Với quá trình triển khai thay đổi chương trình và SGK Ngữ văn THPT, việc vận dụng quan điểm dạy học tích cực lấy học sinh là trung tâm nhằm phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể n
Trang 1Vì bước đầu nghiên cứu, thời gian có hạn, kinh nghiệm và năng lực bản thân còn hạn chế nên quá trình nghiên cứu khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn sinh viên
Em xin trân trọng cảm ơn !
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn của đề tài 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp của khoá luận 5
9 Cấu trúc của khoá luận 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 7
1.1.1 Tính tích cực 7
1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực 7
1.1.3 Khái niệm thơ trữ tình 7
1.2 Đặc điểm thi pháp của thơ trữ tình với việc dạy học thơ trong nhà trường phổ thông 8
1.2.1 Đặc điểm về nội dung 8
1.2.2 Đặc điểm về hình thức 10
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 25
2.1 Khảo sát thực trạng dạy học thơ trữ tình ở Trường THPT Gia Phù Phù Yên – Sơn La 25
2.1.1 Mục đích khảo sát 25
2.1.2 Nội dung khảo sát 25
2.1.3 Đối tượng khảo sát 25
2.1.4 Thời gian, địa bàn khảo sát 25
2.1.5 Cách thức khảo sát 25
2.2 Đánh giá kết quả khảo sát 25
2.2.1 Thực trạng dạy bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh ở Trường THPH Gia Phù - Phù Yên - Sơn La 25
2.2.2 Thực trạng học bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh ở Trường THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La 28
2.3 Một số kết luận qua dạy học tác phẩm Sóng - Xuân Quỳnh 30
2.3.1 Ưu điểm 31
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 32
Trang 4CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN
QUỲNH 35
3.1 Vận dụng một số biện pháp dạy học tích cực 35
3.1.1 Hướng dẫn học sinh tự học theo sách giáo khoa 35
3.1.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi sáng tạo trong dạy học bài thơ 36
3.1.3 Hoạt động thảo luận nhóm 38
3.1.4 Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm bài thơ 39
3.2.2 Thiết kế giáo án bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh 45
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đặt ra trong thực tế với hai hình thức: Thay đổi phương pháp có tính toàn diện, triệt để; và cải tiến, đổi mới phương pháp từng phần trong công việc hàng ngày Hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa, việc thay đổi phương pháp có tính chiến lược về cơ bản đã xong Nhưng việc cải tiến, đổi mới phương pháp từng phần vẫn luôn luôn đặt ra với mỗi giáo viên trong từng ngày lên lớp
Việc đổi mới nhận thức về quá trình giáo dục theo tinh thần nói trên đòi hỏi người giáo viên phải có một sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức cho tới thái
độ và niềm tin vào vấn đề cơ bản: vai trò chủ thể tích cực học sinh trong học tập
Thực tiễn của hoạt động dạy học trong nhà trường thời gian qua cho thấy tác động lớn lao của việc thay đổi quan điểm giáo dục Đó là bước chuyển biến
từ lối dạy học cổ truyền lấy “thầy” làm trung tâm chi phối toàn bộ và tuyệt đối quá trình giáo dục, áp đặt, nhồi nhét những giá trị đạo đức và kiến thức, kĩ năng lên người học, sang việc lấy “trò” là trung tâm, là chủ thể Bằng vai trò tích cực chủ động, người học tự nỗ lực tìm tòi khám phá tri thức, nắm kĩ năng với sự hướng dẫn của thầy Đây chính là tinh thần cơ bản của giáo dục hiện đại, quan điểm giáo dục tích cực
Với quá trình triển khai thay đổi chương trình và SGK Ngữ văn THPT, việc vận dụng quan điểm dạy học tích cực lấy học sinh là trung tâm nhằm phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể người học trong giờ học văn đã mang tới những triển vọng khả quan Bước chuyển của tình hình dạy học văn theo quan điểm giáo dục tích cực đã tạo những thay đổi quan trọng về nhận thức và hành động tại các trường THPT Thế hệ học sinh ngồi trên ghế nhà trường hôm nay có điều kiện tiếp nhận cách thức dạy học tiến tiến, từ đó các em có khả năng tích lũy hiểu biết và trau dồi thái độ, cảm xúc để hoàn thiện nhân cách theo mục tiêu đào tạo đã đề ra
1.2 Môn Ngữ văn với đặc thù vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, là một môn học rất hấp dẫn, lý thú, bổ ích, có khả năng giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ, nhân cách, tâm hồn
Tuy nhiên, có một thực tế dễ thấy là những vướng mắc, lúng túng trong quá trình đổi mới phương thức dạy học do sự níu kéo của thói quen cũ đã làm hạn chế một phần vai trò chủ thể tích cực của học sinh để biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo Từ đó dẫn tới hiện tượng học sinh kém hào hứng học văn, chất
Trang 6lượng dạy học văn có phần giảm sút, các em học với tâm thế bị cưỡng ép, mang tính bắt buộc, đối phó Tình hình trên đang thu hút sự chú ý của dư luận xã hội
Vì vậy, việc đổi mới, cải tiến PPDH bộ môn có vai trò rất quan trọng, quyết định đối với việc tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, nâng cao chất lượng dạy học Chúng tôi cho rằng việc vận dụng các biện pháp dạy học tích cực vào dạy học Ngữ văn nói chung, thơ trữ tình nói riêng chính là một trong những giải pháp nhằm đổi mới PPDH đáp ứng yêu cầu trên
1.3 Trong chương trình phổ thông, tác phẩm trữ tình là một kiểu loại văn bản chính Có thể nói, đây là loại văn bản “khó đọc” nhất trong tất cả các kiểu loại văn bản bởi đặc trưng nắm bắt thế giới một cách đặc biệt, bởi kiểu cấu trúc hình tượng “phi logic”, đúng hơn là chỉ tuân theo logic của cảm xúc Cũng không ít người cho rằng việc đọc và thưởng thức tác phẩm trữ tình nói chung, thơ trữ tình nói riêng là lĩnh vực của những gì thiêng liêng, huyền bí chỉ những
cá nhân mang những phẩm chất “thiên phú” đặc biệt mới có thể bước chân vào Không cực đoan như thế nhưng số đông đều cho rằng tác phẩm trữ tình “khó đọc”, “kén” người đọc hơn tác phẩm tự sự Học sinh trong nhà trường cũng vậy Thơ (nói rộng ra là tác phẩm trữ tình) đối với các em thì có vẻ ngắn hơn, dễ thuộc hơn tác phẩm tự sự nhưng cảm nhận, phân tích, lí giải, bình giá những vẻ đẹp của nó thì bội phần khó khăn thử thách
Chương trình và SGK mới được xây dựng theo hướng tăng cường khả năng hoạt động của người học Vì vậy, việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để dạy học Ngữ văn là một hình thức góp phần tạo điều kiện giúp HS phát huy vai trò chủ động, năng động sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của một công dân trong thời kì hội nhập khu vực và thế giới của đất nước
1.4 Ở tỉnh Sơn La, do hoàn cảnh và điều kiện thực tế ở một địa phương thuộc vùng xa, vùng sâu của miền núi Tây Bắc, việc đổi mới quan điểm dạy học văn nói riêng theo tinh thần phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của người học còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại Bản thân chúng tôi cũng muốn tìm hiểu và góp phần vào việc cải thiện tình hình dạy học văn tại trường học ở địa bàn của mình
Với các lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Vận dụng một số phương
pháp dạy học tích cực vào giảng dạy bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh cho học sinh lớp 12 Trường THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La” Trước hết nhằm đáp
ứng nhu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học cho chính mình, sau nữa có thể góp một phần vào tháo gỡ những khó khăn, lúng túng của các bạn đồng nghiệp
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999)
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động
Việc vận dụng các biện pháp dạy học tích cực vào giảng dạy văn bản thơ trữ tình hiện đại trong nhà trường có một vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực dạy và học văn trong giai đoạn hiện nay Nó có tác dụng phát huy tối đa khả năng của học sinh trong việc tự chiếm lĩnh tri thức văn bản thơ trữ tình trên cơ
sở gợi ý của giáo viên
Vấn đề vận dụng các biện pháp dạy học tích cực trong nhà trường nói chung, bộ môn Ngữ văn nói riêng được nói đến khá nhiều Tiêu biểu có các tài liệu, giáo trình về giáo dục học, Lí luận dạy học:
- Mảng sách dịch của nước ngoài (chủ yếu từ Liên Xô cũ): Giáo dục học của Babanxki; Lí luận dạy học của Exipop, Lecne, Scatkin; Giáo trình Phương pháp luận dạy văn học do Z Ia rez chủ biên
Gần đây, nhờ mở rộng giao lưu, một số công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục các nước Phương Tây được giới thiệu (Ruxso, Dewey, Skinner…)
- Tài liệu biên soạn trong nước có: Các giáo trình giáo dục học và tâm lí học (Tủ sách Đại học sư phạm); Giáo trình Phương pháp dạy học văn (do Phan Trọng Luận chủ biên); Tiếp cận văn học (Nguyễn Trọng Hoàn); Lý luận và phê bình văn học (Trần Đình Sử); Nguyễn Viết Chữ có các công trình nghiên cứu như: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường ; Phương pháp dạy học tác phẩm văn
Trang 8chương theo loại thể Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, biên soạn cuốn:
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, …
Ngoài ra, chúng ta không thể bỏ qua một nguồn tài liệu tham khảo quý báu đó là các sáng kiến kinh nghiệm về dạy học văn theo hướng vận dụng các biện pháp tích cực được đúc kết từ phong trào thi đua “dạy tốt học tốt” trong nhà trường thời gian qua
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy thơ trữ tình nói chung và bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh nói riêng Từ đó đề xuất vận
dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy bài thơ Sóng - Xuân
Quỳnh cho học sinh lớp 12 Trường THPT Gia Phù - Phù Yên- Sơn La nhằm giúp học sinh hứng thú học tập và nâng cao được chất lượng giờ học
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên những kiến thức giáo dục học, tâm lí học và lí luận dạy học, đề tài xác định vấn đề vận dụng các biện pháp dạy học tích cực trong giờ đọc - hiểu thơ trữ tình ở trường THPT Vấn đề áp dụng các biện pháp dạy học tích cực vào dạy học tác phẩm trữ tình xét theo góc độ tác động, kích thích, hướng dẫn của giáo viên để giúp học sinh vượt qua những trở ngại khó khăn nhằm đảm bảo vai trò chủ thể của người học trong quá trình hiểu biết, cảm thụ tác phẩm trữ tình
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài hướng tới đối tượng nghiên cứu như sau:
Vấn đề vận dụng một số biện pháp dạy học tích cực trong giờ đọc - hiểu văn bản - tác phẩm thơ trữ tình
Vận dụng một số biện pháp dạy học nhằm hướng tới việc tích cực hoạt động học tập của học sinh trong giờ dạy học văn bản - bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh (lớp 12)
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những kiến thức lý luận về các biện pháp dạy học tích cực và việc vận dụng các biện pháp đó trong giờ đọc - hiểu văn bản tác phẩm
Tìm hiểu tình hình thực hiện dạy học văn trên cơ sở áp dụng các biện pháp tích cực tại một số trường THPT thuộc địa bàn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
Lựa chọn một số biện pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tối đa hiệu quả giảng dạy trong giờ đọc - hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình hiện đại
6 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu vận dụng các biện pháp dạy học tích
Trang 9cực nhằm vào việc phát huy tối đa khả năng dạy và học thơ trữ tình hiện đại trong trường phổ thông, qua giờ dạy học văn bản - bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Đọc, nghiên cứu tài liệu có lien quan tới khoá luận
- Lựa chọn, tổng hợp, hệ thống hoá các vấn đề, khái quát trong tài liệu để xây dựng cơ sở lí luận
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát, điiều tra, tiến hành thực tiễn dạy và học thơ tại Trường THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La điiều tra khảo sát giáo viên và học sinh
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp xử lí các số liệu
8.2 Về thực tiễn
Góp phần khắc phục thiếu sót, nhược điểm thường gặp trong dạy học là chưa chú ý đúng mức hoặc còn lúng túng trong việc áp dụng các biện pháp dạy học văn bản thơ trữ tình hiện đại Thúc đẩy tối đa khả năng tích cực chủ động của học sinh trong giờ đọc - hiểu thơ trữ tình, tránh lối dạy thụ động một chiều theo kiều giảng giải - ghi nhớ, đọc - chép còn ảnh hưởng khá nặng tại trường THPT, đặc biệt ở vùng miền núi
Trang 109 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Một số biện pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy học bài thơ sóng của Xuân Quỳnh
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Hình thành và phát triển tính tích cực của xã hội là một trong những nhiệm
vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như là một điều kiện, đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
Tính tích cực trong học tập thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng
ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Trong quá trình nhận thức, ngoài lĩnh hội tri thức loài người tích luỹ được, học sinh còn phải “khám phá” được những hiểu biết mới đối với bản thân, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động nỗ lực của chính mình
1.1.2 Phương pháp dạy học tích cực
PPDH là phương pháp dạy học ở đó GV chú trọng đến hoạt động tích cực của người học Ở phương pháp này sẽ làm thay đổi nhiệm vụ của thầy và trò theo hướng tích cực Người HS ở đây trở thành chủ thể tích cực trong quá trình tiếp nhận và đồng sáng tạo Mà GV là người định hướng, tổ chức dẫn dắt trong quá trình phát triển tư duy và hoạt động học tập của học sinh
Cốt lõi của PPDH tích cực là nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, có nghĩa là thay đổi cách dạy và cách học Chuyển cách dạy học thụ động, dạy theo lối áp đặt, nhồi nhét kiến thức, truyền thụ một chiều “đọc
- chép”, GV là trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học quan tâm đến hoạt động của học sinh, tác động làm cho học sinh phải suy nghĩ, có hứng thú tìm tòi, khám phá, tranh luận, chủ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Học sinh không chỉ được cung cấp tri thức mà còn có phương pháp học (cốt lõi của học là học cách học, cốt lõi của dạy là dạy cách học) Trong cách dạy học này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức
và hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học
1.1.3 Khái niệm thơ trữ tình
Thơ trữ tình là các sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ thông qua ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh Thơ trữ
Trang 12tình làm sống dậy thế giới chủ thể (cái tôi trữ tình), giúp bạn đọc đi sâu vào thế giới của những suy tư, tâm trạng, nỗi niềm, khát vọng, … Tình cảm trong thơ nảy sinh từ những rung động trực tiếp của nhà thơ Thơ chú trọng đến cái đẹp của tâm trạng con người, cái đẹp của đời sống khách quan, vẻ đẹp bên trong, cái đẹp truyền cảm của hiện tượng… Tất cả được thể hiện một cách riêng theo đặc trưng của thơ trữ tình
1.2 Đặc điểm thi pháp của thơ trữ tình với việc dạy học thơ trong nhà trường phổ thông
1.2.1 Đặc điểm về nội dung
Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, nhưng tác phẩm
loại trữ tình (tức bộc lộ tình cảm) thể hiện tình cảm theo nét riêng Ở tác phẩm
tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đường
đi và số phận của chúng Bằng những đối thoại, độc thoại, tác giả kịch thể hiện tính cách và hành động con người qua những mâu thuẫn xung đột Ở tác phẩm trữ tình có khác, thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ
được trình bày trực tiếp, và làm thành nội dung chủ yếu:
“Hôm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện răng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ…”
(Ca dao) Ngoài cảm xúc và tâm trạng khắc khoải nhớ mong ta không biết gì khác về con người và nguyên nhân cụ thể dẫn tới những nỗi niềm đó Hay một ví dụ khác trong văn học đương đại:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”
(Tố Hữu) Trong những câu thơ trên, ta không thấy có chuyện gì, cũng không thấy có mâu thuẫn xung đột gì cụ thể là Tố Hữu đã giãi bày trạng thái tâm hồn mình khi nhà thơ được giác ngộ và kết nạp Đảng
Vậy là từ những câu ca dao xưa tới những bài thơ đương đại, dấu hiệu chung của tác phẩm trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người: những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ… Dĩ nhiên, như vậy không có nghĩa
Trang 13là tác phẩm trữ tình không phản ánh thế giới khách quan Ai cũng biết mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trước hiện thực nào, suy nghĩ về vấn đề gì Cũng có những bài thơ trực tiếp miêu tả bức tranh phong cảnh đã làm nhà thơ xúc động:
“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
………
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”
(Bà Huyện Thanh Quan) Song đến đây không thể phân biệt là tả ngoại giới hay tả nội tâm vì những tiếng đều mang đậm tâm trạng của tác giả Để hiểu được bài thơ này không nên chỉ chú tâm xem bài thơ này Bà Huyện Thanh Quan tả cảnh đèo Ngang có đúng không, có đẹp không Xem ra cảnh cũng khá chung chung ước lệ Điều chính yếu là phải tìm hiểu cảm xúc, suy nghĩ của Bà khi đứng ở vùng đất mang nhiều
sự kiện lịch sử được gửi gắm trong bức tranh đó
Cũng có bài thơ có kể ít nhiều sự kiện có tính liên tục nào đó Như các bài
“Mùa xuân” của Nguyễn Bính, “Quê hương” của Giang Nam, “Núi đôi” của Vũ Cao Nhưng chức năng chủ yếu của hệ thống sự kiện là tái hiện cái đối tượng của chủ thể bộc lộ quá trình cảm xúc, suy tưởng của mình Chúng làm cho tình cảm thổ lộ được dễ dàng, gợi cảm, dễ hiểu
“Ai biết tên em thành liệt sĩ Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng…”
(Vũ Cao) Như vậy, biểu hiện trực tiếp cảm xúc, suy tưởng của con người là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình
Tác phẩm trữ tình làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách quan, giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư, tâm trạng, nỗi niềm - một phương diện rất năng động, hấp dẫn của hiện thực Nhưng như vậy không có nghĩa là sự miêu tả các sự vật, chi tiết, hiện tượng đời sống khách quan không có tầm quan trọng Tất cả những suy tư hay tình cảm, tâm trạng, nỗi niềm của cái tôi trữ tình ấy lại đều tuân theo một quy luật tình cảm chung nên nó vẫn thuyết phục và có sự đồng cảm của bạn đọc Nói cách khác, những chi tiết chân thực, sống động được phát hiện từ cuộc đời mới có thể khơi gợi những tình cảm sâu sắc, mới mẻ Những chi tiết trong bài thơ “Sông Lấp” của Tú Xương, “Nhớ” của
Trang 14Nguyên Hồng, trong “Việt Bắc” của Tố Hữu, “Gửi em, cô thanh niên xung phong” của Phạm Tiến Duật, “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa … đều có vai trò như vậy
Cũng sẽ sai lầm nếu cho rằng tác phẩm trữ tình chỉ thể hiện những gì thầm kín, chủ quan, cá nhân, cá biệt Đúng là nhà thơ trữ tình bộc lộ những nỗi niềm chủ quan, thầm kín, nhưng chính vì vậy suy tư trữ tình có thể thâm nhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con người: sự sống, cái chết, tình yêu, lòng chung thuỷ, lí tưởng, ước mơ, tương lai, hạnh phúc Không bị ràng buộc bởi yêu cầu tái hiện trọn vẹn một tính cách, số phận, một hành động như tự sự và kịch, tác phẩm trữ tình có thể đạt được những khái quát nghệ thuật hết sức phổ biến Người ta rất có lí khi cho rằng khái quát trữ tình thường có tầm vóc phổ quát nhất về tồn tại và nhân sinh Biết bao câu thơ đã đi vào đời sống như: tục ngữ, cách ngôn, lời cửa miệng trở thành khẩu hiệu hành động! Những câu như:
“Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”; “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai” đều là chắt lọc từ các bài thơ trữ tình Dĩ nhiên khái quát lớn phải quyện với tình cảm lớn, rung động lớn của một trái tim nồng nhiệt Thiếu tình cảm nồng nàn, chân thật, khái quát lớn sẽ trở thành trống rỗng
1.2.2 Đặc điểm về hình thức
1.2.2.1 Ngôn ngữ
a Ngôn ngữ thơ bão hoà cảm xúc
Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự sự Lời thơ thường là lời đánh giá, trực tiếp thể hiện một quan hệ của
chủ thể đối với cuộc đời
“Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng cháy sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà rào rạt bến nước Bình Ca…”
Đó thường là lời phán xét bộc trực trước các hiện tượng trong cuộc sống:
“Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!” (Nguyễn Khuyến) Ngay khi miêu tả, lời thơ cũng là lời đánh giá: “Nông trường ta rộng mênh mông Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài” (Tế Hanh) Chính tính đánh giá trực tiếp làm cho lời thơ trữ tình căn bản khác lời tự sự là lời miêu tả, trần thuật theo lối kể lể, phân tích, chỉ ra các thuộc tính một cách khách quan Văn tự sự hầu như không biết đến câu hỏi Đó là vì, trong tác phẩm tự sự, thế giới hiện ra như một chỉnh thể, không còn bị tách ra hai mạt chủ thể và khách thể Thơ trữ tình lại khác Sự phân biệt ra chủ thể và khách thể là nguyên tắc tồn
Trang 15tại của nó Lời thơ trữ tình là lời đánh dấu sự tồn tại của những chủ thể trên cõi đời này Vì vậy, câu hỏi trong thơ như là một phản xạ của bộ phận trước toàn thể, một nguyện vọng muốn điều tiết quan hệ chủ quan và khách quan: “Hỡi sông Hồng, tiếng hát bốn nghìn năm Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng? (Chế Lan Viên) Lời thơ là lời của chủ thể, nhưng không phải chỉ là lời đi đôi với hành động, mà hơn thế, bản thân nó là hành động - “hành động” của ý chí, của ước vọng, của niềm tin:
“ Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa”
(Nguyễn Đình Thi) Chính vì vậy sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể trở nên nổi bật
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.”
(Nguyễn Đình Thi) Mỗi câu thơ dường như đều mang một từ tập trung tất cả sức nặng tình cảm Người xưa gọi những từ đó là “thi nhãn”, tức là những tiêu điểm để từ đó nhìn thấu vào tâm hồn tác giả
Lời thơ trữ tình còn mang tính chất “mê hoặc” Đó là điểm khác hẳn so với
tự sự hay kịch hoặc lời của đời thường Lời thơ thường phải khác thường để đưa
ta vào những chân lí “bí ẩn”, thâm thuý của đời sống Bức tranh tương lai trong thơ Chế Lan Viên, chứa đầy “mê hoặc” vừa thực vừa hư, kì thú:
“… Chở hạnh phúc có con tàu sắc biếc Chở lòng vui con tàu sẽ sơn hồng Một trăm con tàu như một trăm cô dâu mới
Bờ biển như lòng trai rộn rịp lễ tơ hồng”
Đó là bức tranh tấp nập của một hải cảng Hình ảnh và màu sắc vừa thực vừa ảo, vừa tượng trưng vừa tưởng tượng chen lẫn vào nhau Và cũng là bức tranh nội tâm say xưa kì ảo của chính Chế Lan Viên khi nhìn tàu đến…Tính chất
“mê hoặc” làm cho người đọc thơ như chạm vào luồng điện, gây ấn tượng ám
Trang 16ảnh trong tâm trí Dĩ nhiên, sự “mê hoặc” ấy phải bắt nguồn từ chân lí của cuộc đời mới có được “ma lực” thực sự
Ngôn ngữ thơ là sự kết tụ của chất thơ, kết tụ mối quan hệ thơ với đời sống được tích luỹ lâu đời Chính vì vậy truyền thống đóng vai trò vô cùng quan trọng trong ngôn từ thơ Đó cũng là điều khác với tự sự và kịch Khi Tố Hữu viết:
“Ngày mai gió mới ngàn phương
Sẽ đưa cô dến một vườn đầy xuân
Ngày mai trong giá trắng ngần
Cô thôi sống kiếp đầy thân giang hồ”
Thì những “gió mới”, “ngàn phương”, “vườn đầy xuân”, “trong giá trắng ngần”, “đầy thân giang hồ” là những từ hầu như chỉ dùng trong thơ như vậy
b Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính
Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Như nhịp đập của trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điiệu riêng của nó Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ - mà bằng cả âm thanh nhịp điệu của từ ngữ ấy Nhiều nhà nghiên cứu đã nhất trí xem tính có nhịp điệu là nét đặc thù rất cơ bản của tác phẩm trữ tình Âm thanh nhịp điệu thêm hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không thể nói hết… Tất nhiên, không thể giải thích ý nghĩa của âm thanh nhịp điệu không xuất phát từ nội dung của từ ngữ
Để thưởng thức nhạc điệu của thơ, xưa nay người ta vẫn thích ngâm thơ,
đọc thơ Vì chú ý đến nhạc tính, thơ ca nhiều nước đã quy định khuôn nhịp - tức
là số chữ trong một dòng, nhịp điệu - là nói về cách phối hợp âm thanh và cách
ngắt nhịp và vần - tức là sự hiệp âm cuối dòng hay giữa dòng Tất cả những điều
đó cốt để ngôn ngữ thơ có nhạc tính Có thể nói rõ nhạc tính trong thơ thể hiện ra
ở ba mặt sau đây: Sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp
Sự cân đối là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ: “Gác mái ngư ông
về viễn phố, Gõ sừng mục tử lại cô thôn” (Bà Huyện Thanh Quan) Thơ cổ điển, thơ Đường luật hết sức chú ý sự tương xứng hài hoà này Thơ ngày nay phóng khoáng hơn, không theo một quy định chặt chẽ nào Sử dụng hiệu quả của phép đối xứng, Chế Lan Viên nói được sâu sắc giây phút thiêng liêng Bác Hồ trở về
Tổ quốc:
“Nở trắng hoa kim anh, trên biên giới Bác về
Xa nước ba mươi năm, một câu Kiều Người vẫn nhớ Mái tóc Bác đã phai màu quá nửa,
Lòng son ngời như buổi mới ra đi.”
Trang 17Những chữ đi song sánh với nhau, đối đáp với nhau làm cho câu thơ đi liền giữa hiện tại và quá khứ, thực tế và kì ảo
Nhạc tính còn thể hiện ở sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ Trầm bổng là sự
thay đổi những âm thanh cao thấp khác nhau giữa các thanh bằng và thanh trắc
Và cũng do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ âm tuỳ theo nhịp cắt để tạo nên nhịp Xuân Diệu viết hai dòng thơ toàn thanh bằng để gợi tả điệu nhạc du dương đưa tâm hồn phiêu diêu bay bổng khi nghe Nhị Hồ: “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi” Chính âm thanh của chữ nghĩa đã tạo nên những điều mà chữ nghĩa không thể nói hết:
“Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát”
Tố Hữu tựu nhận xét: “Trong hai câu sau có âm vang của gió và sóng, âm
vang của một tấm lòng Nếu viết gió thổi lao xao, sóng biển rì rào thì có lẽ
không còn gì” Nói đến cái đẹp trầm bổng của âm thanh, phải nói đến nhịp cắt
“Nhiều đấy ư e / mấy tuổi rồi?
- Hai mươi
- Ờ nhỉ / tháng năm trôi
- Sóng bồi thêm bãi / thuyền thêm bến
- Gió lộng đường khơi / rộng đất trời!”
Ở ba dòng đầu bị cắt ra nhiều nhịp như sự dừng lại sững sờ ngạc nhiên trước sự đổi thay của thời đại Dòng 4, 5 nhịp dài ra như niềm vui trải rộng Chẳng hạn như Nguyễn Du viết:
“Sen tàn / cúc lại / nở hoa Sầu dài / ngày ngắn / đông đà / sang xuân”
Dòng thơ cắt theo nhịp hai đều đặn như nhịp chuyển vần đều đặn của năm tháng, của bốn mùa… Như vậy, âm thanh và nhịp điệu góp phần làm sáng
ra những khía cạnh tinh vi tình cảm của con người Tất nhiên lệ thuộc máy móc vào âm thanh nhịp điệu quy định trước, người nghệ sĩ khó phát huy tư tưởng sáng tạo của mình Nhưng không hề biết đến khả năng nhịp điệu là bỏ mất một
vẻ đẹp đáng quý của ngôn ngữ thơ
Nhạc tính đó còn do sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng
vần, điệp câu, điệp ngữ Khi nghe nhạc, ta thấy thú vị khi một âm thanh nào đó
láy đi láy lại, lúc đứt lúc nối Vần trong thơ cũng có tác dụng như thế Nó nối
dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất có âm hưởng riêng, thuận lợi cho trí nhớ Phần lớn nhờ vần mà những câu ca dao đã truyền từ đời
Trang 18này sang đời khác Vần cũng thể hiện ma lực của ngôn ngữ, một trò chơi trong các đồng dao của các em Thơ cách luật nhiều nươc đã quy định chặt chẽ cách hiệp vần Thơ có vần chính và vần thông Vần chính là vần cùng một khuôn âm, vần thông là theo một khuôn âm tương tự Xét vị trí vần còn chia ra vần chân (cước vận) tức là vần ở cuối dòng thơ và vần lưng (yên vận) tức là vần ở giữa dòng thơ Thơ tự do ngày nay không bó buộc về hiệp vần Nhưng các nhà thơ vẫn sử dụng vần như một yếu tố biểu cảm làm tăng vẻ đẹp của thơ:
“Ở đâu phải, qua đêm dài lạnh cóng Mặt trời lên là hết bóng mù sương!
Ôi đâu phải, qua đoạn đường lửa bóng Cuộc đời ta bỗng chốc hoá thiên đường”
Ngoài những vần chân còn có những âm tiết ở giữa dòng dưới nối với âm tiết cuối của dòng trên Tố Hữu còn lặp lại vần ngay trong một dòng thơ: “Em
ơi, Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn” Có những câu thơ cách phối âm giữa dòng thơ, cách ngắt nhịp đã làm cho khổ thơ mang một âm hưởng riêng:
“Con nhớ em con, thằng con liên lạc Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mười năm tròn, chưa mất một phong thư.”
(Chế Lan Viên) Cái đẹp của ngôn ngữ thơ không chỉ do hiệp vần, do cách phối âm mà còn
do nhà thơ có ý láy đi láy lại một số âm, một số tiếng nào đó:
“Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non Nước đi chưa lại, non còn đứng không…”
Bài Thề non nước của Tản Đà gồm 22 dòng - chữ non được nhắc lại 15 lần, chữ nước 13 lần - tạo được một ấn tượng vương vấn không dứt Lối thơ liên hoàn đã khai thác vẻ đẹp trùng điệp đó Khuê phụ thân của Thượng Tân
Thi là một bài như vậy
Nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Ngày nay
do sự phát triển của nghề in, của kĩ thuật ghi âm, nhu cầu của thơ có đổi khác Một số người có khuynh hướng bỏ vần để khỏi gò bó, phiền hà cho thơ Nhưng nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó như sự đối xứng song song giữa hai dòng thơ, hai đoạn thơ - thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa Đó có thể là một loại văn xuôi trữ tình như một tác phẩm của Tuốc - ghê - nhép chẳng hạn
Trang 19Do đặc điểm của ngôn ngữ thơ hàm súc như vậy, nên quá trình khám phá bài hiểu hết nghĩa đen, nghĩa bóng… Có khi điều bài thơ gợi ra còn quan trọng hơn điều nói rõ Chưa đọc kĩ ngôn ngữ thơ đã vội phân tích nội dung thơ là phạm sai lầm căn bản
1.2.2.2 Nhân vật trữ tình trong thơ
Nội dung tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình Đó là hình tượng người trực tiếp thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ Qua những trang thơ ta gặp tâm hồn người, tấm lòng người Đó chính là nhân vật trữ tình
Cũng cần phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả Trong bài “Người con gái Việt Nam”, chị Lí là nhân vật trong thơ trữ tình Đọc bài thơ ta thấy một nhân vật nữa nổi rõ hơn với những cảm xúc và tình cảm: từ kinh ngạc sững sờ đến mến thương, kính phục và tin tưởng vào chiến thắng Liên kết chuỗi tình cảm đó ta hình dung ra nhân vật trữ tình Nhân vật trữ tình trong thơ thường là hiện thân của tác giả Qua thơ, ta có thể biết những chi tiết thoáng qua về lịch sử cuộc đời họ: quê hương, kỉ niệm tuổi thơ, đường đời, sự từng trải, tài năng, khát vọng Đây là một hình ảnh tuổi thơ chân đất ở làng quê của Nguyễn Duy:
“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá Níu váy bà đi chợ Bình Lâm Bắt chim sẻ ở vành tai tượng phật
Và đôi khi ăn chộm nhãn chùa Trần”
Hay như nỗi đau của nhà thơ Đặng Dung cuối đời nhà Trần:
“Quốc thù chưa báo đầu đã bạc Mấy độ mài gươm bóng nguyệt tà”
Sự dằn vặt về trách nhiệm, sứ mệnh đối với vận nước là nét đặc trưng nổi bật của nhà thơ trung thần Thơ trữ tình, vì vậy luôn cho thấy một con người cụ thể, sống động, có cá tính, có quan niệm và những nỗi niềm riêng Thơ trữ tình bao giờ cũng mang lại sự thật về đời sống tâm hồn của những cá nhân trong các tình huống đời sống và xung đột xã hội cụ thể Như Nguyễn Khuyến từng nghe tiếng ngỗng đêm thu mà thấy thẹn vì chí thanh bạch của mình chưa trọn vẹn Như nhà cộng sản tuổi đôi mươi tự hỏi mình:
“Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước
Trang 20Chọn một dòng hay để nước trôi”
(Tố Hữu) Khi phát ngôn trữ tình, nhà thơ thường hướng tới một cái gì lớn lao hơn, tức tự nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ cho một loại người, một thế hệ, một thời đại Nhân vật trữ tình do đó còn là người đại diện cho một lớp người, một giai cấp, một dân tộc để phát biểu Lời lẽ riêng tư và ý nghĩa chung thường hoà nhập trong những lời nhân vật trữ tình kiểu này Đây là lời của Nguyễn Đình Thi và cũng là lời của biết bao chiến sĩ:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thếp gai đâm nát trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
Lời của Xuân Quỳnh - người vợ và cũng là lời của biết bao phụ nữ:
“Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh
Đó cũng là con đường mở ra để nối kết bài thơ với ngàn vạn trái tim của quần chúng đông đảo
Ngoài việc đại diện phát ngôn cho một lớp người, một thời đại, nhà thơ còn nhập vai vào một số những nhân vật cụ thể, tạo thành loại nhân vật trữ tình nhập vai như: Anh bộ đội trong bài “Bầm ơi”- (Tố Hữu), cháu bé trong nhà lao Tân Dương (Hồ Chí Minh) Trong thơ Tago, ta thấy nhiều nhân vật trữ tình như Đấng Tối cao, nhà tiên tri, người lao động, người tình, trẻ thơ…Do vậy, thế giới trữ tình trong thơ đâu chỉ hạn hẹp một cá nhân nhà thơ, mà là một cấu trúc mở vô hạn, có khả năng đề cập đến bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu con người và số phận ngoài tiểu sử cá nhân nhà thơ
1.2.2.3 Tổ chức của bài thơ trữ tình
a Đề thơ
Trang 21Đề thơ thu tóm tinh thần cơ bản của nội dung bài thơ, làm cho người đọc
nhớ và phân biệt với các bài thơ khác: Thu điếu, Theo chân Bác, Người đi tìm hình của nước, Đi họp, Nhớ con sông quê hương,… Đối với những bài thơ có
đề cần đọc kĩ toàn bài và suy nghĩ từ đề thơ để tìm hiểu thêm nội dung sáng tác
của tác giả Thu điếu là mùa thu câu cá Trong bài phải nói đến câu cá và câu cá trong khung cảnh mùa thu Theo chân Bác là dõi theo bước đường hoạt động của Bác qua các giai đoạn Người đi tìm hình của nước nói lên tư tưởng, tình
cảm của Bác trên con đường đi tìm một chế độ thích hợp cho đất nước Đề thơ như thế rất sát và hay
Có những bài thơ không đề (vô đề) Không đề không phải vì bài thơ không có một tư tưởng trung tâm nào Chẳng qua tác giả muốn để người đọc từ nội dung bài thơ tự mình suy ngẫm tưởng tượng mà hiểu Có những đoạn thơ, bài thơ tác giả chỉ xếp trước sau, hay đánh theo số 1, 2, 3, … như trong nhiều tập thơ của Tago Người đọc cần chú ý đến trật tự nhửng con số đó để tuần tự tìm hiểu thế giới tinh thần của tác giả Chắc rằng trật tự trước sau đó có một ý nghĩa nào đó Tóm lại trong khi tìm hiểu thơ cung cần chú ý đến đề thơ như một chỉ dẫn định hướng Và đã có đề thơ đặt rất hay, rất sát đúng với nội dung bài thơ Tuy nhiên cũng có những đề thơ đặt quá tuỳ tiện hoặc sai lầm
b Dòng thơ và câu thơ
Do đặc điểm quan trọng nhất của ngôn ngữ thơ là sự phân chia ra dòng thơ Trong các thể thơ cách luật, số chữ của mỗi dòng thơ có quy định trước thường phải bằng nhau (4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, 6 và 8 chữ) Như thế giữa dòng trên và dòng dưới đã có sự cân xứng: “Một ít vàng trong nắng trong cây Một ít buồn trong gió trong mây” (Tế Hanh) Trong thơ lục bát, song thất lục bát, sự cân xứng thể hiện trong dòng trên và dòng dưới hoặc giữa khổ trên và khổ dưới Độ dài thông thường của dòng thơ phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngôn ngữ, để cho người đọc, người nghe dễ tiếp nhận Nói chung dòng thơ Việt Nam thường biến đổi từ 4 đến 8 chữ Lúc kéo dài cũng không quá 12 chữ Tất nhiên có ngoại lệ Nếu không vì một nhu cầu nghệ thuật cần thiết nào lại đặt những dòng thơ dài làm rối sự suy nghĩ của người đọc thì thật đáng trách Dòng thơ cũng là câu thơ khi nó diễn đạt trọn vẹn một ý Thơ xưa, thơ cổ điển thường như thế Thơ ngày nay có khi hai, ba dòng mới thành một câu trọn nghĩa: “Ôi kháng chiến, mười năm qua, như ngọn lửa Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường” (Chế Lan Viên) Để giữ sự cân đối giữa hai dòng, để làm nổi rõ vần, và
có khi để nêu bật ý, người làm thơ đã vắt dòng:
“Một tối bầu trời đắm sắc mây
Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy
Trang 22Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ Nghiêng xuống làn rêu Một tối đầy Những lời huyền bí toả lên trăng”
(Xuân Diệu) Với lối vắt dòng theo thơ phương Tây, Xuân Diệu đã để cho dòng thơ trên tràn xuống dòng dưới Và khổ trên tràn xuống khổ dưới Tuy vần vẫn giữ
sự chỉnh tề cân đối bảo đảm nhạc tính, nhưng với cách vắt dòng, dung lượng (sức chứa) của câu thơ được mở rộng khá nhiều Trong bài thơ, điều dễ nhận thấy, dễ tính đếm chính là dòng thơ - nhất là cách trình bày thơ hiện nay trên các ấn phẩm Phải từ nội dung, ý nghĩa mới nhận ra từng câu thơ Khi đọc văn
cổ, biết chấm câu cho đúng là đã có một trình độ học vấn nhất định Đọc thơ ngày nay cũng phải chú ý đến cách chấm câu, ngắt đoạn cho thông nghĩa (nhất
là đối với những bài tác giả không chấm câu, không viết hoa) Không thận trọng
sẽ khó tránh khởi hiểu sai, hiểu nhầm Ví dụ, nếu ta ngắt: “Ôi kháng chiến mười năm qua / như ngọn lửa” thì câu thơ thật chẳng còn gì
c Khổ thơ và đoạn thơ
Không phải thơ nào cũng chia khổ, chẳng hạn thơ Đường luật, thơ cổ phong Sự chia khổ gắn với yêu cầu mở rộng bài thơ và tăng cường khổ nhạc cảm cho thơ Cứ nhìn những khổ thơ tương đối như nhau, xếp nối tiếp nhau theo những khoảng cách nhất định, người đọc đã nhận ra một nhịp điệu hài hoà nào đó (như hàng cột lớn ở mặt tiền một công trình kiến trúc, như những cột điện chạy qua mắt mọi người ngồi trên xe chạy đều…) Sự hài hoà về thị giác đó sẽ được củng cố hơn nữa với sự hài hoà về âm thanh nhịp điệu khi ngâm đọc
Khổ thơ là sự phối hợp của dòng thơ Các khổ thơ thường 4 dòng, 5 dòng… với số chữ giống nhau Bài Từ ấy có 3 khổ, mỗi khổ 4 dòng Bài Mẹ Tơm có 19 khổ, mỗi khổ 4 dòng Có những bài thơ mỗi khổ 5 hoặc 6 dòng Các
khổ thơ trong bài thơ, khi trình bày thành văn bản đứng nối tiếp nhau phân cách bằng một khoảng cách chừa trắng Khi ngâm đọc, cần có một thời gian ngừng nghỉ nhất định Sự cân xứng nhịp nhàng của ngôn ngữ thơ thể hiện rõ Hơn nữa cũng tạo thời gian cho người đọc đi sâu vào lời thơ vốn súc tích Nói chặt chẽ, mỗi khổ thơ phải có một số dòng như nhau và một số chữ tương đương Có thể
thơ như thể xonnê, số dòng của từng khổ, và số khổ của từng bài đều được quy
định rõ Nếu số dòng của các khổ quá chênh lệch không theo một quy ước nào
cả, thì về thực chất không còn sự đều đặn cân đối Và không nên gọi là khổ thơ
Đoạn thơ Mỗi khổ thơ cũng có thể là một đoạn thơ, nhất là trong một bài
thơ ngắn Đoạn thơ cũng có thể có một sự giống nhau về hình thức và một sự hài hòa cân đối nào đó Ta dùng chữ đoạn thơ để nói đến một số khổ thơ, một
Trang 23số dòng thơ thể hiện một ý tương đối trọn vẹn Theo cách trình bày văn bản, tác giả thường để giữa hai đoạn một khoảng cách rộng hơn khoảng cách giữa hai khổ thơ Như thế sự phân chia thành khổ thơ nhằm thể hiện sự cân đối, nhịp nhàng Sự phân chia thành đoạn thơ nhằm làm sáng rõ ý nghĩa Nghệ thuật lớn bao giờ cũng chú ý đến sự tiếp nhận của người đọc Và lối suy nghĩ có thứ lớp
sáng sủa tự nó là một vẻ đẹp Ví dụ, bài Mẹ Tơm có 19 khổ và chia làm 4 đoạn
Ở đây, nếu ta nói bài thơ chia làm 19 đoạn, tất phải nói đoạn nhỏ đoạn lớn, rất
có thể không rành mạch Bài Trận tuyến này cao hơn cả màu da, Chế Lan Viên chia thành ba khúc (cũng tức là ba đoạn): Vị trí - nguyên nhân - thời gian Ở
đầu mỗi khúc có một điệp khúc láy đi láy lại chung quanh ý: “Chúng ta không bắn màu da vàng hay da trắng Mà bắn bọn súc sinh trong tất cả các màu” Những dấu hiệu đó không nên bỏ qua khi tìm hiểu nội dung thơ Việc phân chia
khổ thơ, đoạn thơ có tác dụng để nhận ra các thứ lớp của nội dung bài thơ Như
khi xem tranh, cái nhìn tổng thể giúp ta nắm bắt được ý đồ nghệ thuật của bức tranh, cách bố cục đường nét, các mảng màu Nếu trong những vấn đề lớn này, tác phẩm tỏ ra vô giá trị thì hà tất ta phải đi sâu vào từng dòng, từng chữ nữa! Sau cái nhìn tổng thể, ta mới đọc lại từng câu, xem cách dùng chữ có sáng tạo không, nhịp điệu có điêu luyện không, kiến trúc có vững trãi không Có những bức tranh, nhìn thoáng thì tạm được, nhưng nhìn kĩ, nét bút còn vụng về, kĩ thuật pha trộn màu còn kém… Một bài thơ đứng được phải trải qua hai lần kiểm nghiệm ấy (từ tổng thể đến từng chi tiết) Phải tránh tình trạng phiến diện, chỉ chú ý trích bình một số câu thơ hay riêng lẻ - mà tập thơ dở nào chắc cũng có một vài câu Hoặc ngược lại, chỉ nói chung chung về đề tài, chủ đề tốt mà không nói đến câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu của từng câu thơ, từng khổ thơ…Cả hai cách đều dẫn đến cái nhìn không đúng về bài thơ - một công trình kiến trúc phải đẹp từ thiết kế đến thi công,… từ ngoại thất đến nội thất
Bài thơ Khác với dòng thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ là một tác phẩm
hoàn chỉnh Nói hoàn chỉnh là nói đến sự thống nhất nội tại Các nhà thơ cổ điển rất chú ý đến điểm này Trong một bài thơ luật Đường, các câu xếp theo một thứ tự, có những nhiệm vụ nhất định: Khai, thừa, thực, luận, kết Những bài xonnê Pháp cũng có cấu trúc chặt chẽ Tất cả để đảm bảo tính hoàn chỉnh của bài thơ Vậy cái gì bao trùm và chi phối tất cả các yếu tố trong một bài thơ? Có
thể nói đó là tứ thơ Gọi là tứ trước hết để phân biệt ý Trong một bài thơ có
nhiều ý, nhưng phải có ý lớn bao trùm toàn bài Ý bao trùm ấy có thể là tứ Vậy
ý lớn với tứ khác nhau như thế nào? Gọi là tứ khi ý lớn ấy không thể hiện một cách bộc trực trần trụi mà đã biến hoá trong những hình tượng nhiều tìm tòi sáng tạo mới lạ gợi ra cho người đọc những liên tưởng thú vị, rộng rãi Nói cách
Trang 24khác, một bài thơ có tứ là một bài thơ có tìm tòi, sáng tạo về mặt thể hiện ý toàn bài một cách mới lạ, thú vị Tứ thơ mang đặc điểm của cách nhìn, cách cảm,
cách nghĩ của nhà thơ Đọc Ta đi tới của Tố Hữu thấy mở ra trước mắt ta con
đường thẳng tắp và ý chí tiến lên thống nhất đất nước không gì có thể ngăn cản
được Đọc Các vị La Hán chùa Tây Phương của Huy Cận ta thấy hiện lên sừng
sững những nỗi đau khổ bế tắc của các thế hệ trước kia Có tứ thơ đã hé lộ ra
qua đề thơ như Cuộc chia li màu đỏ của Nguyễn Mĩ, Những gương mặt những khoảng trời của Bằng Việt, …Cốt làm nổi bật tứ như làm nổi bật tinh tuý của bài thơ, các nhà thơ thường cắt tỉa bớt lá cành để bông hoa tứ thêm rực rỡ Ngọn đèn đứng gác của Chính Hữu, Dáng đứng Việt Nam tiết kiệm là vì thế Đó là
những bài thơ xây dựng trên cái tứ là một hình tượng xuyên suốt toàn bài
Lại có cái tứ trong toàn bài nảy sinh từ một cảm xúc chung, một ấn tượng chung rồi dẫn dắt qua những dòng suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng Trên những dòng suy nghĩ liên tưởng, tưởng tượng đó từng lúc lại hiện lên những
hình tượng nhỏ: Tình sông núi của Trần Mai Ninh, Cửu Long giang ta ơi của Nguyên Hồng, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Giữa tết trồng cây của Chế Lan
Viên, … đều viết theo loại tứ như thế Với loại tứ này, thơ có thể diễn tả những
ấn tượng, những dòng cảm xúc, những liên tưởng cùng những suy nghĩ nghị luận phù hợp với đời sống nội tâm ngày càng giàu suy tưởng, thích hợp với cuộc đời cần nhiều lí lẽ để biện luận, để phản bác để tìm ra thái độ đúng, tin yêu
và có trách nhiệm với cuộc đời… Những dòng thơ đối thoại với chúng ta bằng
sự chân tình của lời tâm giao Sức lôi cuốn của lời tâm giao có phần át hình ảnh
Chia ra về một loại tứ thiên về tạo hình, một loại tứ thiên về suy nghĩ liên tưởng là cách phân chia giản đơn để tiện trình bày Thông thường các nhà thơ thể hiện một tứ lớn bằng cách sử dụng xen kẽ các biện pháp tạo hình và biện pháp biểu hiện nên khó có sự phân biệt rạch ròi
Thế giới tâm hồn của con người vô cùng phong phú và đa dạng Qua các thời kì lịch sử, cách cảm xúc, cách suy nghĩ của con người cũng đổi khác Cách sắp xếp, tổ chức để thể hiện tứ trong một bài thơ cũng đổi khác Nhưng mọi lối biểu hiện rối loạn, bí hiểm, tắc tị phá vỡ tính thống nhất của tác phẩm văn học, tính thống nhất của bài thơ đều đáng chê trách
Như vậy, thơ trữ tình mang những đặc điểm riêng về thể loại Vì vậy khi giảng dạy tác phẩm trữ tình chúng ta cần chú ý tới những đặc điểm của nó và
phải vận dụng những phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng thể loại 1.3 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được các cấp quản lí giáo dục, đội ngũ giáo viên quan tâm, thực hiện Quán triệt thực hiện chủ chương của Bộ
Trang 25Giáo dục và Đào tạo “mỗi giáo viên chi bộ quản lí giáo dục, thực hiện một đổi mới phương pháp dạy học và quản lí, mỗi trường, mỗi tổ, mỗi giáo viên có một
kế hoạch cụ thể về đổi mới pương pháp dạy học…” nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn Dạy học là công việc khó Dạy văn lại càng khó hơn Nhưng có lẽ cái khó nhất là chọn đươc phương pháp dạy học vừa phù hợp với đối tượng học sinh vừa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học để mang lại hiệu quả Đó là tài nghệ của mỗi một giáo viên Không có phương pháp nào là tối ưu cả, vấn đề là giáo viên biết kết hợp vận dụng một cách linh hoạt hợp lí
Xuất phát từ nhu cầu đổi mới trong dạy học, hiện nay có nhiều quan niệm dạy học tích cực trong dạy học môn Văn như:
Quan niệm dạy học trong đó người học là trung tâm là chủ thể của hoạt động học tập Nếu phương pháp dạy học truyền thống chỉ chú ý đến hoạt động
cơ bản là thầy giảng - trò ghi thì phương pháp dạy học tích cực chú ý vào hoạt động lĩnh hội tri thức, bắt đầu từ những hoạt động bên trong của con người Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy tác phẩm văn chương trong phổ thông mới có khả năng phát huy những tiềm lực tiềm tàng vẫn còn ngủ quên trong mỗi học sinh Phương pháp dạy học tích cực gõ mạnh vào trí thông minh, sở trường ở người học để phát huy tính tự giác Phương pháp này thể hiện
sự vận động có định hướng cần thiết của hoạt động trí tuệ trong việc hình thành kiến thức Qúa trình này cuốn học sinh vào công việc nhận thức tích cực, kích thích sự ham hiểu biết của trí tuệ, có khả năng khơi dạy nội lực bên trong Từ
đó các em có cơ hội phát huy hết mức trí lực của mình Như vậy phương pháp dạy học tích cực khác phương pháp dạy học truyền thống không phải ở chỗ làm cho việc học tập trở nên khó khăn hơn với học sinh, mà ở chỗ trong quá trình học tập các em phải thực sự làm việc Các em sẽ vượt qua được những khó khăn nhận thức, hình thành được những bài tập sáng tạo và rèn luyện được ý trí nhận thức của mình
Phương pháp này sữ làm thay đổi nhiệm vụ của thầy và trò theo hướng tích cực Người học sinh ở đây trở thành chủ thể tích cực trong quá trình tiếp nhận
và đồng sáng tạo Mà thầy giáo chính là người định hướng, dẫn dắt trong quá trình phát triển tư duy và hoạt động học tập của các em
Một quan niệm nữa đó là dạy học tích hợp Tích hợp là một trong những
xu thế dạy học hiện đại, hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới Chương trình THPT, môn Ngữ Văn, năm
2002 do Bộ GD và ĐT dự thảo đã ghi rõ: “ Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình biên soạn SGK và lựa chọn các
Trang 26phương pháp giảng dạy” (12,tr.27), “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ học Văn Tiếng Việt và Làm văn; quán triệt trong mọi khâu trong mọi yếu tố của hoạt động học tập, tích hợp trong chương trình, tích hợp trong SGK, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh, tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo”(15,tr.40)
Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp vào dạy học Ngữ Văn THPT nhằm hình thành và phát triển năng lực cho học sinh một cách có hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu Giáo dục và Đào tạo của bộ môn
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy môn Ngữ Văn ở trường THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hôi, văn hóa nghệ thuật mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục xóa bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức
và những kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ Văn nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được, bảo đảm cho mỗi học sinh khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống có ý nghĩa, cũng có khi là tình huống khó khăn, bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Mặt khác, tránh được những nội dung, kiến thức và các kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có được Quan điểm dạy học Ngữ Văn theo hướng tích hợp sẽ giúp học sinh tích hợp các kiến thức và các kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ giữa các tri thức và các kĩ năng thuộc các phân môn đã học bằng cách tổ chức, thiết kế các nội dung, tình huống tích hợp để học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng riêng rẽ của các phân môn vào giải quyết vấn đề đặt ra, qua đó lĩnh hội các kiến thức và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp
Tổ chức, thiết kế các hoạt động phức hợp để học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức và kĩ năng đã đạt được trong “nội bộ các phân môn” Cần đặt học sinh vào trung tâm của quá trình dạy học trực tiếp tham gia vào giải quyết các vấn đề, tình huống tích hợp, biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng Phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh, chú trọng mối
Trang 27quan hệ giữa học sinh với SGK, phải buộc học sinh chủ động tự đọc, tự làm việc độc lập theo SGK, theo hướng dẫn của giáo viên
Bên cạnh quan điểm dạy học tích hợp còn có quan điểm dạy học phân hóa Phân hóa là một hoạt động mà ở đó cần phải phân loại và chia tách các đối tượng, từ đó tổ chức, vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức sao cho phù hợp với đối tượng ấy nhằm đạt hiệu quả cao
Dạy học phân hóa là định hướng về nội dung và phương pháp dạy học, trong đó giáo viên tổ chức dạy học tùy theo đối tượng, nhằm đảm bảo yêu cầu giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lí, nhịp độ, khả năng, nhu cầu và hứng thú khác nhau của những người học, trên cơ sở đó phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học sinh
Dạy học phân hóa là một quan điểm dạy học tất yếu và cần thiết hiện nay vì:
- Một là do đặc điểm đối tượng của người học, mỗi học sinh là một cá nhân
có tiềm năng riêng, có trí thông minh, tình cảm và động lực học tập khác nhau Nhà trường cần trang bị cho học sinh nền học vấn phổ thông đồng thời có nhiệm vụ tổ chức mỗi học sinh phát triển tối đa năng lực cá nhân của mình Dạy học phân hóa tốt sẽ đáp ứng và phát huy được nguyện vọng, sở trường và phù hợp với điều kiện , hoàn cảnh của các cá nhân khác
- Hai là, do yêu cầu phát triển khoa học và đòi hỏi của thị trường lao động buộc nhà trường phổ thông nhất là bậc THPT cần dạy học phân hóa để cung cấp cho giáo dục dạy học, cao đẳng cũng như các trường nghề khác nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu chuyên sâu về một lĩnh vực khoa học ngành nghề chuyên nghiệp Phân hóa là để đáp ứng yêu cầu phân công lao đông trong xã hội
Như vậy có rất nhiều quan niệm dạy học tích cực trong dạy học văn hiện nay Các quan niệm dạy học tuy khác nhau nhưng đều nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách dạy và cách học Chuyển cách dạy thụ động, tryền thụ một chiều “đọc - chép”, giáo viên là trung tâm sang cách dạy lấy học sinh là trung tâm hay còn được gọi là dạy học tích cực Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức và hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giũa người dạy và người học
Tiểu kết chương 1
Tác phẩm trữ tình biểu hiện trực tiếp cảm xúc, suy tưởng của con người Cùng với đó nhân vật trong thơ cũng là hình tượng người trực tiếp thể hiện suy nghĩ, cảm xúc tâm trạng trong tác phẩm Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật trong kịch và tự sự Nhưng nhân
Trang 28vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, cách cảm,cách nghĩ Ngôn ngữ thơ trữ tình cũng có những đặc điểm riêng Đó là ngôn ngữ thơ bão hoà cảm xúc, giàu nhạc tính Tổ chức bài thơ trữ tình cũng khác với tổ chức của một tác phẩm
tự sự hay kịch Do đó khi dạy học thơ giáo viên cần nắm được những đặc trưng
về thể loại để có phương pháp dạy học và cách khám phá, phân tích bài thơ một cách hiệu quả nhất
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” đã được đặt ra trong ngành giáo dục của nước ta từ những năm 60 của thế kỷ XX Cho đến nay đã có rất nhiều các phương pháp dạy học tích cực khác nhau Tuy tên gọi và cách thức dạy học khác nhau nhưng tất cả các phương pháp dạy học tích cực đề nhằm phát huy khả năng chủ động của học sinh Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, là chủ thể của hoạt động dạy học Và giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy người học Vì vậy người giáo viên dạy học nhất là dạy thơ cần biết vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để giờ dạy
có hiệu quả cao và chất lượng học tập được cải tiến
Trang 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Khảo sát thực trạng dạy học thơ trữ tình ở Trường THPT Gia Phù Phù Yên – Sơn La
2.1.1 Mục đích khảo sát
- Qua việc tìm hiểu thực tế dạy học bài thơ “Sóng” - Xuân Quỳnh ở THPT Gia Phù nhằm phát hiện những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh trong quá trình tiếp nhận
- Tìm ra nguyên nhân của hạn chế, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục những vướng mắc trên và vận dụng những biện pháp dạy học tích cực vào giảng
dạy bài thơ Sóng của tác giả Xuân Quỳnh
2.1.2 Nội dung khảo sát
- Khảo sát thực trạng dạy học học bài thơ Sóng của giáo viên
- Khảo sát thực trang học của học sinh
2.1.3 Đối tượng khảo sát
- Khảo sát học sinh và giáo viên về việc tiếp nhận và giảng dạy tác phẩm
Sóng Cụ thể gồm học sinh của 4 lớp 12 và 8 giáo viên trong tổ Ngữ Văn của
nhà trường
2.1.4 Thời gian, địa bàn khảo sát
- Thời gian khảo sát: Học kì I (năm học 2013- 2014)
- Địa bàn khảo sát: Tiến hành khảo sát ở trường THPT Gia Phù - Phù Yên
- Sơn La
2.1.5 Cách thức khảo sát
Gặp gỡ giáo viên của trường, trình bày ý tưởng và xin khảo sát theo phương pháp sau:
Thu thập và đọc các tài liệu cần khảo sát
Đưa ra phiếu khảo sát:
- Mẫu phiếu 1: Cảm nhận của học sinh khi học bài thơ Sóng - Xuân
Quỳnh
- Mẫu phiếu 2: Nhận thức của học sinh về bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh
- Mẫu phiếu 3: Những thuận lợi và khó khăn khi của học sinh khi học bài
thơ Sóng - Xuân Quỳnh
- Mẫu phiếu 4: Nhận thức của học sinh về giá trị bài thơ Sóng
Phát phiếu trưng cầu ý kiến
2.2 Đánh giá kết quả khảo sát
2.2.1 Thực trạng dạy bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh ở Trường THPH Gia Phù - Phù Yên - Sơn La
Trang 302.2.1.1 Khảo sát nhận thức của giáo viên về bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh
Qua khảo sát các giáo viên trong trường cô giáo Nguyễn Thanh Tĩnh cho
ý kiến: Sóng là một bài thơ có giá trị nội dung và tư tưởng thẩm mĩ, gắn liền với
hoàn cảnh của cuộc đời nhà thơ Xuân Quỳnh
Bài thơ được giảng dạy tuy không nhiều nhưng giúp học sinh có cái nhìn tương đối chi tiết về tác giả và tư tưởng của tác phẩm Giúp học sinh có năng lực thẩm mĩ, xây dựng tư tưởng tình cảm cho các em Tuy nhiên, đây là một tác phẩm khá khó học vì nó gắn liền với năng lực cảm thụ văn học của học sinh, dung lượng bài thơ khá dài… tạo ra những khó khăn trong tiếp nhận của học sinh
Từ đánh giá trên chúng tôi thấy rằng: Chương trình giảng dạy bài thơ
Sóng có một vị trí quan trọng trong nhà trường phổ thông Việc nghiên cứu, tìm
hiểu và vận dụng những biện pháp dạy học tích cực trong giảng dạy bài thơ
Sóng sẽ góp phần tích cực vào quá trình nâng cao chất lượng dạy học thơ trữ
tình hiện đại nói riêng và thơ nói chung trong nhà trường phổ thông
2.2.2 2 Khảo sát giáo án dạy học tác phẩm Sóng của giáo viên
Thông qua việc tiến hành khảo sát và kết quả thu được tôi lập bảng thống
(100%)
0 (0%)
(75%)
2 (25%)
3
(87,5%)
1 (12,5%) Bảng 2: Hệ thống câu hỏi trong giáo án Sóng - Xuân Quỳnh của giáo viên
Trang 312 (20%)
2 (20%)