1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn : "Đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành thủy sản"

53 486 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Nhằm Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Trong Ngành Thủy Sản
Trường học Thư Viện Điện Tử Trực Tuyến
Chuyên ngành Ngành Thủy Sản
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 830,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vốn đầu tư nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh của nghành

Trang 1

Đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong nghành thuỷ sản (BC;

10)

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN I - NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG 2

I- Những vấn đề về đầu tư phát triển 2

1- Khái niệm và vai trò của đầu tư phát triển 2

2 - Các nguồn huy động vốn đầu tư 4

3 - Mối liên hệ giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài 7

II- NĂNG LựC CạNH TRANH 7

1 - Khái niệm cạnh tranh - các yếu tố quyết định của cạnh tranh 7

2 - Các lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong nghành 10

3 Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm trong thương mại quốc tế 14

4 - Yêu cầu phải nâng cao năng lực cạnh tranh 16

III- Mối quan hệ giữa đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh 18

PHẦN 2 - THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ TRONG NGHÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM 20

I- Tổng quan về nghành thuỷ sản Việt Nam 20

II- Thực trạng về vốn đầu tư phát triển trong nghành thuỷ sản 22

1 - Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn 25

2- Cơ cấu vốn đầu tư phân theo lĩnh vực 32

3 - Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành 37

PHẦN 3 - NHỮNG GIẢI PHÁP CHUNG NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG NGHÀNH THUỶ SẢN NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI 41 I- Định hướng thu hút vốn đầu tư vào nghành trong thời gian tới 41

II – Những định hướng về đầu tư nhằm phát triển ngành TSVN trong thương mai quốc tế 41

KẾT LUẬN 50

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, dưới sự tác động của khoa học công nghệ, tính chất xã hội

hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất vượt ra khỏi biên giới quốc gia, xu

hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội diễn ra vô cùng mạnh mẽ và rộng

khắp Xu hướng quốc tế hoá mang lại không chỉ cơ hội mà còn cả thách thức

cho mỗi doanh nghiệp, nghành, quốc gia tham gia vào quá trình này, đặc biệt là

những quốc gia chậm phát triển như Việt Nam

Việt Nam ra nhập hiệp hội nghề cá các nước Đông Nam Á, APEC và

chuẩn bị ra nhập WTO, AFTA chắc chắn sẽ mở ra cơ hội vô cùng to lớn để

tranh thủ nguồn vốn đầu tư của nước ngoài Nhưng yêu cầu bức thiết đặt ra đối

với nghành là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của nghành để có thể hội nhập

với thị trường thế giới mà không bị thua thiệt Làm thế nào để thu hút được

nhiều vốn đầu tư vào nghành và sử dụng vốn có hiệu quả nhằm làm nâng cao

năng lực cạnh tranh của nghành Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “Đầu tư nhằm

nâng cao năng lực cạnh tranh trong nghành thuỷ sản”

Do khuôn khổ có hạn, đề tài này chỉ đi sâu vào khía cạnh vốn đầu tư

nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh của nghành

Về thời gian: Số liệu chính dùng để phân tích lấy từ năm 1990 trở lại đây

Dựa trên cơ sở lý luận chung về đầu tư, cạnh tranh và những đặc thù riêng

của nghành thuỷ sản, đề tài nhằm làm rõ thêm vai trò của đầu tư đối với việc

nâng cao năng lực cạnh tranh của nghành và đưa ra một số giải pháp

Đề tài này giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng

nghành thuỷ sản Việt Nam trong thời gian qua, những tồn tại và hạn chế cần

phải khắc phục, đồng thời đưa ra một số giải pháp giúp nâng cao năng lực cạnh

tranh của nghành

Ngoài những bảng biểu, mục lục…đề tài gồm những phần chính sau đây:

Phần I - Lý thuyết chung về đầu tư và cạnh tranh

Phần II - Thực trạng về đầu tư trong nghành thuỷ sản

Phần III - Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong nghành

thuỷ sản

Trang 3

PHẦN I - NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG

I- NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

1- Khái niệm và vai trò của đầu tư phát triển

1.1 Khái niệm về đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực

vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các

cơ sở đang tồn tại và tạo ra tiềm lực mới cho nền kinh tế – xã hội

1.2 Vai trò của đầu tư phát triển

1.2.1 - Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước

1.2.1.1 - Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu

Về mặt cầu: đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của

toàn bộ nền kinh tế Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự thay đổi của đầu tư làm

cho đầu tư tăng (đường D dịch chuyển sang D’) kéo sản lượng cầu tăng theo tư

Qo – Q1 và giá của các nguyên liệu đầu vào của đầu tư tăng từ Po-P1 Điểm cân

bằng dịch chuyển từ Eo-E1

Về mặt cung: khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực

mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng dài hạn tăng lên (đường S

dịch chuyển sang S’) Kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q1-Q2 và do đó giá

cả sản phẩm giảm tư P1-P2 Sản lượng tăng, gía cả giảm cho phép tăng tiêu

dùng Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại kích thích sản xuất hơn nữa Sản xuất

phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu

nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội

1.2.1.2 - Đầu tư có tác động hai mặt đến sự thay đổi của nền kinh

Từ sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng

cầu và đối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù

tăng hay giảm đều tạo cùng một lúc yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá

vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mọi quốc gia

1.2.1.3 - Đầu tư nhằm tăng cường khả năng khoa học công nghệ của đất nước

Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, đầu tư là điều kiện tiên

quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay

Trang 4

Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu để có công

nghệ hoặc nhập công nghệ từ nước ngoài Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nước

ngoài cũng cần phải có tiền, cần phải có đầu tư Mọi phương án đổi mới công

nghệ không gắn liền với nguồn vốn đầu tư sẽ là phương án không khả thi

1.2.1.4 - Đầu tư tác động vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể

tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự

phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Như vậy, chính đầu tư quyết định

quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng

trương nhanh và ổ định của toàn bộ nền kinh tế

Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối để

phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình

trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế,

kinh tế…của những vùng có khả năng phát triển mạnh hơn, làm bàn đạp thúc

đẩy phát triển kinh tế các vùng khác

1.2.1.5 - Đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế

Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ tăng

trưởng ở mức độ tăng trưởng ở mức độ trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được

từ 15%-20% so với GDP tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nước

Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu

tư, kinh nghiệm các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu

kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các nghành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ

thuộc vào hiệu quả của chính sách đầu tư nói chung Thông thường ICOR trong

nông nghiệp phụ thấp hơn trong công nghiệp ICOR trong giai đoạn chuyển đổi

cơ cấu kinh tế chủ yếu do tận dụng năng lực Do đó, ở các nước phát triển, tỷ lệ

đầu tư thấp, dẫn đến tăng trưởng thấp

1.2.2 - Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ

Đầu tư quyết định sự ra đời tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở nhằm duy

trì hoạt động và phát triển

1.2.3 - Đầu tư vào các cơ sở vô vị lợi

Với các cơ sở đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa

Trang 5

thường xuyên Tất cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động

đầu tư

2 - Các nguồn huy động vốn đầu tư

2.1- Khái niệm vốn đầu tư

Là nguồn lực tích luỹ được của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh

dịch vụ, tiết kiệm của dân và huy động của nước ngoài được biểu hiện dưới dạng

tiền tệ các loại, hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình và các loại hàng hoá đặc

biệt khác

2.2 - Các nguồn huy động vốn đầu tư

2.2.1 - V ốn đầu tư trong nước

2.2.1.1 - Nguồn vốn đầu tư nhà nước:

Nguồn này bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn tín dụng

đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp

nhà nước Đây được coi là nguồn vốn quan trọng cho chiến lược phát triển kinh

tế xã hội của quốc gia.Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết

cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh,hỗ trợ cho các dự án của doanh

nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác

lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế vùng lãnh thổ

Vốn đầu tư phát triển của nhà nước, cùng với quá trình đổi mới và mở

cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng

trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển

của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp của nhà

nước.Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng vốn phải đảm bảo nguyên tắc

hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả của đồng

vốn Vốn tín dụng là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn

sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp

Bên cạnh đó vốn tín dụng đầu tư còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết

kinh tế vi mô Thông qua nguồn vốn tín dụng đầu tư nhà nước khuyến khích

phát triển kinh tế-xã hội của nghành, vùng, lĩnh vực theo đinh hướng chiến lược

của mình

Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong

nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ một khối lượng vốn nhà

Trang 6

nước khá lớn Mặc dù vẫn còn một số hạn chế, nhưng đánh giá một cách công

bằng thì khu vực kinh tế nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh

tế nhiều thành phần

2.2.1.2 - Nguồn vốn từ khu vực tư nhân

Bao gồm một phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹ của các doanh

nghiệp dân doanh, các hợp tác xã

Thực hiện chính sách cơ chế cởi mở nhằm huy động mọi nguồn lực cho

đầu tư được thực hiện trong những năm gần đây các loại hình doanh nghiệp dân

doanh có những bước phát triển mạnh mẽ hoạt động đầu tư từ khu vực này gia

tăng mạnh mẽ, hàng chục ngàn doanh nghiệp được thành lập mới với số vốn

hàng chục ngàn tỷ đồng

2.2.1.3 - Thị trường vốn

Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế

của các nước có nền kinh tế thị trường nó là kênh bổ sung các nguồn vốn trung

và dài hạn cho các chủ đầu tư bao gồm cả nhà nước và các loại hình doanh

nghiệp, thị trường vốn và cốt lõi là thị trường chứng khoán như là một trung tâm

thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn

nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và

chính quyền địa phương tạo thành một nguần vốn khổng lồ cho nền kinh tế, đây

là hình thức huy dược coi là lợi thế mà không phương thức huy động vốn nào

làm được

Mặt khác, đứng trên góc độ hiệu quả, thị trường vốn thực sự trở thành cái

van hiệu quả điều tiết các nguồn vốn từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử

dụng có hiệu quả hơn, hơn nữa nó còn khắc phục tình trạng khan hiếm vốn và sự

lãng phí trong quá trình sử dụng vốn của toàn xã hội

2.2.2 - Ngu ồn vốn nước ngoài

2.2.2.1 Nguồn vốn ODA

Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước

ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình

thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODI nào khác,

được hưởng các ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vay tương

Trang 7

Mặc dù mang tính ưu đãi cao, song lại thường đi kèm với các điều kiện và

ràng buộc tương đối khắt khe, vì vậy khi nhận cần phải xem xét trong điều kiện

tài chính tổng thể

2.2.2.2 - Nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng thương mại

Điều kiện ưu đãi cho loại vốn này không dễ như đối với ODA Nhưng nó

lại có một số ưu điểm không gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội

Mặc dù thủ tục vay là khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất

cao do đó nguần vốn này thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất

nhập khẩu trong thời gian ngắn, một bộ phận của nguần này có thể dùng cho đầu

tư phát triển, đối với Việt Nam việc tiếp cận nguồn vốn này còn khá hạn chế

2.2.2.3 - Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển với tất cả các nước,

đặc điểm của nguồn vốn này là không làm phát sinh nợ cho nước tiếp nhận,

nước tiếp nhận sẽ nhận được một phần lợi nhuận thích đáng khi hoạt động đầu

tư có hiệu quả, đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh

doanh vào nước tiếp nhận vốn, nếu nó có thế thúc đẩy phát triển nghành nghề

mới , đặc biệt là những ngành có đòi hỏi cao về kỹ thuật , công nghệ hay cần

nhiều vốn

Không những là nguồn bổ sung vốn quan trọng, đầu tư trực tiếp nước

ngoài còn đóng góp vào việc bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán

cân thanh toán quốc tế

2.2.2.4 - Thị trường vốn quốc tế

Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị

trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các

nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm

vi toàn cầu

Ưu điểm của hình thức huy động vốn này là:

+ Có thể huy động vốn với khối lượng lớn và thời gian dài mà không bị

các ràng buộc về tín dụng hay phải chịu sức ép từ phía cho vay

+ Khả năng thanh toán cao có thể tăng tính hấp dẫn bằng cách đưa ra một

số yếu tố hấp dẫn

Trang 8

+ Tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp cận với nguồn vốn quốc tế

Nhưng

+ Hệ số tín nhiệm của Việt Nam thấp nên trái phiếu của Việt Nam phải

chịu lãi xuất ở mức cao

+ Việt Nam có rất ít kinh nghiệm

3 - Mối liên hệ giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài

Hai nguồn vốn này có mối quan hệ biện chứng với nhau

3.1 - Vốn trong nước tác động đến vốn nước ngoài

Vốn trong nước đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của một quốc

gia, một quốc gia muốn phát triển bền vững thì phải dựa vào nội lực tức là phải

dựa vào vốn trong nước Vốn trong nước có bền vững thì mới có thể thu hút

được vốn nước ngoài

Theo đường lối của Đảng thì nước ta đi lên xã hội chủ nghĩa và phải phát

huy nội lực, dựa vào sức mình là chính, nên chúng ta phải huy động và sử dụng

vốn trong nước một cách hợp lý và đó cũng là một điều kiện tiên quyết để thu

hút vốn nước ngoài nhằm phát triển nền kinh tế và nâng cao năg lực cạnh tranh

3.2 - Vốn nước ngoài tác động đến vốn trong nước

Vốn trong nước có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của một

đất nước, vốn nước ngoài góp phần làm cho việc sử dụng vốn trong nước có

hiệu quả hơn, tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, đem lại nhiều ngoại tệ hơn và qua

đó lại góp phần làm tăng nguồn vốn trong nước

Đất nước ta từ khi đổi mới, có chính sách thu hút và sử dụng vốn nước

ngoài qua đó đã làm dần tăng lượng vốn đầu tư trong nước và nền kinh tế tăng

trưởng nhanh hơn, năng lực cạnh tranh cũng được cải thiện đáng kể

II- NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1 - Khái niệm cạnh tranh - các yếu tố quyết định của cạnh tranh

1.1 - Khái niệm cạnh tranh

Có rất nhiều định nghĩa về cạnh tranh, nhưng xin đưa ra ở đây định nghĩa

phù hợp nhất với đề tài này

Trang 9

C ạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, nghành, quốc gia và vùng

trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc

tế

1.2 - Các yếu tố quyết định của cạnh tranh

Có rất nhiều các yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh dẫn đến sự

thành công hay thất bại của một số nghành, công ty, quốc gia

1.2.1 - L ợi thế so sánh:

Những lý giải phổ biến nhất của lý thuyết lợi thế cạnh tranh là sự khác

nhau giữa các quốc gia, nghành trong sự thiên phú tự nhiên về các yếu tố sản

xuất như lao động, đất đai tài nguyên và vốn Quốc gia nào dành được lợi thế so

sánh ở những nghành sử dụng rộng rãi các yếu tố mà quốc gia đó có được ưu thế

hơn, quốc gia đó sẽ xuất khẩu những hàng hoá này và nhập khẩu những hàng

hoá mà nó không có lợi thế so sánh

Lý thuyết lợi thế so sánh có sự hấp dẫn trực quan và sự khác biệt của các

quốc gia về các yếu tố chi phí có vai trò quan trọng trong việc xác định các bạn

hàng buôn bán cho các nghành Vấn đề đặt ra là những giả định làm cơ sở cho lý

thuyết lợi thế so sánh thương mại là không mang tính thực tiễn cho hầu hết các

nghành

1.2.2 - N ăng Suất

Tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia được xác định bởi năng xuất nền

kinh tế của mỗi quốc gia đó, nó được đo bằng giá trị hàng hoá và dịch vụ sản

xuất được trên một đơn vị lao động, vốn và nguồn lực vật chất của nước đó

Năng xuất đó xác định được tính cạnh tranh Quan niệm về năng xuất phải bao

hàm cả giá trị mà các sản phẩm của một nước yêu cầu trên thị trường và hiệu

quả mà nó mang lại

Sự cải thiện năng xuất và tính cạnh tranh của một quốc gia là một hàm của

ba tác động có quan hệ với nhau như sau:

- Bối cảnh chính trị và kinh tế vĩ mô

- Chất lượng các hoạt động và chiến lược của các nghành,doanh nghiệp

- Chất lượng môI trường kinh doanh

1.2.3 - B ối cảnh kinh tế vĩ mô

Trang 10

Các thiết chế chính trị và pháp luật xác lập bối cảnh tổng thể.Môi trường

chính trị ổn địnhvà các thiết chế chính trị bền vững là những điều kiện tiên quyết

đối với cạnh tranh.Tuy nhiên, bối cảnh chính trị ổn địnhvà các chính sách kinh tế

vĩ mô vững chắc là điều kiện cần nhưng chưa đủ để đảm bảo một nền kinh tế

cạnh tranh.Vì vậy, nếu muốn tạo ra các điều kiện cạnh tranh cho sự ra tăng bền

vững trong năng xuất và canh tranh,chúng ta phải xem xét cách thức mà năng

xuất có thể được nâng cao trong doanh nghiệp cũng như ở cấp độ nghành Điều

quan trọng là các doanh nghiệp, các nghành phải có năng xuất cao hơn thì mới

có khả năng cạnh tranh mạnh hơn

1.2.4 - Ho ạt động và chiến lược của doanh nghiệp

Cạnh tranh của các doanh nghiệp có thể được xem xét trên hai phương

diện Đầu tiên và cơ bản nhất là hiệu quả hoạt động, mà ở Việt Nam thì đó là các

lĩnh vực như quy trình sản xuất, công nghệ và khả năng quả lý Khía cạnh thứ

hai của việc cải tiến doanh nghiệp liên quan đến các loại hình chiến lược mà

doanh nghiệp đang sử dụng Việt Nam đang tồn tại xu hướng cạnh tranh dựa

trên mức lương thấp và nguồn tài nguyên thiên nhiên

Lợi thế phải chuyển từ lợi thế so sánh sang lợi thế canh tranh dựa trên sự

đổi mới năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và khả năng của các doanh

nghiệp này trong việc nâng cấp hoặc thay đổi các sản phẩm và quy trình

1.2.5 - Môi tr ường kinh doanh

Thương mại và đầu tư liên quan đến mức độ hội nhập của một quốc gia

vào nền kinh tế quốc tế và xu hướng đối với đầu tư Các chủ đề đặc thù được

xem xét là hàng rào mậu dịch tư do, các hiệp định thương mại, xúc tiến xuất

khẩu, chính sách đầu tư nước ngoài và quy định về các thủ tục

Tài chính, nhấn mạnh đến chất lượng và sự hoàn hảo của các ngân hàng

và thị trường vốn của Việt Nam, cung cấp nguồn vốn tiết kiệm trong nước và

hiệu quả của các trung gian tài chính trong việc hướng vốn vào những mục đích

sinh lợi nhất

Cải tổ doanh nghiệp, quan tâm tới các chính sách liên quan tới sự phát

triển các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cùng với việc thiết lập

một hệ thống quản lý có chất lượng đối với các tổng công ty

Trang 11

Nguồn nhân lực, liên quan đến các vấn đề như nâng cao giáo dục, kỹ

năng, và phát triển một thị trường lao động hiệu quả

Công nghệ, quan tâm đến các chính sách liên qua đến khoa học, nghiên

cứu, đổi mới và phát triển sản phẩm

Mặc dù các yếu tố trên được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp, các

nghành, nhưng nguồn gốc của tính cạnh tranh thường rất khác nhau giữa các

doanh nghiệp và các tiểu nghành.Vì thế, cạnh tranh của các doanh nghệp và các

nghành là sự kết hợp giữa môi trường kinh doanh và những ảnh hưởng của

doanh nghiệp

Không một lý thuyết nào có khả năng giải thích đầy đủ sự tiến triển về

cạnh tranh của toàn bộ các doanh nghiệp, nghành và của quốc gia Xem xét kỹ

các doanh nghiệp và các nghành đã thành công hoặc không trên bình diên quốc

tế là một quá trình hết sức phức tạp trong đó có nhiều tác nhân đóng vai trò và

làm dịch chuyển có tầm quan trọng theo thời gian.Tuy nhiên, qua quá trình đó

lợi thế so sánh biến thành lợi thế cạnh tranh không hề mang tính ngẫu nhiên.Và

những động lực quan trọng nhất thúc đẩy các doanh nghiệp và các nghành nâng

cao các yếu tố cạnh tranh được xác định rõ ràng

Một trong những hệ quả quan trọng nhất của năng xuất là vị thế nền kinh

tế tương lai của Việt Nam.Các yếu tố như vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên

không mang tính quyết định xét trên giác độ dài hạn Thay vào đó, Việt Nam lựa

chọn cách tổ chức và quản lý nền kinh tế như thế nào, lựa chọn các thiết chế

thích hợp và các hình thức đầu tư của cá nhân và tập thể Từ đó sẽ quyết định

sức cạnh tranh, tăng trưởng kinh tế và sự phồn thịnh quốc gia

2 - Các lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong nghành

Các đối thủ tiềm ẩn

Các đối thủ hiện tại trong nghành

Sụ cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại

Quyền lực thương lượng

của người cung ứng

Quyền lực thương lượng của người mua Người

cung ứng

Người mua

Nguy cơ đe doa từ những Nguy cơ đe doạ nhập ngành

từ các đối thủ tiềm ẩn

Trang 12

2.1 - Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong nghành

Trước hết, các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong nghành quyết định tính

chất và mức độ tranh đua nhằm giành giật lợi thế trong nghành mà mục đích

cuối cùng là giữ vững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo có thể có được

những mức lợi nhuận cao nhất Sự cạnh tranh của các đối thủ hiện tại có xu

hướng làm tăng mức độ cạnh tranh và làm giảm mức độ lợi nhuận của nghành

Có nhiều hình thức và công cụ cạnh tranh được các đối thủ sử dụng khi cạnh

tranh trên thị trường, ví dụ như cạnh tranh về giá hay về chất lượng sản

phẩm.Trên thực tế, các đối thủ cạnh tranhvới nhau thường sử dụng công cụ cạnh

tranh tổng hợp, trên cơ sở kết hợp cạnh tranh về giá với các hình thức và công cụ

cạnh tranh khác như chất lượng sản phẩm, marketting…

Thường thì cạnh tranh trở nên khốc liệt khi nghành ở giai đoạn bão hoà

hoặc suy thoái, hoặc có động các đối thủ cạnh tranh “bằng vai phải lứa”với các

chiến lược kinh doanh đa dạng và do những rào cả kinh tế làm cho các doanh

nghiệp khó tự do di chuyển sang các nghành khác Để có thể bảo vệ khả năng

cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần thu thập đủ những thông tin cần thiết

về các đối thủ cạnh tranh chính có đủ sức mạnh trên thị trường để làm cơ sở

hoạch định chiến lựơc

2.2 - Nguy cơ đe doạ nghành từ các đối thủ tiềm ẩn

Hiểu biết đối thủ cạnh tiềm ẩn luôn có ý nghĩa qua trọng đối với các

doanh nghiệp vì sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới, đặc biệt là các đối

thủ cạnh tranh mạnh sẽ làm cạnh tranh trở nên khốc liệt và không ổn định

2.3 - Quyền lực thương lượng của người mua

Đối với các doanh nghiệp hay nghành thì hoạt động đầu tư phát triển chỉ

có ý nghĩa khi tiêu thụ được sản phẩm và có lãi Chính vì vậy sự tín nhiện của

khách hàng luôn là tài sản có giá trị quan trọng của doanh nghiệp và của ngành

và nhiệm vụ của họ là phải thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách

hàng so với đối thủ cạnh tranh Người mua luôn muốn trả giá thấp nên sẽ thực

hiện việc ép giá, gây áp lực đòi chất lượng cao hơn hoặc phục vụ nhiều hơn khi

có điều kiện điều này làm giảm lợi nhuận nghành

Trang 13

2.4 - Quyền lực thương lượng của người cung ứng

Người cung ứng các yếu tố đầu vào luôn muốn thu nhiều lợi nhuận, vì vậy

họ có thể đe dọa tăng giá hoặc giảm chất lượng của sản phẩm đặt mua khi có

điều kiện

2.5 - Nguy cơ đe doạ từ những sản phẩm thay thế

Các sản phẩm thay thế luôn có thể tác động lớn đến mức độ lợi nhuận

tiềm năng của nghành, nhất là đối với các sản phẩm có chu kì sống ngắn.Vì

phầm lớn các sản phẩm thay thế là kết quả của việc đổi mới công nghệ thường

có ưu thế hơn về giá thành chất lượng…Biện pháp chủ yếu lúc này là phải đổi

mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và trình độ quản lý

Trang 15

3 Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm trong thương

mại quốc tế

Ngày nay, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, việc xác định, đo lường sức cạnh

tranh quốc tế đâng ngày càng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà phân tích

Một cách tương đối, các nhà phân tích có thể đánh giá sức cạnh tranh của sản

phẩm thông qua các các chỉ tiêu định tính như: chất lượng sản phẩm, độ tiện ích,

vệ sinh an toàn

3.1 Hệ số khả năng cạnh tranh của sản phẩm từ chất lượng và giá cả

Đây là phương pháp xác định sức cạnh tranh (SCT) của sản phẩm dựa trên sự

am hiểu sâu sắc của các chuyên gia về chủng loại sản phẩm nào đó, các yếu tố

các yếu tố cơ bản cần thành sức cạnh tranh sản phẩm là yếu tố chất lượng và giá

cả

K=

g c

Trong đó: K là khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hệ số =1

C: Chỉ tiêu chất lượng tổng hợp của sản phẩm(cả chỉ tiêu kỹ thuật, các

chỉ tiêu kinh tế, xã hội khi sử dụng sản phẩm)

g: giá tiêu dùng của sản phẩm

Bằng cách cho điểm đối với các chỉ tiêu của sản phẩm

K =1- 0,99 sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao

K = 0,98-0,95 sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt

K = 0,94 -0,9 sản phẩm có khả năng cạnh tranh trung bình

K = 0.89 -0.7 sản phẩm có khả năng cạnh tranh thấp

K= 0,69 -0,1 sản phẩm có khả năng cạnh tranh rất thấp

Trong trường hợp xác cần xác định sức cạnh tranh của sản phẩm mới sắp

đưa ra tại trường cạnh tranh với các sản phẩm tương tự, thì các chuyên gia sẽ

cho điểm để xác định hệ số K của sản phẩm mới sau đó sẽ lựa chọn sản phẩm

tương tự cần so sánh

Các sản phẩm tương tự để so sánh là những sản phẩm có hệ số K= 0.98

-0.95 hoặc K = 0.94 – 0.9

Trang 16

Như vậy: S =

tt

m

K K

Với Km : Khả năng cạnh tranh của sản phẩm mới

Ktt : Khả năng cạnh tranh của sản phẩm mới tương tự

S : Là hệ số so sánh giữa hai sản phẩm này

Nếu S ≥ 1 sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh tốt

S < 1 sản phẩm mới ít có khả năng cạnh tranh và cần phải hoàn thiện thêm

Tuy nhiên: -Độ tin cậy của hương pháp không cao do các yếu tố dùng để

tính toán chỉ là những ước lượng tương đối

-Phương pháp này chỉ phù hợp với một đoạn thị trường đựơc quan sát,

còn những thị trưòng chưa quan sát thì không phản ánh được

Không phù hợp với điều kiện cạnh tranh quốc tế vì yếu tố giá còn phụ

thuộc vào chính sách thương mại và tỷ giá hối đoái

3.2 – Hệ số sách hiển thị

Được xác định:

H =

i i

I i

N X

N X

+

H: là hệ số so sánh hiển thị

Xi: Giá trị xuất khẩu của mặt hàng i

Ni: giá trị nhập khẩu của mặt hàng i Phương pháp này đơn giản dựa vào số liệu thực tế có sẵn, so sánh được

khả năng cạnh tranh trên phạm vi quốc tế Nhưng đâylà phương pháp đơn giản,

ý gnhĩa phân tích không lớn

3.3 – Chỉ số lợi thế so sánh dựa trên chi phí đầu vào( RFC)

Chi phí đầu vào trong nước bao gồm các đầu vào trong nước, đầu vào

nhập khẩu, đầu vào có thể thay thế, đầu vào không thể thay thế Các đầu vào này

có liên quan các chính sách về thuế, lãi suất, các khoản trợ cấp, nâng đỡ đối với

các ngành hay khu vực kinh tế do các chính sách thương mại và công nghiệp

của chính phủ mang lại Các chính này có thể có lợi cho các ngành ản xuất và

tạo nên một lợi thế cạnh tranh Mặt khác, những tác động của các chính này đối

Trang 17

với doanh nghiệp, ngành và toàn bộ nền kinh tế thông qua bóp méo giá cả nhằm

bảo hộ, trợ cấp, nâng đỡ sẽ sai lệch về chi phí sản xuất từ đó sẽ làm thay đổi khả

năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, ngành trong thương mại quốc tế

Khả năng sinh lời về mặt tài chính

RFC =

i

i i i i

K

dK L SUB

VDBi: giá trị gia tăng của sản phẩm i tính theo giá trị nội

SUBi: trợ cấp trực tiếp cho sản phẩm i

Li: chi phí lao động sử dụng cho sản phẩm i

d.Ki: vốn khấu hao của sản phẩm i tính theo giá nội địa

Ki: giá vốn của sản phẩm i tính theo giá quốc tế

Phương pháp tính toán này có độ tin cậy cao phù hợp với yêu cầu đánh

giá sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế, nhưng tính toán công phu phức tạp

3.4 – Chỉ số cạnh tranh quốc tế từ chi phí đơn vị

Chênh lệch giữa chi phí đơn vị của nhà sản xuất trong nước và các đối thủ

cạnh tranh quốc tế (IC)

IC =UC* –UC > 0

UC*: Chi phí đơn vị sản phẩm của nhà cạnh tranh quốc tế

UC: là chi phí đơn vị sản phẩm của của nhà sản xuất trong nước

Đây là chỉ số đo lường sức cạnh tranh trong xuất khẩu, nhưng cũng có thể

đo lường sức cạnh tranh trên thị trường nội địa nếu sử dụng giá nội địa Nếu so

sánh trên thị trường quốc tế có thể sử dụng ngoại tệ thì ta chuyển sang đồng nội

tệ bằng cách sử dụng tỷ giá hối đoái (e)

IC =UC*.e – UC >0

3 - Yêu cầu phải nâng cao năng lực cạnh tranh

Từ hơn một thập kỷ nay, hội nhập và toàn cầu hoá đã diễn ra nhanh chóng

và trở thành một xu thế khó có thể đảo ngược, tạo ra áp lực cạnh tranh đối với

nền kinh tế của mỗi quốc gia, nghành, doanh nghiệp Đồng thời cũng đưa các

nước xích lại gần nhau hơn

Trang 18

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Nước ta đã cam kết hội nhập

kinh tế quốc tế thông qua các hiệp định thương mại song phương (hiệp định

thương mại Việt-Mỹ), hội nhập kinh tế khu vực và đang tích cực đàm phán để

hội nhập đa phương, ra nhập WTO

Trong quá trình toàn cầu hoá ngày càng trở nên sâu sắc, năng lực cạnh

tranh quốc gia, ngành, doanh nghiệp trở thành nhân tố quan trọng để thu hút đầu

tư bảo đảm tăng trưởng kinh tế, thực hiện có hiệu quả công cuộc công nghiệp

hoá, hiện đại hoá

Hiệp định thương mại Việt Nam –Hoa Kỳ ký ngày 13/7/2000 đang tạo ra

những cơ hội to lớn cho nước ta như mở rộng thị trường xuất khẩu sang Mỹ với

mức thuế quan thấp, thu hút vốn đâù tư và công nghệ hiện đại thuận lợi hơn

trong việc ra nhập WTO và tăng cường hội nhập quốc tế

Trong quan hệ với các nước ASEAN từ năm 1960, hàng năm ta đều công

bố lịch trình cắt giảm thuế quan Cho đến nay, gần năm 5000 dòng thuế thấp hơn

20% đã được đưa vào danh mục cắt giảm, chiếm 60% tổng số danh mục hàng

hoá nhập khẩu của Việt Nam.Thuế quan giữa các nước thành viên dự kiến sẽ

xoá bỏ vào năm 2015

Ngoài ra, là một thành viên của APEC Việt Nam khẳng định cam kết hoàn

thành mục tiêu tự do hoá và mở cửa thương mại cũng như đầu tư trong khối vào

năm 2010 đối với các nền kinh tế phát triển và vào năm 2020 đối với các nền

kinh tế chưa phát triển

Mặc dù gặp không ít khó khăn, song quá trình hội nhập kinh tế quốc cần

tiếp tục phát triển, vừa tạo ra cơ hội cho các nền kinh tế vừa tăng sức cạnh tranh

Trong bối cảnh đó, nỗ lực của một nền kinh tế về cải cách, phát triển tăng trưởng

phải được so sánh với các nền kinh tế cạnh tranh với mình chứ không chỉ so

sánh với chính nền kinh tế đó trong quá khứ Và do đó, mỗi quốc gia,nghành

,doanh nghiệp phải tiến nhanh hơn đối thủ cạnh tranh của mình để không bị tụt

hậu và thua thiệt trong kinh doanh

Trên cơ sở thực tiễn đó, nghị quyết ĐHĐCSVN lần thứ IX đã khẳng định

chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” nâng cao năng lực cạnh tranh

chính là một yêu cầu quan trọng để thực hiện chủ trương đó Nghị quyết

07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của bộ chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã xác

Trang 19

và nâng cao hiệu quả sản xuất,nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh,bảo

đảm cạnh tranh có hiệu quả”.Nghị quyết cũng nêu rõ nhiêm vụ” Đi đôi với việc

nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ của các nghành, doanh

nghiệp cần đưa ra sự cải thiện môi trường kinh doanh, khả năng cạnh tranh của

các nghành, quốc gia, doanh nghiệp thông qua việc khẩn trương đổi mới và xây

dựng đồng bộ hệ thống pháp luật phù hợp với đường lối của đảng,với thông lệ

quốc tế, phát triển mạnh kết cấu hạ tầng,đẩy mạnh công cuộc cảI cách hành

chính nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh về phẩm chất và

3.1 - Đầu tư tác động đến năng lực cạnh tranh

Các học thuyết kinh tế đã chứng minh được mối quan hệ giữa đầu tư với

tăng trưởng và từ đó tăng trưởng lại có tác dụng kích thích nâng cao năng lực

cạnh tranh của nghành đó là các lý thuyết “gia tốc đầu tư” và lý thuyết “số nhân

đầu tư” Muốn tăng trưởng một lượng nhất định thì phảI có một tỷ lệ đầu tư thoả

đáng và nền kinh tế có tăng trưởng thì mới có thể nâng cao năng lực cạnh tranh

Đầu tư vào máy móc trang thiết bị, lao động… nhằm làm nâng cao năng suất lao

động Theo lý thuyết về cạnh tranh thì việc này đã tạo ra được lợi thế so sánh và

từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nghành, doanh nghiệp, quốc gia Nếu

khônh có đầu tư thì không thể có năng lực cạnh tranh mạnh được

Thực tế nước ta trong giai đoạn từ năm 1986 trở về trước do vốn đầu hạn

chế thêm vào đó là sử dụng vốn đầu tư không hiệu quả, các doanh nghiệp và các

thành phần kinh tế kghông chủ động trong việc thu hút và sử dụng vốn từ đó

năng lực cạnh tranh kém là đIều tất nhiên không tránh khỏi Từ năm 1986 trở lại

đây do thay đổi cơ chế mà vốn đầu tư huy động được nhiều và sử dụng có hiệu

quả hơn năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, nghành, quốc gia có tăng lên

đáng kể

Trang 20

3.2 - Năng lực cạnh tranh tác động đến đầu tư

Trong nền kinh tế thị trường các nghành, doanh nghiệp cạnh tranh với

nhau bằng giá cả, chất lượng mẫu mã… điều này đòi hỏi nhà đầu tư luôn phảI

luôn nắm bắt nhu cầu thị trường, đổi mới trang thiết bị, nâng cao trình độ sản

xuất và trình độ của người lao động …muốn vậy phải đầu tư

Nước ta trước năm 1986, do nền kinh tế bao cấp nhà nước lên kế hoạch

trong nền kinh tế, không có cạnh tranh nên không tạo ra động lực để đầu tư và

đầu tư kém cũng làm hạn chế năng lực cạnh tranh

Từ năm 1986 trở đi do thay đổi cơ chế làm tăng đầu tư dẫn đến tăng năng

lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cao lại làm cho đầu tư cao hơn

Trang 21

PHẦN 2 - THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ TRONG NGHÀNH THUỶ SẢN

VIỆT NAM

I- TỔNG QUAN VỀ NGHÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM

Mặc dù có tiềm năng lớn và được đầu tư phát triển liên tục từ thập niên

60, nhưng tới giai đoạn 1976-1980, nghành thuỷ sản Việt Nam liên tục thua lỗ,

bình quân giá trị thuỷ sản mỗi năm của Việt Nam chỉ đạt 264 triệu USD, xuất

khẩu chỉ vẻn vẹn khoảng 10 triệu USD Một trong những nguyên nhân cơ bản

dẫn đến tình hình trên đây là do cũng như nhiều nghành khác của Việt Nam lúc

bấy giờ, nghành thuỷ sản được vận hành theo cơ chế bao cấp Chính trong bối

cảnh đó, một cơ chế quả lý mới đã được đề xuất, Hội đồng bộ trưởng đã chấp

nhận cho nghành thuỷ sản tự chủ xuất nhập khẩu, tự lo liệu về tài chính để cân

đối đầu vào, đầu ra và vì thế cơ chế “Tự cân đối, tự trang trải”đã ra đời

Nhờ được tự chủ kinh doanh, giải phóng năng lực sản xuất, đột phá thế

bao vây của những lực lượng thù địch mà nghành thuỷ sản Việt Nam đã được

vực dậy rồi có những bước tiến quan trọng Liên tục từ năm 1981 trở đI, sản

lượng và giá trị kim ngạch thuỷ sản tăng đều đặn Tới năm 1986, tổng sản lượng

đạt 840573 tấn (tăng 150.6% so với năm 1980) và xuấtkhẩu đạt 109235 triệu

USD (tăng gấp 9.75lần so với năm 1980) Chính từ cơ chế này công ty

SEAPRODEX đã xây dựng được nhiều phương thức làm ăn mới rất sáng tạo

như liên doanh, liên kết với các địa phương trong chế biến và nuôi trồng thuỷ

sản, với các nghành khác của nền kinh tế để hỗ trợ nhau cùng đi lên, hợp tác

kinh doanh và liên doanh với nước ngoài

Sang thập niên 90, cơ chế quản lý trong nghành tiếp tục thay đổi theo

hướng đa dạng hoá các loại hình xí nghiệp

Nếu như trước đây, các xí nghiệp quốc doanh còn chiếm tỷ trọng cao và

sản xuất kinh doanh còn chiếm tỷ trọng cao và kinh doanh có hiệu quả thì từ

năm 1991 đến nay quy mô các xí nghiệp quốc doanh thu hẹp dần do làm ăn thua

lỗ

Trong bối cảnh đó, với việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều

thành phần, nhà nước đã tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khác cùng tham

gia vào hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân

Trang 22

tỏ ra có nhiều ưu thế và phát triển mạnh từ năm 1991 đến nay Tư nhân tham gia

cả trong khai thác, nuôI trồng, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản, dịch vụ hậu cần:

Trong khai thác hải sản, dưới hình thức chủ thuyền, tư nhân bỏ vốn sắm

thuyền, thuê bạn nghề đi khai thác và ăn chia theo thoả thuận Số chủ thuyền có

vốn lớn, tổ chức đội tàu lớn, khai thác vùng biển xa bờ ngày một tăng Nhiều

chủ thuyền đã có trên dưới mười tàu đánh cá, với số vốn hàng tỷ đồng

Trong nuôi trồng thuỷ sản, nhiều tư nhân bỏ tiền ra thuê đất và mặt nước

xây dựng những khu nuôi trồng thuỷ sản với quy mô lớn, tư 20 ha đến hàng trăm

ha, dưới dạng trang trại hoặc công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn, thuê lao động tiến

hành sản xuất, kinh doanh theo trình độ kỹ thuật mới Vốn đầu tư và doanh thu

lên đến hàng trăm tỷ đồng

Trong chế biến thuỷ sản đã xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân lớn, đầu

tư xây dựng các nhà máy chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu tới hàng chục tỷ

đồng, doanh số nhiều doanh nghiệp trên dưới 10 triệu USD Ngay từ năm 1997,

đã có doanh nghiệp tư nhân đạt doanh số 30 triệu USD

Trong thương mại thuỷ sản, các chủ vựa với cơ chế ứng trước vốn cho các

tàu thuyền đi khai thác hải sản và mua toàn bộ sản phẩm khi thuyền về bến, ứng

vốn cho tiểu thương mua gom nên đã làm chủ thị trường nguyên liệu trở nên sôi

động hơn nhiều Nhiều chủ vựa đã có vốn ứng trước hàng tỷ đồng, đồng thời

lượng vốn lưu động dùng mua cá thanh toán trong một ngày cũng lên tới hàng tỷ

đồng

Trang 23

II- THỰC TRẠNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG NGHÀNH

THUỶ SẢN

Chi ngân sách nhà nước cho nông nghiệp và phát triển nông thôn thời

kỳ 1996-2001

Thời kỳ 1996-2000 2001 Tổng số

(tỷ đồng)

Bình quân

1 năm(tỷ)

Cơ cấu (%)

Dựa vào bảng trên ta thấy cơ cấu vốn đầu tư nhà nước cho nghành thuỷ

sản trong những năm qua có những thay đổi

Trong giai đoạn 1996-2000 vốn bình quân năm là 444 tỷ chiếm 6.2% tổng

chi ngân sách thì đến năm 2001 chỉ còn có 4.85 tổng vốn đầu tư, mặc dù tỷ trọng

tăng lên 515 tỷ đồng tức là tăng 71 tỷ đồng so với bình quân giai đoạn trước

Nhưng đối với nghành nông nghiệp nói chung thì nhận thấy cơ cấu vốn

đầu tư vào thuỷ sản là thấp, chỉ chiếm có 6.2% tổng vốn đầu tư, bình quân năm

là 444 tỷ đồng trong giai đoạn1996-2000 Đến năm 2001 giảm xuống còn có

4.8%, trong khi đó nghành nông nghiệp là 5896 tỷ đồng/ năm chiếm 82%, đến

năm 2001 tăng lên 9658 tỷ đồng chiếm 84.2% tổng chi cho toàn nghành, như

vậy là có sự chênh lệch lớn trong cơ cấu đầu tư Tương ứng với nó trong sáu

năm (96-2000) giá trị sản xuất toàn nghành tăng 66%, sản lượng thuỷ sản tăng

43%, nhưng tỷ trọng nghành đóng góp vào GDP khu vực nông nghiệp chỉ tăng

1.6%, bình quân mỗi năm tăng 0.32% như vậy là quá chậm

Tổng GDP

(tỷ đồng)

75510 80826 98073 101723 108356 114412

Trang 24

Ngay trong nội bộ nghành thuỷ sản cơ cấu đấu tư cũng không đồng đều

Cụ thể là đầu tư cho khai thác hảI sản xa bờ chiếm tỷ trọng lớn Tính riêng cho

năm 2002 đầu tư cho khai thác hảI sản xa bờ là 996 tỷ đồng, chiếm 35.6%, trong

khi đầu tư cho nuôI trồng thuỷ sản chỉo có 483 tỷ đồng, chiếm 17.8%, cơ cấu

đầu tư như vậy là chưa hợp lý vì đầu tư vào tàu đánh bắt hảI sản xa bờ mà thiếu

quy hoạch tổng thể thì dễ gây tâm lý ỷ lại cho người dân nên chưa có hiệu quả

cao Trong khi chi cho các lĩnh vực chế biến thuỷ sản hay tìm kiếm thị trường thì

lại chưa được chú trọng nên thực ra nghành chưa có khả năng cạnh tranh mạnh

Cơ cấu đầu tư theo vùng lãnh thổ cũng phân bố không đều, tập trung

nhiều vào những vùng như ĐBSCL, Duyên Hải Nam Trung Bộ…Cơ cấu đầu tư

như vậy là hợp lý vì những vùng này có tiềm năng to lớn về thuỷ sản, tập trung

vốn vào đây để phát triển tạo thành những vùng kinh tế trọng điểm, như vậy có

hiệu quả hơn là đầu tư dàn trải mà kém hiệu quả

Mặc dù cơ cấu vốn đầu tư vào nghành thuỷ sản thấp và có xu hướng giảm

tỷ trọng nhưng GDP nghành thuỷ sản đóng góp vào nền kinh tế lại liên tục tăng

qua các thời kỳ Năm 97 tăng 3.6% so với năm 96, năm 2001 tăng 7% so với

năm 96, về giá trị tuỵệt đối tăng 6874 tỷ đồng, nhưng về cơ cấu thì không ổn

định So sánh liên hoàn thì năm 97 chỉ tăng 3.67% so với năm 96 tốc độ tăng

chậm như vậy là vì năm 1997 cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á có ảnh hưởng ít

nhiều dến nghành thuỷ sản nước ta, nhưng ở các năm tiếp theo thì GDP năm

Trang 25

nhưng đến năm 2001 lại giảm 1.54% so với năm 2000 vì vốn đầu tư vào nghành

trong giai đoạn này giảm rất nhiều so với giai đoạn trước Điều này hoàn toàn

phù hợp với lý thuyết “gia tốc đầu tư” tức là muốn có một tỷ lệ tăng trưởng nhất

định thì phảI có một lượng vốn đầu tư nhất định vào nghành Và đồng thời cũng

cho thấy tỷ suất lợi nhuận của nghành tương đối cao nhờ vào lợi thế so sánh

Tuy nhiên, so với nhu cầu thì đầu tư cho nghành thủy sản trong những năm qua

còn ít, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của nghành, chưa có sức cạnh

tranh lớn nên thường bị thua thiệt trong những hoạt động buôn bán với nước

ngoài Đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước (cả ngân sách và tín dụng) còn rất hạn

Trang 26

1 - Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn

2.1- Thực trạng vốn đầu tư trong nước

C ơ cấu nguồn vốn đầu tư cho nghành thuỷ sản giai đoạn 2001-2010

Ngu ồn: Tính toán từ “quy hoạch tổng thể phát triển

kinh t ế biển” của viện nghên cứu chiến lược(bộ kế hoạch và đầu tư), “quy

ho ạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội

nghành thu ỷ sản thời kỳ2000-2010” của bộ thuỷ sản

và “báo cáo b ổ xung và điều chỉnh kế hoạch 5 năm 01-05”

Dựa vào bảng trên ta thấy cơ cấu vốn đầu tư nhà nước cho nghành thuỷ

sản trong những năm qua có những thay đổi

Trong giai đoạn 1996-2000 vốn bình quân năm là 444 tỷ chiếm 6.2% tổng

chi ngân sách thì đến năm 2001 chỉ còn có 4.85 tổng vốn đầu tư, mặc dù tỷ trọng

tăng lên 515 tỷ đồng tức là tăng 71 tỷ đồng so với bình quân giai đoạn trước

Nhưng đối với nghành nông nghiệp nói chung thì nhận thấy cơ cấu vốn

đầu tư vào thuỷ sản là thấp, chỉ chiếm có 6.2% tổng vốn đầu tư, bình quân năm

là 444 tỷ đồng trong giai đoạn1996-2000 Đến năm 2001 giảm xuống còn có

4.8%, trong khi đó nghành nông nghiệp là 5896 tỷ đồng/ năm chiếm 82%, đến

năm 2001 tăng lên 9658 tỷ đồng chiếm 84.2% tổng chi cho toàn nghành, như

vậy là có sự chênh lệch lớn trong cơ cấu đầu tư Tương ứng với nó trong sáu

năm (96-2000) giá trị sản xuất toàn nghành tăng 66%, sản lượng thuỷ sản tăng

43%, nhưng tỷ trọng nghành đóng góp vào GDP khu vực nông nghiệp chỉ tăng

1.6%, bình quân mỗi năm tăng 0.32% như vậy là quá chậm

Ngày đăng: 27/03/2013, 11:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dựa vào bảng trên ta thấy cơ cấu vốn đầu tư nhà nước cho nghành thuỷ sản trong những năm qua cĩ những thay đổi  - Luận văn : "Đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành thủy sản"
a vào bảng trên ta thấy cơ cấu vốn đầu tư nhà nước cho nghành thuỷ sản trong những năm qua cĩ những thay đổi (Trang 23)
Dựa vào bảng trên ta thấy cơ cấu vốn đầu tư nhà nước cho nghành thuỷ sản trong những năm qua cĩ những thay đổi - Luận văn : "Đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành thủy sản"
a vào bảng trên ta thấy cơ cấu vốn đầu tư nhà nước cho nghành thuỷ sản trong những năm qua cĩ những thay đổi (Trang 26)
1- Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn - Luận văn : "Đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành thủy sản"
1 Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn (Trang 26)
2- Cơ cấu vốn đầu tư phân theo lĩnh vực - Luận văn : "Đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành thủy sản"
2 Cơ cấu vốn đầu tư phân theo lĩnh vực (Trang 33)
Nhìn vào bảng trên ta thấy trong cả ba giai đoạn thì đầu tư vào nuơi trồng sau  đĩ  là  khai  thác  luơn  chiếm  một  tỷ  trọng  cao  nhất,  nhưng  khai  thác  cĩ  tỷ  trọng ngày càng giảm mặc dù về giá trị tuyệt đối vẫn tăng, cịn nuơi trồng thuỷ  sản thì - Luận văn : "Đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành thủy sản"
h ìn vào bảng trên ta thấy trong cả ba giai đoạn thì đầu tư vào nuơi trồng sau đĩ là khai thác luơn chiếm một tỷ trọng cao nhất, nhưng khai thác cĩ tỷ trọng ngày càng giảm mặc dù về giá trị tuyệt đối vẫn tăng, cịn nuơi trồng thuỷ sản thì (Trang 33)
vào thị trường Mỹ. Tình hình tiêu thụ thuỷ sản trong địa phương cũng cĩ nhiều tiến bộ - Luận văn : "Đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành thủy sản"
v ào thị trường Mỹ. Tình hình tiêu thụ thuỷ sản trong địa phương cũng cĩ nhiều tiến bộ (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w