1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LẠM PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI NỀN KINH TẾ

35 701 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm Phát Và Tác Động Của Lạm Phát Tới Nền Kinh Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính - Ngân Hàng
Thể loại Đề Án
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LẠM PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI NỀN KINH TẾ

Trang 1

LẠM PHÁT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI NỀN KINH TẾ

A - MỞ ĐẦU

Bất kỳ nền kinh tế nào, từ mô hình tập trung quan liêu bao cấp đến kinh

tế thị trường, muốn phát triển vững mạnh đều phải quan tâm đặc biệt tới tamgiác: tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát Chúng liên kết hay đối lập, chúngliên hợp những nhịp độ của tăng trưởng, sự tăng lên hay tụt xuống của nhữnglớp thất nghiệp dưới làm sóng lạm phát Lạm phát, đó là hiện tượng mất cânbằng kinh tế phổ biến, là căn bệnh kinh niên của kinh tế thị trường Lạm phátđược coi là con quỷ gớm nhất trên trái đất, ít nhất là xét về triển vọng chínhsách kinh tế vĩ mô Tuy nhiên lạm phát cũng có tính chất hai mặt của nó Mộtmặt nó kích thích nền kinh tế phát triển nếu tốc độ tăng của nó phù hợp vớitốc độ tăng trưởng kinh tế Mặt khác, nếu tốc độ lạm phát tăng cao sẽ gây ranhững biến động kinh tế hết sức nghiêm trọng, như biến dạng cơ cấu sản xuất

về việc làm, thu nhập bất bình đẳng, tỷ lệ thất nghiệp tăng

Vì vậy, để có thể ổn định kinh tế ở một mức nhất định, lạm phát cầngiảm xuống ở mức có thể chấp nhận được Và thực tế là xu hướng giảm lạmphát gây ra tình trạng thiểu phát, đây cũng là biểu hiện của nền kinh tế trì trệkhủng hoảng Nên muốn ổn định đất nước cả về kinh tế và xã hội, để đảm bảoquyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân thì vấn đề tăng trưởng kinh tế vàchống lạm phát phải được thực hiện một cách thống nhất Đây là một vấn đề

vĩ mô lớn, một mảng quan trọng của chính sách kinh tế vì vậy đòi hỏichúng ta phải nắm vững lý luận chung về lạm phát Chỉ có thấu hiểu một cáchkhoa học về lý thuyết lạm phát thì mới có thể đạt được hiệu quả phát triểnkinh tế xã hội Trong thực tế lạm phát là gì? Nguyên nhân gây ra lạm phát có

đa dạng không? Nền kinh tế bị cơn sóng lạm phát tác động như thế nào?Chúng ta làm thế nào để phòng chống và khắc phục hậu quả của nó? Hy

vọng là với đề án “Lạm phát và tác động của lạm phát tới nền kinh tế ” có

thể phần nào trả lời được các câu hỏi này

Trang 2

Dọc chiều dài lịch sử, đã có rất nhiều các nhà kinh tế học nghiên cứu vềlạm phát Mỗi nhà kinh tế học, mỗi trường phái đều có quan điểm khác nhau

về lạm phát Góc nhìn nào cũng có những sự đánh giá, lời khuyên và dự báokhách quan, vô tư, nghiêm túc Là sinh viên khoa Tài chính - Ngân hàng, một

cử nhân kinh tế tương lai, em thực sự say mê và hứng thú tìm hiểu về lạmphát Nhưng do hạn chế về kiến thức, giới hạn về thời gian và kinh nghiệm chắc hẳn “vấn đề lạm phát” em nêu ra trong đề án này chưa toàn diện và sâusắc Đây cũng chỉ là 1 góc nhìn về lạm phát dưới lăng kính của một sinh viên

Trang 3

mà chỉ có giá trị danh nghĩa Vì vậy nó không thể tự phát điều hoà giữa chứcnăng phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ (tích lũy) do đó tiền giấy bịmất giá trở thành một hiện tượng phổ biến và thường xuyên Từ đó có thể nóirằng lạm phát cũng là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên trong cácquốc gia thực hiện chế độ lưu thông tiền giấy hiện nay Vậy có thể hiểu cơbản lạm phát là việc phát hành thừa tiền giấy vào lưu thông, làm cho tiền giấy

bị mất giá, giá cả hàng hoá tăng lên, thu nhập quốc dân bị phân phối lại gâythiệt hại đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội

Lạm phát, một vấn đề kinh tế vĩ mô, một mối quan tâm lớn của nhiềunhà kinh tế, có rất nhiều quan điểm nhìn nhận và định nghĩa lạm phát khácnhau Theo lý luận của Các Mác trong Bộ Tư Bản thì lạm phát là tình trạngtiền giấy tràn đầy các kênh lưu thông tiền tệ, vượt quá các nhu cầu kinh tếthực tế làm cho tiền tệ mất giá, là phương tiện để phân phối lại thu nhập quốcdân và của cải xã hội có lợi cho giai cấp thống trị dưới chế độ TBCN, làphương pháp để tăng cường bóc lột lao động Biểu hiện của lạm phát là giá cảtăng một cách tự phát, nhất là các giá cả hàng tiêu dùng thông thường Nộidung lạm phát là sự liên tục tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng lạm phát biểu thị một sự tăng lêntrong mức giá cả chung Theo ông “lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả

và chi phí tăng- giá bánh mì, dầu xăng, xe ôtô tăng, tiền lương, giá đất, tiềnthuê tư liệu sản xuất tăng“ Milton Friedman đã có câu phát biểu nổi tiếng

Trang 4

“lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ “ Theo ý kiến củaông những biến động tăng lên trong mức giá cả là một hiện tượng tiền tệ khi

và chỉ khi những biến động tăng lên đó từ một quá trình kéo dài Định nghĩalạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài được đa số nhà kinh tế phái tiền

tệ hay phái Keynes đồng ý với Friedman

Như vậy, lạm phát là một vấn đề không mấy xa lạ đối với nền kinh tếhàng hoá, và hầu hết quảng đại quần chúng đều có thể chứng kiến hay trải quathời kỳ lạm phát ở những mức độ khác nhau Nhưng hiểu chính xác lạm phát

là gì thì không dễ cũng như khó có thể đi đến một định nghĩa thống nhất.Theo tiếng Latinh Inflatio xuất phát từ chữ Inflare, nghĩa là một chỗ sưngphồng Nếu một cơ bắp bị căng phồng hoặc một phủ tạng bị sưng to đềukhông phải là biểu hiện của bệnh beó bệu, thì mọi sự tăng trưởng của mộtkhối lượng kinh tế lại càng không phải là lạm phát Lạm phát là một sự phình

ra gồm 2 đặc tính bất thường và gây tổn thất cho nền kinh tế Khẳng định coilạm phát là một sự tăng phổ biến của giá cả cần nắm rõ 4 điểm sau:

- Tính từ phổ biến phải được hiểu một cách hợp lý: không phải mọi giáđều tăng lên Trong khung cảnh chung giá đang tăng lên, có những giá vẫn ổnđịnh thậm chí lại có những giá hạ xuống Cũng không phải là các giá tăng lêncùng một lúc và với tỉ lệ % giống nhau Trong mọi động thái phổ biến của giá

cả thì sự phân tán là quy luật

- Việc ước tính tỷ lệ lạm phát là khó khăn Nó có giá trị như giá trị các trị

số được sử dụng thời kỳ càng dài thì giới hạn sai lạc của các công cụ khônghoàn hảo ấy càng tăng Ngay trong điều kiện sử dụng thuận lợi nhất, tức là ởngay trong cùng một nước và trong thời gian ngắn, chỉ số giá cả cũng chỉ thểhiện áng chừng sự thay đổi sức mua của đồng tiền Chỉ số giá cả sẽ được trìnhbày rõ hơn ở phần tiếp theo

- Mọi sự gia tăng trên một loạt giá cả không nhất thiết đã là lạm phát Đểđược gọi là lạm phát thì sự gia tăng đó phải tác động bằng một quá trình mạnhmẽ-sự vận hành với các diễn biến nối tiếp, liên tục và cần có một thời giannhất định Chỉ một lần nâng mặt bằng giá cả có thể không phải là lạm phát

Trang 5

- Lạm phát không chỉ bao hàm một tính chất thuần tuý tiền tệ Cần thiếtphải kể đến các yếu tố khác như yếu tố hiện vật, tâm lý và trọng lượng củacác yếu tố xã hội

1 1 2 Tỷ lệ lạm phát

Mục trên chúng ta đã xem xét Lạm phát về mặt định tính, còn về mặtđịnh lượng thì sao? Làm thế nào để đo lường được sự gia tăng của giá cả?Lạm phát được đo bằng chỉ tiêu nào?

- Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn đầy các kênh lưu thông tiền tệ,vượt quá các nhu cầu kinh tế thực tế làm cho tiền bị mất giá so với toàn bộsản phẩm hàng hoá, thể hiện là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bìnhtheo thời gian Lạm phát thường được đo bằng chỉ số giá cả

+ Mức giá trung bình thường lấy mức giá cả của những mặt hàng tiêudùng làm cơ sở (các nhóm chính là hàng lương thực, thực phẩm, quần áo, nhàcửa, chất đốt, vật tư y tế) Tính chỉ số giá tiêu dùng để từ đó đo Lạm phát.Công thức tính chỉ số giá tiêu dùng có thể được viết như sau:

CPI=cpi dCPI ( Consumer Price Index ) chỉ số giá tiêu dùng của cả giỏ hàng hoá cpi:Chỉ số giá cả của từng loại hàng hoá trong giỏ hàng hoá đó d: T tr ngỷ trọng ọng

m c tiêu dùng trong t ng lo i h ng hoá, nhóm h ng hoá trong gi ức tiêu dùng trong từng loại hàng hoá, nhóm hàng hoá trong giỏ ừng loại hàng hoá, nhóm hàng hoá trong giỏ ại hàng hoá, nhóm hàng hoá trong giỏ àng hoá, nhóm hàng hoá trong giỏ àng hoá, nhóm hàng hoá trong giỏ ỏ.Hay:

CPI t = Pt gạo x 100 x phần chi

cho gạo +

p t chất đốt

x 100 x

phần chi cho chất đốt +

Những thay đổi của giá cả được tính với các mặt hàng khác

p 0 gạo p 0 chất đốt

Trong đó:

CPIt : giá trị của CPI trong năm t

pt gạo : giá gạo trong năm t

po gạo : giá gạo trong năm gốcChỉ số giá tiêu dùng phản ánh cơ cấu tiêu dùng của xã hội Nhược điểmcủa CPI là chỉ số này không phản ánh được sự chuyển động của mọi giá cả vìtrong đó nặng về giá của hàng hoá hơn là giá của dịch vụ Trong khi đó, cầucủa người tiêu dùng lại ngả về phía giá dịch vụ vì nhữmg loại giá này tăng

Trang 6

nhanh hơn giá hàng hoá Mặc dù có nhược điểm như vậy, chỉ số giá tiêu dùngvẫn được sử dụng rộng rãi hơn cả Vì họ thấy ở đấy trị số giá sinh hoạt, vềphía các nghiệp đoàn thường dựa vào đó trong các yêu sách về tiền lương của

họ Chỉ số này thường có giá trị kỹ thuật cao hơn các chỉ số giá khác và đượcxây dựng, công bố thường xuyên, đều đặn

+ Ngoài chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số thứ hai thường được sử dụng làchỉ số giá bán buôn_giá cả sản xuất PPI (Producer Price Index) PPI phản ánh

sự biến động của giá cả đầu vào, thực chất là biến động giá cả chi phí sảnxuất Nó được xây dựng để tính giá cả trong lần bán đầu tiên do người sảnxuất ấn định Chỉ số này rất có ích vì nó được tính chi tiết sát với những thayđổi của thực tế Song PPI lại quá chuyên môn, chỉ liên quan tới nguyên liệu

và các bán thành phẩm mà loại trừ sản phẩm hoàn chỉnh, dịch vụ Do đó nókhông thể biểu thị cho sức mua, không phân biệt loại hàng của đồng tiền +Bên cạnh đó, chỉ số giảm phát GNP cũng được sử dụng trong đolường lạm phát Chỉ số này toàn diện hơn CPI vì nó bao gồm giá của tất cảcác loại hàng hoá dịch vụ trong GNP

Chỉ số giảm phát GNP = GDP danh nghĩa/GDP thực tế

- Triệu chứng của lạm phát không chỉ nằm trong lĩnh vự giá cả Trongnhiều trường hợp, tỷ suất tiền lương được nâng lên so với mức tăng trưởngtrung bình của năng suất cũng có đặc điểm như giá cả lên cao Vì các chi phí

về nhân công lên cao là báo hiệu chắc chắn của xu hướng lạm phát sắp tới Một trong những khó khăn về kỹ thuật của việc đo lường hiện tượng lạmphát là sự lựa chọn điểm xuất phát dùnglàm căn cứ Vào thời điểm được chọnlại chẳng có gì chứng tỏ là giá cả đã được cân đối Nhất là với sự tác động củathuế hoặc các chính sách khác về kiểm soát giá cả, làm cho việc lựa chọnnhững năm gốc thành bấp bênh Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hoánhư hiện nay, chỉ số giá tiêu dùng khác nhau từ nước này sang nước kia, cònchỉ số giá sản xuất chỉ mang tính bộ phận và đầu cơ Do vậy, cái chuẩn tốtnhất có lẽ là chỉ số giá các sản phẩm công nghiệp thường được dùng làm hàngtrao đổi rộng rãi giữa các quốc gia Bởi nó biểu thị rõ những biến động của

Trang 7

chi phí sản xuất cũng như những biến động trong sức mua của người tiêudùng

Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ Quy

mô và sự biến động của nó phản ánh xu hướng và quy mô của lạm phát

Tỉ lệ lạm phát được tính theo công thức:

% x I

I gp

Ip : chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên c0ứu

Ip-1: chỉ số giá cả thời kỳ trước đó

Khi lạm phát xảy ra thì đồng nghĩa với việc tăng lên của chỉ số giá cả,nên mức cầu tiền danh nghĩa cũng tăng theo để đảm bảo thu mua khối lượnghàng hoá cần thiết đã dự định Như vậy thực chất của mức cầu tiền là cầu vềcán cân tiền tệ thực tế

Nhưng trong thực tế thì lượng tiền danh nghĩa tăng nhanh hơn cả do vậy

tỉ lệ lạm phát cũng được tính bằng mức tăng lượng cung tiền danh nghĩa trừ đimức tăng nhu cầu tiền thực tế

Theo lý thuyết định lượng đơn giản nói rằng: Do thu nhập thực tế và lãisuất thường chỉ thay đổi nhỏ một vài phần trăm mỗi năm nên nhu cầu tiềnthực tế thường cũng chỉ thay đổi một cách chậm chạp Khi lượng tiền danhnghĩa tăng nhanh, về cơ bản nó kéo theo sự tăng nhanh của giá cả để đảm bảomức cung tiền thực tế chỉ thay đổi một cách chậm chạp tương ứng với nhữngthay đổi về nhu cầu tiền tệ Lập luận cơ bản của lý thuyết định lượng về tiền

tệ là ở chỗ các biến số thực tế thường thay đổi một cách chậm chạp do đónhững thay đổi rất lớn trong một biến danh nghĩa (lượng tiền danh nghĩa) phảikéo theo những thay đổi rất lớn trong các đại lượng danh nghĩa khác (giá cả

và tiền lương) để duy trì lượng cung tiền thực tế tại những giá trị cân bằng củachúng

Trang 8

1 1 3 Phân loại lạm phát

Có rất nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau.Mỗi tiêu thức sẽ cho một hướng nhìn riêng về lạm phát Người ta phân biệtlạm phát lan dần biểu hiện ở sự tăng giá cả liên tục, thường xuyên và lạm phátlan nhanh trong đó giá cả tăng lên vùn vụt và nhảy vọt Tùy theo quá trìnhlạm phát bao trùm khu vực này hay khu vực khác mà lạm phát được chiathành lạm phát thế giới bao trùm một nhóm nước và lạm phát cục bộ chỉ pháttriển trong phạm vi một nước

- Phổ biến là phân loại lạm phát về mặt định lượng Tuỳ theo mức độcủa tỉ lệ % lạm phát tính theo năm mà người ta chia lạm phát thành ba loạisau:lạm phát vừa phải(một con số mỗi năm), lạm phát phi mã (hai con số mỗinăm) và siêu lạm phát

Lạm phát vừa phải

Lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng lên chậm ở mức một con số hay ởmức dưới 10%/năm Hiện ở phần lớn các nước tư bản chủ nghĩa đang có lạmphát vừa phải Trong điều kiện lạm phát vừa phải giá cả tăng chậm thườngxấp xỉ bằng mức tăng tiền lương hoặc cao hơn một chút Do vậy đồng tiềnkhông bị mất giá hoặc mất giá không lớn Lạm phát ở mức độ này không gây

ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế Lạm phát vừa phải chính làmức lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được

Lạm phát phi mã

Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 con

số trong một năm Mức lạm phát 2 chữ số thấp (11, 12, 13%/năm) nói chungnhững tác động tiêu cực của nó là không đáng kể, nền kinh tế vẫn có thể chấpnhận được Nhưng khi tỷ lệ tăng giá ở mức 2 con số cao, lạm phát sẽ trởthành kẻ thù của sản xuất và thu nhập Lạm phát sẽ gây ra những biến dạngkinh tế, gây mất ổn định XH nghiêm trọng Khi các hợp đồng kinh tế được kýkết theo các chỉ số giá hoặc theo một đồng ngoại tệ mạnh nào đó, nếu lạmphát xảy ra với sự tăng lên rất nhanh của chỉ số giá cả làm cho đồng tiền mấtgiá so với các chỉ số giá hoặc đồng ngoại tệ đó sẽ làm cho các chủ doanh

Trang 9

nghiệp, các chủ hợp đồng có thể phất lên và trái lại cũng có các chủdoanh nghiệp, các ngành nghề suy sụp thậm chí phải chuyển hướng sản xuất kinhdoanh

Siêu lạm phát

Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột ngột tăng lên với tốc độ cao vượt

xa lạm phát phi mã, ở mức 3 con số Siêu lạm phát thường gây ra những thiệthại nghiêm trọng và sâu sắc Nó phá vỡ quy luật lưu thông tiền tệ, lưu thônghàng hoá gặp nhiều khó khăn, xã hội đầy những tiêu cực, nền kinh tế suy sụptrì trệ không thể phát triển được Lạm phát ở Đức năm 1922-1923 là hình ảnhsiêu lạm phát điển hình trong lịch sử siêu lạm phát thế giới: giá cả tăng từ mộtđến mười triệu lần; ở Việt Nam điển hình của siêu lạm phát là thời kỳ 1986-

1988 (nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp) lạm phát đã ở mức 3 con số và

ở mức cao

Nếu được phép nói ẩn dụ thì có một động vật học trong lạm phát Nếuphát triển nhẹ nhàng thì như loài bò sát, nếu tiến mạnh hơn thì như loài ngựa,lạm phát có thể chỉ bò đi hoặc trở thành phi mã Trong cái vườn thú ấy cònphải dành chỗ cho loài dê có những bước nhảy bất thường

- Bên cạnh đó, người ta cũng tiến hành phân loại lạm phát xét về mặtđịnh tính

Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng

+ Lạm phát cân bằng: khi mà tỷ lệ lạm phát tăng tương ứng với thunhập, do vậy lạm phát không ảnh hưởng tới đời sống của người lao động + Lạm phát không cân bằng: khi mà tỷ lệ lạm phát tăng không tươngứng với thu nhập Trên thực tế, lạm phát không cân bằng thường xảy ra nhất

Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường

+ Lạm phát dự đoán trước: đó là lạm phát xảy ra trong một thời giantương đối dài với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn, ổn định Do vây,người ta có thể dự đoán trước được tỷ lệ lạm phát cho những năm tiếp theo

Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình hình lạm phát đó và người ta đã cónhững chuẩn bị để thích nghi với tình trạng lạm phát này

Trang 10

+ Lạm phát bất thường: là lạm phát xảy ra co tính đột biến mà trước đóchưa hề xuất hiện Do vậy, về tâm lý, cuộc sống và thói quen của mọi ngườiđều chưa thích nghi được Lạm phát bất thường gây ra những cú sốc cho nềnkinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền đương đại

Trang 11

1 2 Nguyên nhân gây ra lạm phát

1.2.1 Lạm phát do tiền tệ

1.2.1.1 Lý thuyết về lượng của tiền tệ

- Hình thức hoá thông thường nhất của lý thuyết đó là công thức IrvingFisher: M V=P T

Trong đó M là khối lượng tiền tệ lưu thông

V là tốc độ lưu thông của tiền tệ

P là mặt bằng chung của giá cả

T là khối lượng giao dịch phải bảo đảm

ý nghĩa của công thức đó là mọi sự tăng tiền tệ cao hơn tăng sản xuất thực tếđều được thể hiện (đối với một tốc độ lưu thông không đổi của tiền tệ) ra bằng

sự hiệu chỉnh giá cả chung, sao cho giá trị tổng thể của trao đổi bằng giá trịcủa khối lượng tiền tệ mới đang lưu thông Trong thời han ngắn hoặc trongtrường hợp bộ máy sản xuất không đáp ứng được nhu cầu tăng lên, biến độngcủa giá cả sẽ tỷ lệ thuận với biến động của khối lượng tiền tệ

- Một cách diễn đạt mới của quan hệ về lượng được gọi là Phương trìnhCambridge _ gắn với các công trình của Marshall: M = k P Y

Trong đó M là khối lương tiền tệ lưu thông

Y là thu nhập thực tế của quốc gia

P là mặt bằng chung của giá cả

k là hệ số biểu thị tỉ số giữa khối lượng tiền tệ và thu nhập phụ thuộc vàonhiều yếu tố không đơn thuần là một hệ số kỹ thuật

Sự tiếp cận này là lý thuyết về lượng với ý nghĩa độ lớn của khối lượngtiền tệ quyết định giá trị của thu nhập quốc gia, nhưng nếu nó tìm cách đưatiền tệ vào nền kinh tế thì lại bỏ qua các quan hệ giữa cung và cầu của tiền tệ

1.2.1.2 Cung ứng tiền tệ và lạm phát

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, sự tiếp cận của các nhà tiền tệ học bướcvào thời kỳ mới, đặc biệt với công trình của Friedman Ông đã định rõ nhucầu tiền tệ nhờ hàm Md/P = f(y, w, RM, RB, RE, Gp, u) Trong đó

Trang 12

Md biểu thị nhu cầu tiền tệ

P là mặt bằng giá

y là thu nhập dự kiến tính bằng bình quân thu nhập hiện tại và quá khứ

đã chỉnh lý

w là tỷ lệ giữa thu nhập từ thiết bị và con người

RM, RB, RE là hiệu suất danh nghĩa dự kiến của tiền tệ, trái phiếu và

Cung ứng tiền tệ và lạm phát tiền tệ

0

Trang 13

Chúng ta xem xét kết quả của việc cung tiền tệ tăng lên kéo dài ở đồ thị

1 Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1, với sản lượng đạt mức sản lượng tự nhiên

Yn, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, mức giá cả P1 (điểm giao nhau của đường tổngcung AS1 và đường tổng cầu AD1) Khi cung tiền tệ tăng lên đều đặn dần dầntrong suốt cả năm, thì đường tổng cầu di chuyển sang phải đến AD2 Trongmột thời gian rất ngắn, nền kinh tế sẽ chuyển động đến điểm 1’ và sản phẩmtăng lên trên mức tỷ lệ tự nhiên, tức là đạt tới Y1(Y1>Yn) Điều đó đã làmgiảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiê, tiền lươngtăng lên và làm giảm tổng cung-đường tổng cung dịch chuyển vào đến AS2.Tại đây, nền kinh tế quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm trên đườngtổng cung dài hạn Điểm cân bằng mới 2, mức giá đã tăng từ P1 lên P2 Cungtiền tệ tiếp tục tăng lên, đường tổng cầu lại dịch chuyển ra đến AD3, đườngtổng cung tiếp tục dịch chuyển vào AS3, nền kinh tế đạt mức cân bằng mới làđiểm 3 Nếu cung tiền tệ vẫn tiếp tục tăng thì sự dịch chuyển của đường tổngcầu và tổng cung như trên lại tiếp tục diễn ra và nền kinh tế đạt tới mức giá cảngày càng cao hơn Khi mà cung tiền tệ còn tăng thì quá trình này sẽ tiếptụcvà lạm phát sẽ xảy ra

Trong cách phân tích này của phái tiền tệ, cung tiền tệ được coi lànguyên nhân duy nhất làm di chuyển đường tổng cầu, do vậy không co cái gìnữa có thể làm nền kinh tế chuyển từ điểm 1 sang 2 và 3 và xa hơn Theoquan điểm của các nhà kinh tế học thuộc phái tiền tệ( trong đó có Friedman) ,khi cung tiền tệ tăng lên kéo dài sẽ làm cho mức giá cả tăng lên kéo dài vàgây ra lạm phát

Theo phân tích của phái Keynes thì ngoài cung tiền tệ còn có nhữngnhân tố khác ảnh hưởng đến đường tổng cầu và tổng cung(như là các chínhsách tài chính và các cú sốc cung tiền tệ) Tăng chi tiêu chính phủ hoặc cắtgiảm thuế cũng làm tăng tổng cầu do đó đẩy giá lên cao Nhưng những vấn đềcủa chính sách tài khoá lại có giới hạn của nó, chính phủ không có thể chi hơn100% GNP Vì vây, việc tăng lên của tỷ lệ lạm phát trong trường hợp này chỉ

là tạm thời Phân tích khác là về tác động của những cú sốc tiêu cực lên tổngcung(như việc tăng giá dầu do hậụ quả của lệnh cấm vận dầu mỏ, đấu tranh

Trang 14

của công nhân đòi tăng lương) cũng sẽ làm giá cả tăng lên Song nếu cungtiền tệ không tiếp tục tăng lên để tác động lên tổng cầu thì đến một lúc nào đó,tổng cung lại quay trở lại vị trí ban đầu Do vậy, tăng giá trong trường hợpnày cũng chỉ là một hiện tượng nhất thời mà thôi

Rõ ràng là quan điểm của phái Keynes và phái tiền tệ tương đối thốngnhất nhau Họ đều tin rằng lạm phát cao có thể xảy ra chỉ với một tỷ lệ tăngtrưởng tiền tệ cao

1.2.2 Lạm phát do nhu cầu

1.2.2.1 Tiền tệ và nhu cầu quá mức

Quan hệ tiền tệ và nhu cầu quá mức đặc biệt chặt chẽ khi thừa nhận địnhluật Say cổ xưa Theo định luật này, sự cung cấp sản phẩm tạo ra nhu cầuchính nó, nghĩa là nhu cầu tổng thể được tạo nên bởi toàn bộ thu nhập đượcphân phối vào dịp sản xuất Nhu cầu quá mức chỉ có thể có do sự tăng khôngkiểm soát được các phương tiện chi trả trong tay những người có nhu cầu Tính đặc thù của quan điểm giải thích lạm phát do nhu cầu, so với quanđiểm của phái tiền tệ là ở chỗ việc phát hành tiền tệ chỉ dẫn đến lạm pháttrong trường hợp bộ máy sản xuất không thể đáp ứng mức tăng của nhu cầu.Thế là hiệu chỉnh cung-cầu được thực hiện bằng giá cả thay cho số lượng.Lạm phát xảy ra khi khi nhu cầu quá mức lại nảy sinh và không có yếu tốnào(năng lực sản xuất vật chất tăng, tuyển thợ mới, thêm nguyên liệu mới)can thiệp vào để làm tăng mức cung ứng tổng thể đủ để thoả mãn nhu cầu

1.2.2.2 Lạm phát cầu kéo

Trong chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ vì muốn đạt được mục đíchcủa mình(công ăn việc làm cao) nên phải áp dụng một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệcao và xảy ra lạm phát Chính các nhà hoạch định theo đuổi các chính sáchlàm đường tổng cầu di chuyển ra dẫn đến lạm phát cầu kéo

Ngay cả khi công ăn việc làm đầy đủ, thất nghiệp lúc nào cũng tồn tại

do những xung đột trên thị trường Vì vậy tỷ lệ thất nghiệp khi có công ănviệc làm ổn định-tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên sẽ lớn hơn không Sự ấn định tỷ lệ

Trang 15

thất nghiệp dưới mức tự nhiên dẫn tới diễn biến như thế nào?Chúng ta sẽ chỉ

ra điều đó thông qua phân tích đồ thị tổng cung tổng cầu sau đây

Trang 16

Lạm phát cầu kéo

Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1 với mức sản phẩm tiềm năng Yn Cácnhà hoạch định chính sách đưa ra những biện pháp nhằm đạt được chỉ tiêu sảnphẩm lơn hơn mức sản lượng tiềm năng, mức chỉ tiêu cần đạt dó là Yt (Yt >Yn) Các biện pháp mà họ đưa ra sẽ tác động lên tổng cầu và làm tăng tổngcầu, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển ra đến AD2, nền kinh tế dịch chuyển đếnđiểm 1’ Đó là giao điểm giữa đường tổng cầu mới AD2 và đường tổng cungban đầu AS1 Sản lượng bây giờ đã đạt tới mức Yt, mục tiêu tỷ lệ thất nghiệpthấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên đã đạt được Cũng chính vì vậy tiền lươngtăng lên và đường tổng cung sẽ di chuyển vào đến AS2, đưa nền kinh tế từđiểm 1’ sang điểm 2’ Nền kinh tế quay trở lại mức sản lượng tiềm năng và tỷ

lệ thất nghiệp tự nhiên nhưng ở một mức giá cả P2 cao hơn P1

Đến lúc này tỷ lệ thất nghiệp lại cao hơn mục tiêu mà các nhà hoạchđịnh cần đạt được Do đó, họ lại tiếp tục thực hiện các chính sách làm tăngđường tổng cầu Quá trình này cứ tiếp diễn liên tục và đẩy giá cả trong nềnkinh tế lên cao hơn Nhưng vì giới hạn của những chính sách tài chính(giớihạn trong tăng chi tiêu chính phủ và giảm thuế) nên họ phải áp dụng chínhsách tiền tệ bành trướng, nghĩa là liên tục tăng cung tiền tệ và dẫn tới một tỷ

lệ tăng trưởng tiền tệ cao Họ không thu được điều tốt của một mức sản phẩm

0

Trang 17

thường xuyên cao mà lại gây nên điều xấu là một cuộc lạm phát Lạm phátcầu-kéo cũng là một hiện tượng tiền tệ

1.2.3 Lạm phát do chi phí

1.2.3.1 Quan điểm về lạm phát do chi phí

Theo ý kiến lạm phát do nguyên nhân chi phí sản xuất, lạm phát phátsinh từ chỗ tăng tiền chi cho các yếu tố sản xuất cao hơn khả năng sản xuấtcủa chúng Sự tăng đó đã kích động các chủ doanh nghiệp tăng giá sản phẩmcủa họ(hàng hoá hoặc dịch vụ) bán cho các doanh nghiệp, gia đình Nhữngngười này lại có xu hướng tăng giá của họ hoặc yêu cầu tăng tiền lương Cứthế từ thời kỳ này qua thời kỳ khác, quá trình lạm phát được hình thành vàduy trì Vậy, nguồn gốc của lạm phát là ở trong quá trình hình thành chi phí

và cung cấp

1.2.3.2 Lạm phát phí đẩy

Tương tự như lạm phát cầu kéo, cũng từ chính sách ổn định năng độngnhằm thúc đẩy một mức công ăn việc làm cao, lạm phát phí đẩy xảy ra donhững cú sốc cung tiêu cực hoăc do công nhân đòi tăng lương cao hơn gâynên

Ngày đăng: 27/03/2013, 11:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ (ĐHKTQD) Khác
2. Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác Lênin - NXB Chính trị Quốc gia - 1999 Khác
3. J.M Keynes Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ - NXB Giáo dục 1994 Khác
4. Tiền tệ, Ngân hàng thị trường tài chính Miskin Khác
5. Lạm phát và giảm lạm phát Piere Bezbakh - NXB Khoa học kỹ thuật Khác
6. Tiền tệ ngân hàng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Khác
7. Lạm phát Maurice flamant - NXB Thế giới 1992 Khác
8. Một số báo và tạp chí chuyên ngành Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w