1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất khẩu lao động Việt Nam sang Hàn Quốc

37 1,1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xuất khẩu lao động Việt Nam sang Hàn Quốc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Xuất khẩu lao động
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 447,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất khẩu lao động Việt Nam sang Hàn Quốc

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế hôm nay, xuất khẩu lao

động đã trở thành một xu hướng mang tính chất quốc tế, phù

hợp với quy luật phân công sức lao động trong nền kinh tế thế

giới

Đối với Việt Nam, xuất khẩu lao động đã và đang là một

phương tiện giúp sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên con người

Với dân số đông, tốc độ tăng dân số vẫn cao, hơn một nửa dân

số đang trong độ tuổi lao động, trong khi nền kinh tế chưa đủ

khả năng thu hút hết nguồn lao động dồi dào này, xuất khẩu lao

động trở thành một kênh giải quyết việc làm cho người lao

động, đem lại thu nhập cho ngân sách nhà nước

Hiện nay, Việt Nam đang cung cấp lao động xuất khẩu chủ

yếu cho các nước Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan, Lào, Nhật

Bản, Trong đó Hàn Quốc là một thị trường nhập khẩu lao

động quan trọng đối với nước ta

Với đề tài "Xuất khẩu lao động Việt Nam sang Hàn Quốc",

bài tiểu luận này trước khi đưa ra tình hình thực tế, những khó

khăn cùng với triển vọng của xuất khẩu lao động Việt Nam sang

Hàn Quốc, cũng xin nêu một số nét sơ lược về sự chuyển dịch

lao động quốc tế

Trang 2

Chương I TỔNG QUAN VỀ SỰ CHUYỂN DỊCH

LAO ĐỘNG QUỐC TẾ

1 Khái niệm

Di chuyển quốc tế sức lao động là hiện tượng người lao

động làm thuê di chuyển ra nước ngoài nhằm mục đích kiếm

việc làm để sống Khi ra khỏi một nước, người đó được gọi là

người xuất cư, còn sức lao động của người đó được goi là sức

lao động xuất khẩu

Khi đến một nước khác, người lao động đó được gọi là

người nhập cư và do đó sức lao động của người đó được gọi là

sức lao động nhập khẩu Người xuất cư này trở về tổ quốc mình

được gọi là người tái nhập cư Đại lượng tuyệt đối của tổng số

người nhập cư và xuất cư gọi là khối lượng di cư lao động, còn

hiệu số của nhập và xuất là sai ngạch di cư

Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, sức lao động cũng

biến thành hàng hóa, tuy rằng đó là một thứ hàng hóa đặc biệt,

cho nên nó cũng là đối tượng của các quan hệ mua và bán Nếu

hành vi mua, bán này diễn ra trên thị trường thế giới thì được

gọi là xuất nhập khẩu sức lao động

Vậy thị trường thế giới về sức lao động là một lĩnh vực đặc

biệt của nền kinh tế thế giới, nơi diễn ra quá trình trao đổi sức

lao động ra ngoài phạm vi một quốc gia vì lý do kinh tế

2 Nguyên nhân của di chuyển quốc tế sức lao động

Trang 3

Thứ nhất, cơ sở khách quan của di chuyển quốc tế sức lao

động trước hết là những biến động thất thường trong nhu cầu về

sức lao động Hay nói cách khác, tính chất không đều của quá

trình tích lũy tư bản làm nảy sinh sự cần thiết phải có sự trao đổi

quốc tế về thứ hàng hóa đặc biệt là sức lao động

Thứ hai, nguyên nhân của di chuyển quốc tế sức lao động là

sự chênh lệch ngày càng tăng về trình độ phát triển giữa các

nước

Thứ ba, nguyên nhân góp phần gây nên hiện tượng di

chuyển quốc tế sức lao động là sự chênh lệch về mức tăng dân

số tự nhiên Tốc độ gia tăng tự nhiên của dân số toàn thế giới đạt

cực đại vào giữa thập kỷ 60 (1,99%) sau đó bắt đầu có xu hướng

giảm liên tục, tuy chậm chạp (vào nửa đầu những năm 70 là

1,925% và nửa cuối thập kỷ đó là 1,72%) Song điều này không

giống nhau vào các nhóm nước và những nước cụ thể Ở nhóm

nước tư bản phát tiểu, chỉ tiêu này là 1% còn ở nhóm các nước

đang phát triển là 2,3%

Sự chênh lệch này về tốc độ gia tăng dân số cộng với tình

trạng khác nhau ngày càng tăng về trình độ phát triển kinh tế là

nguyên nhân gây ra hiện tượng xuất cư từ nước có mức tăng dân

số cao hơn và trình độ phát triển thấp, và hiện tượng nhập cư

Trang 4

vào các nước có trình độ phát triển cao hơn và tốc độ tăng dân

số thấp hơn

Hiện tượng di chuyển quốc tế về sức lao động thường là kết

quả của ba nguyên nhân nói trên Và thực chất bao nguyên nhân

này là những quá trình phát triển mà giữa chúng đang tồn tại

một quan hệ nhân quả, quy định, tương hỗ lẫn nhau Khi tốc độ

tăng dân số cao, nhưng nền kinh tế phát triển chậm chạp thì hậu

quả tất yếu là nạn thất nghiệp nghiêm trọng Trong hoàn cảnh đó

hướng khắc phục sẽ phải là một mặt đẩy nhanh tốc độ phát triển

kinh tế nói chung và những ngành dùng nhiều sức lao động nói

riêng, mặt khác xuất cư phần nào sức lao động dư thừa sang các

nước khác

3 Ảnh hưởng

Cũng như mọi hiện tượng và quá trình kinh tế khác, xuất

khẩu sức lao động có thể mang lại những kết quả tốt, tích cực

cũng như gây ra những hậu quả xấu, tiêu cực cả đối với nước

xuất cũng như nước nhập khẩu

Trong số tất cả những hậu quả tốt cũng như hậu quả xấu mà

nó gây ra bao gồm cả những gì là tất yếu, vốn có của hiện tượng,

quá trình với những gì là hệ quả của những sai lầm chủ quan (về

măt chủ trương, chính sách, cách tổ chức thực hiện ) Xuất

khẩu sức lao động cũng như con dao hai lưỡi, nếu sử dụng một

Trang 5

cách hợp lý sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn là thiệt hại, và ngược

lại

3.1 Đối với nước xuất khẩu

- Thu ngoại tệ dưới dạng tiền gửi về của những người lao động

nước ngoài cho gia đình họ

Về khoảng tiền gửi này có những đặc điểm đáng lưu ý sau:

 Trong những năm 60-70 tốc độ hàng năm rất cao

 Sang đầu thập kỷ 80, số tiền này vẫn tiếp tục tăng song tốc độ

chậm lại nhiều

 Số tiền này có ý nghĩa đáng với khoảng 60 nước

 Số lượng tiền nước xuất khẩu nhận được nhiều hau ít còn tùy

thuộc vào chính sách và biện pháp khuyến khích đối với

người đi xuất khẩu Nếu chính sách đó không hợp lý (hải

quan, ngân hàng, tỷ giá ) người đi xuất khẩu sẽ tăng phần

chi phí tại chỗ, do đó giảm phần lương của anh ta gửi về

nước

 Số tiền một người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài gửi về

còn phụ thuộc vào đối tượng tuyển chọn xuất khẩu là người

như thế nào: có gia đình hay chưa, già hay trẻ, sau khi trở về

sẽ về hưu hay còn tiếp tục làm việc Kinh nghiêm của các

nước cho thấy những người lao động đã có gia đình riêng,

xuất thân từ nông thôn đã kinh qua quân đội thường gửi về

số tiền nhiều hơn so với những người có cùng mức lương

Trang 6

nhưng chưa có gia đình, xuất thân từ thành thị, con em gia

đình khá giả

 Hiệu quả kinh tế xã hội của khoảng tiền gửi này phụ thuộc

trước hết vào trình độ phát triển kinh tế, bầu không khí xã hội

và chủ trương chính sách tại nước xuất khẩu lao động

- Tăng thu nhập ngân sách bàng mấy cách sau:

 Người đi lao động nước ngoài phải trích một phần lương của

mình để nộp cho nhà nước

 Phí làm hộ chiếu và thủ tục nhập cảnh

 Bán vé máy bay

 Các loại thuế khác như thuế thu nhập, thuế khi bán hàng xuất

khẩu tại thị trường nội địa (loại thuế này thường do các

thương nhân kinh doanh hàng nhập ngoại phải trả)

- Giải quyết phần nào tình trạng thất nghiệp trong nước theo

những cách sau:

 Nếu người đi xuất khẩu lao động thất nghiệp thì coi như họ

được đảm bảo công việc làm trong thời gian họ ở nước ngoài

 Nếu người đang có việc làm mà đi xuất khẩu thì liệu chỗ làm

được giải phóng ra có thể thay thế bằng những lao động đang

thất nghiệp hay không? Không nhất thiết như vậy, do:

+ Thường những người đi xuất khẩu lại là những người thực tế

là thừa hoặc thất nghiệp từng phần, thuộc diện "tinh giảm biên

chế"

Trang 7

+ Những người đang thất nghiệp lại không có trình độ tay nghề

đảm đương công việc của người ra đi Mà để đào tạo dạy nghề

cho họ thì chính phủ không có tiền Lối thoát ở đây là có thể

trích một phần tiền thu nhập xuất khẩu để làm việc này

 Vấn đề phức tạp nảy sinh là số phận những người đi xuất

khẩu sẽ thế nào khi trở về, họ sẽ có việc làm hay thất nghiệp?

Số tiền ngân sách thu được cộng với số tiền người lao động

tiết kiệm được liệu có đủ công ăn việc làm cho bản thân họ

không?

Nếu biết sử dụng tốt số tiền thu được nhờ xuất khẩu lao động,

phần nào có thể giảm bớt tình trạng thất nghiệp trong nước và

đảm bảo việc làm cho những người đi xuất khẩu lao động trở về

- Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Sở dĩ như vậy là bởi vì:

 Người đi lao động khi làm việc ở nước ngoài nói chung vẫn

quen dùng các món ăn truyền thống của họ, cũng như một số

hàng tiêu dùng khác Do đó nảy sinh nhu cầu hoặc gây sức ép

buộc nước chủ nhà phait nhập khẩu những thứ đó

 Khi đi lao động ở nước ngoài, mỗi người có thể mang theo

một lượng hàng hóa nhất định Nếu nước nhập khẩu sức lao

động cho phép nhập khẩu mặt hàng đó và việc mang ra nước

ngoài những mặt hàng đó không ảnh hưởng xấu đến nước

xuất khẩu thì đây là việc nên làm

 Khi xuất khẩu sức lao động để thực hiện dự án kiểu công

trình gói gọn hay chìa khóa trao tay mà bên xuất khẩu chịu

Trang 8

trách nhiệm cung ứng máy móc thiết bị thì cũng sẽ đẩy mạnh

xuất khẩu hàng hóa

 Khi làm việc tại thị trường nước ngoài, người lao động xuất

khẩu có thể tìm hiểu thị trường tại chỗ và ký kết các hợp

đồng mua bán hàng hóa

- Nâng cao trình độ (văn hóa nói chung, tay nghề chuyên môn,

kỹ thuật tiên tiến, )

Sau khi xuất khẩu lao động trở về người lao động có trình

độ hiểu biết phổ thông cao hơn, tay nghề ít nhiều được nâng cao,

tiếp thu được lối sống và tác phong làm việc công nghiệp

Song không phải lúc nào và bất kỳ ai cũng đều được như vậy

Những người có trình độ học vấn cao hoặc tay nghề giỏi thì

thường thu được kết quả này

Nếu lao động xuất khẩu là những người chưa được dạy tay

nghề, nước nhập khẩu lại bố trí làm những công việc tay chân

đơn giản, thì sẽ ít có cơ hội học được nghề gì đó có ích sau này

Còn nếu nước nhập khẩu bỏ tiền ra để dạy nghề thì sức lao động

đố rất thấp vì một phần tiền lương sẽ bị khấu trừ bớt để hoàn lại

chi phí đào tạo

Nếu lao động xuất khẩu là những người giỏi thì họ được

đào tạo nghề hiện đại phức tạp Nhưng khi trở về nước nghề đó

lại không được dùng hoặc dùng với hiệu quả thấp thì họ lại

không trở về nước hoặc trở về thì họ lại chờ thời cơ để xuất cư

lần nữa Đó chính là hiện tượng chảy máu chất xám

Trang 9

- Gây ra tình trạng thiếu công nhân lành nghề, chuyên gia trong

một số ngành, thậm chí thiếu lao động nói chung

- Do quản lý kém mà ở một số nước việc xuất khẩu ồ ạt sức lao

động đã gây ra tình trạng chảy máu vàng, buôn ngoại tệ lậu, làm

hàng giả, giá bất động sản trong nước tăng liên tục

- Những người đi lao động trở về mang theo lối sống thói quen

sinh hoạt trái với nền văn hóa dân tộc Điều này xảy ra chủ yếu

đối với số lao động có trình độ văn hóa chung và trình độ thẩm

mỹ thấp Do hạn chế về trình độ nhận thức nên số này cái hay,

cái đẹp không học lại bắt chước những thói hư tật xấu của người

bản xứ, dễ bị tha hóa

- Xuất khẩu sức lao động còn gây ra hàng loạt hậu quả xấu về

mặt tâm lý xã hội cả đối với người đi và người ở lại

3.2 Đối với nước nhập khẩu

- Nhờ nhập khẩu sức lao động nước ngoài mà các nước này

hàng năm thu được trên 30 tỷ ÚD Cơ chế của cách kiếm tiền

này như sau:

 Tiết kiệm được chi phí nuôi người lao động từ nhỏ đến tuổi

lao động, chi phí đào tạo dạy nghề, chi phí tái sản xuất sức

Trang 10

lao động Vì ba khoản này đã có nước xuất khẩu lao động

gánh chịu

 Do sự bức bách của nhu cầu kiếm sống, cộng với sự lo sợ bị

sa thải trục xuất cho nên những người lao động ngoại quốc

sẵn sàng làm bất cứ việc gì với mức lương thấp hơn nhiều so

với người bản xứ làm cùng công việc với họ

 Các chủ tư bản dùng lao động ngoại quốc để gây sức ép

không tăng lương cho lao động bản xứ, chia rẽ công đoàn,

hạn chế đình công, bãi công Tóm lại việc nhập khẩu sức lao

động lợi nhiều hơn hại đối với nước nhập khẩu

- Những tác hại do nhập khẩu lao động gây ra:

 Tăng thêm chi phí vào các mục tiêu xã hội, nhà ở, trường

học, thông tin liên lạc

 Trong lúc do ảnh hưởng của cách mạng khoa học kỹ thuật mà

tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm ở các nước phát triển cao,

nhưng còn có điều kiện nhập cư tư bản khá rẻ tiền cho nên ở

một số ngành không kích thích được việc đổi mới cơ cấu theo

chiều sâu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới

 Một số ngành phụ thuộc vào nguồn lao động nhập khẩu như

ngành xây dựng ở Trung Đông, ngành chế tạo, lắp ráp ô tô ở

Pháp, khai thác vàng ở Nam Phi, dịch vụ nghỉ mát ở Thụy Sỹ

 Ngoài ra các cộng đồng ngoại kiều ở thủ đô các nước phương

Tây còn gây ra tình trạng lộn xộn, xung đột lẫn nhau, v.v

Trang 11

4 Xu hướng hiện nay về di chuyển quốc tế sức lao động

- Xuất khẩu lao động mang tính quốc tế

Dưới góc độ dân số học, việc di chuyển lao động giữa các

quốc qia đã được hầu hết các chuyên gia dân số thế giới nghiên

cứu và đưa vào khái niệm "di dân quốc tế" Có thể nói các hoạt

động trong lĩnh vực này vài thập kỷ gần đây sôi động hẳn lên và

đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà kinh tế Nhưng đây không

phải là một hiện tượng kinh tế xã hội hoàn toàn mới, bởi vì ngay

từ cuối thế kỷ 19 hiện tượng di dân quốc tế đã diễn ra

- Xuất khẩu sức lao động phát triển phù hợp với quy luật phân

công lại sức lao động thế giới

Xu hướng quốc tế của việc đưa lao động đi làm việc có thời

hạn ở nước ngoài thể hiện tính quy luật của sự di chuyển nguồn

lao động trong phạm vi quốc tế Bàn về sự di chuyển này, các

tác giả kinh điển đã khẳng định đó là tính tất yếu và tác dụng

tiến bộ của lịch sử Ngay từ buổi bình minh của lịc sử loài người

đã xuất hiện sự di chuyển này

Tính tất yếu và tiến bộ lịch sử của sự di chuyển đó bắt

nguồn từ bản chất di chuyển của các nguồn lao động Đây chính

là một hình thức phân công lao động Phân công lao động nhằm

thúc đẩy tăng năng suất lao động, cơ sở tăng thu nhập, điều kiện

làm cho đời sống dễ chịu hơn Việc tăng năng suất lao động

trong lĩnh vực lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài, trong

điều kiện cụ thể ở nước ta nó bao hàm cả người đi va người làm

Trang 12

việc trong nước Nó chính là khâu trung gian (tuy không phải là

cơ bản) để thực hiện tăng năng suất lao động

Xu hướng quốc tế hóa trong sử dụng nguồn lao động giữa

các quốc gia đưa đi hay tiếp nhận ngày một tăng Cơ cấu sử

dụng lao động cũng ngày một đa dạng nhưng dần dần đi vào sử

dụng lao động có trình độ chuyên môn cao Tuy nhiên, trong

giai đoạn hiên nay, ở nước ta và một số nước trong khu vực, lao

động phổ thông (không có nghề) còn ra đi với số lượng lớn vì

giá cả tiền công thuê mướn và khả năng đào tạo của các nước sử

dụng còn cho hiệu quả cao với họ, hơn là việc sử dụng ngay lao

động chuyên gia có trình độ chuyên môn cao

Sự phân bố không đều về dân cư, về điều kiện tự nhiên (tài

nguyên) với sự bùng nổ về dân số trên thế giới đã hình thành các

luồng di cư như: lao động (dân cư) ở các nước kinh tế chậm phát

triển (có đời sống kinh tế thấp) di chuyển đến những nước có

đời sống kinh tế cao hơn Trên thực tế các hướng di chuyển rõ

nét nhất hiện nay là từ Đông sang Tây, từ Đông và Phi Châu

chuyển sang vùng Trung cận đông,

Trang 13

Chương 2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

VIỆT NAM SANG HÀN QUỐC

1 Chính sách của Việt Nam

Về xuất khẩu lao động:

Cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động:

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan cấp phép

hoạt động XKLĐ

- Doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định, gửi hồ sơ xin

phép hoạt động XKLĐ gửi về Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội Thời hạn xem xét cấp giấy phép không quá 15 ngày, kể

từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định

Đăng ký hợp đồng:

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội uỷ quyền cho Cục Quản

lý lao động với nước ngoài tiến hành đăng ký hợp đồng cho

doanh nghiệp:

+ Hồ sơ đăng ký hợp đồng của doanh nghiệp có giấy phép hoạt

động XKLĐ gửi về Cục Quản lý lao động với nước ngoài - Bộ

Trang 14

LĐ TBXH ít nhất ba ngày trước khi tổ chức tuyển chọn người

lao động đi làm việc ở nước ngoài

+ Hồ sơ đăng ký hợp đồng của doanh nghiệp không có giấy

phép hoạt động XKLĐ gửi về Cục Quản lý lao động với nước

ngoài - Bộ LĐ TBXH ít nhất bảy ngày trước khi tổ chức tuyển

chọn người lao động đi làm việc ở nước ngoài

2 Chính sách của Hàn Quốc

2.1 Chính sách nhập khẩu lao động nước ngoài của Hàn Quốc

Hàn Quốc hiện tiến hành tuyển dụng lao động nước ngoài

nói chung và Việt Nam nói riêng theo hai chế độ: chế độ cấp

phép lao động và chế độ tu nghiệp sinh công nghiệp

-Các quốc gia tuyển dụng công nhân : Nepal, Mông Cổ,

Mianma, Bangladesh,Việt Nam, Serilanca, Uzbekistan, Iran,

Indonêsia, Trung quốc, Kazakhtan, Thái lan, Paskistan, Philipin,

Campuchia gồm 15 quốc gia trọng tâm

-Số lượng đăng kí: 130.000 người (Từ năm 2002)

-Số lượng được khai báo chính thức: 38.000 người

Căn cứ vào các tài liệu hộ hợp đồng quản lí nhân lực lao động

người nước ngoài ở Bộ điều tra ngoại giao Hàn Quốc thì vào

năm 2006 phải tuyển được thêm 58% so với con số 100.4000

trong năm 2005, tăng 60.000 người, dự báo là sẽ có sự giao

động mạnh về yêu cầu tuyển dụng lao động trong thời gian tới

Trang 15

Chế độ cấp phép lao động

- Các quốc gia tuyển dụng công nhân: Việt Nam, Indonesia,

Philipin, Srilanca, Thái Lan, Mông Cổ gồm 6 nước

- Các ngành nghề kinh doanh: Kĩ nghệ sản xuất, kiến thiết, giáo

dục, dịch vụ

-Bảo hiểm xã hội (sức khoẻ, quốc dân, thuê mướn lao động, tai

nạn công nghiệp), bảo hiểm xuất cảnh trọn kì (tiền thôi việc),

bảo hiểm việc nợ tiền lương của người lao động, bảo hiểm tiền

về nước, thương tật cho người lao động

Ngoài hai chương trình tu nghiệp sinh và cấp phép lao

động, Hàn Quốc còn tiếp nhận lao động nước ngoài qua chương

trình Thẻ vàng Tháng 11/2005 đã có 32 doanh nghiệp Hàn

Quốc sang Việt Nam trực tiếp tuyển 100 lao động kỹ thuật cao

trong các ngành điện tử, năng lượng, công nghệ thông tin, trong

đó khoảng 70 người đã được tiếp nhận sang làm việc tại Hàn

Quốc

- Người lao động nước ngoài cũng phải tham gia mua các loại

bảo hiểm: tuyển dụng, tai nạn lao động, sức khoẻ, tiền lương và

Trang 16

- Trong khi làm việc, người lao động bị bệnh hay bị thương thì

có thể nhận được những khoản trợ cấp sau: điều dưỡng, nghỉ

việc, thương tật, và trợ cấp gia đình

- Tất cả tai nạn lao động xảy ra trong khi đang làm việc do lỗi

của người lao động sẽ không bị truy cứu trách nhiệm, lao động

vẫn có thể nhận được sự bảo trợ của Luật bảo hiểm bồi thường

- Chủ sử dụng lao động phải tham gia mua bảo hiểm bảo lãnh

tiền lương, đề phòng trường hợp công ty bị phá sản mà không

thể trả lương và tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động

- Nếu lao động bỏ trốn khỏi nơi làm việc và trở thành người lưu

trú bất hợp pháp thì sẽ bị mất hết quyền lợi và không được pháp

- Thời gian tối đa mà người lao động nước ngoài có thể làm việc

ở Hàn Quốc là 3 năm, mỗi năm phải ký lại hợp đồng 1 lần Hết

thời hạn này, lao động phải về nước

- Trong thời gian làm việc tại Hàn Quốc, lao động không được

Trang 17

2.3 Một số chính sách hỗ trợ lao động nước ngoài của Hàn

Quốc

- Đẩy mạnh công tác giáo dục tiếng Hàn cho con em công nhân

Để đẩy mạnh công tác giáo dục tiếng Hàn Quốc cho con em

công nhân lao động di trú, Bộ giáo dục nguồn nhân lực Hàn

Quốc dự định sẽ thực hiện nhiều kế hoạch mới Ở cấp tiểu học,

tổ chức lớp học tiếng Hàn, soạn thảo sách giáo khoa riêng cho

con em công nhân di trú Bộ cũng sẽ điều tra xem thực trạng các

vấn đề và tính thiết yếu của nó và dự định đến tháng 8 này sẽ

công bố thi hành những chính sách hỗ trợ tổng hợp

- Bộ tư pháp đảm trách vấn đề bảo vệ nhân quyền cho người

nước ngoài

- Thủ tục tuyển dụng người lao động nước ngoài cũng sẽ được

đơn giản hoá Kể từ tháng 7/2006, những thủ tục cần thiết khi

muốn tuyển dụng lao động nước ngoài như “Giấy chứng nhận

thiếu lao động” và “Giấy phép tuyển dụng”được sát nhập làm

một Chủ công ty cũng không cần phải khai báo khi công ty bắt

đầu tiến hành hoạt động v.v các thủ tục như vậy sẽ được lược

Đến năm 2007, chế độ cấp phép lao động và chế độ tu nghiệp

sinh sẽ được sát nhập làm thành chế độ cấp phép lao động mới

Trang 18

- Các phương án hỗ trợ nhằm tăng cường khả năng lao động của

công nhân cũng được đề xuất Khi chủ công ty, nhà máy tổ chức

huấn luyện phát triển năng lực làm việc cho các nhân viên, công

nhân hợp đồng thì học phí huyấn luyện và tiền lương trong thời

gian huấn luyện đó cũng sẽ được chi trả Bắt đầu từ tháng 3 này,

trường dạy nghề chuyên môn và trường Đại học kỹ thuật sẽ

được sát nhập làm một và được điều hành bởi Đại học trung tâm

và các cơ sơ hệ thống Những doanh nghiệp nhỏ muốn tiến hành

huấn luyện kỹ thuật và năng lực cho công nhân thì sẽ được áp

dụng chế độ bảo hiểm tuyển dụng, theo đó, lệ phí và tiền lương

- Những công nhân làm trong các ngành công nhân độc hại đều

phải được kiểm tra sức khoẻ đặc biệt Kể từ ngày 01/01/2006,

phạm vi các ngành công nghiệp độc hại ảnh hưởng đến sức khoẻ

lao động như: tiếng ồn, bụi, hoá chất v.v được xem xét mở rộng

Ngoài ra, việc thiết lập công đoàn lao động của công nhân viên

và các hoạt động đoàn thể được đảm bảo bằng các chính sách cụ

thể Các điều kiện hạn chế và đình chỉ tư cách đấu thầu đối với

các công ty đã để xảy ra tai nạn, chết người cũng được thắt chặt

hơn theo tiêu chuẩn từ mức 3 người thiệt mạng xuống chỉ còn 2

người

Ngày đăng: 27/03/2013, 11:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w