Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đ
Trang 1TRƯỜNG THCS TRẦN PHÚ
TẬP SAN CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG
TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
TẠI THỪA THIÊN HUẾ
Nhóm thực hiện: Lớp 9/1
Nguyễn Lê Phương Thảo Huỳnh Thị Diệu Anh Trần Gia Lộc Nguyễn Ngọc San
Trang 2I/ Các tác giả (nhà thơ, nhà văn) ở Thừa Thiên Huế:
1 TỐ HỮU Tiểu sử:
- Tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4/10/1920 trong một gia đình nhà nho nghèo thuộc Quảng Điền – Thừa Thiên Huế
- Gia đình và quê hương có ảnh hưởng sâu sắc đến hồn thơ ngọt ngào tâm tình tha thiết của ông
Bước vào tuổi thanh niên đúng vào dịp phong trào Mặt trận dân chủ đang sôi nổi Ông giác ngộ hăng hái tham gia hoạt động cách mạng, được kết nạp Đảng năm 18 tuổi Từng bị bắt và giam cầm nhiều nhà tù, trốn khỏi nhà tù và ra bắc hoạt động Năm 1945 trở về Huế tham gia tổng khởi nghĩa
- Sau cách mạng tháng 8/1945, Tố Hữu hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, từng giữ những chức vụ trọng trách của nhà nước
- Ông một tác gia có vị trí đặc biệt quan trọng, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Ông mất ngày 9/12/2002
Các tác phẩm
Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận (1962-1971), Máu và Hoa (1977), Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999), Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (tiểu luận, 1973), Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận, 1981)
Một số bài thơ tiêu biểu
Bài ca xuân 1961
Bài ca quê hương
Có thể nào yên?
Đời đời nhớ Ông
Đợi anh về (tập thơ dịch, 1998)
Em ơi Ba Lan
Hồ Chí Minh
Hãy nhớ lấy lời tôi
Miền Nam
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Kính gửi cụ Nguyễn Du Khi con tu hú
Bầm ơi!
Lượm
Mẹ Suốt
Mẹ Tơm
Mồ côi Một tiếng đờn
Ta với ta
Từ ấy Tâm tư trong tù Theo chân Bác Tiếng chổi tre Tiếng hát sông Hương Tiếng ru
Với Lênin Việt Bắc (thơ, 1954)
Phong tặng và Giải thưởng văn học chính
- Giải nhất giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 (tập thơ Việt Bắc)
- Giải thưởng Văn học ASEAN của Thái Lan năm 1996 cho tập thơ "Một tiếng đờn".
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt 1, 1996)
Trang 3- Huân chương Sao Vàng (1994)
Trang 42 NGUYỄN KHOA ĐIỀM Tiểu sử:
- Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương) sinh ngày 15/4/1943, trong một gia đình trí thức, giàu truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Học tập và trưởng thành trên miền Bắc, tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ ở quê hương
- Thơ ông giàu chất suy tư , xúc cảm dồn nén, giọng thơ trữ tình chính luận
- Thân sinh của ông là nhà báo Hải Triều, thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng gốc An Dương (tỉnh Hải Dương cũ nay là Hải Phòng) Quê quán: làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế
- Ông là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam Ông là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, cựu
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Hiện nay, ông nghỉ hưu và sống tại Thành phố Huế
Tác phẩm
Bếp lửa rừng
Bước chân - Ngọn đèn
Cái nền căm hờn
Cát trắng Phú Vang
Chiều Hương Giang
Con chim thời gian
Con gà đất, cây kèn và khẩu
súng
Đất ngoại ô (1973)
Mặt đường khát vọng (1974)
Ngôi nhà có ngọn lửa ấm
(1986)
Thơ Nguyễn Khoa Điềm
(1990)
Cửa thép (1972)
Đất và khát vọng
Báo động Trường ca Đất nước Giặc Mỹ Gửi anh Tường Hình dung về Chê Ghêvara Hồi kết cuộc
Khoảng trời yêu dấu Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
Lau Lời chào Màu xanh lên đường Mùa Xuân ở A Đời Ngày vui
Nghĩ về một nhãn hiệu
Người con gái chằm nón bài thơ
Nơi Bác từng qua Nỗi nhớ
Tháng chạp ở Hồng Trường
Thưa mẹ con đi Tiễn bạn cuối mùa đông Tình Ca
Tôi lại đi đường này Trên núi sông
Từ những gì các anh trao? Tuổi trẻ không yên
Vỗ Hờn Xanh xanh bóng núi Xuống đường
Giải thưởng:
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm".
- Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (giải B) với tập thơ "Cõi lặng" - năm 2010
Trang 53 THANH HẢI Tiểu sử:
- Thanh Hải sinh ngày 4/11/1930 tại xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, tên thật là Phạm Bá Ngoãn, là một nhà thơ hiện đại Việt Nam
- Ông xuất thân trong một gia đình trí thức, nhưng nghèo Cha ông làm nghề dạy học, mẹ ông là nông dân
- Thuở nhỏ, ông đi học tại quê nhà Năm 17 tuổi, Thanh Hải tham gia cách mạng ở huyện Hương Thủy, làm Chính trị viên Đoàn Văn công Thừa Thiên
- Vào năm 1954 - 1964, ông ở lại quê hương hoạt động, làm cán bộ tuyên huấn tỉnh Trong các năm 1964 - 1967, ông phụ trách báo Cờ giải phóng của thành phố Huế Sau đó, ông làm
Ủy viên chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội phó chi Hội văn nghệ giải phóng Bình Trị Thiên
- Từ sau năm 1975, ông làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, đồng thời là Ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam
- Sống được 5 năm trong hòa bình thì ông bị bệnh hiểm nghèo xơ gan cổ trướng, phải nằm
Bệnh viện Trung ương Huế Khi đó, ông viết bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” Chẳng bao lâu
sau khi viết bài thơ này, nhà thơ Thanh Hải qua đời vào ngày 15 tháng 12 năm 1980.[3] Bài
thơ "Mùa xuân nho nhỏ" được in trong tập thơ "Huế mùa xuân".
- Ông mất năm 1980
Tác phẩm
Trong suốt 50 năm cuộc đời của ông, Thanh Hải có 5 tập thơ:
- Những đồng chí trung kiên (1962)
- Huế mùa xuân (tập 1-1970, tập 2-19
Giải thưởng:
Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (1965)
Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
(đợt 2, năm 2000, truy tặng)
Giải nhất cuộc thi thơ của tuần báo Thống nhất (1959)
Giải nhì cuộc thi thơ của tuần báo Thống nhất (1962)
4 LÂM THỊ MỸ DẠ Tiểu sử:
- Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ngày 18/9/1949 tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
- Là một nhà thơ nữ Việt nam, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007
- Bà làm việc tại Ty văn hóa Quảng Bình, năm 1978 đến 1983 học Trường viết văn Nguyễn
Du Sau đó bà làm phóng viên, biên tập viên tạp chí Sông Hương (của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên - Huế) Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa V
- Hiện bà đang sống tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế Chồng bà, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một nhà văn, nhà thơ có tiếng ở Việt Nam
Tác phẩm
Trái tim sinh nở (thơ, 1974)
Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983)
Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984)
Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)
Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987)
Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)
Trang 6Mẹ và con (thơ, 1994)
Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998)
Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)
Một tập thơ gồm 56 bài do bà tự tuyển chọn trong những tập thơ đã xuất bản của mình được Nhà xuất bản Curbstone dịch sang tiếng Anh và phát hành năm 2005
5 THANH TỊNH Tiểu sử:
- Thanh Tịnh sinh ngày 12/12/1911 tại xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô Huế, tên thật
là Trần Văn Ninh (6 tuổi được đổi là Trần Thanh Tịnh), là một nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến Các bút danh khác của ông là: Thinh Không, Pathé (trước 1945), Thanh Thanh, Trinh Thuần (sau 1945)
- Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán đến năm 11 tuổi, thì theo học chữ Quốc ngữ tại trường tiểu học (trường Đông Ba) và trung học (trường Pellerin của giáo hội Thiên Chúa giáo) ở Huế
- Đỗ bằng Thành chung, năm 1933, ông đi làm ở các sở tư rồi sau đó làm nghề dạy học Thời gian này, ông bắt đầu viết văn, làm thơ và cộng tác với các báo Phong hóa, Ngày nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị, Tinh Hoa Sáng tác đầu tay của ông là truyện
"Cha làm trâu, con làm ngựa" đăng trên Thần kinh tạp chí (1934).
- Năm 1936, Thanh Tịnh cho xuất bản tập thơ Hận chiến trường
- Năm 1941, ông và hai bài thơ của ông ("Mòn mỏi" và "Tơ trời với tơ lòng") được Hoài
Thanh- Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam (1942)
Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Thanh Tịnh làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ
- Năm 1948, ông gia nhập bộ đội Sau đó, ông tham gia phụ trách đoàn kịch Chiến Thắng của Bộ Tổng tư lệnh Quân đôi nhân dân Việt Nam
- Năm 1945, ông tham gia phụ trách rồi làm Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội Về sau, ông thôi làm lãnh đạo, để chuyên sáng tác
- Năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957), và trở thành Ủy viên Ban chấp hành Hội khóa I, II
- Ngoài ra, ông còn là Ủy viên Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, và mang cấp bậc Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam trước khi nghỉ hưu
- Thanh Tịnh mất ngày 17 tháng 7 năm 1988 tại Hà Nội Hiện phần mộ ông đặt tại núi Thiên Thai phía Tây thành phố Huế
Tác phẩm
* Trước 1945: Hận chiến trường (thơ, 1937), Quê mẹ (truyện ngắn,
1941), Chị và em (truyện ngắn, 1942), Ngậm ngải tìm trầm (truyện
ngắn, 1943)
* Sau 1945: Sức mồ hôi (thơ và ca dao, 1954), Những giọt nước
biển (tập truyện ngắn, 1956), Đi từ giữa mùa sen (truyện thơ, 1973),
Thơ ca (thơ, 1980), Thanh Tịnh đời và văn (1996)
Giải thưởng:
- Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam (1951-1952) cho những bài
độc tấu xuất sắc
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật 2007
- Giải nhất (bài Lời cuối cùng) đồng hạng với nhà thơ Phạm Đình Bách trong cuộc thi thơ tháng Hai do báo Hà Nội báo tổ chức năm 1936
Trang 76 HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Tiểu sử:
- Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế
- Học Trung học tại Huế, tốt nghiệp ĐHSP Sài Gòn năm 1960 và Đại học Huế năm 1964 Từng là: Tổng thư ký Hội văn học nghệ thuật Trị Thiên - Huế, Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt
Tác phẩm
* Thể loại bút ký:
- Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971)
- Rất nhiều ánh lửa (1979, Giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 1980-1981)
- Ai đã đặt tên cho dòng sông, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế (1984)
- Bản di chúc của cỏ lau (truyện ký, 1984)
- Hoa trái quanh tôi (1995)
- Huế - di tích và con người (1995)
- Ngọn núi ảo ảnh (2000)
- Trong mắt tôi (bút ký phê bình, 2001)
- Rượu hồng đào chưa uống đã say (truyện ký, 2001)
- Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé (bút ký văn hóa, 2005)
- Miền cỏ thơm (2007)
- Ai đã đặt tên cho dòng sông Tinh tuyển bút ký hay nhất, Nxb Hội nhà văn, 2010
* Thể loại thơ :
- Những dấu chân qua thành phố (1976)
- Người hái phù dung (1992)
- Thể loại nhàn đàm:
- Nhàn đàm, Nxb Trẻ, 1997
- Người ham chơi, Nxb Thuận Hóa, 1998
- Miền gái đẹp, Nxb Thuận Hóa, 2001 (Tặng thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam 2001)
* Tuyển tập :
- Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, 4 tập, Nxb Trẻ, 2002
* Trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lý Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm
và tài hoa
Giải thưởng:
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1980
- Tặng thưởng Văn học Ủy ban toàn quốc LH các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, 1999, 2008
- Giải A giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô (1998-2003)
- Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, 2007
Trang 87 VÕ QUÊ Tiểu sử:
Võ Quê sinh ngày 7/3/1948 tại An Truyền (Làng Chuồn), Phú An, Phú Vang, Thừa Thiên -Huế Bút danh: Sao Khuê, Quý Lê
- Công tác hiện nay: Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Ca Huế thuộc Trung Tâm Văn Hóa Huế
Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Nhà Báo Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam
- Vài nét về quá trình công tác, học tập, sáng tác :
+ Từ tháng 01/1971 - 04/1972 : Ban Cán sự Sinh viên Học sinh Huế
+ Từ tháng 04/1972 - 03/1973 : Bị tù Côn Đảo
+ Tháng 09/1973: Thoát ly lên Chiến khu Thừa Thiên Huế
+ Tháng 12/1973: Ra Hà Nội
+ Tháng 8/ 1974: Điều dưỡng tại Nam Khê Sơn, Quế Lâm, Trung Quốc
+ Tháng 1/ 1974- 04/1975 : Dự lớp bồi dưỡng viết văn khóa VII tại Quảng Bá, Hà Nội do Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức
+ Từ tháng 05/1975 - 12/1976: Cán bộ Ban Tuyên Huấn Thành Ủy Huế
+ Từ tháng 01/1977 đến 2010: Bí thư Chi đoàn, cán bộ Hội, Chánh Văn phòng Hội, Đại biểu HĐND thành phố Huế khóa II (1977-1979) và khóa III (1979-1981), Đại biểu HĐND Tỉnh Bình Trị Thiên khóa II (1989-1994), Đại biểu HĐND Tỉnh Thừa Thiên Huế khóa IV (1999-2004), khóa V (2004-2011), Chủ tịch Công đoàn Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTQ LHCHVHNT Việt Nam Bí thư Đảng Đoàn, Bí thư Chi bộ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (1998-2005), Ủy viên UBMTTQVN Thừa Thiên Huế (1998-2009) Thành viên Ban Văn hóa Xã hội HĐND Thừa Thiên Huế (2004-2011).Trưởng ban công tác Liên chi hội Nhà văn Việt Nam khu vực Bắc miền Trung (2005 - 2010)
- Đã cùng CLB Ca Huế lưu diễn tại các nơi: Mỹ (1995), Hồng Kông (1996), Đài Loan
(1998), Hàn Quốc (2007)
Tác phẩm
- Chị Sáu (1970)
- Giọt máu ta một biển Hòa Bình (1971)
- Nhờ ơn cây lúa lúa ơi (1993)
- Ngợi ca (thơ, 1993)
- Mười thương em bé (thơ, 1992)
- Hoa Đêm (1969)
- Khúc Tri Âm (Lời ca Huế, 2000)
- Thơ Một Thuở Xuống Đường (tập thơ
2001)
- Lửa Đường Phố (hồi ký, 2003)
- Hoa & Phong Vị Huế (tập thơ 2010)
- Ngược Xuôi thế Sự (tập thơ 2011)
Giải thưởng:
- Giải C Giải Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ I (1994)
- Giải Khuyến khích Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (1997)
- Giải C - UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2001)
- Giải thưởng đặc biệt UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2002)
- Huy Chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Huy chương Vì sự nghiệp Trẻ
em Huy chương Vì sự nghiệp Công Đoàn, Huy Chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật, Huy
Chương Vì sự nghiệp Nhiếp Ảnh Huy Chương Chiến sĩ Văn Hóa
Trang 98 MAI VĂN HOAN
Tiểu sử:
- Mai Văn Hoan sinh 20-1-1949, quê Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
- Anh tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh và từng dạy ở các trường: Cấp 3 Minh Hoá (1971-1973), Sư phạm 10+3 Quảng Bình (1973-1979), Hai Bà Trưng (1979-1985), Quốc Học (1985-2009)
- Anh từng tham gia bồi dưỡng hàng chục học sinh giỏi văn tỉnh Bình Trị Thiên (1979-1989), tỉnh Thừa Thiên Huế (1989-2009) đoạt giải Quốc gia Một số học sinh của anh đã trở thành phó giáo sư, tiến sĩ, cán bộ quản lý, nhà văn, nhà báo nhưng vẫn “mãi mãi không thể nào quên những giờ dạy văn của thầy Mai Văn Hoan” như lời chị Lương Thị Bích Ngọc tâm sự trên VietNamNet
- Anh là thạc sĩ, chuyên ngành Lý luận văn học Những bài phê bình tiểu luận của anh đã được đăng tải trên các báo, tạp chí trong cả nước Anh đã xuất bản: Cảm nhận thi ca (tập 1, 1991); Cảm nhận thơ Hàn Mặc Tử (1999); Cảm nhận thi ca (tập 2, 2008); Đôi nét chân dung hội viên Hội Nhà văn Việt Nam tại Huế (2009)
Tác phẩm
Cho đến nay, Mai Văn Hoan đã xuất bản bảy tập thơ:
- Ảo ảnh (1988)
- Giai điệu thời gian (1989)
- Hồi âm (1991)
- Trăng mùa đông (1997)
- Giếng Tiên (2003)
- Lục bát thơ (2006)
- Điếu thuốc và que diêm (2009)
9 HỒNG NHU
Tiểu sử:
- Họ tên : Trần Hồng Nhu Ngày sinh 1 – 12 - 1934 Tuổi thật : Nhâm Thân (1932)
- Quê quán : làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Dân tộc : Kinh Tôn giáo : không
- Hiện trú tại : 12/1/1 Xuân Diệu - Huế
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1956
- Hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ 1981
- Đi bộ đội CM từ 1948 - 1961, chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên và Trung Hạ Lào những năm 50 của thế kỷ trước
1962 – 1965 : cán bộ văn hoá, cán bộ kỹ thuật thuỷ lợi ở Ty Thuỷ lợi Nghệ An, Ty Văn hoá Nghệ An
1965 – 1987 : cán bộ văn nghệ ở Hội Văn nghệ Nghệ An (Nghệ Tĩnh), Uỷ viên thường trực Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh
1987- 1998 : cán bộ văn nghệ ở Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, rồi Thừa Thiên Huế, Phó Chủ tịch Hội VHNT Thừa Thiên Huế, Bí thư Đảng Đoàn Văn nghệ tỉnh, Tổng Biên tập Tạp chí
Trang 10Sông Hương nhiều năm.
1998 : về hưu, viết ở nhà cho đến nay
Tác phẩm
20 tập văn xuôi, 5 tập thơ ở các NXB Trung ương và địa phương:
- Ý nghĩ mùa thu – Tập truyện ngắn – 1971
- Tiếng nói chìm sâu – Tập truyện ngắn – 1976
- Cây tâm hồn trắng – Tập truyện ngắn – 1984
- Vẫn chuyện phiêu lưu – Truyện dài – 1985
- Ngẫu hứng về chiều – Tập thơ -1988
- Nước mắt đàn ông – Tập thơ – 1992
- Chiếc tàu cau – Tập thơ – 1995
- Rêu đá – Tập thơ – 1998
- Thơ chọn lọc – Tuyển thơ – 2006
- Thuyền đi trong mưa ngâu – Tập truyện ngắn – 1995
- Lễ hội ăn mày – Tập truyện ngắn – 2001
- Trà thiếu phụ - Tập truyện ngắn – 2003
- Vịt trời lông tía bay về - Tuyển truyện – 2006
- Chuyện một tình yêu – Tập truyện ngắn – 2007
Giải thưởng:
- Giải 3 Văn nghệ Quân đội – 1958
- Giải 2 Văn nghệ Quân đội – 1994
- Giải A 15 năm Văn nghệ Nghệ An 1965 – 1980
- Giải Chính thức VHNT Nguyễn Du (Nghệ Tĩnh) 1985
- Giải A VHNT Cố đô 3 lần liên tiếp (1987 - 1992; 1993 - 1997; 1998 - 2003)
- Giải Văn học UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam - 3 lần: 1 lần giải A – 1995; 1 lần giải B - 2001; 1 lần giải cao tuổi – 2006
- Giải B Cây bút vàng Bộ Công An và Hội Nhà văn Việt Nam 1998 – 2000
- Giải văn học, tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam – 2004
10 NGUYỄN KHẮC PHÊ
Tiểu sử:
- Tên khai sinh: Nguyễn Khắc Phê, sinh ngày 26.4.1939 ở Sơn Hòa, Hương Sơn, Hà Tĩnh
- Bút danh khác: Trung Sơn
- Hiện sống và viết ở Huế Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam Tốt nghiệp đại học Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1977)