1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

con người trong cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua một số truyện ngắn của nguyễn minh châu sau năm 1975

71 676 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 828,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Minh Châu đã suy nghĩ về chặng đường mà mình đã trải qua và nhận ra những hạn chế của nhiều tác phẩm văn học trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ: "Hình như cuộc chiế

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn khoa học, nhiệt tình của cô giáo,

Thạc sĩ Mai Thị Chín cùng các Thầy, Cô giáo tổ Văn học Việt Nam, sự quan

tâm và tạo điều kiện thuận lợi của Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn trường Đại học Tây Bắc, của các phòng, Ban chức năng và tập thể các bạn sinh viên lớp K51- Đại học sư phạm Văn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khoá luận này

Em xin chân thành cam ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2014

Người thực hiện Trần Thị Thanh Nga

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Mục đích nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

6.1 Phương pháp khảo sát 7

6.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp 7

6.3 Phương pháp phân tích văn học 7

7 Đóng góp của khóa luận 7

8 Cấu trúc khóa luận 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9

1.1 Đôi nét về nhà văn Nguyễn Minh Châu 9

1.1.1 Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu 9

1.1.2 Sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu 10

1.1.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu 11

1.2 Sự thể hiện con người trong văn học Việt Nam trước 1975 12

1.3 Sự thể hiện con người trong văn học Việt Nam sau 1975 17

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TRONG CÁI NHÌN THẾ SỰ, CÁI NHÌN ĐỜI TƯ QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU SAU NĂM 1975 23

2.1 Con người với những tác động của chiến tranh 24

2.2 Con người với những thói hư tật xấu 29

2.3 Con người với những tác đông của hoàn cảnh sống 40

2.3 Con người trong sự đối diện với chính mình 46

KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

1975 Về những sáng tác ở giai đoạn đầu của Nguyễn Minh Châu, ông đã thử sức mình qua các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và cũng đạt được những những bước đi chắc chắn của một cây bút trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Nhưng sự nghiệp sáng tác cuả Nguyễn Minh Châu nếu nói là đạt được những thành công lớn trên bước đường nghệ thuật thì phải kể đến những sáng tác giai đoạn sau 1975 của ông Đó là những bước tiến mới về tư duy nghệ thuật, giúp ông trở thành cây bút tiên phong mở đường tinh anh và tài hoa sau này

Trên chặng đường ba mươi năm kháng chiến chống đế quốc xâm lược (

1945 _ 1975), Nguyễn Minh Châu đã có mười năm tham gia trong quân ngũ với

tư cách vừa là một người lính vừa là một nhà văn Và chính mười năm đó là cái nền, cái cơ sở vững chắc làm nên phẩm chất người lính cũng như phong cách của một nhà văn trong con người Nguyễn Minh Châu Nguyễn Minh Châu có nhiều chuyến đi thực tế chiến trường, từ Quảng Bình, Vĩnh Linh đến đường 9 Nam Lào và đặc biệt là chiến trường Quảng Trị - nơi diễn ra nhiều chiến dịch hết sức quyết liệt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Là một nhà văn quân đội, hưởng ứng chủ trương đường lối văn nghệ của Đảng, Nguyễn Minh Châu bằng tài năng và lòng nhiệt tình cách mạng đã phản ánh kịp thời những hình ảnh sinh động của cuộc chiến đấu và hình tượng cao đẹp của những con người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ Đồng thời nhà văn cũng phát hiện và suy ngẫm về nhiều điều của đời sống xã hội và số phận con người ngay trong chiến tranh, được ông ghi

Trang 4

lại trong cuốn sổ tay và sau này sẽ trở thành những vấn đề chủ đạo trong sáng tác thời hậu chiến của chính ông

Khi những gay go, quyết liệt và căng thẳng của chiến tranh đã đi qua nhường lại cho sự bình yên và chính trong những giây phút bình yên đó con người ta mới có thời gian để mà suy ngẫm lại những điều đã qua, mới thấy được cái tốt cái đẹp, mới thấy được những gì là đáng quý, đáng trân trọng cũng như những điều cần phê phán Nguyễn Minh Châu đã suy nghĩ về chặng đường mà mình đã trải qua và nhận ra những hạn chế của nhiều tác phẩm văn học trong

giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ: "Hình như cuộc chiến đấu anh hùng sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca tráng lên một lớp men "trữ tình" hơi dày, cho nên ngắm nó thấy mỏng manh, bé bỏng và óng chuốt quá khiến người ta phải ngờ vực"[11,265], điều này đã làm nên sự thay đổi cách

nhìn của nhà văn Từ sau năm 1975, vẫn là một Nguyễn Minh Châu tài hoa tinh

tế trong những phát hiện và phân tích nhân vật nhưng không còn bay bổng lãng mạn, hùng tráng chất sử thi một thời, mà đề cập đến những góc cạnh xù xì phức tạp của cuộc sống Cái nhìn của nhà văn thể hiện về hiện thực càng được mở rộng và đạt tới những chiều sâu mới Ngòi bút của Nguyễn Minh Châu không còn bị khuôn vào trong những đường hướng, những khuôn khổ có sẵn mà mở ra

để khám phá toàn bộ đời sống xã hội và con người trong tính "đa sự, đa đoan" của nó, mang trong đó những dự cảm về những vấn đề nhân sinh xã hội

Những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ra mắt bạn đọc ở đầu những năm 1980 thực sự là những tìm tòi mới, với cái nhìn mới về hiện thực và con người, khiến Nguyễn Minh Châu trở thành một trong những con người mở đường tinh anh và tài năng nhất của công cuộc đổi mới văn học Vì vậy việc nghiên cứu đề tài này cũng không ngoài mục đích góp thêm một tiếng nói, một cách nhìn mới nhằm hoàn thiện hơn việc tìm hiểu, khẳng định vai trò và những đóng góp của Nguyễn Minh Châu trong nền văn học nước nhà

1.2 Khi bị ảnh hưởng bởi một khuynh hướng hay tư tưởng nào đó thì thật khó có thể quên nó đi để tiếp nhận một luồng tư tưởng mới với những đổi thay của thời đại trong một thời gian ngắn Bởi vì quanh quẩn đâu đó nó vẫn còn chút

ám ảnh, chút dư âm đeo bám trong mỗi con người và nếu không có một định hướng cũng như một quyết tâm cao thì con người ta sẽ dễ rơi vào sự lạc lối, bế

Trang 5

tắc trước những sự thay đổi lớn lao đó Bước ra từ nền văn học cách mạng với mục đích phục vụ kháng chiến dưới sự định hướng của Đảng, đã có không ít những nhà văn đã rơi vào sự bế tắc về cảm hứng, không thích nghi kịp với sự chuyển mình của đất nước ở thời bình Là một nhà văn nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội, và là một người trăn trở với những vấn đề của cuộc sống, nhất là những vấn đề mà Nguyễn Minh Châu đã ghi chép lại ở cuốn sổ tay trong thời gian chiến đấu thì thời gian này Nguyễn Minh Châu có dịp để trải lòng mình, để thể hiện và chia sẻ cùng công chúng Các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mang nhiều ý nghĩa nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc, chính điều này đã làm nên sức sống mới của các tác phẩm Là một sinh viên khoa văn, tôi thấy mình cần phải học tập ở nhà văn rất nhiều điều, đó là cách nhìn nhận về cuộc sống, về con người, về văn học, về những điều xảy ra xung quanh chúng ta, cũng như cách đánh giá và nhất là về quan niệm sống và lòng nhiệt huyết yêu nghề Đó chính là lí do thứ hai và cũng là lí do quan trọng nhất để tôi quyết định

làm đề tài: Con người trong cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975

1.3 Nguyễn Minh Châu được đánh giá là người có công lớn trong sự nghiệp đổi mới văn học Những tác phẩm của ông được đưa vào các trương trình dạy học ở các cấp học, đặc biệt là ở bậc đại học Tuy nhiên những tiết học về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Minh Châu là ít vì phải dạy theo đơn vị tiến chỉ, phần lớn giảng viên hướng dẫn còn sinh viên phải tự học và tìm hiểu, nhưng việc các bạn sinh viên có thể tìm đầy đủ các tác phẩm cũng như các tài liệu về Nguyễn Minh Châu là rất khó Nhất là trong trương trình phổ thông, các bạn học sinh chỉ được tiếp cận cái nhìn đổi mới của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm

Chiếc thuyền ngoài xa mà không có điều kiện tiếp xúc cũng như học tập các tác

phẩm khác để tiện cho việc so sánh và tìm hiểu những cái hay cái mới trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu Điều này đã giới hạn phần nào sự hiểu biết của các bạn học sinh, sinh viên khi học tập, nghiên cứu về mảng đề tài này Từ thực tiễn đó chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn nó sẽ là một tư liệu

về Nguyễn Minh Châu

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề

Nhà văn Nguyễn Minh Châu là một người lính, vì vậy nhân vật người lính

có mặt trong hầu hết sáng tác của ông Nhưng bên người lính, có người đời, trong người lính, có người đời với vô vàn, những nghịch lí, éo le Nguyễn Minh

Châu đã nắm bắt một cách nhạy bén và nhanh nhẹn cái phần “lắt léo” của cuộc

đời những năm sau chiến tranh(1975) Những năm trước 1975, các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu có cái nhìn lí tưởng hoá về con người, con người đẹp như những viên ngọc không tì vết Còn sau1975 Nguyễn Minh Châu nhìn nhận

về con người, về cuộc đời khác hơn Tư duy sử thi đã nhường chỗ cho tư duy tiểu thuyết, giúp nhà văn thấy rõ những trăn trở, giằng xé trong tâm hồn và những trớ trêu của cuộc đời Trong phạm vi của đề tài tôi xin trích dẫn một số ý

kiến nhận xét, đánh giá về Nguyễn Minh Châu như sau:

2.1.1.Trong Cuộc trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu (do tuần báo Văn nghệ tổ chức tháng 6 năm 1985), Bùi Hiển cho rằng truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 là: “Sự tìm tòi, khám phá về nội tâm, về tính cách về hình ảnh cuộc sống, về ý nghĩa cuộc đời theo một hướng có vẻ phức tạp hơn”[8,241].Cùng chung sự đánh giá đó Tô Hoài viết: “Những cái tưởng như bình thường, lặt vặt trong cuộc sống hằng ngày dưới con mắt và ngòi bút Nguyễn Minh Châu đều trở thành những gợi ý và có tầm triết lí”[8,245] Qủa thực Tô Hoài đã có cái nhìn chính xác về các truyện

ngắn của Nguyễn Minh Châu: từ những cái rất nhỏ bé trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi là rất nhỏ, rất đời thường Nguyễn Minh Châu đã nêu được

Trang 7

ý thức nghệ thuật, phá vỡ thi pháp cổ điển truyền thống đang ngăn cản văn học tiếp cận với đời sống”[8,109]

2.1.3 Nguyễn Văn Hạnh trong bài “Nguyễn Minh Châu những năm 80

và sự đổi mới cách nhìn về con người” đã nhận xét về cái nhìn đa chiều trong

sáng tác của Nguyễn Minh Châu, nhà văn không nhìn con người bằng một

cách, một chiều, đơn giản mà là cuộc sống phức tạp: “Nguyễn Minh Châu không thi vị hoá cuộc sống, không nhìn cuộc sống một chiều, dễ dài Cuối cùng anh hiểu cuộc sống bao giờ cũng vậy có cả ánh sáng và bóng tối, có cả dương và âm, rằng bản chất con người không hoàn toàn đơn giản và mỗi bước lên của xã hội, của cuộc sống cực kì chật vật, mâu thuẫn đầy thăng trầm và nhiều khi rất đau đớn” [8,228]

Ở một đoạn khác Nguyễn Văn Hạnh nhận xét: “Dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu, đời người, cuộc sống lao động của con người vừa là bản anh hùng ca, vừa là một bi kịch Nhà văn ca ngợi sự khéo léo, khôn ngoan, khí phách, nhất là đức tính kiên nhẫn kì lạ của con người trong cuộc sống nhọc nhằn đầy thử thách để tồn tại phát triển Càng về sau, nhà văn càng quan tâm hơn đến những người xung quanh, họ hầu như không bao giờ bó tay trước khó khăn” [8,228]

2.1.4 Hữu Thỉnh đã đưa ra nhận xét về thế giới nhân vật của Nguyễn

Minh Châu trong sự vận động và đổi mới nghệ thuật của ông: “Nguyễn Minh Châu là nhà văn viết rất kĩ và khá nhanh Trong số lượng tác phẩm để lại… đọc truyện nào của ông cũng thấy loé lên cái nhìn sắc sảo, một sự đầm ấm trong tâm hồn Nhân vật nào của ông cũng không thấy đơn giản sơ lược Trong hành trình cuộc đời của họ dường như luôn luôn có một cuộc đấu tranh dai dẳng, phức tạp Lối kết cấu tác phẩm và mô tả của Nguyễn Minh Châu cho thấy sự vận động đổi mới trong nghệ thuật viết văn của ông, hướng đi sâu vào thể hiện và phân tích nội tâm nhân vật …Nguyễn Minh Châu đã trở thành một trong những nhà văn đi đầu trong cuộc đổi mới văn học ở ta”[18,107]

2.1.5 Tôn Phương Lan đã chỉ ra sự thay đổi, sự khác nhau về giọng điệu

trong sáng tác trước và sau năm 1975 Theo tác giả: “giọng điệu của Nguyễn Minh Châu trong thời kì chống Mĩ là giọng điệu trang trọng, ngợi ca bao phủ lên khắp những sáng tác đó Giong điệu này quy định do cảm hứng của tác giả Một phần là

Trang 8

nỗi xúc động thực sự trước những chiến công anh hùng của quân và dân ta trong kháng chiến Một phần là tác giả muốn cổ vũ nhân dân tham gia chiến đấu”

Giọng điệu có sự thay đổi cho phù hợp trong các tác phẩm sau này của

Nguyễn Minh Châu: “Xuất phát từ chỗ coi con người không bao giờ phù hợp với bản thân, Nguyễn Minh Châu đã chọn chỗ đứng bình đẳng với nhân vật để cho nhân vật nói lên tiếng nói thật của mình Thật khó phân biệt đâu là giọng điệu của tác giả, đâu là giọng điệu của các nhân vật Cuộc đối thoại nội tâm đã mang tính chất một cuộc đối thoại với nhiều giọng điệu, khi thì mỉa mai, giễu cợt khi thì đanh thép nhưng nổi bật lên là giọng điệu khắc khoải thâm trầm của một tâm hồn bị nỗi đau tinh thần giằng xé”[8,278]

Đó là những nhận xét, đánh giá rất có ý nghĩa và chính xác đầy tính thuyết phục về nhà văn Nguyễn Minh Châu Sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Minh Châu thực sự đã gợi ra nhiều điều lí thú, qua thời gian càng ngày càng được đông đảo độc giả quan tâm và nghiên cứu Trên cơ sở kế thừa những

kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước tôi chọn nghiên cứu đề tài “Con người trong cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975” đây là một hướng đi mới mẻ giúp người đọc hiểu

sâu sắc hơn về một nội dung trong sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài có nhiệm vụ làm sáng tỏ một cách đầy đủ hơn về con người trong cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua những truyện ngắn sáng tác sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu Cụ thể là con người trong hiện thực cuộc sống phức tạp thời bình

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là con người trong cái nhìn đời tư

và cái nhìn thế sự qua những truyện ngắn sáng tác sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Những sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ sau 1975, cụ thể là 18 truyện ngắn

Trang 9

5 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện nhiệm vụ này chúng tôi nhằm mục đích:

- Hiểu một cách đầy đủ hơn về những đổi mới trong cách nhìn con người

ở hai khía cạnh thế sự và đời tư trong các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sáng tác sau 1975

- Hiểu thêm về đóng góp và công lao của Nguyễn Minh Châu trong sự nghiệp đổi mới văn học

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện khóa luận này chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

6.1 Phương pháp khảo sát

Căn cứ vào những nguồn tư liệu có liên quan, chúng tôi tiến hành khảo sát

tư liệu về vấn đề con người trong cuộc sống đời tư, thế sự và khảo sát 18 truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sáng tác sau 1975

6.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp

Chúng tôi so sánh, đối chiếu một số tác phẩm văn học trong chính sáng tác của Nguyễn Minh Châu, hoặc có khi so sánh với một số tác phẩm của các nhà văn khác cũng viết về cùng vấn đề này để thấy được sự tương đồng và khác biệt của Nguyễn Minh Châu với các nhà văn khác

6.3 Phương pháp phân tích văn học

Đây được coi là phương pháp nghiên cứu quan trọng nhất Trên cơ sở so sánh đối chiếu từ phương pháp trên chúng tôi tiến hành phân tích đánh giá tổng hợp những chi tiết đặc sắc về hiện thực cuộc sống và nhân cách của con người qua một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975

7 Đóng góp của khóa luận

Đề tài này giúp cho các bạn học sinh, sinh viên hiểu thêm những đổi mới quan niệm về con người trong hiện thực cuộc sống của Nguyễn Minh Châu nói riêng cũng như của nền văn học Việt Nam nói chung để qua đó thêm trân trọng

và biết ơn với những đóng góp to lớn của nhà văn đối với nền văn học nước nhà

Trang 10

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, khóa luận gồm hai chương:

- Chương 1: Những vấn đề chung

- Chương 2: Con người trong cái nhìn thế sự, cái nhìn đời tư qua một số truyện ngắn sáng tác sau 1975 của Nguyễn Minh Châu

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Đôi nét về nhà văn Nguyễn Minh Châu

1.1.1 Tiểu sử nhà văn Nguyễn Minh Châu

Nhà văn Nguyễn Minh Châu, tên khai sinh đồng thời cũng là bút danh, sinh ngày 20-10-1930 tại làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Là con út trong một gia đình có sáu anh chị em, Nguyễn Minh Châu được tạo điều kiện học hành khá chu đáo Học ở quê rồi vào Huế học tiếp, đầu năm 1945 khi Nhật đảo chính Pháp thì trở về quê thi đỗ bằng thành chung Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Minh Châu tiếp tục học trung học trong vùng kháng chiến Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An, Nguyễn Minh Châu tình nguyện vào quân đội, cùng năm đó ông vào Đảng Cộng Sản Việt Nam

Năm 1951 ông là học viên trường sỹ quan lục quân Trần Quốc Tuấn, trung đội trưởng thuộc Sư đoàn 320 Năm 1952 - 1956 công tác tại Ban tác chiến - Ban tham mưu tiểu đoàn 722 và tiểu đoàn 706, 722 Năm 1956 - 1958 là Chính trị viên phó đại hội, trợ lí văn hóa thanh niên trung đoàn 64 Năm 1958 Nguyễn Minh Châu được phong úy, sau đó đi học bổ túc quân sự khóa II, viết tài liệu tổng kết ở quân khu Tả Ngạn

Năm 1959 Nguyễn Minh Châu dự hội nghị bạn viết toàn quân Sang đến năm 1960 ông công tác tại Phòng Văn nghệ, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Năm 1961 đi học trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn Năm

1962 chuyển công tác về tạp chí Văn nghệ quân đội và phục vụ ở đây với tư cách nhà văn quân đội cho đến lúc mất Đi thực tế trường 400 pháo Lục quân

Đi Điện Biên Phủ Năm 1963 đi Trà Cổ, Thái Bình Đi tiểu đoàn 48, đại đoàn

320, Tiên Lãng - Thủy Nguyên ( Hải Phòng) Cùng năm đó ông được phong Thượng úy

Năm 1964 ông đi ghi hồi kí cách mạng ở Hùng Thắng Tháng 8 đến khu

IV - Quảng Bình, được tặng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì Năm 1965

đi Quảng Bình Năm 1967 - 1968 đi đường 9, Nam Lào, Khe Sanh, Cửa Việt, Đoàn vận tải quân sự Năm 1971 đi đơn vị Đặc công nước, vào Quảng Bình,

Trang 12

Vĩnh Linh, cầu Hiền Lương Năm 1972 được Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp làm hội viên

Năm 1973 Nguyễn Minh Châu được phong Đại úy Dự trao trả tù binh ở sông Thạch Hãn Năm 1974, là một thành viên trong đoàn nhà văn Việt Nam đi thăm Hungari Năm 1975 từ tháng 2 đến tháng 6 đi Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Sài Gòn, Hà Nội, đồng bằng Sông Cửu Long, đến tháng 10 đi Cửa Việt ( Quảng Trị)

Liên tục từ 1979 đến năm 1981, ông được Ban chấp hành Trung ương Đoàn tặng bằng khen và huy hiệu Vì thế hệ trẻ, được phong Trung tá Năm 1983

là đại biểu chính thức dự đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 3 tại Hà Nội, trúng

cử vào Ban chấp hành Hội khóa III Năm 1984 được tặng huân chương Quân công hạng Ba và Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhất

Năm 1985 ông đi Quảng Trị, Nghệ Tĩnh Tháng 6 năm 1986 đi Liên Xô

dự Đại hội nhà văn Liên Xô lần thứ VIII, cùng năm được phong Đaị tá Cùng năm này ông phát hiện bệnh ung thư máu Ngày 23 - 1- 1989 ông mất tại viện Quân y 108_ Hà Nội

1.1.2 Sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu rất phong phú bao gồm nhiều thể loại khác nhau:

Về truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu đã xuất bản bốn tập truyện ngắn:

- Những vùng trời khác nhau ( Nxb Văn học, 1970)

- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nxb Tác phẩm mới, 1938)

- Cửa sông (Nxb Văn học, 1967)

- Dấu chân người lính (Nxb Thanh niên , 1972)

- Từ giã tuổi thơ (Nxb Kim Đồng, 1974)

- Miền cháy (Nxb Quân đội nhân dân, 1977)

- Lửa từ những ngôi nhà (Nxb Quân đội nhân dân, 1977)

Trang 13

- Những ngày lưu lạc (Nxb Kim Đồng, 1981)

- Những người đi từ trong rừng ra (Nxb Quân đội nhân dân, 1982)

- Đảo đá kì lạ (Nxb Kim Đồng 1985)

- Mảnh đất tình yêu (Nxb Tác phẩm mới, 1987)

Về tiểu luận phê bình, Nguyễn Minh Châu viết nhiều tiểu luận và phê bình văn học Tất cả những bài viết này của ông được Tôn Phương Lan tuyển

chọn và giới thiệu trong cuốn Trang giấy trước đèn

Ngoài các sáng tác trên đây, Nguyễn Minh Châu còn viết nhiều bút kí và truyện ngắn khác đăng trên các báo

Với những cống hiến xuất sắc của mình trong hoạt động văn học nghệ thuật, Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nhận được:

- Giải thưởng Bộ quốc phòng (năm 1984 - 1989) cho toàn bộ tác phẩm của ông viết về chiến tranh và người lính

- Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (năm 1988 - 1989) cho tập truyện

vừa Cỏ lau

- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Dấu chân người lính, Cửa sông, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành

1.1.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu

Là một người viết không chỉ dựa vào bản năng thiên bẩm mà còn luôn quan sát và suy nghĩ về chính công việc của mình và đồng nghiệp, ở Nguyễn Minh Châu đã hình thành ý thức nghệ thuật khá nhất quán và ngày càng toàn diện, sâu sắc trong hành trình sáng tạo của nhà văn

- Như mọi nhà văn chân chính, mối quan tâm lớn trước hết ở Nguyễn Minh Châu là quan hệ giữa văn học với đời sống, với thời đại Sau năm 1975, nhận thức của nhà văn về hiện thực càng được mở rộng và đạt tới những chiều sâu mới Ngòi bút Nguyễn Minh Châu đi sâu khám phá toàn bộ đời sống và con người trong tính xù xì, phức tạp của nó Đồng thời, quan niệm về hiện thực ở

Nguyễn Minh Châu cũng luôn gắn liền với nền tảng tinh thần nhân bản: "Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người" (Trả lời phỏng vấn báo Văn nghệ đầu xuân 1987)

- Càng ngày, Nguyễn Minh Châu càng tha thiết với sứ mệnh của văn chương và nhà văn trong mục tiêu cao cả vì con người Ông viết: " Nhà văn tồn

Trang 14

tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời Nhà văn tồn tại trên đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực"

( Ngồi buồn viết mà chơi) Để làm được điều đó, phẩm chất đầu tiên cần có của

một người viết văn là tình yêu thương con người: " Tình yêu này của người nghệ

sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn khắc khoải, một mối hoài quan thường trực về số phận hạnh phúc của những người chung quanh mình Cầm giữ cái tình yêu ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua

những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống" (Trả lời phỏng vấn của báo Văn nghệ đầu xuân 1986) Nhà văn có trọng trách của nhà

văn hóa: " Chúng ta có nhiệm vụ chăm chút, gìn giữ cho đất nước những cái gì thật lâu đời, bền chặt mà cũng thật là mỏng manh: tính thật thà, hồn hậu, niềm tin nền phong hóa nhân bản "

Điều đáng chú ý là ở Nguyễn Minh Châu giữa những quan niệm, nhận thức được phát biểu trực tiếp với tác phẩm luôn có sự thống nhất, quá trình sáng tác cũng là quá trình nhà văn tự tìm kiếm và xác định ngày càng toàn diện và sâu sắc quan niệm nghệ thuật của mình

1.2 Sự thể hiện con người trong văn học Việt Nam trước 1975

Văn học Việt Nam 1945 - 1975 là giai đoạn mở đầu cho một thời kì văn học mới Nền văn học ấy nảy nở và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, khi cả dân tộc phải dồn tất cả tinh thần và lực lượng vào cuộc chiến đấu cho độc lập, tự do, thống nhất đất nước Nền văn học mới đã gắn bó mật thiết với vận mệnh của dân tộc và trở thành một phần không thể tách rời cho sự nghiệp đấu tranh ấy Văn học tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản, có ý nghĩa sống còn của đất nước: đất nước còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ Hướng vào phục vụ cho những nhiệm vụ chính trị, theo sát yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng Điều này quy định từ đề tài, chủ đề, cảm hứng bao trùm cho đến nhân vật trung tâm của văn học ở từng chặng đường

Trang 15

Phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu thì lẽ tất nhiên nhân vật trung tâm của nền văn học ấy phải là những người chiến sĩ và quần chúng cách mạng Con người trong văn học được nhìn nhận và thể hiện ở tư cách công dân, ở ý thức chính trị và trong đời sống cộng đồng, trong cuộc đấu tranh cho những lí tưởng cao cả của dân tộc và cách mạng; vận mệnh của mỗi cá nhân, những vấn đề tư tưởng và các mối quan hệ của con người đều được xem xét từ những lợi ích và

số phận của cả cộng đồng, từ các yêu cầu và mục tiêu của từng giai đoạn cách mạng Những tình cảm được thể hiện phong phú và cảm động nhất trong văn học giai đoạn này là những tình cảm trong các quan hệ cộng đồng; tình quê hương đất nước, tình đồng bào đồng chí, đồng đội, tình quân dân, tình cảm giai cấp, tình cảm với Đảng và với lãnh tụ

Từ cuộc phục sinh của tâm hồn dân tộc trong lòng mỗi người dân và mỗi nghệ sĩ sau Cách mạng tháng Tám, từ những phẩm chất tốt đẹp của các tầng lớp nhân dân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, trong sự nghiệp xây dựng và cải tạo đất nước ngày càng đổi mới Các tác giả truyện ngắn giai đoạn 1945 – 1975 đã khắc hoạ nổi bật hình ảnh những thế hệ người Việt Nam sống hết mình với sự nghiệp chung của cộng đồng Đời sống chung của cộng đồng và cách mạng được cảm nhận như đời sống riêng của con người Con người như không hề có cảm giác về riêng bản thân mình, không thể hiện những đặc điểm, cá tính, không thấy mình trong hoàn cảnh đang tồn tại, không có nhu cầu, đòi hỏi cho riêng mình Con người hoặc được thể hiện như đại diện phát ngôn cho ý thức của cả một lớp người hoặc như hoà tan vào tập thể, bình đẳng với mọi người trong những hoạt động vì nghĩa lớn, vì lí tưởng chung Nhà văn thường quan sát và miêu tả tập thể người Cũng nhiều khi tác giả chú ý tái hiện

và tái tạo trong tác phẩm những con người cụ thể, nhưng không phải để kể về những số phận con người, mà để khắc hoạ những trạng thái, những khía cạnh nội dung của cuộc sống xã hội, của ý thức giai cấp, ý thức dân tộc Theo dòng chảy của cuộc sống trong các bước phát triển của văn học, trong ba mươi năm truyện ngắn, con người hiện lên với nhiều dáng vẻ khác nhau

Viết về cuộc sống của dân tộc những ngày sát trước cách mạng, truyện ngắn muốn thể hiện khả năng phản ánh khái quát của mình qua nhân vật sống cuộc sống quằn quại của người dân nghèo đói, đau khổ, cất tiếng nói phẫn nộ,

Trang 16

phê phán chế độ thực dân, phát xít, đòi quyền sống Thảm hoạ đói 1945 trong

đời sống dân tộc cũng được ghi đậm trong Vợ nhặt của Kim Lân, Lột xác của

Nguyễn Tuân… Anh Tràng có thể khác người ở việc lấy vợ, nhưng cả câu chuyện ấy cũng tồn tại trong cái khung cảnh nghèo đói chung của không chỉ xóm ngụ cư, mà của cả bao nhiêu miền vùng đất nước Còn nhân vật Nguyễn vốn chỉ biết đến những cảm giác riêng của mình, những người này cũng đã hướng về lấy cái trạng thái sống chung của đời sống nhân loại, cũng thấy mình

chỉ là một cuộc đời chung, khi cần cũng sẽ xử sự hệt như mọi người: “Chỉ có cách là lại sống với nó bằng cái lối bồi đắp thêm mãi vào cho mình, cho nhân loại để rồi một ngày nào đó nhân loại điều khiển hẳn được nó Mỗi người, mỗi thế kỉ góp vào (…) nếu có phải đi ăn mày mà sống, mà tìm mà chờ sự sống, chàng sẽ làm đúng như người ăn xin cho đến phải chết đói kia, chứ không khi nào cầu cạnh đến sự tự vẫn nữa” (Lột xác).Kiểu nhân vật như Xan, như người

ăn mày, như Tràng, Nguyễn … chủ yếu được nhìn nhận và miêu tả từ góc độ con người xã hội, con người của cộng đồng nên khác hẳn các nhân vật nghèo đói, bế tắc của văn học hiện thực phê phán trước 1945

Điều này được phản ánh rất rõ trong các tác phẩm như: truyện ngắn Làng

của nhà văn Kim Lân, truyện ca ngợi tinh thần yêu làng, yêu nước, tinh thần kháng chiến sôi nổi của người dân thường qua nhân vật ông Hai Ông Hai có tình yêu làng sâu sắc đặc biệt với làng chợ Dầu, nơi chôn rau cắt rốn của ông Kháng chiến chống Pháp nổ ra, ông Hai muốn ở lại để chống giặc nhưng vì hoàn cảnh gia đình phải tản cư, ông luôn day dứt nhớ làng Tự hào về làng, ông tự hào

về phong trào cách mạng, tinh thần kháng chiến sôi nổi Tình yêu làng của ông Hai hoà nhập thống nhất với lòng yêu nước, yêu kháng chiến, cách mạng Nghe

tin làng chợ Dầu theo giặc Pháp ông đau đớn nhục nhã: “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù” Nghe tin cải chính làng không theo giặc, ông Hai

vui sướng tự hào nên dù nhà ông có bị giặc đốt ông không buồn, không tiếc xem

đó là bằng chứng trung thành của ông đối với cách mạng Ông Hai tiêu biểu cho tầng lớp nông dân thời chống Pháp yêu làng, yêu nước sâu sắc Truyện ngắn

Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê hương đất

nước Với người dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làng xóm

Trang 17

quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến Tình cảm đó vừa truyền thống vừa có chuyển biến mới

Trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, truyện được

viết năm 1965, đây là thời điểm Mĩ đổ quân tham chiến vào miền Nam Cuộc kháng chiến chống Mĩ ở miền Nam đang ở thời kì quyết liệt, giặc Mĩ điên cuồng đánh phá cách mạng miền Nam và chuẩn bị chiến tranh phá hoại miền Bắc Trước sự huỷ diệt bạo tàn của kẻ thù, tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân

dân (từ miền ngược đến miền xuôi) ngày càng kiên cường và bất khuất “Họ đã ngã xuống đường và đem cả lương tâm và nhân phẩm bắn toả lên bầu trời đầy giặc giã” (Chu Lai) Chuyện về cuộc đời Tnú và chuyện kể về cuộc nổi dậy vũ

trang tự giải phóng của dân làng Xô Man Trong đó, câu chuyện về cuộc đời của Tnú là tình tiết chính và cũng là cốt lõi trong cuộc nổi dậy của buôn làng Tnú tham gia cách mạng nhưng không may bị địch bắt Kẻ thù tra tấn dã man, giết chết vợ con anh và chúng đã dùng đến nhựa cây xà nu đốt cháy cả mười ngón tay anh hòng dập tắt ý chí cách mạng và tinh thần đấu tranh của dân làng Nhưng sự tàn bạo của quân giặc chỉ càng làm bùng lên ngọn lửa căm thù và sức phản kháng dữ dội của dân làng Tnú là nhân vật kết tinh được những vẻ đẹp tiêu biểu nhất của con người Tây Nguyên: gan góc, dũng cảm, mạnh mẽ và rất giàu lòng yêu thương Lời của cụ Mết âm vang bên bếp lửa nhà rông trong một

đêm thiêng nghe như lời phán truyền của lịch sử: “Tnú không cứu được vợ con

…Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày Còn mày thì chúng

nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng …Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa Nhớ lấy, ghi lấy Sau này tau chết rùi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” Có lẽ không thể tìm đâu ra

cách diễn đạt chính xác, thiết tha, cô đúc hơn những lời này để tổng kết lại câu truyện về cuộc đời Tnú, cuộc đời riêng của một con người nhưng có ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường cách mạng tất yếu ở miền Nam trong phong trào đồng khởi

Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt kéo dài suốt ba mươi năm, vấn đề dân tộc luôn nổi lên hàng đầu Do vậy, văn học không thể là tiếng nói riêng của cá nhân mà tất yếu phải là tiếng nói của cả cộng đồng, của toàn nhân vật Vì vậy

mà tính cách của con người được nói đến đều mang tính tiêu biểu, đại diện cho

Trang 18

phẩm chất và tính cách của cả một dân tộc, một đất nước Con người hiện lên với những điều tốt đẹp: chiến tranh dù tàn khốc, khó khăn, hi sinh chồng chất nhưng vẫn tràn đầy tin tưởng, lạc quan, tươi vui, chung một niềm mơ ước vươn tới tương lai những người chiến sĩ anh hùng, bất khuất, dũng cảm, có lí tưởng sống cao đẹp Sau cách mạng tháng tám, mối quan hệ cá nhân – cộng đồng trong cuộc sống không phải là mối quan hệ đối lập, không phải chỉ được xử lí trên tinh

thần “vô thức tập thể”, mà tuỳ thuộc vào sự giác ngộ, nhận thức của mỗi người

về sự nghiệp chung Dưới ánh sáng lí tưởng nhân văn “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, lợi ích của cộng đồng, dân tộc về cơ bản là nhất trí với

lợi ích cá nhân của mỗi con người Mục tiêu của cách mạng là để nhân dân được sống trong độc lập, tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Ngược lại, quá trình vươn lên khẳng định và phát triển mọi nhu cầu cá nhân của mỗi con người trước hết là tích cực tham gia vào sự nghiệp chung, nâng tư cách của mỗi cá nhân con người của bản thân, gia đình trở thành con người của làng quê, đất nước Vì thế, khi thể hiện hình ảnh con người, sử thi trong văn học mới,

các nhà văn không chỉ “tập trung vào những sự kiện có tính chất quyết định đối với vận mệnh lịch sử dân tộc (…), những sự kiện gắn liền với hành động có ý nghĩa to lớn của những con người xuất chúng” mà còn có thể miêu tả vô vàn

biểu hiện sinh động, cụ thể vốn là nội dung cuộc sống dân tộc ngay trong suy nghĩ và cách làm việc hằng ngày của mỗi con người Các tác phẩm tiêu biểu:

như truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng Chiếc lược ngà được

viết năm 1966 là một trong những truyện ngắn xuất sắc thời kì chống Mĩ Với một tình huống độc đáo, câu chuyện cảm động về tình cha con đã phản ánh sâu sắc tình cảm con người trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh Đoạn trích từ

“Các bạn! Mỗi lần nhìn thấy cây lược ngà nhỏ ấy…” cho đến “Đến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi” Thể hiện rõ chủ đề tư tưởng cũng như những đặc sắc

nghệ thuật của tác phẩm

Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng được một cốt truyện đầy tính bất ngờ, có sức cuốn hút người đọc Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi đứa con duy nhất của anh chưa đầy một tuổi Từ đó hai ba con chưa hề gặp lại nhau, cho đến khi kháng chiến kết thúc, anh trở về, đứa con gái tám tuổi không chịu

Trang 19

nhận ba Trong ba ngày được nghỉ phép về thăm nhà, bằng đủ mọi cách mà con

bé vẫn không chịu gọi lấy một tiếng ba Thì ra, nó không chịu nhận ba là vì vết thẹo trên má đã khiến anh không còn giống như trong bức ảnh chụp ngày cưới Con bé chỉ gọi ba khi bà ngoại giải thích cho nó rõ về điều này Giây phút anh nghe được tiếng gọi mà anh chờ đợi đã bao năm ấy cũng là lúc cha con xa nhau Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược Những ngày chiến đấu trong rừng, Anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh Bản thân cốt truyện của

đoạn trích Chiếc lược ngà đã có giá trị tố cáo tội ác chiến tranh đối với cuộc

sống con người Cha con tám năm trời không gặp nhau là do chiến tranh Vết thẹo làm biến dạng khuôn mặt anh Sáu, khiến con bé không nhận ra ba là do chiến tranh Và thật đau xót, người cha chưa kịp trao cho đứa con hết mực yêu thương của mình kỉ vật như lời hứa thì chiến tranh đã cướp đi sinh mạng anh Tuy nhiên, cái mà tác giả tập trung thể hiện là những con người, là nhân vật Những con người anh dũng, chịu đựng nỗi đau riêng mà hướng đến sự nghiệp chung của đất nước, sẵn sàng hi sinh để đất nước được vẹn toàn

Trong hoàn cảnh chiến tranh giữ nước và giải phóng dân tộc, sức mạnh của tinh thần yêu nước và ý thức của cộng đồng đã phát huy cao độ Cuộc sống

cá nhân, riêng tư của mỗi người phải thu hẹp lại đến tối thiểu, nhường chỗ cho đời sống chung của tập thể, của cả dân tộc Con người được nhìn nhận đánh giá trước hết và chủ yếu ở tư cách con người của dân tộc, của nhân dân, của cách mạng Đó là thời kì theo cách nói của Chế Lan Viên: “Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt, nụ cười đưa tiễn con, nghìn bà mẹ như nhau”.Chính vì hoàn cảnh chiến tranh, cả đất nước đều hướng về một mục tiêu chung là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Nên con người phải hi sinh những cái gì là riêng tư để hòa mình vào cái chung cao cả, vào cái trách nhiệm trọng đại của người công dân với đất nước mình

1.3 Sự thể hiện con người trong văn học Việt Nam sau 1975

Sau 1975, nhất là trong mười năm đầu sau giải phóng đất nước chuyển đổi trên nhiều phương diện trong đó có đời sống văn hoá, tư tưởng Chiến tranh kết thúc, văn học cựa mình thay đổi, sau Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với xu hướng đổi mới trên mọi bình diện và tiếp theo nghị quyết 05

Trang 20

của Bộ chính trị, cuộc gặp của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện cho giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987, tất cả những điều đó đã thổi một luồng gió mới ào ạt vào đời sống văn học nước nhà

Bên cạnh tiểu thuyết, kí, kịch… truyện ngắn trở thành một thể loại rực rỡ

của văn học Việt Nam sau 1975 Nó được xem là một “cú huých” mạnh mẽ và khả quan, tạo nên một phản ứng dây chuyền có tác dụng “kích nổ” sự phát triển

truyện ngắn với rất nhiều gương mặt tiêu biểu như: Vũ Thị Thường, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh…Ngòi bút của các nhà văn thay đổi trên nhiều phương diện trong đặc biệt chú ý nhất là thay đổi quan niệm về con người, đây là một bước chuyển quan trọng cho truyện ngắn Ứng với mỗi giai đoạn văn học sẽ có những quan niệm khác nhau về con người Văn học chống Pháp và chống Mĩ gắn với cảm hứng ngợi ca, con người xả thân vì quê hương đất nước, ý nghĩa cuộc đời gắn bó với

cộng đồng, con người sống với cái “ta” to lớn, không hoặc ít đối diện với cái

“tôi” nhỏ bé của chính mình, không gian cộng đồng chiếm ưu việt hơn hết cả

Sau năm 1975, con người bắt đầu có ý thức nhìn ngắm lại mình Văn học

không còn hô hào, nói về cái lớn lao mà đào sâu vào cái “tôi”, cái lẩn khuất bên

trong được khui mở Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà văn đã hướng vào thế giới nội cảm, khám phá chiều sâu tâm linh, thấy được ở mỗi cá nhân những cung bậc tình cảm Chính vì vậy, truyện ngắn đã nhanh nhạy trong cách tiếp cận và phản ánh cuộc sống con người dưới cái nhìn đa chiều kích Milan

Kundra nói rằng: “con người là hiền minh của lưỡng lự”, con người quả là đa

dạng, phong phú Vì thế nhà văn thể hiện quan niệm con người ở nhiều chiều kích khác nhau Các nhà văn chuyển hướng cách nhìn cách cảm và cách đánh giá con người được coi tự làm mới mình về mặt nhận thức, tư duy bản thể con người Con người phải luôn tự đấu tranh, tự dò dẫm trong muôn ngàn ngã rẽ của

xã hội hiện đại, hậu hiện đại Nhà văn là người đau đời nhất, vì thiên chức của nhà văn làm cho con người trở nên người hơn, bởi trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại hai mặt: đẹp - xấu, thiện - ác, cao cả - thấp hèn, trong sáng – tối tăm, hạnh phúc - khổ đau, tự nhiên - xã hội Ở đó con người đứng trên ranh giới nhỏ nhoi, nếu không khéo sẽ bị nghiêng về phía con người tự nhiên, ngược lại

con người sẽ hướng về phía con người xã hội Đò ơi của Nguyễn Quang Lập,

Trang 21

Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo Với truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn

Ngọc Tư khiến cho người đọc phải xót xa vì sự tan vỡ của một gia đình bé nhỏ trên cánh đồng bất tận là cuộc đời rộng mênh mông Đó là câu chuyện về cuộc

sống lênh đênh sông nước “theo vịt chạy đồng” của ba cha con ông Tư và hai

đứa trẻ Điền, Nương thiếu vắng tình thương của người mẹ và cuộc đời của người phụ nữ Sương Những mảnh đời không lành lặn trôi dạt nay đây mai đó theo con nước bị số phận run rủi gặp nhau, tưởng rằng đã có thể nương tựa lẫn nhau nhưng lại không thể ghép thành một gia đình trọn vẹn vì những mặc cảm

cá nhân và trái ngang của số phận Cánh đồng ở đây là cuộc đời, là cõi nhân gian bất tận những vui buồn, hạnh phúc và hy vọng của kiếp người Sự tan vỡ của gia đình bé nhỏ trong tác phẩm này là tất yếu sau sai lầm của người mẹ và sự mê đắm vào việc trả thù của người cha Hai nhân vật đứa trẻ trong tác phẩm như là những nạn nhân, lớn lên tự nhiên như đàn vịt, thiếu thốn sự quan tâm và những

cử chỉ trìu mến của người thân Điều đó đã lay động trái tim hàng nghìn độc giả

Trong cuộc sống, ai cũng có thể gặp sai lầm Nguyễn Ngọc Tư đã đặt ra vấn đề về cách cứu vớt, về hậu quả của việc lấy cái ác để trả ác Tác phẩm đưa

ra thông điệp, trước lỗi lầm, người ta chỉ có thể cứu vớt được bằng sự khoan dung, tha thứ, lấy ân trả oán…Từ câu chuyện về gia đình và cách ứng xử của con người, Nguyễn Ngọc Tư miêu tả sự đau đớn, vật vã của kiếp người bằng tất

cả tình yêu thương con người Dòng chảy của chủ nghĩa nhân văn này đã có sức cuốn hút sâu sắc đến bạn đọc mọi tầng lớp Tác phẩm phải có được những giá trị nhất định thì mới được bạn đọc yêu mến đến như thế chứ

Nguyễn Minh Châu, nhà văn quân đội, người từ trong cuộc chiến đi ra, một trong những tác giả tiên phong thay đổi quan niệm về con người Ông không còn nhìn con người một chiều mà nhìn con người trong nhiều mối quan

hệ bộn bề phức tạp Con người tự thú, con người thức tỉnh, con người sám hối, con người bản năng tình dục Con người luôn khát khao vươn tới cái chân –

thiện – mỹ, tiêu biểu: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra…

Truyện ngắn được xem như là lát cát của cuộc sống xã hội với những đặc

trưng riêng về thời gian không gian, nhân vật và sự kiện… Truyện ngắn Tướng

về hưu của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp xâu chuỗi các sự kiện diễn ra trong hơn

Trang 22

một năm, từ khi ông Thiếu tướng Nguyễn Thuấn về hưu cho đến khi ông “ hy sinh khi làm nhiệm vụ”.Bối cảnh là khi đất nước đang chuyển mình từ chiến tranh sang thời bình, ở một khu dân cư ven đô, nơi “tuy gần thành phố nhưng

mà tập tục nông thôn còn giữ” Lấy bối cảnh này, Nguyễn Huy Thiệp có ý nói

về sự giao thời của xã hội đang chuyển đổi từ chiến tranh sang hoà bình, từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, từ nông thôn với bao thuộc tính cũ của nó chuyển sang giai đoạn quá độ đô thị hoá… Buổi giao thời ấy hiển nhiên là nhiều chuyện, vì cái cũ chưa mất đi, cái mới chưa định hình, là những quan niệm sống của thời chiến tranh, của một xã hội trong cơ chế bao cấp quá lâu đang chuyển

mình theo thời thị trường, “mở cửa”.Trong lúc giao thời từ chiến tranh sang hoà

bình, lẽ dĩ nhiên những người lính vừa đi qua chiên stranh được chú ý, vì họ là những công thần, những người chiến thắng trong cuộc chiến tranh đã đi qua

Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp là cái cơ để nói đến những sự đang

chuyển dời, mà ở đó nhân cách, phẩm chất con người đang bị bóp méo thê thảm Trong truyện ngắn “Tướng về hưu” có rất nhiều nhân vật được nhắc đến và hiện hữu, từ gia đình nhà ông Thuấn, đến những người hàng xóm, họ hàng, cậu nhà thơ Khổng, những người trong phường bát âm, đô tuỳ khênh quan tài, rồi đồng đội của ông Thuấn, hình bóng của Hàn Tín, trùm ăn trộm Nhân… Trong số hàng chục nhân vật ấy, chỉ có 14 nhân vật được Nguyễn Huy Thiệp đặt lời thoại, ít nhất là ông thợ mộc chỉ một lần quát ông Cơ, một người giúp việc, khi ông ta đang đóng quan tài cho bà Thuấn, vợ ông Tướng về hưu Các lời thoại của nhân

vật đều gây nên những suy ngẫm cho người đọc Như lời ông Bống: “ Cả làng

cả họ gọi em là đồ chó Vợ em gọi em là đồ đểu Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn Chỉ có chị gọi em là người” Đặc biệt nhất là các lời thoại của bác sĩ Thuỷ,

vợ Thuân - con trai ông Tướng về hưu đóng vai trò người kể chuyện, chúng cộc lốc, nhưng có uy rõ ràng Lời nói cộc lốc của Thuỷ, cùng những chi tiết gom nhau thai nhi về nuôi chó, nuôi lợn, sự tính toán rành mạch, sát sao, rồi ngăn ao tát nước tìm của… cho thấy, hình ảnh người trí thức lúc giao thời chuyển sang

cơ chế thị trường vô cảm làm sao Đặt sự khôn khéo, ma mãnh của Thuỷ bên

cạnh sự nhu nhược của Thuân – một tiến sĩ Vật lý, với “sự cả tin”, hiền lành

của Lài, chân chỉ của ông Cơ và phàm phu, tục tử như cha con ông Bổng trong truyện mà không tạo thành mớ bòng bong là tài của Nguyễn Huy Thiệp

Trang 23

Hay trong truyện ngắn Một người Hà Nội, của Nguyễn Khải cũng đã cho

thấy sự thay đổi cách nhìn về con người, đó là những con người cá nhân với những mối quan hệ trong cuộc sống hằng ngày Ngay cách đặt tên truyện đã mang đầy dụng ý của tác giả, muốn định danh chắc chắn về vẻ đẹp độc đáo khác biệt của cốt cách người Hà Nội Chất hào hoa sang trọng, văn hoá lịch lãm của

Hà Nội được tác giả phát hiện và thống nhất quy tụ trong nhân vật cô Hiền Một người có bản lĩnh, luôn là chính mình trong nhiều hoàn cảnh thử thách, cô Hiền bộc lộ cá tính qua suy nghĩ, việc làm và sự chiêm nghiệm cá nhân Cách quản lí gia đình, việc hôn nhân, việc sinh con, việc dạy con… của cô cho thấy một nếp sống, lối nghĩ đạt đến độ chuẩn mực của người Tràng An thanh lịch, quý phái Cũng như xuất hiện ở nhiều nhân vật nữ trong tác phẩm của Nguyễn Khải, thiên tính nữ trong con người nhân vật luôn được nhà văn chú ý miêu tả, đề cao, chức phận làm vợ, làm mẹ được đặt lên trên mọi thú vui khác Cô không chạy theo thói thường lãng mạn viển vông của những cô gái Hà thành đua đòi hám danh, hám lợi trong việc hôn nhân, việc chọn ông giáo tiểu học làm chồng cho thấy thái độ nghiêm túc và quan niệm một cách hiện đại, hợp lý Con cái phải được nuôi dạy chu đáo, cha mẹ phải cho con một bản lĩnh, nhân cách vững vàng để bước vào đời, phải dạy con từ việc ngồi ăn, cách cầm bát, cầm đũa, múc canh…

và coi đó không phải chuyện nhỏ nhặt, vặt vãnh mà là lối sống, nếp văn hoá người Hà Nội Cô cũng như bao người phụ nữ ngoài đời yêu quý con rất mực, đặt tình yêu nước lên trên hết, khi Tổ quốc cần sẵn sàng dứt áo, động viên con lên đường nhập ngũ Hà Nội trong quá trình phát triển, hoà nhập với thời đại sẽ đối mặt với những dư ảnh tiêu cực của nền kinh tế thị trường, nếp sống văn hoá

có nguy cơ đứng trước sự mai một, băng hoại, song như thế không hẳn là mất đi niềm tin về con người Hà Nội Chuyện cây si ở đền Ngọc Sơn được cứu sống

mà cô kể cho người cháu nghe cũng thể hiện niềm tin của cô về con người Hà

Nội “Thời nào cũng đẹp”, người Hà Nội không chỉ chú trọng vật chất mà còn

quan tâm đến đời sống văn hoá tinh thần, cái gốc rễ cội nguồn bền vững để làm nên tầm vóc một thủ đô văn minh, hiện đại

Tóm lại: Việc phản ánh con người trong văn học sau 1975 ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng triết học

và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản Con người vừa là

Trang 24

điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử Nó khác hoàn toàn với văn học giai đoạn trước 1975 đó là tập trung vào các biến cố, sự kiện lịch sử và con người là nhân

tố làm nổi bật lên những điều ấy Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: Con người xã hội, con người với lịch sử, con người của gia đình, gia tộc, con người với phong tục, với thiên nhiên, với những người khác và với chính mình Con người cũng được văn học khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát Điều dễ nhận ra là trong phần lớn các tác phẩm văn học thời kì này, con người không còn là nhất phiến, đơn trị mà luôn là con người đa diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người đan xen, chen lẫn, giao tranh ánh sáng và bóng tối, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỷ sứ, cao cả và tầm thường

Trang 25

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TRONG CÁI NHÌN THẾ SỰ,

CÁI NHÌN ĐỜI TƯ QUA MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA

NGUYỄN MINH CHÂU SAU NĂM 1975

Có thể nói cuộc đời của Nguyễn Minh Châu gắn liền với sự nghiệp của đất nước, của dân tộc Việt Nam Ông đã cùng đất nước đứng lên trong những tháng ngày đau thương vì đạn bom khói lửa, cùng các đồng chí đồng đội của mình xông pha vào những chiến trường ác liệt, nơi cái chết và sự sống chỉ mong manh như sợi tơ trời phất phơ trước làn gió xoáy Và khi những ngày gian khổ ấy đi qua, Nguyễn Minh Châu cũng là người vinh dự được sống và chứng kiến những đổi thay của đất nước trong ngày hòa bình tự do Cảm nhận về những đổi thay ấy và suy nghĩ về những cái mất, cái còn sau chiến tranh, ý thức trách nhiệm của người cầm bút đã khiến cho ông luôn luôn trăn trở và day dứt với những vấn đề của cuộc sống Bằng tài năng và tâm huyết của một nhà văn - Nguyễn Minh Châu đã có những tìm tòi, những cái nhìn sắc nét về hiện thực cuộc sống mà không phải nhà văn nào cũng có thể phát hiện và khám phá ra được

Trước và cùng thời với Nguyễn Minh Châu cũng đã có rất nhiều nhà văn viết về mảng đề tài thế sự này nhưng có lẽ ông là người đầu tiên trong các nhà văn tập trung khai thác mảnh đất đời sống hằng ngày một cách có chủ định Là một nhà văn chiến sĩ nên Nguyễn Minh Châu bằng tài năng và tình yêu cuộc sống, con người, cũng như bước qua chiến tranh ông càng hiểu giá trị của cuộc sống đáng quý như thế nào Vì vậy, qua bút pháp trầm tĩnh đầy chất suy tư, con người trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu được phản ánh một cách chân thực và toàn vẹn với đầy đủ các dáng vẻ muôn màu trong cái nhìn đa chiều, trong các mối quan hệ xã hội phức tạp, trong sự vận động và phát triển của xã hội, với sự đan xen tốt xấu mà nó vốn có Nhưng trước hết con người trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu vẫn mang trong mình những vẻ đẹp nhân bản, những phẩm chất tiêu biểu cho tính chất con người Việt Nam Những con người không chỉ đẹp về mặt hình thức mà còn còn đẹp cả trong tâm hồn và nhân cách đó là tinh thần chiến đấu dũng cảm hi sinh hết mình cho cách mạng cho đất

nước như: Lực, Thai (Cỏ lau), Hoà, Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành)…; con người với tình yêu thuỷ chung son sắt như: Hạnh (Bên đường chiến tranh),… Bên cạnh đó Nguyễn Minh Châu đã đưa người đọc đến với

Trang 26

những nhân vật vô cùng đa dạng phức tạp, những nhân vật đó được nhìn qua cái nhìn thế sự cái nhìn đời tư Mỗi con người, mỗi cuộc đời hiện lên với bao nỗi đắng cay, cơ cực, mất mát Những truyện ngắn của Nguyễn minh Châu thời này tràn ngập các truyện đời thường Nguyễn Minh Châu đã tiếp cận đời sống

từ những tầng sâu bí ẩn của hiện thực đang tiếp diễn với tất cả cái bề bộn, ngổn ngang của nó bao hàm cả cái bi và cái hài, cả cái cao cả, lớn lao lẫn cái nhỏ nhặt, tầm thường Ông đặc biệt quan tâm đến con người trong góc độ đời tư, những số phận cá nhân trong sự tác động ghê gớm của chiến tranh và những bi kịch đời thường

Là nhà văn có trách nhiệm, Nguyễn Minh Châu đã biết tránh xa lối văn chương ca ngợi con người một chiều, ông quan tâm đến những số phận con người, lấy đó làm điểm xuất phát để tiếp cận hiện thực.Ông đặt nhân vật của mình trong các mối quan hệ giai cấp, cộng đồng, xã hội và gia đình, để quan tâm tới những phần riêng tư nhỏ bé trong số phận của họ Họ hiện lên không chỉ có niềm vui, sự hạnh phúc mà còn có cả nỗi buồn, sự đau khổ và sự mất mát Đó là những con người không chỉ chịu nhiều thiệt thòi bởi chiến tranh, bởi sự đối xử gia đình, xã hội mà còn bởi cuộc sống nghèo khổ vất vả luôn ám ảnh

2.1 Con người với những tác động của chiến tranh

Viết về đề tài chiến tranh, bên cạnh những chiến công hiển hách, bên những tượng đài chiến thắng đầy vinh quang là biết bao những đau đớn, biết bao nước mắt đắng cay, tủi cực, của những con người trở về từ cuộc chiến và bắt đầu lại với cuộc sống đời thường Giờ đây, các nhà văn không đi vào miêu

tả, tái hiện lại không khí chiến trận đầy mưa bom bão đạn mà tập trung vào những số phận con người trong những mảnh đời riêng đã bị chiến tranh huỷ hoại Bước ra từ chiến tranh và chứng kiến những con người phải sống trong tàn tích của chiến tranh, Nguyễn Minh Châu đã nhìn thấy những cảnh đời đau

khổ do chiến tranh gây ra

Truyện ngắn Cỏ lau xoay quanh những biến cố trong cuộc đời của người

chiến sĩ Lực Trong chiến tranh, anh đã dốc hết quãng đời tuổi trẻ của mình phục

vụ cho kháng chiến mà không chút gì hối tiếc Tưởng rằng những con người đã anh dũng, hi sinh nhiều như thế thì đáng lẽ ra thời bình anh phải là người được

bồi đắp lại những gì mình đã mất Trước khi tham gia quân ngũ, Lực cũng có

Trang 27

một mái ấm gia đình như bao người bình thường khác với một người cha luôn yêu thương các con, có người em trai dũng cảm là Hệ và có một người vợ hiền lành đảm đang là Thai Từ chiến trường trở về mang trong mình những kỉ niệm, dấu ấn ác liệt của chiến tranh, anh đã mong mình sẽ được về với những gì yêu thương mà mình bấy lâu mong ngóng, đợi chờ Nhưng một lần nữa mất mát trong chiến tranh lại dìm anh trong những nỗi khổ đau tận cùng

Sau những lần tìm và hỏi thăm tin tức của cha mà không được, thì thật tình cờ anh lại phát hiện ra người cha của mình còn sống Nhưng người cha vô

cùng yêu thương của anh nay đã trở thành một con người khác: "Cái ông già đang ngồi đó mà tôi trông thấy trước tiên khiến tôi đứng sững: Hóa ra là chính ông già tôi vẫn còn sống nhưng đã già đến mức thế ? Cái đầu bây giờ không còn một sợi tóc, lại đầy gầu, nom cứ mốc trắng, quá nhỏ bé như một con chim lớn đã bị vặt trụi hết lông"[13,471] Chiến tranh đã lần lượt cướp đi những

người con mà ông yêu thương nhất, lấy mất đi niềm hi vọng và giờ đây trong

giây phút này tình cha con dường như đã có một khoảng cách: " Tôi vẫn đau đáu ngắm nhìn người cha gần như đã trở thành một ông già xa lạ" Gian khổ chiến

trường không làm người lính rơi nước mắt, nhưng hậu quả của chiến tranh đã khiến sự dũng cảm, bất khuất của người lính như tan ra trước sự thật phũ phàng

Em trai Lực là Hệ cũng làm du kích xã ở dưới vùng sâu, hơn nửa đời người biền biệt tận ngoài miền Bắc, mang đơn vị luồn đánh đấm một chập rồi rút ra mà hai anh em cũng chẳng bao giờ được gặp mặt Để rồi khi trở về cái mà Lực nhận được là thông tin phong phanh em trai mình đã hi sinh Trong sự tuyệt vọng ấy Lực chỉ mong được gặp lại người vợ của mình Nhưng hoàn cảnh thật ngang

trái, chiến tranh " Như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ Nhưng đau đớn hơn là hai nửa cuộc đời tôi cũng không bị cắt lìa hẳn" [13,478] Và Lực đã bị chặt lìa ra khỏi ngay cuộc đời

mình bởi mọi người tưởng nhầm rằng anh đã hi sinh Thai đã vô cùng đau đớn, thương nhớ đợi chờ đằng đẵng giờ gặp lại chồng chỉ là một "cái xác trôi sông", bao nhiêu đau khổ, dằn vặt dồn nén trong tâm can người phụ nữa ấy Kể cả sau này lấy Quảng mặc dù đã có bốn đứa con nhưng Thai vẫn luôn luôn giữ khoảng cách với Quảng, bởi trái tim của Thai, tình yêu của Thai dành cho Lực vẫn luôn nguyên vẹn trong cô, cả trong lúc tỉnh lẫn khi mê man cô vẫn nuôi một hy vọng

Trang 28

là Lực còn sống Năm nào vào ngày giỗ Lực, Thai cũng cố làm cho được một

mâm cơm cúng Quảng đã từng nói: "Tôi nghĩ rằng Thai, nhà tôi ấy, thuộc loại đàn bà chỉ có thể yêu được một người Thực tình là vợ tôi suốt đời chỉ yêu một mình ông thôi”[13,505]

Tạo hóa thật bất công khi cho con người ta có thể chết ngất đi vì đau đớn rồi lại để họ tỉnh lại để thấm thía nỗi đau Cứ ngỡ rằng, cái chết đầy đau đớn trong đêm Thai và gia đình chôn người mà mình nhầm là Lực sẽ dần dần nguôi ngoai theo thời gian Khi Thai đang sống yên ấm trong gia đình mới thì Lực - lúc này đã có tuổi, anh là đoàn trưởng đoàn chính sách đang cùng trung đoàn mình lặn lội ở các chiến trường cũ để tìm hài cốt đồng đội, người tưởng rằng đã

hi sinh hai mươi bốn năm sau lại xuất hiện Sự trở về của một anh Lực sống thật

sự lại một lần nữa là cú sốc cho Thai, làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của gia đình nhỏ bé ấy Tình yêu chất chứa bao năm trong lòng Thai giờ trỗi dậy Họ đã đánh mất nhau suốt cả thời tuổi trẻ, bây giờ gặp lại họ không thể quen được cảnh mỗi người có một cuộc đời khác Thai đã đề nghị đón cha và xin Quảng cho mình trở về bên Lực để bù đắp cho những năm tháng cuối cùng của tuổi già Nhưng hơn ai hết, Lực biết một cách đau đớn rằng cuộc sống đã an bài, trách nhiệm với những người con, với gia đình mới của mình sẽ khiến Thai chẳng thể dễ gì thay đổi được hoàn cảnh Và cũng nghĩ tới những lời nói của Quảng, Lực đã khuyên Thai nên trở về với gia đình mới của mình và Lực chấp nhận sống cuộc sống một mình, bởi hơn hết lúc này anh mới cảm nhận được

cái nghiệt ngã của cuộc đời mình: " Và cuối cùng, tôi vẫn chỉ là một khách lạ - của cái cuộc sống luôn luôn biến động nhưng bao giờ cũng như đã được sắp sẵn đâu đấy"[13,479]

Bằng sự kết hợp một cách khéo léo những hồi tưởng sinh động, những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật cùng với giọng kể chậm rãi, làm cho câu

chuyện cuốn hút người đọc Cỏ lau đã làm cho bạn đọc thấm thía phần nào nỗi

đau đớn, mất mát trong chiến tranh mà người dân Việt Nam đã phải trải qua

Nếu như trong Cỏ lau, chiến tranh như nhát dao phạt ngang cuộc đời cũng

như tình yêu giữa Huệ và Phi bằng ranh giới nghiệt ngã giữa sự sống và cái chết

thì trong truyện ngắn Bên đường chiến tranh là khoảng cách của những con

người lạc nhau trong thời chiến và tìm lại nhau trong thời bình với một hoàn

Trang 29

cảnh thật trớ trêu giữa nữ du kích Hạnh và người chiến sĩ An mà sau này đổi tên thành Thụy

Vì cuộc sống giặc giã khó khăn cô đã phải cùng gia đình tản cư từ trong Phủ Lý ra vùng tự do bên kia sông Đáy Ông Việt cha cô là một tiểu đoàn trưởng nổi tiếng khắp một vùng đồng bằng hữu ngạn sông Hồng Người cha của cái gia đình tản cư ấy đã ngã xuống ngay bên ngoài thị xã Phủ Lý tạm chiếm trong làn khói đạn của quả 105 ly khi mà trận đánh thắng lợi giòn giã gần kết thúc Qúa đau đớn mẹ cô đã phát điên rồi ốm dai dẳng, cô đã phải bỏ học cáng đáng công việc gia đình Nhờ sự giúp đỡ của An mà cũng từ đó hai người nảy sinh tình cảm khi Hạnh mười bảy tuổi Nhưng vì nhiệm vụ An phải đi bổ sung chiến trường khác thế là họ xa nhau trong dằng dặc nỗi nhớ và trong khát khao

hi vọng gặp lại nhau Bên đường chiến tranh như một bài thơ tình cổ điển, người

phụ nữ ba mươi năm kiên nhẫn đợi chờ một người lính chưa hẹn hò, không tin tức, chị chỉ biết làm nhà bên một con đường ra trận, với hy vọng mỏng manh, rồi một ngày nào đó có thể người lính ấy sẽ qua đây dừng lại ngôi nhà này Và chỉ khi gặp lại anh trên đường lên phía bắc chị mới yên lòng cùng gia đình

chuyển về dưới Thái Nguyên

Vì rất nhiều lí do, gắn với bối cảnh chiến tranh, người con gái không được yêu hoặc yêu người không xứng đáng nhất Rồi ra, mỗi người đều có chồng con,

có gia đình yên ổn nhưng tình yêu đẹp nhất, hạnh phúc quý nhất họ không bao giờ có nữa như: Hạnh,Thai, Hân Tiêu biểu nhất tâm trạng này là Qùy trong

Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành Khác chăng là Qùy có ý thức về điều

đó Theo một hình dung của tác giả: "Chị đang đáp một con tàu mộng du lang thang đi tìm kiếm cái chân trời của những giá trị tuyệt đối hoàn mỹ, những con ngươi tuyệt đối hoàn mỹ, cái điều chẳng bao giờ có, cơn khát cháy lòng của một tâm hồn đàn bà quá ham hố”[13,172]

Mọi sự bắt đầu bằng tuổi trẻ Tuổi trẻ của Qùy được có mặt ở Trường Sơn, nơi chị làm rất nhiều công việc từ diễn văn công, làm báo, cấp dưỡng, giao liên, y tá, gác nghĩa trang liệt sĩ, lái xe Ở đó, Qùy sống tự nhiên, thoải mái, tận tâm với mọi việc và hết lòng đối với mọi người Một lẽ dễ hiểu, ở đâu cũng có người yêu chị Nhưng rồi Qùy vẫn không yêu ai được bền lâu khi Qùy nhận biết:

" Tôi đã đi tìm cái tuyệt đối không bao giờ có Tôi đã rồ dại, bởi chính tôi, một

Trang 30

đứa con gái bình thường, được những người đàn ông trên rừng cưng chiều quá ! Chính họ đã luyện nên tôi cùng với quan niệm sai lầm của tôi, và họ phải chịu hậu quả"[13,152]

Nhưng rồi, chính Qùy đã gánh lấy gánh nặng của sự ngộ nhận của mình, lúc ban phát một cách dễ dàng những cử chỉ ngọt ngào làm mềm lòng biết bao người lính, mà một phút kinh hoàng, khi lật giở nhật ký hàng loạt liệt sĩ, thấy họ nhắc đến tên mình - cho tới lúc khắt khe với người mình yêu nhất Một đời Qùy như chỉ dùng vào việc chữa chạy những đám cháy, những nhầm lẫn mà tình yêu mình gây ra Những suy tư, trăn trở bao lâu mà Quỳ ấp ủ bằng trái tim rỉ máu, bằng khát vọng mãnh liệt bỗng nhiên trở nên hài hước và cứng nhắc giữa thường nhật cuộc đời… Quỳ tự hiểu mình, hiểu người, hiểu đời, hiểu tất cả những nỗi đau riêng chung tê dại Hòa bình đã không thể làm lành hết những vết thương ở trong cô Có lẽ vì thế Quỳ luôn phải sống cô đơn, phiêu du cùng hoài niệm Sự khắc nghiệt của chiến tranh là thế ! Sự khắc nghiệt đó đã in dấu lên cuộc đời của mỗi con người

Những vết thương mà chiến tranh để lại trong tâm hồn những người lính

sẽ không thể phai nhoà Và cuộc sống thực tại với đầy mưu mô toan tính càng làm người lính thấy mình chới với, chơi vơi Họ đã bị thương về thể xác nhưng

họ còn đau đớn hơn nhiều với những vết thương trong tâm hồn Những lí tưởng cao đẹp, những chiến công oanh liệt, những địa vị cao sang cũng không thể bù đắp những quyền lợi thiêng liêng của mỗi con người Đó là quyền làm chồng, làm cha Đó là quyền làm vợ, làm mẹ Nhà văn đã có sự đồng cảm, thông cảm

và xót thương thực sự với những số phận bất hạnh đó

Nguyễn Minh Châu đã tạo được sự đồng cảm với nhân vật, những thiệt thòi, đau khổ, mất mát bởi chiến tranh của các nhân vật đã lắng đọng thành những giọt thời gian xuyên suốt trong tâm hồn con người, khiến cho thời gian như sự soi chiếu rõ nét những màu sắc khác nhau của chiến tranh Đó là màu trắng của những vành tang chịu người đã mất, màu tím buồn bã của lòng thuỷ chung đợi chờ, màu đỏ đam mê của những mối tình tuyệt vọng bị chia cắt bởi chiến tranh Nhưng hơn tất cả vẫn là màu xanh của niềm tin và hi vọng, của sự vươn lên trước những khó khăn thử thách, đau thương mà con người phải trải qua trong mối quan hệ với gia đình xã hội và tổ quốc đầy biến động Chính nhờ

Trang 31

những trang viết đầy tình người như thế mà người đọc thấu hiểu hơn cho những lớp người trở về từ cuộc chiến và thấy mình cần phải chia sẻ với họ nhiều hơn

2.2 Con người với những thói hư tật xấu

Sự quan tâm đến những vấn đề thuộc về trạng thái nhân thế thể hiện thể hiện trong một loạt truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Để mắt vào những cảnh đời thường, nhà văn muốn nhắc nhở tới những chuyện không bình thường Đưa nhân vật cũng như người đọc đối diện với cuộc sống trần thế đang là xu hướng trong các truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Cách nhìn ấy làm cho truyện ngắn có chiều sâu, lối nhìn đời có chiều sâu Nếu những biến động dữ dội, những thời khắc lịch sử huy hoàng làm bộc lộ những phẩm chất con người, thì đời sống bình thường cũng là một thước đo khác, một phương diện bộc lộ phong cách con người Không ít người hiện ra chói sáng trong khoảng khắc nào đó mà lại cư xử rất tầm thường trong đời thường Làm một con người cao thượng trong đời thường là điều không dễ Sự vô tâm, trách nhiệm, dửng dưng với số phận người khác, thói ích kỉ dù được hợp pháp hóa đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng

Với Nguyễn Minh Châu, những cốt truyện sinh hoạt thế sự hầu hết đều hướng tới những chiêm nghiệm lẽ đời, hướng tới sự cảnh tỉnh kín đáo đối với những lối sống tự nhiên, vô thức không lường tới hậu quả của thói quen, của nếp sống thông tục hằng ngày Trong dạng cốt truyện này, tình huống có vấn đề nằm bên ngoài truyện, sự nhận thức, suy nghẫm của tác giả và người đọc, còn nhân vật cứ mặc nhiên cư xử, hành động theo thói quen, theo nếp sống của họ với niềm tin ngây thơ vào chính mình Dòng đời tự nhiên trôi chảy trong cốt truyện thế sự được tác giả sắp xếp trong mối tương quan nhân quả để người đọc có thể nhận ra mặt trái của nó, nhận ra cội nguồn bản chất của cuộc sống từ những sự kiện bình dị, nhỏ nhặt đời thường

Trong truyện ngắn Đứa ăn cắp, Nguyễn Minh Châu đã vẽ ra một đời sống

sinh động đến đau lòng, hoá ra con người đôi khi chỉ vì những thói hư tật xấu hằng ngày mà lại đẩy người khác vào những nỗi đau không thể bù đắp được

Câu chuyện kể về nhân vật chính là cô Thoan - người làm cấp dưỡng ở khu tập thể, ở đó mọi người rất thích và quý Thoan - cô gái có tính cách rất vô

tư và hồn nhiên Trong một lần, khi có người trong khu tập thể bị mất hai thước

Trang 32

vải hoa và không biết thế nào mà người ta lại tìm thấy trong đáy rương của Thoan, từ đó trở đi ai cũng ác cảm với cô Mọi tiếng xấu xa về mất cắp thứ này thứ kia đều đổ dồn về Thoan, họ cho rằng Thoan là đứa ăn cắp trong xóm này chứ không phải ai khác Đó là sự hiểu lầm tai hại nhất của những người trong khu tập thể này, họ không chịu bỏ thời gian ra để tìm hiểu nguyên nhân, cũng như tìm xem ai là thủ phạm mà họ dành thời gian cho những cái kết luận vội

vàng theo cảm tính một mất mười ngờ, cho những đàm tiếu vu vơ mà đầy ác ý,

bởi họ đâu biết rằng thủ phạm có khi chỉ là một cái hút gió, hoặc thủ phạm nằm ngay trong cái người bị mất cắp, tức là cái tính hay quên, hay lú lẫn do bận bịu công việc Nhưng lỗi một phần ở đây cũng là do sự vô tâm của Thoan, lẽ ra Thoan phải thanh minh cho mọi người hiểu nhưng đằng này cô vẫn tỏ thái độ dửng dưng, bỏ ngoài tai như không có chuyện gì Chính điều đó đã làm cho những người đàn bà hay đàm tiếu ở khu tập thể càng khẳng định chắc chắn người ăn cắp không phải ai khác chính là Thoan Họ luôn nhìn cô bằng con mắt

e dè và khinh ghét: “Thật là khốn nạn cái lão Quân, lại còn cho phép nó ở đây làm gì, để cho nó ăn cắp vặt trong khu gia đình mãi thế này hử, trời ơi là trời!”[3,225] Trước sức ép và định kiến của mọi người Thoan đã bị trả về quê

sản xuất trong đợt biên chế ở cơ quan lúc mà Thoan đang trong hoàn cảnh khó khăn, bụng mang dạ chửa Câu chuyện về đứa ăn cắp có lẽ sẽ dừng ở đây khi mà Thoan đã bị đuổi đi nhưng chính thái độ của mọi người trước cái chết của Thoan lại khiến cho chúng ta phải suy nghĩ Trước đây, những người đàn bà trong khu tập thể đã từng buông những lời đay nghiến, kết tội đầy ác ý với Thoan thì giờ đây họ lại thốt ra những lời thương xót, buồn cho số phận bất hạnh của cô Cách đối xử của họ có vẻ giống như mối quan hệ gần thường xa thương mà họ đâu biết rằng chính những lời đàm tiếu, thóc mách của họ đã đẩy Thoan vào chỗ chết Đằng sau cái chết của Thoan, là thái độ phê phán nghiêm khắc của tác giả đối với những lời nói, hành vi vô trách nhiệm, sự thờ ơ dửng dưng với số phận

và danh dự con người Đồng thời tác giả cũng muốn gửi gắm một thông điệp tới mọi người: hãy biết yêu thương độ lượng với nhau tạo nên một cuộc sống hài hoà tươi vui để mỗi chúng ta sống thanh thản với bản thân và trong mối quan hệ với mọi người hơn nữa

Trang 33

Nếu như Thoan trong Đứa ăn cắp là nạn nhân của thói đàm tiếu, ngồi lê

mách nẻo của những người đàn bà ở khu tập thể thì người phụ nữ trong truyện

ngắn Lũ trẻ ở dãy nhà K lại là sự vô tâm của một người mà làm liên luỵ đến mọi

người Cô Hoằng là một người đàn bà miền Nam đã vào trạc tuổi xấp xỉ năm mươi rất thích ăn diện và hay khoe, tính thì vô cùng xởi lởi Sự hồn nhiên của cô

được thể hiện qua cách ăn mặc.Thói ăn diện quá thể của cô dường như trái

ngược với cái tuổi mà cô đang có, đến nỗi ông Thiện chồng cô thường lấy làm khổ sở và xấu hổ với hàng xóm láng giềng vì bà vợ của mình Không chỉ có thế,

cô Hoằng còn quá hồn nhiên trong những trò đùa quái ác Ngoài việc nuôi lợn, ngan, thỏ, cô còn nuôi một con chó nhị thể rất đẹp Con chó nhị thể đó không chỉ gần gũi với cô Hoằng mà còn gây được sự quan tâm, yêu mến của mọi người nơi chung cư này đặc biệt là với lũ trẻ Lũ trẻ coi cún con là người bạn tâm tình,

là nơi mà chúng luôn nghĩ đến trong các cuộc vui và những buổi tan lớp học Trong một lần giận dỗi cãi nhau với chồng cô đã đem con nhị thể trả cho chủ cũ, nhưng nửa tháng sau cái tin con chó phát dại và chết được cô Hoằng thông báo

Mà sự thật đằng sau cái tin có vẻ giật gân và sợ hãi ấy chỉ là cái tin thất thiệt mà

cô Hoằng loan ra, cô đùa, trò đùa của cô thật quá đáng, cô đã gây ra bao xáo trộn trong cuộc sống nơi đây Trong từng gia đình, bố mẹ, anh chị em thẩm vấn lẫn nhau xem con cái đã chơi với con chó nhị thể ấy như thế nào, có bị nó cắn không Một bầu không khí lo âu, nặng nề như một đám mây đen vô hình phủ lên khắp dãy nhà K Người ta đưa nhau đi thử thuốc ở một ông lang xa, còn cô Hoằng như một người quan tâm đến mọi người trong khu tập thể, ròng rã suốt một tuần lễ cô nghỉ việc cơ quan dẫn mọi người đi khám thử thuốc chó dại Trò đùa quái ác của cô được bình thường hoá khi một buổi trưa nắng chang chang,

cô đạp xe từ ngoại thành về, trên tay lái xe đạp, bên trong chiếc làn mây vẫn là con cún nhị thể ấy Trò đùa đó là một thói quen rất tai hại Cô đã lấy tính mạng của mọi người ra đùa không chút áy náy Tính cách trẻ con đó của cô tuy không gây ra hậu quả đáng tiếc nào nhưng như một lời cảnh báo: đùa vui là một thói quen tốt nhưng không nên đi quá xa trong việc này bởi có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc, hãy dừng lại đúng lúc để thói quen đó làm đẹp thêm cho cuộc sống quanh ta, đó là điều Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm tới bạn đọc

Trang 34

Nguyễn Minh Châu đã không ngần ngại đặt các nhân vật trong mối quan

hệ với gia đình và xã hội để nhân vật tự bộc lộ những điểm tốt và thói quen xấu của mình Nếu hai truyện ngắn trên phản ánh thòi xấu trong mối quan hệ với xã

hội thì truyện Mẹ con chị Hằng lại tái hiện được thói vô tâm đôi khi ích kỉ của

con người trong mối quan hệ gia đình

Bản tính hiền lành, nhường nhịn đã đi vào tiềm thức của người mẹ già nông thôn - bà cụ Huân Người Việt Nam từ xưa đã rất coi trọng chứ hiếu đối với cha mẹ Thế nhưng với chị Hằng, chị hiếu đó dường như quá nhạt nhoà trước lòng bao dung và độ lượng của người mẹ Đây là lần thứ hai bà cụ Huân ra

đỡ đần con gái khi chị sinh con Thương con hết mực, bà cố chiều cái tính nũng nịu của chị Hằng Cũng là người làm mẹ nhưng chị cưng chiều thằng Hùng và con bé Lan bao nhiêu thì cách đối xử với mẹ mình thờ ơ bấy nhiêu Chi được nuôi nấng từ bàn tay bà cụ Huân nơi mảnh đất xứ Thanh nghèo khó Nhưng giờ

đây trong con mắt của chị chỉ là: “Người đâu mà vụng đến vậy cơ chứ Mà còn luộm thuộm nữa Giặt cái áo cho thằng Hùng cũng còn đầy ghét Giặt cái tã cho con Lan cũng vậy Nấu miếng gì cho mình cũng vậy, không sống sít thì khê nặc, ngửi cũng thấy ngấy chứ không nói bỏ vào miệng Hơn nữa nhà cửa lúc nào cũng bề bộn”[16,162] Lời ăn tiếng nói của chị trước mẹ cũng không mấy thể

hiện sự kính trọng Chị luôn tỏ vẻ uy quyền trước mặt mẹ mình Trong mối quan

hệ với các chị em ruột chị lại tỏ ra là một người ích kỉ Người ta vẫn thường nói anh em như thể tay chân, khó khăn đỡ đần thì phải giúp đỡ nhau vậy mà có tấm

áo chị cũng bắt mẹ phải lấy mang về đây cho chị bằng được, với giọng nói đầy

đe doạ: “ Thế thì con cho chúng nó biết Hai đứa nó không sớm mang về đây giả, thì con bửa xác chúng nó ra”[16,156] Khi mà cô Quyền đánh điện mong

mẹ vào giúp mình thì chị tỏ vẻ thái độ sốt ruột lo lắng cho em mình thì ít mà lo

em giữ mất mẹ ở lại đấy thì nhiều: “Mẹ không nhớ rằng mấy năm trước đây nó vẫn cứ nằng nặc đòi mẹ ở hẳn ngoài đó trong bầy con cho nó đấy ư? Nó muốn chiếm độc quyền mẹ hử? Con, đứa nào cũng là con Mẹ là mẹ chung chứ! Mẹ không thể yêu đứa nào hơn mà ở hẳn suốt đời với đứa ấy được” [16,164] Như

vậy trong mắt chị, mẹ không còn là mẹ nữa mà mẹ đã trở thành một món đồ để mấy người con tranh nhau quyền sở hữu Họ không hề nghĩ đến sự phụng dưỡng công ơn của cha mẹ mà chỉ chăm chăm lo giành giật mẹ để mẹ phục vụ riêng

Trang 35

mình Người mẹ những năm tháng còn sức khoẻ thì lai lưng sớm tối chăm sóc, nuôi nấng cho con cái mình khôn lớn rồi dựng vợ gả chồng cho con để yên bề gia thất Vậy mà những năm cuối đời họ cũng không được giây phút nào thảnh

thơi, người mẹ như một người “đại sứ lưu động” cứ chạy hết lo cho đứa này lại chạy lo cho đứa kia Người mẹ ấy cũng đã từng dự định “tết ni mần răng cũng phải viền ở nhà để lo liệu tết nhất cho ông nhà tui Chứ để ông nhà tui tết nhất lọm khọm một mình ở nhà , tôi không đang tâm chị ạ!”[16,166 ] Nhưng rồi cái

dự định đó của mẹ cũng không biết có thực hiện được nữa hay không khi mà ngoài Hồng Quảng người con lại đang trông mong mẹ mình ra, còn ở đây chị

Hằng lại đang căn dặn: “ Nhưng nếu trường hợp chẳng có gì cả, con Quyền chỉ đánh bức điện vào để lôi mẹ ra bòn rút sức lao động của mẹ, để mẹ giúp nó nấu nướng và trông lũ con của nó, thì mẹ nhớ phải về trong này ngay với cháu Lan

Và luôn thể mẹ bảo nó trả cái áo len cho con Mẹ bảo nó, con nói rất cương quyết như thế Rồi mẹ gói giấy báo cẩn thận, mang về đây hộ con”[16,162]

Điều ấy thật khiến cho người mẹ rơi vào tình cảnh khó xử giữa một bên là con cái, một bên là gia đình riêng với chồng người chồng đã ngoài bẩy mươi tuổi đang phải ở nhà lo toan công việc một mình

Không những thế đọc “Mẹ con chị Hằng”, chúng ta còn thấy một khía cạnh khác trong việc đối xử và giáo dục với con cái Nếu như tình cảm mẹ con của chị Hằng là cái thói làm nũng và sự yêu thương quá mức của người mẹ

khiến “cái vạch ngăn cách giữa tính nhõng nhẽo, làm nũng và hay bắt nạt mẹ của một đứa con gái và thói quen tỏ ra uy quyền của một người đàn bà chủ nhà thật là mơ hồ, rất khó nhận thấy, đến nỗi người ta thường dễ lẫn lộn, thường tự

dễ lừa dối và tự lừa phỉnh mình”[16,162] Thì trong cách xử sự của chị Hằng

với người con trai của mình là thằng Hùng đã tạo cho Hùng những tính cách có thể nói là rất hư, không biết phải trái và không biết tôn trọng cha mẹ, ông bà Ca dao có câu:

Dạy con từ thuở còn thơ Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về

Là để cho thấy vai trò quan trọng của cha mẹ trong việc dạy dỗ và hình thành nhân cách của trẻ Dẫu biết trẻ em cần được yêu thương, nhưng cha mẹ phải yêu thương đúng cách, không nên vì yêu thương con quá mức và một cách

Ngày đăng: 01/11/2014, 12:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An (2001), Nguyễn Minh Châu - Đổi mới chắc chắn từ một sức viết dồi dào. (Tập san Văn học và Tuổi trẻ - số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu - Đổi mới chắc chắn từ một sức viết dồi dào
Tác giả: Nguyên An
Năm: 2001
2. Lại Nguyên Ân (1987), Sáng tác truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu. (Tạp chí Văn học - số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu. (
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1987
3. Nguyễn Văn Cừ (2006), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
4. Phan Cự Đệ (1973), Nguyễn Minh Châu, một cây bút văn xuôi đầy triển vọng. (Tạp chí Văn nghệ quân đội - số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu, một cây bút văn xuôi đầy triển vọng
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1973
5. Ngô Vĩnh Bình (1990), Nguyễn Minh Châu - Cuộc đời và văn nghiệp. (Báo quân đội nhân dân, ngày 7 tháng 4 năm 1990) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu - Cuộc đời và văn nghiệp
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Năm: 1990
6. Nguyễn Văn Hạnh (1993), Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người, Tạp chí Văn học - số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 1993
7. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2007) (Đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8. Nguyễn Trọng Hoàn (2004), Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
9. Tôn Phương Lan (1989), Nguyễn Minh Châu – nhà văn tâm huyết với cuộc đời. Báo Văn nghệ, số 51- 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu – nhà văn tâm huyết với cuộc đời
Tác giả: Tôn Phương Lan
Năm: 1989
10. Tôn Phương Lan (2002), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Tôn Phương Lan
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
11. Nguyễn Văn Long (2012) (chủ biên), Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại, tập II. Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại, tập II
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
12. Nguyễn Văn Long (1998), Nguyễn Minh Châu và hành trình không ngừng nghỉ, Tập san Văn học và tuổi trẻ, tập 30-1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu và hành trình không ngừng nghỉ
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Năm: 1998
13. Nguyễn Văn Lưu (1999), Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn. Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Văn Lưu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
14. Phương Lựu (2004), Giáo trình lí luận văn học. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
15. Bích Ngọc (2006), Danh ngôn tình yêu và cuộc sống, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh ngôn tình yêu và cuộc sống
Tác giả: Bích Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2006
16. Dương Phong (2012), Nguyễn Minh Châu tuyển tập, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu tuyển tập
Tác giả: Dương Phong
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2012
17. Lê Quý Quỳ (2001), Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh sau chiến tranh. Báo Quân đội nhân dân cuối tuần, 11-2-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh sau chiến tranh
Tác giả: Lê Quý Quỳ
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w