Những tác phẩm của Nguyễn Khải, đặc biệt là truyện ngắn của ông đã phản ánh và bám sát các vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống hàng ngày, những cảnh đời, những số phận thật của cuộc số
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
SA THỊ ĐIỂN
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU SỰ ĐỔI MỚI VỀ PHẠM VI PHẢN ÁNH
HIỆN THỰC TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN
SAU 1978 CỦA NGUYỄN KHẢI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
SA THỊ ĐIỂN
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU SỰ ĐỔI MỚI VỀ PHẠM VI PHẢN ÁNH
HIỆN THỰC TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN
SAU 1978 CỦA NGUYỄN KHẢI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Mai Thị Chín
Sơn La, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN Khóa luận được hoàn thành với sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Mai Thị Chín, giảng viên khoa Ngữ Văn Qua đây, em xin gửi lời cảm
ơn chân thành sâu sắc nhất đến cô, người đã luôn quan tâm, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Nhân dịp khóa luận được công bố, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tổ Văn học Việt Nam, tập thể các thầy, cô khoa Ngữ Văn, phòng Đào tạo, các thầy cô Thư viện cùng cô giáo chủ nhiệm và tập thể lớp K51ĐHSP Ngữ Văn
đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 4 năm 2014
Người thực hiện
Sa Thị Điển
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1 Đôi nét về nhà văn Nguyễn Khải 6
1.1.1 Tiểu sử và con người Nguyễn Khải 6
1.1.1.1.Tiểu sử 6
1.1.1.2 Con người 7
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 8
1.1.3 Quan niệm nghệ thuật 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Khái niệm đề tài 9
1.2.2 Khái niệm hiện thực 9
1.3 Phạm vi, mức độ phản ánh hiện thực trong văn học Việt Nam 10
1.3.1 Phạm vi, mức độ phản ánh hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1975 10
1.3.2 Phạm vi, mức độ phản ánh hiện thực trong văn học Việt Nam sau 1975 12 1.4 Phạm vi phản ánh hiện thực trong truyện ngắn trước năm 1978 của Nguyễn Khải 14
CHƯƠNG 2 SỰ ĐỔI MỚI VỀ PHẠM VI PHẢN ÁNH HIỆN THỰC TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN SAU 1978 CỦA NGUYỄN KHẢI 18
2.1 Nguyễn Khải với việc phản ánh hiện thực các vấn đề đạo đức của xã hội 19 2.1.1 Những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người vẫn luôn được giữ gìn và phát huy 19
2.1.2 Sự lung lay, rạn nứt của một số chuẩn mực đạo đức xã hội trước sự tác động của xã hội 25
2.1.3 Sự thay đổi trong mối quan hệ xã hội 32
2.2 Nguyễn Khải với việc phản ánh hiện thực số phận con người 36
2.2.1 Hiện thực về số phận của những con người trở về sau chiến tranh 36
2.2.2 Hiện thực về số phận con người trong sự hòa nhập với thời cuộc 41
Trang 52.2.3 Hiện thực vế số phận của con người trước những thay đổi của thời cuộc của cơ chế thị trường 49
KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……….56
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chúng tôi chọn đề tài: Bước đầu tìm hiểu sự đổi mới về phạm vi phản
ánh hiện thực trong một số truyện ngắn sau 1978 của Nguyễn Khải vì những
lí do sau đây:
1.1 Trong đội ngũ các nhà văn đương thời, Nguyễn Khải là một cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi cách mạng sau năm 1945 một cây bút viết khỏe, viết đều và có những thành tựu to lớn từ những năm sau hòa bình Dù sáng tác ở thể loại nào: truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, kí, tạp văn… Nguyễn Khải cũng đạt được những thành tựu nhất định và để lại những ấn tượng độc đáo khó quên trong lòng độc giả
Những tác phẩm của Nguyễn Khải, đặc biệt là truyện ngắn của ông đã phản ánh và bám sát các vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống hàng ngày, những cảnh đời, những số phận thật của cuộc sống Tác phẩm của ông là những bức tranh xã hội hết sức sinh động và độc đáo, có cả cái đẹp vĩnh hằng và cũng có cả những cái xấu xí được tái tạo qua ngòi bút của nhà văn Ngòi bút sắc sảo ấy còn phản ánh được những hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống, nhưng đằng sau những trang văn ấy là một cái tôi, một Nguyễn Khải đằm thắm, tha thiết, nặng lòng yêu thương và chia sẻ với những cảnh đời, số phận của con người Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu về Nguyễn Khải là việc làm cần và không bao giờ đủ
1.2 Tìm hiểu những truyện ngắn của Nguyễn Khải trước và sau năm
1978, tôi như được thấy, được trò chuyện, được đối thoại với chính nhà văn về các vấn đề của cuộc đời về những giá trị thức thời và những mối quan hệ giữa đạo đức con người Tôi cũng đã thấy được những câu hỏi mà ông đặt ra: cuộc sống và những cảnh đời éo le, sự hi sinh và vượt lên số phận hay mối quan hệ của đạo đức con người? Vì vậy tôi thực hiện đề tài này với hi vọng tìm ra câu trả lời, những ẩn số để cùng mọi người nhìn nhận và giải đáp những vấn đề trong truyện ngắn của Nguyễn Khải
1.3.Từ nhiều năm nay, nhiều tác phẩm của Nguyễn Khải đã được đưa vào chương trình giáo dục ở các bậc học phổ thông, đại học và dành được sự yêu mến của học sinh, sinh viên Tuy nhiên, những tiết học về nhà văn Nguyễn Khải còn ít Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho người học, học sinh, sinh viên, chưa có điều kiện tìm hiểu mảng truyện ngắn của ông Do đó tôi chọn đề tài này với hi vọng rằng khi đề tài được chỉnh sửa và đưa vào nghiệm thu có thể xem xét như một tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên khoa Văn khi học tập và tìm hiểu những tác phẩm cũng như tìm hiểu nhà văn Nguyễn Khải
Trang 72
Với niềm ngưỡng mộ tài năng và với niềm say mê hứng thú khi đọc những truyện ngắn của ông, tôi thực hiện đề tài này với mong muốn có một cách nhìn, cách hiểu chính xác và đầy đủ hơn về nhà văn Nguyễn Khải Qua đó, mong muốn nhận được những bài học cho mình từ chính cuộc đời và những trang viết của ông
2 Lịch sử vấn đề
Với một sự nhạy bén, xông xáo với các vấn đề nóng bỏng mang tính thời
sự, nhà văn Nguyễn Khải đã gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp văn
chương của mình Những trang viết sắc sảo, đầy “chất văn xuôi” của ông không
những chiếm được cảm tình của độc giả mà còn khơi gợi được hứng thú tranh
luận, trở thành nơi “giao tiếp, đối thoại” của đông đảo bạn đọc Ngay ở những
tác phẩm đầu tay, Nguyễn Khải đã tạo được ấn tượng và sự chú ý của đồng
nghiệp và độc giả Ngay sau khi tác phẩm Xung đột (1959) và Mùa lạc (1966) ra
đời thì ngòi bút của ông càng tỏ ra sung sức hơn, nhất là trong giai đoạn văn học thời kì đổi mới Nguyễn Khải là nhà văn luôn luôn tìm tòi, trăn trở, tìm cách xuất hiện mới và khẳng định mình Tác phẩm của ông ra đời đều phản ánh sự thay đổi, những bước chuyển của xã hội con người Chính vì vậy, ông luôn đóng vai trò của một con người có tầm nhìn xa, sớm đứng về cái mới cái sẽ thắng thế
Vì thế mà sáng tác của ông luôn là đề tài cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, tìm tòi, khám phá
Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh là người có bài viết đầu tiên về Nguyễn Khải,
với Vài ý kiến về tác phẩm của Nguyễn Khải (Nxb Giáo dục, 1964), ông đã có những nhận xét, đánh giá đầy thuyết phục: “Ở Nguyễn Khải có sự kết hợp nhịp
nhàng giữa khiếu quan sát sắc sảo của một nghệ sĩ và sự nhạy bén của một người hoạt động xã hội” [13, 56] Không chỉ có vậy, ông còn phát hiện
Nguyễn Khải là một nhà văn có phong cách hiện thực tỉnh táo Tuy nhiên bài viết mới chỉ đưa ra những nhận định chung về tác phẩm của Nguyễn Khải chưa đề cập đến việc đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong truyện ngắn của Nguyễn Khải
Trong cuốn Nhà văn Việt Nam (1945-1975), tập 2 (Nxb Đại học và THCN, 1983), nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ khẳng định rằng: “Nguyễn Khải
là một cây bút trí tuệ, luôn luôn suy nghĩ sâu lắng về những vấn đề mà cuộc sống đặt ra và cố gắng tìm một lời giải đáp thuyết phục theo cách riêng của mình” [13, 35]
phong cách nghê ̣ thuật Nguyễn Khải (Nxb Giáo dục, 1990) đã nhận định rằng :
“Từ lâu, Nguyễn Khải được chú ý vì cái độc đáo của cá tính, sáng tạo Nhà văn
Trang 83
sớm định cho mình một phong cách riêng và ngày càng tỏ rõ bản lĩnh nghệ thuật Ở Nguyễn Khải, người ta thấy nổi bật lên khuynh hướng văn xuôi hiện thực tỉnh táo giàu yếu tố chính luận và tính thời sự” [13, 86] Đồng thời ông
cũng phát hiện: “Sáng tác của Nguyễn Khải là loại sáng tác mang luận đề và
tính chính luận rõ nét Cái tạo nên sự hấp dẫn người đọc chính là sức thuyết phục của lí lẽ” [13, 89] Bài viết đã đề cập đến đặc điểm phong cách nghệ thuật
của Nguyễn Khải nhưng về sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong
truyện ngắn của Nguyễn Khải thì chưa có sự đề cập và nghiên cứu trực tiếp
Tác giả Bích Thu khi nghiên cứu về : Giọng điệu trần thuật trong truyện
ngắn Nguyễn Khải những năm tám mươi đến nay (Nxb Giáo dục, 1997) đã nhận
phần đáng kể do nghệ thuật kể chuyện, trong đó giọng điệu trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn trong các sáng tác tự sự của nhà văn” [13, 122] Tuy nhiên, đó chỉ là những khía cạnh riêng về giọng
điệu trần thuật, chưa có sự nghiên cứu về sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong truyện ngắn của Nguyễn Khải
Khi đọc “truyện ngắn và tạp văn ” của Nguyễn Khải (Báo Nhân Dân, ngày 27-2-1999) nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn đã khẳng định: “Văn của
Nguyễn Khải không màu mè, không thiên về tả trời, mây, non nước Bắt đầu vào trang viết là gặp ngay nhân vật, biến cố, sự kiện; theo đó là sự giăng mắc những suy tưởng, kí ức, cảnh ngộ, những lẽ đời, lòng mình và lòng người Văn ông vì thế giàu chất chiêm nghiệm, sự lịch lãm, trải đời; càng nhiều hơn là những toan tính giả định, lật đi lật lại vấn đề, khiến người đọc cuốn hút theo biết bao những trăn trở, suy tư và số phận nhân vật” [13, 383] Tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã đi
sâu vào tìm hiểu cách thể hiện trong văn chương của Nguyễn Khải, nhưng chưa quan tâm đến sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong truyện ngắn của Nguyễn Khải
Trong bài viết Thế giới nhân vật Nguyễn Khải trong cảm hứng nghiên cứu
phân tích (Nxb Giáo dục, 2001) tác giả Đào Thủy Nguyên đã nhận xét: “Coi con người là trung tâm của sự khám phá và nghiền ngẫm hiện thực, Nguyễn Khải ít xây dựng loại nhân vật tính cách mà thường xây dựng loại nhân vật mang vấn đề, nhân vật tư tưởng Nhà văn đặt vấn đề qua nhân vật, lấy nhân vật làm nơi thể hiện các quan niệm nghệ thuật và các ý đồ tư tưởng của mình” [13,
149] Như vậy, trong bài viết này tác giả đã đề cập đến thế giới nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Khải nhưng chưa tìm hiểu về sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong truyện ngắn của Nguyễn Khải
Trang 94
Trên đây là các nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học về nhà văn Nguyễn Khải Ông chính là nhà văn của các “vấn đề văn học”,
những vấn đề của hôm nay, được Nguyễn Khải bám sát và đưa những vấn đề ấy vào trong những sáng tác của mình, nhất là trong mảng truyện ngắn chứng tỏ ông là người nhạy bén, tinh tế, có sự tìm tòi khám phá mới mẻ Chính phong cách riêng ấy đã giúp nhà văn luôn bắt kịp mọi biến đổi của văn học cũng như
xã hội Tuy nhiên, các ý kiến trên đều là những nhận định chung, xuất phát từ toàn bộ sáng tác của Nguyễn Khải Tuy đã có những công trình nghiên cứu với quy mô nhỏ, song cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách chuyên sâu về đề tài đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong truyện ngắn sau năm1978 của Nguyễn Khải Chính vì vậy, tôi mạnh dạn tiến
hành nghiên cứu đề tài: Bước đầu tìm hiểu sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện
thực trong một số truyện ngắn sau năm 1978 của Nguyễn Khải để góp phần hiểu
một cách đầy đủ và toàn diện hơn về sáng tác của Nguyễn Khải Từ đó giúp người đọc hiểu một cách sâu sắc hơn về những quan niệm và những suy ngẫm
về cuộc đời trong sáng tác của ông, nhất là mảng truyện ngắn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng
Nghiên cứu sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong một số
truyện ngắn sau 1978 của Nguyễn Khải
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 18 truyện ngắn trong tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải
4 Giả thuyết khoa học
Tìm hiểu và đánh giá thành công sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong một số truyện ngắn sau 1978 của Nguyễn Khải
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích: Phân tích các nguồn tư liệu đã có và các dẫn chứng nhằm làm nổi bật được sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong
mô ̣t số truyện ngắn sau năm 1978 của Nguyễn Khải
5.2 Phương pháp so sánh: So sánh về phạm vi phản ánh hiện thực trong truyện ngắn trước và sau năm 1978 của Nguyễn Khải
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài mang lại cái nhìn đầy đủ hơn về sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực của Nguyễn Khải qua một số truyện ngắn
Trang 105
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, cấu trúc của đề tài gồm 2 chương
cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Sự đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong một số truyện ngắn sau năm 1978 của Nguyễn Khải
Trang 116
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Đôi nét về nhà văn Nguyễn Khải
1.1.1 Tiểu sử và con người Nguyễn Khải
1.1.1.1 Tiểu sử
Nguyễn Khải tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải, ông sinh ngày 3 tháng
12 năm 1930, tại Hà Nội, trong một gia đình viên chức Quê nội Nguyễn Khải ở phố Hàng Than, thành phố Nam Định Quê ngoại ở xã Hiếu Nam, huyện Tiên
Lữ, tỉnh Hưng Yên Thuở nhỏ Nguyễn Khải sống ở quê ngoại nên có nhiều thời gian học ở Hải Phòng và Hà Nội
Vừa học xong năm thứ 3 (tương đương với lớp 8 bây giờ) ở một trường trung học ở Hà Nội thì kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nguyễn Khải rời thành phố cùng mẹ và em tản cư về quê ngoại Năm 16 tuổi (1946) Nguyễn Khải tham gia kháng chiến ở Hưng Yên Năm 1948, Nguyễn Khải làm y tá đồng thời có
viết bài cho tờ Dân quân Hưng Yên Nhờ vậy, 1949 Nguyễn Khải được điều lên
làm phóng viên cho tờ báo này Cuối 1950, Nguyễn Khải đi dự lớp nghiên cứu văn nghệ tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, do hội văn nghệ Trung ương và Chi hội văn nghệ Khu Bốn phối hợp tổ chức Ở đây ông đã được làm quen với nhà văn Nguyễn Tuân Tháng 5 năm 1951, Nguyễn Khải lại được cử đi dự trại viết của hai Chi hội Văn nghệ Liên khu ba và Liên khu bốn, tổ chức ở Kim Tân, Thanh Hóa Lần này ông được gặp nhà văn Nam Cao và nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Năm 1955, Tổng Cục Chính trị cử Nguyễn Khải tham gia trại viết truyện
anh hùng Năm 1956, Nguyễn Khải chuyển hẳn công tác về tờ Sinh hoạt văn
nghệ của Tổng cục Chính trị (từ 1957 là tạp chí Văn nghệ quân đội) Liên tục
trong hai năm 1957- 1958 ông lần lượt đưa in các tập trong phần đầu của tiểu
thuyết Xung đột Với tác phẩm này, Nguyễn Khải “ bắt đầu ý thức về chức năng
người cầm bút và thật sự bước vào con đường viết truyện”
Nguyễn Khải là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957) Từ Đại hội lần thứ II (1963) cho đến hai kì Đại hội III (1983) và Đại hội IV (1989) tiếp theo, ông là Uỷ viên Ban chấp hành rồi Uỷ viên Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam Năm 1985 và năm 1988 Nguyễn Khải được nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam Năm 2000, ông nhận giải thưởng văn học Asean Ngày 1 tháng 9 năm 2000, Nguyễn Khải được Chủ tịch nước kí quyết định phong tặng
Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt II) cho chùm sáng tác: Gặp gỡ cuối năm, Xung
đột, Cha và con và…
Ông mất ngày 15 tháng 1 năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh, thọ 78 tuổi
Trang 127
1.1.1.2 Con người
Nguyễn Khải một nhà văn chan chứa tình người sâu sắc, ngay từ thời niên thiếu, Nguyễn Khải sống ở vùng quê đồng bằng với lớp người nghèo đói, lúc nào cũng thấp thỏm lo âu về miếng cơm manh áo, phải chịu đựng nhiều nỗi đắng cay,
bị khinh rẻ, bị hắt hủi trong việc kiếm sống hàng ngày Việc đi làm công ở thành phố khi mới lớn lên, tất cả đã sớm tạo cho Nguyễn Khải một cái nhìn không đơn giản, dễ dãi về cuộc đời Những nỗi éo le, uẩn khúc, những sự giả tạo, bất công trong gia đình và dòng họ, mà Nguyễn Khải là nạn nhân trực tiếp cũng nhen lên ở tuổi ấu thơ của Nguyễn Khải một mối ác cảm gần như là sự căm ghét đối với hạng người có của và quyền thế Tuy bố của Nguyễn Khải là quan lại, nhưng Nguyễn Khải là con vợ lẽ nên bị khinh rẻ và hắt hủi, thậm chí gần như là từ bỏ, do quan niệm vợ lẽ con thêm và do tính cách lạnh lùng của người cha Không được sống trong sự chăm sóc đầy đủ của tình cảm gia đình, vì thế từ nhỏ Nguyễn Khải đã phải đối mặt với cuộc mưu sinh và sớm có ý thức về tư cách làm người Khi được tiếp xúc với những cái mới mẻ của cách mạng, con người trẻ tuổi đó đã tự nguyện đứng trong đội ngũ với tất cả tấm lòng sôi nổi, nhiệt thành đóng góp sức mình cho kháng chiến Sau này khi đến với nghề văn, Nguyễn Khải là nhà văn sớm có ý thức dùng văn học để phục vụ sự nghiệp cách mạng, góp phần làm cho cuộc sống của con người ngày một tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn Những sáng tác của ông thẫm đấm tình người sâu sắc, ở đó ông đã chia sẻ cảm thông với những con người, kiếp người bất hạnh gặp khó khăn trước cuộc sống, thời cuộc
Mặc dù không sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn học, nhưng Nguyễn Khải đã sớm có hứng thú với nghề viết văn Trước khi bắt tay vào nghề văn thì Nguyễn Khải đã có khả năng viết báo, ông được đi dự lớp tập huấn ngắn hạn Từ đó Nguyễn Khải nuôi dưỡng lòng say mê và ham muốn sáng tác
Nguyễn Khải là người thông minh hoạt bát, cây bút thời sự luôn xông xáo, năng nổ, nhạy bén, giàu sức chiến đấu Ông theo dõi kịp thời những biến chuyển của lịch sử cách mạng, nắm bắt ngay những dấu vết nóng bỏng của sự kiện, đi sát với diễn biến tư tưởng con người trong từng thời điểm Tác phẩm của Nguyễn Khải luôn luôn nhằm vào những sự thực lớn lao của đất nước ngày hôm nay: cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội Nguyễn Khải luôn hướng thẳng vào đời sống hiện tại, vào vấn đề hiện tại Ông luôn lựa chọn những đề tài là hiện thực đời sống hôm nay, là vấn đề tư tưởng hay tâm trạng của con người hôm nay Trung tâm chú ý của Nguyễn Khải
là cái đang vận động, đang diễn biến
Nguyễn Khải là con người mang bản chất chiến sĩ rõ nét Ông là người có trách nhiệm với cuộc sống và nghề viết văn của mình Từ khi nhập ngũ với tư
Trang 138
cách người lính, lúc nào Nguyễn Khải cũng hết sức xông xáo và giữ vững cây bút như cây súng Cho đến nay Nguyễn Khải được đánh giá là: một cây bút viết khỏe, viết đều… Tuy ông chưa có tác phẩm nào thật lớn về mặt khối lượng nhưng tác phẩm nào của ông cũng độc đáo, cũng gây được ít nhiều tiếng vang trong dư luận Ông được đánh giá là một nhà văn dám nói thật, với cả mặt phải lẫn mặt trái, cả sự đẹp đẽ hay cả sự xấu xí của nó
Bằng tài quan sát và trí thông minh sắc sảo, Nguyễn Khải đã khám phá những vấn đề cơ bản của thời đại; những kiểu nhân vật phong phú, đa dạng và hấp dẫn; những con người tiên tiến giàu tình cảm và trách nhiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Nguyễn Khải bắt tay vào sự nghiệp văn chương từ năm 1950 Năm 1951 ông được tặng giải khuyến khích về văn xuôi trong cuộc thi văn nghệ 1951-
1952 với truyện Xây dựng, và bắt đầu được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột (phần 1-
1957, phần 2- 1962) Nguyễn Khải có nhiều tác phẩm viết về nông thôn trong qua
trình xây dựng cuộc sống mới như: Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960), Một chặng
đường (truyện dài, 1962), Tầm nhìn xa (truyện, 1963), Người trở về (tập truyện
vừa, 1964), Chủ tịch huyện (truyện, 1972), những tác phẩm viết về bộ đội trong những năm chống Mĩ như: Họ sống và chiến đấu (kí sự, 1966), Hòa vang (bút kí, 1967), Đường trong mây (tiểu thuyết, 1970), Ra đảo (tiểu thuyết, 1970), Chiến sĩ (tiểu thuyết, 1973), Tháng ba ở Tây Nguyên (kí sự, 1976)
Từ sau năm 1975 sáng tác của Nguyễn Khải đề cập đến nhiều vấn đề xã hội chính trị có tính thời sự và đặc biệt quan tâm đến tính cách, tư tưởng, tinh thần của con người bấy giờ trước những biến động phức tạp của cuộc sống Tiêu
biểu là các tiểu thuyết: Cha và con và… (1979), Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời
gian của người (1985) và các tập truyện ngắn: Một người Hà Nội (1990), Một thời gió bụi (1993), Hà Nội trong mắt tôi (1995), Sống ở đời (2002)… Năm
2000 ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh
1.1.3 Quan niệm nghệ thuật
Mỗi một nhà văn đều có một quan niệm nghệ thuật riêng đó là dấu ấn của nhà văn và Nguyễn Khải cũng vậy! Nguyễn Khải thuộc số ít nhà văn sớm xác định cho mình một quan niệm độc đáo và riêng biệt về nghệ thuật, về vai trò của văn học và trách nhiệm của nhà văn Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Khải hết sức tiến bộ và được hoàn thiện dần qua các thời kì, qua những trăn trở của nhà văn về nghề văn chương của mình
- Năm 1957 tại Hội nghị thành lập Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Khải
đã phát biểu về quan niệm nghệ thuật của mình như sau: “Tôi quan niệm nghệ
Trang 149
thuật đơn giản như sau: Là khoa học thể hiện lòng người, là lịch sử của lòng người… sự thực chỉ có thể viết về những tấm lòng những tâm trạng của các giai cấp trong xã hội với mọi sự tinh vi và ngoắt ngoéo có thật của nó như thế mới là sự chân thật theo quan niệm của tôi” Với quan niệm này đã chứng tỏ
ngay từ khi cầm bút Nguyễn Khải đã ý thức được đối tượng chính của văn học
là con người
- Những năm sau này vẫn giữ niềm tin Văn học là nhân học, nhưng Nguyễn Khải lại không ngừng bổ sung, điều chỉnh bằng nhiều nhận thức và trải nghiệm để không tự trói buộc mình trong những khuôn thước chật hẹp Vì thế
Nguyễn Khải đã quan niệm: “Chẳng có thứ nghệ thuật nào không có chính trị,
chính trị là mục đích và nội dung của nghệ thuật”
- Mấy chục năm sau ông lại đưa ra điều chiêm nghiệm: “Văn chương nói
cho cùng là những khắc khoải, mơ tưởng về một giấc mơ chưa thành, nhưng vẫn cho phép cả người đọc lẫn người viết đắm đuối trong hi vọng, trong mong đợi
để cuộc đời thêm hương vị thêm ánh sáng Nó là tôn giáo của cái Đẹp, cái đẹp phải với tới, có thể mãi mãi không tới”
Vậy là ngay từ những ngày đầu cầm bút, Nguyễn Khải đã ý thức được nhiệm vụ của người cầm bút và luôn luôn khám phá, tìm tòi để bổ sung cho quan niệm nghệ thuật của mình một cách linh hoạt để đáp ứng được yêu cầu của cuộc
sống mới Vì vậy, Nguyễn Khải đã từng nói: “Tôi tuyệt đối không viết theo thời và
cũng không viết theo những yêu cầu không thể chấp nhận được của thị trường sách báo” Đó là ý thức của một người có trách nhiệm với ngòi bút của mình Đó cũng
là điều mà không phải bất cứ nhà văn nào cũng làm được, mà chỉ có những nhà văn thực sự có tâm huyết, lương tâm với ngòi bút của mình mới làm được
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Khóa luận của chúng tôi tập trung nghiên cứu về: Bước đầu tìm hiểu sự
đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực trong một số truyện ngắn sau năm 1978 của Nguyễn Khải Để triển khai nội dung của khóa luận, chúng tôi xin dẫn ra
một số khái niệm cơ bản sau đây:
1.2.1 Khái niệm đề tài
Đề tài là khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học, đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm
1.2.2 Khái niệm hiện thực
Hiện thực là sự thực khách quan, cơ sở của tư tưởng và hành động Hiện thực chủ trương lấy đề tài trong cuộc sống hằng ngày xây dựng nhân vật hành động theo những môi trường có thực được miêu tả bằng lời văn khách quan
Trang 1510
Hiện thực tức là sự gắn bó với đời sống, nhà văn hiện thực không phải là một người ghi chép thụ động dửng dưng, mà với ý thức chủ động khám phá Điều quan trọng nhất là sự trung thành, chính xác trong nhận thức tái hiện bản chất cuộc sống tầm quan trọng của những tư tưởng mà nhà văn muốn thể hiện
1.3 Phạm vi, mức độ phản ánh hiện thực trong văn học Việt Nam
1.3.1 Phạm vi, mức độ phản ánh hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1975
Từ 1945 đến 1975, trên đất nước ta diễn ra nhiều biến cố lịch sử trọng đại, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã giật tung xiềng xích hơn tám mươi năm thống trị của thực dân Pháp và tiếp đó là phát xít Nhật; đồng thời lật đổ ngai vàng mục ruỗng của chế độ phong kiến hàng nghìn năm; giành chính quyền về tay nhân dân; thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; mở ra một trang mới vẻ vang trong lịch sử Tháng 7 năm 1954, hiệp định Giơnevơ được kí kết; hòa bình được lập lại trên đất nước ta nhưng cả dân tộc lại phải tiến hành cuộc chiến đấu chống
đế quốc Mĩ xâm lược; thắng lợi trọn vẹn ngày 30 tháng 4 năm 1975; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Những biến cố lịch sử trọng đại ấy
đã tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người Văn học Việt Nam từ sau cách mạng táng Tám 1945 đến 1975 phát triển gắn liền với những bước đi của lịch sử và hướng vào thể hiện, phản ánh hiện thực của đất nước, hiện thực của cách mạng- kháng chiến và hiện thực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Về phạm vi phản ánh, văn học ở giai đoạn trước năm 1975 tập trung phản ánh hiện thực của đất nước, tất cả mọi nhà văn, nhà thơ đều gặp nhau ở một cảm hứng lớn bao trùm, là niềm vui sướng tràn ngập, niềm tự hào và niềm yêu mến tha thiết với đất nước, với cuộc đời mới, văn học đã ghi lại được ít nhiều hình ảnh và không khí hết sức tưng bừng, say sưa của những ngày đầu cách mạng, hình ảnh những đoàn quân Nam tiến và cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ xâm lược
Văn học ở giai đoạn này còn phản ánh hiện thực của cách mạng kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ
Văn học tập trung tái hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân để giữ đất, giữ làng… Cuộc kháng chiến
chống Pháp được tái hiện trong nhiều cuốn tiểu thuyết như Đất nước đứng lên
của Nguyên Ngọc, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Một chuyện chép ở bệnh
viện của Bùi Đức Ái… Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc) là câu chuyện kể về
cuộc đấu tranh giữ đất, giữ làng của dân làng Kông Hoa, một buôn làng người Ba
Trang 1611
Na ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Pháp với nhân vật chính là anh hùng Núp, một người dũng cảm, kiên cường, thông minh, mưu trí, gan góc… đã đánh thắng được kẻ thù của mình đó là bọn xâm lược thực dân Pháp Văn học đã phản ánh được đầy đủ và khái quát nhất về hiện thực cuộc đấu tranh gian khổ và quyết liệt của quân và dân ta chống lại kẻ xâm lược thực dân Pháp
Năm 1964 cả nước ta lại bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ với nhiều thử thách vô cùng ác liệt, gay gắt Hướng vào cuộc kháng chiến chống Mĩ văn học đã có sự chuyển biến mạnh mẽ và thống nhất cao độ, văn học tập trung thể hiện hình tượng Tổ quốc, nhân dân và người anh hùng Được thể hiện ở các tác
phẩm Hòn đất (Anh Đức), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu)…Hòn đất
(Anh Đức) là câu chuyện viết về cuộc chiến đấu của dân và quân huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang chống lại quân đội Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kì trong giai đoạn chiến tranh đặc biệt
Tác phẩm Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu) đã dựng lên khung
cảnh rộng lớn và hào hùng của hành trình chiến đấu bảo vệ đất nước của các binh đoàn chủ lực, tập trung khắc họa người lính, cách mạng trên nhiều bình diện, nhiều nhân vật thuộc các thế hệ khác nhau, đến từ nhiều vùng đất khác nhau nhưng họ đều mang một phẩm chất chung là lòng yêu nước và có ý thức
trách nhiệm với Tổ quốc
Nhìn chung văn học thời kì kháng chiến chống Pháp, Mĩ đã làm tốt nhiệm
vụ của một nền văn học, cổ vũ chiến đấu, tập trung phản ánh những mảng hiện thực lớn trong cuộc cách mạng của dân tộc
Văn học giai đoạn này không chỉ phản ánh hiện thực về đất nước, hiện thực cách mạng- kháng chiến mà còn phản ánh một mảng hiện thực lớn đó là hiện thực về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Bước sang một chặng đường mới, nền văn học cũng tập trung đi vào thể hiện những hiện thực mới bao quát đời sống của cuộc sống mới ở miền Bắc, khẳng định cuộc sống mới, con người mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tư tưởng và cảm hứng chung của
những tác phẩm tập trung thể hiện Với những tác phẩm như Mùa lạc (Nguyễn
Khải) nói về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cụ thể là nông trường Điện Biên và sự đổi đời của người dân nhờ cách mạng Với nhân vật
Đào, nhờ cách mạng đã đem lại cho chị niềm vui, sự hạnh phúc Tập Truyện Tây
Bắc (Tô Hoài) nói lên cuộc sống hồi sinh của con người nhờ cách mạng, tiêu
biểu với tác phẩm Vợ chồng A Phủ…
Văn học giai đoạn này đã có nhiều thành tựu lớn nhưng bên cạnh những thành tựu ấy thì mức độ phản ánh còn có nhiều hạn chế Phản ánh cuộc sống của con người còn manh tính phiến diện, xuôi chiều, chỉ phản ánh những mặt tốt,
Trang 1712
mặt tích cực, chưa phản ánh những mặt trái, mặt tồn tại của con người và xã hội Trong tác phẩm Hòn đất của Anh Đức, hầu hết nhân vật trong truyện đều là nhân vật tốt như : má Sáu, chị Sứ, út Quyên, Ngạn, anh Hai Thép, anh Tám Chấn, Năm Nhớ…chỉ có nhân vật thằng Xăm là người độc ác xấu xa, nhưng nhân vật này được xây dựng lên cũng nhằm tôn lên vẻ đẹp của các nhân vật tốt khác
Kế thừa những truyền thống và kinh nghiệm nghệ thuật của một nền văn học
có lịch sử lâu đời, văn học Việt Nam trước 1975 đã xứng đáng với sứ mệnh cao cả của một nền văn học cách mạng, tập trung phản ánh được các biến cố lịch sử trọng đại, đời sống cộng đồng của đất nước
1.3.2 Phạm vi, mức độ phản ánh hiện thực trong văn học Việt Nam sau 1975
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giải phóng miền Nam , thống nhất đất nước của dân tộc ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn Sự kiện ấy mở ra một thời kì mới của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng đem đến một giai đoạn mới trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam Từ chiến
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ mối quan hệ về chính trị, kinh tế hầu như chỉ khép kín trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, đến chủ trương mở cửa, hội hập toàn diện với thế giới, những điều đó tất yếu kéo theo nhiều thay đổi về mặt xã hội
Từ năm 1975 đến nay nền văn học Việt Nam đã trải qua hai chặng đường phát triển, qua mỗi chặng đường nền văn học đều có sự biến đổi nhưng vẫn là sự tiếp nối có tính liên tục
Văn học trong 10 năm đầu sau giải phóng, đây là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học trong chiến tranh sang nền văn học của thời kì hậu chiến Về
cơ bản ở giai đoạn này văn học vẫn tiếp tục khai thác mảng hiện thực lớn của đất nước, cách mạng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng cách viết của các nhà văn ở giai đoạn này khác với cách viết của các nhà văn ở giai đoạn trước
1975 Bước sang những năm đầu thập kỉ 80 tình hình kinh tế-xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn chồng chất và rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng Nền văn học cũng chững lại và không ít người viết lâm vào tình trạng bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác Ý thức nghệ thuật của số đông người chưa chuyển biến kịp với thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kì trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc Nhưng cũng chính trong những năm này đã diễn
ra sự vận động ở chiều sâu của đời sống văn học, với những trăn trở vật vã, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở một số nhà văn có mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc
Trang 1813
sống và có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình Đó là những người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, mà người “mở đường tinh anh và tài năng” đã đi được xa nhất ở chặng đầu này là Nguyễn Minh Châu Góp phần tạo nên chuyển động theo hướng mới của văn học trong những năm này còn phải kể đến những tác giả như: Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Trọng
Oánh, Chu Lai, Nguyễn Chí Huân…với các tác phẩm tiêu biểu như: Năm 1975
họ đã sống như thế (Nguyễn Chí Huân), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nắng đồng bằng (Chu Lai), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vườn
(Ma Văn Kháng)…Truyện Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng) lấy bối
cảnh một gia đình truyền thống vào những năm 80 của thế kỉ XX, khi đất nước bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ sau chiến tranh, gây ra nhiều thay đổi tốt có, xấu có; truyện đã phản ánh chân thực những biến động trong xã hội thời bấy giờ và những ảnh hưởng to lớn của nó tới gia đình-tế bào của xã hội
Những tìm tòi và thành công bước đầu ấy đã mở ra cho văn học những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là hiện thực đời thường với những vấn đề đạo đức, thế sự đang tồn tại nổi cộm, đòi hỏi văn học phải nhận thức, khám phá Những tác phẩm ấy giúp thu hẹp bớt khoảng cách khá xa giữa văn học và đời sống, tác phẩm và công chúng, đồng thời cũng là sự chuẩn bị tích
cực cho chuyển biến mạnh mẽ của văn học khi bước vào thời kì đổi mới
Văn học trong thời kì đổi mới, ngoài những hiện thực mà nền văn học ở giai đoạn trước phản ánh thì nền văn học trong thời kì đổi mới đã mở rộng về đề tài và phạm vi, mức độ phản ánh.Trong chiến tranh giữ nước và giải phóng dân tộc, sức mạnh của tinh thần yêu nước và ý thức cộng đồng đã được phát huy cao
độ, cuộc sống cá nhân, riêng tư của mỗi người phải thu hẹp lại nhường chỗ cho đời sống của tập thể, của cả dân tộc, con người được nhìn nhận, đánh giá trước hết và chủ yếu ở tư cách con người của dân tộc, của nhân dân, của cách mạng Nay hòa bình trở lại, con người trở về với cuộc sống bình thường, văn học không chỉ tập trung phản ánh hiện thực của đất nước, cách mạng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà còn phản ánh đời sống cá nhân con người với cái đời thường phồn tạp, muôn vẻ lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi hài…, ý thức cá nhân với mọi nhu cầu của con người như một cá thể, một thực thể sống đã được thức tỉnh trở lại Các giá trị về xã hội, đạo đức, nhân cách… trước đây bền vững là thế thì lúc này nhiều điều đã không còn thích hợp và vì thế đã lung lay, rạn nứt
Trong truyện Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, đây là câu chuyện đau xót
về những tình cảm gia đình đã mất đi trong cơn lốc của thời mở cửa, một vị tướng rời quân ngũ trở về với gia đình và hoàn toàn lạc lõng trong một đời sống đang thay đổi với những giá trị bị đảo lộn hàng ngày Tình cảnh gia đình ông
Trang 1914
Thuấn dường như rất phổ biến trong xã hội Việt Nam lúc giao thời khi đồng tiền len lỏi và chi phối trong mọi mối quan hệ Ông Thuấn như người xa lạ trong chính ngôi nhà của mình trước cô con dâu sắc sảo, người con trai nhu nhược và một bà vợ lẩn thẩn
Như trong tác phẩm Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn Minh Châu,
nhân vật Toàn hiện lên có cả những điểm tốt lẫn điểm xấu, điểm tốt là tận tụy sẵn sàng, có trách nhiệm với công việc, điểm xấu là ghen tị với những người có thành tích cao hơn mình, xu nịnh cấp trên để thăng tiến, gài mìn giết chết bạn, anh ta cảm thấy xấu hổ vì mẹ và đối xử bất hiếu với mẹ của mình… Nhân vật
Toàn được xây dựng lên với sự đan xen giữa cái tốt và cái xấu
Phạm vi hiện thực sau 1975 không chỉ là hiện thực của đất nước, của cách mạng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực của đời sống hàng ngày của cá nhân con người với các mối quan hệ đan xen phức tạp, đa đoan đa sự, điều đó đã mở ra một không gian vô tận, phong phú, đa dạng nhưng cũng không kém phần phức tạp cho các nhà văn khai thác
cơ bản của mỗi giai đoạn cách mạng, đồng thời lại đi sâu nghiên cứu, khám phá những bí ẩn của cuộc sống và những khía cạnh phức tạp của tâm lí con người Thế giới nhân vật của ông phong phú và đa dạng Với cái nhìn sắc sảo, tinh tế và nhạy cảm của người nghệ sĩ, Nguyễn Khải luôn phản ánh hiện thực một cách riêng, làm nên một quan niệm nghệ thuật riêng của mình
Nguyễn Khải là nhà văn sớm có ý thức dùng văn học để góp phần làm cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp và hạnh phúc hơn Ông có một niềm tin mãnh liệt lấy văn học làm vũ khí chiến đấu và đem hết sức mình góp phần xây dựng cuộc sống Ông chọn những nơi cuộc sống diễn ra sôi nổi, quyết liệt, tiêu biểu cho hiện thực cách mạng của đất nước để làm cơ sở cho việc phản ánh và sáng tạo văn học Nguyễn Khải đặc biệt chú ý đến mảng hiện thực rất quan trọng là vùng nông thôn trên con đường cải tạo và xây dựng cuộc sống mới, với tất cả những diễn biến phức tạp của cuộc sống, một hợp tác xã tiên tiến đang ngày càng phát triển cùng với sự đổ thay của số phận con người Đó là
Trang 2015
những vấn đề mà truyện ngắn Nguyễn Khải trước 1978 quan tâm thể hiện Tiêu
biểu nhất là những tác phẩm: Mùa lạc, Tầm nhìn xa, Hãy đi xa hơn nữa, Đứa
con nuôi…
Trước hết, truyện ngắn của Nguyễn Khải trước 1978 bàn về vấn đề số phận con người và sự thay đổi của họ nhờ cách mạng Ngòi bút của Nguyễn Khải tập trung phản ánh những con người có số phận bất hạnh, như chị Đào
(Mùa lạc), như bé Tấm (Đứa con nuôi)… đã tìm được cuộc sống mới trong tập
thể tràn đầy tình yêu thương giữa con người với con người, Đào là một con người kém may mắn, chị là một người con gái kém về nhan sắc lại sinh ra trong một gia đình nghèo Lớn lên chị lấy chồng khi 17 tuổi, cuộc sống vợ chồng cũng không mang lại cho chị hạnh phúc Chồng chị thì cờ bạc, rượu chè, nợ nần nhiều
đã bỏ chị vào Nam sinh sống Mấy năm sau trở về vợ chồng chị có với nhau được một đứa con trai Tưởng như chị đã được sống trong một gia đình hạnh phúc thì tai họa đã ập xuống đầu chị Đứa con trai lên hai thì chồng chết, vài tháng sau con chị cũng bỏ chị mà đi Từ đây chị sống một cuộc sống bất cần
“muốn chết mà đời vẫn còn dài” Chị sống trong tình cảnh “tối đâu là nhà ngã
đâu là giường” Khi Đào lên nông trường Điện Biên với tâm lí “con chim bay mãi cũng mỏi cánh, con ngựa chạy mãi cũng chồn chân, muốn tìm một nơi hẻo lánh nào đó, thật xa những nơi quen thuộc để quên đi cuộc đời đã qua, còn những ngày sắp tới ra sao chị cũng không cần rõ” [12, 22] Đào đã tìm thấy
niềm vui và hạnh phúc trong một tập thể mà ở đó con người chăm chỉ lao động, vui vẻ cười đùa, quan tâm đến nhau đó chính là nông trường Điện Biên Bé Tấm
trong Đứa con nuôi từng bị những thành kiến xấu xa của xã hội cũ tiêm nhiễm
từ ngày còn thơ ấu, em không còn tin trên đời này có người tốt Nhưng rồi đã được gia đình anh chị Cừ Lụa yêu thương đùm bọc Và Tấm được đi học, tìm thấy tương lai Đối với những con người bất hạnh tìm được hạnh phúc trong xã hội mới, Nguyễn Khải đã miêu tả với một sự thông cảm đặc biệt Song ông không đơn giản tâm trạng của họ mà lí giải một cách hợp lí và đầy thuyết phục
Phải nói rằng những trang viết về số phận những nhân vật có cuộc đời bất hạnh đã để lại những hình ảnh đẹp của con người hăng say lao động cùng những nét diệu kì của cuộc sống mới Đó là điều mà văn học giai đoạn trước không thể hiện được Qua đó, Nguyễn Khải muốn khẳng định bản chất tốt đẹp của xã hội mới do cách mạng mang lại
Truyện ngắn của Nguyễn Khải trước 1978 còn bàn về vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội Ở mảng hiện thực này Nguyễn Khải tiếp tục phản ánh những phẩm chất tốt của con người, ông nhìn thấy những phẩm chất tốt đang sinh thành và cũng nhìn thấy rõ những cái cũ lạc hậu trong mỗi con người Bên cạnh
Trang 2116
những mặt tốt vẫn còn ẩn chứa những cái xấu tiêu cực Nguyễn Khải đã thể hiện trong tác phẩm của mình những vấn đề cần thiết phải hiểu tất cả những rắc rối
của con người, những ảnh hưởng rơi rớt của tư tưởng lạc hậu Tầm nhìn xa là kết
quả chuyến đi thực tế của nhà văn về hợp tác xã Đồng Tiến, một hợp tác xã tiên tiến số một của tỉnh Phú Thọ Trong cái ưu việt của hợp tác xã nhà văn cũng nhìn ra những vấn đề thời sự mang tầm chiến lược Đó là vấn đề mối quan hệ giữa quyền lợi tập thể nhà nước và quyền lợi các nhân
Tác phẩm Tầm nhìn xa đã khắc họa được những nhân vật hết sức độc đáo
Nếu như chủ nhiệm Biền là một điển hình mẫu mực về người Đảng viên luôn có tầm nhìn xa, không để mối lợi vặt vãnh ràng buộc mình và luôn luôn nhìn ra sự thống nhất giữa quyền lợi nhà nước và tập thể, trong lãnh đạo phải xây dựng hợp tác xã, thì phó chủ nhiệm Tuy Kiền lại là một điển hình về người cán bộ còn mang nặng đầu óc tư hữu của người nông dân cá thể Tuy Kiền là người Đảng viên xuất thân từ thành phần trung nông, có cái bề ngoài đặc biệt ranh mãnh và
hám lợi “Một con người tuy tinh khôn nhưng cũng rất đỗi thơ ngây, tính toán
chi li, nhưng trong quan hệ bạn bè lại hồ hởi, rộng rãi và ông ta có thể làm được tất cả mọi việc miễn sao hoàn thành trách nhiệm của mình” [12, 48] Tuy
Kiền vừa là người lợi dụng chức vụ, công việc để “chấm mút” cho riêng mình,
vừa là người rất chân thực “Nếu như không có bàn tay của mình thì bọn họ sẽ
xoay xở ra sao nhỉ?” [12, 49] Đó là đặc điểm tiêu biểu của nông thôn nước ta
trong giai đoạn xây dựng kinh tế, từ một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Một nhân vật không đơn giản được nhà văn xây dựng không phải với thái độ phê phán một chiều, mà trình bày khắc họa rõ nét, độc đáo trong cảm hứng nghiên cứu, phân tích Dù mang trong mình biết bao tính cách có thể khen chê, Tuy Kiền cuối cùng vẫn là người chân thành, vui với cái vui của hợp tác xã như chính thành tựu của bản thân mình Ngày nay Tuy Kiền vẫn là nhân vật mang ý nghĩa thời sự, vẫn làm cho chúng ta suy ngẫm, chiêm nghiệm, một nhân vật độc đáo không thể nào quên
Ngoài ra, Nguyễn Khải còn gửi gắm nhiều niềm tin và khát vọng của
mình vào nhân vật Đó là nhân vật Nam (Hãy đi xa hơn nữa) Nam là con người
đã phải chiến đấu thầm lặng nhưng gay go để đứt ra khỏi cuộc sống gia đình tầm thường, đối mặt với bản chất con người anh Anh đấu tranh với những khuyết điểm của vợ trong quan hệ đối với tài sản tập thể và dần đưa vợ về với cuộc sống tập thể Cuộc sống gắn bó bằng những quan hệ mới mẻ, tốt đẹp và rồi chính Nam lại trở lại là mình, cao hơn mình hôm qua Cuộc đấu tranh của anh đối với bản thân đã được tác giả nhiệt tình ủng hộ và ca ngợi Và cuộc đấu tranh
ấy không diễn ra đơn độc Nó là cuộc đấu tranh trong lòng một tập thể cách
Trang 2217
mạng Ở đó cũng có những người đang phấn đấu như Nam, ở đó là cả một đội sản xuất đang đem hết sức của mình xây dựng nông trường và những nhân vật phụ khác đã làm cho câu chuyện không diễn ra đơn điệu, mà còn nhiều bình diện, nhiều chiều sâu
Với hai tác phẩm Tầm nhìn xa và Hãy đi xa hơn nữa đánh dấu một bước
phát triển mới của tài năng Nguyễn Khải Cách phản ánh phạm vi hiện thực công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đặt ra những vấn đề mang tính thời đại
Ở đó đề ra những vấn đề cần phải giải quyết trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời Nguyễn Khải muốn khẳng định một điều quan trọng đó
là, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những người có tầm nhìn xa vượt ra
khỏi lũy tre làng, có tầm nhìn chủ nghĩa xã hội
Tiểu kết
Văn học Viê ̣t Nam trước năm 1975 là giai đoạn mở đầu của một thời kì văn ho ̣c mới Nền văn học ấy nẩy nở và phát triển trong một hoàn cảnh đă ̣c biê ̣t , khi cả dân tộc phải dồn tất cả tinh thần và vật chất vào cuộc đấu tranh giành độc
lâ ̣p, tự do , thống nhất đất nướ c Chính vì vậy , nền văn học giai đoa ̣n này tâ ̣p trung vào viê ̣c phản ánh những pha ̣m vi hiê ̣n thực lớn của dân tộc đó là: phạm vi hiê ̣n thực về đất nước, về chiến tranh - cách mạng và về công cuộc xây dựng xã
hô ̣i chủ nghĩa ở miền Bắc , góp phần to lớn cho việc xây dựng tư tưởng , bồi đắp tâm hồn và phát triển nhân cách con người V iê ̣t Nam không chỉ ở thời đa ̣i ấy mà còn cho các thế hệ tiếp theo Nền văn ho ̣c sau 1975, phát triển trong những đ iều kiê ̣n mới của li ̣ch sử - xã hội, nên văn học cũng chuyển sang một giai đoa ̣n mới , thời kì đổi mới Văn học đã mở rộng và đổi mới về phạm vi phản ánh hiện thực , ngoài những mảng hiện thực lớn được phản ánh ở giai đoạn trước , thì đến giai đoa ̣n này hiê ̣n thực cá nhân con người được tâ ̣p trung phản ánh , con người được
đă ̣t trong nhiều mối quan hê ̣
Hòa cùng không khí chung của nền văn học trước 1975, hiê ̣n thực trong truyê ̣n ngắn trước năm 1978 của Nguyễn Khải cũng tập chung vào phản ánh những mảng hiê ̣n thực lớn của đất nước , nhưng dưới ngòi bút của ông hiê ̣n thực đó được thể hiê ̣n theo một cách riêng mang dấu ấn riêng của nhà văn
Trang 2318
CHƯƠNG 2
SỰ ĐỔI MỚI VỀ PHẠM VI PHẢN ÁNH HIỆN THỰC TRONG MỘT SỐ
TRUYỆN NGẮN SAU 1978 CỦA NGUYỄN KHẢI
Nguyễn Khải tự chia quá trình sáng tác của mình ra làm hai thời kì: “Từ
1955 đến 1977 tôi sáng tác một cách Từ 1978 đến nay tôi sáng tác theo cách khác” (Trả lời phỏng vấn văn nghệ, ngày 16/2/1999) Thực ra sự chuyển biến về
tư tưởng và nghệ thuật từ sau 1975 là hiện tượng chung của nhiều cây bút Nhưng mỗi nhà văn lại có những mức độ chuyển biến khác nhau, tùy vào sự
nhạy cảm, tinh tế và sự thích nghi với thời thế của mỗi người Nhưng nói chung
phải đến đại hội VI (1986) thì sự chuyển biến của giới văn nghệ sĩ mới thực sự
rõ nét và có chiều sâu
Ở Nguyễn Khải sự chuyển biến về tư tưởng cũng như phạm vi phản ánh
có những nét riêng biệt Nếu như ở các nhà văn khác, hiện tượng chuyển biến có tính đột xuất, thậm chí là đứt đoạn, ngừng sáng tác một thời gian thì ở Nguyễn Khải trước sau vẫn liên tục, ông vẫn sáng tác đều đặn như những chặng đường trước Đến Đại hội VI của Đảng với tinh thần dân chủ, nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật, dường như đã đáp ứng được đúng nhu cầu và hướng đi của Nguyễn Khải, đồng thời nó cũng phù hợp với khuynh hướng thích khám phá, thích quan sát, nghiên cứu sự đời, người đời
Khi đã giành được độc lập thống nhất đất nước bước sang thời kì hòa bình, đất nước ta chuyển sang xu thế mở cửa, những nguồn thông tin mới lạ, chưa từng thấy về chính trị, kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn hóa nghệ thuật, trong nước và ngoài nước có những biến động dữ dội, đã tác động đến Nguyễn Khải
và khiến cho ông có cái nhìn đa chiều hơn về cuộc sống Trước đây vốn là người từng trải, hiểu đời lại thông minh, Nguyễn Khải từng mượn thực tế để thể nghiệm những suy nghĩ của mình Còn bây giờ trước mặt ông thế giới bỗng trở
nên mới mẻ, kì lạ, nhìn đâu cũng thấy người lạ, chuyện lạ “Vẫn là đất nước
mình mà một bước đi là một bước lạ Vẫn là con người Việt Nam mình mà gặp thêm một người lại như buộc mình phải hiểu lại chút ít về con người” [12, 144]
Chính những tác động mới của xã hội lúc bấy giờ đã ảnh hưởng đến ngòi bút của Nguyễn Khải Người đọc khi đọc văn của Nguyễn Khải họ đã bắt gặp được những khuôn mặt mới, những tính cách phẩm chất mới Nghĩa là những khuôn mặt chưa từng xuất hiện trong thế giới nghệ thuật của ông trước kia Và cũng chính vì thế mà phạm vi phản ánh hiện thực trong văn của ông cũng gắn với những hiện thực của đất nước trong giai đoạn mới, với những chiêm nghiệm, suy
tư, trăn trở mới về cuộc đời, về con người
Trang 2419
2.1 Nguyễn Khải với việc phản ánh các vấn đề đạo đức của xã hội
Quan tâm và phản ánh hiện thực trong cuộc sống hôm nay, Nguyễn Khải đặc biệt hướng ngòi bút của mình đến vấn đề đạo đức, những tiêu chuẩn đạo đức tốt đẹp, vấn đề đạo đức trong mối quan hệ giữa con người trong gia đình và ngoài xã hội Trong các sáng tác trước đây của Nguyễn Khải luôn ca ngợi và khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của con người, với lí tưởng lao động và chiến đấu vì Tổ quốc, vì sự nghiệp thống nhất đất nước, hay vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là những sáng tác với cảm hứng sử thi, kết hợp với khuynh hướng lãng mạn của một nền văn học phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến Đến sau năm 1978, Nguyễn Khải đã luôn cố gắng để nhập cuộc kịp thời thực sự như một con người có suy nghĩ, đi vào dòng đời với ý định phản ánh một cách chân thực cuộc sống, với những bề rộng, chiều sâu mọi mặt của nó Dưới ngòi bút của Nguyễn Khải cuộc đời không hiện ra phẳng lặng, yên bình, đơn điệu mà là một cuộc sống thực với tất cả sự thô nhám, xù xì của nó Ông không né tránh mà còn chủ động đi vào phản ánh hiện thực gai góc, Nguyễn Khải muốn tìm tòi, cày xới để phanh phui tìm ra sự thật Ở những phạm
vi hiện thực ấy nhà văn đã nhận ra được những điều mới mẻ về con người với thời đại mới, đặc biệt là thời kì mở cửa Những vấn đề ấy là vấn đề nhức nhối đáng báo động về mặt đạo đức của con người trong thời kì kinh tế thị trường dưới tác động của đồng tiền, của quyền lực
2.1.1 Những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người vẫn luôn được giữ gìn và phát huy
Trong những sáng tác trước đây của Nguyễn Khải luôn ca ngợi và khẳng định những phẩm chất đạo đức của con người, với những lí tưởng cao đẹp thì đến chặng đường sau năm 1978 ông vẫn tiếp tục đem ngòi bút của mình hướng đến sự ca ngợi những phẩm chất đạo đức ấy
Trong quan niệm của Nguyễn Khải thì nét đẹp truyền thống đạo đức của cha ông vẫn lặng lẽ chảy trong cuộc sống ồn ào, ồ ạt của thời hiện tại Đó là những phẩm chất, tình cảm cao quý như lòng gắn bó, yêu thương, cốt cách cao
phẩm của mình để nhận định, để ca ngợi nó, đồng thời góp phần nâng cao ý thức giữ gìn những nét phẩm chất đạo đức đáng quý ấy Được tác giả tập trung thể hiện
qua những tác phẩm như: Ông cháu, Một người Hà Nội, Một bàn tay và chín bàn
tay, Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức, Đời khổ, Mẹ và các con, Đàn bà,…
Trong truyện ngắn Ông cháu, tác giả đã ca ngợi tình cảm gắn bó, yêu thương của hai ông cháu “Thằng cháu mới trạc 13, 14 tuổi, mặt mũi sáng sủa,
vóc người phổng phao không ra dân đói, quần áo mặc cũng sạch sẽ…” [12,
Trang 2520
460] Thằng cháu mới mười ba, mười bốn tuổi, mồ côi cha từ sớm nhưng nó đã
biết và nguyện nuôi dưỡng ông thay cho bố nó “Nó khỏe mạnh, lại thật thà, có
thể làm mọi việc tạp vặt trong một gia đình” [12, 362], nó còn là đứa bé rất
xông xáo, nhanh nhẹn, tháo vát mọi công việc Giữa những ngày đói rét mà một đứa trẻ mười ba tuổi đã không nghĩ đến cái đói của mình, cái vất vả của bản thân chỉ mong cho ông có được miếng ăn no, chỗ ngủ ấm Khi nó làm ở quán cơm
“Tối nào nó cũng để phần ông nó một bát cơm cháy to, cá hoặc thịt kho và một bát canh rau Nó không lấy tiền công, bữa trưa chỉ ăn gọi là vì rất lắm việc, nó chỉ đòi hỏi dành cho ông nó một suất cơm đàng hoàng vào buổi tối” [12, 367]
Tuy là còn nhỏ tuổi nhưng thằng bé đã có nhận thức và có trách nhiệm với
người ông “Nó nuôi ông nó chứ không để ông nó phải đi xin ăn Nó sung
sướng, tự hào về điều đó lắm” [12, 367] Rồi khi ông ốm đau đang trong giấc
ngủ nó chợt tỉnh giấc ngồi phắt dậy, hỏi lo sợ: “Ông làm sao thế, ông ốm à”
[12, 367] Nó luôn quan tâm và chăm sóc ông, nó dành tiền để lo thuốc men cho ông mỗi khi ông nó ốm, sự tính toán nhanh nhẹn khi ông nó ho nhiều nó chạy đến nhà ông bác sĩ để mua thuốc rồi mua một bát cháo gà cho thật nhiều hành,
ép ông nó ăn hết bát cháo rồi uống thuốc Nó biết ông nó ốm rất nặng nhưng chỉ
dám hỏi han những câu như “Tay ông sao nóng thế?”, “Nó không dám hỏi vì
sao ông gầy thế, mắt ông nhìn lại dại thế, ông ăn sao ít thế” [12, 370] Không
chỉ có thế khi ông đòi về quê nó không cho ông về vì sợ vắng nó không ai chăm
lo cho sức khỏe của ông, không ai nuôi ông, nó quyết định: “Khi nào ông nó
khỏe, cả hai ông cháu sẽ cùng về quê Mẹ nó không nuôi ông, nó sẽ nuôi” [12,
372] Nó có đủ thông minh và tự nhận thấy sức lực của nó tới đâu nó không yên tâm khi bỏ ông nó một mình, khi nào ông chết nó mới yên tâm đi làm ăn xa Một đứa trẻ còn ít tuổi vậy mà đã có những suy nghĩ rất người lớn, nó luôn quan tâm, săn sóc ông, không làm cho ông phải buồn phiền vì nó Có việc gì nó cũng bàn tính với ông trước Khi đi làm nó dành tiền cũng chỉ nghĩ đến công việc sau này
cho ông Tình cảm của đứa cháu trong truyện ngắn Ông cháu là biểu hiện của
chữ hiếu trong truyền thống đạo đức của dân tộc, là giá trị vĩnh hằng trong đạo lí dân tộc Việt Nam
Nếu trong truyện ngắn Ông cháu Nguyễn Khải ca ngợi tình cảm gắn bó,
yêu thương của hai ông cháu thì trong truyện ngắn Đời khổ, ông lại ca ngợi
phẩm chất đáng quý của người phụ nữ mang vẻ đẹp truyền thống là một lòng, một dạ chung thủy với chồng, luôn cố gắng trở thành hậu phương vững chắc cho chồng trên con đường công danh, sự nghiệp Nguyễn Khải đã chú ý xây dựng nhân vật chị Vách với vẻ đẹp truyền thống đó Chị Vách xuất thân từ một gia
đình nông thôn, vốn là người con gái đẹp “gương mặt tươi tắn, cái miệng với
Trang 2621
hàm răng đen đều đặn khi nói khi cười duyên dáng lạ lùng” [12, 203] Chồng
chị là một thiếu tá quân đội Từ khi lấy chồng chị luôn ý thức được bổn phận và trách nhiệm của bản thân Hết lòng vì chồng, vì gia đình chồng là điều chị luôn tâm niệm và cố gắng thực hiện Suốt những năm đánh Pháp để cho chồng được yên tâm công tác chị đã một mình nuôi bốn con nhỏ và chăm sóc mẹ chồng Khi
mẹ chồng ốm một tay chị thuốc thang, chăm sóc Khi mẹ chồng qua đời “một
mình chị chôn cất ma chay” [12, 205] Chị luôn cho đó là bổn phận của mình
bởi theo chị “làm dâu, làm vợ, làm mẹ ắt phải thế, từ thời xửa thời xưa đã vẫn
là thế” [12, 205]
Đối với chồng chị luôn lo lắng, chăm sóc cho sức khỏe của chồng Những bữa ăn của chồng được chị chuẩn bị khá kĩ càng Chị luôn chia chế độ ăn của gia đình ra làm hai phần Một phần cho chồng, phần còn lại cho năm mẹ con bởi chị
nghĩ: “anh ấy phải làm việc trí óc nhiều, lại cao tuổi, lại lắm thứ bệnh không
bồi dưỡng là nguy ngay Còn năm mẹ con chị ăn sao cũng được, nông dân vốn nuôi dễ” [12, 205]
Trong những năm chống Mĩ ác liệt, chị một mình quần quật làm việc, tất bật tối ngày để nuôi con, cho chồng yên tâm công tác Từ khi chồng ốm đau chị chăm sóc tận tụy, chồng mất chị một mình nuôi bốn đứa con mà không ca thán một lời nào
Nguyễn Khải đã cài đặt những cuộc đối thoại sinh động, giữa nhân vật người trần thuật và nhân vật chị Vách, để bộc lộ và biểu đạt cảm nghĩ của riêng mình về việc khẳng định những phẩm chất tốt đẹp mang tính truyền thống của chị Vách: yêu chồng, thương con, tận tụy với gia đình chồng
Nếu trong truyện ngắn Đời khổ, Nguyễn Khải ca ngợi tấm lòng yêu thương, tận tụy với chồng của chị Vách thì trong truyện Mẹ và các con, Nguyễn
Khải tập trung ca ngợi bà cụ Mão, một người đàn bà suốt đời vì con, vì cháu Bà Mão có ba đứa con: hai trai một gái Chồng chết sớm một mình bà tần tảo nuôi con… Vì ở quê khó làm ăn bà đã đưa ba con ra Hà Nội để kiếm sống Để nuôi được ba đứa con bà đã phải làm rất nhiều nghề Lúc thì buôn bán vặt vãnh, có lúc quét rác, lúc đổ thùng rác cho công ty vệ sinh Vất vả, bẩn thỉu là vậy nhưng
bà luôn vui vẻ Bởi vì, bà làm được ra tiền để nuôi các con ăn học, rồi chúng có việc làm và có gia đình riêng, có cuộc sống sung túc Khi bà có những đứa cháu
bà hết mực yêu thương chúng, lúc nào bà cũng nghĩ cho chúng Bà luôn chắt chiu từng đồng tiền kiếm được để mua quà cho các cháu Có lúc là bánh kẹo, lúc
là sách vở, cả đời bà ăn uống kham khổ chỉ nghĩ về con về cháu, bà nói : “Sống
không lo cho con cho cháu thì sống để ăn hại của giời à ? Sống thế cũng tôi cũng chả thiết ! ” [12 , 501]
Trang 2722
Hay trong truyện Đàn bà, người đọc lại bắt gặp được phẩm chất tốt đẹp
của một người vợ, hi sinh tất cả vì chồng bằng một tình yêu thủy chung đáng khâm phục Đó là nhân vật vợ của tên cướp Tích híp, một nhân vật chỉ xuất hiện
ở cuối tác phẩm nhưng đã chiếm được cảm tình của độc giả bởi sự chân thành, tấm lòng yêu thương chồng con hết mực Là vợ của một tên cướp, tuy nhiên người phụ nữ này xuất hiện trong tác phẩm lại là một con người có cách sống đúng mực, với lời nói dịu dàng, cung cách của một người có học thức Chỉ vì muốn cho chồng có cơ hội đầu thú để giảm nhẹ tội, chị đã ôm lấy chân người cảnh sát Lưu cho chồng trốn thoát Khi Lưu rút súng nhằm vào Tích, chị liền bỏ chân Lưu và kéo cánh tay cầm súng về phía mình Bất chấp mọi nguy hiểm, tính mạng của chị có thể không còn nếu như người cảnh sát nổ súng Và rồi bằng
một giọng nỗi dịu dàng chị nói với Lưu : “Chúng em biết anh đã thương nên
không nỡ bắn chết cả hai vợ chồng Xin anh yên tâm, nhà em đã muốn ra đầu thú lâu rồi nhưng còn đang sợ ” [12 , 476] Đáng khâm phục hơn, chị đã nuôi
dạy được một đứa con ngoan ngoãn trong một môi trường tưởng như khó có thể làm được Đồng thời giữ được sự yên ấm trong gia đình, cùng quan hệ xóm giềng thân mật
Trong truyện ngắn Một người Hà Nội Nguyễn Khải lại tập trung ca ngợi
phẩm chất đạo đức của con người trước những thay đổi của thời cuộc mà những phẩm chất đạo đức ấy vẫn giữ nguyên được nét đẹp truyền thống ấy trong con người Tác phẩm tập trung ca ngợi nhân vật cô Hiền Nhân vật cô Hiền được Nguyễn Khải xây dựng như một biệt lệ, không theo những khuôn mẫu quen thuộc của Nguyễn Khải ở giai đoạn trước Trải qua bao nhiêu biến cố, thăng trầm của đời sống đất nước và xã hội, nhân vật cô Hiền nổi bật lên ở sự khẳng định bản lĩnh cá nhân, ở khả năng tự ý thức, có tính tự trọng cao và có nhân cách đẹp, rất tiêu biểu cho bản sắc văn hóa của con người Hà Nội
Bà Hiền là một người phụ nữ Hà Thành truyền thống được khẳng định trước hết ở bản lĩnh của một người luôn luôn dám là mình, là mình khi sống trung thực, khi đề cao lòng tự trọng, là mình trong quan hệ với cộng đồng, đất nước… Tuy sinh ra trong một nhà giàu có lại có nhan sắc, yêu văn chương, giao
du với nhiều văn nghệ sĩ nhưng cô lại không chạy theo xu hướng thời thượng,
những tình cảm lãng mạn viển vông “Cô chọn bạn trăm năm là một ông giáo
cấp tiểu học hiền lành, chăm chỉ khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc” [12, 190] Cô
không ham danh, ham lợi, sự tính toán, chọn lựa của cô cho thấy cô có thái độ
khác Bà Hiền còn có những quan niệm hết sức tích cực và tiến bộ so với thời bấy giờ, người Việt Nam lúc bấy giờ thích đẻ nhiều con để tạo phúc thì bà lại
Trang 2823
quyết định chấm dứt việc sinh con ở tuổi bốn mươi đây là quyết định khác người Theo bà, cha mẹ phải chuẩn bị cho con một nhân cách, phải chuẩn bị cho con một tương lai không bị lệ thuộc Đó là tình yêu con sáng suốt của một bà mẹ từng trải “biết nhìn xa trông rộng” và giàu lòng tự trọng Trong việc quản lí gia đình, bà luôn chủ động, tự tin và bà hiểu rất rõ đạo lí và vai trò quan trọng của người làm mẹ, làm vợ Đồng thời bà nhận định quan niệm về “sự bình đẳng nam nữ” xuất phát từ thiên chức của người phụ nữ được bà thấm nhuần như một chân
lí thật tự nhiên, giản dị Bà dạy các con từ khi chúng còn nhỏ và chăm chút, chỉ bảo chúng từ những cái nhỏ nhất Bà không coi chuyện cầm bút, cầm đũa, múc canh hay tư thế ngồi ăn… là những chuyện vặt vãnh mà coi đấy là văn hóa sống,
văn hóa làm người, văn hóa của người Hà Nội Bà bảo con: “Chúng mày là
người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện, buông tuồng” [12, 191] Trong quan hệ với cộng đồng, trong chiêm nghiê ̣m
những lẽ đời, cái bản lĩnh, cốt cách của bà thể hiện ở sự chừng mực, giữ gìn truyền thống và lòng tự trọng Đặc biệt, cái “chuẩn” trong suy nghĩ của bà là
“lòng tự trọng”, bà nói với nhân vâ ̣t “tôi” rằng không phải bà muốn đem cái
khuôn truyền thống để áp đặt cho con cháu mà là: “Tao chỉ dạy chúng nó biết tự
trọng, biết xấu hổ còn sau này muốn sống ra sao là tùy” [12, 191] Và lòng tự
trọng không cho con người sống ích kỉ Dù rất lo lắng nhưng bà vẫn bằng lòng
cho Dũng, đứa con trai cả đi chiến đấu vì “không muốn nó sống bám vào sự hi
sinh của bạn bè” [12, 192] Bà hiểu rất rõ, con người đánh mất lòng tự trọng thì
chỉ còn cái chết trong tâm hồn, có lòng tự trọng thì mời nên người, mới có thể yêu nước, sống có trách nhiệm với cộng đồng
Bà Hiền còn là hiện thân của cái nét văn hóa duyên dáng, lịch lãm, sang trọng của “đất kinh kì” ngàn năm văn hiến Người đọc nhận ra sự sang trọng, lịch lãm và quý phái ấy ở cái phong thái của một con người tuy đã gần bảy mươi
tuổi rồi nhưng “cô vẫn là người của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha
trộn” [12, 196] Đặc biệt, cái “chất Hà Nội” nó đằm sâu dung dị qua thái độ
ung dung tự tại của bà trước bao biến động bên ngoài, trước cái xô bồ, ồn ã của thời mở cửa
Qua nhân vật bà Hiền ta thấy được những nét bản sắc Hà Nội được hội tụ,
kết tinh trong bà: “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của
Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng” [20, 199] Những nét đẹp của truyền thống con người vẫn được bà Hiền giữ
nguyên vẹn không hề bị lung lay, lu mờ trước thời thế thời cuộc
Trang 2924
Những trang viết ca ngợi phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người còn
được Nguyễn Khải thể hiện trong truyện ngắn Cặp vợ chồng ở chân động Từ
Thức Nguyễn Khải đã khắc họa lên một người vợ đảm đang, suốt ngày làm lụng
vất vả để nuôi một gia đình với một người chồng mù cùng ba đứa con nhỏ, nhưng chị không một lời than trách, luôn giữ được niềm vui trong một gia đình nghèo túng Chị luôn tận tụy bươn trải chỉ vì mái ấm gia đình, dù có đi đâu chị
cũng không hề yên tâm “chưa bao giờ em dám bỏ liều chồng con ở nhà những
một tuần như vừa rồi, từ lúc xuống tàu ở ga Lèn, là cứ chạy gằn như ma đuổi, chạy suốt đêm, không đói không khát, chạy về đến nhà đếm đầy đủ bốn bố con mới hết sợ” [12, 242] Chồng và ba đứa con là niềm hạnh phúc, niềm an ủi của
chị, để chị vượt qua được tất cả những lúc khó khăn, gian khổ Là vợ một ông chồng mù, lại có những ba đứa con thì cái khổ sở có nói cả tháng cũng không hết, những lúc chồng đau con ốm, việc đồng áng, việc trong nhà, việc họ việc làng, tính toán công nợ, tính toán no đói, một mình chị phải cắn răng đảm đương hết Mỗi một ngày qua đi ở cái gia đình bé nhỏ, đầm ấm ấy đều có những giọt
mồ hôi, nước mắt của chị “Mười lăm năm làm vợ, làm mẹ đã phải nuốt đi bao
nhiêu buồn tủi bao nhiêu cay đắng” [12, 243] Tuy là khổ đến vậy, cuộc đời chị
với vô vàn cái khổ, nhưng điều chị lo lắng và nghĩ đến đầu tiên vẫn là chồng là
con “Mỗi lần váng mặt nhức đầu em sợ lắm, chỉ lo bệnh nhẹ hóa bệnh trọng,
nửa chừng gãy gánh thì bốn bố con phải dắt nhau đi ăn mày” [12, 243] Tuy chị
là người đang đau ốm, là người đáng phải lo cho sức khỏe của mình nhưng chị lại không nghĩ đến bản thân mình mà chỉ lo cho chồng, cho con, lo không có chị chồng và con sẽ như thế nào?
Khi chị và chồng chị yêu nhau và đến được với nhau cũng đã phải trải qua bao nhiêu cực khổ, chị bị cả họ chửi, bố mẹ dọa từ, chị còn bị anh trai dùng roi đánh, nhưng chị vẫn kiên trì chịu nhẫn nhục để đến được với người mình yêu
Dù chồng chị là một ông mù nhưng chị vẫn hết lòng yêu thương, chăm sóc chồng luôn là chỗ dựa vững chắc cho chồng và cho con
Qua câu chuyện bạn đọc cảm thấy xúc động và khâm phục trước những nét đẹp, phẩm chất của chị, dù hoàn cảnh xô đẩy, cuộc đời cực khổ ra sao chị vẫn đương đầu với nó, chống chọi vời hoàn cảnh để giữ lấy một tổ ấm gia đình luôn luôn yên vui và tràn ngập tiếng cười
Hay trong truyện ngắn Một bàn tay và chín bàn tay người đọc đã bắt gặp
một con người với những phẩm chất đáng quý đó là anh Nghinh Anh là một chàng trai yêu nước như bao chàng trai khác, khi nghe lời kêu gọi của tổ quốc, anh lên đường nhập ngũ, anh vốn là một chàng trai khôi ngô, nhưng chiến tranh
ác liệt đã cướp đi một phần cơ thể của anh, khuôn mặt anh bị biến dạng, hai bàn
Trang 3025
tay hoàn toàn vô dụng, “một bàn còn ba ngón, một bàn còn hai ngón, các ngón
đều co quắp cứng đờ” [12, 423] Dù thân hình bị biến dạng nhưng Nghinh luôn
vượt qua sự đau đớn cố gắng luyện tập để khỏi phải nhờ cậy bạn bè những chuyện vặt vãnh của cá nhân Anh vẫn thấy mình là một con người may mắn
hơn bao người khác “Nhưng vẫn là một người sống Vẫn là một may mắn, cái
sự may mắn ấy không nhiều nhưng còn may mắn hơn nhiều thằng bạn đã nằm lại mãi mãi ở Tây Nguyên” [12, 424] Với hình hài biến dạng như vậy anh biết
mình có mẹ, có anh chị em, có bạn bè nhưng không thể có người yêu, nên anh không dám nhận lời yêu của cô gái thương binh tên Kiếm Nhưng với tình yêu chân thành, sự theo đuổi đến cùng của cô đã khiến anh nhận lời Qua nhân vật Nghinh, bạn đọc thấy được sự vượt lên chính mình, vượt lên khỏi hoàn cảnh để sống hòa đồng với mọi người
Nguyễn Khải xây dựng những nhân vật như bà Hiền trong Một người Hà
Nội, đứa cháu trong truyện Ông cháu, chị Vách trong Đời khổ , bà Mão trong
truyê ̣n Mẹ và cá c con, mô ̣t người vợ thủy chung , hi sinh tất cả vì chồng vì gia đình trong truyê ̣n Đàn bà, Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức, Nghinh trong
Một bàn tay và chín bàn tay… đều là những con người biết giữ gìn phẩm giá và
nhân cách đạo đức bằng chính nghị lực và lòng tự trọng của mình Lí trí luôn là người bạn dẫn đường dẫn dắt họ và mách bảo họ có thể sống tốt hơn và người hơn, trong bất kì hoàn cảnh mà họ vẫn luôn giữ được những phẩm chất đạo đức tốt đẹp ấy
2.1.2 Sự lung lay, rạn nứt của một số chuẩn mực đạo đức xã hội trước
sự tác động của xã hội
Con người trong mối quan hệ gia đình là vấn đề nổi lên trong sáng tác của Nguyễn Khải vào những năm sau 1978, mà đặc biệt là những sáng tác vào những năm 80 và 90 của thế kỉ XX Thật ra, đây không phải là phạm vi phản ánh, mối quan tâm riêng của Nguyễn Khải, mà có các cây bút như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp… đã đặt ra những vấn đề nhức nhối trong mối quan hệ gia đình trước hiện thực hôm nay
Khi đất nước bước sang thời bình, đất nước đổi mới, nền kinh tế thị trường phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao, nhu cầu giải phóng cá nhân trở thành vấn đề bức thiết của cuộc sống con người Nhưng khi nhu cầu cá nhân của con người phát triển đã dẫn đến nguy cơ làm rạn nứt, lu mờ thậm chí tan vỡ nhiều mối quan hệ giữa những người trong gia đình Đó là vấn
đề Nguyễn Khải quan tâm phản ánh, thể hiện trong nhiều tác phẩm của mình
Viết về vấn đề đạo đức của con người trong mối quan hệ gia đình, Nguyễn Khải đặc biệt quan tâm đến sự đổi ngôi trong vị trí của những người
Trang 3126
chồng, người cha xưa nay vẫn là trụ cột, gốc rễ trong những mái ấm gia đình Nhưng trong thời đại mới, cùng với những biến đổi của xã hội, Nguyễn Khải đã nhận thấy sự thay đổi đến ngỡ ngàng của vai trò người đàn ông trong tổ ấm của
họ Những người chủ đầy quyền uy của gia đình trong suốt những năm dài trước đây ai ngờ lại có lúc họ phải lúng túng với cái tiểu thiên hạ do chính mình gây dựng nên Đất nước chuyển sang giai đoạn mới, thời kì mở cửa hội nhập, nhiều con người từng trải hôm qua bỗng chốc trở thành những kẻ vụng dại hôm nay như một sự đổi dời, như đã sang hẳn một thế giới khác Gia đình trước kia là tổ
ấm là niềm hạnh phúc nhưng bây giờ nó không còn là niềm vui, niềm hạnh phúc, là nơi nghỉ ngơi tuyệt đối an toàn của họ như trước kia Quá khứ vàng son chỉ là một nỗi nhớ Giờ đây sự có mặt của họ gần như gây nên sự bực dọc cho mọi thành viên trong gia đình Những người chồng, người cha luôn sống theo khuôn mẫu, theo nề nếp Họ là hình ảnh của thế giới tinh thần lung linh đầy màu sắc, còn vợ con họ là hình ảnh của thế giới vật chất tầm thường trong cuộc sống trần tục hàng ngày Giữa hai thế giới ấy, cái nào cần thiết hơn? Các ông chồng, người cha vốn có tầm hiểu biết rộng rãi hơn các bà vợ, qua đó họ nhận thấy rõ
sự cần thiết của những giá trị tức thời và cũng rất tin tưởng vào những giá trị bền vững Nhưng trong cuộc đấu tranh để giữ vững những nếp sống đó họ lại trở nên
cô độc, lẻ loi Đó là những trường hợp của nhận vật Tần trong truyện ngắn Đổi
đời, ông Vị trong truyện ngắn Nơi về hay trong thái độ, sự cư xử bất hiếu của
những đứa con bà Mão trong truyện Mẹ và các con…
Trong truyện ngắn Đổi đời Nguyễn Khải đã đưa ra trường hợp của nhân
vật Tần Tần vốn là một nhà văn xoàng xĩnh nhưng tính tình hồn nhiên xởi lởi nên bạn bè rất quý Vợ anh là cán bộ thương mại trông coi một cửa hàng vải sợi, quần áo may sẵn tại Hà Nội Anh có ba đứa con, hai cậu con trai đầu và một cô con gái út, chúng học giỏi và rất ngoan ngoãn Đã nhiều năm liền gia đình anh luôn ổn định về kinh tế và tình cảm Tần vẫn tự khoe là sung sướng, bởi anh đã
có được một gia đình hạnh phúc, người vợ thương yêu chồng, đối đãi với mọi người, đặc biệt là những bạn của chồng đúng mực Con cái của anh ngoan ngoãn không gây ra phiền hà gì, tiền tiêu đủ, bạn bè thương, lại chẳng có tham vọng gì
về nghề nghiệp Cái gia đình nhỏ bé, êm ấm vững chắc ấy sau một thời gian trước sự tác động của xã hội, hoàn cảnh trong thời kì mở cửa nền kinh tế thi ̣ trường, dường như đang làm rạn nứt, có nguy cơ làm tan vỡ những nề nếp ngày nào giờ đang bị đảo lộn
Vợ Tần đã trở thành một con người mới, thay đổi theo thời, ăn mặc, trang điểm theo đúng thời, nói năng uốn éo Đặc biệt, chị đã thay đổi cả nếp nghĩ, cách đối xử với bạn bè chồng giờ cũng khác hẳn, chị đã không còn gần gũi, thân