Xuất khẩu lao động Việt Nam sang Hàn Quốc
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế hôm nay, xuất khẩu lao
động đã trở thành một xu hướng mang tính chất quốc tế, phù
hợp với quy luật phân công sức lao động trong nền kinh tế thế
giới
Đối với Việt Nam, xuất khẩu lao động đã và đang là một
phương tiện giúp sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên con người
Với dân số đông, tốc độ tăng dân số vẫn cao, hơn một nửa dân
số đang trong độ tuổi lao động, trong khi nền kinh tế chưa đủ
khả năng thu hút hết nguồn lao động dồi dào này, xuất khẩu lao
động trở thành một kênh giải quyết việc làm cho người lao
động, đem lại thu nhập cho ngân sách nhà nước
Hiện nay, Việt Nam đang cung cấp lao động xuất khẩu chủ
yếu cho các nước Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan, Lào, Nhật
Bản, Trong đó Hàn Quốc là một thị trường nhập khẩu lao
động quan trọng đối với nước ta
Với đề tài "Xuất khẩu lao động Việt Nam sang Hàn Quốc",
bài tiểu luận này trước khi đưa ra tình hình thực tế, những khó
khăn cùng với triển vọng của xuất khẩu lao động Việt Nam sang
Hàn Quốc, cũng xin nêu một số nét sơ lược về sự chuyển dịch
lao động quốc tế
Trang 2Chương I TỔNG QUAN VỀ SỰ CHUYỂN DỊCH
LAO ĐỘNG QUỐC TẾ
1 Khái niệm
Di chuyển quốc tế sức lao động là hiện tượng người lao
động làm thuê di chuyển ra nước ngoài nhằm mục đích kiếm
việc làm để sống Khi ra khỏi một nước, người đó được gọi là
người xuất cư, còn sức lao động của người đó được goi là sức
lao động xuất khẩu
Khi đến một nước khác, người lao động đó được gọi là
người nhập cư và do đó sức lao động của người đó được gọi là
sức lao động nhập khẩu Người xuất cư này trở về tổ quốc mình
được gọi là người tái nhập cư Đại lượng tuyệt đối của tổng số
người nhập cư và xuất cư gọi là khối lượng di cư lao động, còn
hiệu số của nhập và xuất là sai ngạch di cư
Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, sức lao động cũng
biến thành hàng hóa, tuy rằng đó là một thứ hàng hóa đặc biệt,
cho nên nó cũng là đối tượng của các quan hệ mua và bán Nếu
hành vi mua, bán này diễn ra trên thị trường thế giới thì được
gọi là xuất nhập khẩu sức lao động
Vậy thị trường thế giới về sức lao động là một lĩnh vực đặc
biệt của nền kinh tế thế giới, nơi diễn ra quá trình trao đổi sức
lao động ra ngoài phạm vi một quốc gia vì lý do kinh tế
2 Nguyên nhân của di chuyển quốc tế sức lao động
Trang 3Thứ nhất, cơ sở khách quan của di chuyển quốc tế sức lao
động trước hết là những biến động thất thường trong nhu cầu về
sức lao động Hay nói cách khác, tính chất không đều của quá
trình tích lũy tư bản làm nảy sinh sự cần thiết phải có sự trao đổi
quốc tế về thứ hàng hóa đặc biệt là sức lao động
Thứ hai, nguyên nhân của di chuyển quốc tế sức lao động là
sự chênh lệch ngày càng tăng về trình độ phát triển giữa các
nước
Thứ ba, nguyên nhân góp phần gây nên hiện tượng di
chuyển quốc tế sức lao động là sự chênh lệch về mức tăng dân
số tự nhiên Tốc độ gia tăng tự nhiên của dân số toàn thế giới đạt
cực đại vào giữa thập kỷ 60 (1,99%) sau đó bắt đầu có xu hướng
giảm liên tục, tuy chậm chạp (vào nửa đầu những năm 70 là
1,925% và nửa cuối thập kỷ đó là 1,72%) Song điều này không
giống nhau vào các nhóm nước và những nước cụ thể Ở nhóm
nước tư bản phát tiểu, chỉ tiêu này là 1% còn ở nhóm các nước
đang phát triển là 2,3%
Sự chênh lệch này về tốc độ gia tăng dân số cộng với tình
trạng khác nhau ngày càng tăng về trình độ phát triển kinh tế là
nguyên nhân gây ra hiện tượng xuất cư từ nước có mức tăng dân
số cao hơn và trình độ phát triển thấp, và hiện tượng nhập cư
Trang 4vào các nước có trình độ phát triển cao hơn và tốc độ tăng dân
số thấp hơn
Hiện tượng di chuyển quốc tế về sức lao động thường là kết
quả của ba nguyên nhân nói trên Và thực chất bao nguyên nhân
này là những quá trình phát triển mà giữa chúng đang tồn tại
một quan hệ nhân quả, quy định, tương hỗ lẫn nhau Khi tốc độ
tăng dân số cao, nhưng nền kinh tế phát triển chậm chạp thì hậu
quả tất yếu là nạn thất nghiệp nghiêm trọng Trong hoàn cảnh đó
hướng khắc phục sẽ phải là một mặt đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế nói chung và những ngành dùng nhiều sức lao động nói
riêng, mặt khác xuất cư phần nào sức lao động dư thừa sang các
nước khác
3 Ảnh hưởng
Cũng như mọi hiện tượng và quá trình kinh tế khác, xuất
khẩu sức lao động có thể mang lại những kết quả tốt, tích cực
cũng như gây ra những hậu quả xấu, tiêu cực cả đối với nước
xuất cũng như nước nhập khẩu
Trong số tất cả những hậu quả tốt cũng như hậu quả xấu mà
nó gây ra bao gồm cả những gì là tất yếu, vốn có của hiện tượng,
quá trình với những gì là hệ quả của những sai lầm chủ quan (về
măt chủ trương, chính sách, cách tổ chức thực hiện ) Xuất
khẩu sức lao động cũng như con dao hai lưỡi, nếu sử dụng một
Trang 5cách hợp lý sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn là thiệt hại, và ngược
lại
3.1 Đối với nước xuất khẩu
- Thu ngoại tệ dưới dạng tiền gửi về của những người lao động
nước ngoài cho gia đình họ
Về khoảng tiền gửi này có những đặc điểm đáng lưu ý sau:
Trong những năm 60-70 tốc độ hàng năm rất cao
Sang đầu thập kỷ 80, số tiền này vẫn tiếp tục tăng song tốc độ
chậm lại nhiều
Số tiền này có ý nghĩa đáng với khoảng 60 nước
Số lượng tiền nước xuất khẩu nhận được nhiều hau ít còn tùy
thuộc vào chính sách và biện pháp khuyến khích đối với
người đi xuất khẩu Nếu chính sách đó không hợp lý (hải
quan, ngân hàng, tỷ giá ) người đi xuất khẩu sẽ tăng phần
chi phí tại chỗ, do đó giảm phần lương của anh ta gửi về
nước
Số tiền một người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài gửi về
còn phụ thuộc vào đối tượng tuyển chọn xuất khẩu là người
như thế nào: có gia đình hay chưa, già hay trẻ, sau khi trở về
sẽ về hưu hay còn tiếp tục làm việc Kinh nghiêm của các
nước cho thấy những người lao động đã có gia đình riêng,
xuất thân từ nông thôn đã kinh qua quân đội thường gửi về
số tiền nhiều hơn so với những người có cùng mức lương
Trang 6nhưng chưa có gia đình, xuất thân từ thành thị, con em gia
đình khá giả
Hiệu quả kinh tế xã hội của khoảng tiền gửi này phụ thuộc
trước hết vào trình độ phát triển kinh tế, bầu không khí xã hội
và chủ trương chính sách tại nước xuất khẩu lao động
- Tăng thu nhập ngân sách bàng mấy cách sau:
Người đi lao động nước ngoài phải trích một phần lương của
mình để nộp cho nhà nước
Phí làm hộ chiếu và thủ tục nhập cảnh
Bán vé máy bay
Các loại thuế khác như thuế thu nhập, thuế khi bán hàng xuất
khẩu tại thị trường nội địa (loại thuế này thường do các
thương nhân kinh doanh hàng nhập ngoại phải trả)
- Giải quyết phần nào tình trạng thất nghiệp trong nước theo
những cách sau:
Nếu người đi xuất khẩu lao động thất nghiệp thì coi như họ
được đảm bảo công việc làm trong thời gian họ ở nước ngoài
Nếu người đang có việc làm mà đi xuất khẩu thì liệu chỗ làm
được giải phóng ra có thể thay thế bằng những lao động đang
thất nghiệp hay không? Không nhất thiết như vậy, do:
+ Thường những người đi xuất khẩu lại là những người thực tế
là thừa hoặc thất nghiệp từng phần, thuộc diện "tinh giảm biên
chế"
Trang 7+ Những người đang thất nghiệp lại không có trình độ tay nghề
đảm đương công việc của người ra đi Mà để đào tạo dạy nghề
cho họ thì chính phủ không có tiền Lối thoát ở đây là có thể
trích một phần tiền thu nhập xuất khẩu để làm việc này
Vấn đề phức tạp nảy sinh là số phận những người đi xuất
khẩu sẽ thế nào khi trở về, họ sẽ có việc làm hay thất nghiệp?
Số tiền ngân sách thu được cộng với số tiền người lao động
tiết kiệm được liệu có đủ công ăn việc làm cho bản thân họ
không?
Nếu biết sử dụng tốt số tiền thu được nhờ xuất khẩu lao động,
phần nào có thể giảm bớt tình trạng thất nghiệp trong nước và
đảm bảo việc làm cho những người đi xuất khẩu lao động trở về
- Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Sở dĩ như vậy là bởi vì:
Người đi lao động khi làm việc ở nước ngoài nói chung vẫn
quen dùng các món ăn truyền thống của họ, cũng như một số
hàng tiêu dùng khác Do đó nảy sinh nhu cầu hoặc gây sức ép
buộc nước chủ nhà phait nhập khẩu những thứ đó
Khi đi lao động ở nước ngoài, mỗi người có thể mang theo
một lượng hàng hóa nhất định Nếu nước nhập khẩu sức lao
động cho phép nhập khẩu mặt hàng đó và việc mang ra nước
ngoài những mặt hàng đó không ảnh hưởng xấu đến nước
xuất khẩu thì đây là việc nên làm
Khi xuất khẩu sức lao động để thực hiện dự án kiểu công
trình gói gọn hay chìa khóa trao tay mà bên xuất khẩu chịu
Trang 8trách nhiệm cung ứng máy móc thiết bị thì cũng sẽ đẩy mạnh
xuất khẩu hàng hóa
Khi làm việc tại thị trường nước ngoài, người lao động xuất
khẩu có thể tìm hiểu thị trường tại chỗ và ký kết các hợp
đồng mua bán hàng hóa
- Nâng cao trình độ (văn hóa nói chung, tay nghề chuyên môn,
kỹ thuật tiên tiến, )
Sau khi xuất khẩu lao động trở về người lao động có trình
độ hiểu biết phổ thông cao hơn, tay nghề ít nhiều được nâng cao,
tiếp thu được lối sống và tác phong làm việc công nghiệp
Song không phải lúc nào và bất kỳ ai cũng đều được như vậy
Những người có trình độ học vấn cao hoặc tay nghề giỏi thì
thường thu được kết quả này
Nếu lao động xuất khẩu là những người chưa được dạy tay
nghề, nước nhập khẩu lại bố trí làm những công việc tay chân
đơn giản, thì sẽ ít có cơ hội học được nghề gì đó có ích sau này
Còn nếu nước nhập khẩu bỏ tiền ra để dạy nghề thì sức lao động
đố rất thấp vì một phần tiền lương sẽ bị khấu trừ bớt để hoàn lại
chi phí đào tạo
Nếu lao động xuất khẩu là những người giỏi thì họ được
đào tạo nghề hiện đại phức tạp Nhưng khi trở về nước nghề đó
lại không được dùng hoặc dùng với hiệu quả thấp thì họ lại
không trở về nước hoặc trở về thì họ lại chờ thời cơ để xuất cư
lần nữa Đó chính là hiện tượng chảy máu chất xám
Trang 9- Gây ra tình trạng thiếu công nhân lành nghề, chuyên gia trong
một số ngành, thậm chí thiếu lao động nói chung
- Do quản lý kém mà ở một số nước việc xuất khẩu ồ ạt sức lao
động đã gây ra tình trạng chảy máu vàng, buôn ngoại tệ lậu, làm
hàng giả, giá bất động sản trong nước tăng liên tục
- Những người đi lao động trở về mang theo lối sống thói quen
sinh hoạt trái với nền văn hóa dân tộc Điều này xảy ra chủ yếu
đối với số lao động có trình độ văn hóa chung và trình độ thẩm
mỹ thấp Do hạn chế về trình độ nhận thức nên số này cái hay,
cái đẹp không học lại bắt chước những thói hư tật xấu của người
bản xứ, dễ bị tha hóa
- Xuất khẩu sức lao động còn gây ra hàng loạt hậu quả xấu về
mặt tâm lý xã hội cả đối với người đi và người ở lại
3.2 Đối với nước nhập khẩu
- Nhờ nhập khẩu sức lao động nước ngoài mà các nước này
hàng năm thu được trên 30 tỷ ÚD Cơ chế của cách kiếm tiền
này như sau:
Tiết kiệm được chi phí nuôi người lao động từ nhỏ đến tuổi
lao động, chi phí đào tạo dạy nghề, chi phí tái sản xuất sức
Trang 10lao động Vì ba khoản này đã có nước xuất khẩu lao động
gánh chịu
Do sự bức bách của nhu cầu kiếm sống, cộng với sự lo sợ bị
sa thải trục xuất cho nên những người lao động ngoại quốc
sẵn sàng làm bất cứ việc gì với mức lương thấp hơn nhiều so
với người bản xứ làm cùng công việc với họ
Các chủ tư bản dùng lao động ngoại quốc để gây sức ép
không tăng lương cho lao động bản xứ, chia rẽ công đoàn,
hạn chế đình công, bãi công Tóm lại việc nhập khẩu sức lao
động lợi nhiều hơn hại đối với nước nhập khẩu
- Những tác hại do nhập khẩu lao động gây ra:
Tăng thêm chi phí vào các mục tiêu xã hội, nhà ở, trường
học, thông tin liên lạc
Trong lúc do ảnh hưởng của cách mạng khoa học kỹ thuật mà
tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm ở các nước phát triển cao,
nhưng còn có điều kiện nhập cư tư bản khá rẻ tiền cho nên ở
một số ngành không kích thích được việc đổi mới cơ cấu theo
chiều sâu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
Một số ngành phụ thuộc vào nguồn lao động nhập khẩu như
ngành xây dựng ở Trung Đông, ngành chế tạo, lắp ráp ô tô ở
Pháp, khai thác vàng ở Nam Phi, dịch vụ nghỉ mát ở Thụy Sỹ
Ngoài ra các cộng đồng ngoại kiều ở thủ đô các nước phương
Tây còn gây ra tình trạng lộn xộn, xung đột lẫn nhau, v.v
Trang 114 Xu hướng hiện nay về di chuyển quốc tế sức lao động
- Xuất khẩu lao động mang tính quốc tế
Dưới góc độ dân số học, việc di chuyển lao động giữa các
quốc qia đã được hầu hết các chuyên gia dân số thế giới nghiên
cứu và đưa vào khái niệm "di dân quốc tế" Có thể nói các hoạt
động trong lĩnh vực này vài thập kỷ gần đây sôi động hẳn lên và
đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà kinh tế Nhưng đây không
phải là một hiện tượng kinh tế xã hội hoàn toàn mới, bởi vì ngay
từ cuối thế kỷ 19 hiện tượng di dân quốc tế đã diễn ra
- Xuất khẩu sức lao động phát triển phù hợp với quy luật phân
công lại sức lao động thế giới
Xu hướng quốc tế của việc đưa lao động đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài thể hiện tính quy luật của sự di chuyển nguồn
lao động trong phạm vi quốc tế Bàn về sự di chuyển này, các
tác giả kinh điển đã khẳng định đó là tính tất yếu và tác dụng
tiến bộ của lịch sử Ngay từ buổi bình minh của lịc sử loài người
đã xuất hiện sự di chuyển này
Tính tất yếu và tiến bộ lịch sử của sự di chuyển đó bắt
nguồn từ bản chất di chuyển của các nguồn lao động Đây chính
là một hình thức phân công lao động Phân công lao động nhằm
thúc đẩy tăng năng suất lao động, cơ sở tăng thu nhập, điều kiện
làm cho đời sống dễ chịu hơn Việc tăng năng suất lao động
trong lĩnh vực lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài, trong
điều kiện cụ thể ở nước ta nó bao hàm cả người đi va người làm
Trang 12việc trong nước Nó chính là khâu trung gian (tuy không phải là
cơ bản) để thực hiện tăng năng suất lao động
Xu hướng quốc tế hóa trong sử dụng nguồn lao động giữa
các quốc gia đưa đi hay tiếp nhận ngày một tăng Cơ cấu sử
dụng lao động cũng ngày một đa dạng nhưng dần dần đi vào sử
dụng lao động có trình độ chuyên môn cao Tuy nhiên, trong
giai đoạn hiên nay, ở nước ta và một số nước trong khu vực, lao
động phổ thông (không có nghề) còn ra đi với số lượng lớn vì
giá cả tiền công thuê mướn và khả năng đào tạo của các nước sử
dụng còn cho hiệu quả cao với họ, hơn là việc sử dụng ngay lao
động chuyên gia có trình độ chuyên môn cao
Sự phân bố không đều về dân cư, về điều kiện tự nhiên (tài
nguyên) với sự bùng nổ về dân số trên thế giới đã hình thành các
luồng di cư như: lao động (dân cư) ở các nước kinh tế chậm phát
triển (có đời sống kinh tế thấp) di chuyển đến những nước có
đời sống kinh tế cao hơn Trên thực tế các hướng di chuyển rõ
nét nhất hiện nay là từ Đông sang Tây, từ Đông và Phi Châu
chuyển sang vùng Trung cận đông,
Trang 13Chương 2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
VIỆT NAM SANG HÀN QUỐC
1 Chính sách của Việt Nam
Về xuất khẩu lao động:
Cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động:
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan cấp phép
hoạt động XKLĐ
- Doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định, gửi hồ sơ xin
phép hoạt động XKLĐ gửi về Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội Thời hạn xem xét cấp giấy phép không quá 15 ngày, kể
từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định
Đăng ký hợp đồng:
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội uỷ quyền cho Cục Quản
lý lao động với nước ngoài tiến hành đăng ký hợp đồng cho
doanh nghiệp:
+ Hồ sơ đăng ký hợp đồng của doanh nghiệp có giấy phép hoạt
động XKLĐ gửi về Cục Quản lý lao động với nước ngoài - Bộ
Trang 14LĐ TBXH ít nhất ba ngày trước khi tổ chức tuyển chọn người
lao động đi làm việc ở nước ngoài
+ Hồ sơ đăng ký hợp đồng của doanh nghiệp không có giấy
phép hoạt động XKLĐ gửi về Cục Quản lý lao động với nước
ngoài - Bộ LĐ TBXH ít nhất bảy ngày trước khi tổ chức tuyển
chọn người lao động đi làm việc ở nước ngoài
2 Chính sách của Hàn Quốc
2.1 Chính sách nhập khẩu lao động nước ngoài của Hàn Quốc
Hàn Quốc hiện tiến hành tuyển dụng lao động nước ngoài
nói chung và Việt Nam nói riêng theo hai chế độ: chế độ cấp
phép lao động và chế độ tu nghiệp sinh công nghiệp
-Các quốc gia tuyển dụng công nhân : Nepal, Mông Cổ,
Mianma, Bangladesh,Việt Nam, Serilanca, Uzbekistan, Iran,
Indonêsia, Trung quốc, Kazakhtan, Thái lan, Paskistan, Philipin,
Campuchia gồm 15 quốc gia trọng tâm
-Số lượng đăng kí: 130.000 người (Từ năm 2002)
-Số lượng được khai báo chính thức: 38.000 người
Căn cứ vào các tài liệu hộ hợp đồng quản lí nhân lực lao động
người nước ngoài ở Bộ điều tra ngoại giao Hàn Quốc thì vào
năm 2006 phải tuyển được thêm 58% so với con số 100.4000
trong năm 2005, tăng 60.000 người, dự báo là sẽ có sự giao
động mạnh về yêu cầu tuyển dụng lao động trong thời gian tới
Trang 15Chế độ cấp phép lao động
- Các quốc gia tuyển dụng công nhân: Việt Nam, Indonesia,
Philipin, Srilanca, Thái Lan, Mông Cổ gồm 6 nước
- Các ngành nghề kinh doanh: Kĩ nghệ sản xuất, kiến thiết, giáo
dục, dịch vụ
-Bảo hiểm xã hội (sức khoẻ, quốc dân, thuê mướn lao động, tai
nạn công nghiệp), bảo hiểm xuất cảnh trọn kì (tiền thôi việc),
bảo hiểm việc nợ tiền lương của người lao động, bảo hiểm tiền
về nước, thương tật cho người lao động
Ngoài hai chương trình tu nghiệp sinh và cấp phép lao
động, Hàn Quốc còn tiếp nhận lao động nước ngoài qua chương
trình Thẻ vàng Tháng 11/2005 đã có 32 doanh nghiệp Hàn
Quốc sang Việt Nam trực tiếp tuyển 100 lao động kỹ thuật cao
trong các ngành điện tử, năng lượng, công nghệ thông tin, trong
đó khoảng 70 người đã được tiếp nhận sang làm việc tại Hàn
Quốc
- Người lao động nước ngoài cũng phải tham gia mua các loại
bảo hiểm: tuyển dụng, tai nạn lao động, sức khoẻ, tiền lương và
Trang 16- Trong khi làm việc, người lao động bị bệnh hay bị thương thì
có thể nhận được những khoản trợ cấp sau: điều dưỡng, nghỉ
việc, thương tật, và trợ cấp gia đình
- Tất cả tai nạn lao động xảy ra trong khi đang làm việc do lỗi
của người lao động sẽ không bị truy cứu trách nhiệm, lao động
vẫn có thể nhận được sự bảo trợ của Luật bảo hiểm bồi thường
- Chủ sử dụng lao động phải tham gia mua bảo hiểm bảo lãnh
tiền lương, đề phòng trường hợp công ty bị phá sản mà không
thể trả lương và tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động
- Nếu lao động bỏ trốn khỏi nơi làm việc và trở thành người lưu
trú bất hợp pháp thì sẽ bị mất hết quyền lợi và không được pháp
- Thời gian tối đa mà người lao động nước ngoài có thể làm việc
ở Hàn Quốc là 3 năm, mỗi năm phải ký lại hợp đồng 1 lần Hết
thời hạn này, lao động phải về nước
- Trong thời gian làm việc tại Hàn Quốc, lao động không được
Trang 172.3 Một số chính sách hỗ trợ lao động nước ngoài của Hàn
Quốc
- Đẩy mạnh công tác giáo dục tiếng Hàn cho con em công nhân
Để đẩy mạnh công tác giáo dục tiếng Hàn Quốc cho con em
công nhân lao động di trú, Bộ giáo dục nguồn nhân lực Hàn
Quốc dự định sẽ thực hiện nhiều kế hoạch mới Ở cấp tiểu học,
tổ chức lớp học tiếng Hàn, soạn thảo sách giáo khoa riêng cho
con em công nhân di trú Bộ cũng sẽ điều tra xem thực trạng các
vấn đề và tính thiết yếu của nó và dự định đến tháng 8 này sẽ
công bố thi hành những chính sách hỗ trợ tổng hợp
- Bộ tư pháp đảm trách vấn đề bảo vệ nhân quyền cho người
nước ngoài
- Thủ tục tuyển dụng người lao động nước ngoài cũng sẽ được
đơn giản hoá Kể từ tháng 7/2006, những thủ tục cần thiết khi
muốn tuyển dụng lao động nước ngoài như “Giấy chứng nhận
thiếu lao động” và “Giấy phép tuyển dụng”được sát nhập làm
một Chủ công ty cũng không cần phải khai báo khi công ty bắt
đầu tiến hành hoạt động v.v các thủ tục như vậy sẽ được lược
Đến năm 2007, chế độ cấp phép lao động và chế độ tu nghiệp
sinh sẽ được sát nhập làm thành chế độ cấp phép lao động mới
Trang 18- Các phương án hỗ trợ nhằm tăng cường khả năng lao động của
công nhân cũng được đề xuất Khi chủ công ty, nhà máy tổ chức
huấn luyện phát triển năng lực làm việc cho các nhân viên, công
nhân hợp đồng thì học phí huyấn luyện và tiền lương trong thời
gian huấn luyện đó cũng sẽ được chi trả Bắt đầu từ tháng 3 này,
trường dạy nghề chuyên môn và trường Đại học kỹ thuật sẽ
được sát nhập làm một và được điều hành bởi Đại học trung tâm
và các cơ sơ hệ thống Những doanh nghiệp nhỏ muốn tiến hành
huấn luyện kỹ thuật và năng lực cho công nhân thì sẽ được áp
dụng chế độ bảo hiểm tuyển dụng, theo đó, lệ phí và tiền lương
- Những công nhân làm trong các ngành công nhân độc hại đều
phải được kiểm tra sức khoẻ đặc biệt Kể từ ngày 01/01/2006,
phạm vi các ngành công nghiệp độc hại ảnh hưởng đến sức khoẻ
lao động như: tiếng ồn, bụi, hoá chất v.v được xem xét mở rộng
Ngoài ra, việc thiết lập công đoàn lao động của công nhân viên
và các hoạt động đoàn thể được đảm bảo bằng các chính sách cụ
thể Các điều kiện hạn chế và đình chỉ tư cách đấu thầu đối với
các công ty đã để xảy ra tai nạn, chết người cũng được thắt chặt
hơn theo tiêu chuẩn từ mức 3 người thiệt mạng xuống chỉ còn 2
người