1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHẠM TRÙ vật CHẤT của CHỦ NGHĨA DUY vật

36 850 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 272,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vậtChương 1 Quan điểm của CNDV trước Mác về phạm trù vật chất 1.1.1 .Phạm trù vật chất trong quan niệm của các nhà triết học d

Trang 1

đại học thái nguyên

trường đại học sư phạm thái nguyên

Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Kim Loan Lớp : Giáo dục Công dân 38B

Trang 2

B¶ng ký hiÖu ch÷ viÕt t¾t

Chñ nghÜa duy vËt : CNDV

Chñ nghÜa duy vËt biÖn chøng : CNDVBC Chñ nghÜa duy vËt lÞch sö : CNDVLS Chñ nghÜa duy vËt siªu h×nh : CNDVSH

Trang 3

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Sự phát triển của phạm trù vật chất của CNDV

4 Mục đích và nhiệm vụ

4.1 Mục đích

- Nghiên cứu sự phát triển phạm trù vật chất của CNDV và ý nghĩa khoa học của phạm trù vật chất của CNDVBC

4.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu phạm trù vật chất của chủ nghĩa CNDV cổ đại

- Nghiên cứu phạm trù vật chất của CNDV siêu hình

Trang 4

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

- Nghiên cứu phạm trù vật chất dưới ánh sáng của CNDVBC

- ý nghĩa khoa học của phạm trù vật chất của CNDVBC

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng các phương pháp của CNDVBC và CNDVLS, phương pháp lịch sử và lô gíc, phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp với liên hệ thực tiễn…

6 ý nghĩa của đề tài

- Nhằm nâng cao nhận thức cho nhóm nghiên cứu đề tài này về phạm trù vật chất trong lịch sử phát triển của nó

- Kết quả mà đề tài đạt được có thể được coi là một tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Mác - Lênin trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, trong việc học tập và nghiên cứu về phạm trù vật chất

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương và 4 tiết

Trang 5

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Chương 1

Quan điểm của CNDV trước Mác

về phạm trù vật chất

1.1.1 Phạm trù vật chất trong quan niệm của các nhà triết học duy vật cổ đại

* Talet: (khoảng 625 – 547 trước CN)

- Talet là một nhà toán học, nhà triết học

- Trong quan niệm về thế giới: Ông cho rằng, nguồn gốc của thế giới là nước Nước là bản chất chung của tất thể mọi vật mọi hiện tượng trong thế giới, mọi cái trên thế gian đều sinh ra từ nước và khi bị phân huỷ lại biến thành nước Nước tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó tạo nên thì không ngừng biến đổi sinh ra và chết đi, toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất tồn tại tựa như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn đó

Như vậy, Talet coi cơ sở đầu tiên của thế giới là nước, Ông đã đồng nhất thế giới, với một dạng vật chất cụ thể đó là nước đây là một quan niệm duy vật ngây thơ, chất phác

* Hêraclit (Khoảng 530 – 470 trước CN)

- Hêraclit là một nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp Ông có nhiều tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc, nhưng cách thể hiện chúng ở ông không rõ ràng nên còn chứa nhiều ẩn dụ khó hiểu

- Quan niệm về thế giới: Hêraclit cho rằng, không phải là nước, Apeirôn, không khí mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất cả mọi sự vật “

Trang 6

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái như trao đổi vàng thành hàng hoá và hàng hoá thành vàng” Lửa không chỉ là cơ sở của mọi vật mà còn là khởi nguyên sinh ra chúng “ Cái chết của lửa là sự ra đời của không khí và cái chết của không khí là sự ra đời của nước, từ cái chết của nước sinh ra không khí (Từ cái chết của không khí – lửa, và ngược lại)” Theo Hêraclit sự phát sinh ra vũ trụ từ lửa là “con đường đi xuống”, đồng thời là sự thiếu hụt lửa, nhưng “ Con đường đi xuống” đó phải được bù đắp tất yếu bởi “ Con

đường đi lên”, bởi quá trình “ Dư thừa lửa”, tức là quá trình tất thảy vũ trụ biến thành lửa, bởi một đám cháy trên quy mô toàn vũ trụ “Lửa bao quát tất cả, phân sử tất cả” Hoả hoạn vũ trụ đồng thời là toà án vũ trụ Như vậy, theo quan niệm của Heaclit, hoả hoạn vũ trụ không chỉ là một sự kiện vật lý, mà còn là một hành vi “Đạo đức” Bản thân vũ trụ không phải là do chúa trời hay

là một lực lượng siêu nhiên thần bí nào tạo ra, nó mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn đang không ngừng bùng cháy và tàn lụi” Ví toàn bộ vũ trụ tựa như ngọn lửa bất diệt, Hêraclit đã tiếp cận được với quan niệm duy vật nhấn mạnh tính vĩnh viễn và bất diệt của thế giới

- Nếu như Talet coi nước như là khởi nguyên với tư cách như một thực thể sinh ra mọi vật thì Hêraclit đã hiểu khởi nguyên theo nghĩa độ cao hơn, coi lửa không chỉ là thực thể sinh ra mọi vật mà còn là khởi tổ thống trị toàn thế giới, đó không phải là lửa theo nghĩa thông thường, mà là lửa vũ trụ, sản sinh ra không chỉ là các sự vật vật chất, mà cả những hiện tượng tinh thần, kể cả linh hồn con người

Theo Hêraclit ông thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập “Vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau Nhờ các cuộc đấu tranh đó mà mới có hiện tượng sự vật này chết đi, sự vật khác ra đời Điều đó làm cho vũ trụ thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng vì thế đấu tranh là vương quốc của mọi cái là quy luật phát triển của vũ trụ Bản thân

Trang 7

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập, luôn luôn diễn ra trong sự hài hoà nhất

định, dựa trên sự quy định của Logos” quan niệm này còn thô sơ, chất phát

Như vậy, trong quan niệm của Hêraclit về thế giới, tuy vẫn còn coi khởi nguyên của thế giới là một dạng vật chất cụ thê (lửa) Nhưng nó đã được

ông hiểu một cách khái quát hơn, trừu tượng hơn và nó được nhìn nhận dưới cái nhìn biện chứng

* Đêmôcrit (khoảng 460 –370 trước CN)

Là đại biểu nổi tiếng nhất của học thuyết nguyên tử cổ đại Đêmôcrit

Đêmôcrit đưa ra học thuyết nguyên tử luận về thế giới Ông coi nguồn gốc của thế giới là các nguyên tử - đây là quan niệm khác biệt so với các nhà triết học trước đó Nguyên tử - theo Đêmôcrit là những hạt vật chất cực kỳ nhỏ bé, nó là những hạt nhỏ nhất không thể phân chia được nữa, chúng không

có mùi vị, không có màu sắc và âm thanh, chúng tồn tại vĩnh viễn vào trong lòng chúng, không hề có vận động Các nguyên tử không có sự khác nhau về chất lượng mà chúng chỉ khác nhau về trình tự sắp xếp Chính trật tự này đã tạo nên sự đa dạng của các sự vật mà chúng cấu thành Các nguyên tử không

tự thân vận động nhưng khi kết hợp với nhau thành sự vật thì làm cho vật thể

và thế giới vận động không ngừng

Theo Đêmôcrit thì mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều được cấu tạo từ nguyên tử Sự xuất hiện hay mất đi của vật này hay vật khác là kết quả của sự kết hợp hay phân tán của các nguyên tử Mọi biến đổi của sự vật thực chất là thay đổi trình tự sắp xếp của các nguyên tử tạo nên chúng Còn bản thân mỗi nguyên tử thì không thay đổi gì cả Như vậy một mặt Đêmôcrit duy trì các nguyên lý, bảo tồn”tồn tại” của Pacmenit, coi các nguyên tử là vĩnh viễn bất biến, mặt khác lại ủng hộ quan niệm của Hêraclit cho rằng “Mọi sự vật đều biến đổi không ngừng”

Trang 8

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Như vậy quan niệm vật chất được cấu tạo từ nguyên tử của Đêmôcrit mang tính khái quát, trừu tượng hoá cao Tuy nhiên nó còn có nhược điểm là

đã coi nguyên tử là phần tử nhỏ nhất (vì ông chỉ dựa vào quan sát, phỏng

đoán)

Quan niệm về vũ trụ: Vũ trụ – theo ông đó là khoảng không gian vô cùng tận được cấu thành từ vô vàn các nguyên tử, ông cho rằng các nguyên tử trong khoảng không có mức độ phận bố không đều nhau ở những khoảng không nào có chứa nhiều nguyên tử thì chúng thường xuyên va chạm với nhau thành các luồng gió xoáy đẩy các nguyên tử nặng và to quy tụ vào thành tâm, các nguyên tử nhỏ và nhẹ thì bị đẩy ra vùng xa hơn Do đó mà hình thành nên các hành tinh và trái đất Lửa, không khí, ánh sáng nhờ những luồng xoáy – do chuyển động của các nguyên tử theo hình xoáy tròn tạo ra bầu trời Các thế giới cũng nằm trong quá trình biến đổi vận động không ngừng Quan niệm về vũ trụ của ông đã tiến gần tới quan niệm DVBC về vận động

* Arixtốt (khoảng 384 – 322 trước CN)

Arixtốt Arixtốt được các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác coi là bộ óc bách khoa nhất, trong số các nhà tư tưởng cổ đại Hy Lạp

Quan niệm về thế giới:

Arixtốt đã đưa ra quan điểm của mình để phê phán học thuyết “ ý niệm “ của Platon vì ông cho rằng, “học thuyết ý niệm” của Platon là một sai lầm về nhận thức Trên cơ sở phê phán học thuyết ý niệm của Platon và kế thừa quan niệm về tồn tại của Pacmenit cũng như một số nhà triết học khác

ông đã xây dựng cho mình học thuyết “ Tồn tại” Theo ông tồn tại xuất phát

từ 4 nguyên nhân sau đây:

- Nguyên nhân vật chất

Trang 9

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Như vậy với việc phê phán học thuyết “ý niệm” của Platon, Arixtốt đã khẳng định thêm được lập trường duy vật của mình và thấy được tính duy tâm của Platon là xuất phát từ thế giới ý niệm để giải thích về thế giới, còn Arixtốt tiến bộ hơn khi xuất phát từ chính thế giới để giải thích về thế giới, nhưng trong học thuyết của ông còn có nhược điểm đó là coi sự phát triển thế giới tự nhiên như một quá trình sản xuất vật chất, nên ông đã coi nguyên nhân “hình dạng là cái có trước” Vậy câu hỏi đặt ra là, cái gì sinh ra hình dạng? Do đó ông đi đến thừa nhận có một hình dạng của hình dạng có trước, với quan điểm này thì mặc dù ông không duy tâm trực tiếp nhưng ông đã gián tiếp thừa nhận có một lực lượng siêu nhiên thần bí nào đó tồn tại, điều này lại quay trở lại như quan điểm của Platon Do đó đây là quan niệm duy vật không triệt để

Quan niện về thế giới (Đây là quan điểm có giá trị)

Theo ông, tự nhiên là toàn bộ những sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi, thông qua vận động mà giới tự nhiên được biểu hiện ra, vận động không tách rời vật thể tự nhiên Vận động của giới tư nhiên

Trang 10

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

có nhiều hình thức: Sự tăng và giảm; sự ra đời và tiêu diệt; Sự thay đổi trong không gian…“Tính vật chất của giới tự nhiên biểu hiện ở các yếu tố khởi nguyên của nó Ngoài bốn yếu tố, dất, nức, lửa, không khí thì theo Arixtốt, còn yếu tố thứ năm cấu tạo nên thế giới là Ête, có đặc trưng vận động tròn các yếu tố này làm nền tảng cho toàn bộ thiên hà sinh thành và vận động”

Quan niệm về thế giới của Arixtốt là còn giao động giữa CNDV và CNDT

1.1.2 Phạm trù vật chất của CNDV Phương đông (Trung Hoa, ấn Độ) cổ đại 1.1.2.1 Phạm trù vật chất của CNDV Trung Hoa cổ đại

* Phạm trù vật chất trong thuyết âm dương: (Âm dương là hai thế lực

đối trọi nhau)

Âm là giống cái, thụ động, khí lạnh, bóng tối, ẩm ướt, mềm mỏng… Dương là biểu thị cho giống đực, hoạt động, hơi nóng, ánh sáng, khôn ngoan, rắn giỏi…

Hai thế lực âm – dương tuy đối chọi nhau nhưng chúng không tồn tại

độc lập nhau mà thống nhất với nhau trong vạn vật Trong âm có dương, trong dương có âm, nguyên lý này được khái quát bằng một vòng tròn khép kín có hai phần đen trắng tượng trưng cho hai khí âm và dưng Hai phần này tuy tách biệt nhau đối lâp nhau, nhưng lại ôm lấy nhau và xoắn lấy nhau cụ thể ở chỗ hình đen phình ra có một điểm trắng, chỗ hình trắng phình ra lại có một điểm đen Chỗ hình đen phình ra là chỗ hình trắng thót lại ngược lại chỗ hình trắng phình ra là chỗ hình đen thót lai Điều này chứng tỏ rằng âm thịnh dần thì dương suy dần, dương thịnh dần thì âm suy dần Nhưng khi âm cực thịnh thì đã có một điểm trắng xuất hiện (tức mầm dương xuất hiện) Ngược lại khi dương cực thịnh thì đã có một điểm đen xuất hiện (mầm âm xuất hiện)

Trang 11

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Như vậy trong thuyết âm dương các nhà triết học Trung Hoa đã thấy

được quy luật biến hoá của vạn vật, nó phát triển dần dần từ thấp đến cao,

đến cao hơn, đến đỉnh điểm và xuất hiện mặt trái Đây là một quan niệm duy vật sơ khai đã mang tính biện chứng

* Phạm trù vật chất trong thuyết ngũ hành

“Ngũ hành” tức là bao gồm 5 yếu tố: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ Kim: Tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, Phía tây…

Mộc: Tượng trưng cho tính chất xanh, chua, Phía đông…

Thuỷ: Tượng trưng cho tính chất đen, mặn, Phía bắc…

Hoả: Tượng trưng cho tính chất đỏ, trắng, Phía nam…

Thổ: Tượng trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa…

Thuyết ngũ hành cho rằng các yếu tố vật chất nguyên thuỷ ấy không phải ở trạng thái tĩnh mà là động, không phải cô lập với nhau mà là có mối quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau, cái này chuyển hoá thành cái kia, cái này sinh ra cái kia (tương sinh – tương khắc), Theo chu trình lặp đi lặp lại, có tính chất tuần hoàn Họ cho rằng, quá trình “tương sinh” (bồi đắp để nuôi dưỡng) và tương khắc (ước chế ) là quá trình sinh- diệt không ngừng đó

Như vậy, thuyết âm – dương; Ngũ hành đã thừa nhận tính vật chất của thế giới, giải thích được quy luật khách quan của thế giới tuy nói còn chất phác, máy móc, nhưng rõ ràng nó đã có tác dụng chống lại chủ nghĩa duy tâm và mục đích luận trong quan niệm vể tự nhiên và nó thực sự đã tiến bộ hơn rất nhiều so với các quan niệm trước đó Do đó hai phạm trù âm – dương; ngũ hành là hai khái niệm trừu tượng đầu tiên trong quan niệm về thế giới, nó là cội nguồn của quan điểm DVBC trong tư tưởng triết học của người Trung Hoa sau này

Trang 12

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

* Phạm trù vật chất trong quan niệm của Khổng Tử

Chịu ảnh hưởng của thuyết âm –dương, Ngũ hành Khổng Tử cho rằng: Vạn vật trong vũ trụ luôn luôn biến sinh, hoá thành không ngừng theo

“đạo” của nó Sự vận động, biến đổi ấy của vạn vật bắt nguồn từ sự liên hệ tương tác giữa hai cực âm – dương trong một thể thống nhất là thái cực Tuy nhiên, thuyết này cũng còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn giằng co, đan xen, giữa duy vật vô thần, với duy tâm; giữa tư tưởng tiến bộ với tư tưởng bảo thủ

* Phạm trù vật chất trong quan niệm của LIo Tử

Quan niệm về vật chất của Lão Tử cho rằng “Đạo” là con đường, là quy luật sinh thành biến hoá của mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ, theo ông thì toàn bộ vũ trụ bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến, đó là quy luật quân bình và quy luật phản phục

Tóm lại: Những tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại mà tiêu biểu là những tư tưởng về âm – dương; ngũ hành tuy còn có những hạn chế nhất

định, nhưng đó là những triết lý đặc sắc mang tính chất duy vật và biện chứng sơ khai của người Trung Hoa cổ đại

1.1.2.1 Phạm trù vật chất của CNDV ấn độ cổ đại

Khuynh hướng triết học ở ấn độ thời kỳ này mang tính duy vật sơ khai,

được thể hiện rõ nhất qua hai trường phái tiêu biểu:

* Trường phái Sàm Khuya:

Triết học Sàm Khuya phủ định sự tồn tại của Brhaman, tinh thần vũ trụ

và thần Họ đưa ra học thuyết Satkàsya – vàda tức học thuyết tồn tại của kết quả trong nguyên nhân Họ cho rằng, nếu thế giới là vật chất thì nguyên nhân của nó cũng phải là vật chất Vật chất đầu tiên (Pràkriti) không phải là vật

Trang 13

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

chất ở dạng thô hay có thể nhận thức bằng cảm giác trực tiếp được một cách

rõ ràng mà nó ở dạng tinh tế, tiềm ẩn

Thế giới vật chất là thể thống nhất bao gồm 3 yếu tố

Sattva: nhẹ, sáng, tươi vui

Rajas: động, kích thích

Tamas: nặng, khó khăn

Khi ba yếu tố này ở trạng thái cân bằng thì Pràkriti ở trạng thái không thể trực quan được, khi cân bằng bị phá vỡ thì đó là điểm xuất phát của sự tiến hoá thế giới

Như vậy là từ rất sớm các nhà triết học Sàm Khuya đã hình thành rõ ràng tư tưởng vật chất vận động không ngừng, do đó Sàm Khuya là sơ kỳ duy vật

* Trường phái Lokàyata

Trường phái này phủ nhận thuyết “luân hồi” và “nghiệp” và sự “giải thoát” Họ cho rằng thế giới vật chất đều được tạo ra bởi bốn yếu tố vật chất là: Đất, nước, lửa, không khí, những yếu tố này có khả năng tự tồn tại, tự vận

động trong không gian và cấu thành vạn vật, tính đa dạng của vạn vật là do sự kết hợp khác nhau của những yếu tố vật chất ấy

Trường phái này cho rằng, không có linh hồn bất tử, linh hồn, hay ý thức chỉ là một thuộc tính của cơ thể, ý thức do vật chất sinh ra Bởi vậy Lokàyata là trường phái duy vật triệt để nhất trong các trường phái triết học

ấn Độ cổ đại

1.1.3 Nhận xét về phạm trù vật chất trong quan niệm của các nhà triết học duy vật cổ đại

* Ưu điểm

Trang 14

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Các nhà triết học duy vật cổ đại (cả Phương tây và Phương Đông) về cơ bản đã có cách nhìn đúng về bản nguyên của thế giới vật chất, họ đã biết lấy bản thân thế giới vật chất, thế giới tự nhiên để giải thích mô tả bản chất vật chất của giới tự nhiên chứ không viện đến thần linh hay một sức mạnh thần bí nào khác, điều này đã góp phần chống lại các quan điểm duy tâm tôn giáo

Triết học duy vật cổ đại tuy còn hạn chế về mặt lịch sử, thời đại, nhưng

nó đã đi đúng hướng trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, do đó

nó là cơ sở, là tiền đề cho triết học duy vật sau này phát triển

* Hạn chế:

Những quan điểm về phạm trù vật chất của các nhà triết học cổ đại còn

là CNDV thô sơ, chất phác, mộc mạc, trực quan và cảm tính vì nó chỉ dựa trên sự quan sát trực tiếp để tìm hiểu về bản nguyên về thế giới, chứ chưa có cơ sở khoa học

Hạn chế lớn nhất của triết học duy vật thời kỳ cổ đại là đồng nhất vật chất với các dạng vật chất cụ thê như: Nước, lửa, không khí, nguyên tử, Ête…

do không hiểu rõ sự khác nhau giữa vật chất với các dạng cụ thể của vật chất Tình trạng này kéo dài, trở thành thói quen truyền thống, trong tư duy của các nhà triết học và tự nhiên học sau này Bởi vậy họ đã nhầm đối tượng của triết học với đối tượng của các khoa học cụ thể về cấu trúc vật chất

Đầu thế kỷ XVI – XVII ở Châu âu, lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ mà khởi đầu, là sự phát triển của khoa học kỹ thuật nói chung, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, lúc này triết học duy vật cũng đã phát triển mạnh mẽ trên một nền móng tư duy khoa học vững chắc, hàng loạt các nhà triết học (đồng thời cũng là các nhà khoa học) đã xuất hiện, họ tiếp tục xây dựng và phát triển nội dung phạm trù vật chất theo một cách nhìn mới

Trang 15

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

CNDVSH là phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại, hay theo như Mác nói đó là “chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”

1.2.1 Phạm trù vật chất trong triết học Tây âu thế kỷ XVII –XVIII

Từ đầu thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII là thời kỳ bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản và thời kỳ này khoa học kỹ thuật cũng rất phát triển, đặc biệt là cơ học Những điều kiện đó là tiền đề cho sự ra đời của triết học mới với nhiều đại biểu nổi tiếng:

* Franxi Bêcơn (1561 - 1626)

Franxi Bêcơn là nhà triết học duy vật kiệt xuất, đại biểu tư tưởng của tầng lớp quý tộc mới và giai cấp tư sản thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ, là “ông tổ” của CNDV Anh

Quan niệm về vật chất: Franxi Bêcơn cho rằng giới tự nhiên tồn tại khách quan, là điểm xuất phát của nhận thức con người, thế giới khách quan, tồn tại độc lập ấy Vì vậy theo Franxi Bêcơn, vật chất chính là cơ sở của giới

tự nhiên phong phú, đa dạng

Ông cho rằng vật chất có rất nhiều tính chất, do đó chúng ta không

được quy vật chất vào một loại tính chất cụ thể nào… từ đó Franxi Bêcơn đưa

ra học thuyết về nguyên tố cơ bản của vật chất - đó là những vật chất có tính chất khác nhau mà Franxi Bêcơn gọi nó là “tính chất đơn thuần”, “tự nhiên

đơn thuần”, như trọng lượng, ánh sáng, nhiệt Đây là quan điểm lộ rõ lập trường siêu hình máy móc vì ở đây ông đã coi tính chất là có hạn và bất biến

Theo Franxi Bêcơn thì mọi sự vật chỉ tồn tại 3 nguyên nhân: Hình thức, vật chất và vận động và chúng đều là bản tính của vật chất Trong đó hình thức là bản chất khách quan của sự vật Như vậy Franxi Bêcơn muốn khẳng

định không có cái gọi là ”hình thức của hình thức phi vật chất” điều này là

Trang 16

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

tiến bộ hơn và khắc phục được quan niệm duy tâm của nhà triết học duy vật

cổ đại Hy Lạp Arixtôt khi ông tách rời hình thức ra khỏi vật chất

Franxi Bêcơn cho rằng, một trong những thuộc tính cơ bản của vật chất

là vận động, vật chất và vận động không tách rời mà vận động thì tồn tại vĩnh viễn, vật chất đa dạng và vận động cũng đa dạng

Như vậy, Franxi Bêcơn là nhà duy vật không triệt để, vì ông cho rằng ngoài tự nhiên còn có thần Tuy nhiên, triết học duy vật của ông đã có tác dụng lớn đối với triết học duy vật sau này

Ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới có trước con người và không phải do chúa tạo ra, ông đứng về phái duy danh và cho rằng không nên nhầm lẫn giữa tên của sự vật và sự vật, khái niệm chỉ là sự quy ước của con người Cũng vì điều đó mà học thuyết của ông đã vấp phải những hạn chế nhất định như việc ông chỉ thừa nhận tồn tại những sự vật riêng lẻ, cụ thể, không có thực

Về vận động Tomat Hôpxơ đã tách rời giữa vật chất và vận động, ông hiểu sự vận động chỉ là vận động cơ giới, chỉ là sự di chuyển giản đơn của các sự vật trong không gian Như vậy quan niệm về vật chất của Tomat Hôpxơ mang tính siêu hình

* Rônê Đêcactơ (1596 - 1650)

Trang 17

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

Rônê Đêcactơ là đại biểu của triết học pháp thế kỷ XVIII ông đưa ra quan niệm về tính vô tận của thế giới, ông cho rằng toàn bộ vũ trụ, thế giới vật chất là vô cùng, vô tận nó bao gồm những hạt nhỏ có thể phân chia đến vô cùng Ông quan niệm không gian gắn liền với vật chất vận động, phủ nhận không gian, thời gian trống giỗng, song do hạn chế của thời đại nên ông đã hiểu vận động của vật chất là vận động cơ học

Rônê Đêcactơ đưa ra giả thiết về sự hình thành vũ trụ, theo giả thiết này thì ban đầu thế chúng ta chỉ là thế giới các hạt vật chất chuyển động hỗn

độn, trong quá trình thương tác, chúng dần dần tụ lại thành các đám mây xoáy tròn, làm tụ lại các hạt vũ trụ mà ông gọi là Ete, đã tạo nên các dạng vật chất khác nhau là tuỳ vào mức độ dày đặc của chúng Giả thiết này tuy còn nhiều hạn chế, nhưng nó đã là một bước tiến mới trong quá trình nhận thức của con người về thế giới vật chất

* Giôn Lốccơ (1632 - 1704)

Giôn Lốccơ là đại biểu duy cảm siêu hình của CNDV Anh

Ông cũng thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập có trước con người, tuy nhiên cũng giống các nhà triết học cùng thời, ông cũng xuất phát từ quan điểm siêu hình khi xem xét vật chất, cho rằng vật chất chỉ bao hàm kích thước, hình dạng, thể tích

Như vậy tuy triết học duy vật của Giôn Lốccơ còn nhiều sơ hở, để cho CNDT lợi dụng, nhưng nó vẫn mang những đóng góp, tích cực, cơ bản

* Xpinôda (1632 -1677)

Xpinôda là nhà triết học duy vật Hà Lan

Xpinôda quan tâm đến “thực thể duy nhất” Theo ông, “thực thể duy nhất” là giới tự nhiên tồn tại khách quan, tự nó sản sinh ra nó chứ không có

Trang 18

Quá trình phát triển phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật

một lực lương siêu nhiên nào tạo ra cả Vì vậy muốn hiểu biết nhận thức giới

tự nhiên thì phải đi từ giới tự nhiên Đây là quan điểm rất tiến bộ

Theo ông thì nguồn gốc của bản chất chung của tất thảy, mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ, kể cả tinh thần đều là “thực thể duy nhất”

Tóm lại, trong học thuyết của Xpinôda có những yếu tố siêu hình máy móc như việc ông quy tất cả các hình thức vận động vào một hình thức duy nhất đó là sự dịch chuyển cơ học trong không gian

1.2.2 Quan niệm về phạm trù vật chất trong chủ nghĩa duy vật Pháp

* Giulen Ophrơ Lamettri (1709 - 1751)

Giulen Ophrơ Lamettri là một trong những nhà duy vật điển hình của triết học khai sáng Pháp

Về thế giới quan duy vật: Ông là người theo khuynh hướng của

Đêcactơ, trên cơ sở những thành tựu mới của khoa học tự nhiên nhất là của y học và sinh lý học, Giulen Ophrơ Lamettri đã làm cho những quan điểm duy vật của Đêcactơ trở nên phong phú và thực sự ông đã tiến một bước trong việc xây dựng chủ nghĩa duy vật triết học Giulen Ophrơ Lamettri cho rằng thực tế vật chất có quảng tính, và chuyển động là nguồn gốc duy nhất của mọi hiện tượng tự nhiên về kể cả ý thức ở quan niệm nhị nguyên luận của

Đêcactơ đã đồng nhất vật chất với quảng tính, chưa phân biệt được sự khác nhau giữa hai phạm trù này, thì đã được khắc phục bằng khẳng định cụ thể và phong phú của Giulen Ophrơ Lamettri, rằng quảng tính là thuộc tính căn bản của vật chất, còn lực lượng bên trong của vật chất, làm cho vật chất không ngừng biến đổi thường xuyên là thuộc tính thứ 2 của nó Ông viết: ”… vật chất chứa đựng một lực lượng làm cho nó sống động và là nguyên nhân trực tiếp của mọi quy luật vận động”

Ngày đăng: 01/11/2014, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w