn đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng Vì vậy, hiệu quả huy động vốn không chỉ đánh giá chính xác đúng đắn hoạt động huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh khả năng thích nghi
và khẳng định sự phát triển trên thị trường của ngân hàng
Hiện nay, có nhiều quan điểm về hiệu quả, có thể xem xét một số định nghĩa sau:
- Trong “Đại từ điển tiếng việt” hiệu quả là kết quả đích thực
- Trong “Đại từ điển kinh tế thị trường” thì “Hiệu quả kinh tế còn gọi là hiệu ích kinh tế”, đó là sự so sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao trong hoạt động kinh tế với thành quả có ích đạt được Nói một cách đơn giản , đó là sự so sánh giữa chi phí đầu ra với chi phí đầu vào, giữa chi phí với kết quả Phạm trù hiệu quả phản ánh mối quan hệ tương hỗ giữa mục đích, kết quả, chi phí, nguồn lực trong huy động, hay một quá trình
được nghiên cứu Vì vậy trong khuôn khổ của luận văn, “hiệu quả huy động vốn tiền
gửi của ngân hàng thương mại được nhìn nhận như là kết quả đích thực thu được từ tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng”(Quản trị ngân hàng thương mại) Để hoạt động kinh doanh đạt được lợi nhuận
cao, các ngân hàng phải đảm bảo cho các hoạt động được hiệu quả Huy động vốn là một hoạt động kinh doanh của NHTM, hiệu quả trong huy động vốn tiền gửi góp phần quan trọng trong hoạt động ngân hàng nói chung và trong việc tạo nên lợi nhuận nói riêng Là một hoạt động kinh doanh nên có thể hiểu hiệu quả huy động vốn với ngân hàng là mối tương quan so sánh giữa các kết quả và chi phí bỏ ra Hiệu quả này càng cao khi các kết quả đạt được càng cao và chi phí bỏ ra càng thấp Hiệu quả huy động vốn góp phần quan trọng trong việc tạo lợi nhuân, tạo sự ổn định của nguồn vốn, thúc đẩy tăng trưởng và hạn chế rủi ro trong ngân hàng
Hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở các mặt sau:
- Hiệu quả đối với xã hội: Hiệu quả huy động vốn tiền gửi đối với xã hội được nhìn nhận trên góc độ các lợi ích mà lượng vốn này được sử dụng để bổ sung lượng vốn cho nền kinh tế và nâng cao mức sống của người dân thay vì sử dụng đồng vốn đó vào chi tiêu khác Hiệu quả này có được là nhờ việc tiết kiệm chi tiêu, tăng cường các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo nên công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của người dân thông qua sinh lời của khoản tiết kiệm tại ngân hàng và các lợi ích gián tiếp của quá trình sử dụng vốn tiết kiệm để kinh doanh mang lại
Hiệu quả của việc huy động vốn từ dân cư của NHTM đối với xã hội ngày càng cao trong điều kiện đất nước đó đang cần nhiều vốn để phát triển nền kinh tế, nhất là các
Trang 19nước đang phát triển.
- Hiệu quả đối với khách hàng: khi khách hàng tham gia vào hoạt động huy động vốn thì hiệu quả của hoạt động này được hiểu là các lợi ích mà người dân thu được khi gửi tiền vào ngân hàng Hiệu quả này có được là nhờ sinh lời từ khoản tiền người dân cho ngân hàng sử dụng trong một thời gian nhất định và các tiện ích khác khi tham gia vào dịch vụ của ngân hàng
Hiệu quả từ việc huy động vốn của ngân hàng đối với khách hàng càng cao khi mức lãi suất và các ưu đãi họ được hưởng trên khoản tiền họ đã gửi vào ngân hàng cao hơn
so với các ngân hàng khác và so với hình thức đầu tư khác
- Hiệu quả đối với NHTM: Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại dựa trên mối tương quan so sánh giữa kết quả thu được từ vốn huy động và chi phí bỏ ra để huy động Hiệu quả này càng cao khi kết quả đạt được (chính là doanh thu của việc sử dụng khoản vốn huy động tiền gửi) càng cao và lượng chi phí bỏ ra càng thấp (bao gồm lãi phải trả và các chi phí khác)
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM
1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính
Mức thuận lợi và lợi ích của khách hàng gửi tiền.
Đây là nhân tố quan trọng trong mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng Mặc
dù các ngân hàng ngày nay cạnh tranh với nhau chủ yếu ở chất lượng sản phẩm và dịch vụ nhưng giá cả mỗi ngân hàng vốn là một nhân tố hấp dẫn khách hàng Nghĩa là ngân hàng phải trả cho khách hàng thoả đáng nếu không muốn nói là tốt hơn các ngân hàng khác Một khách hàng không muốm mang vốn nhàn rỗi của mình đầu tư váo sản xuất kinh doanh, họ có thể mang đến ngân hàng để gửi tiền để thu lãi tiền gửi Ngân hàng nào đem lại cho khách hàng mức lợi nhuận tối đa và lợi ích tốt nhất ngân hàng đó
sẽ huy động được vốn nhàn rỗi từ khách hàng Khi đánh giá chất lượng công tác huy động vốn, người ta thường sử dụng chỉ tiêu trên để xem xét, đánh giá
Hiện nay khi NHNN ban hành cơ chế lãi suất thoả thuận, tức là giao quyền tự quyết
và lãi suất huy động và cho vay cho các ngân hàng Ngân hàng nào đưa ra mức lãi suất huy động vừa có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng bạn, lại vừa hấp dẫn được khách hàng thì chứng tỏ công tác huy động vốn của ngân hàng đó là rất tốt Hơn nữa, nếu ngân hàng rút ngắn được quy trình huy động vốn, hạ được chi phí huy động vốn đảm bảo thuận lợi cho người gửi tiền về thời hạn, loại tiền, lãi suất huy động, đại điểm giao dịch thì khách hàng sẽ đem vốn nhàn rỗi gửi tại ngân hàng đó và ngân hàng cùng hoạt động kinh doanh có hiệu quả Một số ngân hàng khi cần thiết một khối lượng vốn lớn đã áp dụng tiền gửi tiết kiệm có thưởng Hình thức đó phần nào hấp dẫn được khách hàng bởi khách hàng là người luôn được lợi mà hoàn toàn không gặp rủi ro nào hết Việc huy động vốn theo hình thức này có thể được tổ chức theo từng đợt huy động vốn, giá trị của giải thưởng tuỳ thuộc vào lượng tiền dự định trong đợt huy động
Trang 20Phương pháp này xét kỹ còn có lợi hơn phương pháp lãi suất Mặc dù bản chất là giống nhau Ngân hàng bị giảm một phần lợi nhuận nhưnh bù lại số lượng khoản giao dịch tăng lên nên cuối cùng lợi nhuận ngân hàng sẽ tăng lên Bên cạnh đó ngân hàng
có thể áp dụng một số biện pháp khác: tặng quà nhân dịp ngày lễ, tết hay những ngày trọng đại đối với khách hàng có số tiền gửi lớn và thường xuyên
Thông thường tại các ngân hàng hiện nay, mỗi khi ngân hàng có nhu cầu gửi thêm tiền mặt hoặc rút ra thì họ phải trực tiếp mang sổ tiết kiệm tới tổ chức tín dụng nơi họ gửi vào Khi có sự thoả thuận giữa các ngân hàng với nhau thì khách hàng có thể gửi tiền vào và rút tiền ra tại nơi thuận tiện nhất đối với họ Điều này cần có sự tăng cường quan hệ chặt chẽ giữa các ngân hàng Mỗi ngân hàng không thể tự khép kín hoạt động của mình mà cần có sự liên kết với nhau có như vậy khả năng cung cấp cho khách hàng của mình mới phát triển và hiệu quả
Uy tín ngân hàng và số lượng vốn bị rút trước hạn.
Với phương châm “đi vay để cho vay” ngân hàng muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì ngân hàng phải tạo được uy tín đối với khách hàng Uy tín của ngân hàng
có sự tác động tới công tác huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng Khi ngân hàng có uy tín, khách hàng sẽ tìm đến với ngân hàng đó để giao dịch, ngân hàng thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi từ khách hàng Ngược lại, khi ngân hàng mất uy tín khách hàng sẽ không đến với ngân hàng bởi vì họ sợ gặp rủi ro Khi đó, những khách hàng đã gửi tiền tại ngân hàng sẽ tìm cách rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng mặc dù số tiền gửi đó chưa đến hạn và khách hàng phải chịu thiệt vì số tiền lãi mà họ được hưởng được tính theo lãi suất thấp hơn hoặc lãi suất bằng không Nếu số lượng vốn bị rút trước hạn quá lớn, ngân hàng đó sẽ rơi vào tình trạng mất cân đối giữa huy động vốn
và sử dụng vốn Ngân hàng sẽ không còn khả năng thanh toán và cuối cùng là phá sản
Vì vậy, để đánh giá chất lượng công tác huy động vốn của một ngân hàng người ta còn so sánh tỷ lệ rút vốn trước hạn của một ngân hàng với các ngân hàng khác Nếu tỷ
lệ này cao thì chứng tỏ uy tín của ngân hàng không cao, công tác huy động vốn chưa được phát huy tốt
Mức độ đa dạng hoá của các hình thức huy động vốn.
Phần lớn các ngân hàng hiện nay đều huy động vốn theo các hình thức truyền thống: tiền gửi tiết kiệm, phát hành các công cụ nợ kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu…do vậy các ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu của các khách hàng
Việc đa dạng hoá các hình thức huy động là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá công tác huy động Hiện nay các ngân hàng đều phấn đấu huy động vốn đảm bảo tăng trưởng nhanh và vững chắc theo từng năm, năm sau cao hơn năm trước cả về số lượng
và chất lượng Thông thường tỷ lệ tăng nguồn vốn huy động của các NHTM ở Việt
Trang 21Tuy nhiên công tác huy động vốn phải tuân thủ các chỉ tiêu mang tính bắt buộc sau:
Số lượng vốn huy động không được vượt quá 20 lần vốn tự có của bản thân ngân hàng Đồng thời tỷ lệ (Vốn Tự Có/Vốn Huy Động) x 100% luôn phải lớn hơn hoặc bằng 5%
Việc tuân thủ các chỉ tiêu trên sẽ giúp cho ngân hàng tránh được các rủi ro, đảm bảo tăng trưởng nhanh, ổn định và vững chắc
1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng
a Quy mô nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động
Vấn đề đầu tiên được quan tâm đến khi xem xét khả năng huy động vốn của một NHTM chính là quy mô vốn Ngân hàng đó huy động được Bên cạnh việc đánh giá quy mô tổng vốn của ngân hàng, sự xem xét chi tiết quy mô từng loại vốn, vốn chủ sở hữu và vốn nợ, cũng rất cần thiết Các khoản mục được tính đến khi xác định quy mô vốn chủ sở hữu bao gồm:
- Vốn cổ phần (vốn được cấp, vốn góp)
- Thặng dư vốn
- Lợi nhuận giữ lại
- Các quỹ: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng rủi ro, các quỹ khác
- Tỷ lệ nhất định cổ phần ưu đãi có thời hạn và giấy nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
Khi xét về quy mô, vốn nợ của ngân hàng thương mại thường được xác định gồm tiền gửi, tiền vay và vốn nợ khác Trong đó, vốn nợ khác là vốn nhận uỷ thác, tiền trong thanh toán và các khoản phải trả, phải nộp Các khoản tiền gửi bao gồm:
- Tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp
- Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư ( không kỳ hạn và có kỳ hạn )
- Tiền gửi của các tổ chức tín dụng
Để xác định quy mô tiền vay, các khoản mục được sử dụng gồm:
- Các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, giấy tờ có giá dài hạn
- Các khoản vay ngân hàng trung ương và vay các tổ chức tín dụng
Quy mô vốn chỉ là một chỉ số tuyệt đối và nếu chỉ được dùng đơn lẻ, nó không phản ánh đầy đủ khả năng huy động vốn của một ngân hàng Dựa vào chỉ tiêu quy mô vốn,
Trang 22nhiều chỉ số tương đối được xác định Các chỉ tiêu này cho thấy một cách đầy đủ hơn khả năng huy động vốn của NHTM Nếu quy mô vốn cho biết độ lớn của lượng vốn ngân hàng huy động được thì tốc độ tăng trưởng phản ánh sự tăng (giảm) của vốn tại các thời điểm khác nhau cũng như sự tăng (giảm) đó là nhiều hay ít.
Quy mô vốn năm i - 1
( Giáo trình Ngân hàng thương mại – Tô Ngọc Hưng)
Tốc độ tăng trưởng >100: vốn của ngân hàng tăng
Tốc độ tăng trưởng <100: vốn của ngân hàng giảm
Vốn của ngân hàng gia tăng với những tỷ lệ xấp xỉ nhau trong nhiều năm thể hiện một sự tăng trưởng vốn ổn định Điều đó, một mặt, giúp ngân hàng thuận lợi hơn trong việc dự kiến lượng vốn huy động được để có kế hoạch điều hoà vốn, tạo được sự phù hợp giữa phương án mở rộng huy động vốn và mở rộng tín dụng Trên khía cạnh khác, sự tăng trưởng vốn ổn định còn cho thấy phần nào hình ảnh tốt của ngân hàng trong mắt công chúng
Quy mô nguồn vốn huy động là một trong những yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động huy động vốn của NHTM, được thể hiện qua chỉ tiêu : Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn
Nguồn vốn huy động kế hoạch
(Giáo trình Quản trị ngân hàng – Hồ Diệu )
Nếu tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn càng cao, điều này cho thấy công tác lập
kế hoạch đã sự báo chính xác hoặc gần chính xác lượng vốn có thể huy động được của phòng giao dịch Đào Tấn Việc xác định và tính toán lượng vốn huy động trong kế hoạch rất quan trọng Khi lượng vốn huy động thực tế chênh lệch không lớn với kế hoạch huy động, ngân hàng dễ dàng dự trù được chi phí, tính toán trước được những rủi ro và lượng vốn sử dụng trong kỳ tới do đã được dự báo trước một cách cẩn thận và hợp lý Vì vậy, hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn sẽ có hiệu quả
b Cơ cấu nguồn vốn huy động
Một yếu tố quan trọng khác được đưa ra để đánh giá khả năng huy động vốn của NHTM là cơ cấu vốn Cơ cấu vốn được phản ánh thông qua tỷ trọng của từng loại vốn trong tổng vốn của ngân hàng Quy mô của loại vốn i được sử dụng để tính tỷ trọng của nó trong tổng vốn huy động
Tổng vốn huy động
Việc tính toán tỷ trọng vốn nợ tương đối phức tạp Nó có thể được thực hiện dựa
Trang 23trên việc sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại vốn: theo đối tượng huy động, theo kỳ hạn gửi tiền, theo tính chất hay theo loại tiền Theo mỗi khía cạnh, những phân tích, đánh giá được đưa ra sẽ phản ánh một cách đầy đủ hơn khả năng huy động vốn của NHTM.
Tỷ trọng loại vốn nào cao phản ánh ưu thế của ngân hàng trong việc huy động loại vốn đó Mặt khác,nó cũng cho thấy sự chú trọng của ngân hàng vào những hình thức huy động nhất định Qua đó, người ta có thể nhận thấy chính sách huy động vốn của ngân hàng và đánh giá được ngân hàng có đạt được mục tiêu trong trường hợp thực hiện thay đổi cơ cấu hay không
Việc nhận xét cơ cấu vốn của một ngân hàng không phải vấn đề đơn giản Sự đánh giá đó, ngoài việc phải căn cứ trên cơ sở các số liệu có sẵn, còn cần được nhìn nhận đặc điểm cũng như môi trường kinh doanh cụ thể của từng ngân hàng Mỗi ngân hàng duy trì cho mình một cơ cấu vốn riêng Sự áp đặt cơ cấu vốn giống các ngân hàng khác có thể gây bất lợi hoặc không phát huy được thế mạnh của ngân hàng
c Chi phí huy động
Chi phí huy động
Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, nguồn vốn sở hữu của các ngân hàng thường không thể đáp ứng nhu cầu sử dụng, do vậy ngân hàng phải huy động vốn với chi phí nhất định Do chi phí huy động vốn tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng nên khi xét hiệu quả huy động vốn, ta phải xét đến chỉ tiêu chi phí huy
động vốn Chi phí huy động vốn được tính như sau (Theo Quản trị ngân hàng – Hồ
Diệu):
CP huy động vốn = Lãi trả cho nguồn huy động + CP huy động khác
Trong đó, lãi trả cho nguồn huy động là thành phần quan trọng ảnh hưởng đến quy
mô và hiệu quả huy động vốn
Lãi trả nguồn huy động = Quy mô huy động × Lãi suất huy động
Chi phí huy động vốn cho ta thấy để huy động được một lượng vốn cần phải chi phí bao nhiêu
Chi phí huy động trong hệ thống vốn rất đa dạng và không ngừng gia tăng trong điều kiện các ngân hàng gia tăng cạnh tranh phi lãi suất bao gồm : chi phí trả trực tiếp cho người gửi tiền (quà tặng, quay số trúng thưởng, bảo hiểm,…), chi phí tăng tính tiện ích cho người gửi tiền (trang bị máy đếm tiền, huy động tại nhà, tại cơ quan,…), chi phí bảo hiểm tiền gửi, Một số chi phí khác được tính vào chi phí quản lý và rất khó phân bổ cho hoạt động huy động vốn Việc xác định chi phí huy động vốn là công việc phức tạp và khó khăn, quyết định tới hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại nói chung và tại các phòng giao dịch nói riêng Vì vậy, huy động vốn được
Trang 24coi là hiệu quả xét trên phương diện chi phí khi :
- Ngân hàng huy động được vốn với chi phí thấp để sử dụng, trong khi vẫn đạt được yêu cầu về sự phù hợp giữa huy động và sử dụng vốn
- Ngân hàng quản lý chi phí thường xuyên, coi đây là công việc quan trọng vì khi
có thay đổi cơ cấu nguồn hay lãi suất đều làm thay đổi chi phí trả lãi
Thu nhập sử dụng vốn = Doanh thu từ lãi sử dụng vốn – CP huy động
Ngoài ra để xem xét hiệu quả huy động vốn, người ta cũng thường xuyên sử dụng một chỉ tiêu nữa là : Tỷ suất lợi nhuận vốn huy động Chỉ tiêu này có công thức :
để tăng hiệu quả huy động vốn thì giá thành của một đồng vốn là thấp nhất, mà điều
đó phải phụ thuộc vào việc giảm các chi phí bỏ ra để thu hút được số vốn đó
Hệ số sử dụng = Số vốn được sử dụng
Tổng số vốn huy động
(Theo Tín dụng ngân hàng – Hồ Diệu)
Số lượng vốn được sử dụng trong tổng số vốn huy động càng tăng thì hệ số sử dụng
Trang 25vốn càng lớn Điều này cho thấy số vốn huy động được quay vòng nhanh và có hiệu quả từ đó làm cho lợi nhuận thu được cũng tăng theo
Lãi suất đầu = Chi phí lãi tiền gửi x 100%
Số vốn huy động
Chỉ tiêu này xác định lãi suất huy động bình quân của ngân hàng trong từng thời kỳ nhất định Qua đó, so sánh khả năng hấp dẫn khách hàng của ngân hàng bằng lãi suất đồng thời cho phép so sánh chi phí huy động giữa các ngân hàng
e Khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh
Để đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, thường sử dụng các chỉ tiêu so sánh nguồn vốn huy động được với các nhu cầu tín dụng, thanh toán và các nhu cầu khác để thấy nguồn vốn huy động có thể đáp ứng được bao nhiêu, ngân hàng phải vay thêm bao nhiêu để thoả mãn nhu cầu ấy Để đạt được mục tiêu này, ngân hàng phải có
cơ cấu vốn hợp lý Cơ cấu vốn huy động ở đây bao gồm cơ cấu vốn theo ngắn hạn và trung, dài hạn ; cơ cấu vốn theo nội tệ và ngoại tệ ; theo tiền gửi dân cư và tiền gửi doanh nghiệp Cơ cấu vốn hợp lý có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu sử dụng vốn, không có tình trạng bất hợp lý giữa vốn huy động với nhu cầu sử dụng vốn Theo giáo
trình Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng – Nguyễn Minh Kiều ta có chỉ số :
Tài sản mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng còn nguồn vốn liên quan tới chi phí chủ yếu của ngân hàng, chi phí trả lãi Quy mô huy động càng tăng, tài sản càng tăng, khả năng sinh lời càng lớn hoặc ngược lại Nếu dùng chỉ tiêu chênh lệch thu chi từ lãi (thu nhập từ lãi – chi phí trả lãi) để đo mối liên hệ sinh lời giữa nguồn vốn và tài sản thì sinh lời tăng khi lãi suất bình quân của tài sản phải lớn hơn lãi suất bình quân của nguồn vốn, hoặc lãi suất biên của tài sản phải lớn hơn lãi suất biên của nguồn vốn Điều này có nghĩa là nguồn vốn và sự gia tăng nguồn vốn với quy mô và cấu trúc nhất định, cần được phân bổ các tài sản sinh lời thích hợp
Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả huy động vốn càng cao
Ngân hàng có thể theo đuổi lãi suất huy động cao để kiếm tìm các nguồn tiền với quy mô lớn, để cho vay với lãi suất cao hoặc từ lãi suất cho vay phải chấp nhận trên thị trường, nỗ lực tìm kiếm các nguồn với chi phí thấp
Quy mô và cấu trúc tiền gửi liên quan chặt chẽ đến ngân quỹ và chứng khoán thanh
Trang 26khoản cũng như kỳ hạn nợ của các khoản tín dụng Một số ngân hàng từ cấu trúc, tính
ổn định và thanh khoản của nguồn, sẽ quyết định cấu trúc, tính thanh khoản của tài sản Một số ngân hàng ngược lại từ quy mô và cấu trúc tài sản tự tính sẽ tìm kiếm, quản lý quy mô và cấu trúc nguồn cho phù hợp Một danh mục tài sản bao gồm các khoản cho vay và rủi ro cao, có thể bị tổn thất lớn đến ngân hàng Phản ứng của dân chúng là rút tiền ra khỏi ngân hàng Nguồn tiền suy giảm nhanh và mạnh sẽ đẩy ngân hàng đến phá sản Ngược lại một danh mục tài sản nếu bao gồm phần lớn các tài sản rủi ro thấp sẽ hạn chế thu nhập của ngân hàng, hạn chế ngân hàng mở rộng quy mô trong môi trường kinh doanh đầy biến động Khả năng mở rộng nguồn vốn của ngân hàng sẽ giảm sút.Sau khi nghiên cứu các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả huy động vốn, ta sẽ tiếp tục nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn nói chung và huy động tiền gửi nói riêng để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động của ngân hàng thương mại 1.3.1 Nhân tố khách quan
Môi trường pháp lý
Nghiệp vụ huy động vốn của các ngân hàng thương mại chịu sự điều chỉnh rất lớn của môi trường pháp lý Có những Bộ Luật tác động trực tiếp mà chúng ta thường thấy như: Luật các tôt chức tín dụng, Luật ngân hàng Nhà nước Những Luật này qui định
tỉ lệ huy động vốn của ngân hàng so với vốn tự có, qui định về việc gửi và sử dụng tài khoản tiền gửi Có những Bộ Luật tác động gián tiếp đến hoạt động ngân hàng như Luật đầu tư nước ngoài hoặc các NHTM không được nhận tiền gửi hoặc cho vay bằng cách tăng giảm lãi suất, mà phải dựa vào lãi suất do ngân hàng nhà nước đưa ra và chỉ được xê dịch trong biên độ nhất định mà ngân hàng nhà nước cho phép
Bên cạnh những bộ luật đó thì chính sách tài chính tiền tệ của một quốc gia cũng ảnh hưởng rất lớn tới nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng thương mại Nó được thể hiện ở mục tiêu của chính sách tiền tệ, chẳng hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó ngân hàng huy động vốn dễ dàng hơn Ngược lại, khi Nhà nước giảm lãi suất tiền gửi sẽ làm cho khả năng huy động vốn của ngân hàng gặp khó khăn
Như vậy, môi trường pháp lí là nhân tố khách quan có tác động rất lớn tới quá trình huy động vốn của ngân hàng thương mại nói chung và PGD Đào Tấn nói riêng Mục tiêu hoạt động của ngân hàng thương mại được xây dựng cần dựa trên các qui định, qui chế của Nhà nước để đảm bảo an toàn và nâng cao niềm tin từ khách hàng
Môi trường kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế thời gian qua gặp nhiều khó khăn Những biến động của nền kinh
tế đã ảnh hưởng bất lợi đến tình hình huy động vốn của Phòng Thêm nữa, tình trạng
Trang 27sốt giá đất, thị trường bất động sản biến động bất thường tác động đến tâm lý đầu tư của người dân khiến một lượng khá lớn vốn chảy vào thị trường này Tình hình khan hiếm ngoại tệ diễn ra trong thời gian dài, tỷ giá, giá vàng tăng, tâm lý người đầu tư thay đổi… đã gây áp lực cạnh tranh về lãi suất, về chính sách thu hút trong huy động vốn giữa các ngân hàng.
Nhân tố dân cư
-Thu nhập của người dân: Khả năng huy động vốn của ngân hàng tỷ lệ thuận với thu nhập của dân cư, nghĩa là thu nhập của dân cư càng cao thì tiền gửi tiết kiệm càng tăng Tuy nhiên, thu nhập bình quân, tỷ lệ tiết kiệm của người dân vẫn ở mức thấp
- Sự tín nhiệm của người dân với ngân hàng: Khi nền kinh tế phát triển không ổn định, có lạm phát hay có nguy cơ xuất hiện lạm phát thì người dân phần lớn không gửi tiết kiệm, họ sẽ tích trữ vàng hoặc ngoại tệ mạnh như đô la với kỳ vọng là bảo toàn được giá trị Một số khách hàng chưa thật sự tin vào ngân hàng Có một bộ phận nhỏ trong dân chúng vẫn chưa quen với các hoạt động cũng như sử dụng các tiện ích của ngân hàng, tâm lý lo sợ tiền mất giá …khiến họ vẫn ngần ngại trong việc gửi tiền vào ngân hàng
Thời vụ tiêu dùng
Thời vụ tiêu dùng cũng có ảnh hưởng lớn đến tình hình huy động tiền gửi tiết kiệm của các NHTM trong một thời gian nhất định Vào thời vụ tiêu dùng thì nói chung tiền gửi tiết kiệm giảm xuống Chẳng hạn vào dịp Tết Nguyên đán chẳng những tiền gửi tiết kiệm không tăng mà còn có thể giảm do dân chúng rút tiền để sắm Tết
1.3.2 Nhân tố chủ quan
Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Ngân hàng và mỗi PGD đều phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp Trong chiến lược kinh doanh ngân hàng phải quyết định sẽ mở rộng hoặc thu hẹp quy mô huy động vốn, thay đổi tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng nguồn vốn, lãi suất huy động Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn ngân hàng sẽ khai thác được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả cao
Sau một thời gian dài đua nhau mở rộng quy mô mạng lưới để huy động vốn nhưng
đến nay, do suy giảm kinh tế toàn cầu, một số ngân hàng đã không thể duy trì được
mức tăng trưởng lợi nhuận theo dự kiến, nguy cơ về thiếu hụt thanh khoản, nợ quá hạn gia tăng, địa bàn hoạt động thu hẹp… Chính vì thế, nhiều ngân hàng thay vì đua tăng lãi suất để huy động vốn như trước đây, nay chuyển sang đẩy mạnh khai thác các dịch vụ tiện ích hơn, thay đổi cung cách quản lý, đa dạng hóa sản phẩm… Điều này cho thấy sự quan trọng của chiến lược kinh doanh đối với hoạt động của ngân hàng là rất to lớn Với mỗi giai đoạn khác nhau, ngân hàng cần xây dựng cho
Trang 28mình một chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thực hiện tốt mục tiêu cốt lõi của ngân hàng là an toàn và sinh lời.
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng
Đây là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng đa dạng, phong phú, linh hoạt bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế càng lớn bấy nhiêu Điều này xuất phát từ sự khác nhau về nhu cầu và tâm lý của các tầng lớp dân cư Mức độ đa dạng của các hình thức huy động càng cao thì càng dễ dàng đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của dân cư và họ đều tìm thấy cho mình một hình thức gửi tiền phù hợp mà lại an toàn
Do vậy các NHTM cần thường xuyên nghiên cứu, phát triển những sản phẩm tiền gửi mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người gửi tiền
Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng
Một ngân hàng có dịch vụ tốt hiển nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân hàng khác Trong điều kiện kinh tế thị trường các ngân hàng phải phấn đấu nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hoá các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tăng thu nhập của ngân hàng Những năm vừa qua, mặc dù đã có nhiều tiến bộ xong các sản phẩm trong kinh doanh vốn ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng vẫn chưa đa dạng
Chính sách lãi suất cạnh tranh
Chính sách lãi suất cạnh tranh bao gồm lãi suất cạnh tranh huy động và suất cạnh tranh cho vay là một chính sách quan trọng của ngân hàng Việc duy trì lãi suất cạnh tranh huy động là đặc biệt quan trọng khi lãi suất thị trường đang ở mức tương đối cao Các ngân hàng thương mại không chỉ cạnh tranh giành vốn với nhau mà còn cạnh tranh với các tổ chức tiết kiệm và người phát hành các công cụ khác nhau trên thị trường vốn Đặc biệt trong thời kỳ khan hiếm tiền tệ, dù cho sự khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy những người tiết kiệm và đầu tư chuyển vốn từ công cụ mà họ đang
có sang tiết kiệm và đầu tư hoặc từ một tổ chức tiết kiệm này sang tổ chức tiết kiệm khác Chính sách lãi suất của phòng giao dịch Đào Tấn vẫn chưa thực sự hấp dẫn với người gửi tiền
Chính sách khách hàng
Trong công tác khách hàng, phòng giao dịch Đào Tấn thường chia khách hàng ra làm nhiều nhóm để có cách phục vụ phù hợp Với những khách hàng lâu năm, giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm với ngân hàng thì ngân hàng sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất Với những khách hàng mới, giao dịch chưa nhiều, ngân hàng cần có chính sách tiếp thị thích hợp nhằm gia tăng niềm tin của khách hàng vào ngân hàng, biến khách hàng mới đó trở thành khách hàng quen thuộc của ngân hàng Chính vì vậy, số lượng khách hàng của phòng ngày càng tăng qua
Trang 29các năm và nhận được nhiều sự tín nhiệm của khách hàng lâu năm.
Chính sách phục vụ, quảng cáo
Trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ như ngày nay khó có thể duy trì sự khác biệt
về sản phẩm và giá cả nên chiến lược phục vụ và quảng cáo trở thành yếu tố vô cùng quan trọng để thu hút khách hàng Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo là điều kiện để thu hút khách hàng, chiến lược quảng cáo phù hợp sẽ giúp ngân hàng có nhiều khách hàng mới Do đó để có uy tín trên thị trường, giữ vững mối quan hệ với khách hàng truyền thống và thu hút thêm nhiều khách hàng mới PGD Đào Tấn luôn luôn chú ý và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, có chiến lược quảng cáo hợp lý để để nhiều người biết đến ngân hàng và sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung ứng
CHƯƠNG 2: NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI PGD
ĐÀO TẤN – CHI NHÁNH HÀ NỘI – NGÂN HÀNG ABBANK
2.1 Tổng quan về PGD Đào Tấn – Chi nhánh hà nội -ABBANK
2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành ABBANK
Ngân hàng Thương mại Cổ phần An Bình (ABBANK) được thành lập ngày 13/05/1993 căn cứ giấy phép thành lập số 535/GP-UB do Uỷ ban nhân dân (UBND) Thành phố Hồ Chí Minh cấp, và giấy phép hoạt động số 0031/NH-GP ngày 15/04/1993 do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Vốn điều lệ ban đầu là 1 tỷ đồng
và trụ sở đăt tại 138 Hùng Vương, Thị trấn An Lạc, Huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngân hàng An Bình (ABBANK) là một trong các ngân hàng cổ phần hàng đầu và là một trong mười ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam Tính đến năm 2011, vốn điều lệ của ABBANK đạt 4.199 tỷ đồng Sau 19 năm phát triển và trưởng thành, ABBANK đã có sự bứt phá mạnh mẽ trong những năm gần đây, với sự liên kết từ những tập đoàn kinh tế lớn mạnh trong và ngoài nước như: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), cổ đông chiến lược nước ngoài Maybank- ngân hàng lớn nhất Malaysia Với mạng lưới hiện nay lên tới trên 140 điểm tại 29 tỉnh thành trên toàn quốc, ABBANK đang chứng tỏ tầm nhìn sâu rộng và những bước phát triển chắc chắn, mạnh
mẽ của mình
2.1.2 Giới thiệu về PGD Đào Tấn
Căn cứ kế hoạch năm 2009 và nhu cầu phát triển mạng lưới của ngân hàng , ABBANK mở phòng giao dịch Đào Tấn - Chi nhánh Hà Nội đặt tại số nhà 33 Đào Tấn, Quận Ba Đình, Hà Nội Phòng giao dịch Đào Tấn bắt đầu đi vào hoạt động theo quy chế quản lí Sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch quỹ tiết kiệm ngân hàng An
Trang 30Bình do Hội đồng Quản trị ban hành tại quyết định năm 2009 Trải qua 4 năm hoạt động, tập thể cán bộ nhân viên của Phòng giao dịch Đào Tấn đã nỗ lực vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh doanh, từ đó góp phần không nhỏ vào
thành công chung của Chi nhánh nói riêng, ngân hàng TMCP An Bình nói chung
Hiện nay, phòng giao dịch Đào Tấn hoạt động dưới sự quản lý của trưởng phòng Nguyễn Thị Khánh Hoà và kiểm soát là bà Trần Diệu Huyền
Số máy bàn: (04)37669350
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban PGD Đào Tấn
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức PGD Đào Tấn
Hiện nay, Phòng giao dịch đã được cơ cấu lại theo mô hình phục vụ giao dịch một cửa, tạo thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch đồng thời quản lý thông tin nhanh chóng và thực hiện thanh toán trực tuyến Cơ cấu của phòng gồm có:
Trưởng phòng giao dịch : Nguyễn Thị Khánh Hoà
Phòng kế toán: gồm 5 nhân viên trong đó có 1 kiểm soát, 1 kho quỹ
Phòng tín dụng: gồm 6 nhân viên trong đó có 2 chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân, 3 chuyên viên quan hệ khách hàng doanh nghiệp và 1 chuyên viên quản lý tín dụng
Phòng hành chính gồm 1 văn thư và 1 bảo vệ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức PGD Đào Tấn
2.1.3.2 Nhiệm vụ của các phòng ban
Trang 31Nhằm hướng tới mục tiêu đưa ABBANK trở thành một ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam, hoạt động đa năng theo mô hình một Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng, hoạt động chuyên nghiệp theo những thông lệ quốc tế tốt nhất với năng lực hiện đại, đủ năng lực cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và quốc tế hoạt động tại Việt Nam PGD Đào Tấn có những chức năng và nhiệm vụ chính như sau:
Chức năng và nhiệm vụ của trưởng phòng giao dịch
- Tổ chức, chỉ đạo, điều hành các hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan Đồng thời quản lý, kiểm tra, đôn đốc nhân viên dưới quyền thực hiện đúng theo chế độ chính sách Nhà nước đề ra
- Trưởng phòng ngoài việc giám sát chung toàn bộ phòng giao dịch mà còn trực tiếp quản lý các bộ phận kế toán và quan hệ khách hàng
Chức năng và nhiệm vụ của bộ phận kế toán
Chức năng và nhiệm vụ của bộ phận quan hệ khách hàng
- Tiếp thị và phát triển nhu cầu của khách hàng
- Hướng dẫn và tiếp nhận nhu cầu của khách hàng
- Xác minh thẩm định và lập tờ trình
- Quyết định tài trợ tín dụng
- Hoàn tất thủ tục và giải ngân
- Quản lý, kiểm tra và đôn đốc thu hồi nợ
- Cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Trang 32- Tiết kiệm bảo hiểm trọn đời
- Tiết kiệm lĩnh lãi, rút gốc linh hoạt
- Thẻ ghi nợ nội địa ( Youcard Debit )
- Thẻ ghi nợ quốc tế ( Visa Debit )
Sản phẩm dịch vụ
- Dịch vụ tài khoản cá nhân
- Dịch vụ SMS Banking
- Dịch vụ chuyển tiền trong nước
- Dịch vụ thu hộ tiền điện, nước, tiền cước Viettel
- Dịch vụ chuyển tiền, nhận tiền qua Western Union
- Dịch vụ thu hộ, chi hộ tiền điện, lương
2.1.4.2 Cơ sở hạ tầng, công nghệ kỹ thuật
Trong điều kiện kinh tế hội nhập và nhu cầu phát triển của toàn hệ thống ngân hàng, phòng giao dịch Đào Tấn đã được đầu tư về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị tiên tiến nhất
để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Nằm trên trục đường chính của đường Đào Tấn sầm uất, phòng giao dịch Đào Tấn – chi nhánh Hà Nội có vị trí địa lý khá thuận lợi Mọi nhân viên tại phòng giao dịch đều được trang bị một máy tính bàn để làm việc Cả phòng giao dịch có 3 máy in, 2 máy đếm tiền, 2 máy photo và
1 máy fax Toàn bộ phòng giao dịch sử dụng phầm mềm T24, là phần mềm chuyên
Trang 33dụng và mới nhất dùng trong lĩnh vực ngân hàng trên toàn thế giới.
2.1.5 Khái quát tình hình kinh doanh của PGD Đào Tấn từ năm 2010 – 2012
Từ khi thành lập cho đến nay, trải qua nhiều khó khăn, phòng giao dịch Đào Tấn đã đạt được những thành tích rất đáng ghi nhận Nhờ xây dựng kế hoạch kinh doanh đúng đắn cùng với sự tận tụy, nhiệt tình của các nhân viên, phòng giao dịch Đào Tấn đang dần vươn lên trở thành một trong những phòng giao dịch kinh doanh hiệu quả nhất của chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần An Bình tại Hà Nội Trong những năm vừa qua, kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch rất tốt
Biểu đồ 2.1: Biến động lợi nhuận của PGD Đào Tấn
Trong năm 2010, khi nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng của những năm trước, môi trường kinh doanh cũng trở nên thuận lợi hơn Mặc dù là một phòng giao dịch mới thành lập, tập thể phòng giao dịch Đào Tấn đã biết vượt qua những khó khăn
và đã đạt được kết quả rất đáng mừng, lợi nhuận mà phòng mang lại cho chi nhánh lên tới 2,054 tỷ đồng Bước sang năm 2011, phòng giao dịch Đào Tấn đã tạo được sự tín nhiệm và uy tín đến khách hàng, cũng là thời điểm nền kinh tế trở nên sôi động hơn, phòng giao dịch tiếp tục làm ăn có lãi Cụ thể năm 2011 lợi nhuận của phòng đạt 3,966
tỷ đồng Đến năm 2012, mặc dù là giai đoạn khó khăn và khủng hoảng của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng, nhưng phòng giao dịch vẫn thu được lợi nhuận lên tới 7,349 tỷ đồng Tình hình về hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch Đào Tấn trong năm 2010, 2011, 2012 như sau:
2.1.5.1 Về hoạt động huy động vốn
Trang 34đó phòng giao dịch không những đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vay vốn và thanh toán của mọi đối tượng khách hàng mà còn điều chuyển về chi nhánh Hà Nội một lượng vốn lớn, góp phần cho vay phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
2.1.5.2 Về hoạt động tín dụng
- Tổng dư nợ cho vay năm 2010 đạt: 32,917 tỷ đồng
- Tổng dư nợ cho vay năm 2011 đạt: 122,71 tỷ đồng
- Tổng dư nợ cho vay năm 2012 đạt: 185,5 tỷ đồng
Cho vay nền kinh tế là hoạt động cơ bản, quan trọng, tạo ra lợi nhuận của ngân hàng Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng tín dụng, lấy chất lượng tín dụng làm trọng và phù hợp cơ chế quản lý, giám sát của ngân hàng, phòng giao dịch đã chủ động cho vay với mọi đối tượng khách hàng thuộc tất cả các thành phần kinh tế Tổng mức cho vay trong những năm gần đây đã tăng dần Cụ thể năm
2010 là 32,917 tỷ nhưng đến năm 2011 đã tăng lên 122,71 tỷ (tăng 3,7 lần) và tiếp tục tăng lên 185,5 tỷ vào năm 2012 Điều này cho thấy PGD đã cố gắng rất nhiều trong việc mở rộng danh mục khách hàng, tích cực đẩy mạnh cho vay đối với các khách hàng
cũ, đồng thời chủ động tiếp cận những khách hàng mới giàu tiềm năng
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ 1,069% 0,85% 0,76%
(Theo báo cáo PGD Đào Tấn )
Trang 35Tình hình cho vay trung và dài hạn tăng nhiều qua các năm và có xu hướng tăng cao Hoạt động cho vay (tín dụng) là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, vì vậy ngân hàng rất thận trọng trong việc cho khách hàng vay và hồ sơ rất khắt khe Đặc biệt là cho vay trung và dài hạn vì phải cho vay một lượng tiền lớn đồng thời thời gian thu hồi vốn lâu, rủi ro cao hơn Tuy nhiên, để cân đối giữa huy động và sử dụng vốn, ngân hàng cần giải ngân vốn của mình, cũng như để một hoạt động kinh doanh để đem về lợi nhuận Năm 2011 cho vay ngắn hạn tăng 39,244 tỷ so với năm 2010; năm 2012 tăng 39,69 tỷ so với năm 2011 Cho vay trung và dài hạn tăng mạnh, năm 2011 tăng từ 12,651 tỷ ở năm 2010 lên 63,2 tỷ (tăng gần 5 lần), năm 2012 tăng 23,1 tỷ so với năm
2011 Hoạt động cho vay trung và dài hạn chứa nhiều rủi ro, ngân hàng cần thắt chặt cho vay và hồ sơ vay vốn, cần có các biện pháp dự phòng rủi ro tốt Tuy nhiên theo báo cáo ở bảng trên có thể thấy, tỷ lệ nợ quá hạn của phòng giao dịch Đào Tấn không nhiều so với tổng dư nợ
Mặc dù dư nợ không ngừng tăng trong những năm vừa qua song tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của phòng giao dịch lại có xu hướng giảm xuống Cụ thể năm 2010 là 1,069%, năm 2011 là 0,85% và năm 2012 là 0,76% Điều này cho thấy rằng chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng đã không ngừng tăng lên, các khách hàng của PGD đều là những khách hàng tốt, công tác thẩm định khách hàng và hồ sơ vay vốn của phòng đạt hiệu quả
2.1.5.3 Về hoạt động kinh doanh thẻ, thu phí dịch vụ và số lượng khách hàng
Phí thu được chủ yếu từ dịch vụ thu hộ tiền điện và mở L/C Trong 3 năm tiền phí thu được có xu hướng tăng nhanh Năm 2010 mới chỉ có 0,141 tỷ thì sang năm 2011 đã tăng lên 0,361 tỷ Đến năm 2012, phí dịch vụ đã tăng lên đáng kể, đạt được 0,537 tỷ so với 0,361 tỷ của năm 2011
Về việc gia tăng số lượng khách hàng, phòng giao dịch Đào Tấn cũng thực hiện rất tốt nhiệm vụ này Cụ thể:
- Năm 2010 số lượng khách hàng của phòng là 1354, trong đó số lượng khách hàng cá nhân là 1211, khách hàng doanh nghiệp là 143
- Năm 2011 số khách hàng của phòng là 1953, trong đó khách hàng cá nhân là
1784, khách hàng doanh nghiệp là 169
- Năm 2012 số lượng khách hàng đã tăng vọt lên 2915, trong đó khách hàng cá nhân là 2689 còn khách hàng doanh nghiệp là 226
Về công tác phát hành thẻ, năm 2010 số lượng thẻ mới chỉ là 1127, năm 2011 là
1634, đến năm 2012 số lượng thẻ đã là 2493 (tăng tới 2,2 lần năm 2010)
Sự gia tăng nhanh chóng số lượng khách hàng cũng như số lượng thẻ phát hành cho thấy PGD Đào Tấn đã dần chiếm được lòng tin của khách hàng trên địa bàn, vị thế của
Trang 36ngân hàng đang ngày càng được nâng cao.
(Theo Báo cáo PGD Đào Tấn)
2.2 Thực trạng huy động vốn tiền gửi PGD Đào Tấn từ năm 2010 - 2012
2.2.1 Khái quát chung tình hình huy động vốn của PGD Đào Tấn
Nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi là một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của PGD Đào Tấn Dù mới hoạt động được 4 năm, gặp không ít khó khăn và thách thức, nhưng toàn thể lãnh đạo và nhân viên Phòng đã rất nỗ lực và đem lại một số kết quả tốt trong việc huy động vốn tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế
2.2.1.1 Quy mô nguồn vốn
Tiền gửi của DN 35,033 47,89 78,43 33,77 123,49 29
Tiền gửi của dân cư 38,125 52,11 153,8 66,23 302,337 71
-Tiền gửi KKH 15,168 24,75 30,501 17,44 38,910 12,92-Tiền gửi CKH 46,453 75,25 144,368 82,56 262,321 87,08
-Tiền gửi KKH 11,589 18,43 24,718 14,14 29,211 9,69-Tiền gửi CKH 12,352 20,05 17,678 10,10 21,123 7,02
Tiền gửi từ dân 37,681 60,9 132,473 75,7 250,896 83,2
Trang 37kế hoạch (chênh lệch 11,537 tỷ) dù là năm đầu trong hoạt động kinh doanh Điều này cho thấy, cán bộ quản lý phòng giao dịch Đào Tấn đã có kế hoạch đề ra chỉ tiêu cũng như công tác thực hiện chỉ tiêu khá tốt Phòng đã nghiên cứu và nắm rõ địa bàn hoạt động của mình cũng như ưu thế và bất lợi của phòng trong năm đầu hoạt động để đề ra
kế hoạch phù hợp, do vậy công tác huy động đạt hiệu quả tốt Năm 2011, khi hoạt động kinh doanh đã đi vào ổn định cùng với nền kinh tế thuận lợi, phòng giao dịch Đào Tấn đã đề ra kế hoạch cao hơn năm 2010 rất nhiều (gấp 3 lần) Tiền gửi từ dân cư hoàn thành khá sát so với kế hoạch, nhưng tiền gửi từ doanh nghiệp lại không đạt chỉ tiêu: chỉ đạt 42,396 tỷ trong khi kế hoạch đề ra 78,43 tỷ Thời kỳ này, các doanh nghiệp làm ăn khá tốt, thị trường tiền tệ bên ngoài cũng diễn ra khá sôi động, vì vậy nguyên nhân là do phòng giao dịch Đào Tấn chưa có các phương pháp và chính sách phù hợp để hấp dẫn đối tượng khách hàng doanh nghiệp Năm 2012, trong kế hoạch đề
ra phòng lại nâng chỉ tiêu huy động lên rất nhiều Với tình hình kinh tế khó khăn và cạnh tranh giữa các ngân hàng hiện nay khá gay gắt, với chỉ tiêu kế hoạch như vậy là khá phù hợp nếu ngân hàng muốn đem lại nhiều lợi nhuận về cho ngân hàng Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, do yếu tố khách quan cùng với phòng giao dịch Đào Tấn chưa nghiên cứu kỹ thị trường và tình hình kinh tế biến đổi trong năm 2012, cùng với các chính sách hấp dẫn khách hàng đã dẫn đến tình trạng dư thừa vốn nhiều và chỉ tiêu thực tế chênh lệch nhiều so với kế hoạch Lượng vốn của khách hàng doanh nghiệp không tăng đáng kể so với năm 2011 Điều này cho thấy bộ phận khách hàng doanh nghiệp của phòng giao dịch Đào Tấn chưa thực sự hiệu quả
Mặc dù trong 3 năm đều chưa hoàn thành hết chỉ tiêu, có nghĩa là phòng giao dịch Đào Tấn luôn dư thừa vốn, do vậy phòng sẽ dễ dàng hơn trong thanh khoản Vì khi đề
ra chỉ tiêu kế hoạch, cán bộ quản lý còn phải tính chi phí cho công tác huy động, rủi ro lãi suất, chi phí lãi suất cho các khoản huy động này
Xét về chỉ tiêu thực tế, tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn so với không kỳ hạn chênh lệch nhau khá lớn Chủ yếu nguồn huy động tiền gửi của ngân hàng từ nguồn tiền gửi có kỳ hạn
Bộ phận dân cư do gửi tiền với mục đích tích trữ, nên có xu hướng gửi thời hạn dài để
Trang 38được hưởng lãi suất cao Lượng tiền gửi không kỳ hạn ở bộ phận dân cư ngày càng giảm Năm 2010 đạt 5,85% trên tổng nguồn huy động tiền gửi, năm 2011 có 3,31% và năm 2012 giảm xuống còn 3,22%
Ngược lại, khối doanh nghiệp và tổ chức kinh tế lại có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao hơn tiền gửi có kỳ hạn do mục đích sử dụng tiền khác với bộ phận dân cư Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế này sử dụng tiền để kinh doanh, do vậy tiền của họ hiếm khi nhàn rỗi, các tổ chức này thích để tiền không kỳ hạn ở ngân hàng để có thể rút ra bất kỳ lúc nào cần mà vẫn được hưởng một lãi suất nhất định dù không cao bằng tiền gửi có kỳ hạn Năm 2010, tiền gửi không kỳ hạn chiếm 18,43% trong khi có kỳ hạn là 20,05% Tuy nhiên năm 2011, tiền gửi không kỳ hạn cao hơn có kỳ hạn 4,04% Và đến năm 2012, dù số lượng tiền gửi ít đi song không kỳ hạn vẫn nhiều hơn có kỳ hạn Năm 2012, do kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp thu được ít lợi nhuận hơn mà vốn cần sử dụng lại nhiều, do đó không có nhiều tiền tạm thời nhàn rỗi để gửi vào ngân hàng Vì vậy mà số lượng tiền gửi của bộ phận doanh nghiệp giảm đi đáng kể Song,
bộ phận dân cư vẫn tiếp tục duy trì lượng tiền gửi có kỳ hạn, và tăng dần Điều này chứng tỏ, phòng giao dịch Đào Tấn chú trọng nhiều hơn đến khách hàng cá nhân, và
bộ phận khách hàng cá nhân có hiệu quả, bộ phận khách hàng doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa để huy động hiệu quả hơn
Biểu đồ 2.2: Huy động vốn PGD Đào Tấn 2010 – 2012
Đơn vị : Tỷ đồng
Trang 39Qua biểu đồ trên có thể thấy, nguồn vốn huy động của PGD tăng trưởng qua các năm Trong năm 2010 tổng nguồn vốn huy động là 61,621 tỷ, sang năm 2011, con số này lên tới 174,869 tỷ, tăng tới 183% so với năm 2010 Đến năm 2012, nhờ nỗ lực của toàn phòng, vốn huy động đã tăng thêm 72% so với 2011 lên 301,23 tỷ đồng Đáng kể
là nguồn huy động từ dân cư tăng mạnh và thấy rõ Nguồn huy động doanh nghiệp tăng nhưng chưa nhiều
Bảng 2.4: Quy mô tài sản huy động vốn của chi nhánh Hà Nội năm 2012
Đơn vị: Tỷ đồng
Đơn vị
Vốn huy động
PGD Đinh Tiên Hoàng 712,446 425,223 287,223
PGD Hà Đông 328,012 260,530 67,482
PGD Lê Trọng Tấn 316,224 240,012 76,212
PGD Đào Tấn 301,230 250,896 50,334
PGD Nguyễn Văn Cừ 260,199 228,112 32,087
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012 – PGD Đào Tấn)
Bảng 2.4 là quy mô vốn huy động của các phòng giao dịch có hoạt động kinh doanh tốt nhất của chi nhánh Hà Nội – Ngân hàng ABBANK trong những năm qua, đặc biệt
là năm 2012 Như bảng trên ta có thể thấy, phòng giao dịch Đào Tấn đứng thứ 4 trong tổng số các phòng giao dịch của ngân hàng An Bình khu vực Hà Nội Điều này cho thấy, phòng giao dịch Đào Tấn là một trong những phòng làm ăn hiệu quả của chi nhánh Hà Nội So sánh quy mô vốn huy động với các phòng giao dịch top đầu, quy mô vốn của phòng giao dịch Đào Tấn không kém nhiều so với hai phòng giao dịch xếp thứ
2 và thứ 3 là phòng giao dịch Hà Đông và phòng giao dịch Lê Trọng Tấn (kém phòng giao dịch Hà Đông: 26,782 tỷ và phòng giao dịch Lê Trọng Tấn: 14,994 tỷ) Ngoài ra, quy mô vốn huy động từ bộ phận dân cư của phòng giao dịch Đào Tấn còn lớn hơn phòng giao dịch Lê Trọng Tấn (1,884 tỷ) chứng tỏ trong năm 2012 kinh tế nhiều biến động, nhưng phòng giao dịch Đào Tấn vẫn duy trì tốt công tác huy động và công tác chăm sóc khách hàng nên lượng tiền gửi dân cư vẫn khá cao so với các phòng giao dịch khác Đối với phòng giao dịch Nguyễn Văn Cừ, phòng giao dịch Đào Tấn giữ một khoảng cách khá xa cả về huy động tiền gửi dân cư và huy động từ tổ chức kinh tế (hơn phòng giao dịch Nguyễn Văn Cừ về dân cư: 22,784 tỷ; về tổ chức kinh tế: 18,247
Trang 40tỷ) Tuy nhiên, so với phòng giao dịch Đinh Tiên Hoàng, phòng giao dịch Đào Tấn vẫn bị cách rất xa về quy mô vốn huy động Vì vậy, phòng cần nỗ lực và có nhiều biện pháp tăng cường huy động nhiều và hiệu quả hơn nữa để có thể trở thành Phòng giao dịch có hoạt động kinh doanh tốt nhất, đem lại lợi nhuận lớn của chi nhánh Hà Nội – Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình.
Bảng 2.5: So sánh quy mô vốn huy động các NHTM địa bàn đường
Đào Tấn – Quận Ba Đình – Hà Nội (Năm 2012) Đơn vị: Tỷ đồng
và phát triển nông thôn Đứng thứ hai là ngân hàng Sài Gòn thương tín (Sacombank) và phòng giao dịch Đào Tấn đứng thứ 3 trên địa bàn Dù vậy quy mô huy động vốn của phòng không chênh lệch nhiều với ngân hàng Sacombank Năm 2011 kém 55,818 tỷ nhưng đến năm 2012 khoảng cách về vốn được rút ngắn còn 29,84 tỷ Năm 2011, phòng giao dịch Đào Tấn còn xếp sau ngân hàng Kỹ thương Techcombank, đến 2012
đã bứt phá lên 301,23 tỷ (hơn Techcombank 46,996 tỷ) Quy mô vốn huy động của phòng giao dịch Đào Tấn cũng tăng ấn tượng nhất trong khu vực Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tăng 53,368 tỷ; Sacombank tăng 100,383 tỷ; Techcombank tăng 77,332; phòng giao dịch Đào Tấn – Ngân hàng An Bình tăng 126,361 tỷ Điều này cho thấy trong vòng một năm, phòng đã có chiến lược huy động hiệu quả và chiếm được thị phần lớn trên địa bàn
2.2.1.2 Cơ cấu nguồn vốn huy động