Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành tài chính ngân hàng tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành tài chính ngân hàng
Trang 1CHƯƠNG 8: TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
CỦA KIỂM TOÁN VIÊN
Trang 3I Khái quát về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên trong kiểm toán tài chính.
Trang 4Khái niệm.
Phân loại.
Điều kiện hình thành trách nhiệm pháp lý của KTV.
Lịch sử phát triển.
I.
Trang 5Theo luật dân sự : Trách nhiệm pháp lý hình thành khi tổ chức hay cá nhân gây thiệt hại đến tài sản, sức khỏe, danh dự… của chủ thể khác mà chưa được coi là tội phạm theo quy định của bộ luật hình sự
Trách nhiệm pháp lý ở đây hướng đến việc bồi thường thiệt hại
Theo luật dân sự : Trách nhiệm pháp lý hình thành khi tổ chức hay cá nhân gây thiệt hại đến tài sản, sức khỏe, danh dự… của chủ thể khác mà chưa được coi là tội phạm theo quy định của bộ luật hình sự
Trách nhiệm pháp lý ở đây hướng đến việc bồi thường thiệt hại
Theo luật hình sự: Trách nhiệm pháp lý mà 1 cá nhân phải chịu khi có những hành vi vi phạm các tội được quy định tại bộ luật hình sự Trách nhiệm ở đây
hướng đến việc ngăn chặn người có tội
Theo luật hình sự: Trách nhiệm pháp lý mà 1 cá nhân phải chịu khi có những hành vi vi phạm các tội được quy định tại bộ luật hình sự Trách nhiệm ở đây
hướng đến việc ngăn chặn người có tội
KHÁI NIỆM
Trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ thanh toán nợ theo quy định của pháp luật, được xác định theo luật dân sự và luật hình sự và được quyết định bởi tòa án I.1
Trang 6Trách nhiệm theo
hợp đồng
Là trách nhiệm được xác định theo các điều khoản
đã cam kết trong hợp đồng kiểm toán Khi 1 bên vi phạm các điều khoản này và gây ra thiệt hại cho bên còn lại thì bên vi pham sẽ có trách nhiệm đối với thiệt hại của bên bị vi phạm
Là trách nhiệm được xác định căn cứ vào quy định pháp lý cho dù có được quy định trong hợp đồng kiểm toán hay không
Trách nhiệm do pháp
luật quy định PHÂN LOẠI THEO TRÁCH NHIỆM
I.2
Trang 7Trách nhiệm với bên thứ 3
Trách nhiệm dân sự
PHÂN LOẠI
THEO ĐỐI TƯỢNG
Trách nhiệm với khách hàng
I.2
Trách nhiệm hình sự
Trang 8Để hình thành trách nhiệm pháp lý của KTV, khách thể kiểm toán và bên thứ 3 phải chứng minh được đồng thời 3 điều kiện
KTV là người có lỗi
Có thiệt hại
Có mối quan
hệ giữa lỗi do KTV gây ra
và khoản thiệt
hại
I.3 Điều kiện hình thành trách nhiệm pháp lý của KTV
Trang 9Sự khác biệt trong kì vọng của KTV
và người sử dụng kết quả kiểm toán
Sự gia tăng của UBCK trong việc bảo vệ lợi ích của các bên liên quan.
Hoạt động kế toán kiểm toán ngày càng phức tạp dẫn đến rủi ro và thiệt hại
kinh tế của người sử dụng kết quả kiểm toán gia tăng
Nhận thức của người sử dụng kết quả kiểm toán về trách nhiệm của KTV tăng
Nguyên nhân
I.4 Trước đó KTV chỉ có trách nhiệm với khách hàng Lịch sử phát triển
theo cam kết trong hợp đồng Về sau, KTV phải chịu trách nhiệm với cả bên thứ 3
Trước đó KTV chỉ có trách nhiệm với khách hàng theo cam kết trong hợp đồng Về sau, KTV phải chịu trách nhiệm với cả bên thứ 3
Trang 11II.1 Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với khách hàng
Trách nhiệm
theo hợp đồng
Trách nhiệm
theo hợp đồng
Trách nhiệm của KTV đối với khách hàng phụ thuộc vào các
điều khoản cam kết trong hợp đồng kiểm toán.
Khi KTV vi phạm các cam kết này và gây ra thiệt hại cho
khách hàng thì trách nhiệm pháp lý của KTV với khách
hàng sẽ nảy sinh.
Trách nhiệm theo quy định pháp luật
KTV cũng có trách nhiệm với đơn vị được kiểm toán
theo quy định của luật pháp như Luật Kiểm toán, Chuẩn
mực kiểm toán, Luật dân sự…….Do đó nếu KTV không
thực hiện đúng các chuẩn mực trên thì sẽ gây ra thiệt
hại cho khách hàng Lúc này KTV có trách nhiệm pháp
lý với khách hàng.
Trang 12Bất cẩn thông thường
Bất cẩn toàn bộ
Gian lận
Trách nhiệm pháp lý của KTV càng nghiêm trọng thể hiện mức độ nghiêm trọng tăng theo cấp độ này.
Sự thiếu thận trọng
Trang 13về những sai phạm chưa được xử lý.
Sau khi phát hành báo cáo kiểm toán phát hiện đơn vị kiểm toán có sai phạm trong yếu do không tuân thu pháp luật và đơn vị liên quan thì phải thông báo cho đvi dc kiểm toán.
Bảo mật thông tin trong quá trình kiểm toán.
Nếu kiểm toán viên gây thiệt hại cho khách hàng, thì phải bồi thường và bị xử lý theo quy định.
Trang 141 Thứ nhất KTV biện minh rằng không có đủ thẩm quyền trong cuộc kiểm toán, do đó không
có trách nhiệm với khoản thiệt hại.
KTV chứng minh là đã thực hiện kiểm toán không cẩu thả.
KTV khoản thiệt hại có liên quan đến sự bất cẩn toàn bộ của khách hàng kiểm toán cũng như của KTV.
KTV lập luận rằng không có mỗi quan hệ nhân quả giữa khoản thiệt hại của khách hàng với hoạt động kiểm toán.
Trang 15VÍ DỤ Công ty Cenco Incorporated kiện Seidman and Seidman
( 1982)
Giữa năm 1970 và 1975, các nhân viên quản trị của Cenco, sau
đó cả ban quản trị cao cấp đã dính líu vào một vụ gian lận lớn là thổi phồng giá trị hàng tồn kho của công ty Điều nãy đã giúp cho công ty vay được tiền với lãi suất thấp hơn và đạt được tiền bồi thường bảo hiểm hỏa hoạn cao hơn mức đáng được hưởng Sau khi sự gian lận bị phát hiện bởi một nhân viên của Cenco và
được báo cáo với SEC ( Securities and Exchange Commission) các cổ đông đã đệ đơn kiện công ty Cenco, ban quản trị của
công ty và các kiểm toán viên của công ty Kiểm toán Công ty kiểm toán đã dàn xếp cho vụ kiện tụng này bằng cách chi ra 3,5 triệu USD.
Năm 1982, Ban quản lý mới của Công ty nhân danh Công ty
Cenco đệ đơn kiện lần thứ hai Công ty kiểm toán vì sai phạm hợp đồng, bất cần nghề nghiệp và gian lận Công ty kiểm toán đã bào chữa là mặc dù Công ty đã nỗ lực cố gắng để phát hiện ra dấu hiệu của sự gian lận nhưng tập thể phần lớn những người trong ban quản trị của Công ty Cenco đã ngăn cản họ phát hiện ra gian lận.
Kỳ họp thứ 7 của toàn thượng đã kết luận là Công ty kiểm toán
không chịu trách nhiệm trong trường hợp này.
Trang 16Thế nào là bên thứ ba? Gồm những ai?
Bên thứ ba (ngoài chủ thể và khách thể kiểm toán) là các cá nhân, tổ chức có liên quan đến cuộc kiểm toán báo cáo tài chính
Cổ đông (hiện tại, tương lai) Ngân hàng và tổ chức tín dụng Nhà cung cấp
Khách hàng Nhân viên…
II.2
Trang 17Trách nhiệm của KTV đối với bên thứ
ba là rất rộng và nặng nề Thực tế, phần lớn các vụ kiện đối với KTV do bên thứ
ba thực hiện, nhiều cuộc kiểm toán báo cáo tài chính không thể thực hiện được
vì KTV không đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của rất đông các bên thứ ba.
II.2
Trang 18Năm 1931, công ty Ultramares không có khả năng trả nợ, các chủ nợ của Công ty dựa vào báo cáo tài chính đã được chứng nhận rồi sau đó kiện các KTV, họ cho rằng các KTV
đã phạm tội bất cẩn và trình bày gian dối.
Các khoản phải thu đã bị bóp méo bằng cách cộng thêm khoảng 650.000 USD vào các khoản phải thu một khoản mục khác trên 700.000USD Các chủ nợ cho rằng một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng sẽ tìm thấy 700.000 USD gian lận này Các khoản phải trả cũng có những khoản không nhất quán tương tự.
Sau khi điều tra vấn đề, toà án liên bang Mỹ kết luận rằng các KTV đã có bất cẩn trong quá trình kiểm toán, tuy nhiên kiểm toán viên khôngphải chịu trách nhiệm đối với các chủ nợ của Công ty Ultramares vì điều sai lầm vượt ra ngoài phạm vi của hợp đồng kiểm toán ban đầu Toà án cho rằng chỉ có người ký hợp đồng với KTV về các dịch vụ kiểm toán mới có thể kiện nếu các dịch vụ đó được cung cấp một cách bất cẩn.Vụ kiện này là cơ sở cho sự ra đời của “Học thuyết Ultramares"
Học thuyết Ultramares II.2
Trang 19Theo học thuyết này, KTV sẽ chịu trách nhiệm nếu bên thứ ba là “người có lợi ích liên quan cơ bản* ”.
* “Người có lợi ích liên quan cơ bản” là người mà KTV được thông báo về họ trước khi thực hiện cuộc kiểm toán.
Trang 20Học thuyết đưa ra khái niệm “người sử dụng dự kiến các kết quả kiểm toán”, đó là những bên thứ ba mà KTV nhận thức được là
sẽ sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán (ví dụ, cơ quan thuế, ngân hàng đang cho vay, nhà cung cấp đang có khoản phải thu ở đơn vị được kiểm toán,…)
Học thuyết đưa ra khái niệm “người sử dụng dự kiến các kết quả kiểm toán”, đó là những bên thứ ba mà KTV nhận thức được là
sẽ sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán (ví dụ, cơ quan thuế, ngân hàng đang cho vay, nhà cung cấp đang có khoản phải thu ở đơn vị được kiểm toán,…)
Có lợi ích liên quan
trực tiếp đến kết
quả kiểm toán của
đơn vị được kiểm
toán tại ngày ký báo
cáo kiểm toán.
Có hiểu biết một cách hợp lý về báo cáo tài chính và cơ
sở lập báo cáo tài chính là các chuẩn mực kế toán, chế độ
kế toán và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đã sử dụng một cách thận trọng thông tin trên báo cáo tài chính đã kiểm toán.
Học thuyết Ultramares mở rộng
Ở Việt Nam, khoản 12 Điều
29 Chương 3 Luật kiểm toán độc lập
II.2
Trang 21KTV lập luận rằng không có mối quan hệ nhân quả giữa khoản thiệt hại của bên thứ ba với hoạt động kiểm
toán.
KTV lập luận rằng không có mối quan hệ nhân quả giữa khoản thiệt hại của bên thứ ba với hoạt động kiểm
toán.
KTV biện minh không có trách nhiệm theo quy định của pháp luật, áp tùy theo quy định pháp lý
KTV biện minh không có trách nhiệm theo quy định của pháp luật, áp tùy theo quy định pháp lý
Thứ nhất Thứ hai Thứ ba
KTV có thể chứng minh đã tuân thủ chuẩn mực kiểm toán trong suốt quá trình thực hiện cuộc kiểm toán thì KTV không có trách nhiệm pháp lý.
II.2
Hình thức phản vệ của KTV
Trang 22chỉnh và trong báo cáo kiểm toán, nhận xét của KTV đã nêu cụ
thể: "Theo điều khoản của hợp đồng, chúng tôi không yêu cầu khách hàng phải xác nhận số dư của họ và cũng không xem xét lại khả năng thu của bất kỳ khoản phải thu thương mại nào" Việc không có sự
điều chỉnh để phản ánh số tiền không thu được cũng được ghi rõ ở
"các ghi chú trong Bảng cân đối tài sản".
Năm 1971, người mua 2/3 cổ phiếu của Công ty cho thuê ô tô
Stephens industries đã kiện Công ty kiểm toán Haskin and Sells vì bất cẩn khi kiểm toán các khoản phải thu
Áp dụng "học thuyết Ultramares", toà án sơ thẩm cho rằng không
có mối quan hệ riêng theo hợp đồng giữa bên nguyên đơn và KTV nên không tồn tại trách nhiệm pháp lý vì sự bất cẩn của KTV Toà án phúc thẩm cũng đưa ra quyết định tương tự.
VÍ DỤ Stephens industries kiện Haskin and Sells (1971 )
Trang 23Theo Phần 11 Luật Chứng khoán 1933 ở Mỹ: “ Bất cứ bên thứ 3 nào mua cổ phiếu từ báo cáo tài chính của công ty niêm yết có thể kiện KTV về BCTC có sai phạm trọng yếu Người sử dụng kết quả kiểm toán chỉ cần chứng minh rằng báo cáo tài chính có sai phạm trọng yếu là đủ cơ sở để qui kết trách nhiệm pháp lý của KTV”
Khi xảy ra khiếu kiện thì KTV phải có trách nhiệm chứng minh
Cuộc kiểm toán thích đáng được
thực hiện.
Phần thua thiệt của nguyên đơn là do nguyên nhân khác, không xuất phát từ Báo cáo tài chính được kiểm toán.
II.3 Trách nhiệm dân sự khi kiểm toán các đơn vị niêm yết
Trang 24Trong quy định trong Điều 13 QĐ 89/2007 BTC, theo đó DN kiểm toán có nghĩa vụ
Những sai phạm chưa được xử lý theo quy định của Chuẩn mực kiểm toán thì phải được ghi vào báo cáo kiểm toán hoặc thư quản lý.
Sau khi phát hành báo cáo kiểm toán, nếu nghi ngờ hay phát hiện khách thể vẫn tồn tại những sai phạm
trọng yếu liên quan đến báo cáo tài chính được kiểm toán thì phải thực hiện các thủ tục thông báo cho bên thứ 3 và thông báo cho Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước.
II.3 Trách nhiệm dân sự khi kiểm toán các đơn vị niêm yết
Trang 25Các hình thức phạt của Ủy ban chứng khoán đối với KTV khi kiểm toán báo cáo tài chính của các tổ chức niêm yết được quy định như sau
Phạt hay ngừng (tạm thời hoặc vĩnh viễn) KTV không cho kiểm toán các công ty niệm yết
KTV có hành vi vi phạm nghiêm trọng (cố tình bỏ qua các phát hiện kiểm toán để đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với BCTC được kiểm toán.
- Yêu cầu KTV tham gia các khóa đào tạo
- Yêu cầu KTV khác rà soát công việc của KTV mắc lỗi
KTV thực hiện cuộc kiểm toán không đảm bảo chất lượng do cẩu thả, trình độ chuyên môn chưa bảo đảm, tính độc lập không được duy trì
Công bố trong các ấn phẩm của Ủy ban Chứng khoán về hành vi vi phạm của KTV
Răn đe đối với những sai phạm cố ý hay có khả năng phát sinh
II.3
Trang 26 Không giải trình, cung cấp thông tin, số liệu liên quan đến hoạt động kiểm toán theo yêu cầu của Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước.
Phạt tiền từ 50 triệu đến
70 triệu Không ghi ý kiến về những sai phạm của tổ chức kiểm toán chưa được xử lý theo quy định của chuẩn mực kiểm
toán vào báo cáo kiểm toán.
Không thông báo, hoặc thông báo không kịp thời cho người thứ 3 theo quy định của chuẩn mực kiểm toán
Trang 27Ngày 5/1/2012, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước ban hành các Quyết định số 11/QĐ-UBCK
và 12/QĐ-UBCK xử phạt vi phạm hành chính đối với Kiểm toán viên Nguyễn Diệu Trang
(Chứng chỉ kiểm toán viên số 0938/KTV) của Công ty TNHH Dịch vụ tài chính Kế toán và
Kiểm toán (AASC) và Kiểm toán viên Tô Đình Hoài (Chứng chỉ Kiểm toán viên số 1174/KTV) của Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Hà Nội (CPA Hà Nội) cụ thể như sau:
1 Tại Báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính năm 2010 của Cty CP Quản lý Quỹ Đầu
tư Hapaco do Kiểm toán viên Nguyễn Diệu Trang của Công ty TNHH Dịch vụ tài chính
Kế toán và Kiểm toán lập đã không ghi ý kiến về các sai phạm của Cty CP Quản lý Quỹ Đầu
tư Hapaco trong việc không trình bày về khoản đầu tư vượt vốn chủ sở hữu do vay để đầu
tư tài chính, theo quy định tại Khoản 3 Điều 13 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 24/10/2007 ban hành Quy chế lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán (Quyết định 89/2007/QĐ-BTC); sau khi phát hành báo cáo kiểm toán, các sai phạm nêu trên cũng không được thông báo cho UBCKNN theo quy định tại Khoản 4 Điều 13 Quyết định
89/2007/QĐ-BTC, vi phạm Điểm a Khoản 1 Điều 12 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC.
2 Tại Báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính năm 2010 của CtyCP Quản lý Quỹ SGI do
Kiểm toán viên Tô Đình Hoài của Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Hà Nội lập đã không ghi ý kiến về các sai phạm của CtyCP Quản lý Quỹ SGI trong việc cho các bên liên quan vay tiền và chưa tách bạch tài sản của nhà đầu tư ủy thác và tài sản của Công ty, theo quy định tại Khoản 3 Điều 13 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC; sau khi phát hành báo cáo kiểm toán, các sai phạm nêu trên cũng không được thông báo cho UBCKNN theo quy định tại Khoản 4 Điều
13 Quyết định BTC, vi phạm Điểm a Khoản 1 Điều 12 Quyết định
89/2007/QĐ-BTC.
VÍ DỤ
Trang 28Xét tính chất và mức độ vi phạm, UBCKNN xử phạt vi phạm hành chính đối với Kiểm toán viên Nguyễn Diệu Trang (Công ty trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ tài chính Kế toán và Kiểm toán) và Kiểm toán viên Tô Đình Hoài (Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Hà Nội) như sau:
1 Hình thức phạt chính: Phạt tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) đối với mỗi kiểm toán viên trên theo quy định tại Điểm
a Khoản 2 Điều 35 Nghị định 85/2010/NĐ-CP ngày 2/8/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định 85/2010/NĐ-CP);
2 Hình thức phạt bổ sung: Đình chỉ có thời hạn tư cách được chấp thuận của mỗi kiểm toán viên nêu trên theo quy định tại
Khoản 4 Điều 35 Nghị định 85/2010/NĐ-CP
VÍ DỤ