Chính sách tài khóa Việt Nam đến năm 2020
Trang 1NAM ĐẾN NĂM 2020
Trang 23 Chính sách tài khóa của Việt Nam đến năm 2020
2.Thực trạng chính sách tài khóa ở một số nước và Việt Nam
1 Cơ sở lý luận của chính sách tài khóa
Trang 31.1.1 Khái niệm về chính sách tài khóa
1.1.2 Phân loại chính sách tài khóa.
1.1.3 Chính sách tài khóa và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
1.2 Đặc điểm chính sách tài khóa các nước.
1.2.1 Chính sách tài khóa thuận chu kỳ và
ngược chu kỳ.
1.2.2 Đặc điểm chính sách tài khoá của các
nước phát triển
1.2.3 Đặc điểm chính sách tài khóa của các
nước đang phát triển.
Trang 42.1 Chính sách tài khóa giai đoạn 2000 - 2007
2.2 Chính sách tài khóa giai đoạn 2007 - 2008
2.3 Chính sách tài khóa giai đoạn 2009 đến nay
2.4 Đánh giá tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế nước ta
Trang 53.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.1 Tình hình đất nước
3.1.2 Quan điểm phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.2 Ba nhóm nhiệm vụ chiến lược:
3.2.1.Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tăng đầu tư
3.2.2 Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chậm nên mặc dù tốc độ tăng
trưởng kinh tế có thể đạt mục tiêu chiến lược nhưng hầu như không có thay đổi về chất
3.2.3 Thứ ba, mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu trong khi chuyển dịch cơ
cấu hàng hóa và thị trường xuất khẩu hạn chế
3.2.4 Thứ tư, ổn định kinh tế vĩ mô chưa vững chắc
Trang 63.3.1 Trọng tâm trong ngắn hạn của chính sách tài khóa là giữ vững mức động viên vàoNgân sách nhà nước( NSNN).
3.3.2 Mức độ thâm hụt NSNN trong lộ trình tiến tới cân bằng cán cân NSNN trong dài hạn
3.4 Mục tiêu CSTK từ năm 2011 đến năm 2015
3.4.1 Mục tiêu của CSTK năm 2011
3.4.2 Làm thế nào để đạt được mục tiêu: “thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước” ?
3.5 Mục tiêu của CSTK từ năm 2016 đến 2020
Trang 71.1.1 Khái niệm về chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa (fical policy) là các chính sách của chính phủ nhằm tác động nên
định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua việc thay đổi chính sách Thuế và các khoản chi tiêu của Chính phủ
Việc thay đổi thuế một mặt làm thay đổi thu nhập, mặt khác thuế cũng có thể tác
động đến giá cả hàng hóa
Việc thay đổi chi tiêu của chính phủ một mặt làm ảnh hưởng đến tổng chi tiêu của
xã hội, mặt khác cũng làm thay đổi thu nhập của dân cư thông qua cac khoản trợ cấp Thu nhập dân cư thay đổi lại làm thay đổi mức chi tiêu của hộ gia đình Từ đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng giá cả, công ăn việc làm.
Trang 81.1.2 Phân loại chính sách tài khóa
1.1.2.1 Chính sách tài khóa mở rộng.
Cơ chế tác động của chính sách Tài khoá mở rộng
G→↑ AD →↑ Y ↑
T↓→ YD→↑ C→↑ AD →↑ Y ↑
1.1.2.2 Chính sách tài khóa thu hẹp
* Cơ chế tác động của chính sách Tài khoá thu hẹp
G ↓ → AD ↓ → Y ↓
T↑→ YD→↓C→↓AD ↓ →Y↓
Trang 91.1.3 Chính sách tài khóa và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
1.1.3.1 Khi nền kinh tế suy thoái.
Khi nền kinh tế suy thoái tức là mức sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng, điều đó có nghĩa là vẫn có một lượng tài nguyên chưa được sử dụng hết, sản lượng đang nằm dưới mức sản lượng tiềm
năng Thường là không phải vốn vật chất (vì trong ngắn hạn, vốn là cố định),
mà là các nguồn lực có thể thay đổi được, như là lao động hay các nguồn tài nguyên có thể linh hoạt đưa vào sử dụng khác
Trang 101.1.3 Chính sách tài khóa và mục tiêu ổn định kinh tế
vĩ mô.
1.1.3.1 Khi nền kinh tế suy thoái.
Trong giai đoạn này chính phủ thường dùng chính sách kích cầu để kích thích nền kinh tế Thông thường có
ba cách để bơm cầu vào nền kinh tế.
- Chính phủ tăng chi tiêu, tăng các khoản chuyển nhượng, hay giảm thuế.
- Khu vực tư nhân chi tiêu nhiều hơn tiết kiệm (C
và I tăng, S giảm)
- Xuất khẩu tăng nhiều hơn nhập khẩu
Trang 111.1.3 Chính sách tài khóa và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
1.1.3.2 Khi nền kinh tế lạm phát.
Khi nền kinh tế lạm phát tức là sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng thì chúng ta cần sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt bằng cách
- Giảm chi tiêu, hay tăng thuế
- Khu vực tư nhân giảm chi tiêu và đầu tư (C và I)
- Nhập khẩu phải tăng nhiều hơn xuất khẩu
Trang 121.2.1 Chính sách tài khóa thuận chu kỳ và ngược chu kỳ.
Chính sách tài khóa thuận chu kỳ: là chính sách tài khóa được chính phủ các nước tiến hành chính sách tài khóa mở rộng vào lúc có lạm phát, và tiến hành chính sách tài khóa thu hẹp vào lúc suy thoái.
Chính sách tài khóa ngược chu kỳ: là chính sách tài khóa được chính phủ các nước tiến hành chính sách tài khóa thắt chặt (giảm chi tiêu và tăng thuế) khi nền kinh tế đang ở trạng thái tốt, và chính sách tài khóa mở rộng (tăng chi tiêu và giảm thuế) khi nền kinh tế đang ở trạng thái suy yếu
Trang 131.2.2 Đặc điểm chính sách tài khoá của các
nước phát triển
Ở các nước phát triển có nền kinh tế phát triển cho nên chế
độ phúc lợi xã hội rất tốt đồng thời thu nhập của người dân cũng rất cao vì vậy mức đóng góp của họ cũng chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách quốc gia.
Các nước phát triển có thể thực hiện chính sách tài khóa ngược chu kỳ thông qua các công cụ bình ổn tự động (autonomatic stabilizers) Gọi là công cụ bình ổn tự động bởi vì chính cơ chế vận hành của các công cụ này “tự động” đảm bảo chính sách tài khóa
.
Trang 141.2.3 Đặc điểm chính sách tài khóa của các nước đang phát triển.
Ở các nước đang phát triển, chính phủ chi tiêu nhiều hơn cho các khoản đầu
tư và các khoản công ích xã hội vào thời thịnh, và cắt giảm chi tiêu vào thời suy Và
chính phủ cũng rất khó cắt giảm nhu cầu chi tiêu cho y tế, giáo dục, và cơ sở hạ tầng vào những lúc kinh tế phát triển.
Có nhiều lý do khiến cho ở các nước đang phát triển, chính sách tài khóa có
xu hướng thuận chu kỳ Ví dụ khi chi tiêu của chính phủ tăng (G tăng) khi tổng cầu AD đang rất cao Một lý do lớn là do đầu tư nước ngoài Trong thời kỳ kinh tế phát triển,
dòng vốn lớn đổ vào nền kinh tế, tạo áp lực cho tỷ giá tăng lên, thúc đẩy xuất khẩu Kết quả là, các nguồn đầu tư này làm tăng doanh thu thuế cho Chính phủ.
Chính phủ cảm thấy ngân sách “xông xênh hơn” do hiệu ứng của cải, tăng đầu
tư công, mở rộng các dự án nhà nước Trong thời thịnh, giá nhiên liệu tăng lên, tạo áp lực cho mức giá chung, thuế thu được cho chính phủ cũng tăng theo, và chính phủ tiếp tục tăng chi tiêu Áp lực chính trị cũng tạo động cơ cho chính phủ tăng chi tiêu vào thời
Trang 152.1 Chính sách tài khóa giai đoạn 2000 - 2007
2.2 Chính sách tài khóa giai đoạn 2007 - 2008
2.3 Chính sách tài khóa giai đoạn 2009 đến nay
2.4 Đánh giá tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế nước ta
Trang 162.1 Chính sách tài khóa giai đoạn 2000 - 2007
Có thể chia tăng trưởng kinh tế Việt Nam thành 2 giai đoạn: suy thoái (2000
- 2001), phục hồi (2002 - 2007) Như vậy, từ năm 2000 đến năm 2007, nền kinh tế đã trải qua giai đoạn suy thoái và Chính phủ đã sử dụng biện pháp kích thích bằng chính sách tài khóa năng động khác nhau để kích thích kinh
tế, như cải cách thể chế kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường; mở cửa thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy thương mại quốc tế; đẩy mạnh tự do hóa hệ
Trang 172.1 Chính sách tài khóa giai đoạn 2000 - 2007
Trang 182.1 Chính sách tài khóa giai đoạn 2000 - 2007
Trang 192.1 Chính sách tài khóa giai đoạn 2000 – 2007
Như vậy, vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 2000
đến nay không thể chỉ giải thích ở biến số chính sách tài khóa duy nhất Có điều cần lưu ý, sự thay đổi tỷ lệ tăng trưởng từ năm “đáy” của suy thoái đến năm sau đó là lớn hơn khi có
những thay đổi cơ bản của chính sách tài khóa như: giảm mức huy động nguồn thu thuế thông qua chương trình cải cách
thuế; đặc biệt gia tăng chi đầu tư công thông qua các chương trình kích cầu từ nguồn vốn ngân sách và phát hành trái phiếu chính phủ
Tuy vậy, điều này cũng chưa đủ cơ sở khoa học để khẳng
định, chính sách tài khóa có hiệu ứng tốt đến ổn định chu kỳ và
Trang 202.2 Chính sách tài khóa giai đoạn 2007 – 2008
Đây là giai đoạn mà kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng có nhiều biến đổi đáng kể Trong giai đoạn này, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện quyết liệt 8 nhóm giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ
mô, kiềm chế lạm phát, tăng trưởng bền vững và thực thi chính sách an sinh xã hội mà Nghị quyết số 10/2008/NĐ-CP ngày 17- 4-2008 đã đề ra: Trong tháng 8-2008 đã có hai lần điều chỉnh giảm giá bán xăng và dầu hỏa, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người sử dụng; tăng cường công tác thu ngân sách để bảo đảm nhiệm vụ được giao, kết hợp với việc rà soát nợ đọng thuế, chống thất thu; tiếp tục rà soát lại chi ngân sách, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cắt giảm, đình hoãn các dự án đầu tư chưa thực sự cấp bách và dự án đầu tư không có hiệu quả; không tăng chi ngoài dự toán, dành nguồn kinh phí cho bảo đảm an sinh xã hội; xem xét điều chỉnh giảm mức thuế xuất
khẩu, nhập khẩu nhằm bình ổn thị trường, hạn chế nhập siêu
Trang 212.2 Chính sách tài khóa giai đoạn 2007 – 2008
Năm 2008 mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm hơn 2007,tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 6,2% Nhưng các nguồn thu có yếu tố nước ngoài như dầu thô, thu từ cân đối xuất, nhập khẩu tăng mạnh nên thu ngân sách Nhà nước năm nay vẫn tăng tương đối khá so với năm 2007 và vượt kế hoạch cả năm Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 26,3% so với năm 2007 và bằng 123,8%
dự toán năm, trong đó thu nội địa bằng 110,9%; thu từ dầu thô bằng
143,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng
141,1%
Trang 222.2 Chính sách tài khóa giai đoạn 2007 – 2008
Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính bằng 13,7% tổng số chi và bằng 97,5% mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm, trong đó 77,3% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước
và 22,7% được bù đắp từ nguồn vay nước ngoài
Nhờ những chính sách tài khóa quyết liệt trên của Chính phủ mà kinh
tế Việt Nam đã có kết quả tích cực Những biện pháp điều hành của
Chính phủ đã phát huy hiệu quả bước đầu Tuy nhiên, nền kinh tế còn đối mặt với nhiều thách thức đòi hỏi Chính phủ phải có những điều hành quyết liệt hơn nữa bảo đảm ngăn chặn đà suy giảm, ổn định kinh tế vĩ
mô, hướng tới mức tăng trưởng cao hơn
Trang 232.3 Chính sách tài khóa giai đoạn 2009 đến nay
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, kinh tế trong nước đang đối mặt với nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi thị trường Việt Nam có độ mở cao (xuất, nhập khẩu trên 150% GDP); khu vực FDI tuy chỉ chiếm trên 27%
tổng đầu tư xã hội, nhưng luôn đạt từ 55% đến 70% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu, nên sau khi khủng hoảng nổ ra, thị trường xuất khẩu và đầu tư thế giới giảm sút đột ngột, nền kinh tế Việt Nam đã lập tức rơi vào suy giảm, từ mức tăng trưởng trên 7% (năm 2008) xuống còn 3,1% vào quý I-2009 Giá một số mặt hàng xuất khẩu chính giảm mạnh, như giá gạo trong tháng 10-2009 giảm tới 20%; cà phê giảm tới 34,5%; cao su giảm gần 50% Một vấn đề nữa là, với quy mô nền kinh tế còn nhỏ, xuất phát điểm thấp nhưng đã hội nhập sâu, rộng vào khu vực và thế giới trên tất cả các cấp độ, kèm theo đó, trong năm 2008 và
2009, thiên tai, dịch bệnh lại liên tiếp xảy ra với cường độ và mức độ lớn Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng, thất nghiệp cao Nền kinh
tế yếu đi, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng suy kiệt Một số doanh nghiệp bị phá sản, số còn lại liên tục gặp khó khăn
Trang 242.3 Chính sách tài khóa giai đoạn 2009 đến nay
Cùng với xu hướng chung của thế giới, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp điều hành quyết liệt nhằm chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô và hướng tới tăng trưởng bền vững Một trong những giải pháp chủ yếu là Chính sách tài khóa mở rộng, gồm các gói kích cầu Gói kích cầu thứ nhất đã được triển khai nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17.000 tỉ đồng, gói kích cầu thứ hai, với tổng
nguồn vốn khoảng 8 tỉ USD, hỗ trợ lãi suất trong trung và dài hạn nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và tạo việc làm, đây là hai điều quan trọng nhất thể hiện khá rõ vai trò của Nhà nước thông qua các gói kích cầu
Trang 252.3 Chính sách tài khóa giai đoạn 2009 đến nay
Tổng thu ngân sách năm 2009 tiếp tục tăng, đạt khoảng 390,65 nghìn tỷ, bằng 100,2% kế hoạch dự toán, trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu từ dầu thô bằng 86,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6% Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng
106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô)
bằng 88,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 95,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng 87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí,
lệ phí bằng 90,8% Tổng chi ngân sách Nhà nước năm đến 2009 ước tính đạt 96,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 95,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 93,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể đạt 99,6%; chi trả nợ và
viện trợ đạt 102,7% bội chi ngân sách khống chế dưới 7% GDP, thực hiện
được mức bội chi Quốc hội đề ra, trong đó 81,2% mức bội chi được bù đắp
bằng nguồn vay trong nước; 18,8% bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.
Trang 262.3 Chính sách tài khóa giai đoạn 2009 đến nay
Năm 2010, kinh tế nước ta đã khắc phục được đà suy thoái nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây bất ổn vĩ mô Yếu tố bất ổn dễ nhận thấy nhất là nguy cơ lạm phát cao quay trở lại do độ trễ của lượng cung tiền khá lớn được Nhà nước
bơm vào thị trường trong các năm 2008 - 2009 để thực hiện các giải pháp phục hồi tăng trưởng kinh tế Tiếp đến là nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng nhập siêu Trong năm
2008, quy mô nhập siêu của nước ta lên tới 17,5 tỉ USD, và năm 2009 nhập siêu khoảng 12 tỉ USD Cùng với nguy cơ tái lạm phát cao, nếu tỷ lệ nhập siêu tiếp tục tăng cao trong năm nay sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát kép, tức là vừa lạm phát trong nước, vừa nhập khẩu lạm phát Một rủi ro tiềm ẩn khác trong chính sách tiền tệ là tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại thời điểm này đang được cho là có vấn đề, do các ngân hàng thương mại có thể chạy đua
nâng cao lãi suất để huy động vốn.
Trang 272.4 Đánh giá tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế nước ta
khóa hiện được nhiều nhà kinh tế và Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) sử dụng là đo lường xung lực tài khóa đối với sản lượng/GDP trong một khoảng thời gian nhất định Một sự đo lường dương (hay âm) của xung lực tài khóa sẽ hàm ý trạng thái tài khóa mở rộng (thu hẹp) hơn so với năm trước.
trạng thái tài khóa Việt Nam liên tục được mở rộng, đặc biệt kể từ sau năm 2000 Nếu như giai đoạn 1994
- 2000, xung lực tài khóa ở mức bình quân 3%, thì từ năm 2001 đến nay xung lực tài khóa bình quân là 5%.
Trang 283.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.1 Tình hình đất nước
3.1.2 Quan điểm phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.2 Ba nhóm nhiệm vụ chiến lược:
3.2.1.Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tăng đầu tư
3.2.2 Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế chậm nên mặc dù tốc độ tăng
trưởng kinh tế có thể đạt mục tiêu chiến lược nhưng hầu như không có thay đổi về chất
3.2.3 Thứ ba, mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu trong khi chuyển dịch cơ
cấu hàng hóa và thị trường xuất khẩu hạn chế
3.2.4 Thứ tư, ổn định kinh tế vĩ mô chưa vững chắc
Trang 293.3.1 Trọng tâm trong ngắn hạn của chính sách tài khóa là giữ vững mức động viên vàoNgân sách nhà nước( NSNN).
3.3.2 Mức độ thâm hụt NSNN trong lộ trình tiến tới cân bằng cán cân NSNN trong dài hạn
3.4 Mục tiêu CSTK từ năm 2011 đến năm 2015
3.4.1 Mục tiêu của CSTK năm 2011
3.4.2 Làm thế nào để đạt được mục tiêu: “thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước” ?
3.5 Mục tiêu của CSTK từ năm 2016 đến 2020
Trang 303.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.1 Tình hình đất nước
Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, được những thành tựu to lớn và rất quan trọng
Đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển;
Bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình;
đạt được bước phát triển mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất;
Thế và lực của đất nước vững mạnh thêm nhiều;
Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền
đề quan trọng để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước
Trang 313.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.1 Tình hình đất nước
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng
Kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc
Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế;
Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu;
Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ;
Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ
Trang 323.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.1 Quan điểm phát triển kinh tế đến năm 2020
Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược;
Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
Thực hành dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển;
Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa;
Phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập
Trang 333.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược đã được thể hiện trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Chiến lược xác định ba khâu đột phá đó là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính
Trang 343.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình
quân 7 - 8%/năm;
GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010
GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD
Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt
khoảng 45% trong tổng GDP
Trang 353.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
3.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020
Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị
sản xuất công nghiệp
Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng ít nhất đạt 35%; chỉ
số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; lao động qua đào tạo đạt trên 70%; tỉ lệ hộ
nghèo giảm bình quân 2%/năm
Đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế đạt
trình độ tiên tiến, hiện đại; cải thiện chất lượng môi trường; chủ động ứng
Trang 363.2 Chính sách tài khóa của Việt Nam đến năm 2020
3.2.2 Chính sách tài khóa ở Việt Nam năm 2011
Ở nước ta, kinh tế đã vượt qua khủng hoảng (tăng trưởng 2010 đạt 6,78%)
Dự kiến năm 2011, tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn năm 2010 (mục tiêu dự kiến là 7,5%) Tuy nhiên, vẫn còn một số thách thức trong ngắn hạn mà chúng ta cần vượt qua Cụ thể: lạm phát có khả năng duy trì ở mức cao, gây bất ổn về kinh tế vĩ mô; nhập siêu vẫn ở mức cao, phân khúc thị
trường ngoại tệ có thể sẽ tạo sức ép rất lớn lên tỷ giá Trong bối cảnh như trên, Chính phủ đã đặt mục tiêu ưu tiên trong năm 2011 là ổn định kinh tế
vĩ mô với trọng tâm trước mắt là kiềm chế lạm phát Do đó, chính sách tài khóa trong năm 2011 sẽ thắt chặt hơn năm 2010
Trang 373.2 Chính sách tài khóa của Việt Nam đến năm 2020
3.2.2 Chính sách tài khóa ở VN năm 2011
Tăng thu ngân sách năm 2011 từ 7 đến 8%;
Giảm bội chi ngân sách nhà nước xuống mức 5,5% GDP và phấn đấu giảm xuống mức 5% vào năm 2012, coi giảm bội chi là giảm cầu, làm giảm lạm phát; không những cắt giảm chi tiêu thường xuyên từ ngân sách mà còn là đầu tư của DN Nhà nước;
Tạo môi trường thuận lợi để phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh; giảm tỷ lệ huy động vào ngân sách so với GDP để nuôi dưỡng nguồn thu đồng thời với chống thất thu
Tiếp tục đổi mới chính sách và cơ cấu chi ngân sách nhà nước, bảo đảm chi đúng
Trang 383.2 Chính sách tài khóa của Việt Nam đến năm 2020
3.2.2 Chính sách tài khóa ở VN năm 2011
Giảm tỷ trọng đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ; rà soát danh mục đầu tư của Nhà nước, không ứng vốn ngân sách nhà nước cho các dự án kéo dài, không cấp bách để bổ sung cho các dự án ưu tiên hoàn thành trong năm 2011;
Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế…
Tiết kiệm 10% chi thường xuyên;
Giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các DN, nhất là vay ngắn hạ,
khuyến khích, tạo điều kiện thu hút đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài Thực hiện
rà soát nợ Chính phủ, nợ quốc gia, hạn chế nợ dự phòng, không mở rộng đối tượng phạm vi bảo lãnh của Chính phủ Bảo đảm dư nợ Chính phủ, dư nợ công, dư nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.
Trang 393.2.2 Mục tiêu của chính sách tài khóa ở Việt Nam Nam đến năm 2020
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược tài chính giai đoạn 2011-2020 là: Xây dựng nền tài chính quốc gia lành mạnh, đảm bảo giữ vững an ninh tài
chính, ổn định tài chính - tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội; huy động,
quản lý, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính trong xã hội hiệu quả, công bằng; đẩy mạnh cải cách hành chính; tăng cường công tác quản
lý, giám sát tài chính
Trang 403.2.2 Mục tiêu của chính sách tài khóa ở Việt Nam Nam đến năm 2020
- Mục tiêu cụ thể:
Xử lý tốt mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa tiết kiệm và đầu tư;
tiếp tục có chính sách khuyến khích tăng tích lũy cho đầu tư phát triển
Tỷ lệ động viên từ nền kinh tế vào NSNN ở mức hợp lý; cân đối ngân
sách tích cực, giảm dần tỷ lệ bội chi NSNN
Đảm bảo an ninh, an toàn tài chính quốc gia; duy trì dư nợ chính phủ và nợ
quốc gia trong giới hạn an toàn; tăng cường dự trữ Nhà nước đáp ứng kịp thời các nhu cầu đột xuất của nền kinh tế