một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà máy xi măng la hiênmột số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần alomột số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty tnhh thƣơng mại duy thịnhmột số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp nuôi trồng thủy sản kiến thụymột số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanhluận văn một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cp dịch vụ đường sắt hoa phượng41025 pm phượng vũ bích phượng luận văn một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cp dịch vụ đường sắt hoa phượngmot so giai phap nang cao chat luong tin dung tai ngan hang co phan dai duongmột số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại an thắngmột số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần xây dựng vinaconex Thêm vào bộ sưu tập Thêm vào bộ sưu tập
Trang 1
HUỲNH THỊ BÍCH NGỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI
VẬT LIỆU – KHÍ ĐỐT NHA TRANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSSV: 45DK148
Giáo viên hướng dẫn: Hà Việt Hùng
Nha trang, tháng 11 năm 2007
Trang 2Lời cảm ơn
Sau hơn 4 năm học tại trường Đại học Thủy Sản, nay là Đại học Nha Trang, em
đã kết thúc chương trình học và đang bước vào thực hiện đồ án tốt nghiệp Lần đầu tiên tiếp xúc với thực tế không sao tránh khỏi những khó khăn bở ngỡ, nhưng được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô và cô chú trong Công ty em đã hoàn thành tốt luận văn của mình
Để hoàn thành luận văn này, trước hết em xin chân thành cảm ơn Thầy, Cô Khoa Kinh tế, Bộ môn Quản trị kinh doanh trường Đại học Nha Trang đã trang bị vốn kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập
Em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Hà Việt Hùng đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực hiện luận văn này
Cháu xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty cổ phần thương mại vật liệu – khí đốt Nha Trang, cô Bùi Thị Đại – Giám đốc, chú Phan Thanh Lâm – Trưởng phòng Tổ chức hành chính, chú Nguyễn Văn Chỉnh – Trưởng phòng Kế toán – Tài vụ, chú Lê Xuân Phúc – Trưởng phòng Kế hoạch nghiệp vụ - Kinh doanh, cùng các Cô, Chú nhân viên trong công ty đã nhiệt tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt cho cháu trong suốt thời gian thực tập tại đơn vị
Tôi xin cảm ơn đến bạn bè và gia đình đã giúp đỡ, ủng hộ tôi trong thời gian học tập cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Cuối cùng em xin kính chúc các Thầy, Cô Khoa Kinh tế, Bộ môn Quản trị Kinh doanh, đặc biệt là thầy Hà Việt Hùng, cùng các Cô, Chú trong Công ty Cổ phần thương mại vật liệu – khí đốt Nha Trang một sức khỏe để công tác tốt
Nha Trang, ngày 5 tháng 11 năm 2007
Sinh viên
HUỲNH THỊ BÍCH NGỌC
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
Mục lục
Lời nói đầu 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 9
1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh 9
1.1.1 Một số quan điểm về hiệu quả kinh tế 9
1.1.2 Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh tế 10
1.1.2.1 Khái niệm 10
1.1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh 11
1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh doanh 13
1.1.3.1 Dựa vào phạm vi tính toán 13
1.1.3.2 Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh 14
1.1.3.3 Hiệu quả chi phí và hiệu quả tổng hợp 15
1.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh 16
a) Nhân tố ảnh hưởng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 17
1.2.1 Môi trường vĩ mô 17
1.2.1.1 Môi trường tự nhiên 17
1.2.1.2 Môi trường văn hóa - xã hội 17
1.2.1.3 Môi trường kinh tế 18
1.2.1.4 Môi trường chính trị - luật pháp 18
1.2.2 Môi trường vi mô 19
1.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh hiện tại 19
1.2.2.2 Khác hàng 19
1.2.2.3 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn 19
1.2.2.4 Nhà cung ứng 20
1.2.2.5 Sản phẩm thay thế 20
1.2.3 Nhân tố bên trong doanh nghiệp 20
1.2.3.1 Lực lượng lao động 20 1.2.3.2 Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và những ứng dụng tiến bộ
Trang 5kỹ thuật 21
1.2.3.3 Nhân tố quản trị doanh nghiệp 22
1.2.3.4 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin 22
1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp 23
1.3.1 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh 23
1.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 24
1.3.2.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động sống 24
1.3.2.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ và VCĐ 27
1.3.2.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ và VLĐ 28
1.3.2.4 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh doanh 30
1.3.2.5 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp 31
1.3.2.6 Khả năng bảo toàn và phát triển vốn 37
1.3.2.7 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội 38
1.4 Ngành thương mại – đặc điểm, sự phát triển trước những thách thức và cơ hội mới 38
1.4.1 Những đặc trưng cơ bản về ngành thương mại trong nền kinh tế thị trường ở nước ta 38
1.4.2 Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại .39
1.4.3 Một vài nét về sự phát triển ngành thương mại trong những năm gần đây 40
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HIỆU QUẢ KINH KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VẬT LIỆU – KHÍ ĐỐT NHA TRANG 42
2.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần thương mại vật liệu – khí đốt Nha Trang 42
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty .42
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hoạt động của Công ty 44
2.1.2.1 Chức năng 44
2.1.2.2 Nhiệm vụ .45
2.1.2.3 Quyền hạn 45
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty 46
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn và phương hướng thực hiện trong thời gian tới 50
2.2 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 53
2.2.1 Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 53
Trang 62.2.1.1 Môi trường vĩ mô 53
2.2.1.2 Môi trường vi mô 55
2.2.2 Năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty 57
2.2.2.1 Tình hình vốn của doanh nghiệp 57
2.2.2.2 Lao động của công ty 63
2.2.3 Các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp 66
2.2.3.1 Hoạt động thu mua hàng hóa 66
2.2.3.2 Hoạt động tiêu thụ hàng hóa 70
2.2.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 74
2.3 Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty 79
2.3.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động sống 79
2.3.1.1 Năng suất lao động bình quân và lợi nhuận bình quân một công nhân viên 79
2.3.1.2 Tình hình thực hiện kết quả kinh doanh trên 1.000 đồng chi phí tiền lương 80
2.3.1.3 Mối quan hệ giữa mức tăng năng suất lao động và tiền lương bình quân của người lao động 82
2.3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản 84
2.3.2.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản 84
2.3.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động 85
2.3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định 87
2.3.3 Phân tích các tỷ số lợi nhuận 88
2.3.3.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 90
2.3.3.2 Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí 91
2.3.3.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản 91
2.3.3.4 Tỷ suất lợi nhuận trên nguồn vốn chủ sở hữu 92
2.3.4 Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp 92
2.3.4.3 Phân tích kết cấu về tài sản và nguồn vốn 94
2.3.4.4 Đánh giá cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty 101
2.3.4.5 Phân tích các tỷ số hoạt động, tỷ số thanh toán 103
2.3.5 Khả năng bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp 106
2.3.5.1 Thiết lập các quỹ dự phòng 106
Trang 72.3.5.2 Quỹ đầu tư và phát triển 108
2.3.6 Hiệu quả xã hội 109
2.3.6.1 Giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho người lao động 109
2.3.6.2 Đóng góp vào ngân sách Nhà nước 109
2.4 Đánh giá chung .112
2.4.1 Những thành tích đạt được 112
2.4.2 Những mặt còn tồn tại 113
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SXKD CỦA CÔNG TY CP THUƠNG MẠI VẬT LIỆU – KHÍ ĐỐT NHA TRANG 115
3.1 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty 115
3.1.1 Giải pháp I: Đẩy mạnh công tác tiêu thụ, mở rộng thị trường 115
3.1.2 Giải pháp II: Tăng cường công tác huy động vốn 116
3.1.3 Giải pháp III: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 118
3.1.4 Giải pháp IV: Xây dựng chiến lược kinh doanh 120
3.2 Kiến nghị và kết luận 122
Tài liệu tham khảo 125
Trang 8Lời nói đầu
1 Sự cần thiết của đề tài
Lịch sử đã chứng minh được sự tồn tại và phát triển của xã hội con người gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội qua các thời kỳ phát triển khác nhau Cho dù tồn tại dưới bất kỳ hình thái xã hội nào thì việc sản xuất ra của cải vật chất cũng được coi trọng hàng đầu vì việc này liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con người và hình thái xã hội đó Do vậy, mọi phương tiện sản xuất thuộc phạm vi kinh tế cơ sở, phạm vi từng ngành hay của từng xã hội đều phải hướng tới mục tiêu cơ bản là hiệu quả sản xuất kinh doanh nói riêng và hiệu quả kinh tế nói chung
Đồng thời, trong cơ chế thị trường hiện nay, kể từ khi thực hiện chính sách chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, môi trường kinh doanh đã tạo ra rất nhiều cơ hội, nguy cơ và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Vấn đề đặt ra hàng đầu đối với doanh nghiệp là hiệu quả kinh doanh Có hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp mới đứng vững trên thị trường đầy những nguy cơ và thử thách như hiện nay Nếu doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả thì sẽ bị thị trường đào thải Doanh nghiệp sẽ không đứng vững được trong thương trường ngày càng khốc liệt này Do đó, doanh nghiệp cần phải kinh doanh có hiệu quả để tồn tại và phát triển
Để làm được điều đó doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra đánh giá đầy đủ chính xác tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó tìm ra những điểm gì mình đạt và chưa đạt để từ đó phát huy những thành tựu và khắc phục những khuyết điểm của mình để kinh doanh có hiệu quả hơn
Xuất phát từ nhận thức trên, được sự đồng ý của Công ty và Ban chủ nhiệm
khoa Kinh tế, em quyết định chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh doanh và một số
biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần thương mại vật kiệu – khí đốt Nha Trang” làm đề tài tốt nghiệp của mình
Trang 93 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu em đã sử dụng các phương pháp như:
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích
4 Đối tượng nghiên cứu
Tính hiệu quả tình hình kinh doanh tại Công ty cổ phần thương mại vật liệu – khí đốt Nha Trang trong 3 năm 2004 – 2006
5 Nội dung của đề tài
Ngoài phần khai tập, luận văn gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp Chương II: T ình hình hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần thương mại vật liệu – khí đốt Nha Trang
Chương III: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần thương mại vật liệu – khí đốt Nha Trang
Trong thời gian thực tập, được sự hướng dẫn tận tình của thầy Hà Việt Hùng
và các thầy cô trong Khoa Kinh tế, cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các Cô, Chú trong Công ty đã giúp em hoàn thành tốt đề tài của mình
Tuy nhiên, thời gian thực tập còn ngắn, không tực tiếp đi sâu vào thực tế và trình độ hiểu biết của bản thân còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ đạo của thầy, cô trong nhà trường, Cô, Chú trong Công ty
Nha Trang, ngày 5 tháng 11 năm 2007
Sinh viên
HUỲNH THỊ BÍCH NGỌC
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh tế
trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1 Một số quan điểm về hiệu quả kinh tế
Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên các góc độ khác nhau để xem xét Nếu hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hiệu số giữa kết quả thu
về và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Trên góc độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận Hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp
Nếu đứng trên góc độ từng yếu tố riêng lẻ để xem xét thì hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố đó trong quá trình sản xuất kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh vừa là phạm trù cụ thể vừa là phạm trù trừu tượng Nếu là phạm trù cụ thể thì phải định lượng thành các chỉ tiêu, con số để tính toán, so sánh Nếu là phạm trù trừu tượng phải được định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Có thể nói rằng phạm trù hiệu quả là kiến thức thường trực của mọi cán bộ quản lý, được ứng dụng rộng rãi vào mọi khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh
trên các nội dung vừa phân tích ta có thể chia hiệu quả thành hai loại:
Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố riêng lẻ thì có phạm trù hiệu quả kinh tế hoặc hiệu quả kinh doanh
Nếu đứng trên phạm vi xã hội và nền kinh tế quốc dân để xem xết thì có hiệu của chính trị xã hội
Cả hai loại hiệu quả này đều có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong nền kinh tế nhiều thành phần, chỉ có doanh nghiệp nhà nước mới có điều kiện đạt được hai hiệu quả trên Còn các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác chỉ chạy theo hiệu quả kinh tế Đứng góc độ này mà xem xét thì sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện hiện nay là một yếu tố khách quan
Trang 111.1.2 Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh doanh
1.1.2.3 Khái niệm
Từ trước đến nay kinh tế đã có nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra, tức
là giá trị sử dụng của nó (hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh) Quan diểm này lẫn lộn giữa hiệu quả với mục tiêu kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng về kinh tế phản ánh sự tăng của các mục tiêu kinh tế Các chỉ tiêu này phản ánh chỉ là phiến diện, chỉ đứng trên mức
độ biến động theo thời gian
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tiết kiệm chi phí và mức độ tăng kết quả đây là biểu hiện của bản chất chứ không phải là hiệu quả kinh tế
Mặc dù còn nhiều qua điểm khác nhau song có thể khẳng định trong cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay mọi doanh nghiệp kinh doanh đều có mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp phải xác định được chiến lược kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh; phải phân bổ và quản trị có hiệu quả các các nguồn lực và luôn kiểm tra quá trình đang diễn ra là có hiệu quả? Muốn kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh phải đánh giá được hiệu quả của hoạt động kinh doanh ở phạm vi doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận của nó
Có thể nói rằng dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp song lại khó tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm về hiệu quả kinh doanh Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm một loại hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”
Thực chất quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả nguồn lực của nền sản xuất xã hội Trên giác độ này rõ ràng phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất
sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả và rõ ràng xét trên phương diện lý thuyết thì đây là
Trang 12mức hiệu quả cao nhất mà mỗi nền kinh tế có thể đạt được Xét trên giác độ lý thuyết, hiệu quả kinh doanh chỉ có đạt được trên đường giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp Tuy nhiên, để đạt được mức hiệu quả kinh doanh này sẽ cần rất nhiều điều kiện, trong đó đòi hỏi phải dự báo và quyết định đầu sản xuất theo quy mô phù hợp với nhu cầu thị trường Thế mà không phải lúc nào điều này cũng thành hiện thực
Nhiều nhà quản trị học quan niệm hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Manfed Kuhn cho rằng:
“Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) để đạt được mục tiêu xác định Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ nào” Vì vậy, có thể mô tả hiệu quả kinh doanh bằng công thức chung nhất như sau:
H=K/C
Trong đó: H: Hiệu quả kinh doanh
K: Kết quả đạt được
C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó
Như thế, hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động của từng nhân tố
1.1.2.4 Bản chất của hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượngcủa các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cần phân biệt rõ ranh giới giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả Kết quả là phạm trù phản ánh những cái
Trang 13thu được sau một quá trình kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó Kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị Các đơn vị hiện vật cụ thể được sử dụng tùy thuộc vào đặc trưng của sản phẩm mà quá trình tạo ra nó có thể là tấn, tạ, kg, m2, m3, lít… các đơn vị giá trị có thể là đồng, triệu đồng, ngoại tệ… kết quả cũng có thể phản ánh mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh hoàn toàn định tính như uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, … cần chú ý rằng không phải chỉ kết quả định tính mà kết quả định lượng của một thời kỳ kinh doanh nào đó thường rất khó xác định bởi nhiều lý do như kết quả không chỉ là sản phẩm hoàn chỉnh mà còn là sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… hơn nữa, hầu như quá trình sản xuất lại tách rời quá trình tiêu thụ nên ngay cả sản phẩm sản xuất trong một thời kỳ nào đó cũng chưa thể khẳng định liệu sản phẩm đó có tiêu thụ được không và bao giờ thì tiêu thụ được và thu được tiền về,…
Trong khi đó hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất Trình độ lợi dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay giá trị mà là một phạm trù tương đối Cần lưu ý rằng trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ
có thể được phản ánh bằng số tương đối: tỷ số giữa kết quả và hao phí nguồn lực Tránh nhầm giữa phạm trù hiệu quả kinh doanh với phạm trù mô tả sự chênh lệch giữa kết quả và hao phí nguồn lực Chênh lệch giữa kết quả và hao phí luôn là số tuyệt đối, phạm trù này chỉ phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả của quá trình kinh doanh và không bao giờ phản ánh được trình độ lợi dụng các nguòn lực sản xuất Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả là phương tiện để có thể đạt được các mục tiêu đó
Hao phí nguồn lực của một thời kỳ trước hết là hao phí về mặt hiện vật, cũng
có thể xác định bởi đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị Tuy nhiên, thông thường người ta hay sử dụng đơn vị giá trị vì nó mang tính so sánh cao Rõ ràng, việc xác định hao phí nguồn lực của một thời kỳ xác định cũng là vấn đề không đơn giản Không đơn giản ở ngay nhận thức về phạm trù này: hao phí nguồn lực được đánh giá thông qua phạm trù chi phí, chi phí kế toán hay chi phí kinh doanh? Cần chú ý rằng, trong các phạm trù trên chỉ phạm trù kinh phí kinh doanh là phản ánh tương đối chính xác hao phí nguồn
Trang 14lực thực tế Mặt khác, việc có tính toán được chi phí kinh trong từng thời kỳ kinh doanh ngắn hay không cũng như có tính toán được chi phí kinh doanh đến từng bộ phận doanh nghiệp hay không còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học quản trị chi phí kinh doanh
Cũng cần chú ý rằng hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong một thời kỳ kinh doanh nào đó hoàn toàn khác với việc so sánh sự tăng lên của kết quả với của kết quả với sự tăng lên của sự tham gia các yếu tố đầu vào
Vậy, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực, phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh, phức tạp và khó khăn bởi cả phạm trù kết quả và hao phí nguồn lực gắn với một thời kỳ cụ thể nào đó đều khó xác định một cách chính xác
1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả có thể được đánh giá ở góc độ khác nhau, phạm vi khác nhau và thời
kỳ khác nhau trên các cơ sở này, để hiểu rõ hơn bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cũng cần đứng trên từng góc độ cụ thể mà phân biệt các loại hiệu quả
1.1.3.2 Dựa vào phạm vi tính toán
Hiệu quả kinh tế trong nền kinh tế quốc dân có thể chia làm hai loại: hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
a) Hiệu quả kinh tế cá biệt
Hiệu quả kin tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu được của từng hoạt động sản xuất công nghiệp biểu hiện của kinh tế cá biệt là lợi nhuận đạt được của từng doanh nghiệp
b) Hiệu quả kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh tế quốc dân là sản phẩm thặng dư mà toàn xã họi thu được trong một thời kỳ nhất định so với toàn bộ số vốn của toàn xã hội
Giữa hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trong điều kiện kinh tế cơ sở dều đảm bảo được hiêu quả kinh tế của mình thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi đảm bảo hiệu quả kinh tế quốc dân Tuy nhiên trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, nhiều doanh nghiệp không theo kịp sự phát triển chung
Trang 15của nền kinh tế (về vốn và công nghệ) đã không đạt hiệu quả, nhưng có thể trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân vẫn đạt hiệu quả, nghĩa là tổng sản phẩm thặng dư
mà nền kinh tế thu được vẫn lớn hơn tổng số lỗ của các đơn vị trên
Ngược lại, sự tác động ngược của cục diện tổng thể nền kinh tế quốc dân sẽ thúc đẩy hướng các doanh nghiệp hoạt động theo một cơ cấu lành mạnh Sự điều tiết
vĩ mô của Nhà nước, mỗi doanh nghiệp ngoài việc tạo ra hiệu quả cá biệt cho đơn vị mình thì còn tạo nên hiệu quả về mặt xã hội như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động… Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích doanh nghiệp với lợi ích toàn xã hội
1.1.3.3 Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Để phân tích lựa chọn các phương án, luận chứng kinh tế khác nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn một phương án tối ưu cũng như để thực hiện và đánh giá trình độ các dạng chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh ta phải phân định rõ hai loại hiệu quả: hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
a) Hiệu quả tuyệt đối
Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định lợi ích thu được hoặc so sánh kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thu được kết quả ấy Từ đó mới quyết định có nên bỏ ra chi phí đó không Chẳng hạn như việc xác định sản phẩm thặng dư tính lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất
Vì vậy, trong công cuộc quản lý doanh nghiệp bất kỳ một công việc nào cũng đời hỏi phải bỏ ra chi phí lao động sống và lao động quá khứ, dù là một lượng lớn hay nhỏ cũng phải tính đến hiệu quả tuyệt đối Tuy nhiên, để ra quyết định đầu tư không chỉ căn cứ vào hiệu quả tuyệt đối, đây mới chỉ là điều kiện cần còn điều kiện đủ thì chúng ta phải kết hợp với hiệu quả so sánh
b) Hiệu quả so sánh
Khi tiến hành hai hay nhiều phương án đầu tư ta thường so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối nhằm tiềm ra phương án hiệu quả nhất Tác dụng của nó là để so sánh mức độ hiệu quả của các phương án, từ đó cho phép ta lựa chọn một cách đảm bảo mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Trang 16Vì vậy, hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song chúng lại có tính độc lập tương đối Xác định hiệu quả tuyệt đối là xác định hiệu quả so sánh Song có khi hiệu quả so sánh được xác định không phục thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối như so sánh giữa các mức chi phí của các phương án khác nhau
1.1.3.4 Hiệu quả chi phí và hiệu quả tổng hợp
Đánh giá hiệu quả kinh tế không thể đánh giá hiệu quả chi phí tổng hợp vì nếu xét hiệu quả kinh tế trên một góc độ, một quan điểm toàn diện thì mới thấy rõ hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác trong khi đánh giá của từng yếu tố của quá trình sản xuất ta thấy có yếu tố doanh nghiệp sử dụng lãng phí, có yếu tó doanh nghiệp sử dụng đạt hiệu quả cao Vì vậy, nếu đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các yếu tố riêng biệt thì thì ta không thể nào xác định được doanh nghiệp sản xuất có hiệu quả hay không Bởi kết quả mà doanh nghiệp sản xuất ra được
là do dựa trên toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra chứ không phải một yếu tố riêng
lẻ nào, do đó khi đánh giá hiệu qả kinh tế phải đánh giá hiệu quả kinh tế tổng hợp
a) Hiệu quả kinh tế tổng hợp
Được tạo thành trên cơ sở hiệu quả sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất Nhìn chung việc nâng cao hiệu quả kinh tế từng yếu tố quá trình sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế tổng hợp, có thể không nhất thiết phải đánh giá hiệu quả của từng chi phí Song nó vẫn là việc thường làm trong thực tế giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh đúng hướng, có khả năng tạo được sự biến đổi tăng đáng kể hiệu quả kinh tế Với lý do đó, ngoài việc tính toán hiệu quả chi phí tổng hợp, người ta còn tnhs toán hiệu quả chi phí bộ phận
b) Hiệu quả chi phí bộ phận
Biểu hiện của sự so sánh giữa kết quả chung của hoạt động đang được xem xét tương ứng cấu thành chi phí lao động xã hội
Tùy theo cách phân loại: hiệu quả của vốn cố định, của vốn lưu động, của sử dụng nguyên liệu, của lao động… hiệu quả tổng hợp được tạo thành trên cơ sở sử dụng các chi phí bộ phận
Trang 17Như vậy nghĩa là hiệu quả tổng hợp và hiệu quả bộ phận có mối quan hệ mật thiết với nhau Nói chung chỉ có thể thu được hiệu quả tổng hợp với điều kiện các yếu
tố của quá trình sản xuất được sử dụng có hiệu quả Tuy nhiên trong thực tế có trường hợp một yếu tố nào đó sử dụng lãng phí nhưng những yếu tố khác đảm bảo sử dụng có hiệu quả cao người ta vẫn thu được hiệu quả tổng hợp
Cách phân loại này có tác dụng thời gian lớn trong thống kê hạch toán hiệu quả kinh tế, đồng thời nó cũng là cơ sở để phân tích những nhân tố nội bộ của sản xuất ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và xác định những biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả kinh tế
Ta nhận thấy, đơn vị cơ sở là nơi trực tiếp sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất để tạo ra những giá trị cụ thể khác nhau Vì vậy bản thân các đơn vị cơ sở phải quan tâm xác định các biện pháp đồng bộ đê thu được hiệu quả toàn diện trên các yếu
tố của quá trình sản xuất Tuy vậy những nhân tố có tính khách quan cũng có ảnh hưởng đến việc đảm bảo hiệu quả kinh tế
1.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngày người ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người Trong khi các nguồn lực sản xuất ngày càng giảm
xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn Điều này phản ánh quy luật khan hiếm Quy luật khan hiếm bắt buộc mọi doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời chính xác ba câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận các doanh nghiệp nào quyết định sản xuất đúng loại sản phẩm (dịch vụ) với số lượng và chất lượng phù hợp Mọi doanh nghiệp trả lời khong đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất
xã hội để sản xuất các sản phẩm không tiêu thụ được trên thị trường – tức kinh doanh không hiệu quả, lãng phí nguồn lực sản xuất xã hội – sẽ không có khả năng tồn tại
Mặt khác, mọi doanh nghiệp kinh doanh trong cơ chế thị trường, mở cửa và ngày càng hội nhập phải chấp nhận và đứng vững trong cạnh tranh Muốn đứng vững trong cạnh tranh doanh nghiệp phải luôn tạo ra và duy trì các lợi thế cạnh tranh: chất
Trang 18lượng và sự cá biệt hóa, giá cả và tốc độ cung ứng Để duy trì lợi thế về giá cả doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành Chỉ trên cơ sở sản xuất kinh doanh voéi hiệu quả kinh tế cao, doanh nghiệp mới có khả năng đạt được điều này
Mục tiêu bao trùm, lâu dài của mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tối
đa hóa lợi nhuận Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm (dịch vụ) cung cấp cho thị trường Muốn vậy doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định Doanh nghiệp càng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu lợi nhuận bấy nhiêu Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiêt kiệm các nguồn lực xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh càng cao càng phản ánh doanh ngiệp đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất Vì vậy, nâng cao hiệu quả là đòi hỏi khách quan để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận
1.2 Nhân tố ảnh hưởng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.1 Môi trường vĩ mô
1.2.1.1 Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố về tài nguyên và dự trữ năng lượng, các yếu tố về môi trường, khí hậu, vị trí địa lý, … các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tùy vào loại hình kinh doanh mà yếu tố thuộc môi trường tự nhiên ảnh hưởng nhiều hay ít đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Dưới sự ảnh hưởng của môi trường tự nhiên thì mỗi doanh nghiệp cần nhận ra điều kiện tự nhiên nào là cơ hội, điều kiện nào là nguy cơ để
có những biện pháp tận dụng những cơ hội và né tránh những nguy cơ do tự nhiên mang lại
1.2.1.2 Môi trường văn hóa - xã hội
Môi trường văn hóa – xã hội bao gồm các yếu tố về quan niệm về chất lượng cuộc sống, đạo đức, thẩm mỹ, lối sống, nghề nghiệp; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội; khuynh hướng tiêu dùng; phong tục tập quán, truyền thống; thu nhập của người dân, thị hiếu tiêu dùng,… Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
Trang 19động kinh doanh của danh nghiệp Nếu doanh nghiệp phản ứng nhanh đối với những thay đổi của môi trường này thì có thể nắm bắt được những cơ hội mà môi trường mang lại, còn ngược lại doanh nghiệp không phản ứng kịp thời đối với những thay đổi của môi trường này thì sẽ chịu những hậu quả nghiêm trọng Đã có không ít những doanh nghiệp phải ngậm ngùi rút khỏi thị trường vì không nắm được những đặc trưng, thay đổi của môi trường văn hóa – xã hội
1.2.1.3 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp Trước hết, phải kể đến các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế, chính sách cơ cấu,…các chính sách kinh tế vĩ mô này tạo ra sự
ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể do tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các ngành, vùng kinh tế xác định
Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, các cơ quan quản lý nhà nước vền kinh tế làm tốt công tác dự báo để điều tiết đúng đắn các hoạt động đầu tư, không
để ngành hay vùng kinh tế nào phát triển theo xu hướng cung vượt cầu; việc thực hiện tốt sự hạn chế phát triển độc quyền, kiểm soát độc quyền, tạo môi trường cạnh tranh biình đẳng; việc quản lý tốt các doanh nghiệp nhà nước, không tạo ra việc khác biệt đối xử giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp khác; việc xử lý tốt các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ tỷ giá hối đoái; việc đưa ra các chính sách thuế phù hợp với trình độ kinh tế và đảm bảo tín công bằng,… đều là những vấn đề hết sức quan trọng, tác động rất mạnh mẽ đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan
1.2.1.4 Môi trường chính trị - luật pháp
Môi trường pháp lý bao gồm, các văn bản dưới luật,… mọi quy định pháp luật
về kinh doanh đều có thể tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì môi trường pháp lý tạo ra “sân chơi”để các doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất kinh doanh, vừa cạnh tranh lại vừa hợp tác với nhau nên việc tạo ra môi trường pháp lý là rất quan trọng Nhà nước tạo ra một môi trường chính trị ổn định và một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều liện cho các doanh nghiệp tiến hành
Trang 20thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế
vĩ mô theo hướng không chỉ chú ý đến kết quả và hiệu quả riêng mà còn phải chú ý đến lợi ích của các thành viên khác trong xã hội
Tính nghiêm minh của luật pháp thể hiện trong môi trường kinh doanh thực tế
ở mức độ nào cũng tác động mạnh mẽ đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Sẽ chỉ có kết quả và hiệu quả tích cực nếu môi trường kinh doanh mà mọi thành viên đều tuân thủ pháp luật và chính sách chính trị Nếu ngược lại, nhiều doanh nghiệp sẽ lao vào con đường làm ăn bất chính, trốn lậu thuế, sản xuất hàng giả, hàng nhái cũng như gian lận thương mại, vi phạm pháp lệnh môi trường, … làm cho môi trường kinh doanh không còn lành mạnh
2.2.2 Môi trường vi mô
2.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Nếu đối thủ cạnh tranh hiện tại càng yếu, công ty có cơ hội tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, bán được nhiều hàng hơn và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn
Trong môi trường cạnh tranh ngày cang gay gắt như hiện nay mọi công ty muốn tòn tại và đứng vững trong thương trường canh tranh thì phải nắm vững điểm mạnh và những điểm yếu của đối thủ, thông qua đây mà có những hành động cụ thể, kịp thời
2.2.2.2 Khác hàng
Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay dịch vụ thì yếu tố khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, các công ty triển khai chương trình cụ thể nhằm tăng cường lòng tin của khách hàng Mặt khác, doanh nghiệp luôn coi trọng yếu tó trọng tâm là duy trì và giữ được lòng tin cả khách hàng truyền thống, thu hút khách hàng mới, điểm này giúp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng qui mô và đạt được kết quả cao trong kinh doanh
2.2.2.3 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các công ty hiện tại chưa tham gia vào ngành nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ quyết định gia nhập ngành Đây là đe dọa cho công ty Vì càng nhiều công ty cùng tham gia vào một ngành thì cạnh tranh sẽ khốc
Trang 21liệt hơn, thị trường và lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, vị trí của công ty trong ngành sẽ thay đổi Do đó, kết quả và hiệu quả kinh doanh cũng sẽ bị ảnh hưởng
2.2.2.4 Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là những cá nhân hay công ty cung ứng những yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty , như nhà cung cấp nguyên liệu, nhà cung cấp tài chính, nhà cung cấp máy móc thiết bị, nhà cung cấp lao động,…
Nhà cung cấp có thể tạo ra cơ hội cho công ty khi giảm giá, tăng chất lượng sản phẩm, tăng chất lượng các dịch vụ đi kèm, đồng thời có thể gây ra những nguy cơ cho công ty khi tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm, không đảm bảo số lượng và thời gian cung cấp
2.2.2.5 Sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm khác về tên gọi và thành phần nhưng đem lại cho người tiêu dùng những lợi ích tương đương như sản phẩm của công ty Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế có thể dẫn tới nguy cơ làm giảm giá bán và sụt giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
1.2.3 Nhân tố bên trong của doanh nghiệp
1.2.3.1 Lực lượng lao động
Người ta thường nhắc đến luận điểm ngày nay khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp Áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp Tuy nhiên cần thấy rằng: thứ nhất, máy móc
dù tối tân đến đâu cũng do con người chế tạo ra Nếu không có lao động sáng tạo của con người sẽ không thể có các máy móc thiết bị đó Thứ hai, máy móc thiết bị dù có hiện đại đến đâu cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trình độ sử dụng máy móc của người lao động Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhập tràn lan thiết bị hiện đại của nước ngoài nhưng do trình độ sử dụng yếu kém nên vừa không mang lại năng suất cao lại vừa tốn kém tiền của cho hoạt động sửa chữa, kết cục là hiệu quả kinh doanh rất thấp
Ngày nay, sự phát triển khoa kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa học kết tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao Đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực lượng rất tinh
Trang 22nhuệ, có trình độ khoa học kỹ thuật cao Điều này khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3.2 Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và những ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển của công cụ lao động Sự phát triển của công cụ lao động gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành Như thế
có nghĩa là vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng tạo ra tiềm năng tăng năng suất, chất lượng, tăng hiệu quả kinh doanh…
Nhiều doanh nghiệp nước ta hiện nay có cơ sở vật chất, trang thiết bị còn hết sức yếu kém; máy móc, thiết bị sản xuất vừa lạc hậu vừa không đồng bộ Đồng thời, trong những năm qua việc quản trị, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật cũng không được chú trọng nên nhiều doanh nghiệp không sử dụng và phát huy hết năng lực sản xuất hiện có của mình Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế kinh tế vừa qua cho thấy doanh nghiệp nào được chuyển giao công nghệ sản xuất và hệ thống thiết bị hiện đại, làm chủ được yếu tố kỹ thuật thì phát triển được sản xuất kinh doanh, đạt được kết quả và hiệu quả kinh doanh cao, tạo được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp cùng ngành và có khả năng phát triển Ngược lại, những doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ, thiết bị cũ hoặc chuyển giao công nghệ lạc hậu không thể tạo ra sản phẩm đáp ứng đòi hởi của thị trường về cả chất lượng và giá cả nên sản phẩm sản xuất ở doanh nghiệp đó thường chững lại, đi xuống và trong nhiều trường hợp có thể nhìn thấy trước sự đóng cửa sản xuất do kinh doanh không hiệu quả
Ngày nay, công nghệ kỹ thuật phát triển nhanh chóng đóng vai trò ngày càng
to lớn, mang tính chất quyết định đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tìm được giải pháp đầu tư đúng đắn, chuyển giao công nghệ phù hợp với trình độ công nghệ tiên tiến của thế giới, bồi dưỡng và đào tạo lực lượng lao động làm chủ được công nghệ kỹ thuật hiện đại để tiến
Trang 23tới chỗ ứng dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, sáng tạo công nghệ kỹ thuật mới,… làm
cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
1.2.3.3 Nhân tố quản trị doanh nghiệp
Càng ngày nhân tố quản trị càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành công, hiệu quả kinh doanh cao hay thất bại, kinh doanh phi hiệu quả của một doanh nghiệp Định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp
Đội ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cấp lãnh đạo doanh nghiệp bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng có tính chất quyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp Ở mọi doanh nghiệp, kết quả và hiệu quả hoạt động quản trị doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó
1.2.3.4 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Ngày nay sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi hẳn nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng Thông tin được coi là hàng hóa Để đạt được thành công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, các nhà doanh nghiệp rất cần nhiều thông tin chính xác về cung cầu thị trường hàng hóa, về công nghệ kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh,… Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết các thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh tế của nhà nước và các nước có liên quan…
Trong kinh doanh nếu biết người và nhất là biết được các đối thủ cạnh tranh thì mới có đối sách giành thắng lợi trong cạnh tranh, có chính sách phát triển mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp cho thấy
Trang 24nắm được các thông tin cần thiết và biết sử dụng các thông tin đó kịp thời là một điều kiện rất quan trọng để ra các quyết định kinh doanh có hiệu quả cao, đem lại thắng lợi trong cạnh tranh Những thông tin chính xác được cung cấp kịp thời là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp các định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các chương trình sản xuất ngắn hạn Nếu doanh nghiệp không được cung cấp thông tin một cách thường xuyên và liên tục, không có trong tay các thông tin cần thiết và xử lý một cách kịp thời, doanh nghiệp không có cơ
sở đển ban hành các quyết định kinh doanh dài và ngắn hạn và do đó dẫn đến thất bại
1.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp
1.3.1 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh
Từ công thức xác định hiệu quả kinh doanh sẽ luôn xác định được một dãy các giá trị có thể của kết quả / chi phí kinh doanh Nếu xét các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh cụ thể thì với mỗi chỉ tiêu cũng đều xác lập được một dãy các giá trị có thể Vấn
đề được đặt ra là liệu mọi giá trị đó đều phản ánh có hiệu quả ở mức độ khác nhau hay trong dãy các giá trị đó thì giá trị nào là có hiêu quả, giá trị nào không hiệu quả? Rõ ràng, trong trng dãy giá trị có thể của mỗi chỉ tiêu không phải giá trị nào cũng phản ánh sự có hiệu quả Trường hợp doanh nghiệp lỗ vốn, chỉ tiêu lợi nhuận/ vốn kinh doanh âm thì rõ ràng doanh nghệp kinh doanh không hiệu quả Còn các giá trị khác, khi nào không có hiệu quả? Chính vì vậy, phải nghiên cứu phạm trù tiêu chuẩn hiệu quả
Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là “mốc”xác định ranh giới có hay không có hiệu quả Như vậy, trước hết cần xác định được tiêu chuẩn hiệu quả cho mỗi chỉ tiêu để phân biệt “mức”có hay không có hiêu quả
Sẽ không có tiêu chuẩn chung cho các công thức xác định khác nhau Nếu theo phương pháp so sánh toàn ngành để lấy giá trị bình quân đạt được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả Điều này có nghĩa là doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả nếu giá trị đạt được tương ứng với một chỉ tiêu cụ thể xác định không thấp hơn giá trị bình quân của ngành
Trang 25Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đưa ra một số tiêu chuẩn hiệu quả kinh doanh tổng quát như sau:
Doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường nhưng phải tuân thủ sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo hệ thống pháp luật hiện hành
Phải kết hợp hài hòa gồm giữa 3 loại lợi ích: cá nhân, tập thể và Nhà nước tuyệt đối không vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại lợi ích tập thể và xã hội Lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được phải dựa trên cơ sở vận dụng kinh hoạt, sáng tạo các quy luật của nền sản xuất hàng hóa
1.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
Thước đo cơ bản đánh giá doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả là:
Tỷ suất lợi nhuận cao, tự tích lũy để tái đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh
Bảo toàn được vốn, tăng trưởng vốn nhanh, có dự trữ để tự bảo hiểm
Tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn
Đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng tăng
Cải thiện đời sống cho người lao động
1.3.2.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động sống
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của việc sử dụng lao động có trong doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng, mà cụ thể là số lượng lao động và trình độ sử dụng lao động bao gồm các chỉ tiêu sau:
a) Chỉ tiêu năng suất lao động
Chỉ tiêu năng suất lao động phản ánh trong một đơn vị thời gian một lao động sản xuất ra được bao nhiêu đồng doanh thu Năng suất lao động là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả hoạt động kinh doanh
Công thức tính năng suất lao động bình quân (W)
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
W =
Số lao động bình quân trong kỳ
Trang 26Trong các chỉ tiêu về số lượng thì chỉ tiêu doanh thu có ưu điểm hơn cả bởi nó thể hiện hiệu quả cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh Do đó thường sử dụng chỉ tiêu doanh thu để tính năng suất lao động bình quân của công nhân viên Khi năng suất lao động ngày càng cao hay hao phí lao động càng thấp thì hiệu quả sử dụng lao động càng cao
b) Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân trên một lao động
Lợi nhuận là biểu hiện bằng tiền của sản phẩm thặng dư do sản xuất kinh doanh mang lại Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả kinh doanh của các mặt về số lượng và chất lượng của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận là nguồn quan trọng để tái sản xuất mở rộng toàn bộ nền kinh tế quốc dân và từng đơn vị kinh doanh vì lợi nhuận là nguồn hình thành nên ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế, ngoài ra lợi nhuận còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động của các đơn vị ra sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình Lợi nhuân là chỉ tiêu phản ánh chính xác kết quả sản xuất kinh doanh của từng đơn vị Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng có nhược điểm là tác động của lợi nhuận không chỉ đơn thuần là do tăng năng suất lao động bình quân một công nhân mà bao gồm cả yếu tố giảm chi phí, tiết kiệm nguyên liệu, tăng giá tiêu thụ sản phẩm
Công thức tính lợi nhuận bình quân cho một lao động (P)
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
P =
Số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một lao động làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong
kỳ Nếu chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng lao động càng có hiệu quả
c) Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng chi phí tiền lương
Chỉ tiêu này biểu hiện mối quan hệ chi phí tiền lương chi ra với kết quả đạt được trong kỳ Nó phản ánh kết quả của chi phí lợi nhuận sống so với doanh thu của các doanh nghiệp
Trang 27Doanh thu tiêu thụ trong kỳ
DT trên một đồng chi phí tiền lương =
Tổng chi phí tiền lương
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí chi ra cho tiền lương sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu Hiệu quả sử dụng chi phí sức lao động càng lớn khi doanh thu càng tăng hoặc chi phí tiền lương giảm hay cả doanh thu và chi phí cùng tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí tiền lương
d) Sức sinh lời của một đồng chi phí tiền lương
Biểu hiện hiệu quả lao động sống theo góc độ chất lượng của hao phí lao động
đã bỏ ra và trong chi phí tiền lương đã có tính đến trình độ thành thạo của công nhân viên, mức độ phức tạp của công việc
Lợi nhuận sau thuế
Sức sinh lời của một đồng tiền lương =
Tổng chi phí tiền lương trong kỳ
Chỉ tiêu này có nghĩa là cứ một đồng chi phí tiền lương thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Hiệu quả sử dụng chi phí sức lao động càng lớn khi lợi nhuận càng tăng hoặc chi phí tiền lương càng giảm Tuy nhiên giảm chi phí tiền lương là phương án không được khuyến khích vì tiền lương là đòn bẩy để kích thích người lao động làm việc Ngoài ra, chỉ tiêu này càng tăng ngay khi tốc độ tăng của tiền lương nhỏ hơn tốc độ tăng của lợi nhuận
e) Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương bình quân của công nhân
Đây là biểu hiện mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất và tốc độ tăng tiền lương Hiệu quả kinh tế được nâng cao khi tốc độ tăng năng suất bình quân cao hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân Quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động bình quân và tiền lương bình quân được đánh giá là tích cực khi tốc tăng năng suất cao hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân bởi vì có như vậy mới đảm bảo việc tái sản xuất
và nâng cao mức sống của cán bộ công nhân viên Đồng thời cũng là điều kiện cần thiết để hạ giá thành sản phẩm
Trang 28Công thức xác định mối quan hệ này là:
TL1: Tiền lương bình quân một công nhân kỳ kế hoạch
TL0: tiền lương bình quân một công nhân kỳ báo cáo
W1 : Năng suất lao động bình quân một công nhân kỳ kế hoạch
W0 : Năng suất lao động bình quân một công nhân kỳ báo cáo
1.3.2.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ và VCĐ
a) Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Tài sản cố định là cơ sở vật chất của đơn vị sản xuất kinh doanh Số lượng giá trị tài sản cố định phản ánh năng lực sản xuất hiện có, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp Đầu tư vào máy móc thiết bị là điều kiện quan trọng để tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm… Mặt khác, sử dụng hết công suất và có hiệu quả tài sản cố định hiện có cũng là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện tốt kế hoạch sản xuất
Công thức tính hiệu suất sử dụng tài sản cố định (HSTSCĐ):
Doanh thu tiêu thụ trong kỳ
HsTSCĐ=
NGbqTSCĐ trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết bình quân cứ một đồng nguyên giá tài sản cố định tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Doanh thu tạo ra trên một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định càn nhiều thì hiệu quả sử dụng tài sản cố định đó càng cao
Trang 29b) Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
1.3.2.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ và VLĐ
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động luân chuyển từ hình thái tiền tệ, sang dạng vật tư dự trữ, đưa vào quá trình sản xuất ra thành phẩm và thu lại tiền khi nó hoàn thành một vòng luân chuyển Khoảng thời gian để vốn lưu động luân
Trang 30chuyển từ hình thái tiền tệ sang dạng vật tư nhỏ thì hiệu quả kinh doanh càng cao và tiết kiệm được vốn, giúp doanh nghiệp cải thiện được tình hình thanh toán của mình
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Số vòng luân chuyển vốn lưu động
Doanh thu thuần
Số vòng luân chuyển vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh để hoàn thành một vòng luân chuyển vốn lưu động doanh nghiệp phải mất bao nhiêu ngày Số ngày để luân chuyển một vòng càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Lợi nhuận sau thuế Hiệu quả sử dụng VLĐ =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết cứ bình quân một đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Trang 311.3.2.4 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh doanh
a) Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =
(doanh lợi doanh thu) Tổng doanh thu và thu nhập
Tổng doanh thu và thu nhập = doanh thu thuần + doanh thu tài chính + thu nhập khác
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nghĩa là cứ trong 1đồng doanh thu và thu nhập khác có bao nhiêu đồng lợi nhuận
b) Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên chi phí
Công thức:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí =
Tổng chi phí Tổng chi phí = giá vốn hàng bán + chi phí tài chính + chi phí bán hàng + chi phí quản lý doanh nghiệp + chi phí khác
Chỉ tiêu này thể hiện cứ một đồng chi phí đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
c) Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản =
(ROA) Tổng tài sản bình quân
Tổng tài sản đầu kỳ + Tổng tài sản cuối kỳ Tổng tài sản bình quân =
2
Chỉ tiêu này thể hiện cứ bình quân cứ một đồng tổng tài sản (vốn kinh doanh)
bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Trang 32Chỉ tiêu này giúp các nhà đầu tư biết được đầu tư vào doanh nghiệp sinh lời nhiều hay
ít hơn các doanh nghiệp khác
d) Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu =
(ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân
Vốn chủ sở hữu đầu kỳ + Vốn chủ sở hữu cuối kỳ
Vốn chủ sở hữu bình quân =
2
Chỉ tiêu này có nghĩa là bình quân cứ một đồng vốn chủ sở hữu bở vào hoạt động sản xuất kinh doanh thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
1.3.2.5 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
a) Phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn
Phân tích kết cấu tài sản
Phân tích kết cấu tài sản là đánh giá sự biến động của các bộ phận cấu thành nên tài sản nhằm có những biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả và hợp lý trong quá trình sản xuất kinh doanh Tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
Tài sản ngắn hạn
Trong xu hướng của các doanh nghiệp hiện nay là tăng số tuyệt đối tài sản lưu động và giảm tỷ trọng tài sản lưu động của doanh nghiệp Xét về khía cạnh tài chính thì điều này thể hiện mức độ tiết kiệm vốn lưu động Tuy nhiên, để đánh giá hợp lý sự biến động cần kết hợp so sánh tỷ trọng tài sản lưu động trong tổng tài sản, kết hợp sự phân tích tình hình biến động của các bộ phận hợp thành trong tài sản lưu động
Vốn bằng tiền: xu thế chung là giảm tỷ trọng và số tuyệt đối trong nền kinh tế là tích cực vì doanh nghiệp đã đưa vốn vào sản xuất kinh doanh Tuy vậy vẫn phải dự trữ hợp lý lượng tiền mặt đủ đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và các khoản chi phí khác trong sản xuất
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: chỉ xảy ra khi nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất còn thừa
Trang 33Các khoản phải thu: khoản này càng ít càng tốt, vì như thế doanh nghiệp đã tăng nhanh vòng quay của vốn, từ đó tăng hiệu quả sử dụng vốn Tuy nhiên, doanh nghiệp cần xác định các khoản phải thu hợp lý, nếu quá ít chứng tỏ chính sách bán hàng của doanh nghiệp quá chặt khách hàng sẽ hạn chế mua hàng của công ty, nhất là đối với các khách hàng lớn
Hàng tồn kho: có sự biến động là do:
Giá trị hàng tồn kho tăng do mở rộng quy mô sản xuất, nhiệm vụ sản xuất tăng trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện tốt công tác dự trữ nguyên liệu trong sản xuất
Giá trị hàng tồn kho tăng do chi phí sản xuất tăng, hay không tiêu thụ được sản phẩm dẫn đến ứ đọng vốn trong kinh doanh là không tốt
Giá trị hàng tồn kho giảm do thiếu vốn lưu động phục vụ cho sản xuất là không tốt
Tài sản dài hạn
Để cạnh tranh trong môi trường kinh doanh khốc liệt hiện nay, các doanh nghiệp phải không ngừng tăng cường về giá trị tài sản dài hạn cả về số tuyệt đối lẫn tỷ trọng để mở rộng sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp còn phải xem xét loại hình kinh doanh của doanh nghiệp Nếu công ty là một doanh nghiệp sản xuất thì tỷ trọng tài sản cố định chiếm một lượng lớn, còn khi công ty là một doanh nghiệp thương mại, dịch vụ thì tỷ trọng tài sản lưu động mới chiếm một phần đáng kể Ngoài ra, cần phải xem xét mối tương quan với các bộ phận khác để tránh tình trạng doanh nghiệp phân bổ tài sản một cách không hợp lý dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, gây khó khăn về mặt tài chính và dẫn đến phá sản
Tài sản cố định: được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản cố định biểu hiện quy mô của doanh nghiệp và tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh nên cần được chú ý về việc tăng một cách hợp lý về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng tài sản
Các khoản đầu tư dài hạn: không nên chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng tài sản Vì như vậy chứng tỏ doanh nghiệp ít quan tâm nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 34Các khoản đầu tư xây dựng cơ bản: khoản này nên giảm xuống về tỷ trọng để tránh tình trạng ứ đọng vốn và các công trình phải hoàn thành nhanh chóng để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Phân tích kết cấu nguồn vốn
Trường hợp vốn vay tăng : là do doanh nghiệp mở rộng quy mô và nhiệm vụ sản xuất, sử dụng vốn không hợp lý, doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn quá nhiều nên không có vốn để tái sản suất dẫn đến tình trạng khó khăn về tài chính
Trường hợp vốn vay giảm :là do doanh nghiệp thu hẹp quy mô sản xuất, doanh nghiệp có các nguồn vốn khác tăng hay doanh nghiệp tiết kiệm được vốn trong qua trình sản xuất
Nguồn vốn chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn cơ bản trong doanh nghiệp, cho thấy việc tự chủ về vốn của doanh nghiệp Nó thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu bao gồm: nguồn vốn kinh doanh, nguồn vốn quỹ
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu tăng trong tổng nguồn vốn thì tình hình tài chính của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, biểu hiện hoạt động sản xuất tăng về quy mô
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu giảm thì cho thấy doanh nghiệp đang thu hẹp quy
mô sản xuất, điều này được đánh giá là xu hướng không tốt
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu tăng về số tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng nguồn vốn thì như vậy thể hiện tốc độ tăng của các khoản phải trả tăng nhanh hơn tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu
Trang 35b) Phân tích các tỷ số thanh toán
Hệ số thanh toán hiện hành
Nếu tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 thì kết luận khả năng thanh toán của công ty rất thấp, doanh nghiệp không có đủ tài sản để đảm bảo chi trả nợ vay
Nếu tỷ số thanh toán hiện hành lớn hơn 1 thì có thể kết luận khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp có đủ tài sản lưu động để đảm bảo nợ vay
Tuy nhiên, do đặc điểm ngành sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng đến việc duy trì tỷ số thanh khoản hiện thời nên ngoài việc so sánh với 1, chúng ta còn phải so sánh với tỷ số thanh khoản bình quân của ngành để có thể hiểu kỹ thêm về khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp
Hệ số thanh toán nhanh
Tiền + Đầu tư ngắn hạn + Khoản phải thu
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là hệ số thể hiện mối quan hệ giữa các loại tài sản lưu động có khả năng chuyển nhanh thành tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, nó là một tiêu chuẩn để đánh giá khắc khe đối với khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn so với khả năng thanh toán hiện hành Yêu cầu của chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh > 1
Trang 36Hệ số thanh toán tức thời
Tiền + tương đương tiền
Hệ số thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán tức thời (ngay lúc phát sinh nhu cầu vốn) đối với các khoản nợ đến hạn trả Thông thường chỉ tiêu này dao động từ 0,5 – 0,8 được đánh giá là tốt nhất Nếu chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 1 khẳng định doanh nghiệp có khả năng chi trả công nợ, nhưng doanh nghiệp đang giữ quá nhiều tiền, gây
ứ đọng vốn, do đó hiệu quả sử dụng vốn không cao Nếu tỷ số này dưới 0,1 thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tiền để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và thanh toán công nợ đến hạn, vì vậy doanh nghiệp phải có hướng để tăng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn
Hệ số thanh toán lãi vay
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Hệ số thanh toán lãi vay =
Lãi vay phải trả
Lãi vay phải trả bao gồm tiền lãi cho các khoản vay ngắn và dài hạn kể cả lãi do phát hành trái phiếu hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi vay và mức độ an toàn có thể đối với nhà cung cấp tín dụng và đây cũng là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp hệ số này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn vay càng tốt nếu hệ số số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả và không có khả năng thanh toán lãi vay trong năm đó
Trang 37Trong đó: Tồn kho đầu kỳ + tồn kho cuối kỳ
Hàng tồn kho bình quân =
2
Vòng quay hàng tồn kho càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, giảm được vốn đầu tư dự trữ, rút ngắn được chu kỳ chuyển đổi hàng dự trữ thành tiền mặt và giảm bớt nguy cơ hàng tồn kho của doanh nghiệp trở thành hàng ứ đọng
Nếu vòng quay vốn hàng tồn kho quá cao, dẫn đến khả năng doanh nghiệp không đủ hàng hóa thỏa mãn nhu cầu bán hàng, làm cho doanh nghiệp mất khách hàng Ngược lại, hàng tồn kho của doanh nghiệp dự trữ quá mức cần thiết gây ứ đọng vốn, hoặc hàng hóa không phù hợp với nhu cầu thị trường, tiêu thụ chậm… gây lãng phí vốn, chi phí sử dụng vốn cao do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Một chỉ tiêu khác phản ánh mức độ hoạt động của hàng tồn kho là kỳ luân chuyển hàng tồn kho
Các khoản phải thu
Số vòng quay Doanh thu thuần
các khoản phải thu Các khoản phải thu bình quân
Trong đó:
Các khoản Phải thu đầu kỳ + Phải thu cuối kỳ
phải thu bình quân 2
Trang 38Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc thu hồi công nợ Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu càng cao thì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên, số vòng nàu quá cao sẽ không tốt vì ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền Số ngày trong kỳ
bình quân Số vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân là số ngày cần thiết bình quân để thu hồi các khoản phải thu trong kỳ, hay nói cách khác chỉ tiêu này cho thấy để thu được các khoản phải thu cần một thời gianh bình quân là bao nhiêu
Nếu số ngày càng lớn thì việc thu hồi các khoản phải thu chậm và ngược lại Tuy nhiên, kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa có thể kết luận chắc chắn mà phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp… Mặt khác vì kỹ thuật tính toán đã che dấu đi các khuyết tật trong việc quản trị các khoản phải thu nên phải phân tích kỹ hơn chỉ tiêu này
1.3.2.6 Khả năng bảo toàn và phát triển vốn
Doanh nghiệp kinh doanh có lãi, có khả năng trang trải các khoản nợ thì đương nhiên doanh nghiệp đã bảo toàn được vốn
Đánh giá khả năng tự tích lũy phát triển vốn là xem xét việc bổ sung vốn hàng năm từ nguồn lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp vào quỹ đầu tư phát triển Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản tăng vốn do Nhà nước cấp, do Nhà nước cho phép giữ lại các khoản nộp do đánh giá lại tài sản…
Đánh giá về khả năng dự phòng tài dựa vào việc trích quỹ hàng năm của doanh nghiệp Việc trích vào quỹ dự phòng tài chính để bù đắp những tổn thất, thiệt hại về tài sản xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Ngoài ra, doanh nghiệp còn có quỹ
dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng phúc lợi để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hoàn thiện và đạt hiệu quả cao nhất
Ngoài ra còn có các khoản dự phòng giảm giá:
Trang 39Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Dự phòng các khoản công nợ khó đòi
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Cần phải xem xét các khoản dự phòng này có trích tương đương với mức dự kiến giảm giá hay không
1.3.2.7 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội
Giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho người lao động: đánh giá đóng góp của doanh nghiệp về việc giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho người lao động thể hiện ở hai chỉ tiêu sau:
Thương mại là lĩnh vực trao đổi hàng hóa thông qua mua bán hàng hóa bằng tiền trên thị trường
1.4.1 Những đặc trưng cơ bản về ngành thương mại trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
Thương mại (hoạt động mua bán) theo giá cả thị trường Giá cả thị trường được hình thành trên cơ sở giá trị thị trường, nó là giá trị trung bình và là giá trị cá biệt của những hàng hóa chiếm phần lớn trên thị trường Mua bán theo giá thị trường tạo ra động lực để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội để các doanh nghiệp phát triển
Tự do lưu thông hàng hóa trên thị trường theo luật kinh tế và theo pháp luật Sản xuất tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng nhưng những sản phẩm này được gọi là hàng hóa khi nó được trao đổi, mua bán trên thị trường Do đó, thương mại làm
Trang 40cho sản xuất phù hợp với những biến đổi không ngừng của thị trường trong và ngoài nước, với những tiến bộ kỹ thuật thay đổi chóng mặt như hiện nay Đồng thời, vì sản xuất phải phù hợp với nhu cầu thay đổi thường xuyên của thị trường mà sản xuất được kích thích phát triển Tự do thương mại làm cho lưu thông hàng hóa nhanh chóng, thông suốt là điều kiện nhất thiết phải có để phát triển thương mại và kinh tế hàng hóa
Thương mại nhiều thành phần và cạnh tranh là môi trường để phát triển thương mại, sản xuất hàng hóa nhiều thành phần thì thương mại tất yếu cũng phát triển nhiều thành phần và cạnh tranh là môi trường của thương mại
Thương mại chịu sự quản lý của nhà nước Nhà nước thống nhất quản lý thương mại bằng pháp luật, chính sách, chiến lược quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại Nhà nước điều tiết các hoạt động này bằng các biện pháp kinh tế và các công cụ giá cả, tài chính tín dụng
Tất cả các mối quan hệ kinh tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ đều được tiền tệ hóa và được thiết lập một cách hợp lý theo định hướng kế hoạch của Nhà nước, tuân theo các quy luật của lưu thông hàng hóa và của kinh tế thị trường
1.4.2 Những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại
Quyền được hoạt động thương mại Mọi cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình cá đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được hoạt động thương mại trong các lĩnh vực, tại các địa bàn mà pháp luật không cấm Nhà nước bảo hộ quyền hoạt động thương mại hợp pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho thương nhân trong hoạt động thương mại
Quyền bình đẳng trước pháp luật và hợp tác trong hoạt động thương mại Nhà nước bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của các thương nhân thuộc các thành phần kinh tế trong hoạt động thương mại Thương nhân được hợp tác trong hoạt động thương mại theo các hình thức do pháp luật qui định
Cạnh tranh hợp pháp trong hoạt động thương mại Thương nhân được cạnh tranh hợp pháp trong hoạt động thương mại nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và các hành vi sau đây: đầu cơ để lũng đoạn thị trường; bán phá giá để cạnh tranh; dèm pha thương nhân khác; ngăn cản, lôi kéo mua chuộc,
đe dọa nhân viên hoặc khách hàng của thương nhân khác; xâm phạm quyền về nhãn