1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

giải pháp hoàn thiện cơ chế cho thuê tài chính tại việt nam

66 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 110,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, thực tế là tại Việt Nam hoạt động cho thuê tài chính nói chung vàcác công ty CTTC nói riêng lại chưa phát triển ngang tầm với ưu thế vốn có của nó.Nguyên nhân là do những khó

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã nêutrong chuyên đề có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của chuyên đề là trung thực và chưađược công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cho thuê tài chính hay còn gọi là nghiệp vụ tín dụng thuê mua là một hình thứcđang được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Ðức, ThụyÐiển, Úc… Loại hình cho thuê tài chính đã được một số công ty tài chính đưa ra thịtrường tài chính vào những năm cuối những năm 50 đầu những năm 60 của thế kỷ 20với tên gọi là thuê tài chính (finance lease….) nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dàihạn thông qua việc tài trợ tài sản thuê, ngoài các hình thức huy động truyền thống nhưvay trên thị trường ngân hàng và thị trường chứng khoán Tại các nước này, hoạt độngcho thuê tài chính cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho các doanh nghiệp, thúc đẩy

sự phát triển nên kinh tế, và là một trong những yếu tố quan trọng hình thành nên thịtrường vốn mỗi quốc gia

Tại Việt Nam nghiệp vụ cho thuê tài chính đã được ngân hàng NN-VN cho ápdụng thí điểm bởi quyết định số 149/QĐ – ngân hàng5 ngày 17/5/1995 Đến ngày02/05/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động củaCông ty cho thuê tài chính

Trước bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp do khủng hoảng tài chính vàsuy thoái toàn cầu, là một nước có độ mở cửa kinh tế lớn, Việt Nam không tránh khỏinhững tác động của môi trường thế giới Các cân đối vĩ mô đều bị tác động: tăngtrưởng kinh tế từ 2008 trở lại đây chậm lại lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước tăng

ở mức cao trong vòng nhiều năm, thị trường lao động khó khăn, cán cân thanh toánquốc tế chuyển từ thặng dư sang thâm hụt; thị trường tài chính tiền tệ có nhiều xáotrộn gây khó khăn cho điều hành kinh tế vĩ mô Ở tầm vĩ mô, các doanh nghiệp cũnggặp nhiều khó khăn Đặc biệt trong nhưng năm sau khủng hoảng trở lại đây, kênh huyđộng vốn được coi là truyền thống đối với các doanh nghiệp hiên nay là vay ngân

Trang 3

hàng gặp phải nhiều bất lợi: lãi suất cao,yêu cầu điều kiện về tài sản thế chấp, vốn tựcó…khiến doanh nghiệp khó có thể tiếp cận được vốn Hơn thế nữa kênh huy độngvốn từ thị trường chứng khoán cũng bị thu hẹp và đóng băng… điều này càng làm chocác doanh nghiệp đang gặp khó khăn càng khó có thể trụ vững , đặc biệt là đối vớinhững doanh nghiệp nhỏ và vừa thường hạn chế về vốn tự có, uy tín cũng như tài sảnthế chấp Những doanh nghiệp này chiếm tới 94% tổng số các doanh nghiệp đăng kýhoạt động trên thi trường Việt Nam Sự xuất hiện của hình thức cho thuê tài chính cóthể nói đã mở ra nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp Loại hình này có ưu điểm rấtlớn vì không phải thế chấp tài sản

Tuy nhiên, thực tế là tại Việt Nam hoạt động cho thuê tài chính nói chung vàcác công ty CTTC nói riêng lại chưa phát triển ngang tầm với ưu thế vốn có của nó.Nguyên nhân là do những khó khăn về đặc thù nền kinh tế nước ta, do trình độ quản

lý của các tổ chức, công ty cho thuê tài chính, do nhận thức của những doanh nghiệptrong nước về nghiệp vụ này vẫn còn khá mới mẻ…Tuy nhiên, có thể nói, khó khănlớn nhất cần tháo gỡ ngay đó là những tồn tại trong cơ chế khung pháp lý chưa hoànchỉnh và thiếu đồng bộ

Xuất phát từ những lý do trên, qua tìm hiểu thực tế và phân tích đánh giá cácquy định, các cơ chế của pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động CTTC, tôi đã

mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài : “ Giải pháp hoàn thiện cơ chế Cho thuê tài chính tại Việt Nam” Trong chuyên đề này tôi tập trung trình bày những tồn tại vè

mặt pháp lý đối với hoạt động cho thuê tài chính Việt Nam và từ đó đưa ra một số giảipháp nhằm tháo gỡ vướng mắc với mục đích phát triển phù hợp hơn với yêu cầu thựctiễn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sư phát triển và hoàn thiện của thị trườngcho thuê tài chính nói riêng và sự phát triển của thị trường tài chính nói chung

2. Mục đích nghiên cứu

Trang 4

Tìm hiểu một cách hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động CTTC

và tìm hiểu tình hình CTTC trên thế giới một cách khái quát và cụ thể để rút ra bàihọc kinh nghiệm cho việc hoàn thện cơ chế CTTC ở Việt Nam

Đồng thời tìm hiểu và đánh giá thực trạng của hoạt động cho thuê tài chínhcũng như cơ chế cho thuê tài chính ở Việt Nam để tìm ta những khó khăn vướng mắccần tháo gỡ Từ đó, đưa ra giải pháp kiến nghị cụ thể góp phần hoàn thiện cơ chế chothuê tài chính Việt Nam

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề về lý luận và thực tiễn hoạt động cho thuêtài chính một số nước trong khu vực và những tồn tại trong cơ chế cho thuê tài chínhhiện hành ảnh hưởng tới hoạt động cho thuê tài chính của các chủ thể tham gia trongthời gian qua

Phạm vi nghiên cứu: Chỉ giới hạn bổ sung những đóng góp trong việc hoànthiện cơ chế cho thuê tài chính Việt Nam

4. Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với phântích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh trên cơ sở phân tích tình hình thực tế của

hệ thống các Công ty CTCT trong Hiệp hội CTCT Việt Nam Từ đó xác định các tồntại, đưa ra các định hướng, giả pháp cụ thể

5. Kết cấu của chuyên đề

Kết cấu chuyên đề ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo bao gồm những nội dung chính sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động CTTC và cơ chế CTTC

Trang 5

Chương 2: Thực trạng cơ chế cho thuê tài chính hiện nay ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế cho thuê tài chính Việt Nam.

Trang 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ CƠ CHẾ CHO

THUÊ TÀI CHÍNH

1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO THÊ TÀI CHÍNH

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính mà nguồn gốc đầu tiên là cho thuê tài sản đã được sáng từrất sớm trong lịch sử văn minh nhân loại Theo các tư tịch cổ, các giao dịch thuê tàisản đã xuất hiện từ năm 2800 tr CN tại thành phố Sumerian thuộc Iraq ngày nay Cácthầy tu giữ vai trò người cho thuê, người thuê là những nông dân tự do Tài sản đượcđem giao dịch bao gồm: Công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa, ruộngđất…và nhiều loại tài sản rất đa dạng khác

Tuy nhiên các giao dịch thuê tài sản thời cổ thuộc hình thức thuê mua kiểutruyền thống (Traditional Lease) Phương thức giao dịch của hình thức này tương tựnhư phương thức thuê mua vận hành ngày nay và trong suốt lịch sử hàng ngàn nămtồn tại của nó, đã không có sự thay đổi lớn về tính chất giao dịch

Đến đầu thập kỷ 50 của thế kỷ 20, giao dịch thuê mua đã có những bước nhảyvọt Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, nghiệp vụ tín dụng thuê mua haycòn gọi là thuê tài chính được sáng tạo ra trước tiên ở Mỹ vào năm 1952 Sau đónghiệp vụ tín dụng thuê mua phát triển sang Châu Âu và phát triển mạnh mẽ tại đó từnhững năm của thập kỷ 60 Tín dụng thuê mua cũng phát triển mạnh mẽ ở Châu Á vànhiều khu vực khác từ đầu thập kỷ 70 Ngành công nghiệp thuê mua có giá trị trao đổichiếm khoảng 350 tỷ USD vào năm 1994

Ngày nay, thuê tài chính là một hình thức đang được áp dụng phổ biến ở nhiềunước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Ðức, Thụy Ðiển, Úc…Tại Mỹ, ngành thuê

Trang 7

mua thiết bị chiếm khoảng 25 – 30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bánthiết bị hàng năm của các doanh nghiệp Không chỉ phát triển ở châu Âu, hoạt độngcho thuê tài chính đang phát triển rất nhanh ở Châu Á, và Châu Phi Năm 1994 giá trịmáy móc thiết bị thông qua hoạt động cho thuê tài chính lên tới 44tỷ USD, tăng gần 3lần so với năm 1988 Riêng ở Hàn Quốc là một trong những nước mà hoạt độngCTTC đạt được những bước tăng trưởng đầy ấn tượng Năm 1994 nước này đã trởthành thị trường CTTC đứng thứ 5 trên thế giới.

Ở Việt Nam, cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng được pháp luật lầnđầu tiên ghi nhận tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chínhnăm 1990 với tên gọi là hoạt động thuê mua tài chính Tuy nhiên, phải đến khi Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995, sau đó

là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 9/10/1995 và Thông tư 03/TT-NH5 của Ngânhàng Nhà nước ngày 9/2/1996, thì hoạt động này mới được sự điều chỉnh cụ thể củapháp luật Sau khi Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm2004) được ban hành, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng được điều chỉnh mộtcách chi tiết và hệ thống (tại Điều 20, Điều 61 đến Điều 63) Các văn bản dưới luậtlần lượt ra đời để cụ thể hoá Luật các tổ chức tín dụng, trong đó đáng chú ý nhất làNghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tàichính tại Việt Nam

Tính đến cuối năm 1997, sau 2 năm Nghị định 64 có hiệu lực cả nước đã ra đời

7 công ty CTTC Các công ty này được thành lập theo loại hình công ty trực thuộc cácNgân hàng thương mại quốc doanh hoặc các Công ty liên doanh Ngoài ra cho đếnnay đã xuất hiện trên 5 công ty có hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị Đến năm

2010 số Công ty CTTC trong cả nước là 11 công ty, cùng với một thị trường gồm hơn

Trang 8

6000 doanh nghiệp Nhà nước và hàng chục ngàn doanh nghiệp cổ phần, TNHH, hợptác xã…đang đói vốn trầm trọng.

Cho đến nay, hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam đã thu được những kếtquả bước đầu tạo điều kiện tiền đề cho sự phát triển lâu dài của hoạt động này trongnước và trở thành một hoạt động có tiềm năng phát triển lớn

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động CTTC

1.1.2.1Một số khái niệm và bản chất của hoạt động CTTC

Theo Ủy ban Tiêu chuẩn kế toán quốc tế (International Accounting Standard

Committee – IASC) thì bất cứ một giao dịch nào thỏa mãn ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn

sau đây đều được gọi là thuê tài chính:

(ownership transferred by the end of the leaseterm)

mặc cả mua là quyền được lựa chọn mua tài sản thuê với giá thấp hơn giá trị thịtrường ở một thời điểm nào đó trong thời hạn hợp đồng hoặc khi chấm dứt hợpđồng (The option of purchasing the leased asset at less than fair value at some point during or at the end of the lease period)

3. Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời hạn của hoạt động tài sản (lease term for major part of asset’s useful life).

4. Hiện giá (giá trị hiện tại) của các khoản tiền thuê lớn hơn hoặc gần bằng giá trị

của tài sản (Present value of minimum lease payments greater than or subtantially equal to asset’s value).

Trang 9

Tuỳ theo mỗi nước, căn cứ vào tình hình kinh tế, sự phát triển của khoa học kỹthuật khác nhau mà các tiêu chuẩn trên được quy định cụ thể hơn Chẳng hạn như ở

Mỹ, tiêu chuẩn 3 và 4 được quy định như sau:

3.Thời hạn thuê bằng 75% hoặc cao hơn so với đời sống hoạt động ước tính của tài

sản thuê (The period of lease is 75% or more of estimated service life of leased asset).

4.Hiện giá các khoản tiền thuê tối thiểu là 90% hoặc lớn hơn giá trị thị trường của

tài sản thuê (The present value of the minimum lease payment is 90% or more of the faire value of the leased asset)

Ở mỗi quốc gia khác nhau có hoạt động cho thuê tài chính đều có những quyđịnh khác nhau về hoạt động cho thuê tài chính do thể chế Nhà nước và trình độ pháttriển kinh tế xã hội Nhưng nhìn chung hoạt động cho thuê tài chính mang những đặcđiểm cơ bản sau:

- Bên cho thuê thường là các công ty chuyên doanh

- Người thuê có quyền lựa chọn tài sản thuê, bên cung ứng tài sản thuê và sửdụng tài sản đó trong thời hạn thuê theo những mục đích hợp pháp của mình

- Thời hạn cho thuê trong hợp đồng cho thuê tài chính là trung hoặc dài hạn,chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản cho thuê (từ 60- 70%)

- Hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng không được huỷ ngang

- Tổng số tiền thuê tài sản thường lớn hơn hoặc bằng giá trị của tài sản tại thờiđiểm ký kết hợp đồng

- Bên cho thuê sở hữu tài sản trong suốt quá trình thuê

- Phần lớn chi phí vận hành, bảo hiểm tài sản được chuyển giao từ bên cho thuêsang bên thuê

Ở nước ta, trong luật các tổ chức tín dụng (12/12/1997) và Nghị định 64 CP (9/10/1995) đều đưa ra khái niệm CTTC Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng thì

Trang 10

“ Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồi thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng”

Theo nghị định số 95/2008/NĐ-CP sữa đổi nghị định số 16/2001/NĐ-CP của

Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính: Cho thuê tài chính

là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận.

Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuêhoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính.Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhấtphải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng

1.1.2.2 Đặc điểm nghiệp vụ cho thuê tài chính

Xét về mặt bản chất, giao dịch cho thuê tài chính có những đặc điểm nổi bật sauđây:

Thứ nhất, cho thuê tài chính là phương thức cấp tín dụng mà đối tượng là một tài sản cụ thể Khác với các hình thức cấp tín dụng khác mà theo đó, tổ chức tín dụng

chuyển giao một khoản tiền, trong hình thức cấp tín dụng cho thuê tài chính, tổ chứctín dụng tiến hành cấp tín dụng bằng cách chuyển giao cho khách hàng (bên thuê) mộttài sản cụ thể (máy móc, dây chuyền sản xuất, phương tiện vận tải hoặc động sản

Trang 11

khác) để bên thuê sử dụng trong một thời gian nhất định Bên thuê có nghĩa vụ trảtoàn bộ tiền thuê theo thoả thuận Tính chất thanh toán trọn vẹn của giao dịch chothuê tài chính cho thấy bản chất tín dụng của hoạt động này Tổ chức tín dụng đượcbảo đảm về khả năng hoàn trả của khách hàng đối với khoản tín dụng đã chuyển giaothông qua quyền nhận tiền thuê Cũng tương tự như pháp luật một số quốc gia trên t hếgiới, pháp luật Việt Nam ghi nhận cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung

và dài hạn, nhằm phù hợp với đặc điểm của đối tượng cho thuê là những động sản cógiá trị, thời gian cần thiết để khấu hao thường từ một năm trở lên

Thứ hai, cho thuê tài chính là hình thức cho thuê mà hầu hết các quyền năng của chủ sở hữu (bên cho thuê) được chuyển giao cho bên thuê Khác với các hình

thức thuê tài sản thông thường theo quy định của pháp luật dân sự, trong hoạt động

cho thuê tài chính, bên cho thuê thường chỉ giữ quyền sở hữu “danh nghĩa” đối với tài

sản cho thuê (quyền này cho phép tổ chức tín dụng có thể thu hồi tài sản cho thuê nếubên thuê vi phạm hợp đồng), còn những quyền năng cụ thể đối với tài sản cho thuêđược chuyển giao hầu như hoàn toàn cho bên thuê Điều này được lý giải bởi bản chấttín dụng của hoạt động cho thuê tài chính: Tổ chức tín dụng chỉ quan tâm đến khảnăng thu hồi cả gốc và lãi của khoản tín dụng, còn việc sử dụng khoản tín dụng đượccấp là quyền của bên nhận tín dụng (bên thuê) Đặc điểm này đã được Uỷ ban về

chuẩn mực kế toán quốc tế ghi nhận: “Cho thuê tài chính là loại cho thuê có khả năng dịch chuyển về cơ bản tất cả những rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản”.

Cụ thể hoá những đặc trưng của nghiệp vụ cho thuê tài chính, quy định củapháp luật hiện hành ghi nhận giao dịch cho thuê tài chính phải có một trong nhữngdấu hiệu sau đây:

- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sởhữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên;

Trang 12

- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiênmua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thờiđiểm mua lại;

- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết đểkhấu hao tài sản thuê;

- Tổng số tiền thuê tài sản theo thoả thuận ít nhất phải tương đương với giá trịcủa tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng

Trang 13

Chính từ những đặc điểm nêu trên, có thể phân biệt cho thuê tài chính vớiphương thức thuê vận hành:

Tiêu chí Cho thuê tài chính Thuê vận hành

Thời hạn thuê Trung và dài hạn, chiếm

phần lớn thời gian hữudụng của tài sản thuê

Tiền thuê tài sản Thường lớn hơn hoặc

bằng giá trị của tài sản chothuê tại thời điểm ký kếthợp đồng

Thường nhỏ hơn rất nhiều

so với giá trị của tài sảncho thuê

Việc cung ứng tài

sản thuê

Tài sản thuê do bên thuêđặt mua theo yêu cầu củamình và sử dụng tài sản đó

Tài sản thuê thường do bêncho thuê cung cấp

Chi phí vận hành,

bảo trì, bảo hiểm

và rủi ro liên quan

đến tài sản

Bên thuê phải chịu kể cảnhững rủi ro không phải

do lỗi của mình gây ra

Bên cho thuê phải chịu, trừtrường hợp do lỗi của bênthuê gây ra

Trang 14

1.1.3 Các phương thức cho thuê tài chính

Để thực hiện một giao dịch cho thuê tài chính, người ta có thể sử dụng nhiềuphương thức khác nhau nhằm đảm bảo sự thuận tiện và mang lại những lợi ích tốtnhất cho cả bên thuê và bên cho thuê

1.1.3.1 Một số phương thức cho thuê được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước

* Cho thuê liên kết (Syndicate Lease)

Theo phương thức này bên cho thuê có thể là hai hay nhiều công ty cùng liênkết với nhau để tài trợ cho một bên thuê (đồng tài trợ) Vì vậy, tài sản thuê trongtrường hợp này thường là những tài sản có giá trị lớn Việc thanh toán tiền thuê cũngnhư phương thức xử lý tài sản khi kết thúc thời hạn thuê sẽ thực hiện theo sự thoảthuận của các bên trong hợp đồng

* Cho thuê bắc cầu (Leveraged Lease)

Trong thực tế, công ty cho thuê tài chính thường có nhiều khách hàng và khôngphải lúc nào họ cũng đủ nguồn vốn để thực hiện tất cả giao dịch cho thuê Do đó, khithực hiện giao dịch cho thuê, công ty cho thuê tài chính có thể đi vay từ bên thứ ba(thường là các ngân hàng hoặc định chế tài chính khác) để mua tài sản cho thuê.Nhằm đảm bảo sự an toàn của giao dịch, pháp luật các nước thường giới hạn khoảntiền vay so với giá trị tài sản

Vai trò của các bên trong giao dịch này thể hiện như sau:

Bên cho vay:

- Cho vay phần lớn số tiền mua tài sản

- Nhận tiền trả nợ (cả gốc và lãi) từ bên cho thuê

Bên cho thuê:

- Vay phần lớn số tiền tài trợ từ bên cho vay với vật thế chấp chính là tài sản chothuê hình thành từ vốn vay

Trang 15

- Giữ quyền sở hữu tài sản và cho thuê lại tài sản đó.

- Phải trả nợ vay và được hưởng các khoản chênh lệch giữa tiền cho thuê và tiềntrả nợ

Bên thuê:

- Trả tiền thuê cho bên cho thuê theo yêu cầu của họ và chịu mọi rủi ro có thểxảy ra với tài sản

- Sử dụng tài sản

*Cho thuê giáp lưng (Under Lease)

Một trong những đặc điểm của cho thuê tài chính là các bên không được huỷngang hợp đồng trước thời hạn Do đó, nếu sau khi ký hợp đồng, bên thuê không cònnhu cầu sử dụng tài sản nữa và Một trong những đặc điểm của cho thuê tài chính làcác bên không được huỷ ngang hợp đồng trước thời hạn Do đó, nếu sau khi ký hợpđồng, bên thuê không còn nhu cầu sử dụng tài sản nữa và thời hạn thuê vẫn chưa hếtthì họ sẽ ở trong tình trạng hết sức bất lợi Để khắc phục tình trạng này, bên thuê cóthể tìm một bên thứ hai để cho thuê lại tài sản Bên thuê thứ hai sẽ trả tiền thuê chobên thuê thứ nhất đồng thời có mọi quyền lợi, nghĩa vụ khác trong việc sử dụng tàisản thuê Tuy nhiên, vì hợp đồng ký giữa bên cho thuê và bên thuê thứ nhất vẫn cònhiệu lực nên bên thuê thứ nhất vẫn có nghĩa vụ trả tiền thuê và phải chịu trách nhiệmliên đới đối với những rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra đối với tài sản Việc cho thuê lạitài sản chỉ được tiến hành nếu có sự đồng ý đơn giản, nhanh gọn Đây cũng là mộttrong những yếu tố làm tăng sức cạnh tranh của cho thuê tài chính với các hình thứccấp tín dụng khác

- Cho thuê tài chính giúp bên cho thuê mở rộng diện khách hàng, đa dạng hoáviệc sử dụng vốn đồng thời mở rộng mối kinh doanh đa phương Vốn cấp tín dụng sửdụng linh hoạt hơn vì tiền thuê được thu hồi dần về từng kỳ và bên cho thuê có thể sửdụng ngay cho việc tái đầu tư, dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn cao

Trang 16

Đây cũng có thể coi là hình thức bán hàng bổ sung nếu bên cho thuê đồng thời

là nhà cung cấp

1.1.3.2 Phân loại theo phương thức khác

Nhằm làm nổi bật bản chất tài chính của nghiệp vụ cho thuê tài chính có thểphân loại nghiệp vụ cho thuê tài chính theo 2 phương thức: cho thuê tài chính khônghoàn lại tài sản thuê, và cho thuê tài chính có hoàn lại tài sản thuê

Cho thuê tài chính không hoàn lại tài sản thuê là phương thức cho thuê tài

chính mà theo đó, bên thuê có quyền sở hữu tài sản thuê khi chấm dứt hợp đồng thuê.Khi kết thúc hợp đồng, bên cho thuê có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục pháp lý cầnthiết để chuyển giao quyền sở hữu cho bên thuê Đối với phương thức này, số tiềnthuê thường không thấp hơn giá trị tài sản thuê tại thời điểm giao kết hợp đồng và khichuyển giao quyền sở hữu, bên thuê chỉ phải thanh toán theo giá danh nghĩa thấp hơngiá trị thực của tài sản tại thời điểm chuyển giao

Cho thuê tài chính có hoàn lại tài sản thuê là phương thức cho thuê tàisản mà theo đó, tài sản thuê không đương nhiên được chuyển giao quyền sở hữu khichấm dứt hợp đồng thuê Với phương thức cho thuê này, số tiền thuê có thể thấp hơngiá trị của tài sản tại thời điểm thuê Khi kết thúc hợp đồng thuê, bên thuê có quyềnthuê tiếp hoặc mua lại tài sản thuê Giá chuyển nhượng (nếu có) sẽ được các bênthương lượng dựa trên giá trị còn lại của tài sản thuê

1.1.4 Lợi ích của hoạt động cho thuê tài chính

1.1.4.1 Lợi ích đối với nền kinh tế

- Thuê mua góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế Do tín dụng thuê mua

có mức độ rủi ro thấp, phạm vi tài trợ rộng rãi hơn các hình thức tín dụng khác nên đãhuy động được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thậm chí từ các lĩnh vực

Trang 17

đầu tư khác, từ nước ngoài thông qua các loại máy móc thiết bị cho thuê mà khônglàm tăng nợ nước ngoài của quốc gia đó.

- Thuê mua góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học

kỹ thuật Thông qua hoạt động cho thuê tài chính, các loại máy móc thiết bị có trình

độ công nghệ tiên tiến được đưa vào các doanh nghiệp làm nâng cao trình độ côngnghệ của nền sản xuất trong những điều kiện khó khăn về vốn đầu tư

1.1.4.2 Lợi ích đối với bên cho thuê

- Cho thuê tài chính là hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao Do quyền sởhữu tài sản cho thuê vẫn thuộc người cho thuê nên họ có quyền kiểm tra, giám sát,đảm bảo cho việc sử dụng tài sản đúng mục đích , tránh được thiệt hại, mất vốn tàitrợ Do tài trợ bằng tài sản hiện vật nên hạn chế được ảnh hưởng của lạm phát, khônglàm giảm dần khoản vốn tài trợ

- Thuê tài chính giúp người cho thuê linh hoạt trong kinh doanh Trong thờigian diễn ra giao dịch thuê mua, vốn tài trợ được thu hồi dần dần dựa trên hiệu quảhoạt động của tài sản cho phép người cho thuê tái đầu tư chúng vào hoạt động kinhdoanh sinh lợi và giữ vững nhịp độ hoạt động Do tập trung vào lĩnh vực hẹp nên cóđiều kiện đầu tư theo chiều sâu cả về kiến thức kinh tế, kỹ thuật và kỹ năng nghiệp vụtín dụng

Tuy nhiên, trong điều kiện mô trường vĩ mô không thuận lợi Chẳng hạn, tạicác quốc gia không có luật quy định rõ ràng về quyền sở hữu hay không có thị trườngmua bán máy móc thiết bị cũ hoặc các quy chế xuất nhập khẩu, thuế thì nguy cơ gặpphải rủi ro mất vốn, thiệt hại về tài sản là điều rất dễ xảy ra

1.1.4.3 Lợi ích đối với bên đi thuê

- Người thuê có thể gia tăng năng lực sản xuất trong những điều kiện nguồnvốn đầu tư bị hạn chế Trong kinh doanh, các doanh nghiệp đặc biệt là các doanhnghiệp vừa và nhỏ thường gặp khó khăn về vốn trung dài hạn nhằm gia tăng côngsuất của doanh nghiệp Nếu đi vay theo các thể thức tín dụng thông thường lại thiếu

Trang 18

tài sản thế chấp Do đó thông qua tín dụng thuê mua, các doanh nghiệp từ tay không

mà vẫn có thể có được máy móc, thiết bị phục vụ yêu cầu của sản xuất và sau một sốnăm có thể có được một số tài sản tích luỹ nhất định

- Cho thuê tài chính không gây ảnh hưởng bất lợi đối với các hệ số kinh doanhcủa doanh nghiệp Hầu hết các quốc gia (trừ Hoa Kỳ và Mexico) đều quy định phầntiền thuê trả cho người cho thuê được đưa vào phần giải trình của bảng cân đối kếtoán Như vậy tài sản thuê mua được hạch toán ngoại bảng và được coi như mộtkhoản nợ phát sinh trong năm tài chính Do đó, không làm thay đổi các hệ số phântích tài chính của doanh nghiệp theo hướng bất lợi

- Những doanh nghiệp không thoả mãn các yêu cầu vay vốn của các định chế

tài chính cũng có thể nhận được vốn tài trợ qua tín dụng thuê mua Vì các công tyLeasing không đòi hỏi tài sản thế chấp, họ có thể thoả mãn nhu cầu đầu tư của kháchhàng là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ hay những doanh nghiệp mới thànhlập, ngay cả khi vị thế tài chính, uy tín của họ có những hạn chế

- Thuê mua có thể giúp doanh nghiệp đi thuê không bị đọng vốn trong tài sản

cố định Thông qua nghiệp vụ bán và tái thuê, các doanh nghiệp có thể chuyển nguồntài sản cố định thành tài sản lưu động hay chuyển dịch vốn đầu tư cho các dự án kinhdoanh khác có hiệu quả cao hơn trong khi vẫn duy trì được hoạt động đầu tư hiệnhành vì tài sản vẫn được tiếp tục sử dụng Mặt khác, nếu doanh nghiệp muốn dànhvốn tích luỹ cho kinh doanh mà có nhu cầu về thiết bị và tài sản thì vẫn có thể thựchiện được thông qua thuê mua tài sản cố định

- Cho thuê tài chính là phương thức rút ngắn thời gian triển khai đầu tư đáp ứngkịp thời các cơ hội kinh doanh Vì thuê mua có mức độ rủi ro thấp hơn các hình thứctài trợ khác nên các thủ tục và điều kiện tài trợ cũng đơn giản Người thuê có thể tựtìm kiếm nguồn cung ứng tài sản thiết bị, hay đàm phán, thoả thuận trước về hợp đồngmua bán thiết bị với nhà cung cấp, sau đó mới yêu cầu công ty Leasing tài trợ nên cóthể cho phép người thuê rút ngắn thời gian tiến hành đầu tư thiết bị

Trang 19

- Thuê mua cho phép người thuê hiện đại hoá sản xuất theo kịp tốc độ phát triểncủa công nghệ mới Trong điều kiện bùng nổ công nghệ hiện nay, việc thay đổi thiết

bị, máy móc theo kịp đà phát triển của công nghệ mới là hết sức cần thiết Thông quathuê mua, các doanh nghiệp có thể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới hay nhận đượclời khuyên nên áp dụng trình độ công nghệ ở mức nào cho phù hợp với doanh nghiệp,thị trường và môi trường kinh tế vĩ mô

- Cho thuê tài chính cho phép các doanh nghiệp trong nước thu hút vốn đầu tưnước ngoài Tín dụng thuê mua giúp các doanh nghiệp trong nước có thể huy độngđược vốn tài trợ nước ngoài thông qua các công ty Thuê mua quốc tế hay các công tyLiên doanh thuê mua hoạt động tại Việt Nam

- Tín dụng thuê mua cho phép người thuê hoãn thuế Các khoản tiền thuê phảitrả hàng năm được tính vào chi phí của doanh nghiệp Do đó, chúng là giảm mức lợinhuận của doanh nghiệp bằng chính những khoản chi phí đó Khoản chi phí này đượcnhân với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ cho ta biết khoản tiết kiệm do hoãnthuế bởi thuê mua đem lại cho doanh nghiệp Ví dụ: Tổng số tiền thuê phải trả hàngnăm của doanh nghiệp là 10 triệu đồng, Mức thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty

là 28% Khoản tiền tiết kiệm do hoãn thuế trong năm của doanh nghiệp là: 10 x 0,28

= 2,8 tr Đ

1.1.4.4 Lợi ích đối với nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị).

Nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) khi chào bán sản phẩm của mình trênthị trường đều mong muốn bên mua sẽ trả đủ tiền để nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấpthiết bị) có vốn lưu động, tạo cơ hội mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh củamình Nhưng trên thực tế, không phải tất cả các chủ thể muốn mua thiết bị đều có đủkhả năng về tài chính hoặc trong trường hợp có doanh nghiệp đủ khả năng về tàichính nhưng họ không muốn đầu tư một số tiền này để làm vốn lưu động phục vụ chohoạt động sản xuất kinh doanh) Chính vì vậy, thông qua hợp đồng cho thuê tài chính

Trang 20

mà bên cho thuê trong hợp đồng này sẽ mua tài sản thuê để cho thuê và hoãn trả toàn

bộ số tiền tương ứng với giá trị tài sản

- Thông qua hoạt động cho thuê tài chính, nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiếtbị) sẽ tìm hiểu được nhu cầu thiết yếu của bản thân người sử dụng thiết bị, từ đó có kếhoạch đầu tư đúng đắn

- Thông qua cho thuê tài chính, các nhà sản xuất (hoặc nhà cung cấp thiết bị) cóthể bán thiết bị cũ, nhập thiết bị mới hay nhận được lời khuyên nên áp dụng trình độcông nghệ ở mức nào cho phù hợp với doanh nghiệp, thị trường và môi trường kinh tế

vĩ mô

1.1.5 Hạn chế của việc thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính

Bên cạnh những lợi thế, cho thuê tài chính cũng có những hạn chế nhất định.Điều này lý giải tại sao hoạt động cho thuê tài chính không thể thay thế hoàn toàn chocác hoạt động tín dụng khác với tư cách là một kênh cấp vốn cho hoạt động sản xuấtkinh doanh Những hạn chế đó là:

- Đối với bên thuê: Vào giai đoạn cuối của hợp đồng thuê, mặc dù bên thuê đãtrả gần như đủ số tiền thuê nhưng bên vẫn chưa được sử dụng tài sản vào mục đíchkhác Hơn nữa, bên thuê có thể phải chịu những rằng buộc bởi một số biện pháp bảođảm đối với tài sản thuê như: không cho người khác thuê lại khi chưa có sự đồng ýcủa bên cho thuê hoặc phải chịu sự kiểm tra bất cứ khi nào theo yêu cầu của bên chothuê

- Đối với bên cho thuê: Rủi ro có thể xảy ra như: rủi ro về tài chính, khi mà bênthuê không trả tiền thuê khi đến hạn hoặc tiền thuê nhận được không đủ bù đắp vốngốc; hoặc rủi ro liên quan đến tài sản thuê, khi mà tài sản cho thuê không thu hồi vềkhông thể cho thuê tiếp hay không bán được chúng; tài sản do nhà nhà sản xuất giao

Trang 21

cho bên cho thuê không đúng theo hợp đồng, tài sản không được phép kinh doanh;hoặc rủi ro sự thay đổi về luật pháp, do sự biến động của thị trường bởi khủng hoảngkinh tế.

1.2 CƠ CHẾ CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.2.1 Định nghĩa

Cơ chế cho thuê tài chính được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinhtrong lĩnh vực cho thuê tài chính

Nội dung chủ yếu của cơ chế này gồm các quy định về việc tổ chức, thành lập

và hoạt động của các công ty cho thuê tài chinh, về hợp đồng cho thuê tài chính, vềbên thuê, về tài sản cho thuê, về việc quản lý nhà nước đối với hoạt động này…

1.2.2 Nội dung cơ chế cho thuê tài chính

1.2.2.1Hệ thống văn bản pháp luật của hoạt động CTTC

Hiện nay, cơ sở pháp lý để các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng cho thuê tàichính là dựa trên các văn bản sau:

Trang 22

Các hoạt động cho thuê tài chính nằm trong các quy chế trước thể lệ tín dụngthuê mua ban hành kèm theo quyết định số 149/QĐ–NH5 ngày 27/51995 của NHNNnói chung chỉ giải quyết vấn đề cho thuê vận hành khi mục tiêu cho thuê không phải

là để tăng thiết bị, máy móc trong quá trình cho thuê Điều này được thể hiện rõ nét ởThông tư số 34/TC-CN ngày 31/7/1991 Thông tư này cho phép các doanh nghiệp nhànước dùng tài sản cố định chưa sử dụng đến cho các tổ chức khác thuê Đến nay, cácquy chế hiện hành đã phân biệt rõ cho thuê vận hành với cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng được pháp luật lần đầu tiên ghinhận tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dung và công ty tài chính năm 1990 vớitên gọi là hoạt động thuê mua tài chính Tuy nhiên, phải đến khi Thống đốc Ngânhàng Nhà nước ban hành Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995, và sau đó là Nghịđinh 64/CP của Chính phủ ngày 9/10/1995 và thông tư 03/TT – NH5 của Ngân hàngNhà nước ngày 9/2/1996 thì hoạt động này mới được điều chỉnh cụ thể của pháp luật.Sau khi Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2004)được ban hành, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng được điều chỉnh một cách cụthể, chi tiết, và hệ thống (tại điều 20, điều 16 đến điều 63) Các văn bản dưới luật lầnlượt ra đời cụ thể hóa Luật các tổ chức tín dụng, trong đó đang chú ý nhất là Nghịđịnh 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định65/2005/NĐ-CP ngày 1905/2005 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tàichính tại Việt Nam; Thông tư số 06/2005/TT-NHNN ngày 12/10/2005 hướng dẫnthực hiện nghị định 162001/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP ngày 10/12/2007 hướng dẫn thu hồi và xư lý tài sản cho thuê tài chính củacông ty cho thuê tài chính; Nghị định số 95/2008/NĐ-CP ngày 25/08/2008 về việc sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP do thủ tướng chính phủ kýquyết định ban hành

1.2.2.2 Hợp đồng cho thuê tài chính

Trang 23

Hợp đồng cho thuê tài chính là một loại hợp đồng kinh tế được giữa hai bên chothuê và bên cho thuê về việc cho thuê một hoặc một số máy móc - thiết bị, động sảnkhác trong một thời gian nhất định (thời hạn cho thuê) và thoả mãn những điều kiệncho thuê tài chính HĐCTTC phải đảm bảo các yêu cầu sau đây :

*Các điều khoản cơ bản của hợp đồng:

Một hợp đồng cho thuê tài chính phải bao gồm những nội dung cơ bản sau:

a. Số hợp đồng, ngày tháng năm ký hợp đồng

b. Tên, địa chỉ đầy đủ của bên cho thuê, bên đi thuê

c. Tài sản cho thuê: tên, quy cách, số sêri, công dụng và số lượng tài sản cho thuê

d. Giá mua máy móc thiết bị;

e. Thời gian hữu ích cần thiết của thiết bị (thời gian khấu hao bình quân);

f. Thời hạn khấu hao của thiết bị;

g. Mục đích sử dụng;

h. Thời hạn thuê;

i. Địa điểm lắp đặt thiết bị;

j. Các cam kết thoả thuận của các bên;

k. Tiền thuê phải trả cả gốc lẫn lãi;

l. Bảo hiểm tài sản;

m. Các cam kết chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê;

n. Ngày hiệu lực của hợp đồng

Trang 24

1.3 CHẾ ĐỘ CHO THUÊ TÀI CHÍNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM.

Mặc dù cho thuê tài chính đối với Việt nam xuất hiện đã hơn 16 năm Tuynhiên, vẫn còn khá mới mẻ và chưa thực sự được phổ biến,và còn khá nhiều bất cập.Nghiệp vụ này đã phát triển mạnh tại nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước pháttriển Do đó, cần nghiên cứu chế độ điều chỉnh ngành công nghiệp cho thuê tài chínhtrên thế giới để từ đó chúng ta có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báunhằm khai thác tiềm năng của thị trường cho thuê tài chính Việt Nam

1.3.1 Một số đặc điểm về chế độ cho thuê tài chính trên thé giới

Các giao dịch cho thuê tài chính trên thế giới thường dựa vào một trong cácnguồn luật sau:

-Hiệp định thống nhất dân sự về cho thuê tài chính quốc tế(Hiệp hội cho thuêtài chính quốc tế thoả thuận ngày 26/ 5/ 1988, tại Ohawa – Canada)

-Tiêu chuẩn cho thuê tài chính của uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốctế(International Accounting Standard Committee –IASC)

- Luật điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính của quốc gia

Để tìm hiểu các chế độ cho thuê tài chính trên thế giới do đó chúng ta cũng cầndựa vào các nguồn luật này

1.3.1.1 Về tiêu chuẩn Công ty hoạt động Cho thuê tài chính

* Tư cách pháp nhân: Luật pháp của hầu hết các quốc gia đều cấm các thể

nhân, các doanh nghiệp tư nhân hay công ty phi tài chính tham gia vào hoạt động Chothuê tài chính Các chủ thể cho thuê tài chính thường gặp là các ngân hàng thươngmại, các hãng sản xuất, các Công ty cho thuê tài chính độc lập và có thể là các công tybảo hiểm (Pháp)

Tuy nhiên ở một số quốc gia có quy chế rộng rãi, coi những doanh nghiệp kinhdoanh cho thuê tài chính như một công ty thương mại (Thái Lan) hay coi cho thuê tài

Trang 25

chính là một hình thức hỗ trợ bán sản phẩm của các công ty công nghiệp nếu hoạtđộng này được thực hiện qua các công ty con (dealers) chuyên kinh doanh cho thuêtài chính (Hoa Kỳ) Ở các nước đang phát triển, cho thuê tài chính được coi như kênhthu hút vốn và công nghệ, nên các công ty cho thuê tài chính hoạt động như một công

ty xuất nhập khẩu để tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các nước này thườngkhuyến khích các công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài (Hàn Quốc, TrungQuốc)

* Vốn pháp định : Luật pháp của các quốc gia đều quy định cụ thể về mức tối

thiểu của các công ty hoạt động cho thuê tài chính, tuỳ theo trình độ phát triển của nềnkinh tế nói chung và công nghiệp cho thuê tài chính nước đó nói riêng Hàn Quốc quyđịnh vốn điều lệ của công ty ít nhất phải 30 triệu Won và huy động dưới dạng tiềnmặt, Mỹ 17 triệu USD, Việt Nam ít nhất 55 tỷ VND đối với công ty 100% vốn trongnước và 5 triệu USD đối với công ty có vốn nước ngoài

* Nguồn vốn hoạt động: Hầu hết các quốc gia đều có những quy định hết sức

chặt chẽ về nguồn huy động vốn của các công ty Cho thuê tài chính Đa số các nướcđều cấm các công ty huy động tiền gửi của công chúng để tài trợ Nguồn vốn hoạtđộng của các tổ chức này có thể huy động từ các nguồn sau:

- Nguồn tín dụng của các tổ chức tài chính, các công ty có thể vay trung hạn,dài hạn từ ngân hàng, các công ty tài chính

- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn trong và ngoài nước

- Phát hành cổ phiếu, trái phiếu trung và dài hạn nhưng không quá 20 lần số dưvốn riêng

- Nguồn vốn hỗ trợ của các công ty bảo hiểm và các quỹ trợ cấp

- Nguồn vốn cấp từ ngân hàng mẹ, nếu các công ty cho thuê tài chính là chinhánh hay công ty con

1.3.1.2 Về giao dịch cho thuê tài chính

Trang 26

* Giá trị giao dịch: Nhìn chung các quốc gia đều có quy chế nới lỏng hạn mức

tín dụng của các công ty Cho thuê tài chính hơn các định chế tài chính khác, do đó giátrị giao dịch có thể rất lớn Các quốc gia quy định hạn mức tài trợ cho một hợp đồng

có thể dao động từ 20%- 200% vốn tự có của bên cho thuê Với mức quy định nhưvậy hợp đồng thuê có thể đạt giá trị rất lớn và linh hoạt Sở dĩ có sự ưu đãi này là dohoạt động của các Công ty Cho thuê tài chính có mức rủi ro về chênh lệch thời hạn tíndụng thấp hơn do không nhận tiền gửi và không có sự biến động lớn về vốn

* Đối tượng giao dịch: Các nước phát triển đều quy định tỷ lệ sử dụng thiết bị

sản xuất trong nước để tài trợ cho thuê (Mỹ, Pháp, Nhật Bản) Sở dĩ có quy định này

là do chính sách ưu tiên phát triển trong nước Ngoài ra tại Pháp, người thuê sẽ nhậnđược sự hỗ trợ đặc biệt nếu thiết bị cho thuê (đối tượng giao dịch) có liên quan đếncông nghệ tiết kiệm năng lượng, năng lượng mới, “ khôi phục” dự trữ khoáng sản

Tại các quốc gia đang phát triển, do nhu cầu nhập khẩu công nghệ mới từ cácnước phát triển nên thường không quy định tỷ lệ thiết bị sản xuất trong nước, mà cònmiễn thuế nhập khẩu cho những thiết bị nhập để tái xuất sản phẩm (Hàn Quốc, TrungQuốc )

* Quyền chọn mua : Các quốc gia quy định rất khác nhau về quyền này Ở

Singapore, quyền chọn mua bị cấm hoàn toàn Bởi vì họ cho rằng nếu không bỏquyền chọn mua thì không còn cơ sở để phân biệt giữa cho thuê tài chính và cho thuêtrả góp Trong khi đó tại Mỹ, Luật thống nhất thương mại quy định người mua có thểmua tài sản thuê, hay tiếp tục thuê và thời điểm kết thúc hợp đồng Giá mua hay giátrị hợp đồng thuê gia hạn phải theo giá trị hợp lý như giá bán trên thị trường tại thờiđiểm mua Nhìn chung Luật của nhiều quốc gia quy định hợp đồng thuê phải dự liệuquyền chọn mua cho người thuê khi kết thúc thời hạn thuê

* Phương thức thanh toán: Các quốc gia đều có những quy định rất linh hoạt

trong phương thức thanh toán Một số quốc gia cho phép điều chỉnh mức phí cho thuê

Trang 27

theo mức lạm phát Hầu hết các nước cho phép sử dụng cả nội tệ và ngoại tệ tronggiao dịch cho thuê tài chính Ở Hàn Quốc, các giao dịch tài trợ 100% bằng ngoại tệchiếm từ 40 – 50%

Công ty cho thuê tài chính phải đổi ngoại tệ ở các ngân hàng được phép đổingoại tệ Tỷ giá hối đoái được thả nổi nên trong giao dịch cho thuê tài chính có sửdụng các khoản tín dụng ngoại tệ thì phí cho thuê cũng được thả nổi theo tỷ giá hốiđoái đã được chuyển sang người thuê Tuy nhiên, Luật cho thuê tài chính của NhậtBản quy định nếu việc giao dịch diễn ra giữa các bên trong nước thì thanh toán bằngnội tệ Nếu một trong hai bên là nước ngoài thì đồng tiền thanh toán do hai bên thoảthuận Nhìn chung, sự linh hoạt trong phương thức thanh toán cùng với những quyđịnh về phí tài trợ một phần tạo nên động lực thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chínhphát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới

1.3.2 Kinh nghiệm rút ra từ Chế độ cho thuê tài chính ở Hàn Quốc

Những kinh nghiệm của Hàn Quốc trong lĩnh vực cho thuê tài chính đã cungcấp những bài học quý giá cho các nước mong muốn đẩy mạnh hoạt động cho thuê tàichính của mình, đặc biệt là đối với Việt Nam do có nhiều nét tương đồng với hoàncảnh của Hàn Quốc

Ngành công nghiệp cho thuê tài chính của Hàn Quốc phát triển như hiện nay donhiều nhân tố, nhưng quan trọng hơn cả là do Hàn Quốc đã có một Chế độ cho thuêtài chính đúng đắn và phù hợp

Ngành công nghiệp cho thuê tài chính của Hàn Quốc có thể nói là đã nhận đượcmột sự hỗ trợ rất lớn từ phía chính phủ Ngay từ đầu, Chính phủ Hàn Quốc đã có chủtrương xây dựng và phát triển công nghiệp cho thuê tài chính thành một lĩnh vực tàichính độc lập và riêng biệt , đồng thời ban hành các đạo luật và các văn bản cụ thể,từng bước hoàn thiện theo những bước tiến của ngành công nghiệp này

Trang 28

Điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính ở Hàn Quốc là Luật kinh doanh chothuê, Nghị định số 12208 của Tổng thống hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh chothuê và Quy định của Bộ tài chính số 1882, ngày 18/5/1992 hướng dẫn thi hành Nghịđịnh số 12208 của Tổng thống Ngoài ra, một số điều luật của các đạo luật khác nhưLuật thương mại, Luật thuế công ty, Luật hải quan, Luật ngoại thương được dẫnchiếu tới trong Luật kinh doanh cho thuê cũng có tác dụng chi phối hoạt động chothuê taì chính.

Ngay trong điều 1 của Luật kinh doanh cho thuê Hàn Quốc, mục đích hỗ trợđối với hoạt động cho thuê đã được quy định rõ: “Mục đích của đạo luật này là ủng hộviệc đầu tư vào thiết bị của các công ty công nghiệp nhằm giúp đỡ phát triển nền kinh

tế quốc dân thông qua việc hỗ trợ cho sự phát triển lành mạnh của công nghiệp chothuê và bằng cách điều chỉnh hợp lý hoạt động của nó”

Luật của Hàn Quốc không phân biệt đối xử giữa hoạt động cho thuê tài chính

và các hình thức tài trợ khác Vì vậy, các công ty cho thuê tài chính không phải nộpthuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, và được hưởng cùng một mức thuế lợi tức vớicác ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, Điều đó đã giúp tạo ra một môitrường cạnh tranh lành mạnh giữa các công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tàichính, tín dụng vốn có trên thị trường Hàn Quốc Bên cạnh đó, Luật cũng đưa ra cácbiện pháp khuyến khích đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnhvực cho thuê tài chính Một trong những biện pháp được đưa ra là khuyến khích vềthuế:

Công ty cho thuê tài chính được miễn thuế lợi tức trong 5 năm hoạt động đầutiên, ngoài ra, còn được giảm 50% thuế đánh vào cổ tức chia cho các cổ đông nướcngoài Tác dụng của những biện pháp nói trên đặc biệt có ý nghĩa trong thời gian mớiđưa loại hình cho thuê tài chính vào nền kinh tế

Trang 29

Theo các quy định của Luật Hàn Quốc, các doanh nghiệp khi sử dụng hình thứcthuê tài chính để tài trợ cho nhu cầu đầu tư máy móc thiết bị được hưởng mọi quyềnlợi như khi họ trực tiếp mua sắm thiết bị máy mócbằng nguồn vốn của minhf hoặcnguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác Cách thức đối xử như vậy đã tác độngđến quyết định của các doanh nghiệp khi lựa chọn hình thức tài trợ cho nhu cầu muasắm, đổi mới máy móc thiết bị của mình Sử dụng cho thuê tài chính hay hình thứckhác thì quyền lợi pháp lý của doanh nghiệp vẫn vậy, trong khi cho thuê tài chính lại

có nhiều ưu điểm hơn các hình thức tài trợ thông thường, như: tỷ lệ tài trợ cao, khôngyêu cầu tài sản thế chấp (luật của Hàn Quốc không cho phép các công ty cho thuê yêucầu thế chấp, trừ trường hợp tình trạng tài chính của doanh nghiệp đi thuê quá xấu, vàngay cả trong trường hợp đó, mức thế chấp đối với mỗi giao dịch cũng bị khống chếkhông vượt quá 5% chi phí mua thiết bị cho thuê), ra quyết định nhanh chóng, linhhoạt trong thanh toán tiền thuê, nên cũng dễ hiểu làm sao cho thuê tài chính lại được

sự không ăn khớp giữa vốn vay với các thời hạn cho thuê Bên cạnh đó, các công tycho thuê tài chính của Hàn Quốc còn được tạo điều kiện thuận lợi trong việc đi vaycác tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài Tiền lãi của khoản vay nước ngoài đượcmiễn thuế chuyển tiền ra nước ngoài

Trang 30

Ngoài ra, Luật cũng cho phép các công ty cho thuê tài chính “tiếp cận” với cácquỹ khuyến khích đầu tư của Hàn Quốc, như: Quỹ đầu tư quốc gia, Quỹ nội địa hoámáy móc, Quỹ tín dụng ngoại tệ đặc biệt, Công ty cho thuê tài chính được hưởng sự

ưu tiên đặc biệt này khi doanh nghiệp đi thuê thoả mãn các điều kiện để được tài trợ

từ các quỹ đó Chỉ cần xuất trình cho tổ chức quản lý các quỹ trên hợp đồng cho thuêtài chính và các tài liệu chứng nhận người đi thuê thuộc đối tượng được tài trợ, công

ty cho thuê tài chính sẽ được sử dụng nguồn vốn từ các quỹ này để tiến hành giaodịch cho thuê (Điều 7.4, Luật kinh doanh cho thuê và Điều 6.3, Nghị định Tổngthống) Biện pháp này đã giúp các công ty cho thuê tài chính Hàn Quốc tháo gỡ khókhăn trong huy động nguồn vốn hoạt động, ngay cả trong bối cảnh chính phủ HànQuốc thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát, các công ty chothuê tài chính Hàn Quốc không chỉ đứng vững mà còn có điều kiện để phát triển hơnnữa

Luật của Hàn Quốc cũng quy định rất linh hoạt về vấn đề thanh toán tiền thuê

và cho phép các công ty cho thuê tài chính ấn định đồng tiền thanh toán là đồng ngoại

tệ đã sử dụng để nhập khẩu thiết bị cho thuê, nhờ đó, giúp các công ty này giảm bớtrủi ro hối đoái và được chủ động về nguồn vốn ngoại tệ sử dụng trong quá trình kinhdoanh Luật kinh doanh cho thuê của Hàn Quốc còn cho phép các công ty cho thuê tàichính được hưởng miễn trừ từ nhiều luật khác, các thủ tục liên quan đều được quyđịnh đơn giản hoá

1.3.3 Kinh nghiệm rút ra từ chế độ cho thuê tài chính ở Đức

Ở Đức không có bất cứ một quy định hạn chế nào điều chỉnh các hoạt động chothuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính

Các công ty cho thuê tài chính không cầm giữ (Non-captive) không phải là các

ngân hàng và vì vậy không chịu bất cứ các quy định ràng buộc nào kể cả các quy định

về hoạt động ngân hàng Tuy nhiên các công ty thuộc sở hữu các ngân hàng có thể

Trang 31

gián tiếp chịu sự quy định về hoạt động của ngân hàng bởi vì các hoạt động của cáccông ty này thường phối hợp với hoạt động tài chính của các công ty mẹ ( là các ngânhàng) với mục đích chung của cả tập đoàn Trước đây không lâu đã xuất hiện xuhướng trong đó tất cả các công ty tài chính trực thuộc các ngân hàng lập các báo cáo

về các giao dịch tài chính vượt quá ngưỡng 3 triệu DM (quy định về các khoản tíndụng có quy mô lớn) Do theo Luật dân sự quan điểm này về cơ bản là sai Nhìnchung ở Đức thì cho thuê tài chính không phải là một loại hình tín dụng, và do vậy nókhông phải chịu sự giám sát của các ngân hàng Trong khi đó các nhà lập pháp lạichấp nhận quan điểm này và huỷ bỏ các kế hoạch trước đây

Theo Luật dân sự của Đức, các hợp đồng cho thuê tài chính về cơ bản được coi

là các hợp đồng cho thuê, bởi vì nó điều tiết hình thức mà tài sản cho thuê được vốnhoá cả về mặt thương mại và tài khoản thuế Khái niệm về sở hữu kinh tế được nêutrong Mục 39 của cuốn Mã số tài chính ( Fiscal Code)ở Đức Theo quy định nàyngười sở hữu là người mà theo Luật Dân sự , sẽ tách biệt giữa người sở hữu thực tếtheo pháp luật với người sử dụng tài sản Nhìn chung , người cho thuê vừa là người sởhữu về mặt kinh tế vừa là người sở hữu về mặt pháp luật đối với tài sản cho thuê Cómột trường hợp ngoại lệ xảy ra khi người đi thuê có thể không cho phép người chothuê có bất cứ ảnh hưởng nào đối với tài sản cho thuê tài chính trong một thời giandài Trong trường hợp này, sở hữu kinh tế đối với tài sản cho thuê được xem như làthuộc về người đi thuê

Các quy định về cho thuê tài chính ở Đức gồm : Nghị định về cho thuê tàichính thanh toán toàn bộ được ban hành năm 1971 và 1972 và Nghị định về cho thuêtài chính thanh toán từng phần ban hành 1975 và 1991

Trong mọi trường hợp, người sở hữu kinh tế phải chuyển thành vốn tài sản đithuê vào bảng cân đối tài sản Khi một hợp đồng cho thuê tài chính không phù hợpvới các quy định của nghị định về cho thuê tài chính cũng như không quy định về việc

Trang 32

chuyển giao sở hữu kinh tế của tài sản cho thuê cho người đi thuê thì hợp đồng đóđược coi là hợp đồng vì mục đích kế toán và được xếp vào loại hợp đồng mua bán tíndụng Các hợp đồng cho thuê đặc biệt, theo đó chỉ người đi thuê được quyền sử dụngtài sản vì mục đích kinh tế, cũng được xem là hợp đồng mua bán tín dụng.

Ở Đức, bảng cân đối tài sản đóng vai trò quyết định cho việc lập bảng cân đốithuế, những đặc điểm về tài chính của hợp đồng cho thuê tài chính không thể tách biệtgiữa đặc điểm thương mại và luật pháp của nó Khi một hợp đồng quy định việcchuyển giao quyền sở hữu kinh tế về tài sản thuê cho người đi thuê, tài sản đó phảiđược vốn hoá trong bảng cân đối tài sản cũng như thuế của người đi thuê

Việc vốn hoá tài sản mà người đi thuê thực hiện thông thường mang lại chongười đi thuê bớt đi những gánh nặng về tài chính, so với tình hình khi tài sản thuêcòn nằm trong tài sản của người cho thuê Điều này giải thích tại sao các công ty rất

ưa thích việc thuê tài sản

Khi tài sản đi thuê được vốn hoá vào tài sản của người đi thuê, thì đối vớingười cho thuê khoản thu nhập từ tiền thuê sẽ được xem là chi phí khấu trừ vào thuế.Trong trường hợp khi tài sản được vốn hoá vào bảng cân đối tài sản của người đi thuê

và khi hợp đồng cho thuê được xem là hợp đồng mua bán tín dụng, thu nhập từ tiềnthuê sẽ không còn được xem là chi phí khấu trừ vào thuế và người đi thuê và người đithuê trở thành đối tượng phải chịu thuế Số thuế lớn vào những thuận lợi ngoài bảng

kế toán mang lại từ việc vốn hoá tài sản của người đi thuê có nghĩa là người cho thuê

sẽ tránh sử dụng các hợp đồng có hình thức là hợp đồng mua bán

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG THỜI

GIAN QUA

2.1 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Tình hình hoạt động của các công ty CTTC và thị trường CTTC tại Việt Nam

Theo quyết định số 724/ QĐ- NH9 ngày 14/10/1994 của thống đốc Ngân hàngNgoại thương Việt Nam và quyết định số 274/ TTCB ngày 5/11/1994 của Tổng giámđốc Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), công ty Thuê mua & Đầu tưcủa Vietcombank chính thức đi vào hoạt động từ tháng 1/1995, là công ty cho thuê tàichính đầu tiên của Việt Nam

Ngày 25/3/1998, thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 108/1998/ NHNN5 về thành lập Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam(VCB-Lease) Công ty có số vốn điều lệ là 55 tỷ VND và thời gian đăng ký hoạt động

QĐ-là 70 năm Bước vào hoạt động chính thức từ 23/7/1998, công ty đã tập trung vào việcđáp ứng nhu cầu thuê tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Cuối năm 1995, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng đãthành lập công ty cho thuê tài chính hoạt động tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.Công ty này có vốn pháp định 5 triệu USD Công ty Cho thuê tài chính BIDV ưu tiêncho những dự án có giá trị khoảng vài trăm ngàn USD nhưng có thể cho thuê tài sảnvới giá trị cao nhất là 1,5 triệu USD trở xuống

Ngày 16/4/2001, BIDV đã tổ chức lễ khai trương chi nhánh công ty cho thuê tàichính thuộc ngân hàng này tại thành phố Hồ Chí Minh Hiện công ty có hơn 50 kháchhàng, trong đó có một nửa là các khách hàng quốc doanh

Ngày đăng: 01/11/2014, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Thông tư số 08/2001/TT- NHNN ngày 6/9/2001 Hướng dẫn thực hiện Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty Cho thuê tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 08/2001/TT- NHNN
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2001
2. Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 Về tổ chức và hoạt động của công ty Cho thuê tài chính Khác
4. Nghị định 82/1998/NĐ-CP ngày 3/10/1998 của Chính phủ ban hành vốn pháp định của các tổ chức tín dụng Khác
5. Nghị định số 64 / CP ngày 9/ 10/ 1995 Ban hành Quy chế Tạm thời về Tổ chức và hoạt động của Công ty Cho thuê tài chính tại Việt Nam Khác
6. Thông tư của Bộ Tài Chính số 49/1999/TT/BTC ngày 6/5/1999 Hướng dẫn thực hiện luật thuế GTGT đối với hoạt động Cho thuê tài chính Khác
7. Quyết định của thống đốc Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam số 222/ QĐ- NH2 ngày 14/7/1997 Về việc bổ sung , sửa đổi một số tài khoản vào hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức Tín dụng Khác
8. Thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 03/ TT- NH2 ngày 14/7/1997 hướng dẫn hạch toán Nghiệp vụ Cho thuê tài chính Khác
9. Thông tư số 07/2006/TT-NHNN ngay 07/09/2006 hướng dẫn hoạt động mua và cho thuê lại theo hình thức CTTC Khác
10. Quyết định số 439/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và các văn bản sửa đổi, bổ sung có liên quan Khác
11. Nghị định 95/2008/NĐ –CP ngày 25/08/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều trong Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Lợi nhuận trước thuế của các hội viên Hiệp hội CTTC VN - giải pháp hoàn thiện cơ chế cho thuê tài chính tại việt nam
Bảng 2.1 Lợi nhuận trước thuế của các hội viên Hiệp hội CTTC VN (Trang 35)
Bảng 2.2 Thực trạng về số lượng hợp đồng cho thuê tài chính đăng ký - giải pháp hoàn thiện cơ chế cho thuê tài chính tại việt nam
Bảng 2.2 Thực trạng về số lượng hợp đồng cho thuê tài chính đăng ký (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w