Tín dụng ngân hàng có các đặc điểm sau:- Tín dụng ngân hàng được thực hiện cho vay và thu nợ chủ yếu dưới hình thức tiền tệ, nguồn vốn tín dụng mà các ngân hàng sử dụng cho vay hình thà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
Hà Nội - 2011
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Ba Đình 38
Bảng 2.2: Tình hình cho vay tại Chi nhánh Ba Đình 42
Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh tại Chi nhánh Ba Đình 49
Bảng 2.4 Dư nợ cho vay DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình 56
Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo loại tiền 58
Bảng 2.6: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo thời hạn cho vay 60
Bảng 2.7: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo ngành 62
Bảng 2.8: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo Tài sản đảm bảo 65
Bảng 2.9: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN 66
Trang 3Bảng 2.10: Tình hình bảo lãnh đối với DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình 70
Biểu đồ 2.1: Quy mô cho vay DNVVN 58
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ cơ cấu tín dụng DNVVN theo loại tiền 59
Biêu đồ 2.3: Biểu đồ cơ cấu tín dụng DNVVN theo thời hạn cho vay 61
Biêu đồ 2.4: Biểu đồ chất lượng tín dụng DNVVN 68
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức Chi nhánh Ba Đình 35
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đại diện cho khoảng 90% các doanh nghiệp trong hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam
và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia thông qua tạo việc làm, đầu tư và xuất khẩu
Ở nước ta, khối DNVVN đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các DNVVN nói chung đã có sự tăng trưởng khá mạnh cả về chất và lượng, đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước Tuy nhiên, sự phát triển của các DNVVN đồng thời cũng làm bộc lộ nhiều hạn chế cố hữu như: thiết bị kỹ thuật lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ, chí phí sản xuất cao…mà một trong những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế đó đồng thời cũng
Trang 4là khó khăn mà các DNVVN đang gặp phải đó là khó tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng.
Cho vay DNVVN là một định hướng lớn của Ngân hàng TMCP cổ phần Công thương Việt Nam ( NHCT) Là một trong những chi nhánh lớn của NHCT, Chi nhánh Ba Đình thực hiện đầy đủ chức năng của một Ngân hàng thương mại theo các chính sách đầu tư phát triển của NHCT, kinh doanh tiền tệ gắn với định hướng phát triển kinh tế đất nước từng thời kỳ Chi nhánh Ba Đình nằm trên địa bàn quận Ba Đình- Trung tâm Thủ đô Hà Nội và cũng là nơi tập trung một lượng lớn các DNVVN, hứa hẹn là một khu vực khách hàng đầy tiềm năng Do vậy, Chi nhánh Ba Đình đã định hướng phát triển cho vay đối với các DNVVN Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với loại khách hàng này chưa thực sự đạt hiệu quả
Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình thực sự là vấn đề cần thiết hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng, DNVVN và hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với DNVVN;
Đánh giá thực trạng hiệu quả tín dụng đối với các DNVVN của Chi nhánh Ba Đình;
Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chất lượng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN;
Phạm vi nghiên cứu: Chi nhánh Ba Đình qua các năm 2007, 2008,
2009, 2010
Trang 54 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã nghiên cứu từ các quan điểm, lý luận và thực tiễn của các DNVVN trong nền kinh tế thị trường, từ đó đánh giá thực trạng và tìm biện pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với DNVVN tại Chi nhánh Ba Đình Luận văn có thể là một tài liệu tham khảo có giá trị đối với cán bộ tín dụng của Chi nhánh Ba Đình
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và
hệ thống các phương pháp điều tra phân tích, hệ thống hoá, tổng hợp, so sánh, phương pháp thống kê
6 Kết cấu của Đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng, sơ đồ, mục lục, Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tín dụng và tín dụng ngân hàng đối với DNVVN;
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các DNVVN tại NHCT- Chi nhánh Ba Đình;
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại NHCT- Chi nhánh Ba Đình.
Trang 6CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
Hoạt động tín dụng của NHTM là hoạt động trong đó ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh và các hình thức cấp tín dụng khác Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng lại thường được nói đến như nghiệp vụ cho vay của NHTM, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng
1.1.1 Đặc điểm tín dụng ngân hàng
Trang 7Tín dụng ngân hàng có các đặc điểm sau:
- Tín dụng ngân hàng được thực hiện cho vay và thu nợ chủ yếu dưới
hình thức tiền tệ, nguồn vốn tín dụng mà các ngân hàng sử dụng cho vay hình thành từ những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội mà ngân hàng huy động được;
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, người đi vay là các nhà doanh
nghiệp, các cá nhân, người cho vay là các ngân hàng;
- Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng gián tiếp;
- Tín dụng ngân hàng vừa mang tính chất sản xuất kinh doanh gắn
với hoạt động của các doanh nghiệp, vừa là tín dụng tiêu dung Vì vậy quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá
1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có thể phân loại tín dụng ngân hàng theo một số tiêu thức phổ biến sau:
• Phân loại theo nghiệp vụ
- Nghiệp vụ cho vay
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng
Khách hàng vay vốn phải tuân thủ nguyên tắc là sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả vốn vay cả gốc và lãi đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Khách hàng phải đáp ứng các điều kiện vay vốn do từng NHTM đưa
ra nhằm kiểm soát mức độ an toàn vốn vay Điều kiện vay vốn về cơ bản dựa trên các điều kiện chính là tư cách khách hàng phải tốt, có uy tín trong
Trang 8quan hệ vay vốn, có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; có khả năng tài chính về vốn và tài sản đảm bảo khả năng trả nợ theo cam kết; có phương án, dự án về sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống khả thi, đảm bảo nguồn thu để trả nợ ngân hàng; có tài sản đảm bảo hợp pháp đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ Các NHTM cũng có thể đưa ra các điều kiện vay vốn khác để áp dụng cho từng sản phẩm cho vay khác nhau cũng như những nhóm khách hàng có tính chất khác nhau nhằm đạt được mục tiêu chiến lược của mình Ví dụ điều kiện về bảo đảm tiền vay thì ngân hàng có thể áp dụng điều kiện cho vay có bảo đảm bằng tài sản là cầm
cố, thế chấp tài sản hay bảo lãnh của bên thứ ba, nhưng ngân hàng cũng có thể cho vay không có bảo đảm đối với những khách hàng tốt trong từng trường hợp cụ thể
Việc xác định thời hạn cho vay khác nhau thường phụ thuộc vào các yếu tố như nguồn trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay của ngân hàng Thời hạn cho vay khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau, thời hạn vay vốn càng dài thì rủi ro càng lớn, để bù đắp rủi ro thời hạn, các NHTM thường xác định lãi suất cho vay cao hơn đối với các khoản vay có thời hạn dài hơn và ngược lại
Để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, các NHTM đưa ra nhiều sản phẩm vay vốn khác nhau nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng và đem lại hiệu quả cho ngân hàng Các NHTM đưa ra các sản phẩm cho vay đa dạng giúp cho khách hàng có cơ hội lựa chọn tốt nhất, khuyến khích được nhu cầu vay vốn của khách hàng như cho vay trả góp, cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh, cho vay trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án …
- Bảo lãnh ngân hàng
Trang 9Là một hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng thay mặt cho khách hàng của mình cam kết với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đúng nghĩa
vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng còn được gọi là tín dụng chữ ký
Các loại bảo lãnh: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh
dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh, các loại bảo lãnh khác pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ quốc tế Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ
Để cấp bảo lãnh cho khách hàng, NHTM thường quy định chi tiết về các vấn đề liên quan tới nghiệp vụ bảo lãnh như: Điều kiện bảo lãnh, hồ sơ
đề nghị bảo lãnh, hợp đồng cấp bảo lãnh, hình thức và nội dung bảo lãnh, đồng bảo lãnh, bảo lãnh cho một nghĩa vụ mà nhiều khách hàng cùng tham gia thực hiện và cùng chịu trách nhiệm liên đới, thẩm quyền ký phát hành cam kết bảo lãnh, bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng đối với TCTD bảo lãnh, phí bảo lãnh, trình tự và thủ tục cấp bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh, miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt, ngôn ngữ sử dụng, áp dụng các điều ước và tập quán quốc tế trong giao dịch bảo lãnh khi có bên nước ngoài tham gia, quyền và nghĩa vụ của các bên, thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, chế độ kiểm tra, giám sát đối với hoạt động bảo lãnh…
- Tín dụng chứng từ (Documentary letter of credit - L/C):
Là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng thay mặt khách hàng của mình cam kết với người thụ hưởng về việc thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá trị L/C nếu người thụ hưởng xuất trình chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản, điều kiện được quy định trong L/C Thư tín dụng được sử dụng phổ biến như là một phương
Trang 10thức thanh toán, nhất là trong thanh toán Quốc tế Để có cơ sở cam kết với người thụ hưởng L/C thì ngân hàng phải đảm bảo nguồn vốn thanh toán từ người đề nghị mở L/C hoặc ngân hàng cấp tín dụng cho người đề nghị mở L/C đó.
- Chiết khấu thương phiếu:
Thương phiếu là một công cụ thương mại xác nhận cho người thụ hưởng một trái quyền ngắn hạn về tiền đối với người phải trả Trên thương phiếu xác định rõ số tiền và thời gian đến hạn phải thanh toán Ngày nay nó đang trở thành một công cụ phổ biến, mang tính thống nhất cao
Cá nhân hay tổ chức được thụ hưởng thương phiếu có thể giữ đến ngày đáo hạn hoặc trong hạn mang đến các NHTM xin chiết khấu để lấy được một số tiền nhỏ hơn số tiền ghi trên thương phiếu Các NHTM nhận chiết khấu có thể đem thương phiếu này đến NHNN xin chiết khấu lại (tái chiết khấu) với chi phí hợp lý
Đây là một nghiệp vụ khá đơn giản của NHTM, không phát sinh nhiều chi phí khi thực hiện và có độ an toàn cao Thương phiếu có thời hạn ngắn và độ an toàn cao nên cũng có tính thanh khoản cao từ đó làm tăng khả năng luân chuyển vốn của chủ sở hữu thương phiếu cũng như các NHTM
- Ngoài ra còn các hình thức tín dụng khác như: cho thuê tài chính…
•Dựa vào thời hạn tín dụng
Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
- Cho vay ngắn hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn dưới 01 năm Thông thường, những khoản vốn này tài trợ cho những nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt tạm thời hay theo chu kỳ sản xuất kinh doanh;
Trang 11- Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 01 năm đến 05 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định;
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 05 năm Mục đích của loại cho vay này thường là đầu tư nhằm vào các Dự án đầu tư
•Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
- Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản cầm
cố, thế chấp hay bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay
- Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo cho khoản vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng Để phản ánh về chất lượng tín dụng, người ta thường quan tâm đến một số chỉ tiêu như: Tỷ lệ nợ quá hạn,
tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ và cơ cấu tài sản đảm bảo Ngoài ra, để đánh giá định tính về chất lượng tín dụng, người ta quan tâm đến: cơ cấu
dư nợ vay ngắn- trung và dài hạn trong tương quan cơ cấu nguồn vốn của
tổ chức tín dụng, dư nợ cho vay đối với các ngành, lĩnh vực rủi ro cao tại thời điểm đó như: bất động sản, chứng khoán, kinh doanh nông thuỷ sản…
Tại Việt Nam, NHNN VN đã đưa chất lượng tín dụng vào làm một chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu về chất lượng hoạt động khi xếp hạng các TCTD Chất lượng tín dụng của NHTM được phản ánh thông qua các chỉ tiêu sau:
• Tỷ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn / tổng dư nợ) x 100%
• Tỷ lệ nợ nhóm 2 = (Dư nợ của các khoản nợ nhóm 2/ tổng dư nợ)
Trang 12Theo Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử
lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN VN và Quyết định sửa đổi bổ sung số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007, các TCTD phân loại nợ thành 05 nhóm như sau:
• Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
- Các khoản nợ quá hạn nhưng đã trả nợ gốc và lãi quá hạn và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn tiếp theo (tối thiểu 06 tháng đối với khoản vay trung dài hạn và 03 tháng đối với nợ ngắn hạn) kể từ ngày bắt đầu trả nợ gốc và lãi bị quá hạn
• Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
• Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
Trang 13- Các khoản nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo Hợp đồng tín dụng.
• Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
• Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ 2;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý
Nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro cũng như để bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ của tổ chức tín dụng, tương ứng với mỗi nhóm nợ nêu trên, NHNN quy định một tỷ lệ trích lập dự phòng lần lượt
là 0%, 5%, 20%, 50%, 100% ( có tính đến tỷ lệ khấu trừ tài sản đảm bảo)
Như vậy, việc duy trì một tỷ lệ tối đa nợ nhóm 1 luôn là mục tiêu đặt
ra đối với các NHTM nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.2.1 Khái niệm
Hiện nay, trên thế giới chưa có một khái niệm chung về loại hình DNVVN mà tuỳ thuộc đặc điểm của từng Quốc gia, từng giai đoạn phát
Trang 14triển kinh tế mà đưa ra những quy định về DNVVN Khi định nghĩa về DNVVN, các nước thường căn cứ vào quy mô về vốn của doanh nghiệp, số lao động thường xuyên tại doanh nghiệp, tổng doanh thu, tổng tài sản… của doanh nghiệp Chung quy lại mỗi quốc gia sử dụng những tiêu thức hay có cách kết hợp các tiêu thức trên khác nhau mà đưa ra định nghĩa riêng về DNVVN.
Trên thế giới, không chỉ tiêu chuẩn để phân loại các doanh nghiệp khác nhau mà ngay cả cách phân loại doanh nghiệp cũng khác nhau Có nước phân ra bốn loại doanh nghiệp như: Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn Có nước phân loại doanh nghiệp thành: Doanh nghiệp siêu nhỏ (thường là kinh tế hộ gia đình), doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp cực lớn Có nước (như Mỹ), chỉ những DNVVN độc lập thì mới là DNVVN, nhưng cũng có nước tính cả DNVVN là thành viên của các công
ty lớn cũng là DNVVN
Nhìn chung trên thế giới, hai tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến để phân loại doanh nghiệp là số lao động sử dụng và số vốn Trong hai tiêu chuẩn ấy, khá nhiều nước coi tiêu chuẩn về số lao động sử dụng là quan trọng hơn Theo Liên minh Châu Âu, DNVVN là doanh nghiệp có số lượng công nhân không vượt quá 250 Tại Úc, DNVVN là doanh nghiệp có số lượng công nhân tối đa không vượt quá 300, còn tại Mỹ là không quá 1000 Trong cùng một khu vực, khái niệm DNVVN cũng có sự khác nhau Tại Nam Phi, DNVVN là doanh nghiệp có từ 1đến 500 công nhân Tại Chilê và Colombia con số này là 11 đến 200 Trong khi đó tại Mexico thì một doanh nghiệp có 500 công nhân vẫn được coi là DNVVN
Riêng ở Việt Nam hiện nay, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước cùng với yêu cầu bức thiết trong vần đề hỗ trợ phát triển đối với các DNVVN, ngày 30/06/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
Trang 1556/2009/NĐ- CP ( thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ- CP ngày 23/11/2001) về “ Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” Theo đó, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200 người đến
300 người III Thương
mại và dịch vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
So với Nghị định 90/2001/NĐ-CP, khái niệm về DNVVN đã được
cụ thể hoá hơn rất nhiều Điều này cũng phù hợp với thực tiễn và đỡ “thiệt thòi” hơn cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành Thương mại, dịch vụ
1.2.2 Đặc điểm của các DNVVN
DNVVN có những đặc điểm khá đặc thù so với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Chúng ta có thể nhận ra những đặc điểm nổi bật của các DNVVN mang lại cho các doanh nghiệp này những ưu thế cũng như những hạn chế như sau:
• Ưu thế
- Thứ nhất, DNVVN dễ dàng khởi sự và linh hoạt, năng động nhạy bén, dễ thích ứng với thị trường
Trang 16DNVVN chỉ cần có một số vốn hạn chế, một mặt bằng nhỏ hẹp là đã
có thể khởi sự kinh doanh được Với vòng quay sản phẩm nhanh, quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ các doanh nghiệp có thể chuyển đổi hướng sản xuất kinh doanh, và phản ứng nhanh nhạy trước thị trường khi có những biến đổi bất lợi cho doanh nghiệp DNVVN thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ, có thể nắm bắt được cả những yêu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương Vì vậy DNVVN vó thể khai thác hết sức mạnh và khả năng của mình đạt hiệu quả kinh tế cao
- Thứ hai, DNVVN dễ quản lý
DNVVN có quy mô vừa và nhỏ, với số lượng vốn, lao động không nhiều, việc tổ chức tương đối gọn nhẹ và không có quá nhiều khâu trung gian nên việc quản lý tài chính cũng như quản lý nhân sự được thực hiện dễ dàng hơn
- Thứ ba, chi phí cố định thấp, linh hoạt trong việc sử dụng và thay đổi công nghệ
DNVVN chỉ cần đầu tư nhỏ về tài sản cố định, có thể sử dụng máy móc thiết bị trong nước, dễ dàng thay đổi công nghệ đổi mới trang thiết bị
kỹ thuật mà không tốn kém nhiều chi phí, có thể kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại, sản xuất chất lượng cao trong điều kiện sản xuất không thuận lợi DNVVN có lợi thế hơn doanh nghiệp lớn khi mà việc thay đổi theo kịp công nghệ mới sẽ đồng nghĩa với việc thay đổi đồng loạt hoặc toàn bộ một số lượng lớn các trang thiết bị máy móc với
số vốn đầu tư không nhỏ
- Thứ tư, DNVVN có thể phát huy được tiềm lực trong nước
Do việc sản xuất của doanh nghiệp lớn thường cần trữ lượng nguyên vật liệu lớn nên nhiều khi việc sử dụng nguyên liếu sẵn có tại các địa phương thường gặp khó khăn do lượng dự trữ thấp không đảm bảo cho sản xuất Trong khi đó DNVVN có thể tận dụng được những lợi thế này
Trang 17- Cuối cùng, DNVVN còn có những ưu thế như: Dễ phát huy bản chất hợp tác, đa dạng về lĩnh vực hoạt động, có mặt ở khắp các vùng lãnh thổ…
• Hạn chế của DNVVN
- Khả năng tài chính của DNVVN hạn chế
Quy mô vốn nhỏ là một đặc điểm mang tính chất hai mặt Nó vừa mang lại ưu thế như đã nêu trên cho các DNVVN, nhưng đồng thời cũng đem lại không ít khó khăn cho họ Khả năng tài chính là vấn đề quan ngại của ngân hàng khi quyết định cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này,
vì vốn chủ sở hữu nhỏ và thường không đảm bảo về tài sản thế chấp và các điều kiện khác cũng như báo cáo tài chính thường không rõ ràng, minh bạch Do vậy, các DNVVN khó tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng chính thức của ngân hàng cũng như của các tổ chức tài chính khác… Chính
vì thế phần lớn các doanh nghiệp thường ở trong tình trạng thiếu vốn, dẫn đến có thể bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh
- Môi trường kinh doanh không thuận lợi, thị trường tiêu thụ sản phẩm nhỏ và bấp bênh
Do có những hạn chế về vốn nên khả năng quảng bá và tiếp cận thị trường trong nước cũng như nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn Vốn ít, công nghệ kém cũng đồng nghĩa với việc chất lượng về sản phẩm, dịch vụ không đảm bảo và khó cạnh tranh với những sản phẩm của các doanh nghiệp lớn cùng ngành
- Thiếu thông tin
Cập nhật thông tin, phân tích và đánh giá thị trường là một trong những yếu tố rất quan trọng trong quản trị kinh doanh Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ không quan tâm đến vấn đề này Do không nắm bắt kịp thời tình hình về thị trường đầu vào, đầu ra cũng như
Trang 18các quy định pháp luật liên quan nên các doanh nghiệp này thường dễ mất tính chủ động
- Trình độ quản lý và đội ngũ lao động còn nhiều hạn chế
Do phần lớn các DNVVN có không gian hoạt động tương đối nhỏ và
kĩ năng sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc gia đình vì vậy trình độ quản lý và khả năng lập kế hoạch kinh doanh, tổ chức và triển khai sản xuất kinh doanh còn mang tính tự phát
Qua những đặc điểm của DNVVN, Chúng ta có thể thấy được vì sao hầu hết các nước đều có những chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển DNVVN Một trong những chính sách hỗ trợ của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng đối với các doanh nghiệp này là chính sách trợ giúp tài chính
1.2.3 Vai trò của DNVVN đối với nền kinh tế
Ở mỗi quốc gia, vai trò của DNVVN được thể hiện khác nhau, nhưng nhìn chung DNVVN thường có những vai trò chủ yếu sau:
1.2.3.1 Góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm cho người lao động
Xét trên góc độ giải quyết việc làm thì DNVVN có vị trí đặc biệt quan trọng Lịch sử phát triển kinh tế của các nước công nghiệp phát triển hay của các nước đang phát triển và cụ thể là thời kỳ đầu đổi mới của Việt Nam đã cho thấy, khi nền kinh tế suy thoái - sau khủng hoảng hoặc chiến tranh, các doanh nghiệp lớn thường phải giảm lao động để giảm chi phí Trong khi đó, nhờ đặc tính linh hoạt, uyển chuyển, dễ thích ứng với những thay đổi của thị trường nên các DNVVN vẫn duy trì được hoạt động và phát triển thêm lên Vì vậy, các DNVVN không những không giảm bớt số lao động hiện có mà còn có khả năng hấp thụ thêm số lao động dôi dư trong xã hội
Ngoài khả năng trực tiếp tạo ra việc làm cho lao động trong doanh
Trang 19nghiệp, việc phát triển DNVVN còn có tác động gián tiếp tạo ra những lao động ngoài doanh nghiệp (có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp) như: hoạt động cung ứng đầu vào, tiếp nhận đầu ra, các hoạt động phụ trợ phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp…
Lý do thành công trong việc giải quyết việc làm của DNVVN là: Thứ nhất, ở hầu hết các quốc gia, DNVVN có số lượng lớn, thường chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp;
Thứ hai, trong khi các doanh nghiệp lớn thường chỉ tập trung ở đồng bằng, đặc biệt là ở những khu đô thị, thì các DNVVN phân bố rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng lên miền núi, giải quyết nhu cầu việc làm ở các địa phương và góp phần cân đối lao động;
Thứ ba, do dễ khởi sự nên các DNVVN có thể giúp giải quyết nhanh chóng số lao động dôi tư tạm thời của nền kinh tế Ngoài ra, sự đa dạng về ngành nghề và sự phân bố rộng khắp của các DNVVN cho phép người lao động lựa chọn được công việc phù hợp với điều kiện và khả năng của họ
1.2.3.2 Góp phần tạo ra thu nhập đảm bảo đời sống cho người lao động
Về mặt xã hội, DNVVN góp phần tích cực cho quá trình tái phân phối thu nhập và bình đẳng xã hội; do vừa thúc đẩy tăng tầng lớp trung lưu, vừa làm giảm tỷ lệ người nghèo trong xã hội Sự phát triển của các DNVVN không những giải quyết được việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động mà còn có tác động làm tăng thu nhập của công nhân do tỷ lệ thất nghiệp thấp Điều này có thể được lý giải bằng quan hệ cung- cầu và giá cả trên thị trường lao động
1.2.3.3 Có khả năng tận dụng các nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần nâng cao khối lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ
Về tiền vốn: Đối với các nước phát triển vấn đề vốn có thể không
Trang 20khó khăn lắm, nhưng đối với các nước đang phát triển và kém phát triển thì việc tận dụng mọi nguồn vốn trong xã hội là rất cần thiết Chính các DNVVN đã cho phép làm được điều này, vì loại hình DNVVN mang tính
tư hữu cao, chủ yếu do các cá nhân có vốn tự đầu tư hoặc góp vốn cùng nhau kinh doanh ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào với quy
mô tuỳ ý
Về lao động: đối với các doanh nghiệp lớn thường có nhu cầu về lao
động với những trình độ nhất định, giới hạn trong những lĩnh vực sản xuất nhất định Trong khi đó, các DNVVN do nhu cầu đa dạng nên có thể sử dụng lao động ở đủ mọi lứa tuổi, mọi trình độ, từ lao động có trình độ cao đến lao động có trình độ thấp hay cả những lao động chưa hề qua đào tạo,
và thuộc mọi lĩnh vực, ở khắp các địa phương Vì vậy, có thể nói chính các DNVVN cũng là một nơi đào tạo người lao động ít tốn kém chi phí nhất
Về mặt kỹ thuật: DNVVN lựa chọn kỹ thuật phù hợp với khả năng
về vốn và trình độ lao động Những kỹ thuật được ứng dụng trong các DNVVN rất đa dạng, phong phú: từ thủ công đến cơ khí hóa, tự động hóa;
từ truyền thống đến tiên tiến, hiện đại Mỗi trình độ kỹ thuật có những ưu
và nhược điểm riêng, và không phải cứ tự động hóa hay hiện đại hóa là tối
ưu mà ngược lại Việc tận dụng mọi kỹ thuật hiện có là cần thiết, nhất là trong điều kiện nền kinh tế của các nước đang phát triển
vùng nguyên liệu dù nhỏ hay xa đến mấy, nhất là những nơi mà các doanh nghiệp lớn không thể bao phủ hết được Bên cạnh đó, việc tận dụng các nguyên vật liệu còn hữu dụng cho sản xuất là “sở trường” của các DNVVN…
1.2.3.4 Góp phần duy trì sự tự do cạnh tranh, ngăn chặn độc quyền
Với số lượng ít và quy mô lớn của các doanh nghiệp lớn, rất dễ dẫn đến tình trạng độc quyền Sự năng động, nhạy bén và số lượng nhiều của
Trang 21các DNVVN cho phép phá vỡ thế độc quyền, tái lập môi trường tự do cạnh tranh cho nền kinh tế Ngoài ra, các DNVVN không ỷ lại vào sự trợ giúp của nhà nước, với tính tự chủ cao độ, họ sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh và tìm cách khai thác mọi cơ hội để phát triển.
1.2.3.5 Làm cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn
Các doanh nghiệp lớn hoạt động thường cần có sự hỗ trợ của các vệ tinh là các DNVVN, có thể với tư cách là người cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, cung cấp dịch vụ, hoặc là người trung gian tiêu thụ sản phẩm đầu
ra, hay cũng có thể với tư cách là người gia công một vài công đoạn sản phẩm của doanh nghiệp lớn Vì vậy sự tồn tại và phát triển của các DNVVN rất cần thiết để bổ sung cho hoạt động của các doanh nghiệp lớn
1.2.3.6 Góp phần quan trọng vào quá trình tích luỹ kinh tế và là cơ sở
để phát triển thành doanh nghiệp lớn
Do lợi nhuận của vốn đầu tư tại các DNVVN thường là số dương nên các DNVVN có xu hướng giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mở rộng sản xuất Chính vì vậy, quá trình phát triển DNVVN cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm mở rộng thị trường, hoặc sự liên kết, hợp tác kinh doanh…
Ngoài ra, do chi phí đầu tư thấp, việc khởi sự bằng mô hình DNVVN tạo khả năng thử nghiệm các sản phẩm mới và tạo tiền đề phát triển trở thành doanh nghiệp lớn
1.2.3.7 Góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm
Với đặc tính năng động và nhạy bén, cho phép các DNVVN tham gia sản xuất các sản phẩm xuất khẩu hoặc những sản phẩm có khả năng thay thế hàng nhập khẩu Chất lượng sản phẩm có thể không cao, nhưng chắc chắc là giá sẽ rẻ hơn hàng nhập khẩu Đặc biệt,việc phát triển DNVVN tạo khả năng thúc đẩy tiềm năng của các ngành nghề truyền thống
Trang 22ở các địa phương của mỗi nước, nhất là các ngành thủ công mỹ nghệ, là một trong những ngành có tỷ trọng xuất khẩu cao ở các nước.
Từ những vai trò quan trọng trên của DNVVN cho thấy sự cần thiết tất yếu phải phát triển loại hình doanh nghiệp này tại các quốc gia Đặc biệt
là ở Việt Nam, việc phát triển DNVVN sẽ là cơ hội để tăng trưởng kinh tế trong điều kiện hạn hẹp về vốn và kỹ thuật hiện nay
1.3 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.3.1 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của các DNVVN
Vốn là yếu tố quan trọng và cần quan tâm nhất khi bắt đầu thiết lập một phương án kinh doanh đối với tất cả các doanh nghiệp nói chung và đối với DNVVN nói riêng Có rất nhiều kênh để huy động vốn Tuy nhiên mỗi kênh huy động lại có những hạn chế nhất định
- Huy động từ mối quan hệ bạn bè, người thân: Kênh huy động này thường không có tính ổn định, số lượng vốn huy động được nhỏ, không đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết của phương án, thời gian vay vốn phụ thuộc vào người cho vay chứ không căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
- Tích luỹ lợi nhuận để lại hàng năm: Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, có thể dùng lợi nhuận để lại để tái đầu tư Tuy nhiên, với một phương án kinh doanh lớn, để tích luỹ đủ lượng vốn cần thiết thì kế hoạch về thời gian sẽ không đảm bảo Cơ hội kinh doanh có thể sẽ tuột mất;
- Huy động từ thị trường “vốn đen”: Chỉ có thể tính theo ngày vì chi phí cho khoản vốn này quá lớn, không đảm bảo cho phương án khả thi nếu doanh nghiệp huy động với thời gian dài;
Trang 23- Tín dụng thương mại: cũng chỉ có giới hạn trong khả năng nguồn vốn của nhà cung cấp, phụ thuộc vào chính sách bán chịu của nhà cung cấp
và có thời hạn tín dụng ngắn
Trong khi đó, nếu DNVVN tiếp cận được nguồn vốn từ ngân hàng,
họ sẽ có những lợi ích vượt trội như sau:
- Được cung cấp lượng vốn vừa đủ đáp ứng nhu cầu cần thiết đối với mỗi phương án kinh doanh cụ thể;
- Thời gian vay được căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên đảm bảo tính chủ động trong việc lập kế hoạch tài chính,
Trang 24và vừa cũng đã chỉ rõ “Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích
và dành một số dự án hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực cho các tổ chức tài chính phù hợp mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý đầu tư và các dịch
vụ hỗ trợ khác cho khách hàng là đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa”
Việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này là một xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay Nó vừa đảm bảo thực hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ trong định hướng phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời đem lại nhiều lợi ích cho Ngân hàng DNVVN chiếm một số lượng khá lớn trong nền kinh tế với nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, hứa hẹn một thị trường tiềm năng cho việc mở rộng tín dụng, tái cơ cấu dư
nợ nhằm đưa ra một cơ cấu dư nợ hợp lý nhất đem lại lợi nhuận tối đa cho ngân hàng
Các DNVVN hiện nay đang ở trong tình trạng thiếu vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh Nguồn vốn của NHTM giúp cho DNVVN có được nguồn vốn để duy trì quá trình sản xuất kinh doanh một cách liên tục, mở rộng quá trình sản xuất, trang bị đổi mới thiết bị máy móc tạo điều kiện cho DNVVN nâng cao chất lượng sản phẩm và cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Quá trình mở rộng sản xuất của các DNVVN kéo theo việc các NHTM phải mở rộng quy mô tín dụng đối với khu vực doanh nghiệp này, do đó, nâng cao chất lượng tín dụng là một yêu cầu tất yếu nếu như các NHTM muốn tránh việc lãng phí và tổn thất nguồn vốn với số lượng lớn
1.3.3 Một số đặc điểm của tín dụng đối với DNVVN
Trang 25Do những đặc thù riêng của loại hình DNVVN nên việc cho vay đối với các doanh nghiệp này cũng có những đặc điểm riêng, không giống với cho vay các doanh nghiệp lớn:
- Do hoạt động của DNVVN diễn ra trên quy mô nhỏ và vừa nên
dễ nắm bắt và bao quát được Vì vậy công tác thẩm định để cho vay đòi hỏi
ít thời gian và ít kỹ năng hơn so với thẩm định một doanh nghiệp lớn
- Nhân viên tín dụng thường ít gặp trở ngại trong việc tiếp xúc với doanh nghiệp, trong việc yêu cầu được kiểm tra sổ sách, chứng từ thu- chi của doanh nghiệp Tuy nhiên khó khăn trong việc thẩm định cho vay đối với các DNVVN chính là ở chỗ khả năng cung cấp các số liệu kế toán tài chính và khả năng lập dự toán và phương án sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này thường rất hạn chế Báo cáo tài chính của các DNVVN thường không thể hiện đầy đủ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không lập được bảng lưu chuyển tiền tệ, hoặc các báo cáo tài chính thường không trung thực và không được kiểm toán Đặc biệt, tại hầu hết các doanh nghiệp nhỏ việc hạch toán kế toán không theo chuẩn mực chung,
mà chỉ mở sổ theo dõi sơ sài kiểu “ sổ chợ” và ít khi lập báo cáo tài chính
- Rủi ro trong cho vay đối với DNVVN được đánh giá là cao hơn
so với cho vay các doanh nghiệp lớn vì: (i) Các DNVVN dễ khởi sự và (vì vậy) cũng dễ kết thúc; (ii) Trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của chủ doanh nghiệp thường không cao nên dễ bị thua lỗ hơn; (iii) Thông tin về các DNVVN trên thị trường rất hạn chế, không phổ biến và cập nhật thường xuyên như thông tin về các doanh nghiệp lớn
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN
1.3.4.1 Các nhân tố thuộc về Ngân hàng thương mại
Trang 26Việc mở rộng quy mô tín dụng đối với các DNVVN phải đảm bảo phù hợp với năng lực của Ngân hàng Đồng thời, phải đảm bảo tăng trưởng
về quy mô luôn đi đôi với chất lượng tín dụng Việc này chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố nội tại Ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN Một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn, cần được xem xét đó là:
* Chính sách tín dụng và quy trình cho vay
Chính sách tín dụng bao gồm hệ thống các quan điểm, chủ trương, định hướng và quy định về tín dụng như: hạn mức cho vay, kỳ hạn trả nợ, lãi suất cho vay, hình thức cho vay, tài sản đảm bảo…Chính sách tín dụng
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quy mô và chất lượng khoản vay Một chính sách tín dụng hợp lý trong từng thời kỳ sẽ giúp cho NHTM hoạt động hiệu quả hơn và nâng cao khả năng mở rộng cho vay Bên cạnh đó nếu quy trình, quy chế, quy định cho vay của NHTM đồng bộ, thống nhất, khoa học đơn giản dễ hiểu thì sẽ làm cho việc mở rộng cũng như kiểm soát chất lượng tín dụng dễ dàng thực thi hơn
* Chiến lược kinh doanh của NHTM
Chiến lược phát triển kinh doanh giúp cho NHTM xác định hướng phát triển cho mình, khai thác được những năng lực hiện có của mình và có những phản ứng kịp thời với những thay đổi của nền kinh tế Tuỳ từng NHTM có những chiến lược kinh doanh khác nhau Có NHTM tập trung
mở rộng cho vay DNVVN, ngân hàng khác lại có chiến lược phát triển và
mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp lớn
* Trình độ công nghệ thông tin NHTM
Trình độ công nghệ thông tin hiện nay đóng góp một phần không nhỏ vào việc mở rộng cho vay của NHTM Nếu NHTM có được những thông tin nhanh và chính xác, sử dụng công nghệ hiện đại thì các giao dịch diễn ra nhanh chóng, chính xác và thuận tiện thì sẽ ngày càng thu hút được
Trang 27nhiều khách hàng, đồng thời cũng giúp NHTM có thể đa dạng hoá các loại hình dịch vụ Do đó việc mở rộng cho vay sẽ diễn ra một cách nhanh chóng
và hiệu quả hơn Đồng thời, công nghệ thông tin hiện đại cũng là một công
cụ hữu ích, hỗ trợ cho công tác cảnh báo, phòng ngừa rủi ro tín dụng
* Trình độ của đội ngũ cán bộ
Nhân tố con người đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động cho vay của NHTM Trình độ của cán bộ NHTM ngày càng được đòi hỏi cao để có thể đáp ứng được kịp thời, có hiệu quả với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Một NHTM mà đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp đồng thời giỏi chuyên môn, chắc chắn NHTM đó sẽ có ưu thế hơn trong
mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng
* Trình độ quản lý/đạo đức kinh doanh của chủ DNVVN
Người quản lý và điều hành doanh nghiệp là người quyết định sự tồn tại và phát triển, thành công hay thất bại của một doanh nghiệp Vì vậy nếu
Trang 28lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ quản lý cao, có đạo đức trong kinh doanh sẽ làm cho khoản vốn vay được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng
1.3.4.3 Các nhân tố khác
* Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế ảnh hưởng đáng kể đến quy mô cũng như chất lượng tín dụng của NHTM đối với DNVVN Khi nền kinh tế ổn định, ngân hàng và doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thuận lợi, ít phải đối mặt với rủi ro, chất lượng tín dụng sẽ được đảm bảo Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái hay sự mất đồng bọ trong các chủ trương, chính sách kinh tế sẽ dễ làm xuất hiện rủi ro cho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
* Môi trường chính trị - xã hội
Môi trường chính trị - xã hội tạo sự ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế Một chính sách kinh tế tốt nhưng không đảm bảo sự ổn định về chính trị- xã hội thì cũng không khuyến khích được sản xuất, đầu tư của các doanh nghiệp Từ đó làm giảm khả năng mở rộng quy mô hoạt động cũng như chất lượng tín dụng của các NHTM
* Môi trường pháp lý
Chủ trương, chính sách của Chính phủ, của NHNN về hoạt động tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp tới việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM Hoạt động kinh doanh của các NHTM rất đặc thù, có ảnh hưởng quyết định tới sự ổn định, phát triển của thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung Do vậy, các quy định về hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhất là các quy định về hoạt động tín dụng thường rất chặt chẽ và được kiểm soát thường xuyên nhằm hạn chế rủi ro ở
Trang 29mức thấp nhất Một trường pháp lý đồng bộ, thông thoáng sẽ giúp cho các NHTM mở rộng quy mô tín dụng của mình.
1.4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1 Tín dụng ngân hàng đối với DNVVN ở một số nước trên thế giới
1.4.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc có “ Vườn ươm DNVVN” là nơi mà hầu như tất cả các doanh nghiệp đều được sự hỗ trợ từ Chính phủ Thông thường các DNVVN trong vườn ươm được hỗ trợ từ 3-5 năm Tại đây, các DNVVN có thể được giúp để tìm kiếm các nhà tài trợ hoặc các TCTD để có thể tăng nguồn vốn kinh doanh Giúp các doanh nghiệp tăng vốn ban đầu lên 5-6 lần bằng cách
hỗ trợ ngay từ đầu trong vườn ươm
1.4.1.2 Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc có hệ thống các quy định nhằm giúp phát triển các DNVVN Chính phủ Hàn Quốc bắt buộc các doanh nghiệp lớn phải thanh toán bằng tiền mặt cho DNVVN trong trường hợp ký hợp đồng sản xuất hay mua sản phẩm của DNVVN Đối với các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của DNVVN sẽ được vay 50% vốn
Nếu các tổ chức nào cung cấp dịch vụ hỗ trợ sự phát triển về công nghệ mới cho các DNVVN, Chính phủ sẽ đảm bảo cho họ nhận được 70% vốn vay ngân hàng
Ngoài ra, để hỗ trợ vốn cho các DNVVN, Chính phủ bắt buộc các Ngân hàng quốc doanh dành 35% toàn bộ vốn vay của mình cho các DNVVN, còn đối với ngân hàng nước ngoài và các tổ chức bảo hiểm là 25%
Hỗ trợ tín dụng thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện cho các DNVVN có điều kiện vay vốn với lãi suất ưu đãi Đặc biệt, Ngân hàng Hàn Quốc đảm bảo cung cấp khoảng 90% tổng số vốn vay trong các lĩnh vực nhập khẩu công nghệ, hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhập máy
Trang 30móc để sản xuất nguyên vật liệu, phụ tùng.
1.4.1.3 Philippine
Luật của Philippine quy định: Ngân hàng phải dành ít nhất 10% trong tổng số các khoản cho vay cho DNVVN Chính phủ cho phép các Ngân hàng lập chi nhánh bất cứ chỗ nào họ muốn Nhiều chi nhánh đã mọc lên khắp các tỉnh và vùng nông thôn, nơi có nhiều DNVVN đang cần vốn,
đã tạo điều kiện cho họ có khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với lãi suất cạnh tranh và hấp dẫn
1.4.1.4 Đài Loan
Thành lập “Quỹ phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ” nhằm mục đích giúp các DNVVN cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và cấp tín dụng với lãi suất thấp hơn lãi suất ngân hàng Thành lập ngân hàng chuyên cho các DNVVN vay vốn
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ những kinh nghiệm thực tế ở các nước, có thể thấy rằng:
- Đa số các DNVVN trước tiên phải tự hoàn thiện, phát triển dựa trên chính mình, tranh thủ sự trợ giúp từ Chính phủ
- Chính phủ thiết lập những cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như: dành một tỷ lệ vốn huy động nhất định để cho vay DNVVN, thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng, các trung tâm trợ giúp, tư vấn cho DNVVN
- Nhà nước quan tâm đặc biệt đến khu vực này, có thể đưa những quy định đối với DNVVN vào trong Luật
Với những kinh nghiệm nêu trên, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
- Trong việc cấp tín dụng cho các DNVVN, Nhà nước giữ vai trò
hỗ trợ, giúp đỡ chứ không bao cấp Phải để cho các DNVVN tự nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, tìm kiếm nhà đầu tư vốn hiệu quả
Trang 31- Có thể nghiên cứu thành lập ngân hàng chuyên cho vay đối với DNVVN trực thuộc các TCTD.
- Nâng cao chức năng hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN để bảo lãnh vay vốn ngân hàng khi họ không đủ tài sản đảm bảo
Kết luận chương 1: Trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước,
DNVVN có những vai trò to lớn mà chúng ta phải thừa nhận trong việc đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế Để có đảm bảo đủ mạnh về quy mô, năng lực hoạt động, có khả năng cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi các DNVVN phải cần đến lượng vốn đầu tư nhất định, trong đó, Ngân hàng thương mại là kênh huy động hiệu quả nhất Chương một đã nêu được những lý luận cơ bản nhất về: Tín dụng; Tín dụng ngân hàng; Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như tính tất yếu phải mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NHCT
BA ĐÌNH 2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CHI NHÁNH NHCT BA ĐÌNH
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Chi nhánh NHCT Ba Đình (sau đây gọi tắt là Chi nhánh) tiền thân là Chi điếm Ngân hàng Đội Cấn được thành lập từ năm 1958, là một trong những ngân hàng được thành lập đầu tiên trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, có trụ sở tại 34 phố Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Đến nay, trên nửa thế kỷ từ khi thành lập, với biết bao thăng trầm của nền kinh tế đất nước, hoạt động Ngân hàng liên tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức
Ba mươi năm dài hoạt động trong bối cảnh Đất nước có chiến tranh,
cơ chế kinh tế kế hoạch hóa bao cấp, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế còn nhiều yếu kém Chi điếm Đội Cấn là một đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Hà Nội Giai đoạn này Ngân hàng, thực hiện nhiệm
vụ theo chỉ đạo của Ngân hàng Thành phố, Thành ủy Hà Nội, thực hiện nhiệm vụ tín dụng, cho vay khu vực kinh tế Quốc doanh, Kinh tế tập thể, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội sang công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; mở rộng mạng lưới huy động tiết kiệm, tiền mặt; tăng cường quản lý vốn, quản lý tiền mặt, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tăng tốc độ lưu chuyển của nền kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội; vừa thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, vừa thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng, nhất là trong giai đoạn những năm chiến tranh chống Mỹ khó khăn, ác liệt
Trang 33Sau khi thống nhất đất nước, năm 1975 đến giai đoạn đổi mới, năm
1988, thời kỳ này nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng, vì vậy ngày Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Nhà nước Ba Đình nói riêng gặp rất nhiều khó khăn
Thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển từ cơ chế kinh tế tập chung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước, theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT ngày 26/03/1988 về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT) được thành lập, Chi nhánh Ba Đình trở thành một Chi nhánh trực thuộc NHCT Trong năm đầu thực hiện chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động (1988-1993) Giai đoạn này, Nền kinh tế nước ta vẫn đứng trước thách thức rất lớn, kinh tế còn khủng hoảng, lạm phát cao, cơ chế quản lý
và nề lối làm việc cũ, quan liêu bao cấp vẫn còn Chi nhánh Ba Đình thực hiện nhiệm vụ của ngân hàng chuyên doanh với chức năng chủ yếu là huy đống vốn, cho vay và thực hiện chức năng thanh toán Tuy nhiên, quy mô hoạt động thì nhỏ, nguồn vốn khoảng 8.874 triệu đồng, dư nợ cho vay 4.980 triệu đồng, nhưng đã sảy ra cho vay bị thất thoát vốn lớn, nợ xấu, nợ đọng chiếm tỷ trọng lớn trên tổng dư nợ
Từ năm 1993, sau khi Tổng giám đốc NHCT giải thể Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thành phố Hà Nội, chính thức chuyển thành Chi nhánh trực thuộc NHCT, Ngân hàng mang tên “Chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực Ba Đình” Đây cũng là thời kỳ, Chi nhánh đã có những đổi mới toàn diện từ tổ chức bộ máy, đổi mới về phương thức tổ chức quản lý và hoạt động Với đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên trẻ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và quyết tâm đổi mới, nhờ đó hoạt động kinh doanh đã tạo ra bước ngoặt mới, từ một Ngân hàng kinh doanh thua lỗ, trở thành một trong những Chi nhánh Ngân hàng có quy mô lớn, kinh doanh hiệu quả nhất trong hệ thống NHCT Liên tục được Nhà
Trang 34nước phong tặng những danh hiệu cao quý như Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 1998, Huân chương lao động hạng ba năm 2000, Huân chương lao động hạng nhì năm 2005 và nhiều danh hiệu khác.
2.1.2 Tư cách pháp lý, cơ cấu tổ chức
Tư cách pháp lý
Chi nhánh Ba Đình là một đơn vị hạch toán phụ thuộc NHCT, tổ chức và hoạt động theo phân cấp, ủy quyền của Tổng giám đốc, được kinh doanh những ngành nghề trong đăng ký kinh doanh của NHCT, có con dấu riêng, có trụ sở tại 126 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
Cơ cấu tổ chức
Theo Quyết định số 068/QĐ-CNBĐ-TCHC ngày 30/07/2007 của Giám đốc Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình về việc chuyển đổi, sắp xếp lại mô hình tổ chức Chi nhánh: có Ban giám đốc và 14 phòng ban gồm: Phòng Khách hàng doanh nghiệp lớn, Phòng khách hàng doanh nghiệp vừa
và nhỏ, Phòng khách hàng cá nhân( bao gồm các PGD loại 2,Điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm), Phòng Kế toán Giao dịch, Phòng Tổng hợp, Phòng Thanh toán Xuất nhập khẩu, Phòng Tiền tệ Kho quỹ, Phòng Giao dịch Tây
Hồ, Phòng giao dịch Tây Đô, Phòng giao dịch Nguyễn Du,Phòng Thông tin Điện toán, Phòng Quản lý rủi ro và nợ có vấn đề, Phòng Tổ chức hành chính, Tổ thẻ và Dịch vụ Ngân hàng điện tử
Theo đó, Phòng Khách hàng cá nhân quản lý trực tiếp các Phòng giao dịch cấp 2, các quỹ tiết kiệm; Tổ thẻ và ngân hàng điện tử quản lý trực tiếp hệ thống máy ATM, hệ thống máy cà thẻ EDC Riêng Phòng khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ có chức năng “ Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các DNVVN theo phân loại quy mô Khách hàng doanh nghiệp của NHCT và các khách hàng khác, theo sự phân công của Giám đốc Chi nhánh Ba Đình…thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp…” Bên cạnh các phòng
Trang 35ban tổ chức trực thuộc Ban giám đốc, Chi nhánh Ba Đình còn có các tổ chức đoàn thể như Đảng ủy, Công đoàn , Đoàn thanh niên Cơ sở … Để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, Chi nhánh Ba Đình thành lập các ban như: Ban thanh tra nhân dân, hội đồng tín dụng, hội đồng giảm miễn lãi, hội đồng xử lý và thu hồi nợ xấu …
Có thể tóm tắt cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ba Đình theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức Chi nhánh Ba Đình
Điểm mạnh
Ban giám đốc
Khối kinh doanh Khối dịch vụ Khối hỗ trợ
Khối quản lý rủi ro Khối kỹ thuật
Phòng kế toán giao dịch
Phòng Tổ chức hành chính
Phòng Tổng hợp
Phòng tiền tệ kho quỹ
Phòng quản lý rủi ro và nợ có vấn đề
Phòng thông tin điện toán
Trang 36Chi nhánh Ba Đình có trụ sở chính đóng tại Quận Hoàn Kiếm, nhưng trước đây trụ sở chính đóng tại 126 phố Đội Cấn thuộc Quận Ba Đình, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, so với các địa bàn khác thì dân cư đông, cơ sở hạ tầng tốt, kinh tế phát triển, nên có nhiều lợi thế về huy động vốn, đầu tư cho vay cũng như phát triển đa dạng các dịch vụ ngân hàng Đặc biệt, đây là địa bàn có nhiều DNVVN hoạt động, là lợi thế để Chi nhánh Ba Đình mở rộng tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này.
Trong nhiều năm hoạt động, Chi nhánh Ba Đình đã thiết lập mối quan hệ truyền thống với nhiều khách hàng là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty và các doanh nghiệp có tiềm lực mạnh, thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn của Đất nước, trở thành các khách hàng chiến lược trong quan hệ tín dụng, huy động vốn, cung cấp các dịch vụ ngân hàng của Chi nhánh Ba Đình
Chi nhánh Ba Đình có lịch sử hình thành và phát triển trên 50 năm, trải qua những bước thăng trầm, đến nay đã vươn lên trở thành một trong những chi nhánh ngân hàng hàng đầu trong hệ thống NHCT, trong suốt quá trình đó, Ban lãnh đạo Chi nhánh đã rút ra những bài học quan trọng trong công tác chỉ đạo điều hành, trong tổ chức hoạt động kinh doanh để vượt qua khó khăn thách thức, đi đến những thành công
Điểm yếu
Chi nhánh Ba Đình có đội ngũ cán bộ, nhân viên đông (293 cán bộ nhân viên), thuộc nhiều thế hệ, số cán bộ cao tuổi chiếm tỷ trọng khá lớn, trong đó một bộ phận không nhỏ được đào tạo không bài bản, trình độ chuyên môn nghiệp vụ hạn chế Để đáp ứng yêu cầu công việc, trong vài năm gần đây rất nhiều cán bộ có trình độ cao chuyển về công tác tại NHCT, trong khi yêu cầu công việc ngày càng lớn và phức tạp, vì vậy rất khó khăn trong triển khai công việc
Trang 37Hệ thống mạng lưới của chi nhánh chủ yếu là các quỹ tiết kiệm được lập ra từ nhiều năm trước, mặt bằng, cơ sở vật chất thấp, không đáp ứng được các tiêu chuẩn màng lưới của NHCT, thực tế cũng không hấp dẫn khách hàng khi so sánh với các điểm giao dịch mới được thành lập của các NHTM khác.
Do lịch sử để lại, Chi nhánh Ba Đình đang tồn tại một số khoản nợ xấu, nợ dưới chuẩn, phần lớn thuộc các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong các ngành xây lắp, giao thông, vận tải biển, có tỷ trọng cho vay không có tài sản bảo đảm cao, mà khả năng thu hồi gặp nhiều khó khăn, những năm gần đây thường xuyên phải trích lập dự phòng rủi ro cao, ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của Chi nhánh
2.1.3 Sơ lược tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ba Đình những năm gần đây
Những năm gần đây, hoạt động ngân hàng trở thành một trong những lĩnh vực có sự cạnh tranh gay gắt nhất Cùng với sự có mặt của rất nhiều NHTM cổ phần ngoài quốc doanh là sự xâm nhập thị trường của các Ngân hàng nước ngoài Đối thủ cạnh tranh trên gây sức ép khá lớn đến NHCT nói chung và Chi nhánh Ba Đình nói riêng do họ có khá nhiều lợi thế về công nghệ, con người, trình độ quản lý…
Cùng với khó khăn về cạnh tranh là sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm cho lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng càng trở nên khó khăn hơn Tuy nhiên, Chi nhánh Ba Đình đã đạt được một số thành quả nhất định
2.1.3.1 Về công tác huy động vốn
Trang 38Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại Chi nhánh Ba Đình
Chỉ tiêu Năm
2007
Số dư Số
dư
+/-
so với 2007
Tỷ lệ
tăng (%)
Số
dư
+/- so với 2008
Tỷ lệ
tăng (%)
Số
dư
+/- so với 2009
Tỷ lệ tăng (%)
- Tiền gửi dân cư 2.324 2.305 -19 -0.8 2481 176 7.6 3.103 622 25
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2007, 2008, 2009, 2010-Chi nhánh Ba Đình)
Năm 2008 nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng phải đối mặt với những khó khăn thách thức lớn nhất trong hơn một thập kỷ qua do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế toàn cầu Chi nhánh Ba Đình cũng không tránh khỏi vòng xoáy của cuộc khủng hoảng đó Do vậy, nguồn vốn huy động của Chi nhánh có sự sụt giảm đáng kể:
- Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2008 đạt 4.493 tỷ đồng,
giảm 648 tỷ đồng so với 31/12/2007, tương ứng với tỷ lệ giảm 12,6% Trong đó:
o Tiền gửi VNĐ: 3.410 tỷ đồng, giảm 629 tỷ đồng so với năm 2007
o Tiền gửi ngoại tệ qui VNĐ: 1.082 tỷ đồng, giảm 19 tỷ đồng so với năm 2007
Trang 39- Về cơ cấu nguồn vốn huy động:
o Tiền gửi của các Tổ chức kinh tế đạt: 2.188 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 48,7% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 629 tỷ đồng so với 31/12/2007 tương đương 22,3%
o Tiền gửi dân cư đạt: 2.305 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 51,3% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 19 tỷ đồng so với 31/12/2007 tương đương 0,8%
- Tổng nguồn vốn huy động bình quân năm 2008 của Chi nhánh Ba
Đình đạt 4.535 tỷ đồng, giảm 8,3% so với vốn huy động bình quân năm trước
Năm 2009, tuy không dồn dập với những sự kiện bất thường như năm 2008 nhưng năm qua cũng là một năm kinh doanh không mấy thuận lợi đối với các DN nói chung và hệ thống NHTM nói riêng, đặc biệt là trong những tháng đầu năm
Nền kinh tế có nhiều biến động, nguồn vốn luôn căng thẳng, cạnh tranh lãi suất giữa các Ngân hàng diễn ra quyết liệt Mặc dù NHCT có mạng lưới rộng hoạt động rộng khắp đất nước nhưng lãi suất huy động thấp hơn so với các NHTM trên địa bàn, nên việc thu hút tiền gửi khó khăn hơn, đặc biệt là tiền gửi dân cư Hơn nữa, trên thị trường cũng có nhiều kênh đầu tư sinh lời khác như: chứng khoán, vàng, bất động sản, nên nguồn vốn
bị san sẻ Nhưng với sự nỗ lực, quyết tâm cao của Ban Giám đốc và toàn thể CBNV Chi nhánh nên kết thúc năm 2009, nguồn vốn huy động của Chi nhánh vẫn đạt tỷ lệ tăng trưởng 24,1%
- Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2009 đạt 5.578 tỷ đồng,
tăng 1.085 tỷ đồng, tương đương tốc độ tăng 24,1% so với 31/12/2008 Trong đó:
Trang 40o Tiền gửi VNĐ: 4.190 tỷ đồng, tăng 779 tỷ đồng;
o Tiền gửi ngoại tệ qui VNĐ: 1.388 tỷ đồng, tăng 306 tỷ đồng
- Về cơ cấu nguồn vốn huy động:
o Tiền gửi của các Tổ chức kinh tế đạt: 3.047 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 54,6% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 859 tỷ đồng so với 31/12/2008 tương đương 39%
o Tiền gửi dân cư đạt: 2.481 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 44,4% trong tổng nguồn vốn huy động, tăng 176 tỷ đồng so với 31/12/2008 tương đương 7,6%
- Tổng nguồn vốn huy động bình quân năm 2009 của Chi nhánh Ba
Đình đạt 4.912 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 8,3% so với vốn huy động bình quân năm trước
Năm 2010, hoạt động kinh doanh của ngành Ngân hàng đã trải qua một giai đoạn hết sức khó khăn do việc thực hiện các chính sách tiền tệ, tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhằm hạn chế những biến động phức tạp của thị trường, ổn định thị trường ngoại hối, vàng và lãi suất Hàng loạt các biện pháp được Ngân hàng Nhà nước áp dụng như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc, liên tục điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn đã làm cho hoạt động kinh doanh tiền tệ – tín dụng của các ngân hàng thương mại gặp rất nhiều khó khăn Theo đó, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại càng trở nên gay gắt và bùng nổ, cuộc đua lãi suất tiền gửi tiết kiệm, lãi suất cho vay và kể cả việc giành giật các khách hàng là tổ chức có nguồn tiền gửi đã được các ngân hàng áp dụng triệt để Hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế nói chung chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng kinh tế Thế giới đã tác động lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng Tuy