1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bi kịch tình yêu lứa đôi trong truyện thơ tiễn dặn người yêu

63 896 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 661,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo các nhà nghiên cứu: Tiễn dặn người yêu là một kiệt tác nghệ thuật dân gian có giá trị nhân đạo sâu sắc, được coi là “một trong những truyện thơ hay nhất của kho tàng văn học Việt N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HÀ HỒNG THẮM

BI KỊCH TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG TRUYỆN THƠ “TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

HÀ HỒNG THẮM

BI KỊCH TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG TRUYỆN THƠ “TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU”

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Công Tho

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được hoàn thành với sự hướng dẫn khoa học, sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo – Thạc sĩ Nguyễn Công Tho, giảng viên Văn học Việt Nam Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến sự quan tâm, chỉ đạo của thầy trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn Thư viện trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, các thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, cô giáo chủ nhiệm, gia đình cùng tập thể lớp K51 – ĐHSP Ngữ văn đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo – Thạc sĩ Lò Bình Minh, cô giáo – Thạc sĩ Lò Mai Cương đã cố vấn khoa học cho khóa luận của em

Em rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận này được hoàn thiện hơn

Sơn La, tháng 5 năm 2014

Tác giả

Hà Hồng Thắm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.1 Cơ sở khoa học 1

1.2 Cơ sở thực tiễn 2

2 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 2

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…… …… 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4.3 Phương pháp nghiên cứu 4

5 CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN 5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Môi trường tự nhiên – Văn hóa – Xã hội của truyện thơ dân tộc Thái……… 6

1.1.1 Môi trường tự nhiên 6

1.1.2 Môi trường Văn hóa - Xã hội 9

1.2 Khái quát về Truyện thơ và Truyện thơ dân tộc Thái 15

1.2.1 Khái niệm Truyện thơ 15

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của Truyện thơ 16

1.2.3 Truyện thơ dân tộc Thái 17

1.3 Truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) 17

1.3.1 Hoàn cảnh ra đời 17

1.3.2 Tóm tắt tác phẩm 18

1.3.3 Giá trị của tác phẩm 20

CHƯƠNG 2 BI KI ̣CH TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU 23

2.1 Anh yêu - Em yêu đôi bạn tình trong trắng, thủy chung 23

2.2 Mối tình Anh yêu – Em yêu là một bi kịch 28

Trang 5

2.3 Nguyên nhân dẫn đến bi kịch tình yêu lứa đôi 43 2.3.1 Nạn ép duyên 43 2.3.2 Sức mạnh, quyền lực của các thế lực phong kiến cản trở mối tình chung thủy đầy bi kịch của Anh yêu – Em yêu 45

2.4 Tiễn dặn người yêu là khúc hát đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do yêu

đương, chống lại lễ giáo phong kiến và tục lệ hôn nhân gả bán 48

KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

truyện thơ Thái viết về chủ đề này, chúng ta không thể không nhắc tới Tiễn dặn

người yêu (Xống chụ xon xao) một thiên tình sử nổi tiếng, tinh hoa văn hóa - văn

học của dân tộc Thái Là quyển sách quí nhất trong mọi quyển sách quí! Theo các

nhà nghiên cứu: Tiễn dặn người yêu là một kiệt tác nghệ thuật dân gian có giá trị

nhân đạo sâu sắc, được coi là “một trong những truyện thơ hay nhất của kho tàng văn học Việt Nam” [13, 999] Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn đã từng ví truyện thơ này như “Truyện Kiều của dân tộc Thái”, “có sức lôi cuốn người dân Thái như người Việt với tác phẩm của Nguyễn Du” [13, 999]

Vì vậy, nghiên cứu Tiễn dặn người yêu là việc làm có ý nghĩa nhằm khám phá

đầy đủ hơn giá trị của tác phẩm

Tiễn dặn người yêu không chỉ là mối quan tâm của riêng các nhà nghiên

cứu người dân tộc Thái mà nó còn là tác phẩm được các học giả trong và ngoài

nước lưu tâm Tác phẩm đã được dịch từ nguyên bản tiếng Thái có tựa đề Xống

chụ xon xao sang tiếng phổ thông và một số thứ tiếng dân tộc khác

Với tư cách là một truyện thơ hay nhất trong kho tàng truyện thơ của các

dân tộc thiểu số, một tác phẩm lớn trong nền văn học Việt Nam, Tiễn dặn người

yêu ngày càng trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, càng chiếm được

tình yêu mến của độc giả và đã có một vị trí xứng đáng trong nền văn học Việt Nam bởi tác phẩm ra đời là kết quả của sự sáng tạo phong phú, độc đáo, kết tinh tinh hoa văn hóa – văn học Thái Tác giả dân gian đã khai thác đề tài tình yêu, một đề tài nổi bật trong truyện thơ các dân tộc thiểu số trên nhiều bình diện cùng với sự biến hóa của những cung bậc cảm xúc trong tình yêu, nhất là tình yêu nam nữ Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại chọn tình yêu làm đề tài chính bởi mỗi câu chuyện kể đều là sự gửi gắm những ước muốn chính đáng của nhân dân về mọi phương diện của đời sống xã hội trong đó có tình yêu, khát vọng về

Trang 7

hạnh phúc, sự bình đẳng Đồng thời truyện cũng phản ánh những nét văn hóa truyền thống về phong tục tập quán, khám phá những ngóc ngách của cuộc sống Các truyện thơ về đề tài tình yêu của dân tộc Thái đều nói tới những mối tình đẹp nhưng lại bị rào cản của gia đình và xã hội mà trở thành bi kịch tình yêu

Vì vậy, nghiên cứu Tiễn dặn người yêu giúp ta soi rọi vào việc tìm hiểu loại

hình truyện thơ các dân tộc thiểu số

Sở dĩ Tiễn dặn người yêu được đánh giá cao như vậy là vì tác phẩm đã mô

tả khá phong phú và chân thực về hiện thực cuộc sống mang màu sắc bi kịch của người Thái Tây Bắc thế kỷ XV, tác phẩm đã đề cập đến nhiều vấn đề của xã hội, đặc biệt là vấn đề hôn nhân trong đó nổi bật là chuyện ép duyên, gả bán gây nên những bi kịch tình yêu lứa đôi

Vì vậy, tìm hiểu bi kịch tình yêu lứa đôi trong “Tiễn dặn người yêu” là một

công việc có tính chuyên môn mà chúng tôi rất tâm đắc Từ những ý nghĩa, giá trị lớn lao mà tác phẩm mang lại chúng tôi muốn đưa độc giả yêu thích truyện thơ tình yêu dân gian Thái có thể tiếp cận, đi sâu vào tìm hiểu, khám phá những nét giá trị truyền thống một cách sâu sắc, cặn kẽ hơn Qua đó cảm thông và làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình về các phong tục, tập quán, những nét văn hóa truyền thống với những đặc trưng rất riêng của người Thái Tây Bắc Nhằm góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những nét đẹp và các giá trị truyền thống độc đáo của dân tộc Thái

1.2 Cơ sở thực tiễn

Là một trong những truyện thơ hay nhất của kho tàng văn học Việt Nam,

Tiễn dặn người yêu đã được tuyển chọn và đưa vào giảng dạy trong nhà trường

phổ thông với đoạn trích cùng tên trong sách Ngữ Văn 10 Đây là, tác phẩm đã tạo được sức hấp dẫn, nhiều hứng thú cho cả người dạy và người học Tuy nhiên, nó cũng là một tác phẩm không dễ dàng tiếp cận, chiếm lĩnh và cần phải được tiếp tục tìm tòi, khám phá thêm

Bởi vậy, nghiên cứu vấn đề “Bi kịch tình yêu lứa đôi trong Tiễn dặn người

yêu” là một điều cần thiết và rất hữu ích cho người thực hiện đề tài để hiểu sâu

hơn và giảng dạy tác phẩm đa ̣t hiê ̣u quả cao hơn

2 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu bi kịch tình yêu lứa đôi trong “Tiễn dặn người yêu” nhằm làm

Trang 8

rõ câu chuyện tình chung thủy nhưng đầy bi kịch của đôi trai gái Thái Cũng từ mối tình bi kịch ấy, tiếng nói phản kháng xã hội phong kiến bất công, ngang trái vút lên mạnh mẽ Từ đó, rút ra những nét độc đáo về cách thể hiện đề tài tình yêu đôi lứa trong truyện

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Tiễn dặn người yêu là đỉnh cao của văn học Thái, một tác phẩm lớn trong

nền văn học Việt Nam, tác phẩm được các học giả đánh giá cao và quan tâm

Nhiều vấn đề trong Tiễn dặn người yêu trở thành đối tượng, đề tài nghiên cứu

của các công trình nghiên cứu xưa và nay Từ nhiều góc độ, đã có những bài viết, những công trình có liên quan đến vấn đề mà đề tài của chúng tôi đặt ra Chúng tôi xin được lược dẫn về những công trình, những bài viết có liên quan trực tiếp đến đề tài:

Bàn về tác phẩm Tiễn dặn người yêu, Đỗ Bình Trị đã nhận xét: “Là một

truyện thơ hay nhất trong mọi truyện thơ hay của các dân tộc anh em, một tác phẩm lớn trong nền văn học Việt Nam” [18, 288] Đồng thời tác giả cũng phân

tích tác phẩm trên phương tiện nội dung và chỉ rõ: Tiễn dặn người yêu là một

chuỗi tiếng kêu thương đứt ruột; là tiếng kêu bất bình, tố cáo và phản kháng; là tiếng hát đồng tình, an ủi, cảm thông chứa chan tình cảm nhân đạo của nhân dân đối với thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ

Các tác giả trong cuốn “Lịch sử văn học Việt Nam”, tập 1, văn học dân

gian, phần 2, NXB Giáo dục, 1978 đã đi sâu phân tích tác phẩm Xống chụ xon

xao và chỉ rõ đây là một thảm kịch đầy nước mắt về tình yêu trong xã hội cũ; là

một bài ca chiến đấu cho mối tình chung thủy đồng thời cũng bàn về vài nét

nghệ thuật của Xống chụ xon xao

Đã có khá nhiều đề tài, tiểu luận và một số công trình nghiên cứu về nội

dung và nghệ thuật truyện thơ Tiễn dặn người yêu như:

Luận văn tốt nghiệp Đại học của Lê Thị Thuận (Đại học Tây Bắc, 2006)

với đề tài Tìm hiểu thi pháp truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao)

do Thạc sĩ Lò Bình Minh hướng dẫn

Ngoài ra, còn có một số bài viết tuy chỉ dừng lại khai thác một vài đoạn

trích trong tác phẩm, đặc biệt là đoạn trích Tiễn dặn người yêu và đoạn trích

“Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa” đã được trích giảng trong chương trình

Trang 9

Ngữ văn 10 THPT Tuy bước đầu đã có nhiều thành tựu nhưng vẫn còn là “địa hạt” cần rất nhiều công sức khai phá thêm

Lò Bình Minh với đề tài Tính bi kịch về tình yêu lứa đôi trong truyện thơ

Khun Lú – Nàng Uả của dân tộc Thái (Luận văn sau Đại học năm 1989) Trong

chương II đã đi sâu vào phân tích câu chuyện tình yêu bi thảm của đôi trai gái và chỉ rõ bộ mặt các thế lực cản trở mối tình chung thủy đầy bi kịch trên những khía cạnh mà tác giả đã đi sâu là những định hướng chung để chúng tôi tìm hiểu

bi kịch tình yêu trong truyện thơ Xống chụ xon xao

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Do yêu cầu, mục đích, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi chọn bi kịch tình yêu

lứa đôi trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao, do Mạc Phi tu

chỉnh, giới thiệu và chú thích, 1977) làm đối tượng nghiên cứu chính

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nhằm tìm hiểu một phương diện nổi bật của nội dung truyện thơ dân tộc ít người là bi kịch tình yêu lứa đôi, các vấn đề khác đặt ra chỉ cốt làm nổi bật vấn đề trên Hơn nữa chúng tôi chỉ nhằm khảo sát, trình bày các hiện tượng thuộc một tác phẩm cụ thể, chứ không nhằm đưa ra những kết luận có tính quy luật chung nhất cho cả một thể loại vốn rất phổ biến ở hầu khắp các nền văn học các dân tộc thiểu số

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi tập trung vào khảo cứu bi kịch

tình yêu lứa đôi trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) để

thấy được câu chuyện tình yêu đẹp nhưng đầy bi kịch của đôi trai gái Thái

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Do tính chất đề tài, đặc trưng văn học dân gian thiểu số, cho nên ngoài việc tuân thủ các phương pháp luận trong nghiên cứu văn học dân gian nói chung

chúng tôi thấy cần phải đặt truyện thơ Tiễn dặn người yêu vào trong bối cảnh

lịch sử, môi trường văn hóa, dân tộc của tác phẩm, cụ thể ở đây là trở về Tây Bắc với thiên nhiên và không khí sinh hoạt, tâm lí tình cảm của dân tộc Thái

Vì thế, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp khảo sát thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp bình giảng văn học, phương pháp so sánh - đối chiếu nhằm tìm ra những đặc điểm

Trang 10

cần thiết về nội dung cốt truyện, hệ thống nhân vật Từ đó để thấy được những nét độc đáo dân tộc trong cách thể hiện đề tài, xây dựng cốt truyện và xây dựng nhân vật giao lưu văn hóa

5 CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, ở khóa luận này gồm 2 chương:

Chương 1: Truyện thơ trong môi trường văn hóa của dân tộc Thái

Chương 2: Bi ki ̣ch tình yêu lứa đôi trong Tiễn dặn người yêu

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Môi trường tự nhiên – Văn hóa – Xã hội của truyện thơ dân tộc Thái 1.1.1 Môi trường tự nhiên

1.1.1.1 Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc

Nếu ai đã từng đặt chân lên Tây Bắc thì chắc hẳn bạn sẽ vô cùng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp hùng vĩ của vùng sơn cước này Bạn sẽ thấy như đang lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh với những dòng thác trải dài trong suốt, bọt tung trắng xóa, phía dưới là những con suối khúc khuỷu, uốn mình ngả nghiêng, trên cao là khoảng trời xanh bao la xen lẫn muôn màu và hương sắc của cỏ cây hoa lá, hay những cánh ruộng bậc thang kì vĩ đẹp mê hồn như cung đàn với những nốt nhạc trải dài bên sườn núi Xa xa là những cảnh sắc đầy thơ mộng và lãng mạn của những ngôi nhà sàn nhỏ nằm ẩn mình dưới những tán rừng, vòm cây yên ả, thấp thoáng và chen lẫn với đó là những bộ trang phục nhiều màu sắc của bà con các dân tộc vùng cao

Do đặc điểm tự nhiên của Tây Bắc đã tạo cho thiên nhiên nơi đây những nét đặc trưng riêng biệt với bức tranh tứ bình lung linh màu sắc Bạn không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh thu trong một vùng rộng lớn rực lên với sắc vàng mê mải của lúa chín trên nền trời xanh trong vắt, không phải một mùa thu ảm đạm mà là một mùa thu thanh bình, yên ả cùng những tiếng hát dịu dàng tình tứ của những chàng trai, cô gái hăng say lao động sản xuất Chúng ta không thể tìm thấy ở đây ngọn núi nào quanh năm bao phủ tuyết trắng như ngọn núi Phú Sĩ của Nhật Bản Tuy nhiên, vào những sáng mùa đông có dịp đi trên những con đường vắt vẻo trên sườn núi sẽ thấy những giải sương mù, khí núi bốc lên bao phủ trên sườn núi cao, trên các khe suối sâu thẳm trông tựa như một giải luạ trắng chốn bồng lai Vào xuân, trên nền trời xanh, Tây Bắc như được điểm tô bởi sắc trắng tinh khôi của muôn hoa đua nở: hoa ban, hoa mận, hoa mơ “ngày xuân mơ nở trắng rừng” (Tây tiến - Quang Dũng) như làm bừng sáng cả vùng trời Tây Bắc tạo nên những nét rất riêng, rất Tây Bắc Đắm mình vào ngày hè oi ả với những âm thanh râm ran của tiếng ve, chim muông hòa vào không gian bao la ấy là sắc vàng rực rỡ của rừng phách, hoa mạ Tất cả đã góp phần tạo nên một bức tranh thiên nhiên sinh động đầy màu sắc, hùng vĩ và nên thơ của núi rừng Tây Bắc Đúng

Trang 12

như lời nhận xét của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Tây Bắc là hòn ngọc ngày mai của tổ quốc…nước non, non nước đẹp hơn tranh nhìn không chán mắt”

1.1.1.2 Vẻ đẹp con người Tây Bắc

Người Thái vốn có tính cần cù, chịu thương, chịu khó Nét tính cách này có

lẽ xuất phát từ phương thức lao động nông nghiệp của người Thái nơi đây, với tính chất công việc nặng nhọc, đòi hỏi phải có sức khỏe, sự khéo léo thêm nữa Tây Bắc là vùng có điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt nên để có được những thành quả trong lao động sản xuất họ phải làm lụng rất vất vả ngày đêm Có thể thấy, người đàn ông Thái rất khỏe mạnh, cần mẫn “hặc phủ hánh, pánh phủ dươn” (yêu người khỏe, mến người chăm – tục ngữ) Còn người phụ nữ Thái lại hiện lên với nét tính cách chịu thương, chịu khó, yêu chồng, thương con, kính trọng các bậc bề trên Sự chu đáo, khéo léo được tục ngữ khen ngợi: “khoẳm mứ pên lai, hải mư pên bọc” (úp bàn tay nên hoa, ngửa bàn tay thành bông)

Bản tính ưa thích tự do, phóng khoáng, sống gần gũi với thiên nhiên, hòa quyện với cuộc sống của muôn loài nơi núi rừng Tây Bắc do đó cuộc sống của họ rất mộc mạc chất phác, không cầu kì, tính toán Chính vì mộc mạc nên cũng thật thà cả tin – một đức tính rất cần thiết trong cuộc sống nhưng đức tính ngay thẳng ấy “lòng thẳng như nước trong” (năm sư, chău sư – thành ngữ Thái) sẽ trở nên có hại khi ở gần hoặc tiếp xúc với cái ác, mưu mô, nham hiểm Bởi vậy, từ ngàn đời nay, người Thái thường khuyên con cháu chớ làm điều ác, chớ nóng nảy:

Thấy người tốt chớ lợi dụng

Bị kích động chớ hung hăng Tục ngữ Thái

Vì thế, người Thái ưa chuộng tính hòa bình, quý trọng tính từ tốn, không nôn nóng Đặc điểm này phân biệt khá rõ dân tộc Thái với những dân tộc anh em khác Chúng ta sẽ tìm thấy trong rất nhiều bản trường ca hay những câu ca trữ tình mà hiếm thấy những bản anh hùng ca miêu tả sự dữ dội, ác liệt, chết chóc nơi chiến trường như kiểu sử thi Tây Nguyên trong nền văn học của dân tộc Thái Yêu quý cuộc sống tình cảm, quý trọng quan hệ họ hàng, làng bản Đó là, một nét tính cách điển hình của người Thái Trong gia đình, vợ chồng hòa thuận, kính trọng cha mẹ, các bậc bề trên, anh em gắn bó Điều đó đã giúp giải thích cho hiện tượng trong gia đình người Thái có nhiều thế hệ cùng chung sống, gia

Trang 13

đình đông đến hàng chục người mà vẫn đầm ấm, yên vui Quan hệ bản mường, anh em thân tộc cũng rất gắn bó, tương trợ lẫn nhau Tâm lý cộng đồng, ưa sống tình cảm của người Thái đã có ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về tình yêu thủy chung của nam, nữ khá đậm nét: “Mặc căn hứ phôm tốc hua chăng báng, cang tốc khẻo chăng báng” (yêu nhau đầu không còn tóc có bỏ mới bỏ, hàm rụng hết răng có phai mới phai – tục ngữ Thái)

1.1.1.3 Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người Tây Bắc

Có thể nói, thiên nhiên và con người Tây Bắc có sự hòa hợp và gắn bó sâu sắc Đồng bào các dân tộc Tây Bắc sinh sống lâu đời trong vùng thiên nhiên và rừng núi ấy vì thế họ yêu và gắn bó mật thiết với thiên nhiên, họ dựa vào đấy để sinh tồn Họ thân thuộc từng quả đồi, khe suối, từng lùm cây, hốc đá Rừng góp phần nuôi sống cộng đồng các dân tộc Tây Bắc, là nguồn cung cấp các nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người vừa là nguồn thực phẩm phong phú, dồi dào vừa là nguyên liệu, dược phẩm quan trọng cho đời sống con người Tục ngữ Thái có câu: “Căm khảu dú năng đin, căm kin dú năng pá”

Nghĩa là miếng cơm ở nơi đất, miếng ăn ở nơi rừng Không những thế, rừng còn là nơi bao dung tiếp nhận con người trở về với đất mẹ:

Tai pá phăng, nhăng pá liệng (Chết rừng chôn, sống rừng nuôi)

(Tục ngữ Thái)

Như vậy, vòng đời từ sống đến khi chết của con người nơi đây gắn bó mật thiết với thiên nhiên Cho nên, họ luôn có ý thức gìn giữ và bảo vệ rừng, điều đó luôn thường trực trong tâm thức và đi vào trong thơ ca, tục ngữ một cách rất tự nhiên:

Giữ rừng con cháu mai sau mới sinh sôi

Để mọi nguồn nước luôn chảy tuôn trào

Ai nhớ được điều đó mới nên người

Đáp lại hữu ý của con người núi rừng cũng ngày một sinh sôi, chở che, cùng sẻ chia mọi cung bậc của cuộc sống con người

Con người gửi những tâm tình của mình vào thiên nhiên giống như những người bạn tâm giao vậy Từ đó, cho thấy thiên nhiên không chỉ đơn thuần là môi trường sinh thái mà còn là mạch nguồn cảm xúc vô tận cho các tâm hồn thi sĩ

Trang 14

sáng tạo nên văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung và truyện thơ Thái nói riêng, mang đậm âm hưởng của thiên nhiên, hơi thở của núi rừng và cái trong trẻo của nước nguồn khe suối

1.1.2 Môi trường Văn hóa - Xã hội

1.1.2.1 Môi trường Xã hội

Có thể nói “Xã hội Thái cho đến trước cách mạng tháng tám năm 1945 là một xã hội thuộc thời kỳ đầu của chế độ phong kiến còn nhiều tàn dư của chế độ trước đó” [13, 24] Điều đó được biểu hiện rõ rệt qua các phương diện: quan chức và Mo Then

1.1.2.1.1 Quan chức

Vùng Thái xưa có 16 mường, dưới mường có phìa và bản Mường là lãnh địa cát cứ của Chẩu Mường, có bộ máy cai trị hoàn chỉnh: nội chính, quân sự, ngoại giao Xã hội Thái có hai tầng lớp chính: quý tộc quan lại và dân “gánh vác”

Trong xã hội Thái truyền thống, cai quản dân chúng và nắm mọi quyền hành, chức sắc là những người cầm đầu các dòng họ quý tộc, giai cấp thống trị theo chế độ Phìa (quan huyện, xã), Tạo (quan bản) mà thực chất là các lãnh chúa phong kiến Mỗi lãnh chúa cai quản một vùng, tha hồ lộng hành, có thể tự ý đề

ra những quy định riêng về điều lệ địa phương hay lệ làng để bóc lột nhân dân, luôn tìm cách hãm hại,chém giết lẫn nhau để tranh giành đất đai quyền lợi Dân gian đã vạch trần bộ mặt thật và bản chất của bọn quí tộc, quan lại chẳng khác gì động vật:

Trâu đực không nhốt chung một chuồng Chúng sẽ húc nhau làm chuồng tan nát (Táy pú xớc )

Kiểu tổ chức xã hội và thống trị này làm cho dân thường không biết đến công bằng và lẽ phải họ chỉ biết có một quyền duy nhất là cúi đầu thực hiện những điều lệ đó Cứ như vậy thành một hệ thống từ trên xuống dưới với chế độ cha truyền con nối Bởi vậy mà người Thái mới có câu:

Họ Lường làm Mo, họ Lò làm Tạo

Một hình thức tổ chức xã hội mang nặng tính chất xã hội phong kiến sơ kỳ

1.1.2.1.2 Mo Then

Mo Then được đặt theo một hệ thống chặt chẽ từ mường xuống bản Cao

Trang 15

nhất là “Mo Mường” đứng bên cạnh Chẩu Mường, được Chẩu Mường kính nể Thầy Mo là người am hiểu vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc đầy đủ và sâu sắc

để thay mặt Chẩu Mường tiếp xúc với tổ tiên khi cúng lễ, ngoài ra còn biên soạn tập tục, lễ nhạc giúp Chẩu Mường cai quản bộ tộc Đây được coi là hệ thống cai trị phần hồn của người Thái, họ thuộc giai cấp thống trị Những Chẩu Mường, Phìa Tạo tự mệnh danh là thay mặt trời để trị dân và luôn tìm cách biện minh cho hành động của mình là dựa vào một “luật đời xưa” nào đó Vì thế, ngay cả đến cha mẹ, cô, dì, chú bác,…những kẻ vừa là nạn nhân vừa là người thực hiện thứ luật lệ đó luôn tỏ ra mẫn cán thực thi, không những thế họ còn tin tưởng, chính xác hơn là cố gắng tin rằng mình làm đúng ý Then, và theo đúng các điều khoản của “luật đời xưa” nếp nghĩ này đã ăn sâu vào tiềm thức của người Thái xưa, làm cho ngay cả các nạn nhân đáng thương – kết quả của thứ luật lệ ấy khi

bị thắt thòng lọng vào cổ vẫn cứ tin rằng mình đang được hưởng lẽ công bằng, tin tưởng luật lệ đó là chân lí

1.1.2.2 Môi trường Văn hóa

1.1.2.2.1 Tôn giáo tín ngưỡng

Mỗi dân tộc đều có những tôn giáo, tín ngưỡng riêng làm cơ sở cho văn hóa tinh thần của dân tộc mình Dân tộc Thái cũng vậy, một đặc điểm dễ nhận thấy khi tìm hiểu về tôn giáo, vũ trụ quan của người Thái đó là rất ít có sự xâm nhập của các tôn giáo từ bên ngoài mà tôn giáo chủ yếu của người Thái ở Tây Bắc là tôn giáo nguyên thủy và tôn giáo bản địa

Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau, tôn giáo cũng có những hình thái biến đổi Tôn giáo nguyên thủy bị phai nhạt dần, nhưng ở dân tộc Thái là một trong những dân tộc còn bảo lưu được nhiều nét cổ xưa của nó Biểu hiện rõ nét qua những tín ngưỡng, phong tục, tập quán

Cũng giống như các dân tộc khác người Thái quan niệm vũ trụ bao gồm một trục dọc và một trục ngang trong đó tồn tại thế giới của sự sống và thế giới của hư vô Trong thế giới của sự sống ấy bao gồm sự tồn tại của con người, vạn vật mà con người có thể nhìn thấy và nắm bắt được Còn thế giới của hư vô bao gồm một cõi sống ngự trị trong ý niệm với thái độ sùng kính về cái mà họ gọi là

“phi” (ma, hồn) Cái thế giới hư vô ấy là lực lượng điều khiển và quyết định sự

Trang 16

tồn tại cuộc sống thực trên trái đất Vậy mới thấy được rằng người Thái luôn ước mơ lẽ công bằng và bình đẳng hơn thế còn ý thức dân chủ rõ rệt

Người Thái có những nghi thức và tập tục cúng thần, ma rất riêng Thông qua các lễ hội trong năm họ tổ chức lễ cúng bản (xên bản), cúng mương (xên mương), cúng nhà (xên hươn)… điều đó cũng đã giải thích vì sao người Thái rất tin vào số mệnh và luôn luôn tôn trọng gìn giữ linh hồn Mỗi khi ốm đau họ thường làm lễ cúng ma (hệt khoan), gọi hồn (hóng khoan) mỗi khi đi đâu trở về

nhà… phải chăng vì thế mà người Em yêu trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu

khi đi nương về không quên gọi hồn về theo “về nhà đi vía về theo đi”

Người Thái quan niệm con người có 80 hồn / vía Để khỏi nhầm lẫn họ quy ước: khi còn sống gọi là vía, khi chết gọi là hồn Trong số 80 hồn / vía ấy có 30 hồn / vía đằng trươc, 50 hồn / vía đằng sau Vía chủ, vía gốc ở chỏm đầu là nơi kiêng đụng đến vì vậy, tránh đánh vào đầu hoặc xoa đầu người lớn, trẻ con người Thái Hồn ngọn cư trú ở các bộ phận khác trên cơ thể, khi người chết, hồn thoát hẳn ra khỏi thân thể Phần xác được thiêu hoặc chôn cất theo đúng phong tục, phần hồn được dẫn và rải đến đúng vị trí của hồn ở nhiều địa điểm khác nhau nơi mường trời, hồn gốc hồn chủ được dẫn lên sống với tổ tiên, những phần hồn còn lại, hồn ngọn được rải trên suốt dọc đường mường trời

Một nét khá độc đáo nữa phải kể đến trong quan niệm về vũ trụ của dân tộc Thái đã được các truyện cổ hệ thống lại thì họ thường quan niệm vũ trụ có năm tầng:

- Tầng trên cùng, nơi hỗn mang, là thế giới của những người “ăn sương, ăn gió” sống lang thang đâu đó, đeo dao ở cổ

- Tầng tiếp là thế giới của các vị thần và tổ tiên các dòng họ Thái xây dựng trên vòm trời mà mắt không thể nhìn thấy, do Then Luông cai quản

- Tầng thứ ba, thế giới trên tầng mây, trong vòm trời, ở đó có các vị trăng sao, là thế giới của người khổng lồ được Then cử xuống xây dựng trần gian vào buổi sơ khai, ở đó có các nàng tiên xinh đẹp

- Tầng thứ tư là mặt đất, thế giới của loài người, muôn vật (tức thế giới thực), ma quỷ (thế giới ảo), và thế giới của thuồng luồng dưới nước

- Tầng cuối cùng là thế giới dưới mặt đất, ở đó có “loài người” tí hon chuyên ăn đất [9, 23]

Trang 17

Những quan niệm về các tầng vũ trụ trên đây, chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, nhằm củng cố địa vị và quyền lợi của các giai tầng phong kiến trong

xã hội nhưng cũng góp phần phản ánh sự nhìn nhận của con người về thế giới tự nhiên, cuộc sống lao động dưới trần gian một cách trừu tượng Đồng thời, chi phối sự hình thành nền văn học dân gian Thái Đặc biệt là, hệ thống truyện thơ dân tộc Thái Nếu muốn tìm hiểu được sâu sắc và cặn kẽ được kho tàng văn học dân gian Thái chúng ta cần phải hiểu rõ về vũ trụ ấy

1.1.2.2.2 Nét đặc trưng trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình của người Thái Tây Bắc

Điểm độc đáo cần chú ý trong xã hội Thái đó là mối quan hệ họ hàng thân tộc rất phức tạp, chặt chẽ Trong một bản rất đông người nhưng đều có quan hệ

chằng chịt, ràng buộc với nhau, theo ba mối là: Ải nọong, Nhinh xao, Lung ta trong đó mối quan hệ Ải nọong là cơ bản (tức cùng cha ông hoặc tổ tông, bộ tộc) theo mối quan hệ đó thì thấy người Thái tính đến bảy lớp hay bảy tầng Lung ta

là quan hệ họ hàng bên nhà gái và cũng gồm bảy mối tính đến đời cháu Bên cạnh đó đối tượng của lung ta là nhinh xao (tức họ hàng nhà trai nói chung), coi Lung ta như một đối tượng hôn nhân Họ có trách nhiệm với nhau, đặc biệt khi cưới xin hoặc ma chay

Tộc người Thái theo chế độ phụ hệ, người đàn ông giữ vai trò trụ cột trong gia đình Người phụ nữ Thái cần cù chịu thương chịu khó yêu thương chồng con, kính trọng bố mẹ nhưng vẫn có địa vị thấp kém hơn nam giới Trong một gia đình người Thái có thể có nhiều thế hệ cùng chung sống, lao động và sản xuất

Tính chất phức tạp của xã hội còn thể hiện ở tục lệ cưới xin và ma chay, cúng tế khá nặng nề được quy định bởi những điều luật hà khắc bất thành văn Tuy nhiên, tất cả các thành viên trong xã hội đều phải tuân theo một cách nghiêm ngặt nếu không sẽ bị xã hội lên án hoặc không chấp nhận Đó, cũng chính là những trở ngại lớn nhất cho các đôi trai gái đến tuổi yêu đương

Với tục hôn nhân gả bán, người phụ nữ sẽ trở thành vật sở hữu và phải chịu mọi sự điều khiển của chồng nếu như người chồng đã trả đủ tiền, cống nạp đủ xính lễ mà bên nhà gái thách cưới Ngược lại, chàng trai cũng khó lấy thậm chí không thể lấy được vợ nếu không có đủ xính lễ, tiền bạc do nhà gái thách cưới, cho dù đôi trai gái yêu nhau thắm thiết

Trang 18

Một tục lệ nữa phải nhắc đến trong hôn nhân của người Thái đó là tục ở rể, tục ở rể có nhiều mục đích tốt và xấu tùy theo mức độ và tính chất của nó Một mặt nhằm thử thách lòng trung thành của chàng trai, rèn luyện phẩm chất và đạo đức, khả năng lao động của anh ta Mặt khác, nhằm lợi dụng sức lao động của chàng rể buộc chàng trai phải cung phụng, tuân theo mọi sự xếp đặt, chỉ đạo của gia đình nhà gái Cụ thể là trước khi cưới vợ về nhà, người con trai phải ở rể Đó

là việc người con trai đến cư trú tại nhà gái (nhà vợ), nằm ngủ riêng ở gian nhà phìa “quản” Chàng rể phải thật sự siêng năng, cần mẫn, được bố mẹ vợ và họ hàng nhà gái ưng thuận thì mới được phép làm lễ cưới “đoong khửn” mới trở thành con rể thực sự trong gia đình, thời gian ở rể có thể kéo dài, cũng có khi có đôi ba con mới được làm lễ cưới chính thức Tuy nhiên, nếu trong thời gian ở rể thử “khươi quản” mà chàng trai làm điều gì sơ xuất phật lòng bố mẹ, họ hàng nhà vợ thì sẽ bị trả về cho bố mẹ đẻ của chàng trai đó Quãng thời gian lao động cực nhọc, cho dù thời gian thử thách sắp hết nhưng vẫn không thể bàn lại cũng như không được tính toán hay hoàn trả công cán gì

Với hai tục lệ hà khắc này đã gây nên những bi kịch tình yêu của biết bao chàng trai cô gái yêu nhau tha thiết không thể đến được với nhau bởi do quá nghèo không đủ tiền đặt lễ, do bị ép gả lấy người mình không yêu với quan niệm “môn đăng hộ đối” của gia đình, hay vì bị chê trách trong thời gian thử thách ở rể

Người Thái quan niệm về chữ trinh không hẹp hòi, nếu như các cô gái Việt không được tự do yêu đương bởi quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân”, “nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm, nam đáo nữ phòng nam tắc đãng” thì các cô gái Thái lại ngược lại Các chàng trai, cô gái Thái được tự do hẹn hò, cùng nhau vui hát trao duyên, trò truyện tâm tình nơi “Hạn khuống” cho đến gà gáy cầm canh mới chia tay nhau trở về Khi tình yêu trở nên sâu đậm, cô gái Thái có thể “sát má kề vai”, “êm ái nằm đôi” cùng người mình yêu Có biết được điều này ta mới hiểu nàng Hiền Hom mang thai trước khi cưới và khi chết đi rồi vẫn mãi chung tình

đi theo chàng Cầm Đôi (truyện thơ Hiền Hom- Cầm Đôi) Còn đôi bạn tình

trong Tiễn dặn người yêu trải qua bao thử thách, sóng gió nhưng tình yêu ấy vẫn

trước sau sắt son nguyên vẹn Phải chăng chính bởi quan niệm trinh tiết rất thoáng, không hẹp hòi đó đã tạo nên sự gắn kết sắt son, bền chặt trong tình yêu lứa đôi của người Thái?

Trang 19

Đôi ta yêu nhau muôn kiếp nghìn đời Vững bền hơn vách núi đá [15, 141]

1.1.2.2.3 Văn nghệ dân gian

Có lịch sử cư trú hàng ngàn năm trên dải đất giàu truyền thống văn hóa, thừa hưởng một nền văn minh của ông cha, người Thái đã xây dựng được một nền văn học phong phú Văn học Thái được xem như một bức tranh lịch sử xã hội rất sinh động, được khái quát hóa trong những hình tượng ngôn từ Cũng có thể nói, văn học Thái là sự tổng kết của quá trình tư duy về những sự vật, hiện tượng khách quan của tự nhiên và xã hội Người Thái Tây Bắc đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn hóa chung của dân tộc Việt Nam

Nhờ có ngôn ngữ và văn tự riêng nên họ đã lưu giữ được nhiều sách cổ, truyện ghi lại trên giấy bản, trên lá cây Đó là nhũng cuốn sách sử chép tay dài hàng trăm trang, những bộ luật, tập quán pháp tương đối hoàn chỉnh phản ánh tình hình xã hội đương thời hay những bản trường ca đọc mấy đêm không hết, những truyện thơ khuyết danh đậm chất trữ tình thể hiện những cảm xúc mãnh liệt trước thiên nhiên hùng vĩ, với con người, với tình yêu đôi lứa đồng thời nói lên khát vọng của cả dân tộc, hướng đến cái thiện, cái đẹp Những tập tục ngữ, dân ca Thái phản ánh quá trình chinh phục tự nhiên, tích lũy kinh nghiệm trong lao động sản xuất cũng như trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Thái

Các dạng văn học cổ truyền của người Thái rất phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại như: truyện cổ dân gian, tục ngữ, dân ca, truyện thơ Trong đó mảng truyện thơ tuy số lượng không nhiều nhưng đã góp phần không nhỏ vào nền văn học dân gian của dân tộc, với những tác phẩm được đánh giá cao và có

giá trị như: Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu), Khún Lu – Nàng Uả, Hiền

Hom – Cầm Đôi, Ú Thêm, Tào Hủn Lu- Náng Ông Piềm, Chim yểng, Khăm Panh… với đề tài chủ yếu là đề tài tình yêu đôi lứa với kết cấu cốt truyện điển

hình: Gặp gỡ và yêu nhau => Bị ngăn trở, rẽ duyên => đôi bạn tình tìm cách thoát khỏi nghịch cảnh trái ngang

Những ai đã từng có dịp sống ở Tây Bắc vào mùa xuân – mùa của những lễ hội truyền thống, được đắm mình trong không khí của những sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo Cùng hòa mình trong tiếng chiêng, trống cùng những chàng

Trang 20

trai cô gái rực rỡ với những bộ trang phục truyền thống cùng say sưa nhún nhảy theo điệu nhạc trong không khí tưng bừng, rộn rã với các điệu múa xòe tập thể Các đám hội cũng là không gian gặp gỡ, hò hẹn của những đôi trai gái yêu nhau Họ thường dùng hình thức hát đối đáp để thể hiện tình cảm của mình Nhưng cũng có lúc họ gửi gắm cả tâm hồn và tình yêu của mình theo quả “còn” được ném bay vút lên không trung đến tay người tình… cảnh hội hè ấy phải chăng là dấu vết còn sót lại của sinh hoạt vui chơi “Hạn khuống” đây là nơi các đôi trai gái tụ tập lên khuống đốt lửa quay sợi, thổi kèn sáo, vừa học hỏi vừa vui chơi, tìm hiểu nhau Từ thế hệ này qua thế hệ khác thanh niên Thái đều quen nhau và kết duyên từ “Hạn khuống” Dấu ấn “Hạn khuống” được in rõ trong các truyện thơ Thái và trở thành kỷ niệm tình yêu khó phai Cũng chính trong không khí sinh hoạt văn nghệ ấy đã xuất hiện những tài năng ca hát, hun đúc nên những bản tình ca ngọt ngào, sâu lắng thấm đượm chất trữ tình của dân ca

Khắp Thái là một trong những nét nghệ thuật đặc trưng không thể thiếu của người Thái trong các tiệc rượu ngày tết, đám cưới hay lễ hội Khắp Thái mang tính chất thi thố tài năng giữa các nghệ nhân, lời hát bắt gốc từ những bài dân ca trữ tình được người hát trau chuốt lại, thêm hoặc bớt câu từ cho hay hơn Nội dung của những bài khắp rất phong phú với những làn điệu du dương kết hợp với các loại nhạc cụ: tính tẩu, pì, bộ gõ, kèn, trống, chiêng cùng với những giọng hát ngọt ngào, lắng sâu tất cả tạo nên một bức tranh tươi đẹp trong đời sống tinh thần cộng đồng người Thái

Các trò chơi dân gian luôn thu hút rất đông đảo người tham gia, ở đó không phân biệt dân tộc, đẳng cấp, tôn giáo, già trẻ, gái trai tất cả mọi người cùng thả hồn mình vào trong không khí rộn ràng, náo nhiệt cùng những trò chơi dân gian như: ném còn, ném pao, tó lẹ, kéo co,…Cũng trong không khí sinh hoạt hội hè

ấy đã nảy sinh những tâm hồn thi sĩ, tạo nên những áng thơ trữ tình mộc mạc, dung dị và hàm xúc

1.2 Khái quát về Truyện thơ và Truyện thơ dân tộc Thái

1.2.1 Khái niệm Truyện thơ

Trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số không thể không nhắc đến thể loại truyện thơ Nó được lưu truyền rộng rãi trong dân gian Truyện thơ là tập

Trang 21

đại thành của dân ca, một hiện tượng đặc biệt trong văn học Có rất nhiều khái niệm về truyện thơ:

Truyện thơ là một thể loại kết hợp giữa truyện dân gian và thơ dân gian, vừa tự sự vừa trữ tình, vừa có khả năng phản ánh hiện thực đời sống và tâm trạng của con người trong sinh hoạt đời thường trên một quy mô lớn

Truyện thơ là thể văn vần, có sự kết hợp giữa phương thức tự sự với trữ tình, phản ánh số phận của những người nghèo khổ và khát vọng về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi, về công lí xã hội

Như vậy, có thể khái quát: Truyện thơ là những truyện kể bằng thơ có số lượng câu chữ lớn, có sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình, phản ánh số phận của những người nghèo khổ và khát vọng đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đấu tranh cho tình yêu tự do, cho chính nghĩa [8, 288])

1.2.2 Đặc trưng cơ bản của Truyện thơ

1.2.2.1 Đề tài

Đề tài của truyện thơ vô cùng đa dạng và phong phú được triển khai theo hai đề tài chính là truyện thơ phát triển đề tài của tự sự xã hội: đề cập và phản ánh nhiều mặt của hiện thực xã hội của các dân tộc, thân phận những đứa trẻ mồ côi, hoặc cuộc sống cực nhọc của những người lao động nghèo khổ, hay khát vọng lập công cứu nước trả thù của các chàng trai cũng có thể là phản ánh các mốc lịch sử lớn trong đời sống các dân tộc Và truyện thơ phát triển về đề tài của dân ca trữ tình về tình yêu và hôn nhân trong đó đề tài về cuộc đấu tranh cho tự

do yêu đương, cho quyền sống của người phụ nữ trong xã hội là chủ yếu Đó là khát vọng dân chủ thiết tha, mãnh liệt của quần chúng trong xã hội phong kiến

mà quyền sống con người bị chà đạp, bóp nghẹt nặng nề, được phản ánh vào nền văn học truyền thống các dân tộc anh em Với đề tài trung tâm phổ biến của nhóm truyện thơ này là câu chuyện tình yêu nam nữ dưới chế độ phong kiến Nhân vật trung tâm của truyện là các chàng trai, cô gái những nạn nhân của tục

lệ hôn nhân gả bán, ép uổng ngang trái trong xã hội cũ

1.2.2.2 Nội dung

Nội dung của các truyện này chủ yếu diễn ra trong phạm vi sinh hoạt gia đình của các nhân vật đó Đồng thời, truyện thơ thể hiện khát vọng dân chủ mãnh liệt của nhân dân ta thể hiện ở việc đấu tranh cho cuộc sống hạnh phúc,

Trang 22

chống lại những hủ tục, lề thói hà khắc đã bóp nghẹt quyền tự do yêu đương của con người

1.2.3 Truyện thơ dân tộc Thái

Có thể nói, dân tộc Thái có một kho tàng truyện thơ phong phú và đa dạng Với hai mươi bảy tác phẩm trong tổng số bảy mươi hai truyện thơ của tám dân tộc thiểu số đã được công bố thì Thái là dân tộc có số lượng tác phẩm được công

bố nhiều nhất

Một số tác phẩm tiêu biểu như: Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao),

Khun Lú – Nàng Ủa, Khăm Panh, Hiền Hom – Cầm Đôi, Tào Hủn Lu – Náng Ông Piềm, Chim Yểng, Ú Thêm, Tòng Đón – Ăm Ca…

1.3 Truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao)

1.3.1 Hoàn cảnh ra đời

Truyện thơ Tiễn dặn người yêu ra đời khi ý thức hệ dân chủ và nhân đạo

trong hệ tâm lí xã hội đã phát triển đến mức độ có thể đối trọng lại với các thế lực đã và đang chà đạp những khát vọng tự do tinh thần của con người, khi mà vấn đề nhận thức về quyền con người trong xã hội cũ đã thúc đẩy một bộ phận nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt động đòi giải phóng con người ra khỏi

áp bức bất công Cụ thể hơn, có thể căn cứ vào quy luật của các mối quan hệ văn học dân gian với thực tại lịch sử và quy luật phát triển truyện thơ trong tiến trình

phát triển văn học để kết luận: Tiễn dặn người yêu ra đời sớm nhất cũng chỉ vào

thế kỉ XV, dưới thời chúa Ta Ngần, và có lẽ tác phẩm đã được hoàn thiện ở đỉnh

Trang 23

cao nghệ thuật vào thế kỉ XVIII Đó là, thời điểm cộng đồng Thái đã chuẩn bị hành trang tinh thần để bước vào thời kì cận đại

1.3.2 Tóm tắt tác phẩm

Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) là một truyện thơ hay nhất trong

kho tàng truyện thơ của các dân tộc thiểu số, một tác phẩm lớn trong nền văn học Việt Nam Đây là một truyện thơ dài 1846 câu thơ của người Thái Tây Bắc nước ta Truyện kể về mối tình chung thủy của lứa đôi, trải qua nhiều sóng gió, trái ngang cuối cùng cũng được đoàn tụ

Truyện bắt đầu kể từ khi Anh yêu và Em yêu còn là hai bào thai Họ dường như đã biết nhau và có sự hòa hợp ngay từ lúc còn trong lòng mẹ Được sinh ra gần như cùng một giờ, cùng một ngày và cùng một bản Họ thân nhau từ thuở ấu thơ và đã có cùng nhau bao kỷ niệm từ khi còn “bé dại thơ ngây” cùng nhau đào đất, san nền, cưỡi bông lau phi ngựa hay vầy cá trên mâm Những kỷ niệm thời

ấu thơ lớn lên cùng đôi lứa và tình yêu của họ dành cho nhau cũng nảy nở và ngày một lớn dần Khi tuổi hoa tuổi nụ, đôi trẻ cùng chơi sàn hoa (Hạn khuống) tận khi gà gáy Họ yêu nhau tha thiết, tưởng chừng như không gì có thể chia lìa được mối tình của đôi thanh mai trúc mã nhưng những ngày tháng êm đềm ấy trôi qua thật chóng vánh như một giấc mơ Anh yêu và Em yêu cùng “rủ nhau” bước vào đau khổ

Sự biến của thảm kịch ấy bắt đầu từ khi bà mẹ lấy áo chàng trai ra “bói”, quẻ bói không nói được điều gì chắc chắn Song Anh yêu và Em yêu đều một lòng “đã thương nhau quyết lấy” Chàng trai hăm hở sắm lễ vật nhờ mai mối, dạm người yêu Song Cha mẹ Em yêu đã cự tuyệt vì chê chàng nghèo khó, Anh yêu đành lòng bén lẽn quay về “cúi mặt nước mắt rỏ, ngẩng lên hàng lệ rưng” Nhưng cha mẹ Em yêu chẳng mảy may rủ lòng Họ quyết gả Em yêu cho một gã con trai nhà giàu nhưng xấu xí, gã này dẫn lễ vật đến phải đội tóc giả với cái khuôn mặt “gãy như mặt khỉ” Gia đình Em yêu ở nhà lo toan mọi việc hôn sự cho Em yêu trong khi Em yêu đi nương vẫn chưa về Lúc đó, dường như em yêu

đã linh cảm thấy điều chẳng lành đang xảy đến, trước tình thế đã rồi Em yêu vô cùng đau khổ Nàng cảm thấy “lời thắt buộc” của cha mẹ như “dao sắc chặt dong” nàng đã cầu cứu mọi người trong gia đình, họ hàng nhưng không ai ủng

hộ nàng mà khuyên nàng làm theo sự xếp đặt của cha mẹ Em yêu đành “nhắm

Trang 24

mắt đưa chân” nhận người ta về ở “rể ngoài” trong tâm trạng buồn khổ, thương nhớ và hi vọng Anh yêu sẽ có cách đổi thay số phận Trước tình cảnh ấy Anh yêu quyết lên đường đi tìm sự giàu sang để mong trở về chuộc lại người tình Thật trớ trêu, “đã bảy mùa cá lũ trôi xuôi”, thời hạn người kia “làm rể ngoài rồi

rể trong” đã hết mà Anh yêu vẫn bặt vô âm tín Em yêu đã tìm mọi cách để hoãn ngày cưới, từ tháng hai đến tháng chạp rồi đến cái ngày không thể trì hoãn được nữa nàng đành thuận theo ý cha mẹ và đó cũng là ngày Anh yêu quay trở về nhưng sự đã rồi chàng đành nhìn Em yêu bước về nhà chồng Nhưng mặc cho

“phép cả có gốc tùng, phép thiêng có gốc quế”, sức mạnh của tình yêu đã vượt lên trên tất cả mọi hiểm nguy có thể xảy đến với mình, Anh yêu chạy theo Em yêu Cuộc tiễn dặn của đôi bạn tình khi đau đớn tột cùng, lúc lại đầy phấn khích,

họ bày tỏ “hết mọi đường mọi nhẽ” Anh yêu còn lưu lại nhà người ta để chăm sóc, an ủi, thuốc thang khi Em yêu bị nhà chồng hắt hủi, đánh đập Khi quay trở

về chàng nhớ thương người tình đến mức như điên như dại, hình bóng Em yêu luôn hiển hiện trong tâm trí chàng, thậm chí ngay cả trong mơ Còn Em yêu về đến nhà chồng vì thương nhớ người yêu cũ mà đã cố tình làm những việc quái

gở để mọi người trong gia đình khinh ghét cũng chính vì thế mà cuộc sống của nàng trở nên thê thảm với những trận đòn của chồng Sau một thời gian nàng bị nhà chồng đuổi về nhà bố mẹ đẻ, nàng vừa về đến nhà đã có người khác đến hỏi

và lần này là một nhà quan Một lần nữa nàng lại trở thành món hàng để bán mua, cha mẹ nàng bán đứt nàng cho quan Lần này nàng càng bi phẫn đến nỗi như người “ngẩn ngơ, vụng dại” Họ không “tốn cơm” nuôi một “nàng dâu” như thế thay vì đuổi nàng về thì họ mang nàng ra chợ bán rao Giá Em yêu ngày nào đáng vàng thoi bạc nén nay chỉ đổi bằng một cuộn lá dong May thay, người đổi được nàng lại chính là người tình xưa Nhưng nay, Anh yêu đã nhà cao cửa rộng, yên bề gia thất, Em yêu năm nào cũng đã đổi khác khiến chàng không còn nhận ra được nữa một ngày nọ, tủi cho thân phận kẻ hầu đứa ở, người yêu cũ không còn nhận ra mình, nàng đem chiếc đàn môi kỷ vật tình yêu của Anh yêu tặng ra gảy, Anh yêu nghe tiếng đàn nhận ra Em yêu và từ đó họ lại như “hoa khảm cuối dòng nảy lá non tươi” Tuy vậy, Em yêu vẫn không quên nhắc Anh yêu phải nghĩ đến người vợ đã từng chung sống Anh yêu chu đáo tiễn người vợ

Trang 25

cũ về họ hàng nhà ngoại trong tình thương mến, cảm thông thật sự và sau đó Anh yêu và Em yêu tổ chức lễ cưới trong cảnh đoàn viên thật tưng bừng

1.3.3 Giá trị của tác phẩm

1.3.3.1 Nội dung

1.3.3.1.1 Ý nghĩa nhân văn cao đẹp

Tiễn dặn người yêu là câu chuyện về tình yêu đôi lứa Cảm hứng chủ đạo

của tác phẩm mang âm hưởng ngợi ca tình yêu tự do, chống lại mọi sự ràng buộc tinh thần, bày tỏ khát vọng đổi thay số phận người phụ nữ giữa đời thường, khi mà cái xấu xa đáng lên án lại được nêu lên thành chuẩn mực, cái tốt đẹp đáng được nâng niu, trân trọng lại bị vùi dập Có lẽ vì cái “lệ” ngược đời ấy đã trở thành phổ biến ở ngoài đời nên những tình cảm đầy yêu thương con người và thái độ đòi hỏi con người phải được yêu thương đã trở thành ngọn nguồn cảm xúc tuôn chảy dạt dào khiến cho mỗi khúc trong tác phẩm đều có thể được coi như là một khúc đoạn trường? Hơn thế, cái tên Anh yêu và Em yêu được đặt cho hai nhân vật chính trong tác phẩm và được cố định trên văn bản bằng chữ viết hoa

đã nâng giá trị tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ của tác phẩm lên một nấc thang mới, có

ý nghĩa khái quát rất rộng lớn Phải chăng, sự lao động và tranh đấu mà con người

đã phải tổn hao nhiều mô hôi, xương máu và nước mắt bao thế hệ vì nó, xét cho cùng thì cũng là để được gọi nhau bằng hai tiếng Anh yêu và Em yêu?

1.3.3.1.2 Bức tranh hiện thực bi thảm lay động lòng người

Tiễn dặn người yêu đưa hai nhân vật chính vào những tình huống cực đoan Đúng như Đỗ Bình Trị nhận xét: “Chỗ tinh vi của truyện ở đây là đã đay vào cái

vô lí, cái ngang trái của cuộc đời, dường như để tô đậm cái không thể hiểu nổi thường được gọi là số mệnh” [41, 619] Chính nó đã khiến cho mối tình đẹp bỗng dưng hóa ra một câu chuyện nghiêng ngửa nát tan Thật cay đắng và bi thảm khi em yêu bị ép duyên với một kẻ đầu trơ trọc lốc và nói năng giả dối ngọt xớt mà từ cha mẹ đến người thân trong nhà đều không mảy may động lòng, đều quay lưng ngoảnh mặt trước sự cầu xin của Em yêu Thật lạnh lùng và tàn nhẫn khi người ta thản nhiên biến một cô gái ngoan nết, tốt bụng, lại xinh đẹp thành một món hàng để bán mua một cách điêu trá, để dìm giá một cách dã man Mối tình đẹp như trong mộng của Anh yêu và Em yêu càng ngời lên trong ý nghĩ và cung cách ứng xử của họ, thì những thói đời phũ phàng lại như từng lớp sóng dữ

Trang 26

chồm tới, xô đẩy hai tâm hồn đã từng ứ mật dâng hương vào một ốc đảo cô đơn đến rợn người Ở đó, số phận trớ trêu đã biến mọi niềm vui thành nỗi đau, mọi niềm tin thành sự tuyệt vọng, ấm ức ê chề Thật ra cái kết thúc có hậu trong tác phẩm là hợp đạo lí nhưng cũng không đủ giá trị lập lại thế cân bằng Có điều những thảm cảnh trong câu chuyện lay động lòng người này đã thật sự có ý nghĩa thức tỉnh, thanh lọc tâm hồn con người, nêu cao sự phấn khích đấu tranh

1.3.3.2 Nghệ thuật

Tiễn dặn người yêu có kết cấu độc đáo, tràn đầy kịch tính và có thủ pháp hư

cấu nghệ thuật một cách chân thực, sâu sắc, có khả năng tái hiện thẩm mĩ cái bản chất của đời sống được chọn lựa và phản ánh đạt đến giá trị khái quát hóa cao độ, trong phong cách dân gian trữ tình đằm thắm

1.3.3.2.1 Tiễn dặn người yêu là truyện trong thơ

Ở đây câu chuyện tình bi thảm được kể lại trong không gian nghệ thuật đa chiều, đồng hiện, nghĩa là nhiều sự kiện trái ngược nhau cùng hiện ra đến tận chi tiết, trong cùng một bối cảnh chứa đầy mâu thuẫn Vì thế, thời gian thực của chuyện đời rõ ràng được tính bằng hàng chục năm, nhưng thời gian tâm lí dường như lại dồn nén kì lạ đến độ dằng dặc buồn thương Trong truyện, các hành động, sự kiện đều được sắp đặt cho nối tiếp nhau tương đối liên tục, hợp lí

Truyện thơ Tiễn dặn người yêu đặc biệt chú ý đến sự phát triển tâm lí cuả nhân

vật, các trạng thái tâm hồn phức tạp, có khi cả những mâu thuẫn của họ Điều này được thể hiện rõ trong bất cứ một đoạn nào trong truyện Mỗi một sự kiện diễn ra, có khi chỉ cần một cái cớ nhỏ, một chi tiết nhỏ như mặt trời lặn, hoa nở hoa tàn, chim kêu…cũng trở thành dịp để các nhân vật trực tiếp bộc lộ những ý nghĩ, suy tưởng, xúc cảm, những trạng thái, diễn biến tâm lí trong đáy sâu tâm hồn họ Chính cái trữ tình phong phú này đã lôi cuốn người đọc và tạo nên một tác phẩm có giá trị nghệ thuật sâu sắc

1.3.3.2.2 Tiễn dặn người yêu còn là thơ trong truyện

Ngôn ngữ kể chuyện được gọt giũa trở thành lời thơ, câu thơ đầy sức gợi cảm, có thể diễn tả được mọi chiều sâu tinh tế của thế giới bên trong tâm hồn con người, trong những trạng thái éo le phức tạp nhất Đó là thứ nghệ thuật dân gian Thái, thấm đẫm tâm hồn Thái giữa cảnh vật thiên nhiên miền Tây Bắc trập trùng hoa ban nở, trong mây trắng bồng bềnh, trên ngọn thác sông Đà gió thốc

Trang 27

Ngôn ngữ thơ đã đạt trình độ điêu luyện, tài tình, giàu hình ảnh, những hình ảnh gần gũi, cụ thể, đậm đà bản sắc dân tộc Và hầu hết các thể thơ Thái thông dụng đã được sử dụng trong tác phẩm, từ thể khắp bắc câu dài 11, 12 chữ đến thể khống khái câu ngắn 5, 6 chữ, những thể thơ này được dùng xen lẫn với nhau rất tuyệt diệu

Tác phẩm sử dụng nhiều điển cố, câu thơ sâu sắc, thâm thúy mà vẫn dễ hiểu Những điển cố này rút từ trong truyện dân gian, truyền thuyết lịch sử,

nhưng phần lớn là từ trong quan niệm thông thường của nhân dân về một loài

chim, loài hoa, loài cây nào đó Ngoài ra, Tiễn dặn người yêu còn rất giàu nhạc

tính Người ta thường nói: “Đọc thơ tiễn dặn người yêu người không biết hát cũng biết hát” chính là để nêu lên cái tính chất giàu nhạc điệu ấy

Tựu chung lại, trong toàn bộ nền văn học Thái Tiễn dặn người yêu chiếm một vị trí vinh dự đặc biệt Nhân dân Thái yêu Khun Lú – Nàng Uả, Tòng Đón –

Ăm Ca, Cầm Đôi – Hiền Hom … nhưng tác phẩm được say mê nhất vẫn là Tiễn

dặn người yêu Họ say mê không chỉ vì nội dung tư tưởng của tác phẩm mà còn

vì hình thức nghệ thuật của Tiễn dặn người yêu hết sức đẹp, độc đáo, từ trước tới

nay chưa một truyện thơ nào sánh kịp

Tiểu kết

Tóm lại, tất cả những vấn đề trình bày trên đây chính là nguồn mạch chung đúc nên truyện thơ của các dân tộc Tây Bắc nói chung và truyện thơ của dân tộc

Thái nói riêng Trong đó, có Tiễn dặn người yêu mà chúng tôi đang tìm hiểu trong

khóa luận này Đây là truyện thơ về đề tài tình yêu của dân tộc Thái ở Tây Bắc đã

ra đời từ cái nôi của một không gian thiên nhiên hùng vĩ mà thơ mộng, từ nguồn mạch của một xã hội phân hóa đẳng cấp nặng nề, phức tạp, nhưng cũng có truyền thống dân chủ, quý trọng con người Là sản phẩm tư duy của một tâm hồn dân tộc ham thích văn nghệ, thơ ca và quý trọng đời sống tình cảm

Trang 28

CHƯƠNG 2

BI KI ̣CH TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU

2.1 Anh yêu - Em yêu đôi bạn tình trong trắng, thủy chung

Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) một thiên trường ca trữ tình kết hợp

giữa truyện dân gian và thơ ca dân gian Là một truyện thơ dài 1846 câu thơ Theo truyền thuyết đó là một câu chuyện tình của đôi trai gái người Thái ở bản Panh và bản Sái thuộc xã Tranh Đấu, huyện Thuận Châu

Tác phẩm được mở đầu bằng ba câu thơ:

Nay hãy kể từ trước đến sau

Kể chuyện qua về bù chuyện tới

Kể từ thời ấy ngày xưa

Câu chuyện tình yêu mà tác giả khuyết danh của Tiễn dặn người yêu tự đặt

nhiệm vụ kể lại cặn kẽ, rạch ròi, tường tận Theo như cách một nhân vật truyện

tự thuật, chính là câu chuyện tình yêu, một chuyện tình cũng bắt đầu từ gắn bó, rồi lỡ dở và sau cùng là thỏa nguyện sum họp của đôi trai gái người Thái được gọi với cái tên thân mật là Anh yêu và Em yêu

Đề tài tình yêu vốn không phải hiếm, trong số các tác phẩm văn học cũ của

dân tộc Thái như Khun Lú - Nàng Uả là truyện thơ dài bi thảm, lấy đề tài từ một

truyện cổ tích Xá cùng tên Một đôi trai gái, vốn là con gì con bác, yêu nhau tha thiết từ ngày còn thơ, khi lớn lên họ cũng bắt đầu được hưởng chút ít hạnh phúc

êm đềm Nhưng hạnh phúc ấy vỡ tan ngay sau khi tiếng đồn về nhan sắc nàng

Uả lọt đến tai một tù trưởng có thế lực ở vùng bên cạnh Cưỡng lại đến cùng mọi sự ép buộc gả bán, họ tự tử chết bay thẳng lên gặp Then (vua trời) kêu oan Nhưng nỗi oan khổ của họ chẳng những không được tháo gỡ mà còn bị thắt buộc thêm vào đến nỗi hai linh hồn thủy chung, trong trắng ấy phải biến thành hai ngôi sao một tỏ một mờ, mãi mãi nhìn nhau mà thương nhớ nhau Hay trong

truyện Tòng Đón - Ăm Ca miêu tả tính cách tiến bộ đặc biệt của một nàng con

quan Nàng không chuộng giàu sang mà lại có lòng thương xót người nghèo Nàng yêu một người con trai thường dân và cương quyết lấy chàng, bất chấp mọi sự ngăn cấm của gia đình Hai vợ chồng ra sức khai phá ruộng nương, hết chỗ này đến chỗ khác, họ đi đến đâu làng bản mọc lên đến đấy, đời sống nhân dân được no ấm, yên vui Đó là, những chuyện tình đẹp nhưng đầy trái ngang

Trang 29

Đôi bạn tình trong Khun Lú – Nàng Uả là con cái những tù trưởng, mối tình của

họ diễn biến trong một khung cảnh xã hội giàu sang, quyền quý Tòng Đón – Ăm

Ca là một mối tình đặc biệt xảy ra giữa một “bà nàng” có đức có nhân với một

chàng trai thường dân có tài, có chí Những đau đớn, thiệt thòi, những cảnh éo le

mà họ gặp phải là những cảnh ngộ, những đau đớn ít nhiều có phần đặc biệt

Trong chuyện tình Tiễn dặn người yêu, chúng ta thấy thoáng qua bóng dáng

của những “quân quan” mà trước khi tuyệt vọng về nhà chồng, chị (Em yêu) đã không quên ngoái lại chào hỏi bằng một giọng khá chua chát, lạnh lùng:

Xin chào quân với quan ngồi xếp theo hàng, Uống rượu

Cũng thoáng cảnh giàu sang:

…Còn nén bạc sờ đâu cũng thấy, Bao nhiêu gỗ đều dát bạc

Bấy nhiêu lạt đều vót trơn

Nhưng đó chỉ là thoáng qua, Câu chuyện được diễn ra đây chính là ở trong khung cảnh một cuộc sống của quần chúng, một cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, có tiếng kèn, tiếng sáo vang dậy, đồng thời đã có bến thuyền tấp nập mua bán và khách phương xa tới lui Cuộc sống bên ngoài rõ ràng là “thời bình thống trị” ấy chứa chất bên trong nhiều oan khiên, đau khổ và nạn nhân của oan khiên đau khổ lại chính là quần chúng, là những con người bình dị và trong trắng nhất trong quần chúng

Việc khắc họa và miêu tả nhân vật trong các truyện thơ Thái khá thành công và gây ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc Có thể thấy như trong

Khun Lú – Nàng Uả, hình ảnh Lú – Uả được miêu tả cụ thể từ xuất thân đến

diện mạo Đó là một chàng “quý tử” bảnh bao, tuấn tú, con cháu nhà quan, giàu

có ở Chiềng Ly:

Chàng Lú đẹp nõn nà như vẽ Mình thon tựa vót, mặt trắng hồng Ngắm tưởng mùa ban nở

Và nàng Uả thì được miêu tả như một nàng tiên giáng thế, có vẻ đẹp trời phú, ngay từ thuở lọt lòng, nàng đã đẹp lắm:

Mặt ngọc chuốt đáng công nuôi dưỡng

Trang 30

Kề mẹ yêu con quý thần ban Một vẻ hình hài muôn vàn trong sáng Mặt hồng tươi như vừa đúc khuôn

Còn trong tác phẩm Tiễn dặn người yêu các nhân vật cũng được khắc họa

và miêu tả tuy không được tác giả dân gian miêu tả trực tiếp, cụ thể nhưng vẫn rất sinh động và hấp dẫn Đôi bạn tình trong truyện lớn lên “bởi rau nhiều giỏ, bởi măng nhiều ngọn” khác hẳn những con người “lớn bởi vạn đùi trâu, lớn bởi triệu đùi voi” Khi đến tuổi thành trai, thành gái ở họ toát lên những phẩm chất, vẻ đẹp thật đáng quý và trân trọng Ở Em yêu, đó là vẻ đẹp không chỉ ở ngoại hình mà còn ở cả tâm hồn Tác giả dân gian không giành nhiều câu chữ đặc tả mà chỉ qua một vài hình ảnh gợi cho ta thấy được đó là một cô gái xinh đẹp có khuôn mặt rạng ngời, thân hình thon thả Vẻ đẹp ấy được tác giả dân gian ví như:

Gốc cải xanh, như tàu dong mượt

Đó là một vẻ đẹp khỏe mạnh, tươi tắn, tràn đầy sức sống và sau này qua lòng nhớ tưởng của Anh yêu mà một hình ảnh hiện lên qua lòng tưởng nhớ thì tất nhiên đã đẹp hơn sự thật ít nhiều ta mới biết thêm về nhan sắc của em yêu với một thân hình thon thả :

…Ngón tay thon lá hành

Đuôi mắt đẹp dài như lá trầu xanh

Không những thế, vẻ đẹp của nàng còn gắn với những phẩm chất lao động,

đó là một người rất khéo léo, chăm chỉ và tài năng Ngay từ tấm bé, Em yêu đã được tiếp xúc với những công việc gia đình:

Tuổi còn thơ ôm cổ mẹ chăn gà Bám vai mẹ chăn gà

Bên cạnh phẩm chất lao động, Em yêu, còn là một cô gái nết na, quan tâm đến cha mẹ Tấm nhan sắc và tài năng ấy xét ra cũng không có gì nổi bật hơn ai Còn Anh yêu thì:

Anh mười ba biết cắt sáo Mười bốn biết cắt đàn môi Đàn môi đồng hai mươi bốn chiếc Sáo vui réo rắt được hai mươi hai

Trang 31

Rồi cũng chỉ sau này, ta mới biết thêm anh đánh cá giỏi, săn bắn thạo, có sức khỏe vượt núi vượt đèo băng băng và có tấm lòng kiên quyết Nhưng nói chung cả tài và sắc của Anh yêu và Em yêu đều không vượt lên trên số đông,

vượt quá quần chúng Người xưa tin vào số phận Những nhân vật trong Tiễn

dặn người yêu cũng nhiều lúc thở than khóc lóc, quy oán cho cả số phận Thế thì

ở đây, số phận có gì là đặc biệt không may ? Số phận ấy phải chăng đã đặc biệt chú ý tới họ, để dành riêng cho họ cả một cuộc đời long đong, khổ sở như trường hợp Khun Lú – Nàng Uả ? Không có gì tỏ ra như vậy Số phận ở đây, đối với họ cũng chỉ như đối với trăm nghìn người khác Khi thấy con lo lắng cho tương lai, Mẹ yêu thương con lấy áo của con đem bói thì số phận cũng chỉ trả bằng một quẻ “hai bốn một năm” chung chung, có dữ có thể lành, nghĩa là nếu

có số phận, thì số phận của họ cũng không phải là một cái gì đặc biệt vốn được

định sẵn Trong văn học Thái, Tiễn dặn người yêu là một tác phẩm duy nhất trực

tiếp thể hiện, ca ngợi những con người quần chúng bình dị, những con người mà tài, sắc, số phận đều không có gì trội hơn số đông Và từ đó, mối tình trong trắng, thuỷchung của chuyện càng có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, càng trở nên một tấm gương trong sáng, đẹp, có tác dụng động viên và giáo dục đông đảo quần chúng một cách mạnh mẽ

Đôi bạn tình trong được sinh ra cùng một giờ, một ngày, trong cùng một bản Ngay từ nhỏ, Em yêu – Anh yêu đã gắn bó chia sẻ niềm vui nỗi buồn Tuổi thơ của họ thật êm đềm, chẳng biết đến sự chia li nào cho tới khi lớn thành trai, thành gái, lại càng thân thiết như hình với bóng như “nắm xôi nhuyễn chặt” Giống như biết bao đôi tình nhân khác, đôi bạn tình Anh yêu – Em yêu cũng có những tháng ngày hò hẹn đắm say:

Đôi ta gặp nhau nơi sàn hoa Tâm tình bên bếp lửa

Chuyện nối chuyện mau qua Đêm tiếp đêm mặn mà Đôi ta ngồi khuống tận khi gà gáy Đeo mộng về nhà lúc xế vừng trăng

Cũng là cái cảnh hồn nhiên thường gặp trong vòng khuôn phép lễ giáo của

xã hội phong kiến Thái lúc đó Yêu nhau mong sẽ lấy được nhau Tất cả những

Ngày đăng: 01/11/2014, 12:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Khôi (Hà Nội, 2000), Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao), Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao)
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
2. Phan Đăng Nhật (2011), Văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số những giá trị đặc sắc, tập 1: Một số thành tố văn hóa dân gian, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số những giá trị đặc sắc, tập 1: Một số thành tố văn hóa dân gian
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2011
3. Phan Đăng Nhật (1981), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước cách mạng tháng tám – 1945) NXBVH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước cách mạng tháng tám – 1945)
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Nhà XB: NXBVH
Năm: 1981
4. Bùi Văn Nguyên và tập thể (1962), Lịch sử văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử văn học
Tác giả: Bùi Văn Nguyên và tập thể
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
5. Vi Trọng Liên (2002), Vài nét về người Thái Sơn La, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Vài nét về người Thái Sơn La
Tác giả: Vi Trọng Liên
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
6. Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam
Tác giả: Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1968
7. Phạm Văn Lực (chủ biên) – Lò Văn Nét – Dương Hà Hiếu – Lường Hoài Thanh (2011), Một số vấn đề và lịch sử và văn hóa Tây Bắc, Nxb Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề và lịch sử và văn hóa Tây Bắc
Tác giả: Phạm Văn Lực (chủ biên) – Lò Văn Nét – Dương Hà Hiếu – Lường Hoài Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
Năm: 2011
8. Hoàng Lương (1988), Hoa văn Thái, Nxb Văn học dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Thái
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: Nxb Văn học dân tộc
Năm: 1988
9. Lò Bình Minh (Hà Nội, 1989), Bi kịch về tình yêu lứa đôi trong truyện thơ “Khun Lú – Nàng Uả” của dân tộc Thái (Luận văn Thạc sĩ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi kịch về tình yêu lứa đôi trong truyện thơ “Khun Lú – Nàng Uả” của dân tộc Thái
10. Truyện cổ Thái (1980), Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Thái
Tác giả: Truyện cổ Thái
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1980
11. Cầm Trọng (1978), Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb KH – XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Cầm Trọng
Nhà XB: Nxb KH – XH
Năm: 1978
12. Lê Thị Thuận (2006), Tìm hiểu thi pháp truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” (Xống chụ xon xao), khóa luận tốt ngiệp, Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thi pháp truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” (Xống chụ xon xao)
Tác giả: Lê Thị Thuận
Năm: 2006
13. Mạc Phi (1977), Tiễn dặn người yêu, Nxb Văn học dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn dặn người yêu
Tác giả: Mạc Phi
Nhà XB: Nxb Văn học dân tộc
Năm: 1977
14. Mạc Phi (1964), Chàng Lú – Nàng Uả, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chàng Lú – Nàng Uả
Tác giả: Mạc Phi
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1964
15. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (1981), tập IV. Văn học dân tộc ít người, quyển 2, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (1981), tập IV. Văn học dân tộc ít người, quyển 2
Tác giả: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1981
16. Một số vấn đề phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số (1987), Nxb Văn học dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Tác giả: Một số vấn đề phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
Nhà XB: Nxb Văn học dân tộc
Năm: 1987
17. Mạc Phi (1979), Dân ca Thái Mạc Phi sưu tầm và dịch , Nxb Văn học dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Thái Mạc Phi sưu tầm và dịch
Tác giả: Mạc Phi
Nhà XB: Nxb Văn học dân tộc
Năm: 1979
19. Nhiều tác giả (2001), Giữ gìn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc, Nxb Văn hóa dân tộc – Tạp chí văn hóa văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc – Tạp chí văn hóa văn nghệ
Năm: 2001
20. Về văn hóa văn nghệ các dân tộc thiểu số (1987) Nxb Văn học dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hóa văn nghệ các dân tộc thiểu số
Nhà XB: Nxb Văn học dân tộc
21. Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam (1994), Nxb Văn học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam
Tác giả: Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học Việt Nam
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w