1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ trong tác phẩm hồng lâu mộng của tào tuyết cần

64 790 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 594,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC PHẠM THỊ NGỌC HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ VÀ NAM THUỘC TẦNG LỚP CHỦ TRONG TÁC PHẨM HỒNG LÂU MỘNG CỦA TÀO TUYẾT CẦN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

PHẠM THỊ NGỌC

HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ VÀ NAM THUỘC TẦNG

LỚP CHỦ TRONG TÁC PHẨM HỒNG LÂU MỘNG

CỦA TÀO TUYẾT CẦN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

PHẠM THỊ NGỌC

HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ VÀ NAM THUỘC TẦNG

LỚP CHỦ TRONG TÁC PHẨM HỒNG LÂU MỘNG

CỦA TÀO TUYẾT CẦN

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Hà Thị Hải

Sơn La, năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo, ThS

Hà Thị Hải Nhân dịp khóa luận được hoàn thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc

nhất tới cô, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua

Em xin gửi lời cảm ơn tới tổ Lí luận - Văn học Nước ngoài, tập thể các thầy

cô khoa Ngữ Văn, thư viện và phòng Đào tạo Trường Đại học Tây Bắc, cùng thầy cô giáo chủ nhiêm và tập thể lớp K51 ĐHSP Ngữ Văn đã tạo điều kiện giúp

đỡ em hoàn thành khóa luận này

Khóa luận còn nhiều hạn chế do khả năng của người thực hiện, cũng như tài liệu nghiên cứu còn thiếu thốn Rất mong được sự góp ý chân thành từ thầy cô

và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2014

Người thực hiện Phạm Thị Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

2.1 Ở Trung Quốc 2

2.2 Ở Việt Nam 3

3 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

3.3 Mục đích nghiên cứu 5

3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

4.1 Phương pháp khảo sát văn bản 6

4.2 Phương pháp so sánh 6

4.3 Phương pháp phân tích 6

5 Đóng góp của khóa luận 6

6 Cấu trúc của khóa luận 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc 7

1.1.1 Tác giả Tào Tuyết Cần 7

1.1.2 Tác giả Cao Ngạc 8

1.2 Tác phẩm Hồng lâu mộng 8

1.2.1 Quá trình sáng tác tác phẩm Hồng lâu mộng 8

1.2.2 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Hồng lâu mộng 9

1.2.3 Khái quát về nội dung và nghệ thuật tác phẩm Hồng lâu mộng 10

1.3 Một số vấn đề lí luận 13

1.3.1 Nhân vật văn học 13

1.3.2 Hệ thống nhân vật văn học 14

Tiểu kết 16

Trang 5

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ VÀ NAM THUỘC TẦNG LỚP CHỦ TRONG

HỒNG LÂU MỘNG 18

2.1 Nguồn gốc xuất thân 18

2.2 Ngoại hình 20

2.3 Tính cách 23

2.3.1 Những điểm giống nhau về tính cách của hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ 23

2.3.2 Những điểm khác nhau về tính cách giữa hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ 32

3.3 Tài năng 34

3.3.1 Tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật 34

3.3.2 Tài quản lí kinh tế 37

Tiểu kết 39

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ VÀ NAM THUỘC TẦNG LỚP CHỦ TRONG HỒNG LÂU MỘNG 40

3.1 Dùng nhân vật phụ để làm nổi bật nhân vật chính 40

3.2 Sử dụng bút pháp “phạm mà không phạm” trong xây dựng hệ thống nhân vật 44

3.2.1 Cặp đôi Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa 44

3.2.2 Cặp đôi Phượng Thư và Thám Xuân 47

3.2.3 Cặp đôi Giả Trân và Giả Liễn 49

3.3 Đặt nhân vật trong mối quan hệ huyết thống 51

3.4 Sử dụng con số để liên kết hệ thống nhân vật 53

Tiểu kết 55

KẾT LUẬN 56

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Hồng lâu mộng là một kiệt tác của nền văn học Trung Quốc Người

Trung Hoa say mê đọc và bình luận về Hồng lâu mộng đến nỗi nói: “Khai đàm

bất thuyết Hồng lâu mộng, độc tận thi thư diệc uổng nhiên” (chuyện trò không

nói Hồng lâu mộng thì đọc hết thi thư cũng vô ích) Ở Trung Quốc có hẳn một

ngành chuyên nghiên cứu về Hồng lâu mộng đó là ngành Hồng học Chưa có

tiểu thuyết cổ điển nào của Trung Quốc có được vinh dự ấy Sự ra đời của Hồng

lâu mộng đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của tiểu thuyết cổ điển Trung

Quốc Lỗ Tấn nhận xét: “Điểm khác biệt của Hồng lâu mộng với các cuốn tiểu

thuyết trước đây là dám tả thật không che đậy Bởi vậy các nhân vật được miêu

tả ở đây đều là nhưng con người thật Nói chung sau khi Hồng lâu mộng ra đời,

cách viết và cách tư duy truyền thống hoàn toàn bị phá vỡ” [14, II, 675] Tác

phẩm miêu tả hơn bốn trăm nhân vật, mỗi người một vẻ, vô cùng hấp dẫn và

sinh động, trong số đó hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ là các

nhân vật được Tào Tuyết Cần chú trọng xây dựng: Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại

Ngọc, Tiết Bảo Thoa là những nhân vật trung tâm tác phẩm, xoay quanh mối

tình tay ba giữa ba người Tuy nhiên, bên cạnh đó tác giả cũng chú trọng

miêu tả các nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ khác một cách hết sức

sinh động, chi tiết từ chân dung, tính cách, tài năng… Chọn đề tài này giúp tôi

hiểu sâu sắc hơn hệ thống nhân vật trong Hồng lâu mộng và tài năng sáng tạo

nghệ thuật của Tào Tuyết Cần

1.2 Hồng lâu mộng được rất nhiều độc giả yêu mến Tác phẩm đã được

dịch ra khoảng hơn hai mươi thứ tiếng trên thế giới như: Anh, Pháp, Đức, Ý, Hi

Lạp, Nhật, Triều Tiên, Ấn Độ, Việt Nam… Hồng lâu mộng được xếp vào hàng

“Tứ đại kì thư” (pho sách lạ nhất đời) thật sự phản ánh toàn diện và sâu sắc

gương mặt văn hóa Trung Quốc Tác phẩm được chuyển thể thành phim truyện

và được công chiếu ở nhiều quốc gia trên thế giới Ngoài sự thu hút về mặt nội

dung mới mẻ, hấp dẫn, độc giả không thể quên được hệ thống các nhân vật trong

tác phẩm Tác phẩm có rất nhiều hệ thống nhân vật như: Hệ thống nhân vật

thuộc tầng lớp chủ, hệ thống nhân vật thuộc tầng lớp a hoàn, hệ thống nhân vật

thuộc tầng lớp quan lại, Nhưng hệ thống nhân vật thuộc tầng lớp chủ để lại

Trang 7

cho độc giả ấn tượng sâu sắc nhất Họ không chỉ đẹp ở ngoại hình mà còn có tính cách phức hợp, mang chất thực của con người hiện tại Tìm hiểu đề tài này không chỉ giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về nhân vật, về tài năng nghệ thuật xây dựng

hệ thống nhân vật mà còn giúp tôi thấy được vẻ đẹp của tác phẩm và có thể hiểu

vì sao người Trung Quốc và Việt Nam lại yêu thích Hồng lâu mộng như vậy

1.3 Tác phẩm Hồng lâu mộng được giảng dạy trong chương trình đại học,

trong học phần Văn học Trung Quốc Nghiên cứu Hồng lâu mộng và lựa chọn

đề tài này giúp tôi hiểu sâu hơn về tác phẩm, cũng như hiểu thêm về các tác phẩm Trung Quốc và phục vụ tốt hơn cho quá trình giảng dạy phần văn học nước ngoài ở nhà trường phổ thông sau này

Từ những lí do trên đã thúc đẩy tôi tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này Hy vọng rằng khóa luận sẽ là tài liệu tham khảo có ích cho các bạn sinh viên yêu

thích tác phẩm Hồng lâu mộng và bộ môn văn học Trung Quốc

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Ở Trung Quốc

Trong cuốn Lí luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc tác giả Khâu Chấn Thanh nhấn mạnh tới yếu tố “yếu tân kí biệt chí” (phải mới mẻ độc đáo) trong quan điểm sáng tác của Tào Tuyết Cần: “Tào Tuyết Cần coi sáng tạo mới

mẻ là thước đo quan trọng để đánh giá một tác phẩm hay hay dở Hồng lâu mộng sở dĩ trở thành đỉnh cao của tác phẩm hiện thực chủ nghĩa của Trung Quốc, điều đó có quan hệ mật thiết với việc tác giả đã dám đi vào con đường mà người trước chưa đi, ra sức đạt tới sự mới mẻ độc” [ 20, 259]

Trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, các nhà nghiên cứu thuộc

viện khoa học xã hội Trung Quốc đã đánh giá cao tài xây dựng nhiều nhân vật cùng một lúc và tài miêu tả tính cách của các nhân vật tạo nên sự sinh động, nhất

quán trong xây dựng nhân vật và hệ thống xây dựng nhân vật như sau: “Trong

Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần miêu tả nhiều nhất là phụ nữ, mà chủ yếu lại là những thiếu nữ giống nhau hoặc na ná như nhau về độ tuổi, hoàn cảnh sống, cách sống Rõ ràng điều đó làm cho việc miêu tả gặp rất nhiều khó khăn Nhưng Tào Tuyết Cần không những có thể miêu tả được hết sức rõ ràng cá tính của từng người mà đến cả những tính cách gần giống nhau, chỉ khác ở những nét đặc trưng hết sức tinh tế cũng được ông khắc họa rõ ràng, tỉ mỉ Thí dụ tính ôn

Trang 8

hòa thuần hậu, dịu dàng của Bình Nhi khác với tính ôn hòa thuần hậu của Tập Nhân; tính phóng khoáng bộc trực của Sử Tương Vân khác với tính phóng khoáng bộc trực của chị Ba Vưu; Lâm Đại Ngọc và Diệu Ngọc đều quen tính kiêu

kì, cô độc, nhưng họ lại có điểm khác nhau, một người nhập thế, còn người kia xuất thế Tính kiêu kì, cô độc của Lâm Đại Ngọc khiến người ta cảm thấy nóng, nhưng cũng tính này ở Diệu Ngọc lại làm cho người ta thấy lạnh” [13, 676]

Trong cuốn Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, tác giả Thạch Xương

Du chú ý tới bi kịch tình yêu và hôn nhân trong tác phẩm cùng tính chất hiện thực của tác phẩm mà ít chú ý tới nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật Đánh

giá về tác phẩm Hồng lâu mộng, tác giả cho rằng: “Tiểu thuyết Hồng lâu mộng

miêu tả sự suy vong của một đại gia đình quý tộc, miêu tả bi kịch tình yêu, hôn nhân của Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa trong đại gia đình đó

Bi kịch trong Hồng lâu mộng phản ánh mối xung đột không thể điều hòa giữa yêu cầu của nam nữ thanh niên thời đó đối với tự do cá tính và chế độ phong kiến Bộ tiểu thuyết này đã nắm đúng vấn đề trọng đại nhất ở thời kì cuối chế độ Phong kiến, thể hiện khuynh hướng tư tưởng dân chủ ban đầu Đây là bộ tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa vĩ đại nhất thời trung đại Trung Quốc” [15, 153, 156].

2.2 Ở Việt Nam

Trong cuốn Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, tác giả Lương Duy Thứ đã đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật như sau: “Hồng lâu mộng

chú ý thể hiện tính cách nhân vật qua hành động và ngôn ngữ” [21, 197] Đặc

biệt Lương Duy Thứ đề cập đến tính chất điển hình của các nhân vật nữ thuộc tầng lớp chủ như: Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Vương Hy Phượng Đại

Ngọc hiện lên với tính cách “đa sầu đa cảm là đặc trưng tính cách của nàng” [21, 167], Bảo Thoa lại hiện lên với một vẻ khác: “Tiết Bảo Thoa là một giai

nhân phong kiến chuẩn mực” [21, 164] Phượng Thư lại được tác giả nhận xét:

“Phượng Thư lại tiêu biểu cho bản chất nham hiểm độc ác của giai cấp thống trị” [21, 155]

Trong cuốn Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, tác giả Trần Xuân Đề đã đề cập đến nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật, tác giả cho rằng: “Từ hành động

nhân vật khắc họa tính cách nhân vật là một trong những đặc điểm nghệ thuật nổi bật của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Tác giả thường thông qua miêu tả

Trang 9

hành động để khắc họa tính cách nhân vật” [5, 160] hay: “Trong Hồng lâu mộng, Tào Tuyết Cần cho nhân vật hoạt động trong làn sóng đấu tranh và sự xung đột của gia đình, xã hội để biểu hiện tính cách và bộ mặt tinh thần của nhân vật” [5, 166]

Cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, do Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)

đã nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật và xây dựng hệ thống nhân vật

Hồng lâu mộng như sau: “Nghệ thuật xây dựng nhân vật và xây dựng nhiều nhân vật cùng một lúc là một thành tựu to lớn của Hồng lâu mộng Hồng lâu mộng là tác phẩm có số lượng nhân vật đông đúc, 443 nhân vật (230 nam và

213 nữ) Mặc dù số lượng đông, nhưng các nhân vật đều có máu thịt, cá tính rõ nét Có nhân vật chỉ vài phác họa cũng để lại ấn tượng cho người đọc Điều đáng chú ý là phần đông nhân vật là thiếu nữ, tuổi xấp xỉ, hoàn cảnh sống, quá trình giáo dục cũng tương tự, nhưng tính cách lại hết sức khá nhau Tào Tuyết Cần không những rất tài hoa trong việc miêu tả những nhân vật có tính cách đối lập mà còn rất tinh tế miêu tả những tính cách giống nhau Các nhân vật vừa

“Phạm vào nhau lại tránh nhau rất xa” (Lời Kim Thánh Thán nói về nhân vật Thủy hử) [ 16, 154]

Trong đề tài nghiên cứu khoa học Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác

phẩm Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, tác giả Hà Thị Hải cũng đã đề cập đến

một số biện pháp xây dựng hệ thống nhân vật như: bút pháp “Song quản tề hạ”,

sử dụng phép “Bàng sấn”, đặt nhân vật trong quan hệ huyết thống, sử dụng con

số để liên kết hệ thống nhân vật Tác giả cũng đưa ra những nhận xét như sau:

“Tác giả Hồng lâu mộng chú trọng, dồn tâm sức và bút lực vào việc khắc họa hình tượng những người phụ nữ, đặc biệt là mười hai cô gái đẹp trong phủ Giả

Đó là mười hai cô gái không chỉ tuyệt đẹp mà còn thông minh, tài giỏi, cá tính

rõ nét Có thể gọi là mười hai cô gái tài mạo song toàn Hệ thống nhân vật mười hai cô gái đẹp này hoàn toàn tương phản với những nhân vật nam trong tác phẩm cả về trí tuệ, tài năng và tính cách Mười hai cô gái đẹp này không những tài thơ, khả năng hội họa, thưởng thức tuồng kịch đều vượt trội hơn những người đàn ông mà đến khả năng quản lí kinh tế, sự thông tuệ nam nhân ít sánh kịp” [6, 73]

Trang 10

Nhìn chung, theo dòng chảy của thời gian, với nhiều góc độ tiếp nhận, các nhà nghiên cứu đã đạt được những thành quả rất đáng trân trọng trong việc

nghiên cứu hệ thống nhân vật trong Hồng lâu mộng Tuy nhiên, những tài liệu

mà chúng tôi bao quát được chưa có chuyên luận nào đề cập cụ thể, tỉ mỉ đến sự giống và khác nhau giữa hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ cũng như nghệ thuật xây dựng hai hệ thống nhân vật này Khóa luận của chúng tôi sẽ

đi sâu vào những vấn đề đó và tiếp thu có chọn lọc những ý kiến của các thế hệ

đi trước ở tất cả những vấn đề có liên quan

3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ trong tác

phẩm Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu sự giống, khác nhau giữa hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ, đồng thời nghiên cứu một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hai hệ

thống nhân vật này Văn bản khảo sát là tiểu thuyết Hồng lâu mộng, ba tập, do

nhóm dịch giả: Vũ Bội Quang, Trần Quảng, Nguyễn Đức Vân dịch, NXB Văn

học, Hà Nội, 2002

Một số vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến khóa luận này cũng được

chúng tôi quan tâm tìm hiểu

3.3 Mục đích nghiên cứu

Làm nổi bật và khẳng định tài năng sáng tạo nghệ thuật của Tào Tuyết Cần thông qua việc tìm hiểu, phân tích, so sánh hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ và một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hai hệ thống nhân

vật này trong tác phẩm Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần

3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ chủ yếu của người nghiên cứu là phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để làm nổi bật đặc điểm giống và khác nhau của hệ thống nhân vật nữ

và nam thuộc tầng lớp chủ, đồng thời tìm hiểu đôi nét về nghệ thuật xây dựng hai hệ thống nhân vật này của Tào Tuyết Cần

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp khảo sát văn bản

Chúng tôi dựa vào việc khảo sát, thống kê, phân loại một số dữ liệu cần thiết, cụ thể để phân tích, chứng minh cho những nhận định, đánh giá trong khóa luận Thống kê, phân loại những chi tiết để làm sáng tỏ những nét về nguồn gốc xuất thân, ngoại hình, tính cách, tài năng tương đồng và khác biệt giữa hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ, thống kê những chi tiết gắn với các thủ pháp nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ trong

Hồng lâu mộng

4.2 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp quan trọng nhất để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ So sánh đồng đại, so sánh lịch đại, đặt các nhân vật trong mối quan hệ đa chiều để làm nổi bật

sự sinh động, hấp dẫn và tính chân thực của các nhân vật

5 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận chỉ ra một cách cụ thể, chi tiết những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ cùng một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hai hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ, giúp bạn đọc hiểu thêm về tài năng sáng tạo nghệ thuật của Tào Tuyết Cần

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm ba chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 Những điểm giống và khác nhau giữa hệ thống nhân vật nữ và

nam thuộc tầng lớp chủ trong Hồng lâu mộng

Chương 3 Một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật nữ và

nam thuộc tầng lớp chủ trong Hồng lâu mộng

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc

1.1.1 Tác giả Tào Tuyết Cần

Tào Tuyết Cần tên thật là Tào Triêm, tự là Mộng Nguyễn, hiệu Tuyết Cần Ngoài ra ông còn có tên khác: Cần Phố, Cần Khê

Ông sinh khoảng năm 1716 Tổ tiên xa xưa của ông là người Hán, sau đó vì nhiều lí do đã nhập tịch Mãn Châu Tuy nhiên, có điều chắc chắn rằng từ đầu

đời Thanh cho đến thế hệ Tào Tuyết Cần, nhà họ Tào là một “bách niên vọng

tộc” Cụ cố năm đời của Tào Tuyết Cần là Tào Châu Ngạn được bổ làm tri châu

Cát Châu, phủ Bình Dương (Sơn Tây), đến thời cụ nội Tào Tuyết Cần là Tào Tỉ, nhà họ Tào đã có mối quan hệ khá mật thiết với nhà vua đương triều là Khang

Hy Tào Tỉ đảm nhận chức Giang Ninh, chức tạo giám đốc suốt 22 năm, vợ Tào

Tỉ là vú nuôi của Khang Hy Sau Tào Tỉ, đến Tào Dần là ông nội của Tuyết Cần

và bố đẻ hay chú bác Tuyết Cần đều lần lượt sung chức ấy, trước sau đến 65 năm Ngoài ra, dòng họ Tào rất giàu truyền thống văn học, Tào Dần đã đứng ra

lo việc hiệu đính và in ấn bộ Toàn Đường thi Đời Tào Dần là thời kì cực thịnh

của dòng họ Tào Vợ Tào Dần là con gái Lí Sĩ Trinh - tuần phủ Giang Nam; hai con gái của Tào Dần đều làm Vương phi Tào Dần đã có vinh hạnh bốn lần được tiếp giá khi nhà vua Khang Hy đi tuần du phương Nam chọn hành cung là Tào phủ Như vậy, đủ biết nhà vua đã tin tưởng và sủng ái họ Tào như thế nào Nhưng vinh quang mà họ Tào có được cũng là mầm mống gây họa cho gia tộc lớn này Mặt khác, chính mối quan hệ mật thiết với Khang Hy cũng khiến các nhà vua kế nhiệm tìm cách diệt trừ họ Tào Cho nên, khi Ung Chính lên ngôi, nội bộ hoàng tộc khuynh loát nhau dữ dội thì đến năm Ung Chính thứ 5 (1729), Tào Thiếu bị tội mất chức, gia sản bị tịch thu, năm sau cả gia đình từ Giang Nam dọn về Bắc Kinh Nhà họ Tào từ đó sa sút

Thời niên thiếu, Tào Tuyết Cần có thời kì sống trong vinh hoa phú quý Tuy nhiên thời gian này ngắn ngủi vì cha mắc tội, bị cách chức, bị tịch biên gia sản, nên khi ông trưởng thành, gia đình phải dời về ngoại ô phía tây Bắc Kinh sinh sống Lúc này, gia đình Tào Tuyết Cần sống nghèo khổ, ông đã phải làm đủ

nghề như: dạy học, vẽ tranh để kiếm sống, trải qua cuộc sống “ăn cháo và mua

chịu rượu” [16, 133]

Trang 13

Gia đình quý tộc đã ảnh hưởng đến Tào Tuyết Cần ở hai mặt chủ yếu: Mặt thứ nhất, trên con người ông để lại nhiều dấu vết giai cấp khó xóa mờ, khiến ông quyến luyến không thể cắt đứt được với giai cấp của mình, đặc biệt là thế giới quan của ông nhuốm rất đậm màu sắc hư vô và bi quan; mặt thứ hai, cũng là mặt quan trọng hơn, gia đình ông từ chỗ cực thịnh đến chỗ cực suy, sự thay đổi to lớn ấy không thể không dẫn đến sự thay đổi trong tư tưởng và tình cảm của ông Cuộc sống nghèo khổ giúp ông nhận thức bản chất xấu xa và tội ác của giai cấp xuất thân, khiến ông phải hồi tưởng lại một cách đau xót và sâu sắc về những điều mình đã trải qua Nhưng chính hoàn cảnh, cuộc sống, sự thay đổi, thịnh suy của xã hội lại cung cấp vốn kiến thức dồi dào cho việc sáng tác của Tào Tuyết Cần sau này Ông mất khoảng năm 1763 vì căn bệnh lao

1.1.2 Tác giả Cao Ngạc

Bản thảo dở dang Tào Tuyết Cần để lại chỉ 80 hồi đặt tên là Thạch đầu kí

Người viết tiếp 40 hồi sau là Cao Ngạc, tự Lan Thự (Lan Sử), biệt hiệu Hồng lâu mộng ngoại sử, đỗ cử nhân năm Mậu Thân - Càn Long 53 (1788), làm quan Nội các Trung thư rồi Thị Độc, Giang Nam ngự sử hình khoa cấp sự trung Cao

Ngạc là tác giả của các sách: Lại trị tập yếu, Lan thự văn tồn, Lan Thự tập nghệ

1.2 Tác phẩm Hồng lâu mộng

1.2.1 Quá trình sáng tác tác phẩm Hồng lâu mộng

Hồng lâu mộng ra đời như là một bản tổng kết, một bức tranh sinh động về

hiện thực đời sống xã hội mà Tào Tuyết Cần đã trải qua Xuất thân trong gia đình

“hào môn vọng tộc” nhưng đã sa sút đến mức cùng cực, ông viết Hồng lâu mộng khi cả gia đình phải rau cháo qua ngày ở ngoại ô phía tây Bắc Kinh “Để viết tiểu

thuyết này, ông “đọc sách mười năm, sửa chữa năm lần” đúng là tình cảnh “Mỗi chữ xem ra đều là máu Mười năm gian khổ chẳng tầm thường” Ngặt vì nghèo vừa bệnh, thêm vào đó cái chết sớm của đứa con trai duy nhất, Tào Tuyết Cần đau khổ ngã bệnh, cho đến một buổi tối “khô lệ mà chết”, chưa kịp hoàn thành tác phẩm Hồng lâu mộng vĩ đại” [16, 133] Tám mươi hồi đầu do Tào Tuyết Cần sáng

tác Hai mươi tám năm sau khi Tào Tuyết Cần mất, Cao Ngạc dựa vào đề cương viết tiếp bốn mươi hồi còn lại của Tào Tuyết Cần Tiểu thuyết này vốn lúc đầu có

tên là Thạch đầu kí sau được Trình Vĩnh Nguyên đem bốn mươi hồi viết tiếp của Cao Ngạc in chung làm một đổi tên là Hồng lâu mộng

Trang 14

Khi viết tiếp bốn mươi hồi sau của Hồng lâu mộng, về đại thể Cao Ngạc tuân

theo ý định của Tào Tuyết Cần, hoàn thành chủ đề tấn bi kịch tình yêu giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc Do việc xử lý thỏa đáng một số tình tiết quan trọng khác, cho nên phần viết tiếp để lại cho người đọc cảm giác câu chuyện khá hoàn chỉnh và gây được sức hấp dẫn nghệ thuật Về phương diện nội dung tư tưởng tình cảm cũng như nghệ thuật bốn mươi hồi sau của Cao Ngạc không sánh được với tám mươi hồi trước của Tào Tuyết Cần

Hồng lâu mộng vừa ra đời đã lan truyền khắp nơi, tác phẩm nhanh chóng trở

thành món ăn tinh thần của quần chúng

1.2.2 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Hồng lâu mộng

Hồng lâu mộng ra đời thời Khang Hy - Ung Chính - Càn Long đời Thanh

Nền kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa xuất hiện trong lòng xã hội phong kiến chuyên chế mọt ruỗng đang trên đà tan rã, đã sản sinh ra một lớp thị dân có

những nhu cầu thẩm mĩ mới Hồng lâu mộng là sự thể hiện những tư tưởng của

thời đại: tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán xã hội phong kiến mục nát, phê phán những giáo điều cổ hủ đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu đương và mưu cầu hạnh phúc, giải phóng cá tính, khao khát tự do bình đẳng Trong khi đó giai cấp phong kiến không hề có tác dụng thúc đẩy sản xuất, nhưng đời sống của chúng lại cực kì hủ bại, ăn chơi, xa hoa, dâm dật Tập đoàn phong kiến nhà Thanh tận hưởng của cải bóc lột của nhân dân, còn nhân dân lao động cần cù, chất phác lại vô cùng cực khổ Những người nông dân đã trở thành tá điền quanh năm làm việc mà vẫn cực khổ Mâu thuẫn giữa bọn thống trị đời Thanh và nhân dân lao động ngày càng sâu sắc, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân

nổ ra Tầng lớp thị dân nổi lên, lực lượng này chưa thoát khỏi sự ràng buộc của

xã hội phong kiến về tư tưởng, kinh tế Vì thế, trong xã hội lúc bấy giờ, ngoài mâu thuẫn giữa nông dân với giai cấp địa chủ còn tồn tại mâu thuẫn giữa lực lượng thị dân với quý tộc phong kiến

Thời kì này nhiều nhà tư tưởng có đề xướng dân chủ, đòi tự do tư tưởng, giải phóng cá tính như: Hoàng Tôn Hy, Cố Viên Vũ, Vương Phu Chi, Đường Chú Vạn, Tào Tuyết Cần xuất thân từ giai cấp trên, gia đình quan lại, quý tộc nhưng ông đứng trên lập trường của tầng lớp thị dân để chống lại chế độ phong kiến Ông xây dựng hàng loạt những nhân vật xuất thân quý tộc nhưng lại hướng

Trang 15

vào cuộc sống tự do, giải phóng cá tính, có tư tưởng dân chủ mới như Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc

1.2.3 Khái quát về nội dung và nghệ thuật tác phẩm Hồng lâu mộng

1.2.3.1 Khái quát về nội dung Hồng lâu mộng

Hồng lâu mộng viết về câu chuyện tình duyên trắc trở nhưng không đơn

giản là bi kịch tình yêu tay ba Tác giả có căn cứ vào cuộc đời riêng nhưng tác

phẩm không phải là “tự truyện” cũng không phải là sự sụp đổ của một gia đình quý tộc do “miệng ăn núi lở”, “thu ít chi nhiều” Ý nghĩa khách quan của tác

phẩm lớn hơn nhiều, âm vang sâu nặng của tác phẩm gợi cho người đọc những vấn đề thời đại

Trước tiên, tác phẩm phản ánh sự suy tàn tất yếu của chế độ phong kiến Trung Quốc Điều này được thể hiện qua sự phân chia giai cấp và mâu thuẫn của

xã hội phong kiến Trong xã hội có sự phân chia giai cấp rõ rệt Giai cấp quý tộc

là giai cấp thống trị xã hội có quyền quyết định số phận của những giai cấp khác Tuy nhiên, trong lòng giai cấp quyền quý này lại chứa đựng những cơn sóng ngầm có thể bùng phát bất cứ lúc nào Các ông, bà chủ đó một mặt câu kết với nhau để bóc lột, vơ vét, mặt khác lại cắn xé lẫn nhau để giành giật quyền uy

và thế lực Nhưng bên cạnh mâu thuẫn nội bộ giai cấp quý tộc còn có mâu thuẫn

giữa họ với quần chúng bị áp bức bóc lột, mà cụ thể trong Hồng lâu mộng là các

a hoàn Họ được nhà chủ mua về làm kẻ hầu người hạ và số phận của họ hoàn toàn phụ thuộc vào ông chủ, bà chủ Trước mắt họ hầu như chỉ có ba con đường:

đi tu, tự vẫn, bị gả chồng Mặc dù không chủ tâm miêu tả quan hệ giữa gia đình phong kiến quý tộc này với nông dân nhưng bằng một vài nét vẽ đậm nhạt tác giả cũng cho chúng ta thấy chúng dựa vào đâu mà sống xa hoa, phè phỡn Không chỉ dừng lại ở đó, Tào Tuyết Cần tiếp tục đi sâu vào bản chất của giai cấp này để một lần nữa vạch trần bộ mặt thực sự của giai cấp phong kiến quý tộc Có thể nói, dâm ô chính là bản chất của giai cấp bóc lột Sự thực đó là sức tàn phá ghê gớm đối với một nề nếp, một gia phong và đến một mức độ nhất định nó làm cho kỉ cương họ Giả bị rối loạn góp phần đẩy gia đình hào môn vọng tộc này đến bước sụp đổ Điều đó cũng cho thấy sự suy tàn của phủ Giả, của chế độ phong kiến là tất yếu không thể cưỡng lại được

Trang 16

Vấn đề thứ hai mà tác phẩm phản ánh chính là tình yêu và hôn nhân trong

xã hội phong kiến Trung Quốc Chúng ta thấy rằng, trong xã hội thối nát đó, tình yêu không hề tồn tại, thay vào đó là sự trói buộc, ràng buộc con người vào

những cuộc hôn nhân không tình yêu Nhưng trong Hồng lâu mộng, Tào Tuyết

Cần xây dựng một Giả Bảo Ngọc, một Lâm Đại Ngọc luôn luôn hành động theo

trái tim, chống lại quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” nhưng rồi tình yêu

của họ vẫn rơi vào bi kịch, họ không thể chống lại được thế lực phong kiến

mạnh mẽ thời bấy giờ Có thể nói, Hồng lâu mộng là bi kịch tình yêu và hôn

nhân dưới chế độ phong kiến Tác giả đặt tình yêu và hôn nhân trên một bình diện rộng lớn Nó gắn chặt với vấn đề phụ nữ, vấn đề chế độ thê thiếp, chế độ cung phi, chế độ nô tì,

Hồng lâu mộng là một tác phẩm hiện thực kiệt xuất, phê phán toàn diện

xã hội phong kiến đời Thanh Tất cả cuộc sống thối nát của giai cấp quý tộc đều được Tào Tuyết Cần đề cập một cách rộng rãi và sâu sắc Những giá trị hiện thực trên đã đem lại sức sống lâu dài cho tác phẩm Vì vậy, không chỉ người dân

Trung Quốc yêu thích Hồng lâu mộng mà đông đảo bạn đọc trên thế giới cũng

đón nhận và yêu thích kiệt tác này

1.2.3.2 Khái quát về nghệ thuật Hồng lâu mộng

Hồng lâu mộng là tiểu thuyết hiện thực xuất sắc, được xếp vào hạng một

trong tứ đại kì thư Trung Hoa Tác phẩm đã “kế thừa kinh nghiệm sáng tác của

các tác giả thời đại trước, bằng tư duy nghệ thuật mới mẻ và tài năng sáng tạo, Tào Tuyết Cần tạo ra đứa con tinh thần của mình - Hồng lâu mộng Tác phẩm trở thành tập đại thành cho những tiến bộ nghệ thuật của tiểu thuyết hiện thực Trung Quốc thế kỉ XIV - XVIII Nó phá vỡ tư tưởng và cách viết truyền thống, đưa tiểu thuyết cổ điển phát triển theo hướng gần gũi với tiểu thuyết hiện đại” [16, 152] Bút pháp hiện thực đạt đến trình độ điêu luyện trong khi

miêu tả, tác giả bám sát cuộc sống thường ngày, miêu tả chi tiết, không cường

điệu tô vẽ Cuộc sống trong Hồng lâu mộng hiện lên vô cùng bình di, đời

thường và đó chính là sức hút của tác phẩm Đọc tác phẩm ta không hề cảm thấy bàn tay đẽo gọt của nhà văn mà chỉ theo dáng dấp vốn có tràn lên mặt giấy một cách tự nhiên Đó chính là vẻ đẹp thuần phác, kết quả của sự rèn

luyện khắc khổ mới có được

Trang 17

Nghệ thuật xây dựng nhân vật và xây dựng nhiều nhân vật cùng một lúc là

thành tựu to lớn của Hồng lâu mộng Hồng lâu mộng là một tác phẩm có số

lượng nhân vật đông đúc nhưng các nhân vật đều có máu thịt, có cá tính rõ nét

Có nhân vật chỉ vài phác họa cũng để lại ấn tượng cho người đọc Tào Tuyết Cần không những tài hoa trong việc miêu tả những nhân vật có tính cách đối lập

mà còn rất tinh tế miêu tả những tính cách giống nhau Các nhân vật vừa “phạm

vào nhau lại tránh nhau rất xa”

Hồng lâu mộng với kết cấu đồ sộ gồm 120 hồi Tác giả đề cập đến mọi

mặt của đời sống gia đình họ Giả nhưng bao giờ cũng xoay quanh câu chuyện tình duyên của Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc Câu chuyện tình duyên bi thảm

ấy trở thành sợi dây xuyên suốt tác phẩm, vừa có ý nghĩa chắp nối sự kiện, vừa

có tác dụng gắn bó hai chủ đề của tác phẩm, đó là sự sa đọa ruỗng nát của một gia đình thượng lưu và sự trong sáng đẹp đẽ của một mối tình Gia đình càng đen tối ruỗng nát thì tình yêu càng trở nên cao đẹp Tình yêu càng lâm vào tình thế bi kịch càng có sức tố cáo sự lỗi thời và kệch cỡm của chế độ phong kiến

Đó là thành công lớn của Tào Tuyết Cần

Thành tựu về ngôn ngữ của Hồng lâu mộng khá tiêu biểu Ngôn ngữ của tác phẩm lưu loát, uyển chuyển, đẹp đẽ Về mặt này Hồng lâu mộng được đánh giá cao như Thủy hử Tác giả cũng giỏi cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật làm cho

lời nói từng người khác nhau, phù hợp với tính cách của họ Mặc dù ngôn ngữ cũng như thơ từ của các nhân vật, hầu như giữa 80 hồi đầu và 40 hồi sau có sự khác nhau đôi chút ít, một bên mượt mà, chau chuốt và uyển chuyển hơn, nhưng nhìn chung phong cách ngôn ngữ toàn tác phẩm là thống nhất, không để lại dấu vết của sự chắp vá

Nghệ thuật miêu tả không - thời gian cũng là một đóng góp không nhỏ của

tác giả vào thành công của tác phẩm Thế giới của Hồng lâu mộng là vô cùng

phong phú, đa dạng bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố không - thời gian đó là: không - thời gian thần thoại, không - thời gian mộng ảo và không - thời gian hiện thực Các lớp không - thời gian này lại được tổ chức theo các dòng mạch của truyện Vì vậy chúng không làm ảnh hưởng đến tính trình tự của tác phẩm

mà ngược lại các lớp không - thời gian vừa đan kết, vừa hỗ trợ lẫn nhau tạo nên trong tác phẩm một kết cấu không - thời gian vô cùng chặt chẽ

Trang 18

Tóm lại, Hồng lâu mộng là một kiệt tác, kế thừa được tư tưởng tốt đẹp của

tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, nhưng lại vượt lên trên tất cả các tác phẩm trước đó

Từ khi ra đời Hồng lâu mộng đã được tán thưởng và truyền tụng rộng rãi, đồng thời

còn kích thích hứng thú nghiên cứu của nhiều thế hệ người Trung Quốc

1.3 Một số vấn đề lí luận

1.3.1 Nhân vật văn học

Trong tác phẩm văn học, con người chính là nhân vật, hay nói cách khác

nhân vật “là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện văn học”

[10, 277] Chính vì vậy, con người tồn tại trong cuộc sống đa dạng và phức tạp bao nhiêu thì nhân vật trong tác phẩm văn học cũng đa dạng và phức tạp bấy nhiêu Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong cuộc sống, thường mang những dấu hiệu để ta dễ nhận

ra Đó có thể là tên gọi: Chí Phèo, Lang Rận, Trương Chi, đến các dấu hiệu tiểu

sử, nghề nghiệp hoặc đặc điểm riêng như: chàng mồ côi, thằng ngốc, thằng bồi tiêm, dự báo trước tương lai của nhân vật cũng như diễn biến câu chuyện

Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng: Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa cũng có thể xuất hiện với tên chung chỉ nghề nghiệp: bác lái đò, chị hàng nước, anh nông dân, xuất hiện với tên chung chỉ giới: anh chỉ nam giới, chị chỉ

nữ giới hoặc xuất hiện với tên gọi theo đơn vị, chức vụ chỉ xã hội: thầy thơ lại, viên quản ngục, ông quan huyện, Nhân vật văn học có thể là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh,

ma quỷ Đây là những con vật nhưng mang nội dung và ý nghĩa của con người Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ con người cụ thể nào, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Ví dụ

nhân dân là nhân vật chính trong Chiến tranh và hòa bình của L Tônxtôi, đồng tiền là nhân vật chính trong Ơgiêni Grăngđê của Banzắc

Nhân vật văn học được miêu tả bằng nhiều hình thức khác nhau Có thể

nhân vật được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có tiểu sử như trong tác phẩm tự sự và kịch Chẳng hạn nhân vật Chí Phèo, Thị Nở của Nam Cao, hồn Trương Ba, da hàng thịt trong tác phẩm cùng tên của Lưu Quang

Trang 19

Vũ Hoặc ngược lại đó là những người thiếu hẳn nét đó, chỉ có giọng điệu, tiếng nói, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình Ví dụ:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử

Quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn ở mỗi dân tộc khác nhau Sống dưới chế độ khác nhau, các quan điểm thẩm mĩ có sự khác nhau Như ở Việt Nam, dưới thời kì phong kiến, người phụ nữ được coi là chuẩn

mực thì phải đủ “Tam tòng tứ đức” còn người đàn ông thì “Tề gia, tri quốc, bình

thiên hạ” nhưng ngày nay một số điều trong đó không còn phù hợp nữa

Thực tiễn sáng tác, phê bình và nghiên cứu đã nêu lên nhiều kiểu và loại nhân vật văn học tương ứng với những dấu hiệu phân loại khác nhau Dựa vào kết cấu, người ta phân loại thành nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ; dựa vào lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn người ta phân loại nhân vật thành nhân vật chính diện, nhân vật phản diện; dựa vào kiểu cấu trúc nhân vật ta có nhân vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng, Dựa vào thể loại người ta phân biệt nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch, Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc phong cách Những nét chung về nhân vật văn học có thể cho phép nêu lên những biểu tượng văn học như: văn

học về “con người bé nhỏ”, về “con người thừa kế”, văn học về “thế hệ mất

mát” Những nhân vật văn học trở nên nổi tiếng thế giới chính là những hình

tượng vĩnh cửu như: Faust, Grăngđê, G Mêlêkhôp,

1.3.2 Hệ thống nhân vật văn học

Các nhân vật trong một tác phẩm nghệ thuật thực sự tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh Chúng hình như đều liên can nhau, không chỉ móc nối nhau bằng tiến trình sự kiện được miêu tả (không phải bao giờ cũng thế) mà suy đến cùng còn bằng logic tư duy nghệ thuật của nhà văn Hệ thống nhân vật bộc lộ nội dung của tác phẩm, nhưng tự nó lại là một trong các phượng diện của kết cấu

Giáo sư G N Pospelov cho rằng: “Lí giải và xây dựng hệ thống nhân vật là một

khâu quan trọng trong việc sáng tạo của nhà văn” [18, 521] và “Hệ thống nhân vật đem lại cho hình thức nghệ thuật của tác phẩm sự thống nhất và tính chỉnh

Trang 20

thể” [18, 522] Chức năng kiến trúc này của nó đặc biệt quan trọng khi các sự

kiện do nhà văn miêu tả không có mối liên hệ nhân quả trực tiếp với nhau Ví dụ

trong tiểu thuyết Anna Karenina có sự rời rạc trong các số phận nhân vật gây khó

hiểu cho người đọc nhưng thực chất tác phẩm của ông xây dựng trên các mối liên

hệ nội tại giữa các nhân vật chứ không phải trên sự quen biết của chúng

Hệ thống nhân vật cũng chính là hệ thống hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học Hệ thống hình tượng là toàn bộ mối quan hệ qua lại của các yếu

tố cụ thể, cảm tính tạo nên hình tượng nghệ thuật mà trung tâm là mối quan hệ của các nhân vật

Nói đến hệ thống nhân vật là nói đến sự tổ chức các quan hệ nhân vật cụ

thể của tác phẩm Các mối quan hệ thường thấy của các nhân vật là “đối lập, đối

chiếu, tương phản, bổ sung” [10, 300]

Sự phản ánh hiện thực trong các mâu thuẫn, xung đột và sự vận động dẫn đến việc tổ chức các nhân vật đối lập Đó là sự đối lập giữa thiện và ác, tốt và xấu, giữa thống trị và bị trị, xâm lược và chống xâm lược, bóc lột và bị bóc lột

Dĩ nhiên, quan hệ đối lập ở đây không phải chỉ là một phạm trù xã hội học Nó gắn liền với sự đối lập của các cá nhân về phương diện địa vị, cá tính, nhân phẩm, chẳng hạn như dũng cảm và hèn nhát, trung thực và gian dối, trung thành

và phản bội, Ta dễ dàng thấy đối lập đó trong các quan hệ giữa Lí Thông và Thạch Sanh, Tấm và Cám, Lục Vân Tiên và Trịnh Hâm, chị Dậu và lũ quan sai,

Mị, A Phủ và bố con thống lí Pá Tra, Đó là sự đối lập về nhân cách, lí tưởng,

lẽ sống Cái khéo của tác giả là làm cho các nhân vật đối lập, thù địch có quan

hệ với nhau, ràng buộc nhau ở phương diện nào đấy, và do đó mà càng thêm đối lập gay gắt Quan hệ đối lập thường loại trừ nhau một mất, một còn và thường là

cơ sở để tạo thành các tuyến nhân vật của tác phẩm

Quan hệ đối chiếu, tương phản làm nổi bật sự đối lập và khác biệt của các nhân vật Đó là thầy trò Đôn Kihôtê và Santro Panxa của Xervantes: một người cao và gầy; một người thấp và béo Một người bị đầu độc bởi những hoang tưởng của tiểu thuyết hiệp sĩ; một người có trí óc lành mạnh Một người có lí tưởng cao xa; một người thực dụng, thiển cận Cả hai thầy trò như hai tấm gương soi chiếu lẫn nhau Sự tương phản làm cho các đối lập, khác biệt hiện ra gay gắt Đối chiếu là một mức độ thấp hơn của tương phản Chẳng hạn đối lập

Trang 21

giữa Thúy Kiều và Thúy Vân Sự vô tình của em càng tôn lên cái đa tình của chị Đối chiếu, tương phản là nguyên tắc kết cấu hết sức phổ biến Nó chẳng những làm nổi bật các nhân vật khác tuyến mà còn làm cho các nhân vật cùng tuyến càng trở nên sắc nét Chẳng hạn tương phản giữa tính khí ba anh em Lưu,

Quan, Trương trong Tam quốc chí diễn nghĩa, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Đường Tam Tạng trong Tây du kí,

Quan hệ bổ sung là quan hệ của các nhân vật cùng loại, nhằm mở rộng phạm vi của một loại hiện tượng Bên cạnh AQ còn có cu Don, Vương râu xồm,

Vú Ngò trong AQ chính truyện Bên cạnh Chí Phèo còn có Binh Chức, Năm

Thọ Anh Dậu, cái Tí, thằng Tửu, thằng Dần đều là nhân vật bổ sung vào gánh nặng của chị Dậu, tạo thành số phận đau khổ của chị Nhân vật bổ sung thường

là nhân vật phụ, làm cho nhân vật chính đậm đà, có bề dày Chúng tuy mang tính chất phụ thuộc, nhưng đồng thời cũng có tác dụng mở rộng đề tài

Hệ thống nhân vật là “sự tổ hợp nhân vật làm sao cho chúng phản ánh

nhau, tác động nhau, soi sáng nhau, để cùng phản ánh đời sống Trong hệ thống hình tƣợng của tác phẩm, nhân vật vừa đóng vai trò xã hội của nó, vừa đóng vai trò văn học Các vai trò này gắn bó với nhau trong quan hệ nội dung và hình thức” [10, 301] Cần kết hợp chúng trong một chỉnh thể nghệ thuật, mới thấy hết

nội dung tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm

Ví dụ: Hệ thống nhân vật tướng lĩnh, hệ thống nhân vật quân sư, hệ thống

nhân vật đạo sĩ, hệ thống nhân vật dân chúng, trong Tam quốc chí diễn nghĩa

của La Quán Trung Hay hệ thống nhân vật anh hùng, hệ thống nhân vật quan

lại, hệ thống nhân vật nhân dân, trong tác phẩm Thủy hử của Thi Nại Am

Tiểu kết

Hồng lâu mộng chính là đứa con tinh thần của Tào Tuyết Cần và đứa con

tinh thần này hiện lên vô cùng hấp dẫn, cuốn hút người đọc bởi rất nhiều lí do Trước tiên là nội dung phản ánh cuộc sống xã hội rộng lớn Bằng tài năng của mình Tào Tuyết Cần đã vẽ lên một bức tranh sống động về một xã hội phong kiến thối nát, đồi trụy, bất công qua bước đường từ thịnh đến suy của gia đình

họ Giả Hơn nữa số lượng nhân vật đông, hơn 400 nhân vật mà không nhân vật nào giống nhân vật nào Đây chính là tài năng của ông trong nghệ thuật xây

dựng hệ thống nhân vật Đồng thời kết cấu trong tác phẩm Hồng lâu mộng vô

Trang 22

cùng chặt chẽ Mỗi tình tiết, chương, đoạn thay đổi, phát triển như một dòng nước uốn lượn, ta chỉ gặp sự lưu loát, chứ không hề thấy gượng gạo, đứt đoạn,

chắp vá Hồng lâu mộng đã kế thừa xuất sắc truyền thống tốt đẹp của tiểu thuyết

cổ điển Trung Quốc, và lại vượt hơn hẳn bất cứ tác phẩm nào trước đó Đặc sắc

của Hồng lâu mộng chủ yếu thể hiện ở sự điêu luyện, tự nhiên và giàu sức biểu

cảm Tổ chức không - thời gian của tác phẩm bằng những nguyên tắc nghệ thuật

cổ điển làm cho tác phẩm trở nên hấp dẫn, sinh động, mang một phong vị, màu sắc riêng của nhân dân Trung Hoa Việc tìm hiểu khái niệm nhân vật và hệ thống nhân vật giúp ta có những cơ sở lí luận chắc chắn, chính xác để phân tích,

đánh giá hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ trong tác phẩm Hồng

lâu mộng một cách khách quan, không mang tính võ đoán

Trang 23

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ VÀ NAM THUỘC TẦNG LỚP CHỦ

TRONG HỒNG LÂU MỘNG

Thế giới nhân vật trong tác phẩm hết sức đa dạng và đông đảo, đặc biệt là

trong những tác phẩm lớn Trong tác phẩm Hồng lâu mộng, số lượng nhân vật

Tào Tuyết Cần xây dựng khá đông đảo nhưng tác giả lại chú ý đến hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ, chẳng hạn như: Giả mẫu, Vương phu nhân, Hình phu nhân,Vương Hy Phượng, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Nguyên Xuân, Nghênh Xuân, Thám xuân, Tích Xuân, Sử Tương Vân, Diệu Ngọc, Xảo Thư (nhân vật nữ thuộc tầng lớp chủ) Giả Xá, Giả Chính, Giả Liễn, Giả Trân, Giả Dung, Giả Bảo Ngọc, Giả Hoàn, Giả Lan, Giả Tường (nhân vật nam thuộc tầng lớp chủ) Đây là những nhân vật mang những nét độc đáo tạo nên nét đặc sắc, nét mới trong việc xây dựng hệ thống nhân vật của tác giả Giữa họ có những điểm chung và riêng hết sức rõ rệt Sau đây chúng tôi sẽ chỉ

ra những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ ở các phương diện: Nguồn gốc xuất thân, ngoại hình, tính cách và tài năng

2.1 Nguồn gốc xuất thân

Các nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ trong Hồng lâu mộng đều

xuất thân danh giá từ những gia đình danh gia vọng tộc, hào môn sáng chói bậc nhất đất Kim Lăng

Người mà chúng tôi nhắc tới đầu tiên là Giả mẫu, chẳng khác gì một thái thượng hoàng Giả mẫu vốn là người họ Sử, tên đầy đủ là Sử Thái Quân (chồng

là Giả Đại Thiện) Họ sử là một trong bốn họ có thế lực nhất ở Kim Lăng Giả mẫu sinh ra hai người con trai Người con trai cả là Giả Xá, tập tước nhất đẳng tướng quân, vợ là Hình phu nhân Giả Liễn là con của Giả Xá và Hình phu nhân Nghênh xuân là con của Giả Xá và vợ lẽ Người con thứ hai của Giả mẫu là Giả Chính, vợ là Vương phu nhân Giả Châu, Nguyên Xuân, Giả Bảo Ngọc là con của Giả Chính và Vương phu nhân Còn Thám Xuân và Giả Hoàn là con của Giả Chính và vợ lẽ (dì Triệu) Giả Trân là con trai của Giả Kính - chỉ thích luyện đan nên Giả Trân tập tước, vợ là Vưu Thị, có con trai là Giả Dung, vợ là Tần Thị Tích Xuân là em ruột của Giả Trân bên phủ Ninh

Trang 24

Vương Hy Phượng vốn là tiểu thư Vương phủ, một trong những đại gia đình bậc nhất đất Kim Lăng, là cháu ruột của Vương phu nhân

Giống Vương Hy Phượng, Tiết Bảo Thoa, Tiết Bàn xuất thân dòng dõi thi

thư Họ Tiết cũng là một họ lớn, giàu có, danh giá ở đất Kim Lăng “gia tài họ

Tiết có hàng trăm vạn, hiện giữ việc lĩnh tiền trong kho mua hàng của nhà vua”

[3, I, 75] Cha Tiết Bảo Thoa, Tiết Bàn mất sớm, mẹ là Tiết phu nhân vốn họ Vương, em ruột của Vương Tử Đằng và là chị em cùng mẹ với Vương phu nhân

Nói về nguồn gốc xuất thân không chỉ Vương Hy Phượng, Tiết Bảo Thoa, Tiết Bàn xuất thân dòng dõi mà trong tác phẩm, Tào Tuyết Cần còn miêu tả nhiều nhân vật xuất thân cành vàng lá ngọc Đó là những cô tiểu thư, những chàng công tử phủ Giả, ngoài ra còn phải kể đến Lâm Đại Ngọc, Lí Hoàn, Sử Tương Vân,

Lâm Đại Ngọc là con gái Lâm Như Hải và Giả Mẫn, cháu gọi Giả mẫu bằng bà ngoại Họ Giả là một trong bốn họ có quyền thế ở đất Kim Lăng (Giả,

Sử, Vương, Tiết) Lâm Như Hải là người Cô Tô, đỗ thám hoa được bổ làm Tuần diêm ngự sử thành Duy Dương

Lí Hoàn vốn là tiểu thư của Lí gia, một nhà danh hoạn đất Kim Lăng, được gả cho Giả Châu, con cả của Giả Chính và Vương phu nhân Giả Châu thi

đỗ tú tài, đến năm hai mươi tuổi thì chết, để lại cậu con trai là Giả Lan Từ đó Lí Hoàn ở góa bụa, chỉ lo giữ tiết hạnh và nuôi con ăn học

Sử Tương Vân là cháu ngoại của Giả mẫu Tuy gia đình không được giàu

có cho lắm song cũng là một trong những gia đình có tiếng tăm đất Kim Lăng

Ngoài việc xuất thân dòng dõi thi thư, cành vàng lá ngọc thì những cô tiểu thư này đều có mối quan hệ mật thiết với phủ Giả Trong hoàn cảnh sống hiện tại, họ lại cùng sống ở một nơi, đó là phủ Giả Phủ Giả bao gồm phủ Vinh và

phủ Ninh là nơi giàu sang phú quý “Con đường bắc lộ bên đông là phủ Ninh

Quốc, bên tây là phủ Vinh Quốc, hai nhà liền nhau, chiếm quá nửa phố Ngoài cửa chính tuy vắng vẻ không có người, nhưng nhìn qua tường, thì thấy trong đó điện đài lầu gác nguy nga, ngay cả vườn hoa đằng sau, cây cối núi non sầm uất, tươi tốt” [3, I, 39]

Các nhân vật thuộc tầng lớp chủ trong Hồng lâu mộng đều xuất thân danh

giá Điều đó tạo cho họ một cái nền, một cơ sở, một điều kiện lí tưởng để phát

Trang 25

triển tính cách trưởng giả, đại diện cho giai cấp phong kiến thời kì bấy giờ, góp phần tạo nên sự khác biệt với những người lao động

Như vậy, nguồn gốc xuất thân giữa các nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ tưởng như hoàn toàn tương đồng đó, lại ẩn chứa sự khác biệt nội tại bên trong, mặc dù là những điểm khác biệt rất nhỏ Những nhân vật nữ thuộc tầng lớp chủ thuộc sáu dòng họ: Giả, Sử, Vương, Tiết, Lí, Lâm Trong đó họ Giả, Sử, Vương có mối liên kết rất mạnh và bền chặt tạo thành một thế lực lớn chi phối các dòng họ khác, đem lại lợi ích cho họ cả về kinh tế lẫn chính trị Nắm quyền lực thực sự trong phủ Giả là họ Sử và họ Vương (Sử Thái Quân, Vương phu nhân, Vương Hy Phượng) Những nhân vật nam thuộc tầng lớp chủ thuộc hai dòng họ: Giả, Tiết và mối liên kết giữa họ chỉ ở mức độ bình thường Mối liên kết này được gắn kết bởi Vương phu nhân (chị cùng mẹ với Tiết phu nhân)

2.2 Ngoại hình

Ngoại hình là hình dáng, vẻ bề ngoài của nhân vật Ngoại hình của nhân

vật cũng góp phần bộc lộ, thể hiện những quá trình nội tâm của nhân vật

Hầu hết các nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ trong tác phẩm Hồng

lâu mộng đều có ngoại hình đẹp

Trước hết, họ giống nhau ở chỗ đều có khuôn mặt, dáng vẻ bề ngoài đẹp,

ưa nhìn Một Lâm Đại Ngọc hiện lên với vẻ đẹp mỏng manh, yếu đuối, thướt

tha: “Đôi lông mày điểm màu khói lạt, dường như cau mà lại không cau, đôi

con mắt chứa chan tình tứ, dường như vui mà lại không vui Má hơi lũm, có vẻ

âu sầu, người hơi mệt, trông lại tha thướt Lệ rớm rưng rưng, hơi ra nhè nhẹ Vẻ thư nhàn, hoa rọi mặt hồ, dáng đi đứng, liễu nghiêng trước gió” [3, I, 62] Đại

Ngọc đẹp đến nỗi một người xinh đẹp, sắc sảo như Phượng Thư cũng phải cất

tiếng khen: “Trong thiên hạ lại có người đẹp như thế này! Bây giờ cháu mới

Trang 26

Không chỉ nhân vật nữ mà cả nhân vật nam thuộc tầng lớp chủ cũng đẹp không kém gì những cô tiểu thư này Tào Tuyết Cần đã vẽ lên một Giả Bảo Ngọc tuyệt đẹp, làm say đắm lòng người Bảo Ngọc hiện lên dưới con mắt của

Đạo Ngọc: “mặt phấn môi son, nhìn liếc có duyên, ăn nói tươi tỉnh, đầu mày

cuối mắt, có một vẻ thiên nhiên, trông như tình tứ” [3, I, 61] Tào Tuyết Cần

tiếp tục miêu tả vẻ đẹp của Bảo Ngọc:“mặt như trăng rằm mùa thu, sắc như

hoa xuân buổi sớm, mái tóc bằng như dao xén, lông mày rõ như mực kẻ, má như cánh hoa đào, mắt như làn sóng gợn Lúc giận cũng như cười, dù trừng mắt vẫn có tình tứ Cổ đeo khánh vàng chạm con ly và một dây ngũ sắc buộc viên ngọc” [3, I, 60]

Tào Tuyết Cần không chỉ miêu tả ngoại hình của Giả Bảo Ngọc mà còn

chú ý đến Giả Dung “một chàng trai trẻ độ mười bảy mười tám, mặt mũi thanh

tô điểm cho vẻ đẹp của những cô tiểu thư, chàng công tử phủ Giả

Tiết Bảo Thoa hiện lên với cách ăn mặc giản dị, không cầu kì dưới con

mắt của Giả Bảo Ngọc: “Bảo Ngọc vén rèm vào thấy Bảo Thoa ngồi trên

giường thêu kim tuyến, đầu vén, tóc đen nhánh, mặc áo lông màu gụ, cái khoác vai màu tím nhạt nền kim ngân tuyến, quần lụa bông lót màu vàng, tất cả đều rung rúc, giở cũ, giở mới, nhìn không có vẻ xa hoa mà lại thêm nhũn nhặn”[3, I,

131] Cách ăn vận của Bảo Thoa không hề kiểu cách nhưng vẫn toát lên một vẻ đẹp hết sức trong sáng

Trang phục của Phượng Thư cũng hết sức độc đáo, cầu kì Dưới con mắt

của Đại Ngọc lần đầu tiên đến phủ Giả, Phượng Thư hiện lên: “Chợt thấy người

hầu đỡ một người từ phòng sau lại Người này trang sức không giống những cô kia, gấm thêu lộng lẫy, trông như một vị thần tiên! Trên đầu, đỡ tóc bằng kim tuyến xâu hạt châu, cài trâm ngũ phượng Triệu Dương, cổ đeo vòng chạm con

ly, mình mặc áo vóc đai hồng chẽn thêu trăm bướm lượn hoa bằng chỉ kim tuyến, ngoài khoác áo màu xanh lót bằng lông chuột bạch viền chỉ ngũ sắc, mặc

Trang 27

quần lụa hoa màu cánh trả” [3, I, 54] Trang phục của Phượng Thư lộng lẫy,

cầu kì Có thể nói, cách phối hợp quần áo, trang sức, cách trang điểm làm cho vẻ đẹp vốn có của cô thêm rực rỡ

Dường như nhân vật nữ thuộc tầng lớp chủ được Tào Tuyết Cần miêu tả khá chi tiết về ngoại hình Còn nhân vật nam chỉ là những nét phác họa, trừ Giả Bảo Ngọc

Giả Bảo Ngọc là nhân vật nam duy nhất được tác giả miêu tả chi tiết về ngoại hình Công tử họ Giả hiện lên với trang phục lộng lẫy, sang trọng, quý

phái: “Xung quanh đầu, tóc ngắn tết thành búi nhỏ buộc dây tơ đỏ, tất cả vấn

lên đỉnh đầu kết thành một búi to đen nhánh như sơn Từ đỉnh đầu trở xuống cài bốn hạt châu lớn, phía dưới lại đeo bát bảo bằng vàng dát ngọc, mình mặc áo hoa màu ngân hồng hơi cũ, cổ đeo vòng vàng, ngọc quý, khóa kỉ danh và bùa hộ thân, mặc quần lụa hoa màu lá thông, đi bít tất gấm viền đen, hài đỏ đế dày” [3,

I, 60], “Đầu đội mũ kim quan dát ngọc, khăn bịt trán có đính hai con rồng bằng

vàng vờn hạt châu, mặc áo chẽn màu hồng thêu trăm con bướm vờn hoa, thắt lưng dây tơ ngũ sắc tết hoa, áo khoác ngoài bằng đoạn hoa màu thạch thanh, đi đôi hài bằng đoạn xanh, đế trắng” [3, I, 60]

Không chỉ Giả Bảo Ngọc được Tào Tuyết Cần chú ý miêu tả trang phục,

mà bên cạnh đó ông còn chú ý đến trang phục của Giả Dung, nhưng đó chỉ là vài

nét phác họa “ăn vận lịch sự, áo cừu mỏng, dát đai ngọc” [3, I, 111]

Trong Chiến tranh và hòa bình của L Tônxtôi Tác giả cũng miêu tả rất nhiều những phụ nữ quý tộc xinh đẹp mà điển hình là Natasa: “Cô bé không

đẹp, nhưng rất lanh lợi, có đôi mắt đẹp, cái miệng hơi rộng, đôi vai xinh xinh để hơi hở trật ra khỏi lồng áo vì vừa chạy nhanh” [19, I, 127] Vẻ đẹp của nàng là

vẻ đẹp hồn nhiên, nhí nhảnh Trang phục của nàng khá đơn giản: “Phía dưới

chiếc quần đăng - ten, đôi chân thon thon đi giầy hở mu” [19, I, 127] Không

chỉ có Natasa, mà Elen cũng hiện lên vô cùng xinh đẹp, nhưng sắc đẹp của nàng

lạnh lùng, không hồn: “Nàng đứng dậy với cái nụ cười không thay đổi của một

giai nhân tuyệt sắc nở trên môi từ khi nàng bước vào phòng khách” [19, I, 75]

Trang phục của nàng cầu kì, không kém gì Phượng Thư: “Trong tiếng sột soạt

khe khẽ của chiếc áo khiêu vũ trắng tinh viền đăng - ten và nhiều bồng, rực rỡ với đôi vai trắng ngần, mớ tóc óng mượt và những hạt kim cương lấp lánh” [19,

Trang 28

I, 75] Ngoài ra, Maria, Lida cũng là những phụ nữ quý tộc vô cùng xinh đẹp Bên cạnh việc miêu tả những phụ nữ quý tộc xinh đẹp, tác giả cũng miêu tả vẻ đẹp của những nhân vật nam thuộc tầng lớp quý tộc: Anđrây Bônkôxki hiện lên

với một vẻ đẹp cao sang “là một thanh niên người tầm thước, rất đẹp trai,

khuôn mặt xương xương, với những đường nét gẫy gọn” [19, I, 79] Bôrix “là một chàng trai cao dong dỏng, tóc vàng, với những đường nét thanh tú đều đặn trên một gương mặt điềm đạm và thanh tú”, còn Nikôlai “là một thanh niên người tầm thước, tóc quăn, nét mặt cởi mở thẳng thắn” [19, I, 129]

Trong Hồng lâu mộng, các nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ đã giàu

có, lại còn có vẻ đẹp thiên phú Trên đây là những điểm giống nhau giữa hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ Tuy nhiên, trong sự tương đồng vẫn ẩn chứa những điểm khác biệt mặc dù rất nhỏ

Các tiểu thư phủ Giả đều xinh đẹp, các công tử họ Giả cũng không kém, nhưng trong số những công tử họ Giả đó vẫn xuất hiện một người có ngoại hình

xấu đó là Giả Hoàn Giả Hoàn hiện lên qua cách nhìn của Giả Chính “diện mạo

ươn hèn, đi đứng thô lỗ” [3, I, 330] Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa hệ

thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ

2.3 Tính cách

Nói đến tính cách là nói đến vấn đề thuộc về bản chất, phần bên trong của con người Tính cách nhân vật càng phong phú, đa dạng thì nhân vật càng hiện lên sinh động, hấp dẫn và chân thực Tào Tuyết Cần đã xây dựng hệ thống nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ hết sức đa dạng và sinh động về mặt tính cách

2.3.1 Những điểm giống nhau về tính cách của hệ thống nhân vật nữ

và nam thuộc tầng lớp chủ

2.3.1.1 Khôn khéo

Có thể khẳng định rằng, khôn ngoan và khéo léo là nét tính cách tích cực

của con người Cụm từ “khôn ngoan và khéo léo” có thể tách rời và cũng có thể gộp lại thành từ “khôn khéo” Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, khôn khéo được lí giải là: “Lời nói khôn khéo và cư xử khôn khéo” [15, 63] Sự khôn

khéo trước hết được thể hiện rõ nét ở các nhân vật nữ thuộc tầng lớp chủ trong phủ Giả Là những hình mẫu của chế độ phong kiến, họ có đầy đủ tứ đức: Công

- dung - ngôn - hạnh, là những người sống cho gia đình và vì gia đình

Trang 29

Trong cách đối xử với mọi người, Phượng Thư hiện lên là một người vô cùng khôn ngoan và khéo léo với cả người trên lẫn người dưới Đối với người trên phải kể đến đó là cách đối xử của Phượng Thư với Giả mẫu và Vương phu nhân

Nơi nào Phượng Thư xuất hiện là nơi đó có tiếng cười, những tiếng cười hết sức sảng khoái và thoải mái Đó là nghệ thuật giao tiếp của Phượng Thư Bởi vậy, Phượng Thư đã lấy được lòng Giả mẫu và Vương phu nhân Lấy được lòng họ cũng coi như Phượng Thư đã nắm được địa vị và quyền lực phủ Giả trong tay

Sự khôn khéo của Hy Phượng không chỉ bằng những lời nói cho Giả mẫu vui lòng mà còn thể hiện qua hành động Phượng Thư luôn có mặt trong từng bữa cơm của Giả mẫu, hơn nữa cô luôn rất nhiệt tình với mọi công việc của Giả mẫu Chẳng hạn như lần đến chơi chùa Thiết Hạm, vì trời nắng ai cũng ngại đi nhưng Phương Thư vẫn theo hầu Giả mẫu, đến trước sắp xếp mọi thứ ổn thỏa và

chu đáo: “Phượng Thư đến từ trước, cùng mang bọn Uyên Ương ra đón Thấy

Giả mẫu xuống kiệu, Phượng Thư vội chạy lại đỡ” [3, I, 420]

Sự khôn khéo còn thể hiện trong việc Phượng Thư rất hay bày trò để làm Giả mẫu vui lòng, tạo nên những trận cười tưởng như vỡ bụng Đó là những lời nói hết sức tếu táo và vui nhộn Trong lần sinh nhật Bảo Thoa, Phượng Thư nói Giả mẫu ki cóp cho Bảo Ngọc và nói đùa rằng chỉ có Bảo Ngọc rước Giả mẫu

lên “Ngũ Đài” thôi à Nghe những câu nói của Phượng Thư, tất cả mọi người ở

đó ai cũng cười ầm lên và làm cho Giả mẫu vui lòng Có thể nói, thiếu nhân vật Phượng Thư thì tác phẩm không thể thành công đến vậy

Chính vì khôn khéo mà Phượng Thư luôn lấy được lòng Giả mẫu và Vương phu nhân Trong tác phẩm không chỉ một lần mà rất nhiều lần Giả mẫu

khen ngợi Phượng Thư trước mặt mọi người: “Con khỉ này, mày khéo lắm!

mang tiền công ra mà lấy lòng người ta… Còn cháu Phượng thì mồm mép bẻo lẻo, trách nào người ta chẳng thương” [3, I, 504] Vương phu nhân cũng khen

Phượng Thư là người hiếu thảo, biết chăm sóc mọi người, đặc biệt là Giả mẫu:

“Đó là canh chị Phượng nấu dâng cụ đấy Chị ấy thành tâm hiếu thảo, không uổng công cụ ngày thường yêu thương chị ấy” [3, II, 32]

Không chỉ quan tâm, chăm sóc bề trên mà kể cả đối với các cô, cậu chủ, Phượng Thư cũng rất tận tình Với Bảo Ngọc là vật báu trong phủ Giả, được Giả mẫu vô cùng yêu thương thì Phượng Thư hết lòng yêu thương,

Trang 30

chăm sóc và lo lắng cho từng việc rất nhỏ: “Chú Bảo không được uống rượu

nguội, cẩn thận đấy kẻo lại run tay, sau không viết được chữ, không giương được cung đâu” [3, I, 202]

Với Đại Ngọc là cháu ngoại Giả mẫu, Phượng Thư cũng yêu thương, chăm sóc, quan tâm Tuy Phượng Thư không giỏi thơ văn nhưng vẫn tham gia vào Hải Đường thi xã

Tiết Bảo Thoa cũng là người vô cùng khôn khéo Sống nhờ trong phủ Giả, nàng mất nhiều thời gian để quan sát, tiếp xúc, nắm bắt toàn bộ gia đình họ Giả Nàng biết rằng trong phủ Giả không thể đối xử ai cũng như ai Cần phải phân biệt ai là người quan trọng, ai là người có thể nói đùa, ai là người không thể nói đùa Nàng luôn thận trọng với Giả mẫu, dè dặt, cảnh giác với Vương phu nhân Nói chung, đối với mọi người nàng luôn giữ được bộ mặt hết sức

tỉnh táo, điền đạm ít lời “Có người cho là Bảo Thoa giả dại, tùy thời đối xử, tự

mình chỉ biết phận mình” [22, 26] Với cách cư xử như vậy, dần dần Bảo Thoa

lấy được lòng tất thảy mọi người trong phủ Giả từ trên xuống dưới và dần nhảy lên địa vị chủ nhà

Lối cư xử thận trọng của Bảo Thoa thể hiện sự khôn khéo trong cách đối

xử với mọi người Trước mặt Giả mẫu, Bảo Thoa cũng ra sức khen ngợi làm cho

Giả mẫu vui lòng: “Tôi đến đây đã mấy năm, để ý xem xét, thì chị Hai dù khéo

đến đâu cũng còn kém cụ nhiều” [3, I, 504] Ngoài việc làm cho Giả mẫu vui,

Bảo Thoa luôn “tỏ ra vẻ nhu mì, đoan trang và thanh nhã, có khả năng làm một

người vợ hiền, người mẹ tốt, người con dâu đảm đang, đủ sức gánh vác trọng trách gia đình” [22, 27] Đã nhiều lần Giả mẫu khen Bảo Thoa trước mặt người

khác và đề cao nàng: “Nói đến các chị em, thì không phải trước mặt dì đây ta

nói lấy lòng đâu; cứ thực mà nói, trong bốn đứa cháu gái nhà này, không ai bằng cháu Bảo cả” [3, I, 506] Chính vì Bảo Thoa khôn khéo trong lời nói và

hành động, cho nên Giả mẫu đã quyết định chọn Bảo Thoa cho Bảo Ngọc mà không phải ai khác

Bảo Thoa không chỉ quan tâm chăm sóc đến bề trên mà cô còn chu đáo với các chị em ngang vai Cô tặng yến xào cho Đại Ngọc, giúp đỡ Sử Tương Vân trong việc mở tiệc thiết đãi mọi người ở Hải Đường thi xã

Trang 31

Đối với người dưới, Bảo Thoa cũng đối xử hòa nhã, rộng rãi và gần gũi với họ Trong buổi sinh nhật Phượng Thư, Giả Liễn lợi dụng lúc vợ tiếp khách gọi vợ Bão Nhị lên tư tình, trong cuộc nói chuyện họ có khen Bình Nhi, Phượng Thư nghe được, ghen và đánh Bình Nhi, làm cô ấm ức Bảo Thoa đã an ủi, khuyên Bình Nhi nên thông cảm cho Phượng Thư Lời khuyên của Bảo Thoa vừa biện minh cho hành động của Phượng Thư vừa an ủi Bình Nhi Hay Bảo Thoa còn nhận Hương Lăng - nàng hầu của Tiết Bàn làm a hoàn của mình khi

cô bị Kim Quế vu khống

Không chỉ các nhân vật nữ trong phủ Giả mới khôn khéo mà cả các nhân vật nam thuộc tầng lớp chủ cũng thế Bằng sự khôn khéo của mình, họ đã đem lại rất nhiều lợi ích cho bản thân Trước tiên phải kể đến Giả Liễn Khi Giả Liễn phát hiện ra Giả Cần gian díu với hai ni cô Thám Hương và Hạc Tiên ở am Thủy Nguyệt, Giả Chính bận việc liền giao cho Giả Liễn tự quyền xử trí Giả Liễn một mặt muốn bênh vực cho Giả Cần nhưng mặt khác lại sợ Giả Chính nghi ngờ Vì thế, hắn đến trình với Vương phu nhân, dầu không hợp với ý chú, mình

cũng không đến nỗi chịu tội: “Hôm qua chú thấy giấy nặc danh, rồi nổi giận, đã

bắt thằng Cần và bọn ni cô, đạo cô về phủ để tra xét Hôm nay chú bận không có thì giờ tra hỏi, nên bảo cháu thưa với thím xử trí ra sao”[3, III, 186] Bằng việc

thoái thác trách nhiệm, Giả Liễn dù có hành động như thế nào thì cũng sẽ không

bị trách móc, vì mọi ý định đó đều là ý định của Vương phu nhân

Ngoài Giả Liễn ra ta còn phải nhắc đến một kẻ khá khôn ngoan và khéo léo đó chính là Giả Vân Tuy hắn cũng mang họ Giả nhưng gia đình Giả Vân nghèo khó Vì thế Giả Vân luôn tìm mọi cách tiếp cận những người có máu mặt trong phủ Giả Giả Vân biết rõ Giả Bảo Ngọc được Giả mẫu vô cùng yêu thương

vì thế hắn tìm mọi cách gặp mặt và còn lễ phép xưng hô, gọi Bảo Ngọc là “chú” xưng “cháu”, mặc dù Bảo Ngọc ít tuổi hơn Giả Vân Rồi Giả Vân quà cáp cho

Phượng Thư vì Giả Vân biết Phượng Thư là người đang quản lí kinh tế trong

phủ Giả Đến Phượng Thư khôn khéo thế cũng phải nói: “Cháu Vân, cháu lại cả

gan giở trò ma mãnh trước mặt ta! Té ra cháu muốn xin việc, mới đem các thứ tới biếu ta Hôm nọ chú cháu vừa mới mắng ta, cháu muốn xin chú ấy một việc”

[3, I, 349] Và kết quả là hắn được Phượng Thư giao cho việc trồng cây ở vườn Đại Quan

Trang 32

Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao là một kẻ vô cùng khôn khéo, khi

Chí Phèo đến vạch mặt ăn vạ, Bá Kiến đã đưa ra một chiến lược hết sức lợi hại Trước tiên, hắn đuổi mấy bà vợ và dân làng về, sau đó mắng con trai và bắt đun nước mời Chí uống Sự khéo léo của hắn được nhân lên khi hắn nhận họ hàng với Chí Điều này làm cho Chí từ tức giận chuyển sang muốn trao đổi

Có thể thấy rằng, các nhân vật nữ và nam thuộc tầng lớp chủ đều khôn khéo Sự khôn khéo này nhằm mục đích lấy lòng bề trên và củng cố địa vị trong phủ Giả Vì vậy, sự khôn khéo của họ đã trở nên giả dối, không thành tâm và đó cũng là bức tường ngăn cách họ trở về với con người thực sự của mình

mặt Kim Xuyến và mắng: “Con đĩ hèn hạ này! Các cậu nhà này đều bị chúng

mày làm hƣ hỏng cả” [3, I, 441] Bà nhẫn tâm đuổi Kim Xuyến về nhà mặc dù

Kim Xuyến hết lời van xin khóc lóc, nhưng Vương phu nhân vì giận quá nhất quyết không cho ở lại Điều này làm cho Kim Xuyến vô cùng xấu hổ, uất ức Không biết phải làm thế nào, Kim Xuyến đã nhảy xuống giếng tự kết liễu cuộc đời mình để chứng minh sự trong sạch

Vương phu nhân vốn là con người hiền lành nhưng lúc nào bà cũng sợ những a hoàn xinh đẹp trong phủ Giả làm cho Giả Bảo Ngọc hư hỏng Khi nghe người khác nói Tình Văn là một a hoàn xinh đẹp nhưng lại có tính trai lơ bà vô cùng lo lắng, sợ Tình Văn dụ dỗ, quyến rũ Giả Bảo Ngọc nên Vương phu nhân

đã có những lời nói hết sức cay nghiệt, lạnh lùng Mặc dù, không biết rõ con người và tính cách Tình Văn ra sao nhưng bà đã buông những lời xúc phạm nhân phẩm và danh dự của một con người Tình Văn đang ốm cộng với việc này

đã làm cho cô a hoàn xấu số qua đời mà vẫn ngậm tủi nuốt hờn

Sự lạnh lùng của Vương phu nhân đã dẫn tới cái chết của hai a hoàn xinh đẹp, giỏi giang Không những thế, bà còn rất hay đay nghiến, mắng chửi a hoàn

Ngày đăng: 01/11/2014, 12:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thi Nại Am (2003), Thủy hử, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủy hử
Tác giả: Thi Nại Am
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
2. Ngô Thừa Ân (2002), Tây du kí, 3 tập, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây du kí
Tác giả: Ngô Thừa Ân
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
3. Tào Tuyết Cần (2002), Hồng lâu mộng, 3 tập, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồng lâu mộng
Tác giả: Tào Tuyết Cần
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 2002
4. Nguyễn Du (2002), Truyện Kiều, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Tác giả: Nguyễn Du
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2002
5. Trần Xuân Đề (1998), Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. Hà Thị Hải (2010), Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Tây Bắc, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần
Tác giả: Hà Thị Hải
Năm: 2010
7. Nguyễn Thị Minh Hậu (2002), Nghệ thuật tổ chức không, thời gian trong Hồng lâu mộng, Luận án thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tổ chức không, thời gian trong Hồng lâu mộng
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hậu
Năm: 2002
8. Trần Thị Thu Hiền (2001), Nghệ thuật xây dựng nhân vật chính diện trong Hồng lâu mộng, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật xây dựng nhân vật chính diện trong Hồng lâu mộng
Tác giả: Trần Thị Thu Hiền
Năm: 2001
9. Nguyễn Thị Liên (2009), Hiện thực suy tàn tất yếu của chế đọ phong kiến Trung Quốc trong tác phẩm Hồng lâu mộng, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Tây Bắc, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực suy tàn tất yếu của chế đọ phong kiến Trung Quốc trong tác phẩm Hồng lâu mộng
Tác giả: Nguyễn Thị Liên
Năm: 2009
10. Phượng Lựu, Trần Đình Sử (2003), Lí luận Văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận Văn học
Tác giả: Phượng Lựu, Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
11. Trần Thị Ngát (2012), Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Thủy hử của Thi Nại Am, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Tây Bắc, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm Thủy hử của Thi Nại Am
Tác giả: Trần Thị Ngát
Năm: 2012
12. Nhiều tác giả (2002), Khái quát lịch sử Văn học Trung Quốc, tập 2, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Khái quát lịch sử Văn học Trung Quốc
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2002
13. Nhiều tác giả (2003), Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, Sở nghiên cứu văn học thuộc viện KHXH Trung Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
14. Nhiều tác giả (2003), Khái quát lịch sử văn học Trung Quốc, 2 tập, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2003
15. Hoàng Phê (2008), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2008
16. Nguyễn Khắc Phi (2002), Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2002
17. Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ (1998), Văn học Trung Quốc, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi, Lương Duy Thứ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
18. Pospelov. G (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, tập 2, NXBGiáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Pospelov. G
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 1985
19. L. Tônxtôi (2004), Chiến tranh và hòa bình, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh và hòa bình
Tác giả: L. Tônxtôi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
20. Khâu Chấn Thành (1994), Lí luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, NXB Khoa học xã hội, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Khâu Chấn Thành
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w