1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành

107 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 248,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu khách hàng không có đủ tư cách pháp lý, trong quá trình cho vay vốn của ngân hàng mà doanh nghiệp hoạt động SXKDkhông hiệu quả sẽ khó có thể hoàn trả được nợ gốc và lãi đúng hạn, khi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn là Thạc

sĩ Phạm Thị Bảo Oanh, cô đã luôn giúp đỡ, trau dồi thêm kiến thức, chỉ ra những thiếusót và giúp em có những định hướng tốt hơn trong suốt thời gian em thực hiện làmkhóa luận Em cũng xin đặc biệt cảm ơn anh Phạm Hoàng Anh - nhân viên phòng kinhdoanh Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Thành đãgiúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu hữu ích tạo điều kiện cho em hoàn thành khóaluận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Ngày 04 tháng 11 năm 2012

Sinh viên Cung Thị Minh Đức

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung những năm quaphát triển mạnh mẽ, hỗ trợ tích cực cho phát triển kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên,thực tế cũng chứng minh nền kinh tế bị tác động tiêu cực, thậm chí đi đến khủnghoảng nếu hệ thống ngân hàng hoạt động thiếu kiểm soát, không đánh giá đúng và đủcác dạng rủi ro tiềm ẩn Đặc trưng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là tỷtrọng thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm trên 70% trong tổng thu hoạt động củangân hàng Chính vì thế mà rủi ro trong cho vay cũng tiềm ẩn nguy cơ gây tổn thấtlớn Đặc biệt trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế phát triển nhanh chóng,nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp không ngừng gia tăng và luôn chiếm tỷ trọnglớn nhất trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng Hoạt động cho vay gia tăng mạnh

mẽ thì rủi ro trong cho vay cũng ngày càng phức tạp hơn về nguyên nhân, hình thức vàphạm vi tác động Rủi ro trong cho vay ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nói chung vàhoạt động ngân hàng nói riêng, trong đó phải kể đến rủi ro trong cho vay doanhnghiệp Do tác động của rủi ro trong cho vay đến kết quả hoạt động của hệ thống ngânhàng nên quản trị rủi ro trong cho vay là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay,được sự quan tâm chú ý đặc biệt của các ngân hàng và các cơ quan quản lý Nhà nước

Thời gian gần đây, tỷ lệ nợ xấu cho vay doanh nghiệp của các ngân hàngthương mại Việt Nam nói chung và Agribank Hà Thành nói riêng có dấu hiệu tăng cao

và việc quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Agribank Hà Thành cũng chưathực sự được quan tâm đúng mức Việc tỷ lệ nợ xấu tăng cao ảnh hưởng đến uy tín củangân hàng cũng như việc hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì vậy, công tác quảntrị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp đang là một bài toán lớn không chỉ với bản thânchi nhánh mà còn của toàn hệ thống và các cấp, ngành khác

Sau một thời gian thực tập tại chi nhánh cùng với những kiến thức đã được họctập tại trường, em đã nhận thức rõ được tầm quan trọng và tiềm năng của vấn đề trên

có ý nghĩa đến sự phát triển lâu dài của chi nhánh Chính vì vậy, em quyết định chọn

đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Thành” làm đề tài

cho khóa luận tốt nghiệp bậc đại học của mình

2.Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào ba nội dung chính sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động cho vay doanh nghiệp và quản trị rủi rotrong cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

Trang 5

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp và quản trị rủi

ro trong cho vay doanh nghiệp của Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát TriểnNông Thôn Hà Thành giai đoạn từ năm 2009 – 2011

- Đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trongcho vay khách hàng doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp Và PhátTriển Nông Thôn Hà Thành

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động cho vay doanh nghiệp và quản trị

rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và PhátTriển Nông Thôn Hà Thành

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt

động cho vay doanh nghiệp và quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Chinhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Thành giai đoạn năm

2009 – 2011

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, miêu

tả, tổng hợp số liệu và so sánh số liệu giữa các năm, các chỉ tiêu để thấy được nhữngkết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quản trị rủi ro Đồng thời, khóa luậncòn kết hợp sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá thực trạng, tìm ranguyên nhân và đưa ra phương hướng giải quyết

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, danhmục chữ viết tắt, phụ lục, kết cấu của khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Hà Thành.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn

Hà Thành.

Trang 6

Bảng AnhYên NhậtNgân hàng nhà nướcNgân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông ThônNgân hàng thương mại

Trách nhiệm hữu hạnTài sản cố địnhTài sản đảm bảo

Đô la MỹĐồng Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY DOANH

NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.Tổng quan về hoạt động cho vay doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm cho vay

Cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh tế vớinhau, trong đó chủ thể cung ứng vốn chuyển sang cho chủ thể đang tạm thời thiếu vốnquyền sử dụng một lượng giá trị trong một thời gian nhất định, sau thời gian đã thỏathuận chủ thể đi vay phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu gồm cả gốc

và phần lãi cho chủ thể cho vay Trong đó, lãi cho vay tỷ lệ với giá trị khoản vay, thờigian vay và mức độ rủi ro trong cho vay khách hàng

Theo Wikipedia: “Cho vay là việc bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho

bên đi vay, trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay theo một thời hạn đã thỏa thuận”.

Theo giáo trình “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại” của trường Đại học Thăng

Long, do PGS.TS Mai Văn Bạn làm chủ biên: “Cho vay là quan hệ giữa một bên là

người cho vay bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên người vay để sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn”.

Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng,

theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.

Nhu cầu sử dụng vốn phục vụ quá trình SXKD của các doanh nghiệp là rấtlớn Tuy nhiên, việc tìm kiếm nguồn vốn trực tiếp trên thị trường tài chính của cácdoanh nghiệp gặp nhiều hạn chế, không đáp ứng đủ lượng vốn cần thiết cho doanhnghiệp Vì vậy, vay mượn vốn tại ngân hàng trở thành kênh huy động vốn hữu hiệucho các doanh nghiệp nói chung trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởngcủa các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế CVDN luôn chiếm tỷ trọnglớn trong hoạt động cho vay đem lại nguồn thu lớn nhất cho mỗi ngân hàng Hoạtđộng CVDN ngày càng đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp vàcho cả ngân hàng Vì vậy, việc làm rõ khái niệm CVDN có ý nghĩa đặc biệt quantrọng

Như vậy, từ khái niệm cho vay và nhu cầu vay mượn của các doanh nghiệp,

định nghĩa được đưa ra: “Cho vay doanh nghiệp là một trong những hình thức cho

Trang 9

vay của NHTM, theo đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.

1.1.2 Nguyên tắc cho vay

Cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cũng cao nhất cho NHTM

Vì vậy, để đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời hoạt động cho vay của NHTMdựa trên một số nguyên tắc nhất định sau:

Một là, khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay.

Ngân hàng cho vay theo nhu cầu vốn để thực hiện kế hoạch SXKD của kháchhàng Khách hàng phải cam kết sử dụng khoản vốn vay theo đúng mục đích đã thỏathuận với ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật Mục đích tài trợ được ghitrong hợp đồng cho vay đảm bảo ngân hàng tài trợ cho các hoạt động không trái luậtpháp, phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển của ngân hàng cũng như chủ trươngxây dựng phát triển đất nước Mục đích sử dụng vốn còn là căn cứ thẩm định để đưa raphán quyết cấp tín dụng của ngân hàng Việc khách hàng sử dụng vốn đúng mục đíchảnh hưởng rất lớn tới khả năng thu hồi vốn vay của ngân hàng Cũng như là cơ sở đểsau khi giải ngân, ngân hàng có căn cứ giám sát hoạt động sử dụng vốn của kháchhàng có sử dụng đúng mục đích không, thông qua đó đảm bảo khoản vay có hiệu quả

Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn, thực hiện được mục tiêu SXKD, đảm bảo khả năng hoàn trả cho ngânhàng Từ đó củng cố, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng, tạo mối quan

hệ tín dụng tốt đẹp và lâu dài giữa ngân hàng với khách hàng

Hai là, khách hàng phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận.

Đây là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp vay vốn và cũng là điều kiện đểngân hàng tồn tại và phát triển Tùy thuộc vào phương thức cho vay mà khách hàng cóthể trả vốn và lãi theo những cách thức khác nhau: trả lãi hàng tháng, trả gốc cuối kì,trả theo niên kim cố định, trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay… theo sự thỏathuận giữa hai bên Xuất phát từ bản chất của quan hệ cho vay là quan hệ chuyểnnhượng tạm thời quyền sử dụng vốn nên sau một thời gian nhất định vốn vay phảiđược hoàn trả cả gốc lẫn lãi Nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay chủ yếu làvốn huy động từ tiền gửi của các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp Sau một thờigian sử dụng vốn vay, khách hàng phải hoàn trả vốn và chi phí sử dụng vốn như đãcam kết Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu người xin vay phải thực hiện đúng camkết hoàn trả vốn và lãi đầy đủ và đúng hạn Đối với phương án SXKD thì nguồn trả

Trang 10

nợ chính của doanh nghiệp là từ doanh thu bán hàng còn đối với dự án SXKD thìnguồn trả nợ chính của doanh nghiệp là lợi nhuận sau thuế và khấu hao TSCĐ.

1.1.3 Điều kiện cho vay

CVDN là một trong các sản phẩm cho vay của ngân hàng Doanh nghiệp chỉ cóthể vay vốn của ngân hàng khi thỏa mãn tất cả các điều kiện vay vốn theo quy địnhcủa pháp luật, bao gồm:

Thứ nhất, khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi nhân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Quan hệ cho vay giữa ngân hàng với khách hàng là quan hệ được pháp luật bảo

vệ Vì vậy, nó phải được lập trên cơ sở quy định của luật pháp Các chủ thể tham giaquan hệ vay mượn phải có đủ tư cách pháp lý Hơn thế trong quan hệ cho vay sẽ phátsinh sự chuyển giao và giao dịch về tài sản do đó cần có sự xác nhận của các bên thamgia hợp đồng cho vay theo đúng quy định của luật pháp Như vậy, khách hàng phải có

đủ tư cách pháp lý để thực hiện giao dịch Nếu khách hàng không có đủ tư cách pháp

lý, trong quá trình cho vay vốn của ngân hàng mà doanh nghiệp hoạt động SXKDkhông hiệu quả sẽ khó có thể hoàn trả được nợ gốc và lãi đúng hạn, khi đó sẽ gây khókhăn cho ngân hàng trong quá trình thu hồi nợ và có thể phải nhờ đến sự can thiệp củapháp luật Trong trường hợp này, ngân hàng có quyền khởi kiện khách hàng trướcpháp luật, lập hồ sơ đề nghị tòa án tịch thu tài sản để có thể thu hồi được nợ theo quyđịnh của pháp luật Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp không đáp ứng đủ điều kiện pháp

lý thì trong trường hợp doanh nghiệp không hoàn trả nợ gốc và lãi mà ngân hàng khởikiện doanh nghiệp trước pháp luật thì khi đó sẽ không đảm bảo ngân hàng có thể thuhồi được hoàn toàn khoản vay đó

Thứ hai, khách hàng phải có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.

Vốn vay phải được sử dụng hợp pháp tức là không vi phạm pháp luật TheoLuật các Tổ chức tín dụng năm 2010, ngân hàng sẽ không cho khách hàng vay vốn đểhoạt động SXKD các mặt hàng mà pháp luật cấm Mục đích sử dụng vốn vay phải phùhợp với cam kết trong đơn xin vay vốn và đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, tổchức kinh tế Vì khi sử dụng vốn bất hợp pháp thì các tài sản đó sẽ bị phong tỏa hoặc

bị tịch thu từ đó ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng Ngoài

ra, khi vốn vay sử dụng bất hợp pháp thì tư cách pháp lý của khách hàng có thể bị mất

đi do đó ảnh hưởng đến quan hệ cho vay hợp pháp giữa ngân hàng với khách hàng

Thứ ba, khách hàng phải có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo hoàn trả tiền vay đúng hạn đã cam kết.

Khi đề cập đến khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng vay vốn, đối vớidoanh nghiệp thì thông thường ngân hàng chú trọng đến báo cáo kết quả hoạt động

Trang 11

SXKD và khả năng quản lý tốt; chứng minh sự phát triển ổn định của doanh nghiệp;đảm bảo cho doanh nghiệp có cơ sở vững chắc về tài chính để đảm bảo cho cam kếthoàn trả tiền vay đúng hạn Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có tình hình tài sản vànguồn vốn ổn định để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động thường xuyên, liên tục và tạođiều kiện cho doanh nghiệp có khả năng phát triển trong tương lai cũng như việc trảtiền vay đúng hạn đã cam kết Do đó, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có năng lựctài chính lành mạnh để khách hàng duy trì và phát triển hoạt động SXKD cũng nhưviệc đầu tư SXKD có hiệu quả để khách hàng đảm bảo được trả nợ cho ngân hàng đầy

và lãi của ngân hàng cũng như gây ra rủi ro cho ngân hàng

Trong hoạt động cho vay của NHTM, nguồn thu từ phương án và dự án vayvốn được coi là nguồn thu “thứ nhất” đảm bảo an toàn vốn cũng như phát triển liên tụccủa khách hàng và ngân hàng Bởi vì, khi kế hoạch SXKD có hiệu quả tức là có nguồnthu thì khách hàng sẽ đảm bảo được khả năng thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng.Đây là điều kiện liên quan đến quyết định cho vay của ngân hàng

Thứ năm, khách hàng phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo đúng quy định.

Đây là yếu tố mà mọi ngân hàng đều phải quan tâm vì đảm bảo tiền vay là công

cụ đảm bảo trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của khách hàng trong quan

hệ vay vốn Đảm bảo tiền vay còn là nguồn thu nợ “thứ hai” cho NHTM (trong trườnghợp khách hàng không trả được khoản vay) Tuy nhiên, đối với hình thức CVDN,nhiều doanh nghiệp là khách hàng truyền thống của ngân hàng nên khi cho vay khôngcần có TSĐB mà cho vay dựa trên uy tín của doanh nghiệp (cho vay tín chấp) Trongtrường hợp này thì ngân hàng cần đặc biệt quan tâm đến hiệu quả kinh doanh màdoanh nghiệp thu được, công tác quản lý của họ và thái độ, uy tín của khách hàngtrong việc trả nợ

1.1.4 Đặc điểm cho vay doanh nghiệp

1.1.4.1 Đối tượng vay vốn

CVDN là hình thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cho khách hàng đểthực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và mua sắm tài

Trang 12

sản cố định Do vậy, đối tượng khách hàng của khoản vay này là các doanh nghiệp.Các doanh nghiệp bao gồm doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu

sử dụng vốn vay phục vụ hoạt động SXKD hợp pháp

1.1.4.2 Nhu cầu vay vốn

Xuất phát từ mục đích kinh doanh để tạo ra nguồn thu, vì vậy mà doanh nghiệpđến ngân hàng vay vốn để phục vụ cho các nhu cầu bổ sung vốn lưu động; mua sắmmáy móc thiết bị, đầu tư mở rộng hoạt động SXKD hoặc đầu tư dự án mới nhưng chưa

đủ nguồn lực tài chính để thực hiện

Theo luật các Tổ chức tín dụng, đối với những nhu cầu vay vốn để mua bán,thanh toán và đáp ứng nhu cầu tài chính mà pháp luật cấm hoặc không phù hợp vớingành nghề đăng ký kinh doanh thì ngân hàng tuyệt đối không được cho vay

1.1.4.3 Thời hạn cho vay

Thời hạn vay vốn căn cứ vào kế hoạch SXKD, đặc điểm luân chuyển vốn, chu

kỳ SXKD, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư mà ngân hàng đưa ra thời hạn vaykhá đa dạng Thời hạn vay bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh: kế hoạch SXKD được chia làm 2

loại: phương án SXKD và dự án SXKD Đối với phương án SXKD thì thời gian thựchiện của phương án thường trong ngắn hạn nên ngân hàng cho khách hàng vay vớithời hạn từ 1 năm trở xuống Còn đối với dự án SXKD thì khách hàng có thể vay vớithời hạn trên 1 năm đến 5 năm đối với dự án trung hạn, trên 5 năm đối với dự án dài hạn

Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn: vốn kinh doanh bao gồm vốn cố định

và vốn lưu động Tùy thuộc vào mục đích vay vốn của khách hàng mà ngân hàng sẽđưa ra thời hạn cho vay hợp lý Đối với việc vay vốn để mua sắm tài sản cố định lànhững tư liệu lao động có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD nên thời hạnvay sẽ phụ thuộc vào thời gian khấu hao của TSCĐ Đối với việc vay vốn lưu độngphục vụ SXKD trong ngắn hạn thì ngân hàng sẽ cho vay với thời hạn là từ 1 năm trởxuống

Căn cứ vào chu kỳ kinh doanh: chu kỳ kinh doanh là sự biến động của các

hoạt động kinh tế ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định, trong đó các giai đoạn tăngtrưởng và các giai đoạn suy giảm luân chuyển lẫn nhau không ngừng Vì vậy, thời hạncho vay phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh ngắn hay dài sẽ lần lượt được áp dụng vớithời hạn cho vay ngắn hạn hoặc trong trung và dài hạn

Căn cứ vào thời hạn thu hồi vốn: đối với những phương án SXKD thì kế

hoạch thực hiện trong thời gian ngắn nên thời gian thu hồi vốn sẽ nhanh Vậy thời hạncho vay sẽ ở mức dưới 1 năm Còn với những dự án SXKD thì ngược lại

Trang 13

Thời hạn cho vay là yếu tố quan trọng mà ngay từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốncủa khách hàng, ngân hàng đã phải xác định khoản vay này là ngắn hạn, trung hạn haydài hạn, để từ đó ngân hàng áp dụng các mức lãi suất sao cho phù hợp với mức độ rủi

ro của từng khoản vay

1.1.4.4 Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngânhàng Lãi suất cho vay phải được thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trong hợpđồng cho vay trên cơ sở phù hợp với quy định của nhà nước trong từng thời kỳ Lãisuất CVDN thường được các ngân hàng đưa ra với mức lãi suất linh hoạt, có nhiềumức phù hợp với phương thức và loại cho vay Doanh nghiệp là chủ thể lớn trong nềnkinh tế nên ngân hàng thường có chính sách lãi suất và điều kiện cho vay ưu đãi Tuynhiên, việc áp dụng lãi suất cho vay còn phụ thuộc vào mối quan hệ của khách hàngvới ngân hàng và mức độ rủi ro của khoản vay cũng như mức độ rủi ro trong hoạtđộng SXKD của khách hàng Chẳng hạn như đối với khách hàng truyền thống đã có

uy tín với ngân hàng thì ngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất ưu đãi nhưng đối với kháchhàng đến xin vay lần đầu thì ngân hàng có thể áp dụng với mức lãi suất cao hơn Bêncạnh đó, mức lãi suất cho vay cao sẽ được ngân hàng áp dụng cho những kế hoạchSXKD không mấy khả thi và hiệu quả và những doanh nghiệp có năng lực tài chínhchưa đạt tiêu chuẩn trong quá trình thẩm định

1.1.4.5 Đảm bảo tiền vay trong cho vay doanh nghiệp

Đảm bảo tiền vay là hệ thống các biện pháp ngân hàng đề ra để tạo cơ sở kinh

tế, pháp lý, đảm bảo cho ngân hàng thu hồi nợ gốc và lãi trong tương lai Ngân hàng

có thể áp dụng biện pháp đảm bảo linh hoạt, cả đảm bảo bằng tài sản và không đảmbảo bằng tài sản (tín chấp) để tạo cơ sở thu hồi nợ Kế hoạch kinh doanh khả thi, hiệuquả là tiêu chí quyết định trong việc xem xét cho vay Do đó, không phải bất cứ mộtmón vay nào cũng phải có tài sản đảm bảo Đặc biệt là đối với khách hàng truyềnthống và có tín nhiệm cao với ngân hàng Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, mọihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn chứa đựng khả năng rủi ro, điều đó rất cóthể kéo theo rủi ro của ngân hàng cho vay vốn Bởi vậy trên thực tế, cho vay có đảmbảo bằng tài sản được coi là điều kiện quan trọng trong việc cho vay của NHTM.Đồng thời việc yêu cầu khách hàng vay vốn phải có TSĐB cho nghĩa vụ trả nợ sẽ nângcao tính chịu trách nhiệm và chia sẻ rủi ro của doanh nghiệp với ngân hàng Do đó,ngân hàng thường áp dụng các biện pháp đảm bảo tiền vay, đa dạng về hình thức như:thế chấp, cầm cố tài sản, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay và bảo lãnh củabên thứ ba Ngoài ra, đối với doanh nghiệp đã có uy tín với ngân hàng thì có thể chovay tín chấp - là hình thức cho vay dựa trên uy tín của khách hàng mà không cần tài

Trang 14

sản đảm bảo Hiện nay, theo Nghị định 85/2003/NĐ-CP ngày 25/10/2003 của Chínhphủ, những khách hàng vay vốn có đủ những điều kiện sau thì mới được vay vốnkhông có tài sản đảm bảo:

- Sử dụng vốn vay có hiệu quả, trả nợ gốc, lãi vốn vay đúng hạn

- Có kế hoạch SXKD khả thi hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật

- Có khả năng tài chính để trả nợ vay

Vì vậy, tỷ lệ cho vay có đảm bảo bằng tài sản có xu hướng gia tăng, góp phầngiảm thiểu tổn thất khi rủi ro xảy ra

1.1.5 Phân loại cho vay doanh nghiệp

1.1.5.1 Phân loại theo thời gian

Phân theo tiêu chí thời gian, CVDN bao gồm: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Cho vay trong ngắn hạn: là việc ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp

có nhu cầu sử dụng vốn từ 12 tháng trở xuống, chủ yếu phục vụ cho việc bổ sung vốnlưu động bị thiếu của doanh nghiệp và SXKD trong ngắn hạn Mức độ rủi ro của hoạtđộng cho vay này là thấp vì doanh nghiệp vay dùng chính nguồn thu được từ sử dụngvốn vay để trả nợ

Cho vay trong trung hạn: là việc ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp

có nhu cầu sử dụng vốn trên 12 tháng đến 60 tháng Loại này được cấp chủ yếu phục

vụ cho việc đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệhoặc mở rộng SXKD

Cho vay dài hạn: là việc ngân hàng tài trợ vốn cho các doanh nghiệp có nhu

cầu sử dụng vốn trên 60 tháng Loại hình cho vay này chủ yếu phục vụ cho xây dựng

cơ bản, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào các dự án có quy mô lớn Loại hìnhcho vay này tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất vì thời gian thực hiện dài nên chịu ảnh hưởngnhiều của sự biến động kinh tế và vốn vay tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD nên việchoàn trả được thực hiện trong nhiều chu kỳ

1.1.5.2 Phân loại theo mục đích sử dụng

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, CVDN được chia thành 5 loại:

Cho vay bổ sung vốn lưu động: Là việc ngân hàng CVDN, đáp ứng nhu cầu

bổ sung vốn lưu động, phục vụ hoạt động SXKD trong ngắn hạn

Cho vay mua sắm tài sản cố định: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho doanh

nghiệp mua sắm các thiết bị, máy móc, công nghệ phục vụ cho việc tái đầu tư, mởrộng sản xuất hoặc đầu tư lần đầu

Cho vay dự án cơ sở hạ tầng: Là các khoản vay nhằm tài trợ cho doanh

nghiệp chi phí để thực hiện các dự án và đầu tư vào cơ sở hạ tầng để tăng lợi nhuận vàgóp phần xây dựng phát triển đất nước

Trang 15

Cho vay đầu tư bất động sản: Là các khoản vay hỗ trợ chi phí cho doanh

nghiệp vào việc kinh doanh đất đai, nhà ở

1.1.5.3 Phân loại theo loại tiền

Cho vay doanh nghiệp bằng nội tệ: Là việc ngân hàng cho doanh nghiệp vay

để tài trợ cho hoạt động SXKD bằng nội tệ

Cho vay doanh nghiệp bằng ngoại tệ: Là việc ngân hàng cho doanh nghiệp

vay để tài trợ cho hoạt động SXKD bằng ngoại tệ như: USD, EUR, JPY, GBP…

1.1.5.4 Phân loại theo loại doanh nghiệp

CVDN theo thành phần kinh tế được chia làm 2 loại: cho vay đối với các doanhnghiệp lớn và cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Cho vay đối với các doanh nghiệp lớn: các doanh nghiệp lớn là các doanh

nghiệp có tư cách pháp nhân với quy mô vốn lớn; đối với doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp thì có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng; cònđối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại thì có quy mô vốn trên 50

tỷ đồng hoặc có số lượng lao động lớn trên 300 người như các tập đoàn, tổng côngty… Ngân hàng cho doanh nghiệp lớn vay để mở rộng SXKD, đầu tư vào các phương

án và dự án đầu tư theo chỉ định của Nhà nước

Cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ:

Theo Nghị định 56/2009/NĐ – CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinhdoanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêunhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sảnđược xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bìnhquân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) Cụ thể như sau: đối với doanh nghiệpsiêu nhỏ thì có số lao động nhỏ hơn 10 người; đối với doanh nghiệp nhỏ thì có số laođộng trên 10 người đến 200 người và tổng nguồn vốn là nhỏ hơn 20 tỷ đồng, riêng đốivới lĩnh vực thương mại dịch vụ thì trên 10 người đến 50 người và tổng nguồn vốn lànhỏ hơn 10 tỷ đồng; đối với doanh nghiệp vừa thì số lao động là trên 200 người đến

300 người và tổng nguồn vốn là trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng riêng lĩnh vực thươngmại dịch vụ thì số lao động trên 50 người đến 100 người và tổng nguồn vốn là trên 10

tỷ đồng đến 50 tỷ đồng Ngân hàng cho vay doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ để đápứng nhu cầu SXKD hợp pháp của các loại hình doanh nghiệp này

1.1.5.5 Phân loại theo ngành nghề kinh doanh

CVDN theo ngành nghề kinh doanh rất đa đạng, bao gồm: cho vay các ngànhthuộc lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn, cho vay ngành công nghiệp, cho vay ngànhxây dựng và ngành thương mại dịch vụ

Trang 16

Cho vay các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn: là các khoản

vay tài trợ cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp như nông nghiệp,lâm nghiệp, thủy hải sản, chăn nuôi…

Cho vay ngành công nghiệp: là các khoản vay đáp ứng nhu cầu phục vụ

SXKD trong lĩnh vực công nghiệp như: điện, thép, công nghiệp khai khoáng, giày da,may mặc, dệt…

Cho vay ngành xây dựng: là các khoản vay tài trợ cho doanh nghiệp đầu tư

vào lĩnh vực xây dựng như: xi măng, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải…

Cho vay thương mại, dịch vụ: là các khoản vay tài trợ cho các ngành thương

mại, dịch vụ như: du lịch, thương mại và dịch vụ…

1.1.5.6 Phân loại theo nhóm nợ

Theo Quyết định 18/2007/QĐ – NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụngtrong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số493/2005/QĐ – NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhànước, các ngân hàng tiến hành phân loại nợ căn cứ vào nợ vay đã hạch toán vào tàikhoản nợ theo 5 nhóm sau:

Nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ trong hạn mà ngân hàng

đánh giá là có khả năng thu hồi gốc và lãi đúng hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10ngày và ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi quá hạn và thuđúng thời hạn còn lại

Nhóm 2 (nợ cần chú ý): bao gồm các khoản nợ của doanh nghiệp đã quá hạn từ

10 ngày đến 90 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn

nợ đã cơ cấu lại

Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ của doanh nghiệp đã quá

hạn từ 91 ngày đến 180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới

90 ngày theo thời hạn nợ đã được cơ cấu lại

Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): bao gồm các khoản nợ của doanh nghiệp quá hạn từ 181

ngày đến 360 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 91 ngày đến

180 ngày theo thời hạn nợ đã được cơ cấu lại

Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): bao gồm các khoản nợ quá hạn của doanh

nghiệp trên 360 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngàytheo thời hạn nợ đã được cơ cấu lại

1.1.5.7 Phân loại theo tài sản đảm bảo

Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là loại hình cho vay không có tài sản thế

chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín

Trang 17

của bản thân khách hàng Ngân hàng chỉ cho vay đối với những khách hàng có uy tín.Khách hàng có uy tín là khách hàng có năng lực tài chính lành mạnh, trung thực trongkinh doanh, quản trị kinh doanh có hiệu quả, có tín nhiệm với ngân hàng trong sửdụng vốn vay, hoàn trả nợ cả gốc và lãi Hiện nay, những khách hàng vay vốn phải có

đủ điều kiện theo Nghị định 85/2003/NĐ – CP ngày 25/10/2003 của Chính phủ:

- Sử dụng vốn vay có hiệu quả, trả nợ gốc, lãi vốn vay đúng hạn

- Có kế hoạch SXKD khả thi hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật

- Có khả năng tài chính để trả nợ vay

Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại hình khi cho vay đòi hỏi khách hàng vay

vốn phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba Sự đảm bảo này

là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn nợ thứ nhấtthiếu chắc chắn Loại hình cho vay này thường áp dụng chủ yếu đối với những kháchhàng lần đầu có mối quan hệ vay mượn với ngân hàng hoặc những khách hàng chưa cónhiều uy tín với ngân hàng

1.2 Rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm

Hoạt động cho vay thiết lập mối quan hệ vay mượn giữa hai chủ thể là ngânhàng và doanh nghiệp Khi quan hệ cho vay giữa ngân hàng và doanh nghiệp khôngđược thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng thì rủi ro xuất hiện, với hoạt độngcho vay thì đó là rủi ro cho vay

Có nhiều cách hiểu rủi ro cho vay khác nhau, trong giáo trình “Nghiệp vụ ngânhàng thương mại” của trường Đại học Thăng Long do PGS.TS Mai Văn Bạn làm chủ

biên định nghĩa là: “Rủi ro cho vay phát sinh khi ngân hàng cho khách hàng vay mà

không thu được gốc và lãi đúng hạn, hoặc chỉ thu được một phần gốc và lãi, hoặc không thu được cả gốc và lãi khoản cho vay đó” Còn TS Hồ Diệu, trong giáo trình

“Tín dụng ngân hàng” của Học viện Ngân hàng đã nêu “Rủi ro cho vay là rủi ro về sự

tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán”.

Từ những định nghĩa nêu trên có thể thấy rằng: “Rủi ro trong cho vay doanh nghiệp là một trong những loại hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nó xảy ra khi doanh nghiệp không trả được nợ gốc và lãi đúng hạn hoặc chỉ trả một phần gốc và lãi hoặc mất khả năng thanh toán và tổn thất thuộc về người cho vay”.

Rủi ro trong CVDN hàm chứa tỷ trọng lớn nhất trong tổng rủi ro, mang lạikhoản tổn thất lớn nhất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

Trang 18

Rủi ro trong CVDN luôn tiềm ẩn trong toàn bộ dư nợ cho vay của ngân hàng vàgắn liền với khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng Cụ thể là luồngthu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của các ngân hàng có thể khôngđược hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lượng và thời hạn.

1.2.2 Đặc điểm rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

1.2.2.1 Quy mô khoản tổn thất

Quy mô khoản tổn thất là số lượng tiền mất mát khi ngân hàng không thu hồiđược đầy đủ cả gốc và lãi của những khoản cho vay Quy mô khoản tổn thất của ngânhàng trong CVDN thường lớn hơn so với loại hình cho vay khác vì cơ bản khoản vayđối với khách hàng doanh nghiệp là lớn để phục vụ cho hoạt động SXKD Mà trongkinh doanh thì doanh nghiệp không thể tránh khỏi được rủi ro như ảnh hưởng của thịtrường đầu vào, thị trường đầu ra và khả năng tài chính của khách hàng khi đó doanhnghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng

Quy mô khoản tổn thất trong CVDN càng lớn thì nợ quá hạn càng tăng, ảnhhưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng Dẫn đến việc ngân hàng phải trích lập

dự phòng nhiều làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

1.2.2.2 Rủi ro từ nguồn thu nợ thứ nhất

Nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng chủ yếu là nguồn thu từ kế hoạch SXKDcủa doanh nghiệp Khi kế hoạch SXKD đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp thì khảnăng thu nợ đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn cao nghĩa là khoản vay của ngân hàng córủi ro thấp hoặc không có rủi ro Ngược lại, trong kinh doanh không thể tránh đượcnhững rủi ro, khi gặp rủi ro từ môi trường bên trong cũng như bên ngoài mà doanhnghiệp không có biện pháp xử lý nhanh chóng và kịp thời thì kế hoạch SXKD củadoanh nghiệp gặp khó khăn, không tìm được đầu ra cho sản phẩm, thu nhập thu vềthấp và không có nguồn thu Khi đó việc trả nợ cho ngân hàng sẽ gặp khó khăn vàngân hàng cũng không thu được nợ đầy đủ và đúng hạn thì ngân hàng cũng gặp rủi rođối với khoản vay làm giảm chất lượng cho vay của ngân hàng

1.2.2.3 Rủi ro từ nguồn thu nợ thứ hai

Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ từ hiệu quả sử dụng vốn thìngân hàng sẽ thu nợ từ việc phát mại TSĐB của khách hàng thế chấp khi đi vay Việcthu nợ từ nguồn này ngân hàng cũng sẽ gặp rủi ro vì khi phát mại TSĐB, giá trị củaTSĐB sẽ thấp hơn so với giá trước đây khi ngân hàng thẩm định để cho vay Khi đó,ngân hàng chỉ thu được một phần của khoản nợ để giảm bớt phần nào khoản tổn thất.Bên cạnh đó, ngân hàng có thể gặp phải trường hợp TSĐB của khách hàng đã bị phânhủy, hỏng hóc khi TSĐB là hàng hóa dễ thay đổi trong môi trường hoặc không còntrong trường hợp TSĐB đã được khách hàng tiêu thụ mà ngân hàng không biết Chính

Trang 19

vì vậy, trong quá trình CVDN, CBCV của ngân hàng luôn phải kiểm tra thường xuyênTSĐB của khách hàng để có biện pháp xử lý kịp thời làm giảm rủi ro cho ngân hàng.

1.2.3 Các loại rủi ro chính trong cho vay doanh nghiệp

1.2.3.1 Rủi ro trong giai đoạn thu thập thông tin

Nguồn thông tin do khách hàng cung cấp: rủi ro xảy ra khi doanh nghiệp

cung cấp thông tin và tài liệu cho ngân hàng là không đầy đủ và thiếu chính xác.Những nguồn thông tin của doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng có thể là doanhnghiệp chỉnh sửa làm sai lạc thông tin để đạt được điều kiện vay vốn của ngân hàng.Nếu các thông tin hoặc số liệu đã được kiểm toán thì kết quả kiểm toán chỉ là đối phó

và không chính xác Từ những thông tin đó, CBCV thẩm định và ra quyết định chovay không đúng, do đó rủi ro có thể xảy ra và làm giảm chất lượng khoản vay Nhưvậy, trong quá trình kiểm tra, kiểm soát thông tin của doanh nghiệp cung cấp, CBCV

đã không thực hiện nghiêm túc làm giảm hiệu quả công tác quản trị rủi ro trongCVDN

Nguồn thông tin lưu trữ tại ngân hàng: nguồn thông tin lưu trữ tại ngân hàng

là những thông tin cũ, không được cập nhật, do đó mà không đánh giá được chính xácnăng lực pháp lý, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng tại thời điểmxin vay vốn Vì vậy, CBCV mà dựa trên những thông tin này thì việc thẩm định vàphân tích khoản vay của khách hàng cũng không chính xác, từ đó làm ảnh hưởng đếnviệc ra quyết định cho vay Việc ra quyết định cho vay không đúng thì rủi ro có thểxảy ra cho ngân hàng

Nguồn thông tin tại trung tâm thông tin tín dụng: cũng như nguồn thông tin

lưu trữ tại ngân hàng thì nguồn thông tin tại trung tâm thông tin tín dụng của NHNN(CIC) cũng không được cập nhật thường xuyên và là những thông tin cũ của kháchhàng Dựa vào những thông tin cũ đó thì không thể đánh giá được tình hình hoạt độngcủa khách hàng ở thời điểm khách hàng xin vay vốn Như vậy, nó sẽ ảnh hưởng xấuđến quá trình thẩm định và ra quyết định cho vay của ngân hàng và khi đó rủi ro có thểxảy ra

Nguồn thông tin khác: nguồn thông tin khác là nguồn thông tin từ báo chí,

internet, phương tiện thông tin đại chúng… những thông tin này cũng không được đầy

đủ, chính xác và cập nhật nên cũng không phản ánh chính xác được tình hình hoạtđộng của doanh nghiệp, do đó cũng ảnh hưởng xấu đến việc ra quyết định cho vay củangân hàng

1.2.3.2 Rủi ro trong thẩm định

Là rủi ro mà ngân hàng đánh giá sai khách hàng Do hiện tượng thiếu thông tin,thông tin không chính xác từ phía khách hàng dẫn đến “thông tin không cân xứng” làm

Trang 20

cho ngân hàng thường chấp nhận cho các khách hàng có khả năng trả nợ kém vay vốndẫn đến rủi ro không thu hồi được vốn sau khi cho vay Hơn nữa, do quá tin tưởng vàoTSĐB, bảo lãnh, bảo hiểm từ phía khách hàng dẫn đến đánh giá sai giá trị các khoảnthế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm gây ra rủi ro không thu hồi được nợ khi khách hàng khôngtrả được nợ trong khi ngân hàng lại từ chối cho vay khách hàng tốt.

1.2.3.3 Rủi ro trong quản lý, thu hồi nợ

Là rủi ro phát sinh do quá trình giám sát thu hồi nợ không theo dõi được dòngtiền của khách hàng để khách hàng sử dụng vốn quay vòng không đúng mục đích đãcam kết ban đầu hoặc sử dụng vốn vay sai nguyên tắc gây lãng phí nghiêm trọng nênkhông thu được nợ đúng kì hạn hoặc không thu được nợ

1.2.3.4 Rủi ro tác nghiệp

Rủi ro tác nghiệp phát sinh do hệ thống thông tin không hiệu quả, do sai sót kỹthuật, những sai phạm trong kiểm soát nội bộ, những biến cố không định trước haynhững vấn đề hoạt động khác có thể dẫn đến mất mát không định trước hay những vấn

đề về danh tiếng Phạm vi và thời gian xảy ra những rủi ro tác nghiệp rất rộng lớn, nó

có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong thời gian hoạt động của ngân hàng

Theo Basel II: Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay giántiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bạihay do các sự kiện bên ngoài Rủi ro tác nghiệp bao gồm cả rủi ro pháp lư nhưng loạitrừ rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín

Các nhóm yếu tố gây ra rủi ro tác nghiệp:

Quy trình: rủi ro tác nghiệp tăng theo mức độ phức tạp của giao dịch - giao

dịch có nhiều bước, nhiều quy trình hoặc nhiều mốc tham chiếu; các giao dịch đòi hỏiphải có kiểm soát nội bộ và phê duyệt; và các giao dịch không được xác định rõ rànghoặc không được thực hiện theo đúng chính sách quy định Mọi bộ phận hay quy trìnhcủa hoạt động CVDN đều chịu rủi ro tác nghiệp

Con người: Rủi ro tác nghiệp tăng lên cùng với sự tham gia của con người vào

hoạt động khởi tạo, phê duyệt, báo cáo hoặc điều chỉnh một giao dịch Các khía cạnhcủa rủi ro tác nghiệp bao gồm hành vi gian lận, lỗi, sự bỏ sót và lạm dụng của nhânviên Ngân hàng càng có nhiều nhân viên, nhiều địa điểm giao dịch và khách hàng thìrủi ro tác nghiệp càng cao Số lượng nhân viên tăng nhanh là dấu hiệu tăng rủi ro tácnghiệp

Hệ thống: đây chỉ là một phần của rủi ro tác nghiệp nhưng lại có thể ảnh hưởng

đến tất cả các loại rủi ro khác trong ngân hàng

Các sự kiện bên ngoài: Các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của ngân hàng

cũng góp phần gây ra rủi ro tác nghiệp Các vấn đề về cơ sở hạ tầng như: hệ thống

Trang 21

truyền dữ liệu, giao thông, điện, nước, điện thoại, các thay đổi về pháp lư, chính trịngay cả thời tiết khắc nghiệt cũng có thể tạo ra hoặc làm tăng thêm các rủi ro trongngân hàng.

Các vấn đề khác: Các vấn đề khác có ảnh hưởng đến rủi ro tác nghiệp bao

gồm: số tiền của khoản vay và số lượng các thay đổi mà một ngân hàng đang gặp phải(lãnh đạo mới, nhân viên mới, sản phẩm mới, nhưng thay đổi về chương trình hệthống…)

1.2.3.4 Rủi ro đạo đức

Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, nhạy cảm, gắn chặtvới tiền và luôn đối mặt với nhiều rủi ro Trong các vấn đề rủi ro, dường như rủi rođạo đức đang là một nguy cơ ngày càng lớn đối với các ngân hàng

Trên sbv.gov.vn, theo nhà kinh tế học Paul Krugman: “Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro đạo đức được hiểu là trường hợp khi một bên đưa ra các quyết định liên quan tới mức độ chấp nhận rủi ro, trong khi bên kia phải chịu tổn thất nếu các quyết định đó thất bại”.

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro đạo đức nảy sinh từ chính hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng và khách hàng sử dụng vốn của các NHTM Hậu quảcủa rủi ro đạo đức do hai chủ thể này gây nên lại do người gửi tiền vào ngân hàng vàchính ngân hàng đó gánh chịu Hai chủ thể gây ra rủi ro đạo đức:

Rủi ro đạo đức của khách hàng: Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro đạo đức

của khách hàng thường thể hiện ở việc khách hàng vay sử dụng những khoản vaykhông đúng mục đích cam kết trong hợp đồng Hơn nữa, từ sự thiếu thông tin và thiếugiám sát, ngân hàng sẽ dễ dàng gặp rủi ro đạo đức khi khách hàng sử dụng các khoảnvay một cách quá mạo hiểm và không có hiệu quả Tuy nhiên, ở mức độ nghiêm trọnghơn, rủi ro đạo đức biểu hiện ở những hành vi gian lận, lừa đảo của khách hàng Trênthực tế, để đạt được mục tiêu vay vốn của mình, nhiều khách hàng đã làm giả hồ sơ,hợp đồng mua bán vòng vo nhằm có thể vay được vốn từ ngân hàng Vậy đây chính là

sự bất cân xứng về thông tin, mà nếu ngân hàng không nắm rõ được nguồn thông tin sẽdẫn tới tiềm ẩn rủi ro đạo đức sau khi hợp đồng vay vốn được kí kết

Rủi ro đạo đức của lãnh đạo ngân hàng: Rủi ro đạo đức xảy ra đối với người

quản lý ngân hàng: chẳng hạn khi nhà quản lý hay bộ phận nhóm cán bộ quản lý đã cóquan hệ lợi ích với khách hàng, mặc dù điều kiện khách hàng vay vốn có thể chưa hội

tụ, thậm chí không đủ điều kiện và đã được CBCV ghi rõ là không duyệt, nhưng vì lý

do lợi ích của cá nhân, nhà quản lý hay nhóm cán bộ quản lý đã bằng mọi cách, hướngdẫn khách hàng hợp thức hoá hồ sơ, thậm chí còn yêu cầu cán bộ thẩm định phải thựchiện theo ý kiến chỉ đạo Ngân hàng chạy theo mục tiêu lợi nhuận, nới lỏng quá mức

Trang 22

các chính sách đầu tư và tín dụng nhằm đáp ứng và nắm bắt cơ hội thị trường mà bỏqua các nguyên tắc cơ bản trong việc thẩm định, giám sát và đưa ra các điều kiện ràngbuộc đối với khách hàng trước và trong khi sử dụng vốn Ngân hàng cho vay quá mạohiểm, thiếu các chính sách cho vay, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ và khoa học.Rủi ro đạođức xuất phát từ phía nhân viên ngân hàng khi giao dịch với khách hàng Đó là hành vinhận hối lộ của khách hàng để cho vay đảo nợ, cho vay kế hoạch SXKD nhiều rủi ro,

cố ý gây khó cho khách hàng để nhận bồi dưỡng hoặc nhân viên ngân hàng thiếu tráchnhiệm, không nắm bắt và tìm hiểu thông tin liên quan đến khoản vay một cách chínhxác, thiếu thận trọng trong phân tích diễn biến thị trường liên quan tới khách hàng kinhdoanh… dẫn đến việc ngân hàng quyết định cho vay những dự án, phương án khôngthực hiện được hay thực hiện không hiệu quả dẫn đến nợ quá hạn hoặc khách hàngkhông có khả năng trả nợ

1.2.4 Nguyên nhân gây rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

Hoạt động cho vay rất đa dạng do đối tượng vay, mục đích vay, thời hạn vay,phương thức hoàn trả và khả năng hoàn trả là khác nhau Do vậy, nguyên nhân gây rủi

ro cho vay cũng rất đa dạng, với mỗi món vay khác nhau khả năng xảy ra tổn thất làkhác nhau Có 3 nguyên nhân chính gây ra rủi ro trong cho vay: nguyên nhân kháchquan, nguyên nhân từ phía doanh nghiệp và nguyên nhân do chính ngân hàng

1.2.4.1 Nguyên nhân khách quan

Đây là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho hoạt động CVDN của ngân hàng

do môi trường bên ngoài tác động vào Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó đoán,khó kiểm soát, nó thường gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng và ngân hàng Nóbao gồm các nguyên nhân cụ thể sau:

Chính sách của Chính phủ

Mỗi nền kinh tế có biến động thì ngay lập tức Nhà nước phải đưa ra các chínhsách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế những ảnh hưởng xấutới toàn bộ nền kinh tế Các chính sách của Nhà nước thường xuyên quan tâm và có sựthay đổi kịp thời gồm có:

+ Chính sách tiền tệ: NHNN sử dụng các công cụ như: lãi suất chiết khấu, tỷ

lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… để điều chỉnh mức cung tiền tệ khi cóbiến động xảy ra Cụ thể là khi NHNN giảm lãi suất sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hoạtđộng kinh doanh ngân hàng như: các khoản cho vay cũ của ngân hàng đang cho vayvới mức lãi suất cao thì đột xuất phải giảm xuống làm cho lợi nhuận của ngân hànggiảm xuống, dẫn đến sự sai lệch trong các bản dự toán chi phí thu nhập của ngân hàng

và thay đổi chiến lược kinh doanh của ngân hàng có thể gây rủi ro khi ngân hàng ở thế

bị động

Trang 23

+ Chính sách đầu tư phát triển: Đây là những chính sách mà khi Nhà nước

điều chỉnh sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cho các NHTM, thường là những ảnh hưởngkhông tích cực cho hoạt động kinh doanh của NHTM: ảnh hưởng đến hoạt động chovay, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư…

Môi trường tự nhiên

Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như thay đổi thời tiết dẫn đến hạn hán, bãolũ,… làm cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị trì trệ, đặc biệt là đối với doanhnghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác nuôitrồng đánh bắt thủy hải sản Ví dụ như doanh nghiệp vay tiền đầu tư vào nông nghiệpgặp lũ lụt hay hạn hán gây mất mùa làm cho họ không thu hoạch được sản phẩm dẫnđến không có sản phẩm bán và không có thu nhập dẫn đến việc không trả nợ đượcngân hàng đúng hạn Hoặc môi trường tự nhiên thay đổi làm cho nguồn nguyên liệucủa khách hàng trở nên khan hiếm làm cho hoạt động sản xuất bị ứ đọng làm cho họkhông trả nợ theo đúng hạn hoặc không trả nợ

Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý ổn định là một trong những điều kiện tốt để phát triển hoạtđộng kinh doanh, tuy nhiên nếu môi trường pháp lý thay đổi bất thường sẽ gây ranhiều ảnh hưởng cho hoạt động kinh doanh và là nguyên nhân dẫn đến việc phá sản,kinh doanh thua lỗ Việc phá sản và kinh doanh thua lỗ của khách hàng sẽ làm ảnhhưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cho ngân hàng làm giảm chất lượng khoảnvay và gây ra rủi ro cho ngân hàng Bên cạnh đó, môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, cónhiều khe hở thì rất dễ bị khách hàng lợi dụng để thực hiện các vụ làm ăn phi pháp,gây nguy cơ rủi ro cao cho ngân hàng không thu hồi được nợ…

Môi trường kinh tế

Sự phát triển của nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanhnghiệp Kinh tế càng phát triển, doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng hoạt độngSXKD và nhu cầu vay vốn càng cao Tuy nhiên, sự phát triển này không phải đi lêntheo một đường thẳng mà thường xuyên biến động Sự hưng thịnh hay suy thoái củachu kỳ kinh doanh ảnh hưởng tới lợi nhuận của người vay và sẽ tạo nên niềm vui haygây nên nỗi lo lắng cho người đi vay Trong giai đoạn kinh tế hưng thịnh, người vayhoạt động tốt do lợi nhuận thu được tương đối cao, nhưng trong giai đoạn kinh tế suythoái thì khả năng hoàn trả của người đi vay bị giảm sút Nguyên nhân là do nền kinh

tế suy thoái nên mức độ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bị chậm lại làm cho thunhập của doanh nghiệp giảm sút mà chi phí không đổi, do đó khả năng hoàn trả củangười vay giảm sút Tùy vào mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng mà việc ảnh

Trang 24

hưởng đến các doanh nghiệp cũng như khả năng thanh toán các khoản nợ của họ ởmức khác nhau

1.2.4.2 Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay

Các yếu tố chủ quan từ phía doanh nghiệp vay vốn như: khả năng kinh doanhyếu kém hay doanh nghiệp có hành vi lừa đảo, vi phạm pháp luật… cũng có thể gây racác tổn thất cho ngân hàng Trong trường hợp này, nếu ngân hàng cho vay phát hiện rasớm thì rủi ro có thể được ngăn chặn

Nguyên nhân rủi ro từ phía người vay rất đa dạng, nhưng đối với CVDN thìnguyên nhân tập trung ở một số loại chính sau:

Thiệt hại từ phía thị trường đầu vào: Giá cả của các yếu tố đầu vào tăng cùng

với các chi phí phục vụ cho sản xuất tăng làm giảm đi nguồn thu dự tính của doanhnghiệp, vì thế việc trả nợ cho ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn

Do thị trường đầu ra: Thị trường đầu ra nếu có những biến động phức tạp, giá

cả giảm xuống thấp cũng sẽ làm nguồn thu của khách hàng giảm xuống Ngoài ra, sựthay đổi thị hiếu tiêu dùng, cung vượt quá cầu, hoạt động marketing yếu kém… cũnggây nên tình trạng ứ đọng sản phẩm làm ảnh hưởng tới nguồn trả nợ cho ngân hàngcủa khách hàng

Rủi ro về khả năng tài chính của khách hàng: Nguồn vốn tự có thấp hay thu

nhập của khách hàng không ổn định, khách hàng sẽ không có khả năng tự khôi phụckhi gặp khó khăn vì vậy cũng sẽ mất khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng

Ý thức trả nợ: ý thức trả nợ của bên đi vay nhiều khi chưa tốt, nhiều khách

hàng sau khi nhận được tiền vay đã bỏ trốn gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngânhàng Hoặc đơn giản hơn, để đạt mục đích được vay vốn ngân hàng, nhiều khách hàngsẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấpcác báo cáo tài chính sai lệch Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngânhàng sẽ đánh giá sai về khả năng tài chính của khách và cho vay vốn với khối lượng vàthời gian không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao

1.2.4.3 Nguyên nhân thuộc về ngân hàng

Chính sách cho vay của ngân hàng không hợp lý: sự hoạt động của một ngân

hàng dựa trên cơ sở chính sách cho vay thống nhất, hợp lý, có hiệu quả nhiều hơn làdựa trên kinh nghiệm và trao quyền quyết định cho cá nhân điều hành Một chính sáchcho vay không đồng bộ, thống nhất sẽ gây ra định hướng lệch lạc cho hoạt động chovay, dẫn đến việc cho vay không đúng đối tượng, tiềm ẩn rủi ro cho vay cho ngân hàng

Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ cho vay: trình độ chuyên môn và

năng lực của CBCV yếu kém, dẫn đến cán bộ cho vay không đánh giá chính xác vềkhách hàng và kế hoạch SXKD của khách hàng, từ đó làm phát sinh những hợp đồng

Trang 25

cho vay kém an toàn gây rủi ro cho ngân hàng Đồng thời, khả năng thẩm định TSĐBcũng không hiệu quả làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng khoản vay Chính vì vậy màviệc đánh giá và đo lường rủi ro khoản vay không chính xác làm giảm hiệu quả côngtác quản trị rủi ro trong CVDN.

Phẩm chất đạo đức của cán bộ cho vay: cùng với sự hạn chế về trình độ là

vấn đề phẩm chất đạo đức của CBCV Đặc thù nghề nghiệp buộc một CBCV phảikhông những có trình độ mà còn phải có đạo đức tốt CBCV mà phẩm chất đạo đứckém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ bởi vật chất thì sẽ gây thiệt hại rấtlớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựatrên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện, quy định và thủ tục cần thiết

Ngân hàng chưa đa dạng hóa các danh mục đầu tư: Việc đa dạng hóa các

danh mục làm cân đối và kiềm chế rủi ro bằng cách dự báo và kiểm soát mức độ rủi rovới từng thị trường, khách hàng, loại sản phẩm và điều kiện hoạt động khác nhau.Nhiều chuyên gia ngân hàng tin rằng, đa dạng hóa là giải pháp phòng ngừa rủi ro chovay hữu hiệu nhất Mặc dù biết rõ tầm quan trọng của việc đa dạng hóa danh mục đầu

tư nhưng một số ngân hàng vẫn chỉ cho vay một hoặc hai ngành hoặc chỉ cho vay mộtvài doanh nghiệp lớn, nhóm kinh doanh đơn lẻ Một danh mục đầu tư phụ thuộc chủyếu vào một ngành hay một loại mặt hàng là rất nguy hiểm vì không ngành nào làkhông có rủi ro

Ngân hàng không giám sát được việc sử dụng vốn của khách hàng: nguyên

nhân này là do ngân hàng quá tin tưởng vào khách hàng và TSĐB mà lơ là trong khâukiểm tra, giám sát khách hàng Bên cạnh đó, ngân hàng còn quá nhấn mạnh vào lợinhuận và phát triển mà sao nhãng sự an toàn của các khoản vay dẫn đến việc kháchhàng không sử dụng vốn đúng mục đích, tình hình SXKD không hiệu quả ảnh hưởngđến khả năng trả nợ cho ngân hàng Hơn nữa, ngân hàng còn thiếu kinh nghiệm trongviệc ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, từ đó chưa có biện pháp xử lý kịp thời làm cho mức

độ rủi ro tăng cao

1.3 Quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

Để đạt được mục tiêu hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra thì mỗi ngân hàng đều

có những cách thức quản trị khác nhau Hiện nay, có khá nhiều nguồn tài liệu đề cậpđến khái niệm quản trị

Theo Koontz O’ Donnel trên Wikipedia.org: “Quản trị là thông qua nhiệm vụ

của nó, cho rằng nhiệm vụ cơ bản của quản trị là “thiết kế và duy trì một môi trường

mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.

Trang 26

Theo James Stoner và Stephen Robbin trên Wikipedia.org: “Quản trị là tiến

trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.

Tuy nhiên, để hiểu chung nhất thì “Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường”.

Trong các nghiệp vụ của NHTM, cho vay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu, đồngthời cũng là nghiệp vụ có nguy cơ xảy ra rủi ro cao nhất Xác suất có thể loại bỏ rủi roCVDN nói riêng cũng như rủi ro nói chung ra khỏi hoạt động của ngân hàng là rấtnhỏ Do đó, để có thể hạn chế được rủi ro CVDN đến mức thấp nhất, muốn đạt đượcđiều đó, các ngân hàng buộc phải quan tâm đến vấn đề quản trị rủi ro trong CVDN

Rủi ro trong CVDN xảy ra khi khách hàng không trả được nợ gốc và lãi đúnghạn hoặc chỉ trả một phần gốc và lãi hoặc mất khả năng thanh toán và tổn thất thuộc vềngười vay Vì vậy, mỗi ngân hàng cần phải quan tâm đến vấn đề quản trị rủi ro trongCVDN Quản trị rủi ro trong CVDN nhằm mục đích đảm bảo hoạt động cho vay củangân hàng hạn chế được rủi ro một cách tối đa, giảm tổn thất cho ngân hàng Chính vì

lý do đó, làm rõ khái niệm quản trị rủi ro trong CVDN là việc vô cùng quan trọng

Quản trị rủi ro trong CVDN là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược,chính sách quản lý và kinh doanh cho vay nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vimức rủi ro có thể chấp nhận Quản trị rủi ro trong CVDN bao gồm kiểm soát thông tin,tính toán và đo lường các trường hợp có thể dẫn đến rủi ro để đề ra biện pháp ngănngừa, hạn chế tổn thất xảy ra giúp đảm bảo thực hiện mục tiêu lợi nhuận đề ra Kiểmsoát rủi ro trong hoạt động cho vay ở mức có thể chấp nhận là việc ngân hàng tăngcường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinhdoanh cho vay, nhằm tăng doanh thu cho vay, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằmđạt được hiệu quả trong kinh doanh cho vay cả trong ngắn hạn và dài hạn Kiểm soátquản trị rủi ro trong hoạt động CVDN là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cậnrủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt lõi cho sự thành công của ngân hàngtrong dài hạn Quản trị rủi ro là để đảm bảo chất lượng cho vay là tốt nhất và duy trìtrong giới hạn cho phép của ngân hàng

Tóm lại, có thể đề cập khái niệm quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay ở cácgóc độ khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản trị học,

khái niệm được diễn giải: “Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay doanh nghiệp là

quá trình các ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và

Trang 27

giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cho vay doanh nghiệp, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận”

1.3.2 Vai trò của quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

1.3.2.1 Đối với nền kinh tế

Rủi ro ngân hàng mang tính hệ thống Vì vậy khi một ngân hàng có tai tiếngxấu hoặc bị phá sản sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống ngân hàng Khi hệ thống ngânhàng gặp khó khăn thì ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thế giới nói chung và nềnkinh tế quốc gia nói riêng vì nền kinh tế quốc gia phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực

và thế giới Quản trị rủi ro trong CVDN của ngân hàng tốt sẽ hạn chế rủi ro cho hệthống ngân hàng giúp nền kinh tế ổn định, thất nghiệp không tăng cao và xã hội không

bị rối loạn Mặt khác, quản trị rủi ro tốt sẽ hạn chế được rủi ro cho nền kinh tế của cácnước có liên quan trong lĩnh vực tiền tệ và đầu tư phát triển

Như vậy, rủi ro trong CVDN xảy ra dù ở mức độ nào cũng gây ảnh hưởng đến

sự phát triển của ngân hàng nói riêng và sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung Vìvậy, quản trị rủi ro trong CVDN không chỉ là trách nhiệm của riêng ngân hàng mà làcủa toàn nền kinh tế

1.3.2.2 Đối với doanh nghiệp

Quản trị rủi ro trong CVDN tốt sẽ giúp doanh nghiệp tránh được tình trạngkhông trả được nợ hoặc phá sản Không chỉ có vậy, quản trị rủi ro trong CVDN củangân hàng còn xem xét được tính khả thi, hiệu quả của khoản vay, từ đó đưa ra nhậnxét, góp ý và tư vấn giúp doanh nghiệp điều chỉnh kịp thời làm tăng khả năng thựchiện thành công hoạt động SXKD của doanh nghiệp và đạt được mục tiêu lợi nhuận đề ra

1.3.2.3 Đối với ngân hàng

Quản trị rủi ro trong CVDN tốt sẽ đảm bảo thực hiện được mục tiêu lợi nhuận

đề ra vì quản trị rủi ro tốt thì khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi đúng hạn cao hơn

từ đó chất lượng của khoản vay tốt đem lại hiệu quả cho ngân hàng Bên cạnh đó, nócòn giúp hạn chế được tổn thất, gia tăng độ an toàn trong hoạt động ngân hàng CBCVkiểm soát khoản vay tốt thì các khoản nợ khó thu hồi hoặc không thu hồi được giảmxuống sẽ tiết kiệm chi phí vì nếu phát sinh khoản nợ khó thu hồi thì ngân hàng phảimất chi phí quản lý, giám sát và thu hồi nợ Thu hồi được nợ đầy đủ và đúng hạn làmtăng tính thanh khoản từ đó gia tăng độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngânhàng Hơn nữa, công tác quản trị rủi ro trong cho vay giúp ngân hàng tăng cường mốiquan hệ với khách hàng và nâng cao được uy tín của mình trong tâm trí khách hàng

1.3.3 Nội dung quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

Quản trị rủi ro trong CVDN được tiến hành từ khi khách hàng gửi đơn yêu cầuxin vay vốn cho đến khi khoản vay được hoàn trả, nhằm đôn đốc doanh nghiệp thực

Trang 28

hiện đúng và đầy đủ những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay, phù hợpvới đặc điểm hoạt động của ngân hàng và đặc điểm kinh doanh sử dụng vốn của doanhnghiệp Nội dung quản trị rủi ro trong doanh nghiệp bao gồm:

1.3.3.1 Quản trị rủi ro trước khi cho vay

Trước khi cho vay được tính từ khi ngân hàng tiếp nhận nhu cầu vay vốn củakhách hàng đến trước khi ra phán quyết cho vay Tương ứng với giai đoạn này thìquản trị rủi ro trước khi cho vay cần phải thực hiện các bước sau:

(1) Thu thập và kiểm soát thông tin.

Đây là bước vô cùng quan trọng và là bước đầu tiên trong công tác quản trị rủi

ro trước khi CVDN của ngân hàng Việc thu thập thông tin đầy đủ và chính xác giúpngân hàng nắm rõ được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính vàtính toán được khả năng trả nợ của doanh nghiệp nhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy

ra cho ngân hàng

Ngân hàng có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: phỏng vấntrực tiếp người vay, thông tin qua hồ sơ lưu trữ của doanh nghiệp tại ngân hàng, thông tin

từ các doanh nghiệp có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp, thông tin của trung tâm CIC…

Ngoài ra, ngân hàng có thể xem xét các nguồn thông tin:

Các thông tin phi tài chính như: các mục thông tin trên báo, các tạp chí

thương mại, các báo cáo cổ đông, các báo cáo tình báo kinh tế, các báo cáo thị trường,các dữ liệu được công bố, các báo cáo của các nhà tư vấn

Các thông tin tài chính như: báo cáo kế toán thường niên, báo cáo kế toán

tạm thời, hoạt động kế toán ngân hàng, các dự báo về vốn luân chuyển, doanh thu, lợinhuận, các báo cáo của cơ quan phân hạng tín dụng, công ty lập báo cáo tài chính, hoạtđộng của thị trường chứng khoán

Sau khi xem xét tính hợp pháp, hợp lệ của các thông tin và tài liệu trên, cácngân hàng tiến hành phân tích và thẩm định một cách kỹ lưỡng về khách hàng của mình

(2) Phân tích tín dụng.

Mục tiêu kinh doanh hàng đầu của các NHTM là lợi nhuận Trên con đường tìmkiếm lợi nhuận tối đa, các ngân hàng luôn gặp phải một “rào cản” đó là rủi ro Đểphòng ngừa, hạn chế rủi ro các ngân hàng áp dụng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp

cơ bản, có vị trí quan trọng nhất là phân tích, thẩm định một cách toàn diện doanhnghiệp và kế hoạch SXKD trước khi cho vay Nếu doanh nghiệp và kế hoạch SXKDđược đánh giá tốt thì sẽ được ngân hàng xem xét cho vay và ngược lại

Để phân tích đánh giá doanh nghiệp và kế hoạch SXKD, ngân hàng dựa vàonhững thông tin đã thu thập được để thậm định qua hai chỉ tiêu: thẩm định phi tàichính và thẩm định tài chính

Trang 29

Thẩm định phi tài chính: ngân hàng thẩm định năng lực pháp lý, uy tín của

doanh nghiệp, năng lực quản lý và trình độ đạo đức người đại diện của doanh nghiệpvay vốn…

Thẩm định tài chính: là phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Đây là

căn cứ quan trọng nhất để ngân hàng quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn haykhông Các tiêu chuẩn để phân tích đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp làcác hệ số tài chính mà ngân hàng tính toán được từ các báo cáo tài chính mà doanhnghiệp lập và nộp cho ngân hàng bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinhdoanh Ngoài ra, ngân hàng còn thẩm định về TSĐB, kế hoạch sản xuất kinh doanh, Tuy nhiên, ngoài việc thẩm định các hệ số tài chính thì ngân hàng còn phải thẩm địnhmột số yếu tố khác và cụ thể cho các khoản vay như sau:

Đối với khoản vay trong ngắn hạn: ngoài việc phân tích các chỉ tiêu tài chính

như hệ số khả năng thanh toán, hệ số năng lực hoạt động, các chỉ tiêu an toàn tàichính, khả năng sinh lời, thì ngân hàng còn phải thẩm định những nội dung sau vềkhoản vay: nhu cầu vay, mục đích vay, vốn tự có, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồntrả nợ và khả năng kiểm soát của ngân hàng đối với khoản nợ,… Bên cạnh đó, ngânhàng còn phải xem xét đến các chỉ tiêu cho vay:

- Số tiền cho vay:

Mức vốn vay = Tổng nhu cầu vốn vay - vốn huy động - vốn tự có

Ngoài ra, số tiền cho vay còn dựa trên cơ sở: mức dư nợ cao nhất, mức cho vaytối đa theo quy định của pháp luật, giá trị TSĐB, khả năng trả nợ của khách hàng,…

- Thời gian cho vay

Thời gian cho vay = Thời gian luân chuyển vốn lưu động + Thời gian bán chịu

= + Thời gian bán chịuThời gian cho vay của ngân hàng phụ thuộc vào thời gian SXKD của doanhnghiệp (tốc độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp)

Đối với khoản vay trong trung và dài hạn:

- Số tiền cho vay:

Số tiền cho vay = Tổng dự toán thực hiện dự án - Vốn chủ sở hữu tham gia - Vốn khác

- Thời gian cho vay:

Thời gian cho vay = Thời gian ân hạn + Thời gian thu hồi vốn vay

+ Thời gian ân hạn: được tính từ khi ngân hàng bắt đầu giải ngân cho doanh

nghiệp đến khi kết thúc thời gian xây dựng dự án

+ Thời gian thu hồi nợ: được tính từ khi dự án bắt đầu được đưa vào khai thác

cho đến khi ngân hàng thu hồi được đầy đủ nợ gốc và lãi

Thời gian thu hồi nợ được tính bằng công thức:

Trang 30

Thời gian thu nợ =

Trong đó, lợi nhuận sau thuế là khách hàng cam kết sử dụng để trả nợ; còn khấuhao là khấu hao tài sản cố định hình thành từ vốn của ngân hàng

- Thẩm định dự án:

Trong việc thẩm định dự án cho vay, CBCV của ngân hàng thẩm định hai yếu tố: thẩm định phi tài chính và thẩm định tài chính

Thẩm định phi tài chính: CBCV thẩm định sự cần thiết phải đầu tư và mục

tiêu của dự án; thẩm định phương diện thị trường của dự án; phân tích tình hình cạnh tranh sản phẩm trong tương lai trên thị trường và chỉ ra lợi thế cạnh tranh của dự án; nghiên cứu và thẩm định phương diện kỹ thuật, công nghệ của dự án

Thẩm định tài chính: Sau khi đã thẩm định các nhân tố căn bản của dự án như:

tổng vốn đầu tư; nguồn vốn đảm bảo tài trợ; thu nhập, chi phí và lợi nhuận hàng nămcủa dự án Bên cạnh đó, CBCV tính toán, xác định dòng tiền dòng thu được từ việcthực hiện dự án, dựa trên cơ sở đó tính toán các chỉ tiêu tài chính quan trọng như:NPV, IRR, thời gian hoàn vốn đầu tư Ngoài ra, ngân hàng cần tiếp tục thẩm định cácchỉ tiêu tài chính như: tỷ suất sinh lời vốn đầu tư, tỷ suất sinh lời doanh thu, tỷ suất thuhồi nội bộ… Không chỉ vậy, ngân hàng còn phải lập kế hoạch trả nợ để tính toán khảnăng trả nợ gốc và lãi dự kiến của khách hàng Ngoài ra, cho vay theo dự án đầu tưtrong trung và dài hạn có thời gian sử dụng vốn dài nên rủi ro xảy ra với dự án khó cóthể kiểm soát được Vì vậy, ngân hàng phải sử dụng các phương pháp phân tích độnhạy, phân tích tình huống để đo lường rủi ro có thể xảy ra với dự án

(3) Chấm điểm tín dụng.

Ngân hàng có thể sử dụng các mô hình phản ánh về mặt số lượng của rủi roCVDN để đo lường rủi ro Trên cơ sở các thông tin về khách hàng, ngân hàng sử dụngnhững mô hình này để đánh giá xác suất rủi ro của doanh nghiệp và từ đó định giá cáckhoản vay hoặc các khoản nợ một cách chính xác

Các mô hình điểm tín dụng thường sử dụng các số liệu phản ánh đặc điểm củadoanh nghiệp để tính toán xác suất của rủi ro CVDN hoặc để phân loại doanh nghiệptrên cơ sở mức độ rủi ro đã được xác định Bằng việc lựa chọn và kết hợp các đặcđiểm tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp, các ngân hàng có thể:

Xác định mức ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro CVDN

So sánh mức độ quan trọng giữa các nhân tố

Cải thiện việc định giá rủi ro trong CVDN

Có căn cứ chính xác hơn trong việc sàng lọc, lựa chọn các đơn xin vay

Tính toán chính xác hơn mức dự trữ cần thiết cho các rủi ro dự tính

Trang 31

Đối với CVDN, để sử dụng mô hình này, các ngân hàng có thể lựa chọn các chỉtiêu: tỷ lệ nợ/vốn tự có, tỷ lệ lợi nhuận/tổng tài sản, lợi nhuận/vốn tự có…

1.3.3.2 Quản trị rủi ro trong khi cho vay

Giai đoạn này được tính từ khi ngân hàng ký quyết định cho doanh nghiệp vayđến trước khi giải ngân cho doanh nghiệp Do vậy, công việc chủ yếu của giai đoạnnày là ngân hàng kiểm tra, kiểm soát lại hồ sơ vay vốn nhằm đảm bảo hồ sơ đã đầy đủ,hợp pháp, hợp lệ và kiểm soát lại một lần nữa những thông tin nêu ra trong hồ sơ đểsau đó mới làm thủ tục giải ngân

Quản trị rủi ro trong khi cho vay giúp ngân hàng phát hiện, ngăn ngừa và hạnchế rủi ro kịp thời trước khi ngân hàng giải ngân cho doanh nghiệp vay giảm thiểunhững tổn thất mà ngân hàng có thể gặp phải Việc phân tích lại hồ sơ, thông tin củadoanh nghiệp giúp ngân hàng có thể đánh giá lại một cách rõ ràng và hệ thống tìnhhình tài chính của doanh nghiệp, từ đó đưa ra những cơ sở hợp lý cho việc dự đoán vềtính hình SXKD của doanh nghiệp trong tương lai để ngân hàng có thể thấy đượcnguồn trả nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng

Ngoài ra, nếu hồ sơ vay vốn chưa đầy đủ, chưa bảo đảm pháp lý thì yêu cầukhách hàng chỉnh sửa và bổ sung lại một lần nữa Bên cạnh đó, ngân hàng cần kiểm tralại tính hợp pháp, hợp lệ và tính trung thực, sự đầy đủ của các hồ sơ thông tin màdoanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhằm tránh trường hợp giấy tờ giả mạo, thôngtin sai trái mà ngân hàng vô tình không phát hiện được trong những bước đầu tiên củaquy trình quản trị rủi ro khi thu thập hồ sơ, thông tin doanh nghiệp Bên cạnh việcthiếu thông tin, ngân hàng cũng cần phòng ngừa trường hợp rủi ro đạo đức của CBCV,cấu kết với doanh nghiệp vay vốn làm giả mạo hồ sơ hoặc bỏ qua các bước thẩm địnhgây ra hành vi lừa đảo dẫn đến rủi ro cho ngân hàng

1.3.3.3 Quản trị rủi ro sau khi cho vay

Đây là giai đoạn cuối cùng của nội dung quản trị rủi ro trong CVDN Giai đoạnnày bắt đầu từ khi giải ngân đến khi kết thúc hợp đồng cho vay Sau khi giải ngântrong một thời gian nhất định, CBCV kiểm tra việc sử dụng vốn vay tại trụ sở kinhdoanh của doanh nghiệp theo đúng các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng Bêncạnh đó CBCV theo dõi tình hình trả nợ và đôn đốc doanh nghiệp trả nợ đúng hạn chongân hàng Hơn nữa, định kì CBCV kiểm tra và phân tích nợ để phát hiện nợ quá hạn,

nợ khó đòi để đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp nhằm lành mạnh hóa quan hệ vaymượn Đồng thời, CBCV chú ý kiểm tra TSĐB tiền vay của doanh nghiệp để tránhtình trạng TSĐB không còn, hỏng hóc hoặc giá trị TSĐB nhỏ hơn dư nợ cho vay, khi

đó ngân hàng sẽ có biện pháp xử lý thích hợp hạn chế tổn thất xảy ra cho ngân hàng

Trang 32

Quan hệ vay mượn sẽ kết thúc khi ngân hàng thu hổi được đầy đủ cả gốc và lãicủa khoản vay Khi mà doanh nghiệp không trả được đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thìrủi ro đã xảy ra cho ngân hàng Lúc này, CBCV cần xem xét, tìm hiểu nguyên nhânkhách hàng không trả được nợ và đôn đốc khách hàng trả nợ Nếu như khách hàngkhông trả được nợ thì ngân hàng có thể phát mại TSĐB để thu hồi nợ tránh tổn thấtlớn cho ngân hàng Cuối cùng, khi thanh lý hợp đồng cho vay, ngân hàng lưu trữ lại hồ

sơ, thông tin về khách hàng vay vốn

1.3.4 Nhóm chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

sơ giả hoặc không chính xác để vay vốn ngân hàng Vì vậy, mức độ chặt chẽ của thủtục và quy chế trong CVDN càng cao thì công tác quản trị rủi ro trong CVDN của chinhánh càng thuận lợi và đạt hiệu quả cao Ngược lại, mức độ chặt chẽ càng thấp thìảnh hưởng xấu đến công tác thẩm định, kiểm tra và giám sát khoản vay làm cho côngtác quản trị rủi ro trong CVDN đạt hiệu quả thấp

Thứ hai, khả năng thu thập và kiểm soát thông tin.

Thông tin là yếu tố nhạy cảm và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản trị rủi rotrong CVDN của ngân hàng Đối với nền kinh tế đang phát triển, NHTM hoạt độngkinh doanh tiền tệ - một lĩnh vực kinh doanh hết sức nhạy cảm nên việc thu thập vàkiểm soát thông tin là điều vô cùng quan trọng Việc thu thập thông tin đầy đủ vàchính xác giúp công tác thẩm định của ngân hàng được chính xác, từ đó đưa ra đượcquyết định cho vay đúng đắn Hơn nữa việc thu thập và kiểm soát thông tin tốt giúpCBCV tính toán, đo lường và phát hiện chính xác rủi ro để đưa ra các biện pháp ngănngừa kịp thời nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng Vì vậy, thu thập và kiểm soát tốtthông tin cho thấy công tác quản trị rủi ro trong CVDN của ngân hàng có hiệu quả cao

Thứ ba, mức độ tìm hiểu, phát hiện và đề ra biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả trước khi cho vay.

Sau khi thu thập và kiểm soát thông tin, CBCV kiểm tra tính chính xác và chặtchẽ của thông tin, thông qua đó tìm hiểu và phát hiện những rủi ro có thể xảy ra Việctìm hiểu, phát hiện rủi ro trước khi cho vay vô cùng quan trọng giúp ngân hàng ngay

Trang 33

từ bước đầu hạn chế tối đa được rủi ro xảy ra Bởi lẽ, sự nghiên cứu, tìm hiểu và phântích một cách kĩ lưỡng, cụ thể những rủi ro giúp CBCV phát hiện chính xác và nhanhchóng những rủi ro xảy ra, từ đó CBCV đưa ra được những biện pháp phòng ngừa hợp

lý và kịp thời nhằm kiểm soát và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng Công tác này đượcthực hiện tốt và nghiêm túc chứng tỏ công tác quản trị rủi ro trong CVDN đạt hiệu quả

Thứ tư, mức độ sát sao trong công tác kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn, đôn đốc doanh nghiệp trả nợ.

Sau khi ngân hàng giải ngân vốn cho doanh nghiệp vay, định kì CBCV củangân hàng phải kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và đôn đốc doanh nghiệp trả

nợ Công tác kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và đôn đốc doanh nghiệp trả nợ

là vô cùng quan trọng trong quá trình quản trị rủi ro Việc CBCV sát sao kiểm tra,giám sát tình hình sử dụng vốn để biết được doanh nghiệp có sử dụng vốn đúng mụcđích theo thỏa thuận trong hợp đồng không, nếu không sử dụng vốn đúng mục đíchhoặc làm thất thoát vốn của ngân hàng thì CBCV phải có biện pháp xử lý kịp thời Bêncạnh đó, việc phát hiện và xử lý kịp thời các khoản nợ có vấn đề là biện pháp hữu hiệunhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động CVDN Nếu công việc này được CBCV thực hiệnsát sao và nghiêm túc chứng tỏ công tác quản trị rủi ro trong CVDN được thực hiện tốt

Thứ năm, khả năng xử lý và đưa ra các biện pháp giải quyết khi rủi ro xảy ra.

Khi các dấu hiệu nguy hiểm phản ánh một khoản cho vay có thể có vấn đề, biênpháp đầu tiên mà các CBCV phải thực hiện là xác định tính nghiêm trọng của vấn đềbằng các quá trình thích hợp Trước hết phải thẩm tra lại và thu thập thêm thông tin vềdoanh nghiệp Thông tin có thể lấy từ các báo cáo tài chính, hàng trưng bày và cáccuộc thảo luận với người đại điện của doanh nghiệp Sau đó, tùy thuộc vào sự nghiêmtrọng của tình hình, ngân hàng có thể có những cách xử lý khác nhau Nhìn chung việc

xử lý có thể được phân thành hai nhóm: các biện pháp khai thác và các biện phápthanh lý:

Biện pháp khai thác: với những trường hợp không quá nghiêm trọng, ngân

hàng có thể sử dụng các biện pháp thuộc loại này nhằm điều chỉnh tình huống và bảo

vệ lợi ích của ngân hàng Ngân hàng có thể sử dụng một hoặc kết hợp một số biệnpháp sau để cứu người vay và khôi phục sức mạnh tài chính của họ: tư vấn cho kháchhàng về nhiều chủ đề như việc bán hàng, thu đòi các khoản nợ, tổ chức quản lý hoạtđộng sản xuất; tăng thêm vốn như tăng vốn tự có hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới;giảm bớt kế hoạch mở rộng; khuyến khích thu hồi các khoản nợ chậm trả; gia hạn nợ…

Biện pháp thanh lý: nếu ngân hàng thấy rõ việc áp dụng các biện pháp khai

thác không mang lại hiệu quả, ngân hàng có thể áp dụng những biện pháp cứng rắn

Trang 34

hơn để xử lý một khoản cho vay đã trở thành nợ khó đòi nhằm tự bảo vệ quyền lợi củamình Ngân hàng có thể áp dụng một số biện pháp sau: tiến hành xử lý các TSĐB, yêucầu cơ quan pháp luật can thiệp, yêu cầu tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp…

1.3.4.2 Chỉ tiêu định lượng

Nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp

Nợ quá hạn CVDN là một hiện tượng tất yếu, song vấn đề quan trọng là phảigiảm tỉ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhất có thể CVDN có tỉ lệ nợ quá hạn cao khôngchỉ báo động sự phát sinh khoản phải thanh lý lớn trong tương lai mà còn bị đánh giá

là chất lượng cho vay thấp cũng như công tác quản trị rủi ro không hiệu quả Điều này

có thể là do khách hàng cố tình không thanh toán khi đến hạn hoặc do tình hình tàichính của khách hàng không lành mạnh hoặc do CBCV không kiểm tra, giám sát chặtchẽ khoản vay để khách hàng sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến việc trả nợ không đầy

đủ hoặc không đúng hạn Để đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác quản trị rủi

ro trong CVDN, ta xem xét chỉ tiêu nợ quá hạn CVDN

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn CVDN so với tổng dư nợCVDN của ngân hàng tại một thời điểm nhất định

Tỷ lệ nợ quá hạn CVDN = x 100%

Xét về mặt bản chất, cho vay là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở ngân hàng tintưởng người vay có khả năng và sẵn sàng hoàn trả vào một thời điểm nhất định trongtương lai, do vậy tính an toàn là yếu tố quan trọng hàng đầu nhất để đánh giá chấtlượng cho vay CVDN của ngân hàng được coi là có chất lượng khi có tỷ lệ nợ quáhạn nằm trong giới hạn cho phép và phải thấp hơn kì trước Theo quy định, các ngânhàng có tỷ lệ nợ quá hạn dưới 5% thì chất lượng tín dụng tương đối tốt; còn tỷ lệ nợquá hạn trên 5% thì chất lượng tín dụng của ngân hàng được xếp vào loại yếu kém vànguy cơ gây rủi ro rất cao Trên thực tế, nếu các khoản nợ quá hạn CVDN càng cao thìngân hàng càng gặp khó khăn trong kinh doanh, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơmất vốn, mất khả năng thanh toán và lợi nhuận giảm Điều này có nghĩa là tỷ lệ nợ quáhạn càng thấp thì chất lượng CVDN càng cao Chất lượng CVDN càng cao chứng tỏcông tác quản trị rủi ro trong CVDN được thực hiện tốt và có hiệu quả nghĩa là cáckhoản vay được thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn Để phân tích đánh giá chấtlượng cho vay, người ta thường xem xét trên các khía cạnh sau:

+ Nợ quá hạn theo thời hạn vay, có TSĐB, không có TSĐB, có khả năng thuhồi hoặc không có khả năng thu hồi

+ Nợ quá hạn theo nguyên nhân: khách quan và chủ quan

Trang 35

Nợ xấu cho vay doanh nghiệp

Theo Quyết định 18/2007/QĐ – NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro cho vaytrong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định493/2005/QĐ – NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhànước, nợ xấu là các khoản thuộc các nhóm 3, 4 và 5 Nhìn chung, nợ xấu là các khoản

nợ quá hạn kèm theo một số chỉ tiêu khác như nợ quá hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại,không có tài sản đảm bảo, tài sản đảm bảo không bán được… Để đánh giá nợ xấuCVDN, ta xem xét chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu CVDN

Tỷ lệ nợ xấu CVDN = x 100%

Chỉ tiêu này cũng đánh giá khá rõ chất lượng CVDN cũng như công tác quản trịrủi ro trong CVDN Nợ xấu CVDN là một lời cảnh báo cho ngân hàng về khả năng thuhồi nợ rất mong manh Khi xảy ra tình trạng nợ xấu cao thì ngoài khả năng mất vốn,thiệt hại trước mắt là ngân hàng đã bị giảm thu nhập Tỷ lệ nợ xấu càng lớn thì khảnăng xảy ra rủi ro của ngân hàng càng cao hay công tác quản trị rủi ro trong CVDNcủa ngân hàng kém hay không kiểm tra và giám sát chặt chẽ khoản vay làm giảm chấtlượng cho vay Nếu chỉ tiêu này không đổi hoặc giảm đi thì ta có thể thấy ngân hàng

đã có những biện pháp kiểm soát chặt chẽ để ngăn chặn sự gia tăng khoản nợ xấu làmtăng chất lượng CVDN, điều đó cho thấy công tác quản trị rủi ro trong CVDN đạt hiệuquả và chất lượng thực hiện tốt

Ngoài ra, người ta còn xem xét chỉ tiêu nợ xấu trên nợ quá hạn để đánh giá chấtlượng CVDN:

Hệ số nợ xấu/ nợ quá hạn = x 100%

Hệ số này phản ánh tỷ trọng nợ xấu CVDN trong tổng nợ quá hạn CVDN Nếu

hệ số này cao, chứng tỏ nợ xấu chiếm phần lớn trong tổng nợ quá hạn, cho thấy côngtác quản trị rủi ro trong CVDN của ngân hàng chưa chặt chẽ sát sao Điều này sẽ gâyảnh hưởng không tố đến chất lượng CVDN của ngân hàng, do vậy cần phải có biệnpháp thu hồi nợ nhằm xóa bỏ nợ xấu Ngược lại, nếu hệ số này thấp có thể thấy rằng

nợ xấu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nợ quá hạn, chứng tỏ việc kiểm soát nợ xấu củangân hàng là tương đối tốt, tuy nhiên trong công tác quản trị rủi ro trong CVDN khôngđược chủ quan lơ là, cũng cần phải có biện pháp để loại bỏ hoàn toàn nợ xấu, nâng caohơn nữa chất lượng CVDN

Trang 36

Vòng quay vốn tín dụng trong cho vay doanh nghiệp

Vòng quay vốn CVDN = x 100%

Đây là chỉ tiêu thường được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giá khảnăng tổ chức quản lý vốn cho vay và chất lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầuvay vốn của khách hàng doanh nghiệp

Vòng quay vốn CVDN càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luânchuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD của ngân hàng phản ánh các khoảnvay được kiểm soát chặt chẽ cúng như chất lượng cho vay của ngân hàng tương đốitốt Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn nhanh nên ngân hàng đã đápứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tụcđầu tư vào các lĩnh vực khác Như vậy, chỉ tiêu này càng cao phản ánh tình hình tổchức quản lý vốn CVDN càng tốt, chất lượng CVDN càng cao chứng tỏ công tác quảntrị rủi ro được giám sát chặt chẽ thực sự Ngoài ra, hệ số này còn thể hiện chiến lượctrong CVDN của từng ngân hàng Nếu hệ số này cao chứng tỏ ngân hàng chủ yếu tậptrung mở rộng CVDN ngắn hạn và ngân hàng đang sử dụng chiến lược thận trọngtrong hoạt động cho vay nhằm hạn chế rủi ro

Lợi nhuận từ cho vay doanh nghiệp

Chất lượng và hiệu quả hoạt động CVDN của ngân hàng thể hiện bằng hệ thốngchỉ tiêu lợi nhuận và thu nhập của ngân hàng từ hoạt động CVDN, sự tăng trưởng củangân hàng về nguồn vốn, sử dụng vốn, về khách hàng và thị trường… do tác động củahoạt động CVDN Lợi nhuận của ngân hàng cũng được xác định như của doanhnghiệp, lợi nhuận từ CVDN của ngân hàng được xác định trên cơ sở thu nhập và chiphí

Hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều hướng tớimục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận, ngân hàng thì cũng không ngoại lệ Hiệu quảCVDN không thể nói là cao nếu lợi nhuận do hoạt động này mang lại thấp Chỉ tiêu đểđánh giá hiệu quả cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp được tính thông qua chỉ

số khả năng sinh lời:

x 100%

Chỉ tiêu này cho biết một đồng dư nợ CVDN sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợinhuận Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận càng lớn, đó là một trong những nhân tốtạo nên chất lượng CVDN của ngân hàng Chất lượng cho vay của ngân hàng tốt tươngđương với việc quản trị rủi ro trong CVDN cũng thực sự phát huy mạnh và đạt hiệuquả cao

Lợi nhuận từ CVDN chủ yếu là thu nhập từ lãi của khoản vay Để đánh giáđược chất lượng CVDN qua chỉ tiêu lợi nhuận, phải có sự so sánh giữa số thu lãi

Trang 37

CVDN với toàn bộ thu nhập từ lãi cho vay của ngân hàng thông qua chỉ tiêu tỷ trọngthu lãi CVDN Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:

Tỷ trọng thu lãi CVDN = x 100%

Chỉ tiêu này bao gồm việc xem xét mức tăng lợi nhuận từ CVDN và mức tănglợi nhuận trong tổng lợi nhuận từ hoạt động cho vay Bởi nếu chỉ xem xét tốc độ tănglợi nhuận CVDN mà đưa ra kết luận về chất lượng CVDN thì chưa chính xác vì điềunày còn phụ thuộc vào tốc độ tăng tổng lợi nhuận từ hoạt động cho vay Nhìn vào chỉtiêu này, chúng ta có thể thấy được chất lượng CVDN của ngân hàng qua các năm, quacác thời kỳ Nếu tỷ trọng này tăng qua các năm chứng tỏ chất lượng CVDN của ngânhàng được nâng cao hay công tác quản trị rủi ro trong CVDN của ngân hàng được thựchiện một cách nghiêm túc, theo đúng quy trình, từ đó đạt được hiệu quả cao

1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp

1.3.5.1 Các nhân tố khách quan

Môi trường kinh tế

Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng quy

mô hoạt động từ đó tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động cho vay Một môitrường kinh tế thuận lợi cũng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp SXKD có hiệuquả Khi SXKD thuận lợi doanh nghiệp sẽ cần nhiều vốn để đầu tư, mở rộng SXKD,

do vậy hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ có điều kiện để tăng trưởng và phát triển.Hơn nữa, một nền kinh tế ổn định, mọi yếu tố vĩ mô không biến động thường xuyên vàđột ngột sẽ giúp CBCV tính toán, đo lường rủi ro một cách tương đối để từ đó đưa ranhững biện pháp phòng ngừa và hạn chế được rủi ro xảy ra

Ngược lại, trong thời kỳ đình trệ sản xuất – kinh doanh bị thu hẹp, hoạt độngsản xuất của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhu cầu vốn vay giảm trong thời

kỳ này và nếu vốn vay đã được thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả

nợ đúng hạn cho ngân hàng Một điều kiện kinh tế khó khăn, mọi yếu tố vĩ mô biếnđộng thường xuyên sẽ gây khó khăn cho CBCV trong việc tính toán và lường trướcđược những rủi ro có thể xảy ra, như vậy sẽ ảnh hưởng xấu đến công tác quản trị rủi rotrong cho vay của ngân hàng

Môi trường pháp lý

Mỗi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ trong hoạt động SXKD nhưng phảiđảm bảo trong khuôn khổ pháp luật Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật của nhà nước và là một nhân tố vĩ mô có tác dụng sâu rộng đếnchất lượng CVDN của các NHTM, đó là sự đồng bộ thống nhất của hệ thống phápluật, ý thức tôn trọng chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật và cơ chếđảm bảo cho sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh triệt để Đối với bất kì một

Trang 38

hoạt động cho vay nói chung nào thì quan hệ vay mượn cũng đều được pháp luật thừanhận, pháp luật quy định cơ chế hoạt động cho vay, tạo ra những điều kiện thuận lợicho hoạt động cho vay lành mạnh, phát huy vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội,đồng thời duy trì hoạt động cho vay được ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa các bên tham gia quan hệ vay mượn Cụ thể, đối với CVDN, nếu những quy địnhpháp luật phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội thì chất lượng chovay sẽ tốt cũng như công tác quản trị rủi ro được thuận lợi và dễ dàng thực hiện hơntrong việc kiểm soát, tính toán và lường trước được rủi ro của khoản vay.

Môi trường chính trị - xã hội

Môi trường chính trị - xã hội ổn định là một điều kiện vô cùng quan trọng trongviệc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư Do vậy, một môi trường chính trị - xã hội ổnđịnh sẽ là cơ sở rất tốt cho mục tiêu mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng Việc

mở rộng hoạt động cho vay trong môi trường chính trị - xã hội ổn định, thuận lợi sẽgiúp cho hoạt động đầu tư đem lại hiệu quả, khả năng hoàn vốn vay sẽ cao hơn và chấtlượng khoản vay cũng sẽ cao hơn Ngược lại khi tình hình chính trị - xã hội không ổnđịnh, gây nên tình trạng mất lòng tin của các nhà đầu tư, không những hạn chế nhữngkhoản đầu tư mới mà còn tác động không tốt tới những khoản vay cũ thông qua nhữngảnh hưởng của nó đến hoạt động của các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng, dẫn đếnkhả năng thu hồi nợ của ngân hàng gặp khó khăn Việc gặp khó khăn trong thu hồi nợnghĩa là công tác quản trị rủi ro của ngân hàng không kiểm soát tốt, không lường trướcđược rủi ro nên hiệu quả quản trị rủi ro của ngân hàng giảm

Các nhân tố từ phía khách hàng

Trong quan hệ cho vay, các doanh nghiệp được vay vốn là một trong nhữngkhách hàng được ngân hàng tín nhiệm trao quyền sử dụng vốn Vì vậy, rủi ro tronghoạt động SXKD của khách hàng vay vốn cũng chính là rủi ro trong hoạt động chovay của ngân hàng Điều này buộc ngân hàng phải xem xét các vấn đề của khách hàng

có ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro trong CVDN

Một là: Năng lực tài chính của khách hàng: Các doanh nghiệp có năng lực

tài chính yếu kém, quy mô vốn nhỏ nên nhiều doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranhtrên thị trường dẫn tới việc SXKD không hiệu quả, ảnh hưởng đến việc trả nợ chongân hàng, làm cho hoạt động cho vay của ngân hàng giảm chất lượng cũng như côngtác quản trị rủi ro trong CVDN chưa tốt cụ thể là kiểm soát và giám sát không tốt nênkhông né tránh được rủi ro xảy ra khi khách hàng không trả được nợ

Hai là: Trình độ quản lý của doanh nghiệp: Các doanh nghiệp có năng lực

quản lý yếu kém, lơ là, không có chiến lược cụ thể và không dự đoán được kế hoạchtrong tương lai nên không thích ứng được với sự thay đổi của thị trường, sản phẩm sản

Trang 39

xuất ra không tiêu thụ được Chính vì thế mà hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị trìtrệ ảnh hưởng tới việc trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng Việc không trả được nợ gốc vàlãi đúng hạn làm giảm chất lượng khoản vay của ngân hàng cũng như công tác quản trịrủi ro trong cho vay của ngân hàng chưa thực hiện tốt một cách thực sự dẫn đến ngânhàng có thể gặp rủi ro xảy ra.

Ba là: Thông tin của doanh nghiệp: Doanh nghiệp yếu kém về quản trị dẫn

đến hệ thống sổ sách thiếu minh bạch, rõ ràng gây khó khăn cho ngân hàng trong việckiểm tra, thẩm định tình hình thực tế của doanh nghiệp Thậm chí có doanh nghiệp còn

cố tình cung cấp thông tin sai lệch, các báo cáo tài chính không trung thực nhằm chiếmdụng vốn của ngân hàng, đẩy ngân hàng vào tình trạng có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào

Do đó, CBCV không thể kiểm soát thông tin một cách chính xác và lường trước rủi ro

có thể xảy ra dẫn đến công tác quản trị rủi ro trong CVDN bị giảm sút và không cóhiệu quả

1.3.5.2 Các nhân tố chủ quan

Một là, chính sách cho vay doanh nghiệp của ngân hàng.

Đối với mỗi ngân hàng, CVDN luôn là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất trong

cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập, nhưng cũng đồng thời là hoạt động phức tạp và tiềm

ẩn nhiều rủi ro nhất Bởi vậy, để đảm bảo mục tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi

ro, phát triển bền vững, nhất thiết phải xây dựng một chính sách CVDN nhất quán vàhợp lý, phù hợp với đặc điểm của ngân hàng, phát huy được các thế mạnh, khắc phục

và hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn và sinh lời Chính sách CVDNbao gồm hạn mức cho vay, lãi suất, kì hạn, các khoản vay, hình thức cho vay… Có thểnói, chính sách CVDN là kim chỉ nam cho hoạt động CVDN, ảnh hưởng rất lớn tớichất lượng CVDN cũng như công tác quản trị rủi ro trong CVDN Ngân hàng có chínhsách CVDN hợp lý, đúng đắn, chặt chẽ, đồng bộ với mức lãi suất hợp lý… sẽ tạo điềukiện cán bộ cho vay có phương hướng triển khai hoạt động cho vay và quản trị rủi romột cách thuận lợi, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí góp phần nâng cao hiệuquả cho vay

Hai là, công tác thẩm định hoạt động cho vay doanh nghiệp.

Thẩm định CVDN là việc xét một cách toàn diện các nội dung cơ bản ảnhhưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án hay phương án vay vốn của doanh nghiệp

để ngân hàng ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư Mục đích của việc thẩm định lànhằm giúp ngân hàng rút ra những kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế,khả năng trả nợ và rủi ro có thể xảy ra của dự án hay phương án SXKD để ra quyếtđịnh cho vay hay từ chối Từ việc thẩm định, ngân hàng cũng có thể tham gia góp ýcho chủ đầu tư xác định số tiền cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất vay và mức thu nợ

Trang 40

phù hợp với năng lực của doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạtđộng có hiệu quả đảm bảo trả đủ nợ cho ngân hàng Như vậy, công tác thẩm định chovay là một yếu tố quan trọng giúp ngân hàng lường trước được rủi ro có thể xảy ra.Việc thẩm định chính xác làm cho công tác quản trị rủi ro được thuận lợi hơn trongquá trình tính toán, lường trước được rủi ro và đưa ra biện pháp hạn chế rủi ro để đảmbảo mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng.

Với những mục đích quan trọng như vậy nên thẩm định là khâu phức tạp và haymắc sai sót nhất Như vậy, nếu công tác thẩm định tốt thì ngân hàng sẽ giảm thiểuđược rủi ro xảy ra sau khi quyết định cho vay và chất lượng khoản vay được đánh giá tốt

Ba là, chất lượng cán bộ cho vay của ngân hàng.

Nhân tố con người là nhân tố trọng tâm trong mọi hoạt động Trong hoạt độngcho vay, CBCV là cầu nối giữa ngân hàng và bên vay, là người trực tiếp tiến hànhcông tác khai thác khách hàng, hướng dẫn khách hàng; thẩm định khách hàng vàphương án, dự án vay vốn; giải ngân; theo dõi kiểm soát trước, trong và sau khi chovay Nếu CBCV không đủ năng lực, phẩm chất thì sẽ không đánh giá chính xác hoặc

cố tình cho vay những khách hàng doanh nghiệp yếu kém dẫn đến nợ xấu, thậm chí làkhông thu được nợ Từ đó làm ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro của ngân hàng bịgiảm sút Ngược lại, CBCV có năng lực, phẩm chất tốt sẽ làm thỏa mãn nhu cầu kháchhàng, kể cả việc tư vấn Chính vì vậy, chất lượng của CBCV là yếu tố quan trọng trongcông tác quản trị rủi ro

Bốn là, công tác tổ chức của ngân hàng.

Khả năng tổ chức của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng CVDN cũngnhư công tác quản trị rủi ro trong CVDN Tổ chức ở đây bao gồm tổ chức các phòngban, nhân sự và tổ chức hoạt động trong ngân hàng Nếu ngân hàng có một cơ cấu tổchức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, phân định rõ chứcnăng, nhiệm vụ giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong ngân hàng, giữa cácngân hàng trong toàn bộ hệ thống cũng như với các cơ quan khác liên quan sẽ đảm bảocho ngân hàng hoạt động thống nhất có hiệu quả Qua đó, tạo điều kiện đáp ứng kịpthời yêu cầu của khách hàng, theo dõi quản lý chặt chẽ sát sao các khoản vay, có đượcthông tin chính xác của khách hàng từ các phòng ban, từ đó nâng cao chất lượng chodoanh nghiệp Bên cạnh đó, công tác quản trị rủi ro sẽ nắm bắt được rõ các thông tincủa khách hàng mà có thể tính toán và lường trước được rủi ro để đưa ra những biệnpháp hạn chế rủi ro hợp lý nhất đảm bảo mục tiêu lợi nhuận cho ngân hàng

Năm là, khả năng thu thập và xử lý thông tin của ngân hàng.

Thông tin là yếu tố sống còn đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường cạnh tranh gay gắt Trong cạnh tranh, ai nắm được thông tin trước là người có

Ngày đăng: 01/11/2014, 16:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Anh Yên Nhật - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
ng Anh Yên Nhật (Trang 6)
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức trong cho vay doanh nghiệp - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức trong cho vay doanh nghiệp (Trang 44)
Bảng 2.2. Doanh số cho vay doanh nghiệp - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
Bảng 2.2. Doanh số cho vay doanh nghiệp (Trang 53)
Bảng 2.3. Doanh số thu nợ cho vay doanh nghiệp - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
Bảng 2.3. Doanh số thu nợ cho vay doanh nghiệp (Trang 55)
Bảng 2.4. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp phân theo thời gian - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
Bảng 2.4. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp phân theo thời gian (Trang 56)
Bảng 2.6. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp phân theo thành phần kinh tế - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
Bảng 2.6. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp phân theo thành phần kinh tế (Trang 60)
Bảng 2.7. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp phân theo ngành nghề kinh doanh - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
Bảng 2.7. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp phân theo ngành nghề kinh doanh (Trang 62)
Bảng 2.9. Tình hình nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp phân theo thời gian 2009 - 2011 - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
Bảng 2.9. Tình hình nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp phân theo thời gian 2009 - 2011 (Trang 76)
Bảng 2.10. Hệ số nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp năm 2009 – 2011 - hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà thành
Bảng 2.10. Hệ số nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp năm 2009 – 2011 (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w