1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu trường từ vựng tên gọi động vật thủy sinh và các tín hiệu thẩm mỹ được tạo nên trong ca dao

59 991 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 577,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ niềm say mê khám phá những giá trị văn hóa dân tộc, mong muốn phát hiện những nét độc đáo trong đời sống sinh hoạt và lao động của nhân dân, tâm lí văn hóa của một dân tộc đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ THU QUẾ

TRƯỜNG TỪ VỰNG TÊN GỌI ĐỘNG VẬT THỦY SINH VÀ CÁC TÍN HIỆU THẨM MỸ ĐƯỢC TẠO NÊN TRONG CA DAO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ THU QUẾ

TRƯỜNG TỪ VỰNG TÊN GỌI ĐỘNG VẬT THỦY SINH VÀ TÍN HIỆU THẨM MỸ ĐƯỢC TẠO NÊN TRONG CA DAO

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Trần Thị Lan Anh

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Khóa luận này được thực hiện và hoàn thành, ngoài sự cố gắng của bản thân, phải kể đến sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy cô giáo trong tổ Tiếng Việt và sự động viên giúp đỡ của nhiều người thân, bạn bè Nhân dịp này, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo, gia đình bạn bè Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân trọng cảm ơn Ths Trần Thị Lan Anh – người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em hoàn thành khóa luận

Sơn La, tháng 5 năm 2014

Sinh viên Nguyễn Thị Thu Quế

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Lí do chon đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Mục đích nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Cấu trúc khóa luận

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Khái niệm trường từ vựng

1.2 Ca daoViệt Nam và thế giới động vật thủy sinh trong ca dao……

1.2.1 Những hiểu biết chung về ca dao

1.2.2 Thế giới động vật trong tự nhiên và trong ca dao

1.2.2.1 Nhân thức chung về mối quan hệ giữa tự nhiên và con người

1.2.2.2 Thế giới động vật thủy sinh trong ca dao

1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

CHƯƠNG 2 TRƯỜNG TỪ VỰNG TÊN GỌI CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT THỦY SINH VÀ TÍN HIỆU THẨM MĨ ĐƯỢC TẠO NÊN TRONG CA DAO 2.1 Đặc điểm cấu tạo tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao……

2.1.1 Khái quát về đặc điểm định danh động vật trong tiếng Việt……

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm cấu tạo của trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh

trong ca dao

2.1.2.1 Trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao

2.1.2.2 Trường từ vựng tên gọi các bộ phận tên gọi của các loài động vật thủy sinh trong ca dao

2.1.2.3 Trường từ vựng các thuộc tính (hoạt động, trạng thái, tính chất) của động vật thủy sinh trong ca dao

2.1.2.4 Trường từ vựng các hoạt động tác động lên động vật thủy sinh trong ca dao

2.1.3 Nguồn gốc và kiểu cấu tạo của các đơn vị từ vựng thuộc trường tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao

2.1.3.1 Nguồn gốc của tên gọi

2.1.3.2 Về kiểu cấu tạo của tên gọi

2.1.4 Khả năng đảm nhiệm các chức vụ ngữ pháp ở lời ca dao của các đơn vị từ vựng thuộc tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao………

2.1.4.1 Chủ ngữ

2.1.4.2 Vị ngữ

2.1.4.3 Bổ ngữ

2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao

2.2.1 Ý nghĩa cụ thể

2.2.2 Ý nghĩa biểu trưng

2.2.2.1 Biểu trưng cho tình yêu, hạnh phúc, hôn nhân

2.2.2.2 Biểu trưng cho người phụ nữ

2.2.2.3 Biểu trưng cho những đức tính của con người trong xã hội

KẾT LUÂN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong kho tàng văn học dân gian người Việt, ca dao dân ca là những sáng tác được phổ biến rộng rãi và có sức sống lâu bền, sức tác động mạnh mẽ vào bậc nhất Ca dao là mảnh đất nghệ thuật vô tận của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn và đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên ca dao luôn luôn được nhân dân truyền miệng qua các thế hệ, vượt qua được thử thách hàng ngàn năm, tồn tại và

có ý nghĩa cho đến ngày nay Bởi thế, ca dao dân ca là nguồn tư liệu vô cùng quý giá của nhiều nhà nghiên cứu văn học, văn hóa, ngôn ngữ học Từ đó người

ta đã phát hiện ra những giá trị về mặt trí tuệ, tình cảm, nghệ thuật cũng như cái hay cái đẹp thể hiện đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc ẩn chứa trong lớp ngôn từ giản dị mà súc tích của ca dao

Đến với “Kho tàng ca dao người Việt”, chúng ta có thể khai thác tìm hiểu

từ nhiều góc độ, trong đó có việc tìm hiểu từ góc độ ngôn ngữ học Xuất phát từ niềm say mê khám phá những giá trị văn hóa dân tộc, mong muốn phát hiện những nét độc đáo trong đời sống sinh hoạt và lao động của nhân dân, tâm lí văn hóa của một dân tộc được thể hiện thông qua cách diễn đạt bằng ngôn từ, trong cách nhìn cách nghĩ của mỗi dân tộc ẩn tàng trong ca dao là những lí do để chúng

tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu trường từ vựng tên gọi

động vật thủy sinh và các tín hiệu thẩm mĩ được tạo nên trong ca dao” Qua

việc giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra, chúng tôi mong muốn tìm ra được những quy luật lựa chọn và sử dụng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao, từ đó thấy được ý nghĩa và vai trò rất quan trọng của các loài động vật thuỷ sinh trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam - một đất nước có nền văn minh nông nghiệp

2 Lịch sử vấn đề

Từ xưa đến nay, ca dao vốn là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan

Trang 7

tâm tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau như: văn học dân gian, thi pháp học, văn hóa học, ngữ dụng học thi pháp…Trong phạm vi đề tài, chúng tôi quan tâm hơn

cả đến những công trình nghiên cứu liên quan đến thế giới động vật trong văn

học dân gian (đặc biệt là thế giới động vật thủy sinh được thể hiện trong ca dao)

Người đầu tiên đề cập trực tiếp biểu tượng con vật trong ca dao là Vũ Ngọc

Phan tác giả của cuốn sách: “Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam” Trong công trình này tác giả nhấn mạnh: “Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của nhân

dân về cuộc đời: Đời người với đời con cò và con bống”, “Người lao động lấy những con vật nhỏ bé để tượng trưng cho cuộc sống lam lũ của mình”, hay

“Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh con cò và con bống vào ca dao

dân ca là đưa một nhận thức đặc biệt về một khía cạnh của cuộc đời vào nghệ thuật, lấy cuộc đời của những con vật trên đây là tượng trưng vài nét đời sống của mình” [35, 71]

Năm 1992 trong “Thi pháp ca dao”, tác giả Nguyễn Xuân Kính đã dành hẳn một chương để viết về các biểu tượng như con bống, con cò Tác giả cho rằng:

“Biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan thể hiện trong quan điểm thẩm mĩ, tư tưởng của từng nhóm tác giả (có khi của riêng một tác giả) từng thời đại, từng dân tộc, từng khu vực” [26]

Trong cuốn “Ca dao Việt Nam và những lời bình”, tác giả Vũ Thị Thu

Hương đã tập hợp các bài viết về biểu tượng con vật, thiên nhiên trên các báo, tạp chí khác nhau của nhiều tác giả: Trương Thị Nhàn, Mai Ngọc Chừ, Đặng Hiến, Phan Thị Thanh Nhàn …

Tác giả Mai Ngọc Chừ trong bài viết “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam” cho rằng:

“Ngôn ngữ ca dao không chỉ mang chức năng thông báo thuần túy mà còn có

thông báo thẩm mĩ” [11,123]

Tác giả Đặng Hiến với bài viết “Hình tượng con cò trong ca dao và thơ” đã

kết luận cánh cò là mô típ quen thuộc của ca dao

Tác giả cuốn “Những thế giới nghệ thuật trong ca dao” (Phạm ThuYến) đã nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca trữ tình dân gian tương đối toàn diện, khẳng định biểu tượng - yếu tố nghệ thuật đặc thù gắn với đặc trưng loại thể Tuy

Trang 8

nhiên tác giả đi vào lí luận chung chứ không đi sâu vào các tín hiệu từ ngữ được lựa chọn trở thành biểu tượng trong ca dao

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong bài “Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng

trong ca dao Việt Nam” đã phân chia các biểu tượng chủ yếu thành ba nguồn

sau:

- Những biểu tượng xuất phát từ sự quan sát trực tiếp của con người: hoa

sen, con cò, con bống…

- Những biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán của con người Việt

Nam: từ quan niệm dân gian, tín ngưỡng dân gian…

- Những biểu tượng xuất phát từ văn hóa cổ Việt Nam- Trung Quốc như:

Thúy Kiều, Kim Trọng, Ngưu Lang, Chức Nữ…

Trong các tài liệu của nhiều tác giả khác, việc sử dụng các thành tố chỉ động vật cũng được quan tâm nghiên cứu

Trịnh Cẩm Lan (1995) khi nghiên cứu “Đặc điểm cấu trúc- ngữ nghĩa và

những giá trị biểu trưng của thành ngữ tiếng việt trên cứ liệu thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật” có đề cập đến thành ngữ động vật tiếng

Việt nhưng chưa đi vào miêu tả cụ thể các nghĩa khác nhau của mỗi từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ

Nguyễn Thúy Khanh trong “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi

động vật” (luận án phó tiến sĩ, 1996) đã nghiên cứu khá sâu ngữ nghĩa tên gọi

các động vật trong tiếng Việt và có đề cập một phần “ý nghĩa biểu trưng của các

thành ngữ so sánh có tên gọi động vật” [23]

Ngoài ra còn có nhiều bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành như:

- “Một vài thành ngữ so sánh có tên gọi động vật tiếng Việt” (Nguyễn

Thúy Khanh, Ngôn ngữ, số 3, 1994)

- “Các con vật và một số đặc trưng của chúng được cảm nhận từ góc độ

dân gian và khai thác để đưa vào kho tàng thành ngữ tiếng Việt” (Phan Văn

Quế, Ngôn ngữ, số 4, 1995)

- “Trường nghĩa của một thực từ” (Dương Kì Đức, Ngữ học trẻ, 1996)

Trang 9

Bên cạnh đó, những nghiên cứu về trường từ vựng (đặc biệt là trường từ vựng “động vật”) cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Năm 1975, GS Đỗ Hữu Châu trình bày cụ thể về khái niệm “Trường” và

việc nghiên cứu từ vựng trong cuốn “Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ

thống từ vựng” Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng, căn bản cho đề tài của chúng

tôi Ngoài ra, chúng tôi còn căn cứ vào những nội dung cơ bản trong cuốn “Từ

vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt” (Đỗ Hữu Châu - in lần thứ 2, 1996) để có được

khung lý thuyết vững chắc cho đề tài này

Ở Việt Nam, đã có một số trường từ vựng - ngữ nghĩa được nghiên cứu với nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, thể hiện qua những công trình sau:

Luận án PTS “Trường từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể người” của Nguyễn

Đức Tồn năm 1988 Năm 1996, Nguyễn Thuý Khanh hoàn thành luận án PTS

“Đặc điểm Trường từ vựng- ngữ nghĩa tên gọi động vật”

Năm 1999, Đinh Thị Oanh bảo vệ luận văn thạc sĩ “Cấu trúc ngữ nghĩa

của vị từ thuộc trường thực vật” nhằm chỉ rõ đặc điểm và cấu trúc ngữ nghĩa

hoặc sự chuyển nghĩa của các vị từ thuộc trường thực vật

Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn xuất bản công trình “Tìm hiểu đặc trưng văn

hoá- dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)” Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của

trường tên gọi thực vật (chương thứ tám) Trong đó, tác giả đã trình bày cụ thể, chi tiết về cấu trúc ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ thực vật, sự chuyển nghĩa

và ý nghĩa biểu trưng của một số từ ngữ thực vật

Như vậy có thể khẳng định: Thế giới động vật trong ca dao đã là những đề tài nghiên cứu được các tác giả của nhiều công trình khoa học đề cập đến ở một số khía cạnh khác nhau Dù ở góc độ nào xu hướng nghiên cứu chung vẫn là xoay quanh mối quan hệ giữa chúng và con người, những nhận thức của con người về chúng và tác động ảnh hưởng của những yếu tố đó đến cuộc sống sinh hoạt con người

Tuy nhiên các công trình, bài viết trên chưa đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ và cụ thể về các loài động vật thủy sinh xuất hiện trong kho tàng ca dao người Việt Vì thế đề tài của chúng tôi là sự kế tục những kêt quả nghiên

Trang 10

cứu của các bậc tiền bối Đó là những nguồn tư liệu có giá trị để chúng tôi lựa

chọn đề tài “ Trường từ vựng tên gọi động vật thủy sinh và các tín hiệu thẩm

mĩ được tạo nên trong ca dao”

- Tìm ra những biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hoá dân tộc trong cách gọi tên, cách sử dụng các hình ảnh động vật thuỷ sinh tiêu biểu như trong các lời ca dao

- Đề tài còn làm rõ sự hành chức của các đơn vị từ vựng tiêu biểu trong trường từ vựng tên gọi các loài động vật thuỷ sinh trong ca dao, góp phần định hướng thiết thực cho việc giảng dạy, học tập ca dao trong nhà trường

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với chức năng làm công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, ngôn ngữ có nhiệm vụ định danh (gọi tên) các sự vật, hiện tượng… trong thực tế khách quan Để định danh các sự vật hiện tượng, ngôn ngữ phải dùng đến số lượng lớn những danh từ, danh ngữ Danh từ có thể là từ đơn, có thể là từ phức Khoá luận của chúng tôi nghiên cứu cả danh từ là từ đơn và danh từ là từ phức Các từ không tồn tại độc lập mà thường thuộc về một trường từ vựng - ngữ nghĩa nhất định, như: trường con người, trường động vật, trường thực vật… Chúng tôi chọn những danh từ gọi tên các loài động vật thuỷ sinh xuất hiện

Trang 11

trong ca dao để khảo sát, nghiên cứu Tuy nhiên, chúng tôi không thể tập trung nghiên cứu toàn bộ các danh từ, danh ngữ gọi tên các loài động vật thuỷ sinh trong ca dao mà chỉ đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá các tên gọi các loài động vật thuỷ sinh tiêu biểu mang biểu tượng văn hoá (hay có vai trò là biểu tượng) Việc giới han đối tượng nghiên cứu như trên đã tạo điều kiện để chúng tôi

đi sâu và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ của đề tài một cách thuận lợi

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân tích dựa trên nguồn tư liệu

chính là tổng tập “Kho tàng ca dao người Việt” (2 tập) do Nguyễn Xuân Kính,

Phan Đăng Nhật chủ biên (2001), NXB Văn hoá - thông tin, Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê có định hướng từ 11825 câu

ca dao trong “Kho tàng ca dao người Việt” để tìm ra từ ngữ chỉ tên gọi các loài

động vật thủy sinh Sau đó chúng tôi phân loại định hướng kết hợp với phân loại định tính trên những đơn vị ngữ liệu chủ yếu

- Phương pháp phân tích và miêu tả: Để miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao phải dựa trên sự phân tích đặc trưng cấu trúc và đặc trưng ngữ nghĩa của các từ đã thống kê và phân loại trên

Chúng tôi còn phân tích đặc trưng cấu trúc của các từ ngữ để tìm ra nét nghĩa biểu vật của chúng Trên cơ sở đó chúng tôi phân lập và miêu tả các cấu trúc ngữ nghĩa

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như:

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp quy nạp, diễn dịch, phương pháp hệ thống…( được sử dụng

để xử lý ngữ liệu và lý giải ngữ nghĩa)

- Vận dụng cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ- văn học- văn hoá

Trang 12

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Chương 2: Trường từ vựng tên gọi động vật thuỷ sinh và các tín hiệu thẩm

mĩ được tạo nên trong ca dao

Trang 13

Trong từ vựng học ở nước ta hiện nay có ba thuật ngữ: Trường từ vựng - ngữ nghĩa, trường nghĩa, trường từ vựng cùng chung một khái niệm Tuy nhiên

ở nước ngoài và một số học giả Việt Nam gần đây lại có chủ chương phân biệt trường nghĩa với trường từ vựng Theo họ trường nghĩa là tập hợp từ đồng nhất

về ngữ nghĩa

Chúng tôi chọn thuật ngữ trường từ vựng theo quan điểm của GS Đỗ Hữu

Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” làm cơ sở lí thuyết cho đề tài này

Trong thực tế vốn từ của một ngôn ngữ thường quá lớn và quá phức tạp nên những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không hiện ra một cách trực tiếp giữa các từ lựa chọn một cách ngẫu nhiên GS Đỗ Hữu Châu khẳng định:

“Những quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt các từ sẽ hiện ra khi

đặt được các từ (nói cho đúng là các ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua tiểu hệ thống về ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống chứa chúng.” [7, 171]

Từ đó, GS Đỗ Hữu Châu nêu ra định nghĩa: “mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa

được gọi là một trường nghĩa Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.”

Khái niệm trường nghĩa ở đây theo chúng tôi thống nhất với khái niệm trường từ vựng Trường từ vựng (hay trường nghĩa) là một tập hợp từ theo các

Trang 14

tiêu chí về nghĩa Theo cách hiểu này có thể coi trường từ vựng là các tập hợp từ như: các từ đồng nghĩa, trái nghĩa với một từ, các từ cùng phát sinh từ một từ gốc Đó là một tập hợp gồm những đối tượng có một đặc trưng chung về nghĩa Tuy nhiên, các từ trong một trường từ vựng có thể có hơn nhau một nét nghĩa chung Càng có nhiều nét nghĩa chung, trường từ vựng càng hẹp

Cơ sở của trường từ vựng là tính hệ thống của trường từ vựng về mặt ngữ nghĩa Từ vựng là một hệ thống bao gồm nhiều hệ thống Một tiểu hệ thống lại chia thành nhiều hệ thống nhỏ hơn Mỗi tiểu hệ thống, mỗi hệ thống như trong một tiểu hệ thống đều làm thành một trường từ vựng

Ví dụ 1:

Trường từ vựng “người” bao gồm các trường nhỏ: người nói chung, bộ phận của cơ thể con người, hoạt động của con người, tính chất của con người, trạng thái của con người Mỗi trường từ vựng trên lại bao hàm nhiều trường từ vựng nhỏ hơn

- Tính chất ngoại hình cơ thể: cao, thấp, lùn, béo, gầy, lỏng khỏng, què,

cụt, gù

- Tính chất trí tuệ: thông minh, nhanh trí, sáng suốt, ngu, đần, dốt…

-Tính chất tâm lí: hiền, tốt bụng, độ lượng, rộng rãi, khắc khổ, ác, độc

- Tính chất quan hệ: hòa thuận, đoàn kết, lục đục, bất hòa

- Tính chất xã hội: lương thiện, hợp pháp, phi pháp, ngoài vòng pháp

luật

Từ hai dạng quan hệ là quan hệ ngang và quan hệ dọc mà F.de.Sausuare

chỉ ra trong giáo trình “Ngôn ngữ học đại cương”, giáo sư đã phân ra hai loại

trường nghĩa:

- Trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến)

- Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)

Cơ sở để phân lập trường trực tuyến là căn cứ vào hai thành phần ý nghĩa:

ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm Theo GS Đỗ Hữu Châu có thể phân ra hai trường nghĩa: Trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm

Trang 15

+ Trưởng biểu vật là một tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật nào đó

Để xác lập một trường biểu vật, chúng ta có thể chọn một danh từ rồi tìm tất cả các là danh từ, động từ, tính từ cùng chung ý nghĩa biểu vật với từ đó

Ví dụ 2:

Trường biểu vật “ người”

Người nói chung:

- Người nói chung xét về giới tính: nam, nữ, đàn ông, đàn bà

- Người nói chung xét về tuổi tác: trẻ em, nhi đồng, thiếu niên, thanh niên,

trung niên, cụ già

- Người nói chung xét về nghề nghiệp: thầy giáo, giáo viên, công nhân,

nông dân…

- Người nói chung xét về chức vụ: giám đốc, hiệu trưởng, chủ tịch, chủ

nhiệm, tổ trưởng

+ Trường biểu niệm là một tập hợp những từ có chung một cấu trúc biểu niệm

Để xác lập một trường biểu niệm, chúng ta dựa vào nét nghĩa đồng nhất nào

đó trong nghĩa biểu niệm

Ví dụ 3:

Dựa vào nét nghĩa năng lực của mắt chúng ta có lập một trường biểu niệm

gồm: đờ đẫn, lờ đờ, sắc, tinh, tốt, kém, toét, mù, lòa…

Như vậy sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ Nhưng cũng chính nhờ các trường, nhờ sự định vị được từng từ một trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ

Khái niệm trường tuyến tính GS Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa: “tập hợp tất

cả các từ cùng xuất hiện với từ trung tâm theo quan hệ ngang trong câu lập thành trường tuyến tính của từ đó” [7] và tác giả chỉ rõ: “ để lập nên các trường nghĩa tuyến tính chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận đượi trong ngôn ngữ.” [7, 188]

Trang 16

GS Đỗ Hữu Châu cho rằng: “cần xác định những từ trung tâm cho một

trường tuyến tính và không chỉ riêng các vị từ mà “ca dao” các danh từ vẫn có thể chọn làm trung tâm, miễn là chúng ta đưa vào trường tuyến tính của chúng những từ phù hợp với bộ phận lệ thuộc vào chúng.” [7, 257]

Ví dụ 4:

Nếu chọn “ tay” làm từ trung tâm thì trường tuyến tính của từ này sẽ là: búp

măng, mềm, ấm, lạnh nắm, cầm, khoác,

Ví dụ 5:

Nếu chon “cắt” làm từ trung tâm thì trường tuyến tính của từ này sẽ là: dao,

kéo, bánh, vải, giấy…đứt, không đứt…

Để tránh sự hiểm lầm cho rằng sự xác lập một trường tuyến tính là sự phân

loại từ, trong cuốn “Ngữ nghĩa học từ vựng” GS Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra và

khẳng định nguyên tắc xác lập các trưởng tuyến tính là các từ thành một trường tuyến tính với một từ trung tâm nào đó là các từ thỏa mãn ba điều kiện sau:

- Thỏa mãn những yêu cầu các quan hệ giữa các nét nghĩa trong một từ

- Phù hợp với những nét nghĩa biểu vật (những nét nghĩa hạn chế biểu vật) của từ đang xem xét

- Phù hợp với yêu cầu của nét nghĩa tận cùng của từ

Nói chung các từ đi với một từ nào đấy nếu càng gần với nét nghĩa tận cùng thì càng gần trung tâm của trường tuyến tính của một từ

Như vậy để xác lập một trường tuyến tính chúng ta phải dựa hẳn vào cấu trúc ngữ nghĩa của các từ Cùng với trường nghĩa trực tuyến, trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ

Vận dụng quan điểm về trường từ vựng (trường nghĩa) và sự phân chia, phân lập trường nghĩa chúng tôi sẽ xác lập và phân loại trường từ vựng tên gọi động vật thủy sinh và các tín hiệu thẩm mĩ được tạo nên trong ca dao theo những tiêu chí ngữ nghĩa nêu trên

Trang 17

1.2 Ca dao Việt Nam và thế giới động vật thủy sinh trong ca dao

1.2.1 Những hiểu biết chung về ca dao

Trong giới nghiên cứu văn học dân gian, thuật ngữ ca dao được hiểu theo

ba nghĩa rộng hẹp khác nhau:

- Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca

- Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không

kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)

- Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi, thì sẽ đều là ca dao Ca dao là một sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và cao dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian

Một số nguồn thông tin khác lại cho rằng thuật ngữ “ca dao” xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX để chỉ những câu hát thôn dã đã được các nhà nho sưu tầm biên soạn thành sách Dần dần thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi và nó cũng được tầng lớp tri thức tân học dùng chữ quốc ngữ sử dụng với nội dung là những câu hát thôn dã trữ tình Thuật ngữ ca dao cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song các nhà nghiên cứu thường thống nhất: Ca dao

là một thể thơ dân gian được dân chúng sáng tác theo thể lục bát trữ tình là chủ

yếu Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê mục “Ca dao” có ghi:

- Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát không theo những điệu nhất định

- Thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hình thức giống như ca dao cổ truyền

Trên cơ sở những căn cứ trên, chúng tôi chọn 375 lời ca dao trong cuốn:

“Kho tàng ca dao người Việt” (Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên,

hai tập, 2001, Nhà xuất bản văn hóa – thông tin Hà Nội) làm ngữ liệu phân tích trong khoá luận này

Trang 18

1.2.2 Thế giới động vật trong tự nhiên và trong ca dao

1.2.2.1 Nhận thức chung về mối quan hệ giữa tự nhiên và con người

Thiên nhiên môi trường gắn liền với trình độ phát triển văn hóa qua các giai đoạn lịch sử xã hội của loài người Thiên nhiên là một phần quan trọng của cuộc sống và văn hóa con người Bởi lẽ thiên nhiên luôn luôn có mặt trong nhịp sống của chúng ta, nó bao quanh cuộc sống của con người và chi phối mọi hoạt động của con người Văn hóa dân gian là môi trường văn hóa có quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên Màu sắc thiên nhiên của cuộc sống con người như thế giới động vật, thế giới thực vật là chất liệu quan trọng tạo nên giá trị nội dung và thẩm mĩ của văn hóa dân gian

Ví dụ 6:

Các câu chuyện thần thoại thường mượn hình tượng thiên nhiên (thế giới động vật, thực vật) làm những hình tượng nghệ thuật để nói lên ý nghĩa triết lý gửi gắm đến con người

Sự hiện diện của thiên nhiên trong ca dao phản ánh mối quan hệ gắn bó giữa con người và môi trường cũng như vai trò của thiên nhiên trong tư duy nghệ thuật của những sáng tác dân gian Sự hiện diện này không chỉ thể hiện lòng yêu mến quê hương đất nước của người dân, nét văn hóa đặc trưng của từng vùng miền mà thông qua đó thiên nhiên còn là phương tiện diễn tả tình cảm thể hiện triết lí quan niệm của con người về thế giới và cuộc sống

Ngoài đặc điểm hình thức ngắn gọn, có vần điệu thì một trong những yếu tố giúp ca dao có sức truyền cảm mạnh mẽ, dễ thuộc, đi vào lòng người chính là việc ca dao sử dụng những yếu tố quen thuộc, gắn bó với cuộc sống của con

người như: cỏ, cây, hoa, lá, con tôm, con cua, con tép, con cá Làm phương

tiện thể hiện tư tưởng, tâm tư, tình cảm của con người Khi đi vào ca dao những

sự vật bình dị đó đã được khái quát hóa và trở thành những biểu tượng có tín hiệu thẩm mĩ cao, có những đặc điểm độc đáo riêng biệt

Ví dụ 7:

Bấy lâu lên ngọn sông Tân

Muốn tìm cá nước phải lần trời mưa

Trang 19

Tiếc công anh đắp đập coi bờ

Để ai quảy đó, đem lờ đến đơm [27, 285]

Ví dụ 8:

Buổi mai em xách cái giỏ

Em xuống dưới ao em bắt con cua

Em bỏ vô cái thõng, hắn kêu cái rỏng

Hắn kêu cái rảnh, hắn kêu một tiếng: Chàng ơi!

Chàng đã yên phận tốt đôi

Em nay lẻ bạn mồ côi một mình [27, 326]

1.2.2.2 Thế giới động vật thuỷ sinh trong ca dao

Một số lượng không nhỏ những bài ca dao mang nghệ thuật gắn với việc miêu tả thế giới động vật, bao gồm cả động vật thủy sinh Trong ca dao, thế giới động vật được dùng làm công cụ miêu tả nhằm làm toát lên ý nghĩa, bài học triết

lí của từng lời ca dao Các loài động vật được sử dụng như một công cụ truyền tải nội dung, thể hiện cuộc sống, tâm tư, tình cảm phong phú, phức tạp của con người, mang lại sự gần gũi, quen thuộc và chất trữ tình trong lời ca dao Trong phạm vi của đề tài chúng tôi quan tâm đến thế giới động vật thủy sinh được sử dụng trong các lời ca dao

Nước ta nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Có biển rộng phong phú với các loài động vật nước mặn, nước ngọt, có nhiều rừng núi trùng điệp và đồng bằng xen giữa Nghĩa là nước ta có môi trường thích hợp cho đại diện của hầu hết các loài Hơn nữa nước ta còn có khí hậu đa dạng thay đổi theo chiều bắc nam và theo độ cao so vơi mặt biển rất thích hợp cho động vật từ nhiều nguồn sinh sống Chính vì vậy thế giới động vật thủy sinh chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tự nhiên và đời sống văn hóa tinh thần của con người Trong thực tế, động vật thủy sinh gắn bó vơi con người Việt Nam ở tất cả các hoạt động thiết yếu của cuộc sống Trước hết là biểu hiện trong bữa ăn hàng ngày như câu ca dao:

Trang 20

Ví dụ 9:

Râu tôm nấu với ruột bầu

Như vậy các loài động vật cá, tôm, cua, ốc, tép đã trở thành những món

ăn hấp dẫn quen thuộc trong bữa cơm của mỗi gia đình

Không chỉ có thế trong đời sống tinh thần của người dân Việt cũng mang đậm dấu ấn của thế giới động vật thủy sinh Một trong những tín ngưỡng cổ và đẹp nhất của người Việt còn được giữ lại và phát triển cho đến ngày nay chính là tục thả cá chép đưa ông Táo về trời vào ngày 23 tháng chạp âm lịch

Vì thế giới tinh thần và vật chất có sự gắn bó mật thiết với các loài động vật (động vật thủy sinh) cho nên trong con người Việt Nam đã hình thành một nét tâm lý đặc trưng đó là yêu thích, sống gần gũi chan hòa với các loài động

vật Bản thân các con vật như tôm, cua, cá, ốc, tép vốn chỉ có đời sống động

vật, không có cảm xúc nói năng nhưng con người Việt Nam đã thổi hồn vào khiến chúng trở nên có tâm tư tình cảm của con người Họ xem chúng là bạn, là

ân nhân, mang những đức tính tốt xấu đại diện cho hình ảnh chính bản thân mình với những tình cảm tha thiết gắn bó Thế giới động vật trở nên sống động, thấm đượm hồn người và trở thành thế giới biểu tượng đầy ý nghĩa Như vậy hình ảnh các con vật (các loài động vật thủy sinh) đã trở thành biểu tượng của cộng đồng Đó là kết quả tất yếu của quá trình nhận thức tự nhiên

Tìm hiểu về biểu tượng động vật thủy sinh, vấn đề then chốt của đề tài, đó

là chỉ rõ đặc điểm của trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong

ca dao Chũng tôi mong muốn đi sâu khám phá, tìm hiểu những đặc sắc của văn hóa cộng đồng được thể hiện qua hình ảnh các loài động vật thuỷ sinh gần gũi, gắn bó với đời sống con người trong ca dao Bên cạnh đó chúng tôi còn mong muốn tìm hiểu về đời sống riêng của các loài động vật thủy sinh và giá trị về mặt vật chất cũng như tinh thần mà chúng đem lại trong nhận thức của người Việt Bởi lẽ một loài động vật có thể trở thành biểu tượng khi loài đó có nét tương đồng nào với cuộc sống của con người

Trang 21

Quan trọng hơn trong các trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao, dựa vào tần số xuất hiện và ý nghĩa biểu tượng của chúng ta

có thể dễ dàng giải đáp cho câu hỏi vì sao những loài vật này thường được được

đề cao ca ngợi

1.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ không thể tách rời Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ Người ta nói rằng ngôn ngữ và văn tự là kết tinh của dân tộc, nhờ ngôn ngữ và văn tự để được lưu truyền vào trong tương lai, nền văn hóa cũng dựa vào đó để phát triển Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với sự biến đổi và phát triển của văn hóa Muốn đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ phải đi sâu nghiên cứu văn hóa Điều đó thể hiện rõ nhất khi có sự giao lưu tiếp xúc giữa các nền văn hóa có bối cảnh văn hóa khác nhau Chung quy lại hoạt động ngôn ngữ cũng như hoạt động văn hóa là một hoạt động tinh thần, cả hai cùng giúp xã hội phát triển

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa được đề cập đến từ cuối thế kỉ XIX và được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu thực sự và đã xây dựng được khung lí thuyết tương đối hoàn chỉnh với điểm xuất phát hàng loạt đặc điểm của văn hóa và cách thức diễn đạt qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ Đó là những tiền

đề trực tiếp dẫn đến sự ra đời về ngành khoa học nghiên cứu về văn hóa mang

tên “Ngôn ngữ văn hóa học” Đây là một bộ phận mang tính tổng hợp liên ngành

mục tiêu cơ bản của bộ phận này là khảo sát mối quan hệ qua lại tương tác giữa ngôn ngữ và văn hóa trong quá trình phát triển, hành chức của ngôn ngữ, lí giải mối quan hệ đó một cách hệ thống

Ở những giai đoạn đầu văn hóa học chú tâm và nghiên cứu, phân tích hệ thống từ vựng của ngôn ngữ để tìm kiếm cái chung, nhất là cái đặc thù về sự tri nhận thế giới qua ngôn ngữ các cộng đồng dân tộc khác nhau Đến nay các nhà nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa học đã có nhiều thành tựu quan trọng với các đối tượng nghiên cứu khác nhau

Trang 22

Như vậy có thể thấy ngày nay ngôn ngữ văn hóa đóng vai trò rất quan trọng và trong chúng có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời Vấn đề mà ngôn ngữ văn hóa quan tâm tập trung ở những yếu tố: Ngôn ngữ - tư duy (con người) - văn hóa Trọng bộ ba này con người là yếu tố trọng tâm chi phối ngôn ngữ, chi phối cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Vì đặc trưng sống gần gũi, chan hoà với thiên nhiên nên khi nói lên những đặc trưng văn hoá vùng miền, quê hương các tác giả dân gian còn mượn hình ảnh của những loài động vật thuỷ sinh để nói về văn hoá của cộng đồng, dân tộc mình

Qua ca dao con người có thể hình dung được một bức tranh toàn cảnh về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của con người, với những thế giới hình ảnh phong phú, con vật, thực vật, đồ vật gắn bó gần gũi với cuộc sống của dân tộc Việt

Trang 23

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chúng tôi xem xét trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao và các tín hiệu thẩm mĩ được tạo nên trong ca dao từ góc độ ngôn ngữ văn hóa Các loài động vật đã trở thành những phương tiện đắc lực trong

việc tạo lập ra các lời ca dao Các loài động vật thuỷ sinh như: cá, tôm, cua,

tép đã được nhắc đến với tần số cao gắn liền với phong tục tập quán sinh hoạt

của người dân Việt Nam

Tìm hiểu về đề tài: “Trường từ vựng tên gọi động vật thủy sinh và các

tín hiệu thẩm mĩ được tạo nên trong ca dao” chúng ta sẽ chỉ ra cách, lối diễn

đạt, cách tư duy của con người lao động xưa nhằm nâng cao nhận thức và tư duy văn hóa về thế giới tự nhiên nói chung và thế giới động vật nói riêng của con người

Trang 24

Chương 2 TRƯỜNG TỪ VỰNG TÊN GỌI CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT

THỦY SINH VÀ TÍN HIỆU THẨM MĨ ĐƯỢC TẠO NÊN

TRONG CA DAO

2.1 Đặc điểm cấu tạo tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao

2.1.1 Khái quát về đặc điểm định danh động vật trong tiếng Việt

Theo số liệu thống kê dựa trên cuốn “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê

chủ biên, chúng ta có thể thấy sự đa dạng, phong phú của tên gọi thế giới động vật trong tiếng Việt Xét về mặt nguồn gốc, tên gọi động vật có trong tiếng Việt chủ yếu thuộc ba nguồn gôc: Thuần Việt, Hán Việt, Ấn- Âu, trong đó số tên gọi là từ thuần Việt chiếm số lượng nhiều hơn cả, tồn tại lâu đời và gắn liền với đặc điểm nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam Ngoài ra, các tên gọi có nguồn gốc Hán Việt hay Ấn – Âu đã phản ánh trung thực quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa trong lịch sử giữa người dân Việt Nam với người Trung Hoa và người Pháp…

Xét về kiểu cấu tạo của tên gọi các loài động vật có thể có cậu tạo là từ đơn

Trong cấu tạo tên gọi các loài động vật thuỷ sinh có thể là kết hợp hai danh từ với nhau, trong đó một danh từ là cái được xác định và danh từ kia đóng

Trang 25

vai trò là định ngữ, bổ sung ý nghĩa, làm cụ thể hóa ý nghĩa cho danh từ được xác định

Trong các loài động vật xuất hiện trong ca dao, các loài động vật thủy sinh cũng chiếm một số lượng lớn, giữ vai trò quan trọng góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng của những lời ca dao Đồng thời tên gọi những loài động vật thủy sinh xuất hiện trong ca dao cũng có cấu tạo rất phong phú

2.1.2 Đặc điểm cấu tạo của trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao

Có thể khẳng định rằng thế giới động vật thuỷ sinh tràn ngập trong ca dao Thế giới động vật thuỷ sinh ngoài đời phong phú, đa dạng như thế nào thì

đi vào ca dao nó cũng phong phú đa dạng như thế Chúng để lại dấu ấn đậm nét trong đời sống sinh hoạt, lao động của con người, đặc biệt là người nông dân sống ở các làng quê Việt Nam

2.1.2.1 Trường từ vựng tên gọi các loài động vật thủy sinh trong ca dao

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, các đơn vị được dùng làm tên gọi chung cho các loài động vật thuỷ sinh trong ca dao là các danh từ Bảng thống

kê sau đây cho thấy kết quả khảo sát này:

Trang 26

STT Tên loài Số lần xuất hiện

Bảng 2.1 Trường từ vựng tên gọi các loài động vật thuỷ sinh trong ca dao

Như vậy có thể thấy tên gọi các loài động vật thuỷ sinh xuất hiện trong ca dao rất đa dạng, hầu như các loài đều được nhắc đến nhưng số lần xuất hiện có

sự chênh lêch Cá, tôm, cua, ốc là những loài xuất hiện với tần số cao hơn cả, cụ thể: cá (293 lần), tôm (15), cua (11), chạch (7), lươn (4), hến (1), cáy (1)

2.1.2.2 Trường từ vựng tên gọi các bộ phận của các loài đông vật thủy sinh trong ca dao

Chúng tôi tiếp tục thống kê, tập hợp các từ chỉ tên gọi bộ phận của các loài động vật thủy sinh xuất hiện trong lời ca dao và có kết quả như sau:

Trang 27

Cũng giống như tên gọi của các loài động vật thuỷ sinh, những bộ phận của loài động vật thuỷ sinh cũng được nói đến rất cụ thể, chi tiết (càng, đuôi, mồm, xương, vảy…) Qua đó phần nào cho thấy sự gần gũi, quen thuộc, gắn bó, am hiểu với thế giới thiên nhiên nói chung và động vật thuỷ sinh nói riêng cũng như đức tính giản dị, môc mạc của người dân lao động Việt Nam

2.1.2.3 Trường từ vựng các thuộc tính (hoạt động, trạng thái, tính chất) của động vật thủy sinh trong ca dao

Nếu các đơn vị gọi tên các loài động vật thủy sinh và các bộ phận của chúng đều là danh từ thì khi chỉ các hoạt động, trạng thái, tính chất (gọi chung là các thuộc tính) của động vật thủy sinh trong ca dao người ta sử dụng hàng loạt

vị từ

Vị từ là phạm trù quan trọng và phức tạp nhất trong hệ thống từ loại tiếng Việt dùng để định danh các hoạt động, trạng thái, quá trình, tính chất, đặc điểm trong thực tế khách quan Người ta thường tách vị từ làm hai loại: động

từ và tính từ Tác giả Fraubey trong cuốn “Lingguitie Semanties” đã định nghĩa:

“Vị từ tương đương với danh từ, động từ, tính từ đồng thời làm trung tâm, làm

hạt nhân cho cấu trúc ngữ nghĩa của câu”.( dẫn theo Đinh Thị Oanh, [34, 23]

Chúng tôi tập hợp được các vị từ chỉ các hoạt động, trạng thái, tính chất của động vật thủy sinh trong bảng sau:

Trang 29

Vận động theo nghĩa hẹp chỉ sự diễn biến theo thời gian về các mặt của một chủ thể nào đó

Quá trình là sự biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác (Vận động trong thời gian)

Ví dụ 6:

Vị từ “ bơi”, “ lội”, “vượt”, “bò”, “nhảy” chỉ sự vận động theo thời gian (cá bơi, cá lội)

Ví dụ 7:

Anh ba yêu đến tôi chăng

Gió đưa trăng là trăng đưa gió

Xin đừng lắm chốn nhiều nơi nhỡ nhàng [27, 99]

Ví dụ 8:

Anh mong bắt cá chuồn chuồn

Khi vui nó lội, khi buồn nó bay

Chim trời cá nước chi đây

Cá lội đằng cá, chuồn bay đằng chuồn [27, 135]

Ví dụ 9:

Ao hồ cá lội trông sao

Em có chồng anh biết liệu làm sao bây giờ [27, 188]

Ví dụ 10:

Bắt lươn lươn bò xuống cỏ Bắt cò, cò bỏ cò bay

Ôi thôi rồi hỏng cả hai tay

Lươn bò xuống cỏ, cò bay lên trời [27, 265]

Ví dụ 11:

Bắt ốc ốc nhảy lên bờ Hái rau, rau héo mẹ nhờ cái chi [27, 264]

+ Vị từ trạng thái:

Trạng thái là tình trạng, dạng thức xuất hiện trong một thời điểm dài ngắn

Ngày đăng: 01/11/2014, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhã Bản (2001), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
16. Cao Huy Đỉnh (2000), Ca dao và những lời bình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao và những lời bình
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2000
17. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
32. Trương Thị Nhàn (1992), Tìm hiểu tín hiệu nghệ thuật ca dao qua một tín hiệu thẩm mĩ, tạp chí Văn hóa dân gian (số 4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tín hiệu nghệ thuật ca dao qua một tín hiệu thẩm mĩ
Tác giả: Trương Thị Nhàn
Năm: 1992
33. Hoàng Thị Kim Ngọc (2004), So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của nguời Việt (từ góc nhìn ngôn ngữ văn hóa học), Luận án TS ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh và ẩn dụ trong ca dao tr"ữ "tình của nguời Việt (từ góc nhìn ngôn ngữ văn hóa học
Tác giả: Hoàng Thị Kim Ngọc
Năm: 2004
47. Phạm Thu Yến (1998), Những thế giới nghệ thuật ca dao, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thế giới nghệ thuật ca dao
Tác giả: Phạm Thu Yến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Trường từ vựng tên gọi các loài động vật thuỷ sinh trong ca dao - tìm hiểu trường từ vựng tên gọi động vật thủy sinh và các tín hiệu thẩm mỹ được tạo nên trong ca dao
Bảng 2.1. Trường từ vựng tên gọi các loài động vật thuỷ sinh trong ca dao (Trang 26)
Bảng 2.2. Trường từ vựng tên gọi các bộ phận của các loài động vật thuỷ sinh trong ca dao - tìm hiểu trường từ vựng tên gọi động vật thủy sinh và các tín hiệu thẩm mỹ được tạo nên trong ca dao
Bảng 2.2. Trường từ vựng tên gọi các bộ phận của các loài động vật thuỷ sinh trong ca dao (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w